Thư trả lời cư sĩ Hoàng Hiểu Phố, viện trưởng Ân Thí Pháp Viện

(đính kèm nguyên văn thư gởi đến, [Hoàng cư sĩ có] pháp danh là Đức Hoằng)

Sau tiết Đoan Ngọ hai bữa, lời chỉ dạy của thầy được gởi đến, để mãi cho đến hôm nhằm tiết Đại Thử mới cung kính mở ra đọc, tính ra đã ba mươi mốt ngày[1]. Giao thông bất tiện như thế này, nhằm vào lúc chẳng bình thường, hết thảy mọi việc đều phải xem xét theo quy cách chẳng bình thường thì mới được trời cao đất rộng vậy! Tự nghĩ nghiệt nặng chướng sâu, may giữ được cái mạng tàn để thưa hỏi cùng thầy đều là do sức Phật, Bồ Tát thầm gia hộ vậy!

Ngày Hai Mươi tháng Tư Âm lịch, máy bay Nhật ném bom huyện thành Ân Thí, khi ấy nhằm đầu giờ Dậu, Đức Hoằng từ pháp viện (tòa án) trở về chỗ ở; còi báo động hú lên, hai đứa con gái và đứa tớ gái ẵm bé Phước Châu chạy vào hang núi [trú ẩn], cô tiểu thiếp ẵm bé Phước Bị ở lại với Hoằng, không chạy đi. Còi hụ báo động khẩn cấp rú lên từng hồi, Hoằng đối trước Phật niệm Quán Âm Bồ Tát, máy bay chao qua lượn lại gầm rít ầm ĩ. Trước Phật tòa có một cái bàn vuông, bên trên phủ vải bông, người tiểu thiếp nép dưới gầm, chợt kéo áo Hoằng, Hoằng cúi đầu nhìn xuống. Đầu Hoằng vừa rúc xuống gầm bàn, bom đạn liên tiếp nổ rền, nhưng không quá dữ dội. Bé Phước Bị khóc thét, lưng Hoằng bị miểng văng trúng, trầy nhẹ, đứng lên xem thử, nhà cửa bị rung sụp, Phật tòa cũng bị nghiêng lệch, tro bụi phủ đầy nhà. Dưới chân có bức tượng Quán Âm nhỏ bằng sứ, bèn vội nhặt lấy ôm vào lòng (năm ngoái, phòng ngủ ở Pháp Viện bị tàn phá, tượng sứ ấy bị vùi trong đống gạch ngói, chẳng bị hư hao mảy may nào). Tường đã ngã xiêu ra phía ngoài. Tôi cùng với người tiểu thiếp ra khỏi cửa xem mới biết hai dãy phố trước và sau đều bị trúng bom, kèo gãy rui sụp. Nhà hàng xóm ở dãy phố phía sau lại trúng phải đạn lưu huỳnh bốc cháy, họ thảng thốt chạy ra khỏi chỗ ẩn núp có kèo gỗ chống đỡ nơi dãy phố phía trước. Người tiểu thiếp và cô bé hàng xóm chạy tránh đến chỗ an toàn.

Hoằng tính vớt vát quần áo, đồ đạc, nên quay trở lại cổng ngõ nơi trú ngụ, một mình không ai giúp tay, chẳng dám chui vào một mình. Đang trong lúc ngần ngừ, chẳng ngờ bốn mặt lửa bốc lên nghẽn lối, phải gấp tránh né, vội nằm nép mình trong cái rãnh bùn lầy phía trong tường, nhắm mắt niệm Phật. Trên, dưới, trái, phải, tàn lửa rụng như mưa, lấy tay phủi liền tắt. Ngọn lửa cách đầu chưa đầy một trượng, hơi nóng vô cùng khó chịu đựng được; bùn trong rãnh đã trở thành nước nóng, quần áo đã bén lửa một hai chỗ, trong tâm vẫn không sợ hãi, chỉ tự trách chớ nên tham luyến quần áo, đồ đạc để rồi bị hãm trong tuyệt địa, lặng lẽ chờ Phật, Bồ Tát tiếp cứu mà thôi!

Một hồi lâu sau, thế lửa ở phía Nam giảm đi, nhờ gót giày bị bùn lầy thấm ướt, liền cố sức đạp lửa xông qua, đi xa được mười trượng, rốt cuộc được an toàn, không bị thương tổn mảy may; bất quá da thịt bị lửa hun đã lâu, ông mập đã trở thành chàng gầy nhom! Tất cả quần áo, đồ đạc, sách vở, và nhật ký, bản thảo thơ văn mười mấy năm qua đã mất sạch không còn gì. Những hồ sơ, vật dụng trong pháp viện cũng tiêu sạch. Cũng may là các bộ phận hành chánh, tài chánh đều do viện trưởng phân viện thứ ba thuộc Tối Cao Pháp Viện đảm nhiệm. Ngày hôm qua theo lệnh của Bộ, các chức vụ viện trưởng, chủ tịch phân viện đều bị bãi trừ.

Trong tương lai, tuy Hoằng bị kỷ luật, nhưng chắc là chén cơm cũng không bị trở ngại. Pháp viện dời về khu vực tạm trú Đông Hương, Hoằng bèn thuê một gian nhà tranh ở vùng phụ cận, mượn của bạn bè một hai bộ quần áo. Đồng hương tặng cho mấy đứa trẻ mấy bộ, hai đứa con gái, hai thằng con trai có áo không có quần. Phần lớn những tiệm buôn trong thành bị bom phá hủy, ở trong làng muốn ra chợ [mua sắm] vải vóc rất khó, sống cuộc đời dân tỵ nạn gần hai tháng trời.

Nghĩ đến minh đản bát tuần của tiên khảo[2], không có sức làm chay, chỉ dâng lên năm đồng, cầu xin thầy chuyển lời thỉnh đến đạo tràng Một Trăm Lẻ Tám Phật Thất làm lễ cầu siêu, lại xin mua giùm một “món đồ câu cơm” (tức Lục Pháp Toàn Thư[3]). Đứa con thứ vốn tên là Phước Bị, chẳng ngờ Ấn lão pháp sư khi đặt tên liền dùng ngay hai chữ ấy, Phật pháp cảm ứng chẳng thể nghĩ bàn.

Hoằng từ sau khi thoát ra khỏi cơn nạn lửa, thề suốt đời trì chú Đại Bi, đi, đứng, nằm, ngồi trong tâm đều thầm tụng để cầu thế giới hòa bình, chỉ quan tâm đến chuyện cày bừa, chẳng hỏi đến chuyện thâu hoạch, thầy có cho là đúng hay không? Sanh con lẫn nuôi dạy đều quan trọng, người tiểu thiếp răn dạy rất nghiêm, lúc cấp bách cũng biết niệm Quán Thế Âm Bồ Tát, bé Phước Châu cũng biết lạy Phật. Con thưa gởi những gì nghĩ biết, rất mong thầy gởi thư răn dạy về lý nhân quả trong lần bị nạn lửa này. Phiền thầy cho con gởi lời vấn an trước tòa lão pháp sư.

***

Ngày hôm qua nhận được thư gởi tới bằng đường tàu, ông trải qua một phen nguy hiểm kinh sợ này khác nào được sống sót từ nơi miệng cọp, đúng là khiến cho người khác chẳng rét mà run! Phật, Bồ Tát hữu cầu tất ứng, tầm thanh cứu khổ, cảm thông chẳng thể nghĩ bàn, [nay đã] có [thêm] chứng cớ để càng thêm tin tưởng. Sâm tính soạn một bài ký về sự linh cảm đăng trên những tờ báo như Phật Học Bán Nguyệt San v.v… để tuyên dương nhằm khơi gợi lòng tin tưởng của mọi người, mà thiện căn của cư sĩ cũng ngày càng được tăng thêm.

Gặp phen cư sĩ mắc đại kiếp về quần áo, vật dụng lần này, Sâm ở xa ngoài mấy ngàn dặm, quả thật chỉ ôm lòng thương cảm nhưng không cách nào giúp đỡ được. May là cả nhà lớn bé đều được thoát hiểm không hề hấn gì. Chỉ có thân hình bị lửa dữ hun lâu nên chàng mập biến thành gã ròm chứ không bị tổn thương chi khác thì cử động lại càng thêm thoải mái, cũng không trở ngại chi!

Còn như trong lúc chưa thoát khỏi hang lửa, đang trong lúc nguy hiểm nhất vẫn có thể tâm không sợ hãi, đấy chính là chỗ biểu hiện một dạ tu trì vậy, nhưng chỉ biết lặng lẽ chờ Phật, Bồ Tát đến cứu giúp, chẳng biết nghĩ đến chuyện đã lâm vào cảnh hãm tuyệt, đang trong lúc muôn phần không còn lẽ sống, càng phải nên chuyên niệm Nam Mô A Di Đà Phật hoặc Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát (niệm danh hiệu nào cũng đều được), nhất tâm mong mỏi Phật, Bồ Tát rủ lòng từ. Nếu chẳng thể thoát hiểm tìm ra lẽ sống, liền chuyên mong được tiếp dẫn vãng sanh. Chẳng biết suy nghĩ như thế thì chưa phải là triệt để rốt ráo, may là được thoát hiểm, nếu không, sợ rằng đã chôn thân trong hầm lửa, chẳng được lợi lành vãng sanh thì lầm lẫn lớn quá rồi! Chú tâm tưởng Phật, Bồ Tát tiếp dẫn vãng sanh, nếu như chưa đến lúc thì cũng cảm được Phật, Bồ Tát cứu giúp, che chở thoát hiểm. Rất mong hãy “đầu sào trăm thước, tiến thêm bước nữa” thì lợi ích lớn lao mới là triệt để.

Còn như luận về lý nhân quả trong lần này thì bọn ta từ vô thỉ đến nay không oan nghiệt nào chẳng tạo, chỉ cần nhân duyên hội ngộ ắt sẽ chịu quả báo. Ngay như hết thảy tâm hạnh hiểm ác của những kẻ ngay trong hiện thời khiến cho chúng ta mắc phải đại kiếp này [đều là vì] bọn ta xưa kia khi mê muội chẳng biết giác chiếu [đã trót mang những tâm hạnh hiểm ác ấy], dẫu có nặng – nhẹ, mạnh – yếu khác biệt thì cũng không gì chẳng phải là “chỉ mong sao ta sống, chẳng sợ người khác chết, cậy năm mươi bước cười kẻ một trăm bước” mà thôi! Cõi đời không quả nào chẳng có nhân mà cũng không nhân nào chẳng có quả! Tương lai rốt cuộc sẽ phải đền bù ra sao, hoặc ngấm ngầm hoặc rõ rệt, sẽ tự có giá trị tương đương, chúng ta chỉ nên tin tưởng sâu xa nhân quả chẳng sai tơ tóc là được rồi! Nếu nói rốt ráo là như thế nào thì chính tôi là hạng tăng phàm tục chỉ biết cơm cháo chẳng thể nào phân tích được!

Về minh thọ tám mươi tuổi của lệnh tiên nghiêm lão nhân, tôi đã gởi thư cho đạo tràng Một Trăm Lẻ Tám Phật Thất lập bài vị cầu siêu. “Bộ đồ câu cơm” Lục Pháp Toàn Thư đã cậy bạn bè mua giùm, gởi giùm rồi. Tôi gởi kèm theo thư này thư trả lời của người bạn ấy để ông biết đầu đuôi. Còn ý nguyện cao quý suốt đời trì chú Đại Bi để cầu nguyện thế giới hòa bình của ông cố nhiên rất tốt, nhưng đang trong lúc muôn phần không có lẽ sống, đối với kiếp sống thừa sau cơn tai kiếp, quang âm hữu hạn này, càng phải nên niệm Nam Mô A Di Đà Phật cho nhiều và đem hết thảy công đức hồi hướng cho khắp mọi chúng sanh cùng cầu sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới, để mình lẫn người đều được lợi ích rốt ráo liễu sanh thoát tử thật sự, ngõ hầu chẳng phụ Phật, Bồ Tát từ bi cứu vớt lần này vậy!

***

[1] Đoan Ngọ (ngày Mồng Năm Tháng Năm), gọi đủ là Đoan Ngọ Tiết, còn gọi là Đoan Dương Tiết, Ngọ Nhật Tiết, Ngũ Nguyệt Tiết, Ngũ Nhật Tiết, Ngải Tiết, Trùng Ngọ, Hạ Tiết v.v… Thoạt đầu, theo mê tín, đây là ngày thạnh dương nên sâu bọ sanh sôi, ôn dịch dễ xảy ra, nên có nhiều tập tục như uống rượu pha hùng hoàng, dùng lá ngải vò nát xoa vào móng tay để giết sâu bọ trong bụng v.v… Ngoài ra, vào thời cổ, ở phương Nam Trung Quốc, đại khái vùng Chiết Giang, có một sắc dân thiểu số được coi là hậu duệ của loài rồng, thường tế lễ thần Đồ Đằng để cầu mưa thuận gió hòa vào ngày mồng Năm tháng Năm. Về sau do Khuất Nguyên, quan đại phu nước Sở, do can vua không được đã đâm đầu xuống sông Mịch La nhằm tiết Đoan Ngọ, nên người ta cũng dùng ngày này để kỷ niệm một vị ái quốc.

Đại Thử là một tiết khí trong hai mươi bốn tiết khí của một năm, kéo dài từ Hai Mươi Hai tháng Bảy đến ngày mồng Tám tháng Tám Dương lịch. Theo Nguyệt Lệnh Thất Thập Nhị Hầu Tập Giải, sở dĩ gọi là Đại Thử vì lúc ấy khí hậu nóng nhất trong năm.

Ở đây, ông Hoàng đã tính sai ngày, sau Đoan Ngọ hai ngày (tức mồng Bảy tháng Năm) cho đến ngày đầu tiên của tiết Đại Thử (Hai Mươi Hai tháng Bảy) là 75 ngày, chứ không phải 31 ngày.

[2] Cha đã mất gọi là tiên khảo, minh đản (hay còn gọi là minh thọ) bát tuần là ngày sinh nhật tám mươi tuổi của người đã khuất.

[3] Lục Pháp Toàn Thư là một bộ sách tổng hợp tất cả những dữ liệu, thông tin cần thiết về luật pháp được áp dụng tại Trung Hoa Dân Quốc và Nhật Bản. Nội dung bao gồm sáu thể loại luật pháp:

  1. Hiến pháp
  2. Dân pháp: gồm những điều luật dân sự, chẳng hạn khai sanh, khai tử, đăng bộ nhà, xe, ruộng vườn v.v…
  3. Dân sự tố tụng pháp: những điều luật về thưa kiện dân sự, chẳng hạn ly hôn, ly thân, tranh chấp gia sản, điền sản v.v…
  4. Hình pháp: những điều luật về tội phạm.
  5. Hình sự tố tụng pháp: những điều luật quy định về sự tranh cãi kiện tụng liên quan đến những tội hình sự.
  6. Hành chánh pháp và Hành chánh tố tụng pháp: những điều luật, quy định về biện pháp xử lý hành chánh và thưa kiện trong lãnh vực hành chánh.

Do tài liệu này vô cùng cần thiết cho nghề nghiệp của một quan tòa nên ông Hoàng gọi đùa nó là “món đồ câu cơm”.