Want create site? Find Free WordPress Themes and plugins.

THẬP LUẬT TỤNG
Hán dịch: Hậu Tần Phất Nhược Đa La cộng La Thập dịch
Việt dịch: Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh
Hội Văn Hóa Giáo Dục Linh Sơn Đài Bắc Xuất Bản

 

QUYỂN 13

V. CHÍN MƯƠI PHÁP BA DẬT ĐỀ (Tiếp Theo)

33. Giới Đến Nhà Bạch Y Thọ Quá Hai, Ba Bát

Phật tại nước Xá-vệ, có một Bà-la-môn có con gái bị mắt lé tên gọi là mắt lé, lúc đó bên nhà chồng đến đón, cha mẹ của mắt lé bảo đợi một chút để làm xong bánh nướng rồi sẽ tiễn đưa con gái về nhà chồng. Lúc đó thời thế đang mất mùa đói kém nên Bà-la-môn phải cần khổ mới tìm mua đủ bột để nướng bánh. Bạt-nan-đà Thích tử thường lui tới trong nhà này, lúc đó nói với đồ chúng rằng: “Hãy theo tôi, tôi vào nhà nào thì các thầy vào nhà đó, tôi được thức ăn thì các thầy cũng được thức ăn”. Sáng sớm hôm đó, Bạt-nan-đà đắp y mang vào đến nhà của Bà-la-môn , Bà-la-môn cung kính chào hỏi, do Bạt-nan-đà có tài biện thuyết, sau khi nói diệu pháp cho Bà-la-môn được pháp vị, Bà-la-môn liền nói: “Đại-đức, hiện giờ không có cơm canh, có thể ăn bánh nướng này được không?”, đáp: “Các vị ăn được sao tôi lại ăn không được”, Bà-la-môn liền đưa bánh cho Bạt-nan-đà và các Tỳ kheo khác khiến cho hết bánh. Lúc đó bên nhà chồng lại sai sứ đến đón, cha mẹ của Mắt lé lại bảo đợi một chúng để làm xong bánh nướng sẽ tiễn đưa rồi đi tìm bột để nướng bánh. Bạt-nan-đà lại cùng đồ chúng đến nhà cũng giống như lần trước thuyết pháp rồi mang hết bánh đi khiến cho khi bên nhà chồng đến đón dâu, bên nhà gái lại bảo đợi làm bánh xong sẽ tiễn đưa con gái, lúc đó bên nhà chồng nghi và nổi giận đi hỏi cưới người vợ khác rồi sai sứ đến nói với bên nhà gái rằng: “Tôi đã cưới vợ khác rồi, không đến rước dâu nữa”. Cha của Mắt lé nghe rồi ưu sầu giận trách nói rằng: “Tại Sa-môn Thích tử nên mới như thế, họ không biết nhàm đủ, người thí không biết lượng thì người thọ phải biết lượng. Con rễ của ta trước kia ái niệm nhau, do nhân duyên này nên không rước dâu nữa”, do lòng sân không nhẫn được nên đi đến chỗ Phật bạch lại sự việc trên rồi nói: “Thế tôn, thật không có pháp này vì cái quý trọng của con gái tôi đã bị mất rồi”, Phật dùng sức từ tâm khiến cho tâm sân giận của Bàla-môn lắng xuống rồi thuyết pháp khiến cho được lợi hỉ, Bà-la-môn nghe pháp được lợi hỉ rồi đảnh lễ Phật hữu nhiễu rồi ra về. Bà-la-môn đi không bao lâu sau Phật do việc này nhóm Tỳ kheo tăng rồi hỏi Bạtnan-đà: “Thầy thật đã làm việc này phải không?” Đáp: “Thật đã làm thưa Thế tôn”, Phật liền quở trách: “Tại sao gọi là Tỳ kheo lại không biết thời, không biết lượng, không biết pháp; người thí không biết lượng thì người thọ nên biết lượng”. Phật chỉ quở trách nhưng chưa kết giới.

Phật tại nước Xá-vệ, lúc đó trong thành có các thương nhơn đã định ngày lành xuất hành sang nước khác, có một thương nhơn quen biết với Thích tử Bạt-nan-đà nên sáng hôm đó Bạt-nan-đà đắp y mang bát đến chỗ thương nhơn rồi cùng nhau thăm hỏi, do Bạt-nan-đà có tài thuyết pháp khiến cho thương nhơn này được pháp vị nên thương nhơn nói với Bạt-nan-đà: “Đại-đức, hiện giờ không có cơm canh nhưng có bánh là lương thực đi đường, Đại-đức thọ được không?” Đáp “Các vị ăn được sao tôi ăn không được”, thương nhơn liền đưa lương thực cho Bạt-nan-đà, cứ như thế đến Tỳ kheo thứ hai, thứ ba khiến cho lương thực của thương nhơn đều hết sạch. Lúc đó thương nhơn này nói với thương chủ: “Lương thực mà tôi chuẩn bị để lên đường đã đưa cho Samôn Thích tử mang đi hết rồi, xin hãy đợi tôi làm lương thực khác rồi sẽ cùng lên đường”, thương chủ nói: “Các thương nhơn đã định ngày lành để lên đường, làm sao có thể đợi một mình anh được, anh cứ chuẩn bị lương thực khác rồi đi sau”. Do các thương nhơn đi trước đông nên giặc cướp không dám đón đường đánh cướp, thương nhơn này một mình đi sau nên khi qua đường hiểm bị giặc cướp đón đường giết người cướp của. Sự việc này do người này chuyền nói với người kia khiến tiếng xấu của Sa-môn Thích tử lan ra khắp trong thành Xá-vệ. Có Tỳ kheo thiểu dục tri túc hành hạnh đầu đà nghe biết việc này tâm không vui liền đem việc này bạch Phật, Phật do nhân duyên này nhóm họp Tỳ kheo tăng rồi hỏi Bạt-nan-đà: “Thầy thật đã làm việc này phải không?” Đáp: “Thật đã làm thưa Thế tôn”, Phật liền quở trách: “Tại sao gọi là Tỳ kheo lại không biết thời lượng và không biết pháp; nếu người thí không biết lượng thì người thọ phải biết lượng, tại sao lại khiến cho thương nhơn này bị giặc giết chết khi qua đường hiểm”, quở trách rồi bảo các Tỳ kheo: “Do mười lợi nên kết giới cho các Tỳ kheo, từ nay giới này nên nói như sau:

Nếu Tỳ kheo đến nhà bạch y được họ tùy ý thí cho nhiều bánh, Tỳ kheo nào cần thì được thọ nhận hai, ba bát, nếu thọ quá số lượng này thì phạm Ba-dật-đề.

Thọ hai, ba bát rồi trở ra ngoài cùng các Tỳ kheo khác chia nhau ăn, việc này phải làm như vậy. Tùy ý thí cho nhiều bánh là thường thường cho. Bánh là do tiểu mạch, bột làm thành hoặc đại mạch và bột làm thành hoặc do bột gạo, bột nếp làm thành. Bát có ba loại thượng, trung và hạ; bát thượng thọ được ba bát cơm, một bát canh và các thức ăn khác; bát hạ thọ được một bát cơm, nửa bát cánh và các thức ăn khác; khoảng giữa của bát thượng và bát hạ là bát trung. Trở ra ngoài cúng các Tỳ kheo khác chia nhau ăn là những vị mà mắt nhìn thấy.

Tướng phạm trong giới này là nếu Tỳ kheo dùng bát thượng để thọ bánh thì chỉ nên thọ một bát, không nên thọ hai bát, nếu thọ hai bát thì phạm Ba-dật-đề; nếu dùng bát trung để thọ bánh thì được thọ hai bát, không được thọ ba bát, nếu thọ ba bát thì phạm Ba-dật-đề; nếu dùng bát hạ để thọ bánh thì được thọ ba bát , không được thọ bốn bát, nếu thọ bốn bát thì phạm Ba-dật-đề. Ra ngoài thấy Tỳ kheo nếu cùng chia nhau ăn thì tốt, nếu không cùng chia nhau ăn thì phạm Đột-kiết-la.

34. Giới Thọ Pháp Dư Thực

Phật tại nước Xá-vệ, lúc đó Ca-lưu-đà-di vào trời tối có trời mưa và sấm chớp đến nhà bạch y khất thực, do thân hình của Ca-lưu-đà-di đen bóng dưới trời mưa sấm chớp nên khiến cho người nữ chủ nhơn nhìn thấy tưởng là quỷ, sợ hãi đến nỗi lông tóc dựng đứng và bị sẩy thai. Ca-lưu-đà-di nói: “Tỷ muội, tôi là Tỳ kheo chứ không phải quỷ, tôi đến để khất thực”, người nữ nghe rồi nổi giận quở mắng rằng: “Xin khiến cho cha mẹ dòng họ của ông đều chết hết đi. Đây là Sa-môn mổ bụng người, là Sa-môn giết người nên mới mặc y đen đến, sao không lưỡi dao trâu mổ bụng mình lại vào trời tối trời mưa sấm chớp đến để khất thực khiến cho con ta chết, thân ta hoại. Ông là Sa-môn sao lại làm việc ác như thế”. Ca-lưu-đà-di ở nhà này gây lỗi làm rồi trở về kể lại cho các Tỳ kheo nghe, các Tỳ kheo đem việc này bạch Phật, Phật do nhân duyên này nhóm họp Tỳ kheo tăng rồi hỏi Ca-lưu-đà-di: “Thầy thật đã làm việc này phải không?” Đáp: “Thật đã làm thưa Thế tôn”, Phật liền quở trách: “Tại sao gọi là Tỳ kheo lại phi thời đến nhà bạch y khất thực”, quở trách rồi bảo các Tỳ kheo: “Nếu Tỳ kheo phi thời đến nhà bạch y khất thực không chỉ mắc lỗi lầm như thế, mà còn phạm những tội nặng hơn tội này. Từ nay các Tỳ kheo chỉ nên ăn một bữa”. Lúc đó các Tỳ kheo do chỉ ăn một bữa nên thân thể ốm gầy không có sức lực, Phật tuy biết mà vẫn hỏi A-nan nguyên do, A-nan bạch Phật: “Do Thế tôn chế giới Tỳ kheo chỉ nên ăn một bữa nên các Tỳ kheo ốm gầy không có sức lực”, Phật do việc này nhóm Tỳ kheo tăng đủ lời khen ngợi giới và người trì giới rồi bảo các Tỳ kheo: “Từ nay cho các Tỳ kheo được tùy ý ăn năm loại Khư-đà-ni là củ, cọng, lá, hoa và quả”. Lúc đó các Tỳ kheo vào thành Vương xá khất thực, có bạch y đem thức ăn xen lẫn lá La-bặc, lá Bồ-nuy dâng cho các Tỳ kheo, các Tỳ kheo không ăn nên không được no đủ, thân vẫn như trước ốm gầy không có sắc lực. Phật tuy biết mà vẫn hỏi A-nan nguyên do, A-nan đem việc trên bạch Phật, Phật bảo các Tỳ kheo: “Từ nay cho tùy ý thọ năm loại thức ăn Bồ-xà-ni là cơm, bánh, bún, cá và thịt”. Lúc đó các Tỳ kheo vào thành Vương xá khất thực, có bạch y đem thức ăn xen lẫn lá La-bặc, lá Bồ-nuy dâng cho các Tỳ kheo, các Tỳ kheo không ăn nên không được no đủ, thân vẫn như trước ốm gầy không có sắc lực. Phật tuy biết mà vẫn hỏi A-nan nguyên do, A-nan đem việc trên bạch Phật, Phật nói: “Từ nay cho tùy ý thọ các loại thức ăn tương tợ và thức ăn tạp như cháo, cơm gạo tẻ, cơm nếp, bắp…”.

Phật tại Duy-na-ly, lúc đó có một cư sĩ đến chỗ Phật đảnh lễ ngồi một bên nghe Phật nói pháp, Thế tôn tùy thuận nói pháp chỉ dạy cho cư sĩ được lợi hỉ rồi im lặng. Cư sĩ đứng dậy chắp tay bạch Phật: “Cúi xin Phật và Tăng thọ con ngày mai thỉnh thực”, Phật im lặng nhận lời, cư sĩ biết Phật đã nhận lời liền đảnh lễ Phật, hữu nhiễu rồi ra về. Về đến nhà ngay trong đêm đó lo liệu đủ các món ăn để cúng dường, sáng hôm sau trải tòa ngồi rồi sai sứ đến thỉnh Phật là đã đến giờ. Lúc đó các Tỳ kheo đến nhà cư sĩ, Phật sai người nhận phần thức ăn mang về; cư sĩ thấy chúng tăng ngồi xong liền tự tay rót nước rồi dâng thức ăn khiến cho các Tỳ kheo được no đủ. Lúc đó các Tỳ kheo ở Duy-na-ly có nhiều bịnh, Tỳ kheo khán bịnh sau khi ăn xong liền nhận lấy phần thức ăn của các Tỳ kheo bịnh mang về. Các Tỳ kheo bịnh có người ăn được, có người ăn không được, có người ăn chút ít, Tỳ kheo khán bịnh do đã ăn no rồi nên không ăn thêm nữa, thức ăn dư của-Tỳ kheo bịnh phải đem bỏ trong Tăng phường khiến cho nhiều chim quạ bay đến ăn làm cho ồn náo. Phật nghe tiếng ồn náo này tuy biết mà vẫn hỏi A-nan nguyên do, A-nan đem việc trên bạch Phật, Phật do việc này nhóm Tỳ kheo tăng đủ lời khen ngợi giới và người trì giới rồi bảo các Tỳ kheo: “Từ nay do hai điều lợi nên cho pháp thọ thức ăn dư: Một là do nhân duyên Tỳ kheo khán bịnh, Hai là Tỳ kheo có nhân duyên ăn không đủ no. Do hai lợi này nên kết giới cho các Tỳ kheo, từ nay giới này nên nói như sau:

Nếu Tỳ kheo ăn xong rồi từ tòa đứng dậy đi, nếu không thọ pháp thức ăn dư mà ăn nữa thì phạm Ba-dật-đề.

Ăn là ăn năm loại thức ăn Khư-đà-ni, năm loại Bồ-xà-ni và năm loại thức ăn tương tợ.

Tướng phạm trong giới này là nếu Tỳ kheo ăn rồi từ tòa đứng dậy đi, không thọ pháp thức ăn dư mà ăn loại thức ăn củ… năm loại Khư-đàni đều phạm Ba-dật-đề; hoặc ăn cơm, bánh năm loại Bồ-xà-ni cho đến năm loại thức ăn tương tợ như cháo, cơm nếp… đều phạm Ba-dật-đề. Lúc đó các Tỳ kheo không biết thọ pháp thức ăn dư như thế nào, Phật bảo các Tỳ kheo: “Nếu muốn thọ pháp thức ăn dư thì tùy được thức ăn nhiều hay ít đều để hết vào trong bát, biết Tỳ kheo nào chưa ăn xong, chưa đứng dậy liền cầm bát đến bên người này bạch rằng: “Trưởng lão nhớ nghĩ, xin làm pháp thức ăn dư giùm tôi”. Nếu Tỳ kheo này không thọ lấy ít nhiều thức ăn trong bát đó thì không gọi là làm pháp thức ăn dư, nếu Tỳ kheo thọ thức ăn dư này thì phạm Ba-dật-đề. Nếu cầm bát để dưới đất hoặc trên đầu gối, cho đến đứng cách xa mà tay của-Tỳ kheo làm pháp thức ăn dư không vói tới được cũng không gọi là thọ pháp thức ăn dư, Tỳ kheo ăn thức ăn dư này đều phạm Ba-dật-đề. Nếu dùng thức ăn bất tịnh như thịt bất tịnh để thọ pháp thức ăn dư thì không gọi là thọ pháp thức ăn dư, Tỳ kheo ăn thức ăn dư này đều phạm Badật-đề. Nếu Tỳ kheo muốn ăn năm loại thức ăn Khư-đà-ni mà lại dùng năm loại thức ăn Bồ-xà-ni, hoặc muốn ăn năm loại thức ăn Bồ-xà-ni mà lại dùng năm loại thức ăn Khư-đà-ni, cho đến muốn ăn năm loại thức ăn tương tợ mà lại dùng năm loại thức ăn Bồ-xà-ni để thọ pháp thức ăn dư thì không gọi là thọ pháp thức ăn dư, Tỳ kheo ăn thức ăn dư này đều phạm Ba-dật-đề. Nếu Tỳ kheo thọ pháp thức ăn dư rồi mà lại thọ năm loại thức ăn khác, ăn mỗi mỗi miếng đều phạm Đột-kiết-la.”

Lúc đó Trưởng lão Ưu-ba-ly hỏi Phật: “Thế tôn, Tỳ kheo khi đi có mấy chỗ; khi đứng, khi ngồi, khi nằm có mấy chỗ?” Phật nói: “Tỳ kheo khi đi có năm chỗ, khi đứng có năm, khi ngồi có năm, khi nằm có năm. Đi có năm chỗ là biết đi, biết cúng dường, biết ngăn ăn, biết các loại thức ăn và hoại oai nghi; đứng có Năm là biết đứng, biết cúng dường… như trên; ngồi có Năm là biết ngồi, biết cúng dường… như trên; nằm có Năm là biết nằm, biết cúng dường… như trên. Nếu Tỳ kheo khi đi súc miệng, có đàn việt cúng cho năm loại thức ăn, Tỳ kheo ấy được thọ ăn và được thọ pháp thức ăn dư nhưng không được đứng, ngồi, nằm; nếu đứng, ngồi, nằm thì phải biết là hoại oai nghi, không được thọ pháp thức ăn dư, dù thọ cũng không gọi là thọ, Tỳ kheo nếu ăn thức ăn dư này thì phạm Ba-dật-đề. Nếu Tỳ kheo khi dọn thức ăn, có đàn việt cúng năm loại thức ăn, Tỳ kheo ấy được thọ ăn và được thọ pháp thức ăn dư nhưng không được đứng, ngồi hay nằm; nếu đứng, ngồi hay nằm thì phải biết là hoại oai nghi, không được thọ pháp thức ăn dư, dù thọ cũng không gọi là thọ, Tỳ kheo nếu ăn thức ăn dư này thì phạm Ba-dật-đề. Trường hợp đứng, ngồi, nằm cũng giống như vậy. Không phạm là nếu Tỳ kheo nói chờ một chút hay nói giờ ngọ chưa tới, lúc đó dù ăn cơm hay cháo, tất cả thức ăn có dặn trước ăn đều không phạm.”

35. Giới Khuyên Ăn Thức Ăn Dư Không Tác Pháp

Phật tại nước Xá-vệ, tại một trú xứ ở nước Kiều-tát-la có hai Tỳ kheo: Một người phá giới khuyết lậu không có hổ thẹn, không giữ những giới vi tế; người thứ hai trì giới thanh tịnh cho đến tội nhỏ cũng sanh tâm sợ hãi. Vị Tỳ kheo thanh tịnh này thấy Tỳ kheo kia phạm tội thường bảo rằng: “Thầy đã phạm tội như thế, như thế”, Tỳ kheo phá giới suy nghĩ: “Chừng nào ta thấy Tỳ kheo kia phạm tội, ta sẽ nêu ra”. Một hôm Tỳ kheo phá giới thấy Tỳ kheo trì giới ăn rồi đứng dậy liền mang thức ăn thuộc loại Khư-đà-ni và Bồ-xà-ni đến mời cùng ăn. Tỳ kheo trì giới không nhớ liền cùng ăn, Tỳ kheo phá giới nói: “Trưởng lão đã phạm tội Ba-dật-đề”, liền hỏi phạm tội Ba-dật-đề gì, đáp rằng: “Thầy ăn rồi không thọ tùy ý thỉnh lại ăn nữa”, Tỳ kheo trì giới nói: “Thầy biết tôi ăn rồi không thọ tùy ý thỉnh sao còn mời tôi cùng ăn”, Tỳ kheo phá giới nói: “Thầy thường thường xuất tội tôi nên tôi nghĩ là chừng nào tôi thấy thầy phạm tội, tôi sẽ xuất tội thầy lại. Vì thế khi thấy thầy ăn rồi mà không thọ tùy ý thỉnh, muốn xúc não nhau nên tôi mời thầy cùng ăn”. Có Tỳ kheo thiểu dục tri túc hành hạnh đầu đà nghe biết việc này tâm không vui liền đem việc này bạch Phật, Phật do nhân duyên này nhóm họp Tỳ kheo tăng rồi hỏi Tỳ kheo phá giới này: “Thầy thật đã làm việc này phải không?” Đáp: “Thật đã làm thưa Thế tôn”, Phật liền quở trách: “Tại sao gọi là Tỳ kheo đã biết người khác ăn rồi không thọ tùy ý thỉnh, vì muốn xúc não nhau nên mời cùng ăn”, quở trách rồi bảo các Tỳ kheo: Do mười lợi nên kết giới cho các Tỳ kheo, từ nay giới này nên nói như sau:

Nếu Tỳ kheo biết Tỳ kheo khác ăn rồi không thọ tùy ý thỉnh, vì muốn xúc não nhau nên mời ăn các loại thức ăn Khư-đà-ni, Bồ-xà-ni. Chỉ do nhân duyên này không phải vì nhân duyên gì khác thì phạm Badật-đề.

Biết là Tỳ kheo tự biết hay nghe biết từ người khác hoặc Tỳ kheo kia tự nói. Ăn là ăn ba loại thức ăn thuộc Khư-đà-ni hoặc Bồ-xà-ni hoặc năm loại thức ăn tương tợ. Khuyên mời ăn là ân cần mời mọc. Xúc não là dùng tâm sân giận để xuất tội Tỳ kheo kia.

Tướng phạm trong giới này là nếu Tỳ kheo thấy Tỳ kheo khác ăn xong rồi không có thỉnh tùy ý liền mời ăn các loại thức ăn thuộc Khưđà-ni, Bồ-xà-ni hay năm loại thức ăn tương tợ đều phạm Ba-dật-đề. Có Tỳ kheo bảo Tỳ kheo khác ăn phi thời, nếu vị kia ăn thì đều phạm Ba-dật-đề; có Tỳ kheo dạy bảo Tỳ kheo khác trộm vật của người khác, nếu trộm được thì tùy theo vật đã lấy trộm đều phạm tội; có Tỳ kheo dạy bảo Tỳ kheo khác giết người, vị ấy đoạn được mạng thì đều phạm Ba-la-di; nếu Tỳ kheo dạy bảo Tỳ kheo khác chặt cây cỏ tươi, vị ấy chặt thì đều phạm Ba-dật-đề; nếu Tỳ kheo dạy bảo Tỳ kheo khác kéo người khác ra khỏi phòng, vị ấy kéo ra thì đều phạm Ba-dật-đề; nếu Tỳ kheo dạy bảo Tỳ kheo khác gượng trải ngọa cụ trong phòng, vị ấy trải thì đều phạm Ba-dật-đề; nếu Tỳ kheo dạy bảo Tỳ kheo khác dùng nước có trùng tưới cây cỏ, vị ấy dùng thì đều phạm Ba-dật-đề; nếu Tỳ kheo dạy bảo Tỳ kheo khác uống nước có trùng, vị ấy lấy uống thì đều phạm Ba-dật-đề; nếu Tỳ kheo dạy bảo Tỳ kheo khác cho ngoại đạo lỏa hình thức ăn thức uống, vị ấy cho thì đều phạm Ba-dật-đề; nếu Tỳ kheo dạy bảo Tỳ kheo nhóm lửa nơi đất trống, vị ấy nhóm lửa thì đều phạm Badật-đề; nếu Tỳ kheo dạy bảo Tỳ kheo khác cầm vàng bạc, vị ấy cầm thì đều phạm Ba-dật-đề; nếu Tỳ kheo dạy bảo Tỳ kheo khác đoạn mạng súc sanh, vị ấy đoạn mạng thì đều phạm Ba-dật-đề; nếu Tỳ kheo dạy bảo Tỳ kheo khác giấu y bát của người khác, vị ấy giấu thì đều phạm Ba-dật-đề; nếu Tỳ kheo dạy bảo Tỳ kheo khác đào đất, vị ấy đào thì đều phạm Ba-dật-đề; nếu Tỳ kheo dạy bảo Tỳ kheo khác ăn thức ăn cách đêm, vị ấy ăn thì đều phạm Ba-dật-đề. (Đại Tỳ kheo chưa tự tạy thọ thức ăn mà cùng với thức ăn đó ngủ trong phòng thì gọi là Nội túc, ăn thức ăn này thì phạm Đột-kiết-la; nếu đã tự tay thọ lấy đem cất rồi cùng với thức ăn đó ngủ trong phòng thì gọi là Tàn túc, ăn thức ăn này thì phạm Ba-dật-đề).

36. Giới Ăn Biệt Chúng

Phật tại thành Vương xá, lúc đó vua A-xà-thếvà các quan đại thần đều tín kính Đề-bà-đạt-đa, dân trong thành trợ giúp cho Đề-bà-đạt-đa và cúng dường thức ăn Đát-bát-na, bữa ăn sáng, bữa ăn trưa. Có các Tỳ kheo trẻ tuổi xuất gia chưa bao lâu, Đề-bà-đạt-đa đem bát lớn bát nhỏ, kiền tư lớn, kiền tư nhỏ, móc y, dây thiền… các vật cần dùng củaTỳ kheo cho các Tỳ kheo trẻ tuổi này để dụ dẫn họ. Cho nên Đề-bàđạt-đa có đến một trăm, hai, ba, bốn, năm trăm Tỳ kheo cung kính vây quanh cùng đi vào thành Vương xá thọ cúng dường thức ăn ngon riêng Đát-bát-na vào bữa ăn sáng, bữa ăn trưa. Còn các Tỳ kheo Trưởng lão Thượng tòa tu phạm hạnh lâu, được pháp vị của Phật vào thành khất thực chỉ được thức ăn nguội cách đêm hoặc cơm thiêu hoặc thức ăn thô dỡ, có khi không được gì nên lúc được no lúc không được no. Có Tỳ kheo thiểu dục tri túc hành hạnh đầu đà nghe biết việc này tâm không vui liền đem việc này bạch Phật, Phật do nhân duyên này nhóm họp Tỳ kheo tăng rồi quở trách: “Tại sao gọi là Tỳ kheo lại cùng một trăm, hai, ba, bốn, năm trăm Tỳ kheo cung kính vây quanh… giống như đoạn văn trên cho đến câu lúc không được no”, quở trách rồi bảo các Tỳ kheo: “Từ nay do hai điều lợi nên ngăn ăn biệt chúng, cho ba người cùng ăn: Một là tùy hộ đàn việt vì tâm thương xót, Hai là vì phá thế lực của các Tỳ kheo ác dục, không để cho kẻ ác dục tạo lập chúng riêng, tác pháp riêng và cùng tăng tranh chấp. Do mười lợi nên kết giới cho các Tỳ kheo, từ nay giới này nên nói như sau:

Nếu Tỳ kheo ăn biệt chúng thì phạm Ba-dật-đề.

Ăn biệt chúng là ít nhất bốn người cùng ngồi ăn một chỗ.

Tướng phạm trong giới này là bốn Tỳ kheo ăn riêng chúng thì phạm Ba-dật-đề; nếu có ba-Tỳ kheo ăn riêng chúng, người thứ tư nên lấy phần ăn của mình để ăn thì không phạm.

Phật tại thành Vương xá, lúc đó có các Tỳ kheo bịnh do nhân duyên khất thực nên khổ não ốm gầy, cư sĩ trong thành thấy liền hỏi rõ nguyên do rồi nói: “Các thầy bịnh thì tôi thỉnh các thầy đến nhà tôi thọ thực”, các Tỳ kheo bịnh nói: “Phật chưa cho vì nhân duyên bịnh được ăn riêng chúng”. Các Tỳ kheo không biết làm sao liền đem việc này bạch Phật, Phật do việc này nhóm Tỳ kheo tăng đủ lời khen ngợi giới và người trì giới rồi bảo các Tỳ kheo: “Từ nay cho các Tỳ kheo bịnh được ăn riêng chúng, từ nay giới này nên nói lại như sau:

Nếu Tỳ kheo ăn riêng chúng thì phạm Ba-dật-đề, trừ nhân duyên.

Nhân duyên là khi bịnh hoặc bịnh lạnh hay bịnh nóng…

Tướng phạm là nếu Tỳ kheo không bịnh mà ăn riêng chúng thì phạm Ba-dật-đề.

Phật tại nước Xá-vệ, lúc đó đến thời may y nên các Tỳ kheo sáng sớm tìm vật dụng để nhuộm y như củi đốt, lượt nước để nấu nước nhuộm y. Trong khi làm những công việc này thì đến giờ ăn, không thể đi khất thực được, do đây sanh khổ não. Các cư sĩ trong thành thấy vậy liền hỏi rõ nguyên do rồi nói: “Các thầy nhuộm y thì tôi thỉnh các thầy đến nhà tôi thọ thực”, các Tỳ kheo này nói: “Phật chưa cho vì nhân duyên nhuộm may y được ăn riêng chúng”. Các Tỳ kheo không biết làm sao liền đem việc này bạch Phật, Phật do việc này nhóm Tỳ kheo tăng đủ lời khen ngợi giới và người trì giới rồi bảo các Tỳ kheo: “Từ nay cho các Tỳ kheo đến thời may y, những người lo nhuộm may y được ăn riêng chúng, từ nay giới này nên nói lại như sau:

Nếu Tỳ kheo ăn riêng chúng thì phạm Ba-dật-đề, trừ nhân duyên. Nhân duyên là khi bịnh, khi nhuộm may y.

Tướng phạm là nếu Tỳ kheo thời may y chưa đến mà ăn biệt chúng thì phạm Ba-dật-đề; thời may y đến thì ăn biệt chúng không phạm.

Phật tại nước Xá-vệ, lúc đó các Tỳ kheo từ nước Kiều-tát-la du hành đến nước Xá-vệ, nước này là đồng bằng nên thôn xóm cách nhau xa, các Tỳ kheo này tưởng gần nên muốn đến tụ lạc phía trước để khất thực, không ngờ khi đến tụ lạc đó thì đã qua ngọ nên phải đoạn thực rất khổ não. Các cư sĩ trong tụ lạc thấy vậy liền hỏi rõ nguyên do rồi nói: “Các thầy đi đường xa thì tôi thỉnh các thầy đến nhà tôi thọ thực”, các Tỳ kheo nói: “Phật chưa cho nhân duyên đi đường xa được ăn biệt chúng”. Các Tỳ kheo không biết làm sao liền đem việc này bạch Phật, Phật do việc này nhóm Tỳ kheo tăng đủ lời khen ngợi giới và người trì giới rồi bảo các Tỳ kheo: “Từ nay cho các Tỳ kheo đi đường xa được ăn biệt chúng, từ nay giới này nên nói lại như sau:

Nếu Tỳ kheo ăn riêng chúng thì phạm Ba-dật-đề, trừ nhân duyên. Nhân duyên là khi bịnh, khi nhuộm may y, khi đi đường.

Đi đường là đi gần nhất cho đến nửa do tuần, bận đi hay trở về. Tướng phạm là nếu Tỳ kheo đến hôm qua mà ngày nay ăn biệt chúng thì phạm Ba-dật-đề; sáng mai đi mà ngày nay ăn biệt chúng thì phạm Ba-dật-đề; ngay ngày nay đi ít nhất nửa do tuần, bận đi hay trở về mà ăn biệt chúng thì không phạm.

Phật tại nước Xá-vệ, lúc đó có các Tỳ kheo từ nước Kiều-tát-la đi thuyền đền nước Xá-vệ, khi đi gần tới tụ lạc các Tỳ kheo nói với vị thuyền sư: “Xin hãy đưa thuyền đến bờ cho chúng tôi khất thực”, thuyền sư liền đưa thuyền đến bờ. Các Tỳ kheo lên bờ vào trong tụ lạc khất thực rồi thọ thực… đến khi trở lại chỗ cũ thì thuyền đã đi xa, các Tỳ kheo ở trên bờ chạy theo thuyền liền gặp các nạn sư tử, cọp, sói… , trên đường nhỏ thì bị gai góc đâm… , vì thế nên khổ não. Lúc đó có cư sĩ thấy liền hỏi rõ nguyên do rồi nói: “Nay tôi thỉnh các thầy, những người đi thuyền đến nhà tôi thọ thực”, các Tỳ kheo nói: “Phật chưa cho nhân duyên đi thuyền được ăn biệt chúng”, các Tỳ kheo không biết làm sao, đem việc này bạch Phật. Phật do việc này nhóm Tỳ kheo tăng đủ lời khen ngợi giới và người trì giới rồi bảo các Tỳ kheo: “Từ nay cho nhân duyên đi thuyền được ăn biệt chúng, từ nay giới này nên nói lại như sau:

Nếu Tỳ kheo ăn biệt chúng thì phạm Ba-dật-đề, trừ nhân duyên.

Nhân duyên là khi bịnh, khi nhuộm may y, khi đi đường, khi đi thuyền.

Đi thuyền là đi ít nhất nửa do tuần, bận đi hay bận về.

Tướng phạm trong giới này là nếu Tỳ kheo đến vào ngày hôm qua, ngày nay ăn biệt chúng thì phạm Ba-dật-đề; ngày mai đi ngày nay ăn biệt chúng thì phạm Ba-dật-đề; ngay ngày nay đi ít nhất nửa do tuần, bận đi hay bận về dù ăn biệt chúng đều không phạm.

Phật tại thành Vương xá, lúc đó trong thành đại chúng nhóm họp, Phật cùng một ngàn hai trăm năm mươi vị Tỳ kheo câu hội, khi các Tỳ kheo vào thành khất thực, các cư sĩ chỉ có thể cúng cho hai, ba-Tỳ kheo, không thể cúng cho nhiều vị và nói: “Các vị đông quá làm sao cúng cho hết được”. Các Tỳ kheo đến sau khật thực đều không được thức ăn nên khổ não, có cư sĩ thấy liền hỏi rõ nguyên do rồi nói: “Nay tôi thỉnh các thầy, những người đến dự đại chúng nhóm họp, đến nhà tôi thọ thực”, các Tỳ kheo nói: “Phật chưa cho nhân duyên dự đại chúng nhóm họp được ăn biệt chúng”, các Tỳ kheo không biết làm sao liền đem việc này bạch Phật. Phật do việc này nhóm Tỳ kheo tăng đủ lời khen ngợi giới và người trì giới rồi bảo các Tỳ kheo: “Từ nay cho các Tỳ kheo do nhân duyên đại chúng nhóm họp được ăn biệt chúng, từ nay giới này nên nói lại như sau:

Nếu Tỳ kheo ăn biệt chúng thì phạm Ba-dật-đề, trừ nhân duyên. Nhân duyên là khi bịnh, khi nhuộm may y, khi đi đường, khi đi thuyền, khi đại chúng nhóm họp.

Đại chúng nhóm họp là ít nhất tám người, bốn cựu Tỳ kheo và bốn khách Tỳ kheo đến nhóm họp. Do nhân duyên này khiến các cư sĩ không thể cung cấp đủ hết ẩm thực cho các Tỳ kheo.

Tướng phạm trong giới này là khi các Tỳ kheo không tới tám người nhóm họp mà ăn biệt chúng thì phạm Ba-dật-đề; nếu đủ tám hay hơn tám người nhóm họp, ăn biệt chúng không phạm.

Phật tại thành Vương xá, lúc đó cậu của vua Bình sa xuất gia trong phái ngoại đạo A-kỳ-duy nghĩ rằng: “Vua Bình sa là cháu ngoại của ta rất kính Phật và các đệ tử của Phật, ta nên vì vua cố thỉnh Phật và các đệ tử của Phật thọ thực”, nghĩ rồi liền vào thành xin gạo, bánh, hồ ma, đậu…, các cư sĩ thấy liền hỏi rõ nguyên do rồi cho nhiều gạo, bánh …. Khi ra khỏi thành gặp một Tỳ kheo liền nói: “Thầy hãy vì tôi thỉnh Phật và vài đệ tử của Phật ngày mai đến nhà tôi thọ thực”, Tỳ kheo nói: “Phật chưa cho chúng tôi thọ Sa-môn thí được ăn biệt chúng”, người cậu của vua nói: “Đều là người xuất gia, vì sao lại không cho thọ, tôi vốn không kính các vị nhưng vì cháu ngoại của tôi là vua Bình sa kính Phật, tôi muốn cháu tôi hoan hỉ nên mới thỉnh các vị thọ thực”. Lúc đó người cậu của vua suy nghĩ: “Ta đã lo liệu đủ các món ăn uống, nếu Phật và các đệ tử đến thì ta sẽ cúng thí, nếu không đến thì ta sẽ tự ăn”, Tỳ kheo này không biết làm sao liền đem việc này bạch Phật, Phật do việc này nhóm Tỳ kheo tăng đủ lời khen ngợi giới và người trì giới rồi bảo các Tỳ kheo: “Từ nay cho các Tỳ kheo nhân duyên Sa-môn thỉnh thực được ăn biệt chúng, từ nay giới này nên nói lại như sau:

Nếu Tỳ kheo ăn biệt chúng thì phạm Ba-dật-đề, trừ nhân duyên. Nhân duyên là khi bịnh, khi nhuộm may y, khi đi đường, khi đi thuyền, khi đại chúng nhóm họp, khi Sa-môn thỉnh thực.

Sa-môn là chỉ cho đệ tử của ngoại đạo A-kỳ-duy-ni-kiền-tử, tóm lại trừ năm chúng đệ tử của Phật, những người xuất gia trong các phái ngoại đạo đều gọi là Sa-môn.

Tướng phạm trong giới này là nếu Sa-môn thỉnh Tỳ kheo, bạch y tự tay dâng cúng thức ăn thì Tỳ kheo thọ thỉnh không phạm, nhưng ăn thì phạm Ba-dật-đề; nếu bạch y thỉnh Tỳ kheo, Sa-môn tự tay dâng cúng thức ăn, Tỳ kheo thọ thỉnh thì phạm Đột-kiết-la nhưng ăn thì không phạm; nếu bạch y thỉnh Tỳ kheo và tự tay dâng cúng thức ăn, Tỳ kheo thọ thỉnh thì phạm Đột-kiết-la và khi ăn thì phạm Ba-dật-đề; nếu Samôn thỉnh Tỳ kheo và tự tay dâng thức ăn, Tỳ kheo thọ thỉnh và ăn đều không phạm.

37. Giới Ăn Phi Thời

Phật tại nước Xá-vệ, lúc đó vào ngày tiết hội các cư sĩ làm rất nhiều món ăn ngon đi đến trong vườn rừng để ăn uống vui chơi. Nhóm Tỳ kheo mười bảy người rủ nhau đi đến trong vườn rừng dạo chơi, do nhóm mười bảy vị này đều đoan nghiêm nên được nhiều người kính ái. Các cư sĩ hoan hỉ đem các món ăn ngon ra mời và hỏi có thể ăn được không, nhóm mười bảy vị này nói rằng: “Các vị ăn được sao chúng tôi ăn không được”. Sau khi ăn uống no say, nhóm mười bảy vị này về đến trong Kỳ hoàn nói với các Tỳ kheo: “Chúng tôi ngày nay thật vui vẻ, có phước đức không có suy não”, lúc đó các Tỳ kheo đang kinh hành nơi bãi đất trống nghe rồi liền hỏi rõ nguyên do, nhóm mười bảy Tỳ kheo này liền kể rõ sự việc trên. Có Tỳ kheo thiểu dục tri túc hành hạnh đầu đà nghe biết việc này tâm không vui liền đem việc này bạch Phật, Phật do nhân duyên này nhóm họp Tỳ kheo tăng rồi hỏi nhóm mười bảy Tỳ kheo: “Các thầy thật đã làm việc này phải không?” Đáp: “Thật đã làm thưa Thế tôn”, Phật liền quở trách: “Tại sao gọi là Tỳ kheo lại ăn uống phi thời”, quở trách rồi bảo các Tỳ kheo: “Do mười lợi nên kết giới cho các Tỳ kheo, từ nay giới này nên nói như sau:

Nếu Tỳ kheo ăn phi thời thì phạm Ba-dật-đề.

Phi thời là qua giờ ngọ đến sáng ngày mai lúc mặt trời chưa mọc, trong khoảng thời gian này nếu ăn năm loại thức ăn Khư-đà-ni hay Bồxà-ni hay năm loại thức ăn tương tợ đều gọi là ăn phi thời. Tướng phạm trong giới này là nếu Tỳ kheo phi thời ăn thức ăn loại củ, thân cành… hoặc cơm, bánh… hoặc bắp… của năm loại thức ăn tương tợ đều phạm Ba-dật-đề. Phi thời tưởng là phi thời mà ăn thì phạm Ba-dật-đề; phi thời tưởng là thời mà ăn thì phạm Ba-dật-đề; phi thời khởi nghi mà ăn cũng phạm Ba-dật-đề. Nếu thời tưởng là phi thời mà ăn thì phạm Đột-kiết-la; nếu là thời khởi nghi mà ăn cũng phạm Đột-kiết-la; nếu thời tưởng là thời mà ăn thì không phạm.

38. Giới Ăn Cách Đêm

Phật tại nước Xá-vệ, lúc đó có Tỳ kheo tên là Thượng thắng thọ pháp khất thực, người này mỗi ngày ăn hai phần ăn, khất thực xong ăn một phần, phần còn lại mang về phơi trên tảng đá, sáng hôm sau rửa tay rồi bảo tịnh nhơn trao, thọ rồi ăn. Hôm đó Phật và A-nan đi xem xét các phòng, khi đến phòng của-Tỳ kheo Thượng thắng thấy cơm phơi trên tảng đá liền hỏi A-nan nguyên do, A-nan đem sự việc trên bạch Phật, Phật do nhân duyên này nhóm họp Tỳ kheo tăng rồi hỏi Tỳ kheo Thượng thắng: “Thầy thật đã làm việc này phải không?” Đáp: “Thật đã làm thưa Thế tôn”, Phật liền quở trách: “Tại sao gọi là Tỳ kheo lại ăn cách đêm”, quở trách rồi bảo các Tỳ kheo: “Do mười lợi nên kết giới cho các Tỳ kheo, từ nay giới này nên nói như sau:

Nếu Tỳ kheo cất chứa Khư-đà-ni, Bồ-xà-ni để cách đêm mà ăn thì phạm Ba-dật-đề.

Thức ăn cách đêm là nếu đại Tỳ kheo khất thực được thức ăn cất qua đến ngày mai bao gồm năm loại thức ăn Khư-đà-ni, Bồ-xà-ni và năm loại thức ăn tương tợ.

Tướng phạm trong giới này là nếu Tỳ kheo ăn thức ăn loại củ, thân cành… hay cơm bánh… hay bắp… đã để cách đêm đều phạm Ba-dậtđề. Nếu cây mọc trên đất tịnh, rũ xuống trên đất bất tịnh, trái cây rụng xuống trên đất bất tịnh, nếu Tỳ kheo lượm cất để cách đêm rồi ăn thì phạm Đột-kiết-la. Nếu cây mọc trên đất bất tịnh, rũ xuống trên đất tịnh, trái cây rụng xuống trên đất tịnh, Tỳ kheo luợm cất để cách đêm rồi ăn thì phạm Ba-dật-đề. Nếu cây mọc trên đất tịnh và đất bất tịnh, trái cây rụng trên lá tre hay trên cây Duy đa la, cây Ma lưu đa…, Tỳ kheo lượm lấy cất để cách đêm rồi ăn thì phạm Đột-kiết-la.

39. Giới Không Thọ Thức Ăn

Phật tại nước Xá-vệ, lúc đó Trưởng lão Ma-ha Ca-la thọ pháp nhận tất cả vật phấn tảo; trì y Tăng-già-lê, Uất-đa-la-tăng, An-đà-hội, bát, trượng, giày cho đến thức ăn đều là vật phấn tảo. Sao gọi là trì y Tăng-già-lê, Uất-đa-la-tăng, An-đà-hội phấn tảo? Nếu ở trong ngõ hẽm, chỗ đổ rác hay chỗ người chết có mảnh vải rách bỏ đều lượm lấy rồi đem giặt sạch để may thành ba y. Bát phấn tảo là ở trong ngõ hẽm… có bát bể bỏ đều lượm lấy rồi đem rửa sạch để thọ dụng. Trượng phấn tảo là ở trong ngõ hẽm… có cây gậy quăng bỏ đều lượm lấy, đem rửa sạch rồi dùng. Giày phấn tảo là ở trong ngõ hẽm… có giày rách quăng bỏ đều lượm lấy, đem rửa sạch rồi may vá lại để thọ dụng. Thức ăn phấn tảo là ở trong ngõ hẽm… có cơm thiêu đổ bỏ đều lượm lấy đem rửa sạch rồi nấu lại để ăn. Trưởng lão này thọ pháp ở chỗ người chết, thích ở chỗ người chết, nếu trong nước có người chết vì bịnh dịch… thì thầy không vào thành khất thực mà lấy thức ăn cúng ở chỗ người chết để ăn; nếu không có ai chết vì bịnh dịch… thì thầy mới vào thành khất thực. Do Trưởng lão mập mạp hồng hào nhiều sức lực nên khi vào thành khất thực, người giữ cửa thành suy nghĩ: “Tỳ kheo này khi không có người chết thì vào thành khất thực, lại mập mạp hồng hào nhiều sức lực ắt là đã ăn thịt người”, nghĩ rồi đi truyền nói cho một, hai người, cứ như thế tiếng xấu lan truyền khắp thành Xá-vệ là Sa-môn Thích tử ăn thịt người. Có Tỳ kheo thiểu dục tri túc hành hạnh đầu đà nghe biết việc này tâm không vui liền đem việc này bạch Phật, Phật do nhân duyên này nhóm họp Tỳ kheo tăng rồi quở trách: “Tại sao gọi là Tỳ kheo lại không thọ thức ăn từ người khác mà để vào miệng ăn”, Phật chỉ quở trách nhưng chưa kết giới.

Trưởng lão Ma-ha-ca-la này được thiền định thế tục lại thích ở chỗ người chết, lúc đó trong nước Xá-vệ có một cư sĩ đưa người bà con vừa chết đến chỗ bỏ người chết. Đến nơi các cư sĩ thấy Trưởng lão liền nói với nhau: “Tỳ kheo này ăn thịt người chết, chúng ta đưa người bà con vừa chết này đến đây, sau khi chúng ta trở về ắt Tỳ kheo này sẽ ăn thịt người bà con vừa chết này”. Vì thế sau khi để người chết lại chỗ đó, các cư sĩ liền núp ở chỗ khuất rình xem, lúc đó Trưởng lão này suy nghĩ: “Cơm canh cúng cho người chết chớ để cho chim quạ đến làm dơ”, nghĩ rồi liền đi đến chỗ người chết canh giữ. Các cư sĩ thấy Trưởng lão đi đến chỗ người chết liền cho là muốn ăn thịt người chết nên truyền nói với nhau, một người nói cho hai người cứ như thế tiếng xấu lan ra khắp trong thành Xá-vệ là Sa-môn Thích tử ăn thịt người. Có Tỳ kheo thiểu dục tri túc hành hạnh đầu đà nghe biết việc này tâm không vui liền đem việc này bạch Phật, Phật do nhân duyên này nhóm họp Tỳ kheo tăng rồi quở trách: “Tại sao gọi là Tỳ kheo lại không thọ thức ăn từ người khác mà để vào miệng ăn”, quở trách rồi bảo các Tỳ kheo: Do mười lợi nên kết giới cho các Tỳ kheo, từ nay giới này nên nói như sau:

Nếu Tỳ kheo không thọ thức ăn mà để vào miệng ăn thì phạm Ba-dật-đề.

Không thọ thức ăn là không thọ thức ăn từ các hạng người nam, nữ, huỳnh môn, hai căn. Tướng phạm là nếu Tỳ kheo không thọ các loại ẩm thực mà để vào miệng ăn thì phạm Ba-dật-đề, tùy để vào miệng bao nhiêu thì mỗi miếng phạm Ba-dật-đề bấy nhiêu.

Sau khi Phật kết giới, có các Tỳ kheo muốn súc miệng cần nước và nhành dương cần có tịnh nhơn để thọ lấy, nhưng không đúng thời có được nên khổ não, không biết làm sao liền đem việc này bạch Phật. Phật do việc này nhóm Tỳ kheo tăng đủ lời khen ngợi giới và người trì giới rồi bảo các Tỳ kheo: “Từ nay giới này nên nói lại như sau:

Nếu Tỳ kheo không thọ thức ăn mà để vào miệng ăn thì phạm Ba-dật-đề, trừ nước và nhành dương.

Tướng phạm trong giới này có năm: Phi thời, không cho, không thọ, không tác tịnh và bất tịnh. Phi thời là qua giờ ngọ cho đến sáng ngày mai khi mặt trời chưa mọc; không cho là nam, nữ, huỳnh môn và người hai căn không đưa cho; không thọ là không thọ thức ăn từ người khác; không tác tịnh là không làm các pháp hỏa tịnh, dao tịnh, móng tay tịnh, chim mổ tịnh; bất tịnh là ẩm thực bất tịnh hoặc lẫn lộn với thức ăn bất tịnh. Nếu Tỳ kheo phi thời không được đưa cho, không thọ, không tác tịnh và thức ăn bất tịnh mà để vào miệng ăn thì phạm đủ năm tội. Nếu đúng thời nhưng không được đưa cho, không thọ, không tác tịnh và thức ăn bất tịnh mà để vào miệng ăn thì phạm bốn tội. Nếu đúng thời, được đưa cho nhưng lại không thọ, không tác tịnh và thức ăn bất tịnh mà để vào miệng ăn thì phạm ba tội. Nếu đúng thời, đươc đưa cho, thọ nhưng lại không tác tịnh và thức ăn bất tịnh mà để vào miệng ăn thì phạm hai tội. Nếu đúng thời, được đưa cho, thọ, có tác tịnh nhưng thức ăn lại bất tịnh mà ăn thì phạm một tội. Nếu đúng thời, được đưa cho, thọ, có tác tịnh và thức ăn tịnh mà ăn thì không phạm. Trong thức ăn bất tịnh, nếu ăn thức ăn bất tịnh để cách đêm thì phạm Ba-dật-đề; ăn thịt người bất tịnh phạm Thâu-lan-giá; tay của-Tỳ kheo chạm vào thức ăn bất tịnh mà ăn thì phạm Đột-kiết-la.

40. Giới Trong Nhà Bạch Y Đòi Hỏi Thức Ăn

Phật tại nước Ca-duy-la-vệ, lúc đó Ma-ha-nam đến chỗ Phật đảnh lễ ngồi một bên nghe Phật nói pháp, Thế tôn tùy thuận nói pháp chỉ dạy được lợi hỉ rồi im lặng. Ma-ha-nam chắp tay bạch Phật: “Cúi xin Phật và Tăng ngày mai thọ con thỉnh thực”, Phật im lặng nhận lời, Ma-hanam biết Phật đã nhận lời liền đảnh lễ Phật hữu nhiễu rồi ra về. Về đến nhà ngay trong đêm đó lo liệu đủ các món ăn ngon nấu với cỏ thuốc và nước sữa, sáng ngày trải tòa ngồi rồi sai sứ đến bạch Phật đã đến giờ thọ thực. Phật và chúng tăng đến nhà rồi ngồi vào chỗ ngồi, Ma-ha-nam tự tay rót nước và dâng thức ăn cúng dường. Lúc đó Lục quần Tỳ kheo lấy nước sữa rưới lên cơm rồi để phía trước mong được rót thêm nữa, Ma-ha-nam suy nghĩ: “Ai ăn ai chưa ăn, ai thiếu ai không thiếu”, liền thấy Lục quần Tỳ kheo lấy nước sữa rưới lên cơm rồi để phía trước mà không ăn nên hỏi nguyên do, liền hỏi có sữa tươi không, đáp: “Nước sữa nấu với cỏ thuốc này ăn với cơm, sữa tươi sẽ mang sau”, lại hỏi có lạc, tô, sanh tô, thục tô cho đến cá thịt…, đều đáp: “Nước sữa nấu với cỏ thuốc này ăn với cơm trước, sữa, lạc, tô, sanh tô, thục tô, cá thịt… sẽ mang sau”. Lục quần Tỳ kheo nổi giận nói: “Ông coi thường Phật và Tăng, ông không thể lo liệu các món ăn ngon thì sao lại thỉnh Phật và Tăng. Nếu là người khác thỉnh thì họ đã lo liệu đủ các món ăn ngon rồi”, Ma-ha-nam tánh thiện nên không nổi sân cũng không sợ hãi, nhưng những người dọn ăn thì lại nổi sân nói: “Sa-môn Thích tử tự nói lành tốt có đức, Ma-ha-nam thâm tín Phật pháp tăng sao lại quở mắng ở giữa đại chúng như thế”. Phật thấy Lục quần Tỳ kheo làm điều sái quấy bị bạch y quở trách, im lặng không nói gì. Lúc đó Ma-ha-nam dâng các món ăn ngon cúng dường xong rồi lấy ghế nhỏ ngồi trước Phật để nghe pháp, Phật thuyết pháp chỉ dạy được lợi hỉ rồi từ tòa đứng dậy ra về. Sau đó Phật do nhân duyên này nhóm Tỳ kheo tăng quở trách Lục quần Tỳ kheo: “Tại sao gọi là Tỳ kheo lại dùng lời thô quở trách Ma-ha-nam vốn là người thâm tín Phật pháp tăng ở giữa đại chúng như thế”, quở trách rồi bảo các Tỳ kheo: “Do mười lợi nên kết giới cho các Tỳ kheo, từ nay giới này nên nói như sau:

Nếu Tỳ kheo không bịnh đến trong nhà bạch y tự đòi hỏi những món ăn thơm ngon như sữa, lạc, tô, sanh tô, thục tô, cá, thịt… như thế thì phạm Ba-dật-đề.

Bịnh là cho đến phát bịnh lạnh, bịnh nóng cần phải ăn loại thức ăn này thì mới lành, trừ nhân duyên này ra đều gọi là không bịnh. Tướng phạm trong giới này là nếu Tỳ kheo không bịnh mà đòi hỏi sữa… cho đến cá thịt, nếu được thì phạm Ba-dật-đề, không được thì phạm Độtkiết-la; không bịnh mà đòi hỏi canh cơm rau, được thì phạm Đột-kiếtla, không được cũng phạm Đột-kiết-la; không phạm là nếu có bịnh hay người thỉnh là bà con hoặc đã được thỉnh trước, không đòi hỏi mà họ tự dâng cho thì không phạm.

 

Did you find apk for android? You can find new Free Android Games and apps.