Quyển 2

THÍCH ĐẠO AN

Sư họ Vệ, quê ở Phù Liễu, Thường Sơn. Gia đình sư theo đạo Nho, cha mẹ mất sớm, sư được người anh bên ngoại họ Khương nuôi dưỡng. Năm bảy tuổi, sư đọc sách, vừa xem qua liền thuộc, những người láng giềng rất kinh ngạc.
Năm mười hai tuổi, sư xuất gia, thông minh tột đỉnh, nhưng dung mạo lại xấu xí, nên không được thầy coi trọng.

Vài năm sau, sư mới xin thầy học kinh, thầy trao cho một quyển kinh Biện Ý[1] đến năm ngàn lời. Sáng ra ruộng, sư mang kinh theo, nhân lúc nghỉ ngơi mở ra xem. Chiều trở về, sư đem kinh trả lại cho thầy, rồi mượn quyển khác. Thầy hỏi:

– Quyển kinh hôm qua chưa đọc xong, nay lại xin nữa sao?

Sư đáp:

– Con đã thuộc lòng rồi!

Vị thầy lấy làm lạ, nhưng chưa tin, liền trao cho sư một quyển kinh Thành cụ quang minh[2] hơn một vạn lời. Khi đi làm, sư lại mang kinh theo như lúc đầu, chiều về lại trả cho thầy. Vị thầy cầm kinh dò lại, sư đọc không sai một chữ. Thầy giật mình kinh ngạc, trong lòng cảm thấy kính phục người đệ tử kì lạ này.

Sau đó, thầy cho sư thụ giới cụ túc và đi tham học. Khi đến đất Nghiệp, sư gặp ngài Phật-đồ-trừng, liền đỉnh lễ xin làm đệ tử. Gặp lúc họ Thạch sắp làm loạn, sư cùng với các đệ tử như Huệ Viễn và hơn bốn trăm người khác, vượt sông đi về phía nam. Đêm đó, đang đi bỗng gặp mưa gió, sấm sét, sư nương vào ánh chớp để đi. Đến một ngôi nhà, thấy giữa sân có hai cây cọc cột ngựa, giữa hai cây cọc treo một cái máng cho ngựa ăn, máng đó có thể chứa được một đấu. Sư bảo đệ tử gọi: “Lâm Bách Thăng!” Chủ nhà kinh ngạc đi ra, quả đúng ông ta họ Lâm tên Bách Thăng. Ông cho rằng sư là thần nhân, nên ân cần tiếp đón rất trọng hậu.

Sau đó đệ tử hỏi sư:

– Sao thầy biết được họ tên của người chủ nhà?

Sư đáp:

– Hai mộc (林) thành lâm, một máng chứa được một trăm thăng (Bách Thăng).

Khi đến Tương Dương, sư liền hoằng hóa Phật pháp. Lúc đó, ở Tương Dương có ông Tập Tạc Xỉ biện tài thông suốt, nổi tiếng lúc bấy giờ. Trước đó, ông đã nghe danh sư, nên khi biết sư đến Tương Dương, ông liền đến thăm hỏi và đối luận. Vừa ngồi yên, ông tự xưng:

– Tứ Hải Tập Tạc Xỉ!

Sư liền đáp:

– Di Thiên Thích Đạo An!

Người bấy giờ cho đây là câu đối đáp tuyệt diệu.

Sư chú sớ các bộ kinh, sợ rằng không khế hợp với chân lí, liền phát nguyện: “Nếu chỗ chú sớ này không xa đạo lí, nguyện cho tôi thấy điềm lành!”

Sư liền mộng thấy có một vị đạo nhân tóc bạc, mày dài đến nói với sư:

– Ông chú thích kinh rất hợp với đạo lí, ta không vào Nê-hoàn[3], sẽ ở Tây Vức để giúp ông truyền bá rộng rãi bộ kinh này. Ông phải thường thiết trai để cúng dường ta!

Sau đó, bộ luật Thập Tụng xuất hiện, Viễn công mới biết vị mà Hòa thượng thấy trong mộng chính là ngài Tân-đầu-lô-phả-la-đọa.

Đến ngày 27 tháng giêng niên hiệu Kiến Nguyên thứ 21 đời Tần (365), bỗng có một vị tăng kì lạ, dung mạo xấu xí vào chùa xin nghỉ qua đêm. Nhưng trong chùa các phòng ốc đã chật, chỉ còn lại giảng đường. Đêm đó, vị duy-na trực chánh điện, thấy vị tăng này ra vào từ cửa sổ phía sau, ông vội vàng đến thưa với sư. Sư kinh ngạc đến đỉnh lễ và hỏi:

– Ngài đến đây có việc gì?

Vị ấy đáp:

– Tôi vì ông mà đến đây!

Sư thưa:

– Tự nghĩ mình tội nặng, há có thể độ thoát chăng?

Vị ấy đáp:

– Có thể độ thoát!

Sư hỏi đời sau mình sẽ sinh vào nơi nào. Vị ấy liền đưa tay vạch một đường giữa hư không về phía tây bắc, vầng mây mở ra, tất cả phúc báo vi diệu thù thắng ở cõi trời Đâu-suất liền hiện. Vị ấy lại bảo:

– Phải tắm thánh tăng mới được như sở nguyện!

Đồng thời vị ấy chỉ bày đầy đủ phương pháp tắm thánh tăng. Sau đó, sư sắp đặt mọi việc như lời chỉ dạy, bỗng thấy có vài chục trẻ nhỏ vào chùa. Trong chốc lát lại nghe tiếng nước chảy trong phòng tắm, lát sau liền ngưng. Sư mở cửa phòng tắm ra, thấy khăn ướt, nước cũng vơi đi.

Đến ngày mồng 8 tháng 2 năm đó, sư bảo đại chúng:

– Ta phải đi đây!

Hôm đó, sư không bệnh mà thị tịch. Tháp sư được xây ở chùa Ngũ Cấp trong kinh thành. Đó là năm Thái Nguyên thứ 10 (386) đời Tấn.

TRÚC ĐÀM DU

Sư còn có tên là Pháp Du, người Đôn Hoàng[4], thuở nhỏ đã tu tập thiền định. Sau đó, sư đi du hoá đến núi Thạch Thành, huyện Thiểm ở Giang Tả, hàng ngày đi khất thực và tọa thiền. Có lần sư đến một nhà chuyên nuôi trùng độc để khất thực. Khi sư chú nguyện xong, bỗng thấy một con rít từ trong thức ăn bò ra. Sư vẫn thọ thực bình thường, xem như không có gì.

Thời gian sau, Sư đến Xích Thành[5] ở Thỉ Phong, tu tập thiền định trong hang đá. Một hôm, sư đang tụng kinh, bỗng có mấy mươi con hổ đến ngồi trước mặt, sư vẫn điềm nhiên tụng kinh, có một con hổ ngủ gục, sư lấy gậy Như ý gõ lên đầu hổ nói rằng:

– Sao ngươi không chịu nghe kinh?

Không bao lâu, bầy hổ bỏ đi. Liền sau đó, một con rắn thật lớn xuất hiện, nó bò quanh rồi ngẩng đầu nhìn sư, một lát sau mới bò đi.

Ngày hôm sau, có một vị thần xuất hiện đến nói với sư:

– Pháp sư oai đức rất lớn, nay ngài đến đây ở, đệ tử xin đem thất này dâng cúng Ngài.

Sư nói:

– Bần đạo tìm đến núi này mong được kết giao, sao ngài không cùng ở?

Thần đáp:

Đệ tử cũng muốn như thế, nhưng thuộc hạ của đệ tử chưa thấm nhuần giáo pháp, nên khó chế ngự được lời nói, sợ sẽ làm xúc phạm những người từ xa đến đây. Giữa người và thần có sự sai khác, nên đệ tử phải ra đi.

Sư hỏi:

– Ông vốn là thần gì, ở đây đã lâu chưa, nay muốn dời đến chỗ nào?

Thần đáp:

– Đệ tử là con của Hạ Đế, ở núi này đã hơn hai nghìn năm. Núi Hàn Thạch là chỗ của người cậu cai trị, đệ tử sẽ đến nơi ấy. Nói rồi, thần ẩn thân trở về miếu ở phía bắc của núi. Lúc sắp từ biệt, thần chắp tay và tặng sư ba hộp hương. Khi đó, tiếng trống, tiếng tù và trổi lên, thần cởi mây bay đi.

Ở Thiên Thai, vách núi chênh vênh, đỉnh núi cao ngất trời. Người xưa tương truyền rằng :

– Trên đỉnh núi ấy có một ngôi tịnh xá rất đẹp, là nơi ở của những bậc đắc đạo. Ở đó, chỉ có một cây cầu đá bắt qua khe suối, nhưng bị một tảng đá chắn ngang cản trở, lại rêu xanh trơn trợt, khiến cho từ xưa đến nay không ai đến được nơi ấy.

Lúc đến bên chiếc cầu đá, sư nghe trong hư không có tiếng nói rằng:

– Tôi biết ông có lòng chí thành, nhưng nay chưa qua được, ông nên quay về mười năm sau hãy đến đây.

Sư trong lòng buồn bã liền quay trở về. Trên đường ngang qua một ngôi thạch thất, sư vào đó dừng nghỉ, bỗng nhiên mây đen mù mịt bao phủ, tiếng kêu la vang dậy khắp thất. Sư vẫn điềm nhiên, thần sắc không biến đổi.

Sáng hôm sau, có một người mặc áo đơn, đầu đội khăn đến thưa sư:

– Đây là nơi cư ngụ của tôi, do hôm qua đi vắng nên mới xảy ra những việc kinh động như thế, tôi thật hổ thẹn.

Sư nói:

– Nếu đây là nhà của ngài thì tôi xin trả lại!

Thần đáp:

– Gia đình tôi đã dời đi rồi, xin ngài cứ lưu lại đây.

Khoảng niên hiệu Thái Hòa (366-371) đời Tấn, có một ngôi sao xấu xuất hiện. Vua ban lệnh trong toàn quốc, các bậc sa-môn có đạo đức phải tinh cần tu tập để cầu cho tai ách được tiêu trừ. Sư liền lập đàn cúng tế, do lòng chí thành cầu khẩn nên đã âm thầm có cảm ứng. Đến sáng ngày thứ sáu, sư thấy một đứa bé mặc áo xanh đến xin sám hối:

– Tôi vô cớ làm phiền pháp sư!

Tối đó ngôi sao liền biến mất.

Đến cuối niên hiệu Thái Hòa (371), sư an nhiên thi tịch ở sơn thất, thi thể của Sư vẫn bình thường như lúc còn sống, nhưng toàn thân của sư đều có màu xanh

Thời gian sau, mọi người lên đỉnh núi, thấy nhục thân sư vẫn con nguyên vẹn không hề hư hoại.

ĐÀM DỰC

Sư họ Diêu, người Khương, xuất gia lúc mười sáu tuổi, thờ ngài Đạo An làm thầy, ở chùa Đàn Khê.

Thái thú Trường Sa nhà Tấn tên là Đằng Xá Chi, cải gia vi tự ở Giang Lăng. Ông ta xin ngài Đạo An cho một vị tăng đến làm tổng lãnh. Đạo An nói với Đàm Dực:

– Dân chúng ở Kinh Sở muốn có một vị thầy dẫn dắt, người khéo hoá độ được họ không phải thầy thì còn ai!

Sư bèn khăn gói về nam, xây dựng chùa tháp. Về sau, vì trốn chạy giặc dữ xâm phạm Nam Hán, toàn dân Giang Lăng đến Thượng Minh lánh nạn, sư lại xây chùa ở nơi này. Khi đã sạch bóng đao binh, sư trở về Giang Lăng, tu sửa lại chùa Trường Sa. Sư chí thành cầu thỉnh bèn cảm ứng được xá-lợi Phật. Sư đem đựng trong bình vàng, thờ ở trai tòa và đảnh lễ lập thệ: “Nếu đúng là xá-lợi Phật còn lưu lại thì xin phóng hào quang”. Đến nửa đêm hôm ấy, từ trong bình, hào quang năm sắc dần dần chiếu sáng khắp chùa. Toàn chúng kinh ngạc, ai nấy đều nễ phục trước sự cảm ứng thần kỳ của sư.

Có lần, sư vào Quân Sơn ở Ba Lăng để chặt cây, gặp con bạch xà dài mấy chục thước nằm chắn lối đi. Sư đành trở về chùa và nói với thần núi:

– Tôi chặt cây để làm chùa, rất mong thần núi cùng tôi tạo công đức!

Đêm đó, sư nằm mộng thấy thần núi đến nói:

Pháp sư sử dụng cho Tam bảo, tôi đây đặt biệt tùy hỷ, nhưng chớ để người khác chặt phá!

Đến sáng, sư trở lại con đường cũ thì rắn đã biến mất. Thế là, sư chặt cây thả theo dòng nước. Trong số những người đi chặt cây giúp sư, có kẻ lén chặt trộm. Khi về đến chùa, tất cả số cây của sư được đưa lên đầy đủ, riêng những số cây chặt trộm đều bị quan bắt. Lòng thành của sư cảm ứng đến như thế.

Có lần sư than:

– Chùa đã xây xong, tăng chúng cũng đông đủ, nhưng còn thiếu các tôn tượng. Bấy giờ các thụy tượng mà vua A-dục[6] tạo đã được phụng thờ ở nhiều nơi, nhưng không thành cảm nên không đến chốn này!

Thế là sư ngày đêm tha thiết cầu khẩn, mong được cảm ứng.

Ngày mồng tám tháng hai năm Giáp Ngọ, nhằm niên hiệu Thái Nguyên 19 (384), một tượng Phật xuất hiện ở phía bắc thành, ánh hào quang chiếu thấu trời. Bấy giờ tăng chúng chùa Bạch Mã đến thỉnh trước, nhưng tượng không lay động. Khi ấy, sư đến đảnh lễ tượng Phật, rồi nói với mọi người:

– Đây là tượng Phật của vua A-dục ban cho chùa Trường Sa.

Nói xong, sư bảo ba người đệ tử đến thỉnh tượng, họ nhấc lên rất nhẹ nhàng. Mọi người thỉnh tượng về chùa trong không khí hân hoan, tấp nập ngựa xe.

Về sau, thiền sư nước Kế-tân là Tăng-già-nan-đà từ đất Thục vào chùa lễ bái, thấy trên hào quang của tượng có chữ vạn. Ngài bèn nói:

Tượng Phật của vua A-dục đến đây từ khi nào vậy!

Người bấy giờ nghe thế mới biết lời của sư nói trước đây không hề sai.

Năm 82 tuổi, sư viên tịch. Đúng ngày ấy, hào quang trên tượng bỗng nhiên biến mất, không hiểu vì sao như vậy! Mọi người đều cho rằng đó là linh cảm của sư.

ĐÀM THỈ

Sư người ở Quan Trung, từ lúc xuất gia mãi đến về sau, có rất nhiều kì tích dị thường. Cuối niên hiệu Thái Nguyên (397) đời Hiếu Võ Đế nhà Tấn, sư mang mấy mươi bộ kinh, luật đến Liêu Đông[7] để hoằng hóa, xiển dương giáo pháp Tam thừa, truyền thọ tam qui ngũ giới.

Niên hiệu Nghĩa Hi thứ nhất (405), sư trở về Quan Trung hướng dẫn chỉ dạy ở Tam Phụ[8]. Sư có đôi bàn chân trắng hơn mặt, dù lội trong bùn mà chân không hề dính bẩn. Mọi người đều gọi sư là “Bạch túc hòa thượng”.

Lúc ấy, chú của Vương Hồ ở Trường An chết đã mấy năm, bỗng nhiên hiện về dẫn ông đi khắp địa ngục và chỉ rõ các quả báo. Lúc ông từ biệt trở về, người chú bảo rằng:

– Con đã thấy rõ nhân quả, cần phải phụng sự vị tăng có đôi chân trắng.

Sau khi tỉnh dậy, Vương Hồ hỏi khắp chư tăng, chỉ riêng sư là người có đôi chân trắng hơn mặt mà thôi. Từ đó, ông ta hết lòng ủng hộ sư.

Đến cuối đời Tấn, thủ lĩnh của Hung nô ở phía bắc là Hách Liên Bột Bột, đánh chiếm Quan Trung, giết người vô số. Lúc ấy, sư cũng bị hại nhưng gươm đao không giết được sư. Bột Bột vô cùng thán phục sư, liền tha chết cho tất cả các sa-môn. Từ đó, sư ở ẩn trong núi, tu hạnh đầu-đà.

Về sau, Thác Bạc Đảo đánh chiếm Trường An uy lực chấn động cả vùng Quan Lạc[9]. Lúc đó, có Thôi Hạo[10] ở Bác Lăng, từ nhỏ đã luyện tập theo tà đạo, có tâm đố kị Phật giáo. Sau khi Thôi Hạo làm phủ tướng, được Thác Bạc Đảo tin dùng. Ông ta nói với thiên sư[11] họ Khấu:

– Thác Bạc Đảo tin theo Phật giáo, đã không tốt mà còn làm tổn hại đến lợi ích của muôn dân.

Do đó, họ xúi giục Đảo phế bỏ Phật giáo. Bạc Đảo bị những lời nói này mê hoặc.

Đến niên hiệu Thái Bình thứ bảy thời Bắc Yên (415), Bạc Đảo ra lệnh hủy diệt Phật pháp, sai binh lính đốt phá chùa chiền, bắt buộc hết thảy tăng ni toàn quốc phải bỏ đạo. Hễ ai chạy trốn ông liền sai quân lính đuổi theo bắt lại, rồi chém đầu treo trên cây. Vì thế khắp vùng này không còn một bóng sa-môn, riêng sư lánh trong rừng sâu, quân lính không thể tìm được.

Đến cuối niên hiệu Thái Bình, sư biết thời cơ giáo hóa Thác Bạc Đảo đã đến. Vào ngày tết Nguyên đán, sư đến cung của Bạc Đảo. Quan hầu vào tâu:

– Có một đạo nhân chân trắng hơn mặt đã vào cửa cung.

Thác Bạc Đảo ra lệnh y theo quân pháp hành hình. Quân lính chém liên tục mà sư vẫn không bị thương tổn gì. Quân lính vội vàng đến tâu, Bạc Đảo nổi giận tự tay rút kiếm bên mình chém sư, nhưng thân thể sư không hề hấn gì, chỉ là nơi kiếm chạm vào để lại một ngấn nhỏ như đường chỉ.

Lúc đó, phía bắc khu vườn trong cung có một chuồng cọp. Bạc Đảo ra lệnh đem sư đến cho bầy hổ đói ăn, bầy hổ kinh sợ không dám đến gần sư. Đảo thử đem thiên sư họ Khấu đến gần, bầy cọp gầm rống lên. Bấy giờ, Thác Bạc Đảo mới biết Phật pháp thật vi diệu, cao siêu, Đạo giáo không thể sánh bằng. Ông liền thỉnh sư lên điện và đỉnh lễ, sám hối những lỗi lầm mà ông đã gây ra.

Sư thuyết pháp và nói về nhân quả nghiệp báo, Đảo vô cùng hổ thẹn và lo sợ.

Về sau, Bạc Đảo bị bệnh hủi, rất đau đớn. Thôi Hạo và thiên sư lần lượt cũng mắc bệnh nan y đó.

Sau này không biết sư viên tịch ở đâu.

THÍCH PHÁP HIỂN

Sư họ Cung, người Võ Dương, Bình Dương. Sư có ba người anh đều chết khi còn tấm bé. Người cha sợ họa ấy lại đến với sư, nên lúc lên ba, ông đưa sư vào chùa xuất gia làm Sa-di. Sau đó đem về, ở nhà được mấy năm, sư mắc bệnh nặng sắp chết, người cha lại sư đưa vào chùa, được hai hôm liền khỏi bệnh. Từ đó, sư không chịu trở về nhà nữa.

Năm mười tuổi, sư thọ tang cha. Người chú viện cớ mẹ già đơn chiếc không thể sống một mình để ép sư hoàn tục. Sư nói:

– Con vốn không phải vì có cha mới xuất gia, mà vì muốn xa lìa trần tục nên mới vào đạo.

Người chú khen lời này nên không ép nữa. Không bao lâu mẹ sư lại qua đời. Bẩm tính vượt hơn người thường, nên an táng mẹ xong, sư trở về chùa.

Có lần, sư cùng vài chục bạn đồng học gặt lúa ngoài đồng. Lúc ấy, có bọn giặc đói muốn đến cướp lúa. Các sa-di khác đều bỏ chạy, chỉ còn sư ở lại. Sư nói với giặc:

– Nếu cần lúa thì cứ việc lấy, chỉ vì đời trước các ông không biết bố thí nên mới nghèo đói, ngày nay lại cướp đoạt của người khác, e rằng đời sau càng nghèo hơn thế nữa. Bần đạo thật lo cho các ông!

Nói xong sư trở về chùa. Bọn giặc cũng bỏ lúa lại mà đi. Chúng tăng thấy vậy đều thán phục.

Đến khi đã thọ đại giới, trí tuệ sư càng sáng tỏ, oai nghi phép tắc thêm tề chỉnh.

Sư thường buồn vì kinh luật còn thiếu sót, nên lập thệ quyết chí tìm cầu. Đến niên hiệu Long An thứ ba nhà Tấn (399), sư cùng các bạn đồng học như Huệ Cảnh v.v.. lên đường từ Trường An đi về phía tây, vượt qua sa mạc. Con đường ấy thường có gió nóng, quỉ dữ, ai gặp phải thì sẽ chết. Sư tuỳ duyên phó thác tánh mạng, vẫn tiến bước, vượt qua bao hiểm nạn đến dãy Thông Lĩnh. Núi này quanh năm đều đóng băng, có rồng dữ phun gió độc, tuôn mưa cát đá, đường núi cheo leo hiểm trở, vách núi cao ngàn nhận[12]. Sư vượt qua hơn bảy trăm khu vực như thế. Đến núi Tiểu Tuyết gặp gió rét thổi mạnh, Huệ Cảnh lạnh cóng không thể đi được nữa, liền nói với sư:

– Tôi sẽ chết ở nơi đây, huynh hãy đi tiếp, đừng để cả hai đều mất mạng.

Nói dứt lời, liền mạng chung. Sư ôm Huệ Cảnh nói:

– Bản nguyện chưa thành mà huynh đã ra đi sao!

Còn lại một mình, sư tiếp tục cuộc hành trình, vượt qua núi non hiểm trở.

Sư đi qua hơn ba mươi nước. Khi sắp đến Thiên Trúc, cách thành Vương xá hơn ba mươi dặm có một ngôi chùa, sư tá túc qua đêm ở đó. Sáng hôm sau sư muốn đến núi Kì-xà-quật. Chư tăng trong chùa đều khuyên:

– Đường đến đó rất gian nan hiểm trở, có nhiều sư tử hung bạo từng ăn thịt người, làm sao ngài đến đó được.

Sư đáp:

– Tôi từ xa lặn lội mấy vạn dặm đến đây, nguyện sẽ được vào núi Linh Thứu. Cái chết không hẹn trước, mạng người chỉ trong hơi thở, đã đến được đây rồi há lại bỏ đi tâm nguyện bấy lâu nay sao! Vì thế dù có nguy hiểm gian nan đến đâu tôi cũng không sợ.

Mọi người không ngăn được sư, bèn sai hai vị tăng dẫn đường. Khi đi đến núi thì mặc trời sắp lặn, sư muốn nghỉ qua đêm ở đó. Hai vị tăng thấy nguy hiểm, sợ hãi nên đã trở về trước. Ở lại một mình trong núi, sư đốt hương lễ bái, vô cùng cảm động trước dấu tích xưa, như thấy được dung nhan của Đức Phật. Đêm đến, có ba con sư tử đến ngồi trước mặt sư, liếm môi, vẫy đuôi. Sư vẫn tụng kinh không dừng, và nhất tâm niệm Phật. Sư tử cúi đầu, cụp đuôi, nằm phục bên chân sư. Sư lấy tay vuốt đầu nó và nói:

– Nếu ngươi muốn hại ta thì đợi ta tụng kinh xong, còn như muốn thử ta thì nên lui ra.

Một lát sau, sư tử bỏ đi.

Sáng hôm sau, sư quay trở về thì con đường đã thông suốt, không còn cây cối chằng chịt ngăn cản nữa. Đi chưa được một dặm, sư bỗng gặp một vị đạo nhân khoảng chín mươi tuổi, hình dáng và y phục mộc mạc thô sơ, nhưng thần khí tỏa sáng khác hẳn người thường. Tuy biết vị này cốt cách phi thường, nhưng không biết đó là một thánh nhơn. Sau đó gặp một vị tăng trẻ, sư hỏi :

– Vị lão nhơn lúc nãy là ai?

Vị tăng đáp:

– Đó là Đại đầu đà Ca-diếp, đệ tử ưu tứ của Đức Phật. Nghe vậy, sư vô cùng hối tiếc.

Đến Trung Thiên Trúc, sư thỉnh được bộ luật Ma ha tăng kì[13] và các bộ: Tát-bà-đa luật sao, Tạp A-tỳ-đàm tâm, Phương đẳng nê-hoàn kinh v.v.. ở chùa Thiên Vương phía nam tháp vua A-dục, ấp Ba-liên-phất, nước Ma-kiệt-đề. Sư dừng ở đó hai năm lại thỉnh được bộ luật Di-sa-tắc[14], kinh Trường A-hàm[15], Tạp A-hàm[16] và Tạp Tạng[17]. Những bộ kinh luật này ở đất Hán đều chưa có.

Sau đó, sư nhờ một thuyền buôn lớn chở về theo đường biển. Trên thuyền có khoảng hai trăm người. Gặp lúc mưa gió thổi mạnh, mọi người trên thuyền đều hoảng sợ, liền ném bớt hàng hoá, vật dụng xuống biển. Vì sợ họ ném cả kinh tượng của mình, nên sư nhất tâm niệm bồ-tát Quán Thế Âm và từ xa đỉnh lễ chư tăng đất Hán. Nhờ thế thuyền thuận gió lướt đi, không hề bị tổn hại.

Đi về phía nam chùa Đạo Tràng, đến kinh đô, sư cùng với thiền sư ngoại quốc là Phật-đà-bạt-đà, dịch luật Ma-ha-tăng-kì, kinh Phương đẳng nê-hoàn, luận Tạp A-tỳ-đàm tâm, tổng cộng hơn trăm vạn lời. Bộ kinh Đại Nê-hoàn[18] do sư dịch được lưu hành rộng rãi, mọi người đều biết đến.

Có một gia đình không rõ họ tên, ở gần cửa Chu Tước, nhiều đời tín ngưỡng Phật pháp. Họ tự tay chép kinh này và đọc tụng cúng dường. Nhưng vì không có nhà cất kinh riêng nên để chung với sách thế tục. Một hôm, gió thổi tàn lửa rơi xuống cháy ngôi nhà đó, tất cả tài sản đều bị cháy rụi, chỉ có bộ kinh Nê-hoàn vẫn còn nguyên vẹn. Sự việc này lan truyền khắp kinh đô, mọi người đều khen là thần diệu. Còn những bộ kinh luật khác, sư chưa dịch đến.

Sau, sư đến Kinh châu và viên tịch ở chùa Tân, thọ 86 tuổi.

PHÁP KHOÁNG

Sư họ Cao, người Hạ Phi, cư ngụ ở Ngô Hưng, cha mẹ mất sớm, nổi tiếng hiếu thảo với mẹ kế. Đến lúc mẹ kế qua đời, sư dốc lòng lo tang lễ. Mãn tang, sư xuất gia, làm đệ tử sa-môn Trúc Đàm Ấn.

Có lần, ngài Đàm Ấn bị bệnh rất nặng, sư bảy ngày bảy đêm chí thành lễ bái sám hối. Đến ngày thứ bảy, bỗng thấy ánh sáng rực rỡ chiếu khắp phòng ngài Đàm Ấn. Lúc ấy, Đàm Ấn cảm giác như có người dùng tay chạm vào thân mình, bệnh liền khỏi.

Sau đó, sư từ biệt thầy, đi du phương. Sư đi khắp nơi tìm cầu học hỏi yếu chỉ của kinh điển, rồi trở về trụ ở thạch thất trong núi Tiềm Thanh.

Hoàng đế Giản Văn đời Tấn, sai thái thú Khúc An ở Đường Ấp, từ xa cho người mang thư đến vấn an sức khoẻ, hỏi sư về hiện tượng của các ngôi sao xấu và xin sư giúp đỡ. Sư cùng các đệ tử trì trai, sám hối. Không bao lâu, mọi tai họa đều chấm dứt.

Gặp lúc nhân dân Trung Quốc bị bệnh dịch, sư cầu nguyện cho thì họ liền lành bệnh.

Một người ở vùng này có khả năng nhìn thấy được ma quỉ, ông ta nói với mọi người:

– Lúc nào bên sư cũng có mấy mươi quỉ thần vây quanh.

Người bấy giờ đều khen sư là người kì đặc.

Đến đầu niên hiệu Nguyên Hưng (402), sư viên tịch, thọ 76 tuổi, 52 hạ lạp.

HUỆ VIỄN

Sư họ Giả, người Lâu Phiền Nhạn Môn, thuở bé đã rất thích đọc sách. Năm mười ba tuổi, sư theo cậu là Lệnh Hồ Thị đến học ở Hứa Lạc. Vì thế, thuở thiếu thời, sư đã là chư sinh[19] tinh tường Lục kinh[20], thông thạo Trang Lão[21], chí khí cao xa, phong tư xuất chúng, dù là hàng nho sĩ trí thức hay bậc anh tài cũng đều nể phục về sự hiểu biết sâu rộng của sư.

Năm hai mươi mốt tuổi, sư muốn đến Giang Đông[22] cùng ở với Phạm Tuyên Tử. Nhưng lúc bấy giờ Thạch Hổ đã mất, Trung Nguyên loạn lạc, đường về nam gặp nhiều trở ngại, nên chí nguyện của sư không thành.

Bấy giờ, sa-môn Thích Đạo An lập chùa ở Hằng Sơn Thái Hành, hoằng truyền chánh pháp, nổi tiếng khắp nơi, sư liền đến đó quy y, một bề kính trọng và cho ngài Đạo An đích thực là thầy mình. Khi nghe ngài Đạo An giảng kinh Bát-nhã, sư hoát nhiên tỏ ngộ. Sư cùng với em là Huệ Trì xuống tóc xuất gia, quên thân học đạo. Khi đã vào đạo, sư vượt trội hơn ngưòi. Sư một lòng giữ vững giềng mối đạo pháp và lấy chánh pháp làm trách nhiệm, nên ngày đêm tinh chuyên nghiên cứu, tụng trì kinh kệ. Tuy sống đời đạm bạc, mặc áo thô rách mà huynh đệ trước sau chưa từng xao lảng. Bấy giờ, sa-môn Đàm Dực hằng ngày cung cấp cho sư đèn đuốc. Ngài Đạo An nghe thế, rất vui nói:

– Ông ta thật biết nhìn người.

Năm hai mươi bốn tuổi, sư bắt đầu thuyết giảng. Có lần, khi nghe sư giảng, một thính giả than thở về nghĩa của “Thật tướng”, tuy trải qua thời gian dài mà vẫn mờ mịt. Sư bèn dùng học thuyết Trang Tử để liên hệ so sánh, nhờ thế ông ta liền thấu đạt. Từ đó về sau ngài Đạo An đặt biệt cho sư được xem sách ngoại điển.

Ngài Đạo An có hai đệ tử Pháp Ngộ và Đàm Trưng, đều là người thông minh tài trí, chí nghiệp sáng ngời, đều kính nể sư. Về sau, sư theo ngài Đạo An đi về phương Nam đến Phiền Miện.

Đến niên hiệu Kiến Nguyên thứ 9 (351) đời Ngụy Tần, tướng nhà Tần là Phù Bình làm loạn ở Tương Dương. Ngài Đạo An bị Chu Tự bắt giữ, không thể đi tiếp, nên đã phân tán đệ tử mỗi người đi mỗi hướng tuỳ theo sở nguyện. Mọi người đều được Ngài dặn dò, riêng sư thì không được dạy lời nào. Sư liền quỳ thưa:

– Bạch thầy! Sao con không được chỉ dạy như những huynh đệ khác?

Ngài đáp:

– Như ông thì thầy đâu còn lo lắng gì!

Bấy giờ, sư cùng mấy mươi đệ tử khác theo hướng nam đến chùa Thượng Minh tại Kinh Châu. Sau đó, sư muốn đến núi La Phù, nhưng vừa đến Tầm Dương, sư thấy Lô Sơn cảnh trí thanh tịnh rất thích hợp để tu tập thiền định, bèn dừng chân tại đây. Ban đầu, sư ở tịnh xá Long Tuyền, nơi này cách xa nguồn nước. Sư liền dùng tích tượng dộng xuống đất, nói:

– Nếu ta có duyên ở đây thì từ đất này sẽ phun ra dòng suối.

Nói xong, một dòng nước trong mát tức thời phun lên rất mạnh, tạo thành dòng suối.

Không lâu sau, Tầm Dương bị hạn hán. Sư đến bên ao tụng kinh Hải Long Vương[23], bỗng nhiên có một con rồng từ trong ao bay lên hư không, trong chốc lát mưa xối xuống như thác đổ. Nhân đó tinh xá được đổi tên thành chùa Long Tuyền.

Khi Đào Khản còn trấn giữ Quảng Châu, có một ngư dân nhìn thấy ánh sáng kì lạ xuất hiện trên biển vào mỗi tối. Ánh sáng càng lúc càng lan rộng và rực rở, trải qua suốt một tuần. Ngư dân ấy lấy làm lạ bèn trình lên Đào Khản. Ông ta đến xem kĩ thì nhận ra đó là tượng Phật do A-dục vương tạo. Khản bèn thỉnh tượng về chùa Hàn Khê ở Vũ Xương. Một hôm, vị tăng trụ trì chùa này tên là Tăng Trân đến Hạ Khẩu, đêm đó mộng thấy chùa bị cháy nhưng riêng gian phòng thờ tượng Phật này thì được long thần bảo vệ. Khi tỉnh dậy, vị tăng trở về, quả nhiên chùa đã cháy rụi, chỉ còn lại gian phòng thờ tượng Phật, giống như đã thấy trong mộng.

Về sau, Đào Khản trấn nhậm nơi khác. Ông ta thấy tượng có oai linh, liền sai sứ đến thỉnh. Mấy mươi người chuyển tượng đến bờ sông, khi đưa lên thuyền, thuyền chìm. Sứ giả lo sợ đưa tượng trở lại chùa.

Khi sư xây dựng chùa xong, liền đến khấn thỉnh thì chuyển tượng về chùa một cách nhẹ nhàng, không trở ngại. Thế là sư dẫn chúng tu tập, ngày đêm không biết mỏi mệt. Sự nghiệp giáo hoá của Đức Thích-ca nhờ đây được hưng thịnh.

Từ khi sư đến ở núi Lô, trải qua ba mươi năm chưa từng ra khỏi núi. Mỗi khi tiễn khách sư thường lấy Hổ Khê[24] làm ranh giới.

Tháng 8 niên hiệu Nghĩa Hy thứ 12 (417) đời Tấn, sư an nhiên thị tịch, thọ thế 83 tuổi.

CƯU-MA-LA-THẬP

Cưu-ma-la-thập, Trung Quốc dịch là Đồng Thọ. Sư người Thiên Trúc, giỏi kinh, luật, luận. Sư giáo hoá ở Tây Vức, sau đi về phía đông đến nước Qui-tư. Vua nước Qui-tư làm sư tử tòa[25] bằng vàng để thỉnh sư.

Bấy giờ, Phù Kiên tiếm ngôi ở Quan Trung. Khi đó, có Tiền Bộ vương và em của vua Qui-tư đến triều kiến Phù Kiên. Phù Kiên cho diện kiến. Hai vương nói với Phù Kiên:

– Tây vức có rất nhiều vật quý hiếm, xin ngài đem binh đến bình định khiến qui thuận triều đình.

Đến tháng giêng niên hiệu Kiến Nguyên thứ mười ba (356), Thái sử tâu lên vua:

– Có ngôi sao xuất hiện ở địa phận Tây Vức, sẽ có bậc đại trí đến Trung Quốc.

Phù Kiên nói:

– Trẫm nghe nước Tây Vức có Cưu-ma-la-thập, chẳng phải ứng vào điềm này sao?

Phù Kiên liền sai sứ sang thỉnh cầu.

Đến tháng chín niên hiệu Kiến Nguyên thứ mười tám (361), Phù Kiên sai tướng Lã Quang thống lãnh bảy vạn binh sang chinh phạt nước Qui-tư. Trước khi xuất binh, Phù Kiên đãi tiệc tiễn Lã Quang ở Kiến Chương[26] và bảo:

– Phàm bậc đế vương nên thuận theo mệnh trời trị nước, lấy việc thương yêu muôn dân như con làm nền tảng, trẫm chỉ vì muốn có người tài phụ giúp đất nước chứ đâu vì tham chiếm đất đai mà dụng binh. Trẫm nghe Tây Vức có Cưu-ma-la-thập hiểu sâu pháp tướng, giỏi về âm dương, làm mô phạm cho hậu học. Trẫm rất muốn có được người này. Bậc hiền triết là vật báu của quốc gia. Nếu chế phục được Quy-tư, khanh mau đón Ngài La-thập về đây.

Khi quân của Lã Quang chưa đến, sư nói với vua Quy-tư là Bạch Thuần:

– Vận nước sắp suy yếu, sẽ có giặc mạnh từ phía đông kéo đến, đại vương nên thuận theo, chớ kháng cự lại.

Bạch Thuần không nghe lời sư, khởi binh giao chiến. Lã Quang đánh bại Quy-tư, giết Bạch Thuần và lập em Thuần là Bạch Chấn lên ngôi.

Thỉnh được La-thập trở về. Trên đường đi, Lã Quang đóng quân dưới chân núi. Bấy giờ, tướng sĩ đã nghỉ ngơi, nhưng sư nói:

– Không nên nghỉ lại nơi đây, vì sẽ gặp nguy khốn, nên dời quân đến chỗ cao.

Lã Quang không nghe theo. Đêm ấy, quả nhiên mưa lớn tuôn xối xả, nước cuồn cuộn dâng cao đến vài trượng, người chết tới vài ngàn. Lúc này Lã Quang mới thầm kính phục sư. Sau, sư nói với Lã Quang:

– Nơi nầy không tốt, chớ nên ở lại đây lâu. Tính theo vận số của ngài thì nên mau chóng trở về. Trên đường đi ắt sẽ có nơi tốt lành để cư ngụ.

Lã Quang nghe theo.

Khi đến Lương Châu, Lã Quang nghe tin Phù Kiên bị Diêu Trường hại chết, ông ta và quân lính đều phát tang tại phía nam thành Đại Lâm.

Bấy giờ Lã Quang chiếm vùng Quan Ngoại, tiếm xưng đế, đặt hiệu là Đại An

Tháng giêng, niên hiệu Đại An thứ hai, ở Cô Tang có gió lớn. Sư nói:

– Gió này là điềm không lành! Ắt có kẻ tạo phản, nhưng không cần lao nhọc, tự sẽ an định.

Sau đó, Lương Khiêm, Bành Hoảng liên tiếp tạo phản, nhưng không bao lâu đều bị tiêu diệt.

Đến niên hiệu Long Phi thứ hai đời Lã Quang (337-399), tại các vùng Trương Dịch, Lâm Tùng, Lư Thủy, thủ lĩnh rợ Hồ là Thư Cừ Nam Thành và em là Mông Tốn làm phản, đưa Thái thú Giả Nghiệp ở Kiến Khang làm chủ soái. Lã Quang sai người con thứ là Thái Nguyên Công Toản, thứ sử Tần Châu xuất năm vạn binh đánh dẹp. Người bấy giờ đều cho quân của Nghiệp là ô hợp, còn quân Công Toản có uy thế lớn ắt sẽ chiến thắng. Lã Quang đến hỏi sư.

Sư đáp:

– Quan sát kĩ cuộc chiến này thì chưa thấy lợi gì cho ta!

Không lâu sau, Công Toản thua trận ở Hợp Lê, Quách Nô lại làm loạn, Toản bỏ chạy thoát thân, đại quân bị Quách nô tiêu diệt.

Quan trung thư giám của Lã Quang là Trương Tư, văn chương rất tao nhã, Lã Quang rất coi trọng.

Khi Trương Tư bệnh, Lã Quang truyền lệnh tìm thầy thuốc khắp nơi để chữa trị. Bấy giờ, có một đạo nhơn nước ngoài tên La-xoa nói:

– Ta có thể trị lành!

Lã Quang vui mừng, chu cấp cho ông ta rất trọng hậu.

Sư biết La-xoa là người dối trá, nên nói với Trương Tư:

– La-xoa không thể trị lành bệnh cho ông được đâu, chỉ thêm tốn tiền của mà thôi! Vận số tuy ẩn kín, nhưng có thể dùng một việc để thử.

Sư bèn dùng chỉ năm màu kết làm dây, rồi đốt thành tro, thả vào trong nước và nói:

– Nếu tro hiện trên nước, trở lại thành sợi dây thì bệnh của ông không lành.

Trong chốc lát tro tụ lại, rồi kết thành sợi dây như cũ. La-xoa trị bệnh nhưng không công hiệu, ít hôm sau thì Trương Tư mất.

Không bao lâu, Lã Quang cũng qua đời, con của Lã Quang là Thiệu nối ngôi. Được mấy hôm, con thứ của Lã Quang là Toản giết Thiệu soán ngôi, đổi niên hiệu là Hàm Ninh. Đến niên hiệu Hàm Ninh thứ hai, có một con lợn sinh ra lợn con ba đầu, một con rồng xuất hiện ở trong giếng tại dãy nhà phía đông và bay đến trước điện nằm cuộn tròn, gần sáng thì biến mất. Toản cho là điềm lành, nên gọi đại điện là Long Tường điện.

Không bao lâu lại có một con rồng đen bay lên từ cửa Cửu Cung ở phía nam, nên Toản gọi đó là Long Hưng môn.

Ngài La-thập tâu với vua:

– Những ngày gần đây, có những việc lạ, như rồng xuất hiện, lợn sinh con hình thù quái dị. Vả lại rồng là loài vật thuộc âm, ẩn hiện đúng thời mà nay thường xuất hiện, ắt sẽ có tai họa xảy ra, chắc chắn có kẻ mưu đồ tạo phản. Bệ hạ nên tự khắc phục lấy mình, tu nhơn tích đức, để đáp sự răn dạy của trời.

Toản không chịu nghe theo.

Một hôm, Toản cùng sư đánh cờ, ông hạ một quân cờ và nói:

– Chém đầu Hồ Nô!

Sư nói:

– Không thể chém đầu Hồ Nô, Hồ Nô sẽ chém đầu người.

Lời này có ẩn ý, nhưng Toản hoàn toàn không nhận ra. Em của Lã Quang có người con tên Siêu. Lúc nhỏ Siêu tự là Hồ Nô. Về sau quả nhiên Hồ Nô chém đầu Toản, lập anh mình lên làm vua. Bấy giờ, mọi người nghiệm lại mới thấy đúng như lời sư.

Ngài La-thập ở nước Lương nhiều năm, nhưng cha con Lã Quang không ủng hộ xiển dương Phật pháp, cho nên sở ngộ Phật pháp uyên thâm của sư không có cơ hội để truyền bá cho mọi người. Phù Kiên đã mất cũng không gặp được, đến khi Diêu Trường đoạt ngôi cũng ngưỡng mộ cao danh của sư và một lòng thỉnh cầu. Nhưng Lã Quang thấy ngài La-thập tài trí mưu lược hơn người, sợ sư làm quân sư cho Diêu Trường nên ông không cho sư vào Đông thổ.

Đến khi Diêu Trường mất, con là Diêu Hưng lên ngôi, lại sai sứ cầu thỉnh sư.

Tháng giêng niên hiệu Hoằng Thỉ thứ ba (401), có cây liên lí[27] mọc trước sân miếu, còn trong vườn Tiêu Dao cây hành biến thành cỏ. Diêu Hưng cho là điềm lành và đoán sẽ có bậc hiền trí đến.

Tháng năm, Diêu Hưng sai Lũng Tây Công Thạc Đức dẫn binh sang phía tây, chinh phạt Lã Long. Quân Lã Long đại bại.

Đến tháng chín, Lã Long dâng biểu quy hàng, Diêu Hưng mới đón được sư về.

Đến ngày 20 tháng 12, sư đến Trường An. Diêu Hưng dùng lễ quốc sư tiếp đãi và hết lòng ân sủng.

Tỳ-kheo Bôi Độ ở Bành Thành, nghe sư ở Trường An liền than:

– Ta cùng người này cách biệt đã hơn ba trăm năm, mờ mịt không biết bao giờ gặp lại, hi vọng gặp lại ở đời sau vậy.

Trước khi lâm chung vài hôm, sư thấy tứ đại bất an, bèn đọc ba biến thần chú, sai đệ tử ngoại quốc tụng để tự cứu chữa, nhưng chưa kịp dốc sức, sư cảm thấy bệnh mình nguy kịch, bèn gắng gượng nhóm chúng từ biệt và dạy:

– Chúng ta nhân nơi Phật pháp mà được gặp nhau, những vẫn chưa tận tâm gắng sức mà đã ra đi, thật cảm thương biết bao! Tôi sợ mình ngu tối truyền dịch có lầm lẫn. Trong hơn ba trăm quyển kinh luận đã dịch, chỉ có bộ Thập tụng là chưa kịp chỉnh sửa, còn những bản khác thì yếu chỉ ắt không có sai sót. Mong rằng tất cả những bản kinh đã phiên dịch được truyền bá rộng rãi đến đời sau. Nay ở trước chúng, tôi thành tâm xin phát nguyện: “Nếu tôi truyền dịch chẳng sai, thì sau khi thiêu, lưỡi vẫn còn nguyên vẹn”.

Ngày 20 tháng 8, niện hiệu Hoằng Thỉ thứ 11 (409), sư an nhiên thị tịch tại Trường An, nhằm niên hiệu Nghĩa Hi (405-419) đời Tấn. Lễ trà tì được cử hành tại vườn Tiêu Dao theo nghi thức của Thiên Trúc. Sau lễ trà tì, toàn thân tiêu hết, nhưng lưỡi sư vẫn còn tươi hồng nguyên vẹn.

PHÁP AN

Sư còn có tên là Từ Khâm, chẳng rõ người xứ nào, đệ tử ngài Tuệ Viễn, là người tinh chuyên trì giới, giảng thuyết kinh điển và tu tập thiền định, khéo hóa độ người ngu bỏ tà qui chánh.

Trong khoảng niên hiệu Nghĩa Hi (405-419) nhà Tấn, ở huyện Tân Dương xảy ra nạn hổ. Trong huyện có xây một miếu thần dưới cội cây to, mấy trăm dân cư sống quanh đó. Hằng đêm có đến một hai người bị hổ ăn thịt. Lần nọ, sư đến huyện này thì trời đã tối. Sư định vào thôn xin nghỉ lại, vì sợ hổ nên người dân thôn này đóng cổng làng rất sớm, sư bèn đi thẳng đến gốc cây ngồi thiền suốt đêm. Đến gần sáng, sư nghe tiếng hổ vác người ném xuống ở phía bắc cội cây. Thấy sư, hổ vừa mừng vừa sợ, nhảy đến quỳ trước mặt. Sư thuyết pháp và truyền giới cho hổ. Nó quỳ yên không cử động, một lát sau rồi đi. Khi trời vừa sáng, mọi người đuổi theo hổ, đến gốc cây đó thì gặp sư, ai nấy đều kinh hãi cho là thần nhân. Tin này loan truyền khắp huyện, quan dân đều kính ngưỡng sư. Nạn hổ cũng nhờ đó mà chấm dứt. Nhân đây, mọi người sửa miếu thành chùa và thỉnh sư ở lại. Ruộng vườn xung quanh đều cúng cho bổn tự.

Sau, sư muốn dùng bột acít đồng để họa tượng Phật, nhưng tìm không ra. Đêm đó, sư mộng thấy một người đến bên giường và nói:

– Dưới này có chuông đồng.

Tỉnh dậy, sư liền cho người đào, quả nhiên nhặt được hai cái. Nhờ đó, có bột acít đồng để vẽ, nên bức họa hoàn thành.

Sau, sư đem một cái chuông cúng cho ngài Tuệ Viễn đúc tượng Phật, cái còn lại thái thú Vũ Xương là Hùng Vô Hoạn mượn về xem và giữ lại luôn.

Sau này không biết sư viên tịch ở đâu.

ĐÀM HOẮC

Không rõ sư người xứ nào, chỉ biết vào thời Ngốc Phát Nộc Đàn, sư từ Hà Nam đến. Sư cầm tích trượng bảo mọi người quỳ xuống và nói:

– Đây là mắt Bát-nhã, nếu ai vâng theo thì có thể đắc đạo.

Mọi người đều rất kính trọng, ưu đãi sư.

Lần nọ, có người cúng dường y phục, sư nhận rồi đem ném xuống sông. Một ngày sau, y phục trở về với chủ cũ mà không hề bị bẩn. Sư đi nhanh như gió và đoán biết sự giàu nghèo, sống chết không sai mảy may. Có lần bị dấu tích trượng, sư khóc to lên mấy tiếng, nhắm mắt lại trong chốc lát rồi đứng lên đi lấy tích trượng, mọi người rất ngạc nhiên trước sự thần kỳ chẳng thể lường của sư. Nhân đó mà nhiều người phụng thờ Phật pháp.

Lợi Lộc Cô có em là Nộc Đàn, tạm giữ chức Phiêu Kị, quyền thế nhất nước, những người mà ông ta nghi kỵ đều bị ông giết hại.

Sư nói với Nộc Đàn:

– Ông nên tu thiện, phụng thờ Phật để tích đức cho đời sau.

Nộc Đàn nói:

– Tổ tiên tôi không phụng thờ Phật, nay tôi làm thế thì e trái với đường hướng của tổ tiên. Nếu trong bảy ngày ngài không ăn uống mà thần sắc vẫn bình thường thì Phật đạo mới vi diệu, được vậy kẻ hèn này sẽ phụng thờ.

Nói xong, ông ta sai người giữ kĩ sư bảy ngày, nhưng sư không có vẻ gì đói khát. Nộc Đàn sai sa-môn Trí Hạnh lén đem bánh đến mời, sư nhất định không ăn. Nộc Đàn càng quý kính sư. Sư thường nói với Nộc Đàn:

– Nếu có thể ngồi yên, giữ lòng rỗng lặng, thuận lẽ tự nhiên thì thiên hạ sẽ được thái bình, vận nước muôn đời hưng thịnh. Còn như thích đem binh đi giết hại thì tai họa sẽ đến bên mình.

Nộc Đàn không chịu nghe theo. Khi con gái Nộc Đàn bệnh nặng, ông ta đến xin sư trị liệu. Sư nói:

– Chuyện sống chết của con người vốn đã định sẵn, thánh nhân cũng không thể chuyển họa thành phúc, Đàm Hoắc tôi làm sao có thể kéo dài mạng sống cho con ông! Chỉ có thể biết sớm hay muộn mà thôi.

Nộc Đàn vẫn một mực cầu xin sư. Bấy giờ, cửa hậu cung[28] bị đóng. Sư nói:

– Hãy nhanh chóng mở cửa hậu cung, mở kịp thì sống, không kịp thì chết.

Nộc Đàn ra lệnh mở cửa nhưng không kịp, con gái ông ta chết.

Về sau, chiến chinh loạn lạc, không rõ sư ở nơi đâu.

ĐÀM UNG

Sư họ Dương, người Quan Trung. Thời trẻ, sư làm Vệ tướng quân nước Tần, thân cao tám thước, uy dũng hơn người.

Niên hiệu Thái Nguyên thứ tám (384), sư theo Phù Kiên đi chinh chiến ở phương nam, bị quân Tấn đánh bại, đành quay về Trường An. Nhân đó, sư theo ngài Đạo An xuất gia. Khi ngài Đạo An viên tịch, sư lại thờ Tuệ Viễn làm thầy. Về sau, sư dựng một am tranh phía tây nam của núi, cùng với đệ tử Đàm Quả tu tập thiền định.

Một lần nọ, Đàm Quả mộng thấy sơn thần xin thụ năm giới, Quả nói:

– Thầy tôi đang ở đây, ông hãy đến cầu xin ngài.

Không lâu sau, sư thấy một người mặc áo đơn, đội mũ, dáng dấp thanh nhã, có khoảng hai mươi người theo sau, đến xin sư thụ năm giới. Nhờ điềm mộng trước của Đàm Quả, sư biết đó là thần nhân, liền thuyết pháp truyền giới cho. Thần nhân cúng dường sư đũa muỗng nước ngoài rồi lễ bái từ biệt, thoáng chốc đã không thấy đâu.

Ngày ngài Tuệ Viễn sắp viên tịch, sư vội vã về, khóc lóc rất bi thương. Sau, sư đến Kinh châu[29] và viên tịch ở chùa Trúc Lâm.

THÍCH TĂNG LÃNG

Không rõ sư họ gì, người Kinh Triệu, thời trẻ đi du phương học đạo ở Trường An, rồi về lại Quan Trung.

Sư chuyên đi giảng thuyết. Lần nọ, sư cùng các pháp lữ đi phó trai, giữa đường chợt bảo mọi người:

– Trong chùa các vị có người lấy trộm y vật.

Nghe vậy, mọi người quay trở về, quả đúng như thế.

Về sau, sư đến hang Kim Dư, trong núi Côn Luân[30] lập tinh xá, xây dựng hơn mấy mươi gian phòng ốc. Nghe danh sư, đồ chúng kéo đến hơn cả trăm người. Sư hết lòng dạy dỗ, dù mệt nhọc cũng không hề than thở.

Vua Phù Kiên nhà Tần (351-394) rất khâm phục đức hạnh sư, sai sứ mang phẩm vật dâng cúng.

Sau, Phù Kiên sa thải chúng tăng, nhưng riêng sư, được vua ban chiếu rằng:

– Sư Pháp Lãng giới đức trong sạch như băng sương, đệ tử toàn là những người ưu tú. Do đó, đạo tràng Côn Luân không bị tàn hại bởi lệnh này.

Ngày xưa, ở hang Kim Dư có nạn hổ dữ, nên khi đi qua đó, mọi người thường cầm gậy đi thành từng đoàn. Khi sư đến ở, thú dữ qui phục, đạo tục đi sớm về tối không còn trở ngại. Mọi người vô cùng khen ngợi công hạnh sư. Vì thế ngày nay mọi người gọi hang Kim Dư là Cốc Lãng Công.

Phàm có người đến chùa, số lượng bao nhiêu sư đều đoán biết được trước một ngày và sai đệ tử làm thức ăn đầy đủ. Mọi người đều khen sư dự đoán như thần.

Về sau sư mất ở trong núi, thọ 85 tuổi.

PHẬT-DÀ DA-XÁ

Phật-đà Da-xá Trung Quốc dịch là Giác Danh. Sư người nước Kế-tân, dòng Bà-la-môn, gia đình nhiều đời thờ ngoại đạo.

Một hôm, có vị sa-môn đến nhà khất thực, cha sư nổi giận sai người đánh, ngay lúc ấy tay chân ông ta co rút không thể đi đứng, bèn đến hỏi thầy pháp. Thầy pháp nói:

– Do ông xúc phạm bậc hiền nhân, nên quỉ thần khiến như thế.

Ông liền thỉnh vị sa-môn ấy đến, chí thành xin sám hối. Mấy hôm sau liền hết bệnh. Nhân đó, cho Da-xá theo xuất gia làm đệ tử. Lúc ấy sư mới mười ba tuổi.

Sư thường theo thầy đi xa. Một hôm, đi ngang vùng hoang dã, nhìn thấy cọp, vị thầy định chạy trốn, nhưng sư nói:

– Con cọp này đã no rồi, sẽ không làm hại người nữa!

Lát sau hổ bỏ đi. Hai thầy trò tiếp tục tiến về phía trước, quả nhiên thấy xương thịt do cọp ăn còn thừa lại bên đường. Vị thầy thầm kính trọng sư.

Năm sư mười lăm tuổi, hàng ngày tụng thuộc mấy vạn lời kinh. Chư tăng trong chùa sư thường ra ngoài khất thực nên bỏ bê tụng tập, chỉ có sư ở chùa tụng kinh. Có vị A-la-hán quí trọng sư thông minh mẫn tiệp, nên thường đi khất thực đem đến cúng dường.

Năm mười chín tuổi, sư học thuộc mấy trăm vạn lời kinh Đại thừa, Tiểu thừa.

Đến năm hai mươi bảy tuổi, sư thọ giới cụ túc. Sau, sư đến nước Sa-lặc, gặp lúc vua nước ấy bị bệnh, nên thiết trai cúng dường chư tăng. Thái tử gặp sư, lòng rất mến mộ, liền mời lưu lại trong nội cung cúng dường.

Nơi đây, ngài La-thập theo sư thọ học, vô cùng kính trọng sư. Về sau, La-thập đến Quy-tư bị Lã Quang bắt giữ, còn sư ở lại Sa-lặc hơn mười năm mới đến Qui-tư giáo hoá rất hưng thịnh.

Bấy giờ La-thập ở Cô Tang, sai người đến thỉnh. Sư muốn đi nhưng mọi người cố giữ, sư đành ở lại khoảng một năm, sau đó bảo đệ tử:

– Ta muốn tìm La-thập, con hãy chuẩn bị hành lí, y phục rồi xuất phát, chớ để mọi người biết.

Đệ tử thưa:

– Con sợ sáng mai họ đuổi theo, lại phải trở về.

Sư liền lấy một chén nước sạch hòa thuốc, đọc chú mấy mươi lần rồi đưa cho đệ tử rửa chân, ngay đêm ấy khởi hành. Đến gần sáng đã đi được mấy trăm dặm.

Sư hỏi đệ tử:

– Con thấy thế nào?

Đáp:

– Con chỉ nghe tiếng gió thổi mạnh, nước mắt chảy ra.

Sư lại đưa nước đã tụng chú, bảo rửa chân và dừng nghĩ.

Đến sáng, mọi người đuổi theo, nhưng sư đã đi mấy trăm dặm, nên không theo kịp. Khi đến Cô Tang thì La-thập đã vào Trường An. Nghe tin Diêu Hưng ép La-thập nhận thê thiếp, bảo làm việc phi pháp. Sư liền than:

– La-thập như tấm lụa đẹp, đâu thể khiến vướng vào rừng gai?

Nghe tin sư đến Cô Tang, La-thập liền khuyên Diêu Hưng nghinh đón, nhưng chưa được chấp nhận. Sau đó không lâu, Diêu Hưng bảo La-thập dịch kinh. Ngài đáp:

– Phàm người hoằng dương giáo pháp phải thông cả văn nghĩa. Bần đạo tuy thông thuộc văn kinh, nhưng chưa thấu nghĩa lí, chỉ có ngài Phật-đà Da-xá mới đạt đến chỗ nhiệm mầu sâu xa. Hiện ngài đang ở Cô Tang, đại vương nên đến thỉnh. Phàm muốn dịch một lời, cần phải suy xét kỹ rồi mới viết, như thế lời kinh nhiệm mầu mới không sai lầm, tạo niềm tin mãi ngàn năm.

Diêu Hưng nghe theo, liền sai sứ nghinh tiếp, và cúng dường nhiều vật quí báu, nhưng sư đều không nhận, chỉ mỉm cười nói:

– Chiếu chỉ đã truyền, lẽ ra phải lên đường, nhưng đàn-việt phải tiếp đãi kẻ sĩ này trọng hậu, còn nếu giống như La-thập thì bần tăng không dám nhận.

Sứ về tâu lại đầy đủ, Diêu Hưng khen sư là người thận trọng.

Sư đến Trường An, Diêu Hưng đích thân đến thăm hỏi, lập tinh xá riêng ở vườn Tiêu Dao, cúng dường tứ sự, nhưng sư đều không nhận. Đến giờ, sư đi khất thực, chỉ ăn ngày một bữa.

Trước đây, sư đã học thuộc bộ luật Đàm Vô Đức. Quan Tư lệ hiệu úy Diêu Sảng thỉnh sư đọc lại, muốn thử sư, nên nhờ sư đọc sách thuốc tiếng Khương khoảng năm vạn lời. Sư chỉ xem qua một ngày, rồi xếp sách đọc lại không sai một chữ. Mọi người đều thán phục trí nhớ của sư.

Đến niên hiệu Hoằng Thỉ thứ mười hai (408), sư tụng xong luật Tứ Phần, gồm 44 quyển, và các bộ khác như Trường a-hàm .v.v..Bấy giờ, sa-môn Trúc Phật Niệm ở Lương Châu dịch ra tiếng Trung Quốc, Đạo Hàm bút thụ[31]. Đến năm Hoàng Thỉ thứ mười lăm (411), hội phiên dịch tạm kết thúc. Diêu Hưng ban cho sư vạn xấp lụa, nhưng sư đều từ chối. Đạo Hàm, Trúc Phật Niệm mỗi người một nghìn xấp lụa; năm trăm sa-môn danh đức, đều được cúng dường trọng hậu. Sau khi từ biệt trở về Tây Vức, sư đến nước Kế-tân, thỉnh được kinh Hư Không Tạng[32], một quyển, rồi gởi các thương nhân trao cho chư tăng ở Lương Châu.

Về sau không biết sư tịch ở đâu.

ĐÀM VÔ KIỆT

Đàm-vô-kiệt, Trung Quốc dịch là Pháp Dũng. Sư họ Lí, người Hoàng Long, U châu. Sư đã thụ sa-di khi còn bé, chuyên tu trì giới, tụng kinh, được chư tăng kính trọng. Có lần nghe các ngài như Pháp Hiển v.v.. một mình đi đến đất Phật, sư vô cùng xúc động, lập nguyện quên thân vì đạo pháp.

Vào niên hiệu Vĩnh Sơ thứ nhất (420) đời Lưu Tống. Sư nhóm họp các sa-môn đồng chí hướng như Tăng Mãnh v.v… cùng mang những phẩm vật gồm tràng phan, bảo cái đi sang Tây Trúc cúng dường. Đầu tiên, sư đến nước Hà Nam, vượt quận Hải Tây, qua sa mạc đến nước Cao Xương, rồi trải qua các nước như Qui-tư, Sa-lặc, lên Thông Lãnh vượt Tuyết Sơn, đến nước Kế-tân, chiêm bái bình bát Phật.

Sư dừng lại đây hơn một năm để học tiếng Phạn, và thỉnh được một bộ kinh Quán Thế Âm thụ kí[33] bằng tiếng Phạn. Sư lại đến sông Tân-đầu-na-đề, men theo sông về phía tây vào nước Nguyệt Thị, lễ bái xương đỉnh đầu của Phật và nhìn thấy được thuyền chạy bằng hơi nước. Sau đó, sư đến chùa Thạch Lưu, phía nam núi Đàn-đặc. Chư tăng ở chùa nầy hơn ba trăm vị, học giáo nghĩa Tam thừa. Sư dừng lại ở đây cầu thọ đại giới.

Sau đó, sư lại đi đến Trung Thiên Trúc[34], đường đi hoang vắng, nhưng sư chỉ mang theo đường phèn làm lương thực. Tuy thường trải qua những hiểm nguy gian khó, nhưng sư luôn luôn nghĩ nhớ bộ kinh Quán Thế Âm mang theo. Khi sắp đến nước Xá-vệ, ngang qua khu rừng vắng, gặp một đàn voi núi, sư liền xưng danh hiệu bồ-tát Quán Thế Âm, ngay lúc ấy, có một con sư tử phóng ra, bầy voi kinh sợ bỏ chạy tán loạn.

Sau đó, sư vượt sông Hằng, lại gặp một bầy trâu hoang kêu rống, đi đến muốn hại sư. Sư lại xưng danh hiệu Bồ-tát như trước, thì lại có một con chim thứu to lớn bay đến. Trâu hoang kinh sợ bỏ chạy tứ tán, nhờ đó sư thoát nạn.

Sau, từ Nam Thiên Trúc, sư theo thuyền vượt biển đến Quảng Châu, và dịch kinh Quán Thế Âm thụ kí tại đây. Nay bộ kinh này được truyền bá khắp kinh đô.

Về sau không biết sư viên tịch ở đâu.

PHẬT-ĐÀ-BẠT-ĐÀ-LA

Phật-đà-bạt-đà-la, Trung Hoa dịch là Giác Hiền, vốn họ Thích, người nước Ca-tỳ-la-vệ, con cháu của Cam Lộ Phạn vương. Sư sớm mồ côi cha mẹ, ông nội chú của sư là Cưu-bà-lợi nghe sư thông minh và xót thương sự côi cút nên đón về độ làm sa-di.

Năm mười bảy tuổi, sư cùng vài người bạn đồng môn chuyên tâm học hành đọc tụng. Cùng bản kinh ấy, mọi người học một tháng mới thuộc lòng, riêng sư chỉ học trong một ngày. Thầy sư khen:

– Giác Hiền học một ngày có thể bằng ba mươi người.

Đến khi thụ giới cụ túc, sư tinh tấn tu tịnh nghiệp, học tập và thông đạt rất nhiều kinh điển. Thuở thiếu thời, nhờ dốc lòng tọa thiền, trì luật mà danh tiếng sư vang khắp.

Sư và bạn đồng học là Tăng-già-đạt-đa đi đến nước Kế-tân, ở lại đây nhiều năm. Đạt-đa tuy phục trí thông minh của sư nhưng chưa biết là thánh hay phàm.

Sau, Tăng-già-đạt-đa vào mật thất, đóng kín cửa tọa thiền, chợt thấy sư đến, liền kinh ngạc hỏi:

– Huynh từ đâu đến?

Sư đáp:

– Vừa đến cõi trời Đâu-suất[35] kính lễ Đức Di-lặc trở về.

Nói xong, sư biến mất.

Đạt-đa biết sư là thánh nhân, nhưng chưa lường được giai vị sâu cạn. Về sau, nhiều lần thấy sư hiện thần biến, Đạt-đa hết lòng kính ngưỡng, thường theo học hỏi, mới biết sư đã chứng quả Bất hoàn[36].

Sư muốn đi du phương hoằng hoá, tìm hiểu phong tục khắp mọi nơi. Bấy giờ có sa-môn Trí Nghiêm người Trung Quốc đến nước Kế-tân, thấy chúng tăng nơi đây thanh tịnh, cảm thán hướng về Đông độ nói:

– Các pháp lữ của chúng ta đều có tâm cầu đạo, nhưng không gặp được bậc thầy kiệt xuất thì không thể nào ngộ được.

Thế rồi, sư Trí Nghiêm liền đi hỏi khắp các vị tăng trong nước xem ai có thể sang Đông độ giáo hoá. Mọi người đều nói:

– Chỉ có Phật-đà-bạt-đà.

Trí Nghiêm khẩn thiết thỉnh cầu, sư bèn hứa khả.

Thế là, sư từ biệt thầy và đại chúng, mang hành lý lên đường sang đông. Suốt ba năm trời, trải biết bao gian khổ sư mới đến được Thông Lĩnh. Sư đi qua sáu nước, các vua đều cảm thương sư du hoá xa xôi, nên dốc lòng kính ngưỡng dâng phẩm vật cúng dường.

Đến Giao Chỉ, sư lên thuyền đi theo ven biển. Khi đi ngang một hòn đảo nhỏ, sư chỉ tay về đó và nói:

– Hãy cho thuyền dừng lại nơi này!

Thuyền trưởng nghe vậy liền đáp:

– Hành trình còn xa phải biết tiếc thời gian, khó gặp được ngày thuận gió như hôm nay, nên tôi không thể dừng được.

Đi được hơn hai trăm dặm, bỗng nhiên gió đổi hướng, đưa thuyền trở lại bên hòn đảo ấy. Thấy vậy, mọi người mới biết sư thần kỳ và đều phụng sự tôn kính. Từ đó thuyền đi hay dừng đều theo sự quyết định của sư.

Không lâu sau, thấy gió thuận chiều, các thuyền bạn đều nhổ neo. Sư nói với thuyền trưởng:

– Không nên đi!

Thuyền trưởng nghe theo.

Không bao lâu, những thuyền đi trước đều bị chìm, không một ai sống sót.

Sau đó, đang lúc nửa đêm, sư lại bảo các thuyền đều phải lên đường, những thuyền khác không chịu nghe theo, chỉ có thuyền của sư nhổ neo lên đường. Không bao lâu, giặc ập đến, những thuyền ở lại đều bị bọn giặc cướp bóc và giết hại.

Thuyền của sư đến được quận Đông Lai ở Thanh châu. Nghe ngài Cưu-ma-la-thập đang ở Trường An, sư liền đến đó. Gặp sư, ngài Cưu-ma-la-thập rất vui mừng, cùng nhau đàm luận pháp tướng, khai phát nghĩa lý huyền vi, sở ngộ của La-thập nhờ vậy tăng thêm rất nhiều.

Bấy giờ, vua nhà Tần là Diêu Hưng rất sùng kính Phật Pháp, ông ta mời hơn ba ngàn vị tăng vào cung cúng dường. Tất cả đều đến đông đủ, riêng sư vẫn giữ cuộc sống an tĩnh, không tham dự.

Sau, sư nói với đệ tử:

– Hôm qua, ta thấy năm chiếc thuyền ở quê hương cùng khởi hành sang đây!

Sau đó, có một đệ tử thuật lại với mọi người. Các vị tăng kỳ cựu ở Quan Trung nghe được, cho rằng sư tự bày ra điều kì lạ để mê hoặc người. Các vị tăng như Đạo Hằng..v.v.đều nói:

– Phật vốn không cho phép nói ra chỗ chứng đắc của mình, ông ấy báo trước sẽ có năm chiếc thuyền đến đây, đều này là không thật, lại thêm đệ tử cũng mê hoặc dối gạt, đặt chuyện thị phi, đã trái với giới luật. Chúng ta không nên cho ở chung, phải trục xuất khỏi chúng, không được giữ lại!

Nghe vậy, sư nói:

– Thân tôi như cánh bèo trôi, đến đi rất dễ dàng, chỉ buồn vì hoài bảo chưa thành, nên cảm thấy vô cùng hối tiếc!

Thế là, sư cùng hơn bốn mươi đệ tử như là Tuệ Quán.v.v.. , ý chí không hề lui sụt, sắc diện chẳng chút đổi thay. Những người thấu hiểu sự thật thảy đều tiếc nuối. Lúc sư ra đi, có hơn một nghìn người tăng kẻ tục tiễn chân. Diêu Hưng nghe sư ra đi lòng rất buồn bả, bèn nói với Đạo Hằng:

– Sa-môn Phật Hiền mang Phật pháp từ ngàn dặm đến đây mong được truyền bá, nhưng chưa kịp xiển dương thì đã ra đi, thật đáng buồn! Đâu chỉ vì một lỗi nhỏ mà để cho muôn người không ai chỉ dẫn.

Thế rồi, Diêu Hưng lệnh sứ giả đi thỉnh sư trở về. Sư nói với sứ giả:

– Tôi thật biết ơn Đại vương, nhưng không thể tuân theo thánh chỉ!

Và rồi, ngay trong đêm tối sư dẫn đồ chúng theo hướng nam, đến Lư Nhạc[37]. Từ lâu, ngài Tuệ Viễn rất kính phục phẩm hạnh và khí tiết của sư. Nghe tin sư đến, ngài rất vui mừng, như gặp bạn cũ. Tuệ Viễn biết sư bị tẩn xuất là do lỗi của môn đồ. Đoán trước năm chiếc thuyền sẽ đến đây chỉ là nói ra từ ý, cũng không đến nỗi phạm luật .

Nghĩ thế, ngài Tuệ Viễn sai đệ tử Đàm Ung mang thư đến cho Diêu Hưng và chư tăng ở Quan Trung, để trình bày rõ sự việc sư bị trục xuất. Sau, Tuệ Viễn thỉnh sư dịch các bộ kinh về Thiền.

Vì lòng muốn du phương giáo hóa, nên sư không ở yên một nơi. Sau một năm ở núi này, sư lại lên đường đến Giang Lăng. Trên đường đi, sư gặp lại thuyền trưởng trong mộng trước đây, hỏi ra mới biết quả thật có năm chiếc thuyền từ Thiên Trúc sang, như sư đã thấy. Thế là dân chúng Giang Lăng tranh nhau đến lễ bái phụng sự. Mọi thứ cúng dường sư đều không nhận, chỉ mang bát khất thực, không phân biệt giàu nghèo.

Bấy giờ, Viên Báo ở quận Trần vốn là Trường sử cho Tống Vũ Đế lúc còn làm Thái úy. Tống Vũ Đế nam chinh đánh Lưu Nghị, Viên Báo cùng đi theo đến Giang Lăng. Sư bảo đệ tử Tuệ Quán đến phủ của Viên Báo khất thực. Ông ta vốn không có lòng kính tin Tam bảo nên đối đãi sư rất tệ. Ăn chưa no, sư đã từ biệt trở về. Báo nói:

– Hình như ngài ăn chưa no, hãy ở lại dùng thêm chút nữa!

Sư bảo:

– Thí chủ cúng dường không thành tâm, nên thức ăn dọn ra đã hết sạch rồi!

Viên Báo liền gọi gia nhân dọn thêm cơm, nhưng cơm quả thật đã hết. Viên Báo vô cùng hổ thẹn, hỏi Tuệ Quán:

– Vị sa-môn này là người như thế nào?

Tuệ Quán đáp:

– Thầy tôi đức độ cao sâu, người phàm không thể nào lường được.

Viên Báo vô cùng thán phục, thưa việc này lên thái úy, thái úy cho người đến thỉnh. Gặp sư, ông ta hết lòng kính trọng, cúng dường rất nhiều vật dụng. Không lâu sau, thái úy về kinh đô, thỉnh sư cùng đi, và mời sư đến ở chùa Đạo Tràng.

Niên hiệu Nguyên Gia thứ sáu (430), sư viên tịch, hưởng thọ 71 tuổi.

ĐÀM THÚY

Không rõ người xứ nào, chỉ biết sư xuất gia từ thuở nhỏ, ở chùa Bạch Mã[38] phía bắc Hoàng Hà, ăn uống đạm bạc, mặc áo vải thô, chuyên tâm trì tụng kinh Pháp Hoa. Sư đã thông đạt yếu chỉ của kinh, và cũng giảng giải cho mọi người đều hiểu.

Một hôm, vào nửa đêm, sư chợt nghe gõ cửa, và có tiếng thưa:

– Tôi muốn thỉnh pháp sư thuyết pháp trong chín tuần[39].

Sư từ chối, nhưng họ cố thỉnh, cuối cùng sư bằng lòng và đi theo, nhưng vẫn còn trong giấc ngủ. Đến khi thức dậy thì thấy mình đã ở nơi miếu thần tại làng Bạch Mã.

Từ đó, hằng ngày sư đều cùng với một đệ tử âm thầm đến đó, không ai hay biết. Sau, chư tăng trong chùa đi ngang qua miếu, nhìn thấy có hai tòa cao, sư ngồi tòa phía bắc, đệ tử ngồi phía nam, lại nghe văng vẳng tiếng giảng kinh, và hương thơm kỳ lạ. Sự việc thần kì ấy được mọi người loan truyền cùng khắp.

Cuối mùa hạ năm đó, vị thần mang đến cúng dường sư một con ngựa trắng, năm con dê trắng, chín mươi xấp vải lụa. Sư chú nguyện xong, các vị thần biến mất.

ĐĂNG SƯ

Sư ở chùa Đại Lâm[40] tại Khuông Lô[41], chuyên tâm trì tụng kinh Pháp Hoa suốt cả ngày đêm.

Một hôm, sư chợt thấy cung điện bằng bạc trên không trung từ từ hạ xuống phòng mình và biến thành cung điện vàng. Sư bèn vào điện ngồi trì kinh, cứ thế suốt ba năm. Bốn chúng gần xa kính cẩn mang hoa hương đến xin sư truyền giới. Sư nói:

– Ban ngày ồn náo tâm dễ tán loạn, nên thụ giới vào ban đêm thanh vắng.

Đêm ấy, sư vừa giảng giới tướng[42] và tam quy, thì từ miệng sư phóng hào quang chiếu soi khắp hội chúng. Mọi người nhìn thấy, tranh nhau lễ bái, gây nên ồn náo. Sư liền lặng thinh thì hào quang cũng biến mất. Sư nói:

– Các vị cốt yếu đến đây để thụ giới, nhưng vừa nhìn thấy hào quang lại ồn náo cả lên! Hào quang hiện, chỉ là điềm lành của việc thụ giới, chứ chẳng phải chính duyên đắc giới. Bây giờ các vị hãy nghe lại từ đầu.

Mọi người liền im lặng, nhưng sư vừa thuyết giới, ánh hào quang lại phóng ra, họ lại ồn náo. Thấy thế, sư lặng thinh không thuyết nữa. Hôm sau, mọi người lại đến, sư từ biệt trở về núi, lại thấy cung điện vàng hiện ra như cũ. Một hôm, sư bỗng bảo mọi người:

– Hôm nay tôi lên điện vàng, không trở lại nữa.

Thế rồi hôm ấy sư an nhiên thị tịch.

BẢO THÔNG

Sư có phạm hạnh thanh cao, chuyên trì tụng phẩm Đà-la-ni trong kinh Pháp Hoa, có được chút linh dị.

Bấy giờ, ở thôn Dương Kiều, có vợ của người họ Triệu bị thần bắt hồn, họ thỉnh sư trì chú. Khi sư đến, thần hiện ra nguyên hình. Sư nói:

– Thần của thôn lẽ ra phải tạo phúc lành cho thôn, cớ sao lại đi bắt hồn của người khác?

Thần thưa:

– Việc này không phải do đệ tử làm, mà do tiểu quỷ dưới trướng.

Nói xong, vị thần gọi tiểu quỷ đến trách phạt. Vợ người họ Triệu nhờ đó khỏi bệnh.

Không lâu sau, bệnh vợ anh họ Triệu lại tái phát, cô ta ca hát suốt đêm. Họ lại thỉnh sư đến, sư lại thấy con quỷ đã bị quở trách lúc trước đứng bên cạnh người bệnh:

– Lúc trước ta đã răn nhắc rồi, sao nay ngươi còn tái phạm. Nếu không chịu đi, ta sẽ tụng chú, khiến đầu ngươi vỡ thành bảy mảnh, giống như cành cây a-lê[43] vậy.

Nghe thế, quỷ rập đầu cầu xin:

– Không nhọc ngài phải niệm chú! Con sẽ đi ngay.

Từ đó, bệnh của cô ta lành hẳn, quỷ không còn dám đến quấy phá nữa.

TUỆ THIỆU

Không rõ người xứ nào, thuở nhỏ mẹ cho ăn cá thịt sư đều nôn ra, từ đó không ăn mặn nữa.

Năm lên tám, sư xuất gia, thông hiểu kinh Pháp Hoa, hành khổ hạnh miên mật.

Sau, sư theo thầy đến ở chùa Chiêu Đề tại Lâm Xuyên. Sư luôn nhớ đến ân sâu nặng của Đức Phật, thệ nguyện xả thân để báo đáp. Sư bèn thuê người chặt củi, mang đến thạch thất ở Đông Sơn, chất cao một trượng, ở giữa chừa một khoảng trống như khám thờ, rồi trở về chùa thưa với thầy. Thầy khuyên can, nhưng sư không chịu nghe, vẫn theo ngày ấn định, vào núi lập hội Bát quan trai. Nhân dân quanh vùng đua nhau kéo đến, lại có mây phủ khắp hang núi. Đêm đó, sư đi nhiễu quanh, cầm đuốc châm lửa, rồi vào ngồi trên khám tụng phẩm Dược Vương xả thân. Lửa cháy đến đầu mà vẫn còn nghe tiếng tụng kinh. Đại chúng bỗng thấy một ngôi sao to bằng cái đấu rơi xuống đống lửa, phút chốc lại bay lên trời. Mọi người đều cho đó là điềm thiên cung xuống đón.

Sư từng nói với bạn đồng môn:

– Nơi tôi thiêu thân sẽ mọc lên một cây ngô đồng, không ai được chặt .

Sư mất được ba ngày, quả nhiên có cây ngô đồng mọc lên y như đã nói, người tăng kẻ tục đều cho là thần kỳ.

NGỘ THUYÊN

Sư người nước Thục[44], hiệu Giác Hải, bẩm tính thông minh.

Ở Hiệp Châu có một anh nhà giàu, hai mươi chín tuổi, tên Trình Di Bá. Một hôm, anh ta thấy cha mình hiện về báo mộng:

– Năm nay con sẽ chết, vì thế phải đến thỉnh cầu sư Giác Hải chỉ bảo.

Anh ta hoang mang chưa rõ thực hư thế nào. Một hôm, bỗng có vị tăng xem tướng, vác tấm biển đề chữ Giác Hải. Trình Di Bá vội thỉnh sư xem cho. Anh ta hỏi:

– Tuổi thọ của tôi bao nhiêu?

Sư bảo:

– Hãy đem một bát nước đến đây!

Sư hà hơi vào bát nước, bảo Trình uống và nói:

– Đêm nay sẽ có điềm mộng lạ báo cho anh.

Đêm đó anh ta mộng thấy mình đi đến một phủ quan. Ở hành lang bên trái, nam nữ mặc áo mũ đẹp, nói cười vui vẽ, còn hành lang bên phải toàn là những người bị gông cùm xiềng xích, khóc lóc bi thảm. Người bên cạnh nói với anh ta:

– Hành lang bên trái đó là những người tu sửa cầu đường, bên phải là những kẻ phá hoại cầu đường. Nếu ông muốn tăng thêm tuổi thọ thì tự mình chọn lựa.

Tỉnh mộng, Trình Bá Di phát tâm tu sửa cầu đường trong phạm vi một trăm dặm. Khi công trình hoàn tất, sư lại đến nói:

– Anh làm việc lành này, mạng sống tăng thêm mười năm

Từ đó, Trình Bá Di dốc lòng xây dựng cầu đường, không biết mệt mỏi, nhờ vậy thọ mạng của anh ta kéo dài đến 92 tuổi, gia tộc năm đời được giàu sang.

Quyển 2 hết

————————————————-

[1] Kinh Biện Ý 辨意經: kinh, một quyển, do ngài Pháp Tràng dịch. Nội dung nói về Đức Phật đáp những câu hỏi của Trưởng giả Tử.
 
[2] Kinh Thành cụ quang minh 成具光明經: gọi tắt của kinh Thành cụ quang minh định ý .
 
[3] Nê-hoàn 泥洹 (Cg: Niết-bàn, Niết-bàn-na…). Nguyên nghĩa chỉ cho sự thổi tắt, hoặc biểu thị trạng thái thổi tắt. Về sau, từ ngữ này được dùng để chỉ cho diệt tận lửa phiền não, đạt đến cảnh giới giác ngộ. Còn theo tông Thiên Thai thì Phương tiện tịnh niết-bàn, là chỉ cho Đức Phật vì cứu độ chúng sanh mà thị hiện thân giả huyển, khi hết duyên thì nhập niết-bàn.
 
[4] Đôn Hoàng 燉煌: Khu di tích Đôn Hoàng ở tỉnh Cam Túc. Nơi đây có nhiều văn vật Phật giáo của Trung Quốc thời cổ.
 
[5] Xích Thành 赤城: tên một ngọn núi, có nhiều đất đá màu đỏ, giống như núi Thành Điệp ở phía bắc huyện Thiên Thai, tỉnh Chiết Giang là Nam môn núi Thiên Thai.
 
[6] A-dục-vương 阿育王: Hd: Vô ưu vương, vị vua thứ ba của vương triều Khổng Tước ở nước Ma-kiệt- đà thuộc Trung Ấn Độ. Ông ra đời vào khoảng thế kỷ III tr. TL, là vị vua thống nhất Ấn Độ và là một nhân vật đóng góp công sức lớn nhất trong việc hộ trì Phật giáo.
 
[7] Liêu Đông 遼東: Một vùng phía đông của Liêu Hà, nay là đông bộ và nam bộ của tỉnh Liêu Ninh.
 
[8] Tam Phụ 三輔 : Một vùng đất gần kinh đô.
 
[9] Quan Lạc 關洛: Quan Trung và Lạc Dương
 
[10] Thôi Hạo 崔浩 : Tể tướng thời Bắc Nguỵ, người Thanh Hà, tự là Bá Uyên
 
[11] Thiên sư 天師 : Tôn xưng người có đạo thuật vào thời cổ đại
 
[12] Nhận 仞: nhà Chu định tám thước là một nhận (khoảng sáu thước bốn tấc tám phân bây giờ).
 
[13] Ma-ha tăng-kì luật 摩訶僧祇律 (S: Mahasangha-vinaya): luật, 40 quyển, do ngài Phật-đà-bạt-đà-la và ngài Pháp Hiển cùng dịch vào thời Đông Tấn, Trung Quốc, được xếp vào Đại Chính Tạng, tập 22. đây là bộ Luật của Đại Chúng Bộ thuộc Phật giáo Bộ phái.
 
[14]Luật Di-sa-tắc 彌沙塞律 (S: Mahiśāsakāḥ): luật, 30 quyển, do Phật-đà-thập và Trúc Đạo Sanh dịch vào đời Lưu Tống, được xếp vào Đại Chính Tạng, tập 22.
 
[15] Kinh Trường A-hàm 長阿鋡經 (S: Dīrghāgama): kinh 20 quyển, do ngài Phật-đà-da-xá và Trúc Phật Niệm cùng dịch vào năm 413 đời Hậu Tần, Trung Quốc, được xếp vào Đại Chính Tạng, tập 1. (Là một trong bốn bộ A-hàm Bắc Truyền)
 
[16] Tạp A-hàm kinh 雜阿含經: (S: Saṃyuktāgama, P: Saṃyutta-nikāya). kinh, 50 quyển, do ngài Cầu-na-bạt-đa-la dịch vào đời Lưu Tống, Trung Quốc, được xếp vào Đại Chính Tạng, tập 2, là 1 trong 4 bộ A-hàm bắc truyền.
 
[17] Tạp tạng 雜藏: tạng gồm thâu những thánh điển nói về giáo hạnh của bồ tát, một trong bốn tạng.
 
Theo phẩm Tự, kinh Tăng nhất A-hàm thì các kinh Đại thừa phương đẳng và các khế kinh đều gọi là Tạp tạng, theo luật Ma-ha tăng-kì 32, các kệ tụng nói về bản hạnh nhân duyên…do các vị Bích-chi-phật, A-la-hán tự thuyết là Tạp tạng. Theo luận Phân biệt công đức 1, do tạng này bao gồm lời Phật dạy, lời các vị đệ tử, lời chư thiên tán tụng hoặc nói túc duyên sở sinh của 3 A-tăng-kỳ bồ-tát, văn nghĩa chẳng phải một, nhiều hơn cả tam tạng nên gọi là Tạp tạng.
 
[18] Đại Nê-hoàn kinh 大泥洹經: kinh 6 quyển, do ngài Pháp Hiển dịch vào thời nhà Tấn, Trung Quốc, phần trước của bộ kinh này có 18 phẩm. Bộ kinh Phật thuyết khi sắp nhập niết bàn.
 
[19] Chư sinh 諸生: Người có học vấn cao.
 
[20] Lục kinh 六經: Sáu bộ kinh đỉển của nhà Nho: Thi, Thư, Lễ, Nhạc, Dịch, Xuân thu.
 
[21] Trang Lão 莊老: Trang Tử và Lão Tử. hai vị triết gia lỗi lạc của đất nước Trung Quốc cổ đại.
 
[22] Giang Đông 江東: Trường Giang ở Vu Hồ.
 
[23] Kinh Hải long vương 海龍王經 (S: Sāgara-nāga-rāja-paripṛcchā): Kinh, bốn quyển, 20 phẩm, do ngài Trúc Pháp Hộ dịch vào thời Tây Tấn, Trung Quốc, được xếp vào Đại Chính Tạng, tập 15. Nội dung kinh này ghi lại việc Đức Phật tại núi Linh Thứu thuộc thành Vương Xá, giảng nói cho Hải Long Vương nghe.
 
[24] Hổ Khê 虎溪: tên suối, ở phía trước chùa Đông Lâm, núi Lô, phía nam Cữu Giang Thị thuộc tỉnh Giang Tây. Tương truyền, vào thời Tấn, pháp sư Huệ Viễn ở đây. Sư tiễn khách không bao giờ qua khỏi suối này, nếu vượt quá thì hổ liền gầm lên. Vì vậy gọi suối này là Hổ Khê.
 
ó Sư tử tòa 師子座: (S: siṃhāsana; P: sīhāsana): tòa ngồi của Đức Phật hoặc đại đức.
 
[26] Kiến chương 建章 : gọi đủ là cung Kiến Chương là tên một cung điện Tại Trường An, đời Hán.
 
[27] Cây liên lí: cây có một gốc mà hai cành dính liền nhau.
 
[28] Hậu cung 後宮: Toà nhà lớn ở phía sau dành cho hoàng hậu và các hoàng phi của vua.
 
[29] Kinh châu荊州: vùng đất nằm ở bờ bắc Trường Giang, tỉnh Hồ Bắc, phía bắc tiếp giáp lưu vực Hán Thuỷ. Là một khu vực trọng yếu trên trục lộ giao thông giữa hai miền nam bắc Trung Quốc thời xưa.
 
[30] Núi Côn Luân崑崙山: Ngọn núi cao nằm ở phía nam Tân Cương, phía bắc Tây Tạng, đứng cao chót vót giữa dãy Thiên Sơn và Khách Lạt.
 
[31] Bút thụ: ghi chép lại.
 
[32] Kinh Hư Không Tạng 虛空藏經: kinh, 1 quyển, do ngài Phật-đà-da-xá dịch vào đời Dao Tần, Trung Quốc, được xếp vào Đại Chính Tạng, tập 13. Nội dung nói về việc bồ-tát Hư Không Tạng từ trụ xứ của Đức Phật Thắng Hoa Phu Tạng hiện đến, dùng thần lực biến thế giới ta bà thành Tịnh Độ, rồi biến trong hai tay của đại chúng đều có hạt bảo châu ma-ni như ý, từ trong hạt châu này tuôn ra các thứ báu. Kế đó là nói về các đà-la-ni trừ bệnh được phúc, người niệm thần chú này mọi sự mong cầu đều như ý.
 
[33] Kinh Quán Thế Âm thụ kí 觀世音受記經: kinh, 1 quyển, do ngài Đàm-vô-kiệt dịch vào đời Lưu Tống, Trung Quốc, được xếp vào Đại Chính Tạng, tập 12. Nội dung kinh này là nói Đức Phật dùng pháp vô y chỉ để được tam-muội Như huyễn cho bồ-tát Hoa Đức Tạng nghe, kế là nói về nhân duyên phát tâm cầu chính đạo của bồ-tát Quán Thế Âm, Thế Chí, và cho biết sau khi Phật A-di-đà diệt độ, thì bồ-tát Quán Thế Âm sẽ thành Đẳng Chính Giác, hiệu là Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Như Lai.
 
[34] Trung Thiên Trúc 中天竺: vùng trung tâm của năm khu vục thuộc Ấn độ thời xưa, hoặc chỉ chung cho toàn cõi Ấn Độ. Thời kì trung cổ, toàn cõi Ấn độ được chia thành năm khu vực, gọi là Ngũ Thiên Trúc, các nước ở trung ương gọi là Trung Thiên Trúc.
 
[35] Đâu-suất 兜率 (S: Tuṣita): cõi trời thứ tư trong sáu tầng trời cõi Dục, rộng tám vạn do-tuần. Vị trí cõi này nằm ở giữa cõi trời Dạ-ma và trời Lạc Biến Hoá. Cõi trời này có hai viện: Đâu-suất nội viện, trụ xứ của các bồ-tát sắp thành Phật. Đâu-suất ngoại viện, thuộc cõi Dục là nơi cư trú của thiên chúng, hưởng thọ nhiều dục lạc, nhưng ít được nghe pháp.
 
[36] Quả Bất hoàn 不還果 (S: Anāgāmin; Hd: A-na-hàm): quả thánh thứ ba trong Thinh văn thừa. Người đã chứng quả này sẽ không còn tái sanh trở lại cõi Dục.
 
[37] Lư nhạc 廬岳: núi Lô
 
[38] Chùa Bạch Mã白馬寺: chùa ở phía đông huyện Lạc Dương tỉnh Hà Nam, Trung Quốc, được xây dựng vào năm 75 triều vua Minh Đế đời Đông Hán. Tương truyền ngài Ca-diếp-ma-đằng và Trúc Pháp Lan dùng ngựa trắng (Bạch Mã) chở kinh từ Tây Trúc sang Trung quốc. Vua Minh Đế liền sắc lệnh xây dựng ngôi tinh xá cho hai vị, ở ngoài cửa Tây Ung thành Lạc Dương, đặt tên là Bạch Mã.
 
[39] Tuần: ở Trung Quốc một tuần bằng mười ngày ở nước ta.
 
[40] Chùa Đại Lâm 大林寺: chùa ở dưới ngọn Đại Lâm, Lô Sơn, huyện Cửu Giang, tỉnh Giang Tây, Trung Quốc. Tương truyền do ngài Đàm Sằn (361-440) thuộc dòng phái tổ Tuệ Viễn ở Lô Sơn sáng lập vào đời Đông Tấn.
 
[41] Khuông Lô匡廬: Núi Lô ở Giang Tây. Tương truyền ở vùng biên giới giữa nhà Ân và nhà Chu có bảy anh em Khuông Tục kết am tranh ẩn cư ở nơi đây, vì thế có tên là Khuông Lô.
 
[42] Giới tướng戒相: Tướng trạng sai biệt biểu hiện qua sự trì giới. Dựa theo sự trì, phạm, nặng, nhẹ của các giới như năm giới, 10 giới, cho đến 250 giới, mỗi loại đều có tướng trạng khác nhau. Thông thường, giới tướng chỉ cho tướng trạng tuân thủ theo giới luật.
 
[43] Cành cây a-lê 阿梨樹枝: một loại cây thơm.
 
[44] Nước Thục 蜀: đất Thục, thuộc tỉnh Tứ Xuyên bây giờ.

Pages: 1 2 3