Want create site? Find Free WordPress Themes and plugins.

Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao
Bửu Quang Tự Đệ Tử Như Hòa Chuyển Ngữ

Quyển Thứ Bốn
(Phần 3)

  1. Nêu tỏ ý nghĩa ẩn tàng về hành trạng của Phùng Bình Trai Nghi Nhân[1]

      Con người sống trong thế gian dù thiện hay ác đều phải có người phụ trợ thì mới thành được như vậy! Dẫu là bậc thánh bẩm sanh vẫn cần phải có hiền mẫu, hiền thê phụ trợ cho đạo đức của vị ấy, huống gì những kẻ kém hơn ư? Do vậy, Thái Nhậm dạy con từ lúc còn nằm trong thai (thai giáo) nên sanh ra Văn Vương có thánh đức. Vì thế, kinh Thi khen ngợi [Văn Vương] nêu gương đức hạnh từ vợ cho đến anh em, [đức ấy] lan truyền ra cả nước. Nhưng đấy mới chỉ là luận theo phía Văn Vương, chứ nếu bàn về đức của bà Thái Tự[2] thì cố nhiên đức ấy cũng phụ trợ cho đạo của Văn Vương. Như hai ngọn đèn chiếu lẫn nhau bèn càng thấy sáng sủa; hai tay rửa lẫn nhau thì mới được sạch sẽ. Cứ xét theo câu trong bài thơ Tư Tề Thái Nhậm: “Thái Tự kế thừa danh tiếng tốt đẹp”[3] thì có thể biết được [đức của các bà]. Do vậy, mới nói: “Đời thiếu hiền nhân là do cõi đời thiếu hiền mẫu và hiền thê!” Ấy là vì vợ có thể ngầm giúp chồng, mẹ có thể dạy con cái từ lúc còn trong thai; huống chi mấy năm đầu đời, hằng ngày ở bên mẹ, thân cận tấm gương tốt lành, thường được răn dạy, nên tánh tình bị chuyển biến mà không biết không hay, có những điều chẳng mong mỏi mà đạt được. Tôi thường nói: “Người nữ là cái gốc của việc tề gia trị quốc”. Lại thường nói: “Quyền trị quốc bình thiên hạ, hàng nữ nhân chiếm quá nửa”, chính là vì ý này vậy.

      Bởi lẽ những kẻ thiên tư cao nếu được hiền mẫu un đúc, hiền thê phụ trợ sẽ tự có thể ý thành tâm chánh, làm sáng tỏ đức sáng, an trụ nơi chí thiện. Nếu khốn khó thì riêng thân mình thiện, nếu hiển đạt sẽ khiến cho thiên hạ cùng thiện. Kẻ thiên tư bình thường thì cũng có thể tuân thủ quy củ, làm một người dân lành giữ phận, quyết chẳng đến nỗi vượt lý nghịch phận, làm quấy, làm gian, làm nhục người sanh ra mình, gây hại cho đời. Tiếc cho người đời mơ màng, chẳng lấy chuyện “trọn vẹn luân thường, tuân thủ bổn phận” để dạy con gái. Nếu hằng ngày chỉ lo trau chuốt, ngoài ra không nhắc tới chuyện gì khác, mai kia làm vợ người ta, làm mẹ người ta, chẳng những không thể giúp chồng dạy con trở thành thiện sĩ, mà trái lại còn dạy con trở thành kẻ ác. Do vậy, nói: “Chuyện dạy dỗ con gái quan trọng hơn việc dạy con trai rất nhiều!” Những lời tôi nói như “dạy con gái là cái gốc để tề gia trị quốc” và “quyền trị quốc bình thiên hạ, nữ nhân chiếm hơn một nửa” chính là lời chân thật vậy.

Gần đây, cái học mở rộng, con gái đi học đa phần bị những giáo viên chẳng biết dạy về cái gốc làm cho lầm lạc. Do vậy, chẳng chú trọng “giữ vẹn luân thường, tuân thủ bổn phận, giữ yên cửa nhà, giúp chồng dạy con”, ai nấy đều muốn nắm chánh quyền, làm quan to, suy tính vượt phận, tập thành thói cuồng vọng, cũng là điều đáng cảm khái. Nếu như có bậc trưởng dân cực lực đề xướng khiến cho họ vun bồi trong gia đình, ngõ hầu đạt được hiệu quả của việc tu – tề – trị – bình một cách không hay, không biết, trọn không dấu vết thì may mắn chi bằng? Do vậy, tôi có cảm xúc rất sâu đối với hành trạng của bà Phùng Nghi Nhân.

Nghi Nhân chính là người vợ đức hạnh của cư sĩ Bao Bồi Trai, bản tánh khác lạ, từ thuở nhỏ mẹ ít phải nhọc công dạy dỗ, lúc chưa lập gia đình thì hiếu thảo với cha mẹ, xuất giá rồi bèn hiếu dưỡng bố mẹ chồng, lại còn hết sức tin tưởng Phật pháp, tu trì nghiêm cẩn. Thoạt đầu, ông Bao chẳng cho như vậy là đúng, nhưng lâu ngày cũng bị cảm hóa bèn ăn chay trường niệm Phật, vì ông Bao tư chất thông minh, đặc biệt thấu đạt, lại hằng ngày ở chung với Nghi Nhân là người cung cách đoan trang, thầm lặng, giữ bổn phận, trọn vẹn luân thường. Tánh bà cảm động được người, cho nên ngấm ngầm cảm hóa được người mà chẳng hay chẳng biết. Ông Bao là bậc quân tử minh triết, tánh trong sạch như nước. Lúc ông làm quan, mỗi khi có thu nhập gì, nếu không biết rõ lai lịch, bà vẫn sợ có chỗ lầm lẫn nhân quả, bèn nghiêm sắc mặt khuyên răn, tra hỏi tường tận nguồn gốc để khỏi phụ lòng mới thôi. Bà lại thường khuyên con đừng tham dự vào chánh trường, nhưng vẫn sợ con có khi khó tránh khỏi, nên lại bảo: “Tiền trong chốn chánh trường thì chỉ có lương bổng trả cho công việc hằng ngày là được nhận. Ngoài ra, đều là tiền trái phận, rốt cuộc cũng phải đền trả, chẳng thể không thận trọng!”

Gương thơm thờ cha mẹ, giúp chồng, trông nom gia đình, dạy con, và những hành vi tốt lành như kiêng giết, phóng sanh, giúp đỡ người bị tai nạn, khốn khó, tận lực sám trừ túc nghiệp, dốc sức tu Tịnh nghiệp [của Nghi Nhân] đều đáng làm gương cho đời. Thậm chí trước khi mạng chung ba ngày, bà còn thiết tha dặn dò đừng làm đám tang rình rang, bảo con dùng quan tài xấu, vải thô, bởi lẽ cái chân thật đã đi mất rồi, há nên phí phạm tiền bạc cho cái thân huyễn vọng này, trái nghịch cả trời lẫn vật ư? Huống chi, xét về nguồn gốc thì tơ, lụa đều do giết chóc mà có, dùng những thứ ấy để tống táng càng tăng thêm tội nghiệp, rất trái nghịch với đạo thân ái vậy! Một hai ngày trước khi lâm chung, bà thị hiện các sự đau khổ, dường như cảm thấy khó kham được nổi, nhưng vừa được thấy quang minh của Phật bèn kết ấn qua đời. Ấy là vì túc căn sâu dầy, hạnh trong đời này thuần thục. Lại được ông Bao hiểu sâu ý nghĩa trọng yếu, bèn bảo người nhà cùng trợ niệm, hoàn toàn chẳng nhắc đến những chuyện quyết biệt (giã biệt mãi mãi), mà cũng chẳng để lộ nỗi thương tâm, đau khổ chút nào. Lại thỉnh những bạn gái thông hiểu pháp thường đến khai thị cho bà. Sáu vị tỳ-kheo trợ niệm liên tục, cho đến ngày hôm sau mới nhập liệm, chẳng hề khóc lóc, khiến cho thần thức [người chết] chẳng nẩy sanh ái luyến, được toại nguyện vãng sanh. Như vậy, có thể nói là ông Bao đã thành tựu tịnh nghiệp đến cùng cực cho Nghi Nhân vậy.

Kinh Pháp Hoa dạy: “Thiện tri thức là đại nhân duyên, là vì họ chỉ dạy [ta] khiến cho [ta] thấy được Phật”. Nghi Nhân cố nhiên là thiện tri thức của ông Bao, mà ông Bao cũng là thiện tri thức của Nghi Nhân. Có thể nói rằng thiện gặp được thiện, cùng được lợi ích rành rành. Như Nghi Nhân đáng coi là bậc thầy cho nữ giới trong đời này, việc trợ niệm lúc lâm chung và những hành động của ông Bao đáng làm gương tốt lành cho người nhà cũng như con cháu của những ai tu Tịnh nghiệp. Vì thế, tôi nêu bày ra để khuyên lơn những ai yêu thương người thân, chứ không chép đầy đủ chi tiết về những sự thật khác.

  1. Nêu tỏ ý nghĩa ẩn kín của tác phẩm Khang Mẫu Vãng Sanh Kỷ Niệm San (viết thay cho Khang Ký Dao)

      Ân cha mẹ dù trọn đời cũng không thể báo được. Hiếu là đạo lớn lao không gì ở ngoài nó được. Đại giáo của Như Lai lấy hiếu làm gốc. Bồ Tát thấy các chúng sanh trong lục đạo đều là cha mẹ quá khứ, là chư Phật trong vị lai. Vì thế, ngài Địa Tạng có lời nguyện: “Độ hết chúng sanh mới chứng Bồ Đề, địa ngục chưa trống thề chẳng thành Phật”. Phạm Võng Giới Kinh coi hiếu thuận là pháp đạt đạo tột bậc, không những dạy phải hiếu thuận với phụ mẫu, sư tăng, Tam Bảo mà còn dạy đối với hết thảy chúng sanh phải sanh tâm từ bi, tâm hiếu thuận, dùng phương tiện cứu giúp, che chở, kiêng giết, phóng sanh, vì hết thảy chúng sanh đều là cha mẹ, anh em, vợ con, quyến thuộc của ta trong quá khứ. Do vậy, nói: Đạo Hiếu của Phật giáo trước là thấu đến vô thủy, sau là đến tột cùng vị lai, không gì chẳng bao gồm trọn vẹn. Vì thế, ngài Liên Trì nói: “Cha mẹ được lìa trần cấu thì đạo của con mới thành tựu”.

Những kẻ cậy vào đạo hiếu chăm sóc phụng dưỡng trong đời này để bài báng Phật pháp bất hiếu chính là chấp nhặt khư khư vào kiến giải “ếch ngồi đáy giếng” của chính mình cho nên mới đưa ra lời bàn luận mù quáng của kẻ chưa từng thấy được biển cả ấy. Phận làm con cố nhiên phải tỏ bày đức của cha mẹ, biểu lộ bằng cách chú trọng nơi tận tụy thực hành, cho nên phải khắc kỷ giữ lễ, dứt lòng tà, giữ lòng thành, biết lỗi phải sửa, thấy điều nghĩa ắt làm, hiểu nhân biết quả, kiêng giết, phóng sanh, chớ làm các điều ác, vâng làm những điều lành, sanh tín phát nguyện trì danh hiệu Phật, tự hành dạy người cùng sanh Tịnh Độ. Làm được như thế, dù người ta chẳng biết đến đức của cha mẹ người ấy, nhưng do kính ngưỡng đức của người ấy cũng sẽ ngưỡng mộ đức của tổ tông, cha mẹ người ấy, cho là đã ngầm tu từ lâu cho nên mới có được người nối dõi như thế. Nếu không, dù tổ tông, cha mẹ có đức tốt đẹp ai nấy đều biết, nhưng vì con cái bất tiếu[4], ắt người ta sẽ ngờ: Cha mẹ, tổ tông kẻ đó dẫu có đức cao đẹp, nhưng chắc là vẫn có chuyện ác ngấm ngầm. Nếu không, trong nhà đức hạnh tốt đẹp ấy sao lại nẩy sanh ra thứ con cháu bất tiếu như thế đó?

Do vậy, biết rằng: Lập thân, hành đạo chính là nêu tỏ đức của cha mẹ, tổ tông. Phận làm con phải chú trọng lòng kính, cẩn thận dè dặt, tận lực thực hành như thế nào để khỏi nhục lây người sanh ra mình, còn như những chuyện điếu văn, bài minh [ca tụng] của danh nhân đều là chuyện đằng ngọn. Đức của mẹ ông Khang có thể thấy đầy đủ qua điếu văn, qua những bài minh, cho nên tôi chẳng mất công nhắc lại. Tôi chỉ muốn nói đến chuyện ông Khang do tâm hiếu thuận, khéo giữ gìn di thể[5] của cha mẹ, chẳng để cho một lời nào, một hành vi nào, hoặc khởi tâm động niệm có chút nào trái nghịch chánh lý, đánh mất đạo hiếu! Lời lẽ tuy tợ hồ chung chung không sâu sát, nhưng nó thật sự chính là đạo “gốc chánh nguồn trong” của cả Nho lẫn Thích. Nếu ông Khang và những người đọc cuốn sách này ai nấy đều càng thêm gắng sức thì thiên hạ, quốc gia may mắn lắm thay, chứ nào phải riêng mình Khang mẫu được vẻ vang!

  1. Nêu tỏ ý nghĩa ẩn kín của tác phẩm Giang Mẫu Quách Thái Phu Nhân Tây Quy Sự Lược

      Khổng Tử nói: “Tánh thì gần giống nhau, nhưng do dạy dỗ, đào luyện mà thành ra khác nhau[6]”. Lại nói: “Chỉ có bậc thượng trí và kẻ hạ ngu là không thay đổi”. Mạnh Tử tuy hiền nhưng vẫn phải thuận theo thế tục, nương theo sự giáo huấn mà thay đổi. Bậc thượng trí, kẻ hạ ngu hiếm lắm, bao nhiêu chúng sanh do tập theo thói lành mà thành lành, tập theo thói ác bèn thành ác, những người chẳng bị thiện ác lay động chỉ là một hai phần trong trăm ngàn vạn ức phần! Cư sĩ Giang Vị Nông đoan trang, khiêm tốn, có phong cách của cổ nhân, tu trì thành khẩn nghiêm mật, chỉ mong được lợi ích thật sự, hoàn toàn không có những tập khí đàm huyền thuyết diệu, ham cao chuộng xa. Quang tuy khâm phục, kính nể ông Giang thiên tánh thuần hậu, chuyên dốc, nhưng vẫn đoán trong gia đình ông sự un đúc ắt phải có chỗ thật vượt trội mọi người. Đến khi trông thấy những sự thực đại lược về việc quy Tây của phu nhân mới biết tư cách của cư sĩ chịu ảnh hưởng rất sâu từ mẹ. Do vậy, biết rằng: Đời phải có hiền mẫu thì mới có hiền nhân!

Những vị thánh mẫu thời xưa dạy con từ thuở còn trong thai, bởi lẽ un đúc từ lúc mới bẩm thụ thể chất mới mong tập quen thành tánh. Thế gian dùng chữ Thái Thái để gọi nữ nhân là vì ba vị thánh nữ Thái Khương, Thái Nhậm, Thái Tự, vị nào cũng giúp chồng dạy con, mở ra vương nghiệp tám trăm năm [của nhà Châu], cho nên người ta mới dùng chữ Thái Thái để xưng tụng nữ nhân. Quang thường nói: “Quyền trị quốc bình thiên hạ, nữ nhân chiếm quá nửa”. Lại thường nói: “Dạy dỗ con gái chính là cái gốc để tề gia trị quốc bình thiên hạ”, đấy là nhằm khuyên dạy trọn hết đạo làm vợ, giúp chồng dạy con mà nói như thế. Chẳng giống như nữ giới ngày nay, đa phần chẳng giữ bổn phận, vọng động muốn nắm lấy chánh quyền, làm đại sự, chẳng biết vun bồi từ gia đình. Đấy chính là “gồm thâu sắt của khắp chín châu muôn nước cũng chẳng thể đúc được một mối lầm lỗi lớn lao ấy”. Do vậy, thế đạo nhân tâm ngày càng đi xuống; thiên tai nhân họa cứ thấy xảy ra liên tiếp. Tuy là do chúng sanh đồng phận ác nghiệp chiêu cảm, nhưng thật ra chính là vì trong gia đình đánh mất sự giáo dục mà nên nỗi!

Cho nên những kẻ có thiên tư quen thói cuồng vọng, những kẻ không có thiên tư trở thành người dân ương ngạnh. Nếu như ai nấy đều được mẹ hiền uốn nắn thì người người đều có thể trở thành thiện sĩ, hễ túng quẫn thì riêng một mình ta thiện, lúc hiển đạt thì khiến cho người khác đều cùng được thiện, đâu đến nỗi trên không có đạo để hướng dẫn, dưới chẳng có pháp tắc để tuân thủ, tệ hại, khinh nhờn trăm mối nẩy sanh, dân không lẽ sống! Cao đẹp thay bà mẹ ông Giang! Thoạt đầu dùng việc hiếu dưỡng bố mẹ chồng, dạy dỗ nghiêm nhặt, tụng kinh, niệm Phật để giáo hóa con. Cư sĩ Vị Nông lại càng mở rộng lời mẹ giáo huấn, chuyên tinh nghiên cứu Phật học, đem lợi ích của Tịnh Độ khuyên dụ mẹ từ trước. Đến khi mẹ lâm chung, lại trợ niệm nhiều cách hòng mẹ được nương vào Phật từ lực vãng sanh Tây Phương. Có thể nói là người dốc lòng thờ mẹ, hoàn toàn chẳng có gì phải tiếc nuối!

Nhưng ông vẫn chưa thấy thế là đủ, lại muốn cho những người con hiếu cháu từ trong cõi đời đều dùng đạo này để thành tựu cho cha mẹ. Hễ cha mẹ còn sống thì uyển chuyển khuyên dụ khiến cho họ đừng làm các điều ác, vâng làm các điều lành, tín nguyện niệm Phật cầu sanh Tây Phương. Cha mẹ đã mất thì tận lòng thành, cạn lòng kính nhất tâm niệm Phật, để cầu cho cha mẹ được cao thăng phẩm sen, mau chứng Vô Sanh mới thôi! Đấy chính là ý nghĩa ẩn kín của tác phẩm Tây Quy Sự Lược, cho nên tôi mới đặc biệt nêu rõ ra.

  1. Sự tích vãng sanh của ưu-bà-di Trần Liễu Thường và nêu tỏ ý nghĩa ẩn kín của Phật Tánh

 

       Hết thảy chúng sanh đều có Phật tánh, nhưng Phật và chúng sanh tâm hạnh, thọ dụng, tuyệt chẳng giống nhau, vì sao thế? Do Phật thì trái trần hiệp giác, còn chúng sanh thì trái giác hiệp trần. Phật tánh tuy đồng, nhưng mê -ngộ thật khác, cho nên sướng – khổ, thăng – trầm khác biệt một trời một vực. Nếu có thể suy xét kỹ nghĩa lý “tam nhân Phật tánh” thì không mối nghi nào chẳng phá, không ai chẳng muốn tu tập. Tam nhân chính là chánh nhân, liễu nhân và duyên nhân.

      1) Chánh nhân Phật tánh chính là diệu tánh sẵn có ngay nơi cái tâm của chúng ta, là Pháp Thân chân thường được chứng bởi chư Phật. Đây chính là cái “tại phàm chẳng giảm, nơi thánh không tăng, ở trong sanh tử chẳng nhiễm, ngự Niết Bàn chẳng tịnh”. Chúng sanh triệt để mê trái, nhưng chư Phật rốt ráo viên chứng. Mê – chứng tuy khác, tánh thường bình đẳng.

      2) Liễu nhân Phật tánh chính là Chánh Trí được phát sanh bởi chánh nhân Phật tánh; do từ tri thức hoặc từ kinh giáo được nghe đến nghĩa lý chánh nhân Phật tánh bèn liễu ngộ. Biết do nhất niệm vô minh chướng lấp nguồn tâm, cho nên chẳng biết bản thể của cảnh giới lục trần vốn không, tưởng là thật có, bèn khởi tham – sân – si, tạo giết – trộm – dâm. Do Hoặc tạo nghiệp, do nghiệp chịu khổ, đâm ra làm cho chánh nhân Phật tánh biến thành cái gốc để khởi Hoặc tạo nghiệp chịu khổ. Từ đấy liễu ngộ, bèn muốn bỏ vọng theo chân, ngõ hầu khôi phục bản tánh.

      3) Duyên nhân Phật tánh: Duyên là trợ duyên. Đã liễu ngộ thì cần phải tu tập đủ mọi thiện pháp hòng tiêu trừ Hoặc nghiệp, tăng trưởng phước huệ, khiến cho đích thân chứng được rốt ráo cái lý sẵn có mà mình đã ngộ mới thôi!

      Xin dùng thí dụ để làm sáng tỏ. Chánh nhân Phật tánh giống như vàng trong quặng, như lửa ẩn trong gỗ, như ánh sáng từ nơi gương, như mầm nằm trong hạt ngũ cốc, tuy sẵn có, nhưng nếu chẳng hiểu rõ và trải qua những duyên như chưng luyện, xoi dùi, giồi mài, vun trồng, mưa thấm ướt v.v… thì chất vàng, lửa, ánh sáng, mầm… vĩnh viễn chẳng có ngày phát sanh. Do vậy, biết: Tuy có chánh nhân nhưng nếu không có duyên để hoàn thành thì chẳng thể thọ dụng được. Do vậy, đức Phật thấy hết thảy chúng sanh đều là Phật, muốn khiến cho họ được giải thoát. Chúng sanh do chẳng liễu ngộ nên chẳng chịu tu tập thiện pháp, đến nỗi luân hồi sanh tử bao kiếp dài lâu chẳng thể thoát ra được! Do vậy, đức Như Lai rộng bày phương tiện tùy cơ chỉ dạy, dắt dìu ngõ hầu chúng sanh bỏ vọng theo chân, trái trần hiệp giác.

Pháp môn tuy nhiều, nhưng ba môn Giới – Định – Huệ bao trọn không sót. Vì thế, kinh Lăng Nghiêm chép: “Nhiếp tâm là Giới, nhân Giới sanh Định, nhân Định phát Huệ. Đấy gọi là Tam Vô Lậu Học”. Nhưng trong ba thứ này, Giới là quan trọng nhất; bởi lẽ giữ được Giới thì không làm các điều ác, vâng làm các điều thiện, hạnh gần với Phật, ắt tâm chẳng cách xa Phật cho lắm. Do đó, trong kinh Phạm Võng, đức Như Lai bảo đảm cho chúng sanh như sau: “Ta là Phật đã thành, các ông là Phật chưa thành. Nếu tin được như vậy thì giới phẩm đã đầy đủ”. Lại nói: “Chúng sanh nhận lãnh giới của Phật liền nhập vào địa vị Phật, địa vị giống với bậc Đại Giác, thật sự là con chư Phật”. Do vậy, pháp Trì Giới chính là đạo quan trọng bậc nhất để siêu phàm nhập thánh, liễu sanh thoát tử. Nếu như chúng sanh chẳng đầy đủ Phật tánh, dẫu tu tập đủ mọi thiện pháp, cũng chẳng có lẽ nào thành Phật được! Như đá không chứa vàng, băng không có lửa, ngói chẳng có ánh sáng, cát chẳng có mầm, dù có các duyên chưng luyện, xoi dùi, giồi mài, gieo trồng, mưa tưới v.v… tuy trải qua bao kiếp, mỗi thứ ấy vẫn chẳng thể sanh ra vàng, lửa, ánh sáng, mầm mộng v.v… Nếu biết nghĩa này, ai lại chịu dùng cái tánh sẵn có Bồ Đề, Niết Bàn, để lầm lạc tạo phiền não sanh tử, nhường cho chư Phật và thánh nhân Tam Thừa riêng hưởng sự vui chân thường, còn tự mình cam chịu nỗi khổ huyễn vọng nữa ư! Nhưng nếu ước theo cách dạy dỗ thông thường thì ở địa vị phàm phu muốn liễu sanh tử thật chẳng phải là chuyện dễ dàng! Nếu ước theo pháp môn đặc biệt “tín nguyện niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ” thì ngay trong một đời này đều được liễu thoát. Nếu thật sự đầy đủ lòng tin chân thành, nguyện thiết tha thì trong vạn người chắc chắn chẳng sót một ai. Chúng sanh đời Mạt chỉ có thể nương tựa vào một pháp này. Do đó, pháp vận càng về cuối thì pháp này càng thích hợp căn cơ, thiện tri thức đề xướng càng khẩn thiết, những chứng nghiệm do chân thật tu trì bèn được vãng sanh đôi khi vẫn thấy.

Ưu-bà-di Liễu Thường là vợ kế của cư sĩ Liễu Viên Trần Tích Châu ở huyện Vô Vi tỉnh An Huy, họ Hồ, bẩm tánh từ thiện, dốc lòng tin tưởng Phật pháp. Thoạt đầu, Tích Châu không biết Phật pháp, người con trưởng là Thiên Thọ khá thông minh, mất năm mười bốn tuổi. Ông cho rằng mình suy nghĩ, xử sự không có lầm lỗi gì lớn lao, sao lại bị như thế này, bèn đối với sự nhân quả báo ứng, sanh tử, luân hồi, nhất loạt cho là không có. Phu nhân biết chẳng thể phá được kiến chấp ấy, bèn thầm lặng tu trì, chẳng để cho ông ta biết. Không lâu sau, phu nhân có thai, lúc sắp đến kỳ sanh nở, chợt mắc bệnh nặng. Trong hai mươi chín ngày không thể nói năng, ăn uống, trở mình được, thân nóng như lửa, mình gầy như que củi. Danh y bó tay, không còn hy vọng sống còn nào! Một tối, bà mộng thấy một bà lão cầm một cành sen dài, bảo: “Ngươi do túc nghiệp nên mắc phải ác bệnh này, may là có thiện căn, cho nên ta từ Nam Hải đến an ủi ngươi!” Bèn dùng cành sen phẩy từ đầu xuống chân, bảo: “Phủi đi nghiệp chướng, khéo sanh con ngoan”. Bà chợt cảm thấy thân tâm mát mẻ, liền giật mình, tỉnh dậy, khỏe mạnh trở lại. Hôm sau, sanh con, đứa bé đầy đặn mập mạp chẳng khác gì những đứa được sanh bởi người mẹ khỏe mạnh; bèn đặt tên là Thiên Dân, đến nay đã mười lăm tuổi rồi! Do vậy, Tích Châu mới biết lòng Từ rộng lớn của Phật, lý – sự tam thế nhân quả chân thật chẳng dối! Từ đấy, vợ chồng đều ăn chay, niệm Phật, nỗ lực tu trì. Đối với chuyện cứu giúp người nghèo cùng, hoạn nạn, trai tăng, sửa chùa, tặng thiện thư, thí quan tài, thảy đều tận lực làm.

Tích Châu quy y với Quang, pháp danh là Liễu Viên, phu nhân gởi thư xin quy y, nhân đó bèn đặt pháp danh là Liễu Thường. Năm Dân Quốc thứ chín (1920), vợ chồng con cái cả thảy năm người cùng thọ Bồ Tát Giới tại chùa Pháp Nguyên ở Bắc Kinh. Mùa Xuân năm ngoái, phu nhân muốn đến Phổ Đà gặp Quang, nhân đó bèn triều bái Cửu Hoa Sơn trước. Trở về đất Hỗ (Thượng Hải) nhằm đúng lúc chiến cuộc ở Phụng Thiên – Trực Lệ nổ ra nên chẳng thể đi được, thường lấy chuyện đó làm điều tiếc nuối. Quang an ủi: “Chí tâm niệm Phật thì ngày ngày được cùng Phật Di Đà và thánh chúng gặp gỡ, sao lại tiếc nuối vì không gặp được ông Tăng tầm thường chỉ biết cơm cháo này?” Do gặp phải cơn kinh sợ sâu xa nên thân thể gầy yếu, lâu ngày chẳng hồi phục được. Tích Châu xin Quang khai thị, Quang dạy hãy nghĩ lùi bước, hãy tưởng như đã chết, nên lại được lành mạnh.

Mùa Xuân năm nay, lại mắc bệnh suy nhược, chẳng thiết ăn uống. Ngày Hai Mươi Tám tháng Hai đang trong lúc niệm Phật thấy hai đồng tử cầm lá phan dài, trên đề bốn chữ “Tây Phương tiếp dẫn”, bà bảo Tích Châu rằng: “Đối với tôi đây là điềm rất may, còn đối với ông thì không may, bởi tôi đã về Tây rồi thì trong nhà không ai chăm sóc; nhưng người niệm Phật chẳng tham sống, chẳng sợ chết!” Nhân đó thỉnh bốn vị Tăng tụng kinh lễ sám niệm Phật suốt hai mươi tám ngày để cầu nguyện hễ tuổi thọ chưa hết thì chóng lành, thọ đã hết sẽ mau sanh Tây Phương. Từ đó, thân tâm vui sướng, trọn không bệnh khổ. Đến đầu tháng Tư, lại cảm thấy không thoải mái, biết kỳ hạn về Tây đã đến, bèn nhất tâm niệm Phật để cầu mau được sanh. Ngày mồng Năm, cả nhà đều niệm Phật. Lại thỉnh sư tăng thay phiên nhau niệm liên tục, ngày đêm tiếng niệm Phật không ngớt, phu nhân chỉ thầm niệm theo. Đến trước Ngọ ngày mùng Sáu, liền bảo người nhà chuẩn bị đồ tắm rửa. Tắm xong, mặc áo sạch, đến Phật đường lễ bái, dâng cúng hương hoa. Trở về bèn sai dời giường hướng về Tây, nằm nghiêng bên hông, chỉ chuyên niệm Phật, hoàn toàn chẳng nhắc đến chuyện quyết biệt. Đến giờ Hợi, thấy Phật hiện đến, bà muốn ngồi dậy lễ bái, do vậy [người nhà] bèn đỡ ngồi lên. Bà chắp tay, cúi đầu, nói: “Còn ba ngàn câu niệm Phật nữa, niệm xong sẽ đi”. Toàn gia cùng Tăng – tục hơn ba mươi người đều lớn tiếng niệm. Phu nhân bèn lớn tiếng niệm Phật qua đời, mặt lộ vẻ mỉm cười, trong nhà thoảng mùi hương lạ. Cả nhà đều chẳng lộ vẻ bi ai, lại niệm Phật hai tiếng nữa rồi mới sắp đặt [ma chay]. Ngày hôm sau, khâm liệm vào giờ Ngọ, đảnh đầu vẫn còn nóng ấm[7], tứ chi mềm mại, mùi thơm vẫn còn.

Ôi! Có thể nói là phu nhân xưa đã có thiện căn, đời này gặp thiện duyên, chẳng bị tình yêu thương thế gian trong đời hiện tại phá hoại chánh niệm, chỉ cậy vào tiếng niệm Phật của nhiều người để thành tựu tịnh tâm. Vì thế, được cảm ứng đạo giao nhờ Phật tiếp dẫn, lìa khỏi cõi khổ này, lên Lạc Bang kia, may mắn chi bằng? Một cửa ải lâm chung thật là khẩn yếu. Đời có kẻ ngu trong lúc cha mẹ, quyến thuộc lâm chung, bèn bi thương, đau đớn, khóc lóc, tắm rửa, thay áo, chỉ cốt sao đẹp mắt người đời, chẳng tính kể đến chuyện gây hại cho người chết. Người không niệm Phật thì không nói làm chi, chứ người mang chí hướng khẩn thiết vãng sanh, lúc lâm chung gặp phải hạng quyến thuộc này đa phần đều bị phá hoại chánh niệm, vẫn phải ở lại thế giới này.

Trợ niệm lúc lâm chung ví như kẻ yếu đuối trèo núi, sức mình chẳng đủ, may có sức của người đằng trước lôi, người đằng sau đẩy, người hai bên nâng đỡ nên bèn có thể lên đến được đỉnh cao chót vót. Lâm chung chánh niệm rỡ ràng bị phá hoại [bởi những chuyện như] tình yêu thương của quyến thuộc, dời đổi chỗ v.v… Ví như dũng sĩ trèo núi, sức mình sung mãn, nhưng thân hữu, người quen biết đều đem những vật của họ giao cho đội vác. Đội vác quá nhiều nên sức kiệt, thân nhọc, nhìn vách núi lùi bước. Lẽ được – mất này tuy do người khác gây ra, nhưng thật ra cũng do nghiệp lực thiện – ác của chính mình từ trong kiếp trước đã thành toàn hay phá hoại người khác mà ra. Phàm những người tu Tịnh nghiệp hãy nên thành toàn chánh niệm cho người khác và bảo cho quyến thuộc biết sẵn về lẽ lợi – hại, khiến cho ai nấy đều biết quan trọng ở chỗ thần thức sẽ đạt được, chứ chẳng phải ở chỗ dễ coi thuộc về phương diện tình cảm thế gian, để khỏi phải lo lắng nữa! Do nhận được tin báo tang, tôi liền nêu ra ý nghĩa ẩn kín của Phật tánh và việc trợ niệm cũng như thuật đại lược hành trạng của phu nhân để mong sao người tu Tịnh nghiệp biết rồi sẽ bắt chước theo.

  1. Nêu tỏ ý nghĩa ẩn tàng của Đại Từ Bi Thất

      Đại Từ Bi Thất chính là phòng ngủ của Châu Phu Nhân mẹ ông Vương. Châu phu nhân mẹ ông Vương chính là người vợ đức hạnh của Sơn Âm Xử Sĩ Vương Sở Thần ở Chiết Giang, là mẹ đẻ của hai cư sĩ Tâm Tam và Vi Nghiễm. Phàm Đại Từ Bi chính là nhà của Như Lai, sao phu nhân lại trộm lấy tên này? Trong hội Pháp Hoa, đức Như Lai dạy những thiện nam tử, thiện nữ nhân hoằng kinh phải vào nhà Như Lai, mặc áo Như Lai, ngồi tòa Như Lai, rồi giải thích: “Nhà của Như Lai là tâm đại từ bi đối với hết thảy chúng sanh. Áo Như Lai là tâm nhu hòa, nhẫn nhục. Tòa của Như Lai là hết thảy pháp không”. Lại [nói bài] tụng rằng: “Đại từ bi là nhà, áo nhu hòa nhẫn nhục, các pháp Không làm tòa. Ở nơi ấy thuyết pháp”. Hễ đã vào nhà ấy, chắc chắn không lẽ nào chẳng mặc áo, ngồi tòa. Phu nhân đã lấy “Đại Từ Bi” để đặt tên cho thất thì ba pháp hoằng kinh ấy có thật sự tồn tại hay chăng?

Đáp: Nghĩa này nên dùng thuyết Lục Tức để luận. Nếu luận về viên chứng rốt ráo thì chỉ có mình đức Phật. Nếu luận về Lý Tức [Phật] thì hết thảy chúng sanh không ai tâm chẳng sẵn đủ. Phu nhân do Danh Tự mà khởi Quán Hạnh để cầu chứng nhập Tương Tự, Phần Chứng. Xin trình bày đại lược! Phu nhân năm hai mươi sáu tuổi mới về với ông Vương. Nhà ông Vương khá giàu có, dốc lòng tin tưởng Phật pháp, tánh ưa bố thí, đã một mình dựng một ngôi miếu hai chái để thờ Quán Thế Âm và thần Thiên Y, ấy là vì muốn cho Đại Sĩ tầm thanh cứu khổ, Thiên Y ngầm tiêu các bệnh vậy. Hằng năm lại còn thường thí trà, thí thuốc, thí đèn, thí áo; đối với mỗi chuyện phóng sanh, tiếc chữ[8], đều lập hội để đề xướng. Trong họ hàng, nhờ vào ông để nổi lửa [nấu cơm hằng ngày] mười mấy nhà, tiền chi phí cho con em trong họ đi học rất nhiều. Vì thế, gia đạo nghèo đi. Chuyện này tuy do ông Vương thực hiện, nhưng thật ra là do phu nhân ngầm giúp cho thành tựu. Nếu phu nhân không có tâm đại từ bi, tâm nhu hòa nhẫn nhục, và chẳng biết thật nghĩa của “hết thảy các pháp không” ắt sẽ sớm trì kéo, ngăn trở. Nếu không thì cũng sẽ liều mạng tranh giành, há để cho gia đạo rốt cuộc nghèo đi, nửa đời phải sống trong nghèo hèn, cùng quẫn ư?

Lại nữa, phu nhân sau khi đã về nhà chồng liền ăn chay, vĩnh viễn dứt bỏ thức ăn tanh hôi (đồ mặn). Phàm những thứ như dầu mè, trái cây có mùi thơm v.v… cũng không ăn, chỉ uống nước trắng, chỉ mặc áo vải thô, những thứ lụa là, áo cừu, vải the, son, phấn, trâm, xuyến đều bỏ hết. Ngày thì dệt cửi, khâu vá, đêm thì lễ Phật, tụng kinh, suốt năm chẳng ra khỏi cửa, trầm mặc, ít nói. Thân thích đến chơi, thăm hỏi xong, liền bàn về sự lý nhân quả báo ứng. Thờ bố mẹ chồng trọn hiếu, giúp đỡ chồng vẹn đức, dạy con đúng cách. Thế gian lấy [gương các bà] Thái Khương, Thái Nhậm, Thái Tự để khen ngợi nữ nhân nên gọi [nữ nhân] là Thái Thái, đa phần đáng thẹn; còn như phu nhân thì chẳng thẹn với danh xưng ấy!

Sau mười lăm năm, ông Vương mất, Tâm Tam và Vi Nghiễm đều còn bé, phu nhân trên thờ mẹ già, dưới nuôi con thơ, trải đủ nỗi gian nan, cay đắng dường như quên bẵng xưa kia mình giàu có. Đến khi con đến tuổi theo học, bà liền bán sạch quần áo, trang sức [đã mang về nhà chồng] lúc vu quy để lo tiền học cho con. Bà giạm hỏi Lâu Thị cho Tâm Tam, chưa cưới thì [Lâu Thị] đã bị mù, thân tộc đều khuyên nên thoái hôn, phu nhân tuyệt chẳng nghe. Cưới xong, bà dặn dò Tâm Tam phải khéo chăm sóc, không được ruồng rẫy. Phu nhân thoạt đầu mỗi ngày tụng thầm Tâm Kinh số biến nhất định; sau khi ở góa bèn nhất tâm niệm Phật để cầu thoát khỏi Sa Bà, sanh về Cực Lạc.

Năm Tuyên Thống nguyên niên (1909), bà đã 60 tuổi, giữa tháng Ba, mẹ chồng mất; phu nhân đích thân lo liệu tống táng, nhọc nhằn, buồn thương thành bệnh. Qua bốn mươi ngày, hình dung khô gầy, nhưng thần khí cực sáng suốt. Hai ngày trước khi lâm chung, dặn dò Tâm Tam và Vi Nghiễm chuẩn bị áo tang, quan tài, nói: “Sau trưa mai ta sẽ đi”, nhân đó, răn con: “Mong các con hãy tấn đức tu nghiệp, gắng làm người hoàn toàn. Trang Tử nói: ‘Buồn không gì lớn bằng cõi lòng đã chết’[9]. Các con hãy hiểu ý ấy thì tâm ta mới yên”. Bình thường khi niệm Phật phu nhân đều thầm niệm. Đến lúc này, trông bà hết sức an nhiên, thư thái. Tâm Tam hỏi mẹ thấy gì, bà bảo: “Đừng quấy rối chánh niệm của ta”, dặn con thắp đèn lồng trước cửa thất, rồi ngồi yên qua đời. Mất rồi, hai tay vẫn mềm mại như khi còn sống.

Ôi! Bình thời chí nguyện như thế đó, lâm chung an tịnh như thế này, được vãng sanh Tây Phương là điều có thể đoan chắc. Quán Kinh lấy “hiếu dưỡng cha mẹ, phụng sự sư trưởng, từ tâm không giết, tu mười thiện nghiệp và thọ trì Tam Quy, đầy đủ các giới, chẳng phạm oai nghi và phát Bồ Đề tâm, tin sâu nhân quả, đọc tụng Đại Thừa, khuyến tấn hành giả” làm chánh nhân của Tịnh nghiệp. Trong mười một việc này, hành được một việc, dùng tín nguyện sâu, hồi hướng vãng sanh đều được như nguyện. Huống chi hơn ba mươi năm, phu nhân khắc khổ tinh ròng tu tập, vĩnh viễn dứt được thói quen của nữ giới, tận lực giữ khuôn phép khuê các, hai mươi năm qua nhất tâm niệm Phật, chán nhàm Ngũ Trược sâu xa, mong sanh về Liên Bang. Lúc lâm chung con hỏi còn sợ bị nhiễu loạn, chẳng được sanh về Tịnh Độ thì sẽ phải sanh về nơi đâu!

Nếu như phu nhân chẳng biết hết thảy pháp đều không, chẳng có lòng nhu hòa, nhẫn nhục và tâm đại từ bi thì lúc mới vu quy, ắt sẽ hằng ngày chăm chút trang điểm, chỉ chuyên chú ăn ngon, mặc đẹp, há chịu cơm rau, áo vải, cam chịu đạm bạc giống như một vị lão đầu-đà trong chốn núi sâu ư? Như bà hành thí xả đến nỗi nhà cửa sa sút chẳng hối hận thì vẫn chưa phải là khó, giạm hỏi phải dâu mù mọi người đều khuyên thoái hôn vẫn kiên quyết không nghe, lại càng thương xót. Đấy đều là những chỗ hé lộ lòng đại từ bi, nhu hòa, nhẫn nhục. Ai nấy đều cho đó là khó khăn, nhưng phu nhân trọn chẳng nghĩ là khó vì đã biết hết thảy pháp không. Nếu không, những tướng nhân – ngã chẹn ngang trong ngực, quyết chẳng thể coi người khác như chính mình, coi phú quý như phù vân, vui giữ phận nghèo, lấy pháp làm niềm vui. Đến lúc cuối cùng biết trước lúc mất, con hỏi thấy được gì vẫn răn “đừng nhiễu loạn chánh niệm”, bảo treo đèn ngoài cửa Đại Từ Bi Thất rồi liền ngồi qua đời. Trong tâm bà cố nhiên đã đem những tình mẹ con yêu thương, danh dự thế gian gạt bỏ hết sạch. Chuyện này thật ra thuộc loại “châm kim xuống ngay đảnh đầu, trừ phi da dầy ắt thấy đau ngay”. Hai tay mềm mại biểu thị sử dụng tánh đức nghèo và bệnh để làm chứng cớ cho lòng từ bi, nhẫn nhục. Ôi! Như phu nhân có thể nói là người hoàn thiện đôi bề. Trong đời hiện thời, giáo huấn “giữ yên cửa nhà” bị buông lỏng chẳng được đề cao, nếu chẳng có người phát tâm đại từ bi dùng thân làm gương hòng giữ vững [giáo huấn ấy] thì còn biết nhờ vào đâu? Cổ nhân nói: “Dùng lời lẽ để dạy thì còn bị tranh cãi, chứ dùng thân để dạy thì [mọi người] đều vâng theo”.

Đối với cả Nho lẫn Phật, phu nhân đều kham nêu gương. Bà chính là bậc nương theo bản nguyện làm bậc mẫu nghi chốn khuê các, làm bậc thầy gương mẫu cho nữ lưu. Tôi bẩm tánh cương trực, học thức nông cạn ngoài da, vì thế tự chôn sống ngoài hải đảo để mong giấu dốt, hầu tránh khỏi tội khiên, nhưng cư sĩ Tâm Tam lại lầm tưởng tôi là bậc tri thức, nên mới gởi thư thỉnh giáo. Do vậy, tôi chẳng biết kiêng dè, buông lời thẳng thừng, ngỡ ông ta nhất định tuyệt giao, ngờ đâu ông lại bội phục, ắt là trong gia đình khéo được dạy dỗ. Ông vẫn tiếc là chưa thể biểu lộ đức đẹp, lòng trinh của mẹ nên bèn viết rõ tâm hạnh, tu trì của thân mẫu xin tôi thuật bày. Vì thế, tôi bèn phát huy những nghĩa lý ẩn kín để những người làm cha mẹ và làm thân phụ nữ trong cõi đời biết cách học theo, ai nấy khéo dạy dỗ con gái để mai kia giúp chồng dạy con. Nếu là những đứa có thiên tư sẽ đều là bậc hiền sĩ thân lành giác ngộ cõi đời, nếu là đứa không có thiên tư thì cũng là người dân lành vâng giữ quy củ, ắt là thiên hạ thái bình, nhân dân an lạc, hết sức cầu chúc vậy!

  1. Nêu tỏ ý nghĩa ẩn kín về sự thực vãng sanh của Diêu Phu Nhân nhà họ Mã

      Quyến thuộc trong thế gian đều có nhân duyên, Bồ Tát nương nguyện còn chúng sanh theo nghiệp. Thiện – ác đều do từng loại mà tụ hợp, chủng tánh trọn chẳng sai. Hiếu Kinh nói: “Muốn biết cha hãy nhìn vào con”. Dịch Truyện ghi: “Mọi thứ tụ họp theo từng loài, vật chia ra thành bầy”. Vì thế, ngài Duy Ma Cật ở Tây Thiên, Phó Đại Sĩ, Bàng Cư Sĩ ở cõi này, cả nhà đều triệt ngộ tự tánh, tự chứng Vô Sanh, đến – đi tự tại, đắc đại giải thoát. Gần đây, danh nhân các giới mở rộng tầm mắt, đều cùng tôn sùng Phật pháp, ngầm chuyên tu trì.

Cư sĩ Mã Thông Bạch ở Đồng Thành, tỉnh An Huy chính là bậc đại gia trong giới văn học hiện thời, trước thuật rất phong phú. Thoạt đầu cũng tiêm nhiễm ý kiến của Hàn, Âu, Trình, Châu, chẳng những không biết Phật là người như thế nào, lại còn chẳng biết nhất niệm tâm tánh của chính mình và Phật xét về bản thể trọn chẳng có hai. Đến khi về già, học thức ngày càng tiến, kiến địa ngày càng cao, mới biết Phật là bậc đại thánh nhân, giáo pháp của Ngài có những chuyện chẳng thể nghĩ bàn. Từ đấy, hằng ngày tụng kinh Kim Cang, trì thêm danh hiệu Phật để mong lìa trọn vẹn tứ tướng, triệt chứng nhất tâm, thoát khỏi ngũ trược ngay trong một đời này.

Cô con gái thứ ba của ông tên là Quân Cán khá thông minh, thông hiểu văn chương, có phong thái của bậc liệt nữ thời cổ, ông Thông Bạch rất thương yêu, nhưng đối với Phật pháp cô ta hoàn toàn không tin tưởng. Về sau, bị bệnh rất khổ chẳng thể chịu đựng được; Thông Bạch thương xót, đối trước cô niệm kinh Kim Cang. Cô vừa nghe tiếng tụng kinh thân tâm liền an lạc. Đến khi tiếng tụng kinh dứt lại thấy đau khổ. Thông Bạch liền vì cô niệm kinh suốt đêm. Cô chợt ngồi dậy bảo đừng niệm nữa, giống như người khỏe mạnh. Lại nói: “Đối với những đạo lý kinh Kim Cang đã nói, con đều ngộ được”. Cô lại muốn hiện tướng đại nhân, nói pháp Vô Sanh để hết thảy những ai thấy nghe đều gieo căn lành, bèn giả vờ nói nhà cửa chật hẹp, muốn đến y viện dưỡng bệnh; bởi lẽ Thông Bạch và người con rể tên Phương Thời Giản cùng trú ngụ tại kinh đô, thuê nhà cùng ở nên chẳng thể rộng rãi, u nhã được. Thông Bạch thấy con đã quyết chí, bèn bảo chồng cô ta đưa vào Đức Quốc Y Viện, chọn gian phòng tốt đẹp nhất cho cô nằm. Cô bảo chồng và y tá đi ra hết, rồi bèn ngồi chắp tay qua đời. Ôi chao lạ lùng thay! Cô này cũng giống như cô Linh Chiếu con gái Bàng Cư Sĩ, đợi cha vừa rời khỏi tòa liền tọa thoát ngay nơi tòa ấy, nào có khác gì?

Lý Mộc Công vốn hoàn toàn không tin Phật, nghe Thông Bạch kể nhân duyên ấy, cả nhà bèn quy y Tam Bảo. Phẩm Phổ Môn nói: “Nên dùng thân nào để độ được, bèn hiện thân ấy để thuyết pháp”, há chẳng tin ư? Chồng cô ta là Thời Giản, dù được hiện tướng ấy, kiến giải vẫn cứ hẹp hòi, đối với hành trạng [của cô ta] lại còn vùi lấp đi, tội lỗi ấy chẳng nông cạn. Nay được cháu ông Thông Bạch là Hỗ Đình đem chuyện vãng sanh của bà thím và con bà là Căn Vĩ xót xa chỉ bày, mới biết Thông Bạch và vợ con ông ta đều có lai lịch lớn chẳng phải là chuyện ngẫu nhiên.

Căn cứ theo hành trạng, vợ ông Bạch họ Diêu, húy là Trạch Nhuận, được gia đình dạy dỗ cẩn thận từ nhỏ, thông hiểu đạo làm vợ, thờ cha mẹ, bố mẹ chồng một niềm kính cẩn. Mẹ chồng bệnh nặng, bà cắt thịt đùi hòa với thuốc, cầu khẩn với trời. Nhà vốn thanh bần, Thông Bạch dạy học, phu nhân thay chồng lo liệu việc nhà hết sức cần kiệm, nên chồng khỏi phải lo nghĩ. Dạy con cái đúng phép tắc, được xóm giềng khen ngợi. Mấy chục năm qua, trải bao nhiêu biến động trong đời, chán nhàm vô thường sâu xa, liền chuyên tu Tịnh nghiệp để cầu thoát khỏi Sa Bà, sanh về Cực Lạc. Tuổi ngoài bảy mươi vẫn khỏe mạnh. Đầu mùa Thu năm nay, thị hiện chút bệnh nhẹ, ăn uống giảm dần, nhưng sớm khuya lễ bái, trì tụng chưa từng gián đoạn chút nào. Đến ngày mồng Bốn tháng Tám, vừa mới đi nằm thì ngực bị nghẹn hơi, bảo con gái là Quân Vỹ và cháu dâu là Tôn Hiếu Đạt thay mình tụng kinh. Hiếu Đạt chính là vợ của Hỗ Đình; là người hằng ngày thường cùng bà tu tập Tịnh nghiệp khuyến khích lẫn nhau, nên thường chầu chực bên bà để phụ trợ. Đến đêm mồng Chín, phu nhân thấy chư Phật quang minh rạng rỡ, bèn phục trên gối lễ bái.

Lại thấy đức Quán Âm duỗi tay ra, bèn nắm lấy tay Bồ Tát, liên tục xưng niệm danh hiệu Bồ Tát không ngừng, bảo Hiếu Đạt tụng kinh Di Đà. Hiếu Đạt tụng đến đoạn kinh nói về các thứ trang nghiêm trong cõi Phật, bà nói: “Cảnh giới như vậy rành rành ngay trước mặt, ta thấy chẳng khác gì kinh nói cả!” Người nhà vây quanh niệm Phật theo, có người nuốt lệ, phu nhân quở trách: “Sao lại như thế? Gây phiền lụy cho ta!” Đến giờ Ngọ ngày mồng Mười, môi còn khẽ động, thoạt lâu sau bèn qua đời, vẻ mặt vàng tươi. Phía chân mày và trán sáng láng như gương, trên đảnh khí nóng tỏa ra ngoài cách đầu gần cả thước như thể đang được nung nấu. Ấy chính là biểu hiện của Tịnh nghiệp thuần thục, thân tâm thanh tịnh vậy.

Phàm muốn học Phật pháp trước hết phải tận lực giữ vẹn luân thường, trọn hết bổn phận. Xét những việc hiếu dưỡng cha mẹ, bố mẹ chồng, cũng như dạy con thì đấy chính là như Quán Kinh nói “hiếu dưỡng cha mẹ, hành điều nhân từ thế gian”. Bà nhàm chán vô thường sâu xa, chuyên tu Tịnh nghiệp, lại được người cùng chí hướng khuyến khích hỗ trợ, có thể nói là những nghĩa “chí thành tâm, thâm tâm, hồi hướng phát nguyện tâm”“phát Bồ Đề tâm, khuyến tấn hành giả” đều đầy đủ cả. Đã có đủ chánh nhân Tịnh nghiệp của tam thế chư Phật thì chắc chắn cảm được cái quả “cậy vào Phật từ lực vãng sanh Tịnh Độ”. Những kẻ trong cõi đời chẳng trọn hết bổn phận để giữ vẹn lòng hiếu, lòng từ, lầm lẫn muốn cậy vào Phật từ lực để đới nghiệp vãng sanh thì Phật lực, pháp lực tuy chẳng thể nghĩ bàn, nhưng vì tâm địa của chính mình bất chánh và trái nghịch với chánh nhân Tịnh nghiệp của tam thế chư Phật nên chắc chắn khó đạt được cái quả “vĩnh viễn lìa các sự khổ, thường hưởng những sự vui”. Người tu Tịnh nghiệp hãy nên lấy đó làm gương!

  1. Nêu tỏ ý nghĩa ẩn kín của chuyện cư sĩ Liễu Nghĩa Tào Vân Tốn thí nhà để lập Niệm Phật Lâm

      Phật pháp rộng lớn như pháp giới, rốt ráo như hư không, lý vốn tự tâm, tuy hạng phàm phu sát đất vẫn chẳng thiếu sót mảy may nào, nhưng đạo vượt khỏi những tình kiến thông thường, nếu chẳng phải là mười phương chư Phật sẽ chẳng thể hiểu biết trọn vẹn. Nếu luận sâu sát về pháp khế lý khế cơ thì chỉ có tín nguyện niệm Phật cầu sanh Tây Phương thật là bậc nhất. Đạo tự lợi lợi tha, chỉ có phước đức chẳng trụ vào tướng để bố thí mới bằng được mười phương hư không. Cư sĩ Liễu Nghĩa đã nghe được pháp môn Tịnh Độ, công huân thù thắng, dẫu là kẻ phàm phu sát đất trọn đủ Hoặc nghiệp, chỉ cần có thể sanh lòng tin phát nguyện trì danh hiệu Phật như con nhớ mẹ, tâm tâm tiếp nối, quyết định cậy vào Phật từ lực vãng sanh Tây Phương, liễu sanh thoát tử, siêu phàm nhập thánh. Do vậy, bèn phát đại Bồ Đề tâm, tu hạnh tối thù thắng. Lại muốn cho pháp giới hữu tình đều cùng được lợi ích, vì thế bèn dốc cạn tinh thần sức lực đề xướng tán dương. Con người có cùng một tâm này, tâm có cùng một lý này, đã được phát huy chỗ uyên áo thì không ai chẳng muốn được lợi ích.

Do vậy, thiện tín dự hội nhiều đến mấy trăm người, đều đầy đủ tín nguyện, dốc sức tu Tịnh nghiệp. Cư sĩ mừng rỡ khôn ngăn, liền đem căn nhà của mình đang ở hiến cúng hết, biến nơi đó vĩnh viễn thành Cư Sĩ Niệm Phật Lâm. Ý ông chỉ muốn mình và người đều cùng tu Tịnh nghiệp, cùng trong một đời này vãng sanh Tây Phương, và hết thảy thiện tín xa gần, kẻ thấy, người nghe đều cùng phát khởi cho trọn khắp hoàn vũ, tồn tại vĩnh viễn chẳng suy mất. So với chuyện cầu danh dự trong thế gian và phước báo nhân – thiên thật khác biệt một trời một vực! Những người cùng liên xã cảm kích trước thạnh tình ấy, thầm sợ rằng nếu chẳng lập chứng cứ sau này sẽ bị mất đi, khiến cho tấm lòng một phen lợi người của cư sĩ bị biến thành đoạn diệt. Do vậy, bèn báo lên huyện lập giấy tờ, khắc bia đặt trong Niệm Phật Lâm, không chỉ nhằm để tán dương thạnh đức của cư sĩ mà quả thật còn nhằm để phát khởi nhiệt tâm cho người thấy nghe.

Lại do Bất Huệ tu tông này đã lâu nên bèn gởi thư, sai viết lời tựa dẫn giải ngõ hầu người đọc nghe đến phong thái ấy bèn khởi tâm, lần lượt truyền dạy, hoằng dương, theo chiều dọc là đến tận đời vị lai, theo chiều ngang là trọn khắp mười phương, khiến cho lời đức Như Lai dạy “hết thảy chúng sanh đều có Phật tánh, đều sẽ thành Phật” đều thành sự thực, chẳng đến nỗi còn có chỗ tiếc nuối! Bất Huệ vâng theo thạnh tình ấy, kính cẩn trình bày đại lược những chỗ khó – dễ, nhanh – chậm trong việc y theo hết thảy pháp môn và pháp môn Tịnh Độ tu hành hòng liễu sanh tử, chứng Vô Sanh, ngõ hầu ai nấy tự xét sức lực của mình mà tu hành, chẳng đến nỗi bị tổn hại vì theo pháp chẳng khế hợp căn cơ, luân hồi dài lâu trong tam đồ lục đạo, không thể thoát ra được!

Hết thảy các pháp môn được nói trong giáo pháp một đời của đức Như Lai không pháp nào chẳng nhằm làm cho chúng sanh đoạn phiền Hoặc liễu sanh tử, chứng Vô Sanh Nhẫn thành Phật đạo. Nhưng căn cơ của chúng sanh bất nhất, cho nên mỗi người đạt được lợi ích khác biệt. Những ai có túc căn sâu dầy thì có thể đoạn sạch được Kiến – Tư ngay trong một đời này, vượt thoát tam giới, tiến lên học theo đạo Bồ Tát “trên cầu Phật đạo, dưới hóa độ chúng sanh” để cầu viên mãn Bồ Đề, may mắn gì hơn? Nếu như căn cơ kém cỏi hơn đôi chút, dẫu có sức Thiền Định sâu, triệt ngộ tự tâm, nhưng chưa đoạn được Kiến – Tư, ắt vẫn phải luân hồi y như cũ! Huống gì từ đời này sang đời khác, làm sao có thể tự bảo đảm được? Hễ bị phước làm mê, ắt đọa thẳng vào tam đồ! Kẻ kém hơn thì còn gì để nói nữa! Đấy là chỗ khó khăn của việc dùng tự lực để liễu sanh tử vậy.

Đức Như Lai sớm biết chúng sanh đời Mạt không có sức đoạn Hoặc, nên đặc biệt mở ra một pháp môn tín nguyện niệm Phật cầu sanh Tây Phương, khiến cho hàng Pháp Thân đại sĩ và hạng phàm phu đầy dẫy triền phược cũng như tội nhân Ngũ Nghịch Thập Ác cực nặng đều cùng trong một đời này vãng sanh Tây Phương. Đã vãng sanh Tây Phương thì liễu sanh thoát tử siêu phàm nhập thánh, ai nấy tùy theo khả năng của chính mình mà ngộ chứng. Tâm từ bi vỗ về, nuôi dạy ấy dù có lấy thiên địa phụ mẫu cũng chẳng thể sánh ví được muôn một. Bởi lẽ, pháp môn này cậy vào sức tín nguyện niệm Phật của chính mình để cảm sức từ bi nhiếp thọ của Phật, cảm ứng đạo giao, cho nên chẳng cần đoạn phiền hoặc mà đới nghiệp vãng sanh. So với cách cậy vào tự lực thì khó – dễ dù có hết cả năm cũng chẳng thể nói trọn. Người niệm Phật nếu biết được nghĩa này sẽ tự chết được cái tâm chụp giựt, chuyên tu pháp môn này, chẳng đến nỗi ham cao chuộng xa, bị những lời lẽ của kinh giáo hay tri thức lay chuyển để rồi bỏ pháp này tu những pháp khác. Xin khắp những ai thấy nghe đều tin tưởng chắc chắn!

  1. Bày tỏ những ý nghĩa ẩn kín của lời tựa chúc thọ cho tiên sinh Cừu Trác Đình và phu nhân

      Con người sống trong vòng trời đất hình vóc nhỏ nhoi thay! Sao lại có thể sánh cùng trời đất xưng là Tam Tài? Ấy là do con người đồng một tâm này, tâm cùng một lý này, ai nấy có thể là Nghiêu – Thuấn, ai nấy đều có thể làm Phật. Do có đủ công năng, đức dụng tán trợ quyền sanh trưởng, dưỡng dục của trời đất, giữ gìn giềng mối càn khôn, nên mới mang danh xưng tốt lành ấy. Nếu kẻ nào chẳng tự gắng sức đào luyện, cam bề phàm ngu, sống làm thịt đi thây chạy, chết mục nát cùng cỏ cây, sống có hại cho xã hội, quốc gia, chết chịu khổ trong tam đồ, ác đạo, thì chính là vì không cẩn thận trong hành vi mà nên nỗi, chứ chẳng phải vì thiên chân Phật tánh sẵn đủ có gì sai khác! Vì vậy, Khổng Tử nói: “Về tánh chất thì gần giống như nhau, nhưng do đào luyện mà thành ra sai khác”.

Như nói đến “tán trợ quyền sanh trưởng, dưỡng dục của trời đất, gìn giữ giềng mối càn khôn” nào phải chỉ là nói về những ai có địa vị! Dẫu là thất phu, thất phụ đi nữa, ai nấy đều có thể dốc sức thực hiện. Nếu có thể chánh tâm thành ý, tự tu sửa cái thân để làm sáng tỏ Minh Đức, lòng thành bên trong thấu tỏ ra ngoài, tất nhiên người trong nhà, láng giềng, làng xóm, thân thích, bầu bạn thảy đều thấy được, cảm nhận được, ngấm ngầm được cảm hóa, thay đổi mà không hay không biết. Vì thế, khi trong làng có một vị thiện sĩ thì làng ấy càng thêm thuần hòa, nghiêm cẩn, yên tịnh, như Trần Thật Uyển đời Hán giáo hóa chàng quân tử trên kèo nhà khiến đạo tặc trong làng ấy tuyệt tích, người cô có đạo nghĩa nước Lỗ muốn bảo vệ đứa con nối dõi của anh mình khiến cho quân địch nước Tề lập tức lui binh[10]. Đấy chính là đầu mối để thất phu, thất phụ tán trợ quyền sanh trưởng, dưỡng dục của trời đất, giữ gìn giềng mối vậy.

Mạnh Tử nói: “Nghèo cùng thì riêng thân mình thiện, hiển đạt thì làm cho thiên hạ cùng thiện”, đấy chính là hướng theo đa số mà luận vậy. Trong cõi đời ngày nay, thế đạo nhân tâm đều đã suy vi đến cùng cực, chỉ cầu tự tư tự lợi, gạt bỏ đạo đức nhân nghĩa không ngó ngàng đến gần như hết thuốc chữa! Nhưng thiên hạ chẳng yên, thất phu có trách nhiệm. Nếu như ai nấy đều đứng lên gách vác trách nhiệm này, ai nấy đều giữ phận sống yên, biết nhân hiểu quả, hiếu cha mẹ, kính anh, đôn đốc tông tộc, nghiêm túc dạy dỗ con cái khiến cho chúng trở thành người lương thiện thì chỉ trong mười mấy năm, trong đời ai cũng là hiền nhân. Người hiền tạo ích lợi cho nhau, ắt sẽ cảm được thiên hòa[11], thiên tai, nhân họa nào còn có nữa! Do vậy, biết rằng xiển minh nhân quả, khéo dạy con cái chính là căn bản để thiên hạ thái bình.

Như vợ chồng ông Cừu Trác Đình ai nấy đều biết là người có nhiệt tâm thạnh đức, dùng tấm lòng vô tư, chí thành, hiếu thuận cha mẹ, kính trọng anh, nuôi nấng các cháu, châu cấp kẻ bần cùng, chấn hưng trường học, tin tưởng sâu xa vào Phật pháp và nhân quả, tế độ u hồn, cứu giúp sanh mạng, là gương sáng cho xóm làng, làm bậc mô phạm cho đồng nhân, khiến cho con cái, dâu, cháu đều hiền – hiếu, gia đạo hưng vượng, con cháu đông đầy[12]. Nhưng không ai biết đức ấy, tâm ấy vốn do từ vô lượng kiếp đến nay phụng hành lời dạy “không làm các điều ác, vâng làm các điều lành, đối xử với mọi người bằng lòng nhân bình đẳng, tự lợi lợi tha” của đức Phật, lại thêm từ khi sanh ra đã được hiền phụ, hiền mẫu un đúc, giáo hóa, dưỡng dục mà thành ra như vậy.

Tiên sinh và phu nhân sắp đến bảy mươi, đồng nhân muốn chúc hai cụ sống lâu trăm tuổi, bèn kính cẩn chép lại những hành trạng hai cụ để góp phần chúc thọ, lại xin Bất Huệ tùy hỷ tán trợ. Trộm nghĩ: Trong lời tựa đã nêu bày đầy đủ đức của tiên sinh và phu nhân. Nếu chỉ viết xuông những câu văn bóng bảy để tán tụng thì chẳng những Bất Huệ tôi không thể làm được mà cũng không nên làm như thế. Do vậy, bèn suy xét nơi cái gốc để viết ra những lời lẽ nhằm phát huy những nghĩa lý còn bị ẩn kín. Phải biết: Tuổi thọ của con người vốn vô thủy vô chung. Do Chân Như Diệu Tánh bị phiền não Hoặc nghiệp che lấp mà tùy nghiệp thăng trầm trong lục đạo luân hồi, nên tuổi thọ rút ngắn chẳng thể kham diễn tả được nổi. Đức Như Lai thương xót bèn nói pháp đoạn Hoặc chứng Chân để họ hoàn lại cái gốc, trở về nguồn, siêu phàm nhập thánh. Trong ấy, pháp hạ thủ dễ thành công cao thì chỉ có tín nguyện niệm Phật cầu sanh Tây Phương là bậc nhất. Con cụ Cừu là Tố Doanh lập An Dưỡng Đường để làm chỗ cho song thân tu Tịnh, thật đã hiểu được đại thể của việc chúc thọ. Đợi đến khi [song thân] trăm tuổi, vãng sanh Tây Phương chứng vô lượng thọ thì mới là thật nghĩa rốt ráo của người con hiếu tôn kính cha mẹ, mới đáp được lòng thành ngưỡng mộ của đồng nhân ca tụng đức chúc thọ [cha mẹ] (Tố Doanh hiệu là Bội Tịnh).

  1. Nêu bày nghĩa lý ẩn kín về hành trạng của Lâm Phu Nhân mẹ ông Tôn

      Một niệm tâm tánh của chúng ta và tam thế chư Phật trọn chẳng khác gì. Nhưng trí – ngu, sướng – khổ khác biệt một trời một vực là do sự tu tập trong đời trước và đời này có thiện – ác, thuận – nghịch mà ra. Kinh Hoa Nghiêm dạy: “Nếu muốn biết rõ hết thảy tam thế Phật, nên quán pháp giới tánh: hết thảy duy tâm tạo”. Nói “pháp giới tánh” chính là nói đến tánh Chân Như mầu nhiệm mà chúng sanh và Phật đều cùng có, nơi Phật chẳng tăng, nơi chúng sanh chẳng giảm, trong sanh tử chẳng nhơ, chứng Niết Bàn chẳng tịnh, hằng cổ hằng kim, chẳng dời, chẳng biến, trạm tịch thường hằng, như như bất động. Tánh ấy tôn quý nhất, vì thế dù chúng sanh có mê đến cùng cực thì Như Lai vẫn hoàn toàn chẳng có một niệm buông bỏ, vẫn giáo hóa nhiều cách cốt sao họ khôi phục được bản tánh. “Hết thảy duy tâm tạo” chính là nói tu tập thuận hay nghịch. Thuận tu thì là người, là trời, là Thanh Văn, là Duyên Giác, là Bồ Tát, đến tối cực là viên thành Phật đạo, an trụ Tịch Quang; còn nghịch tu thì đọa vào Tu La, súc sanh, ngạ quỷ, cùng cực là đọa mãi trong A Tỳ địa ngục trải trần điểm kiếp, chịu các sự khổ cùng cực, không do đâu thoát lìa được! Do vậy, ta thấy mười pháp giới đều do sự tu tập xưa nay mà ra, cho nên Khổng Tử mới nói: “Xét về tánh thì gần giống nhau, nhưng do sự đào luyện mà khác xa nhau”. Hiểu rõ điều này mà chẳng bỏ mê theo ngộ, trái trần hiệp giác, thận trọng tu tập thì là chuyện chưa bao giờ có vậy! Đạo để bỏ mê theo ngộ, trái trần hiệp giác cố nhiên chẳng phải là một mối; tìm lấy một pháp hạ thủ dễ thành công cao, dùng sức ít được hiệu quả nhanh thì chỉ có mình pháp môn Tịnh Độ là được như vậy!

Lâm phu nhân là mẹ đẻ của ông Tôn Khánh Trạch, xưa đã trồng cội đức, bẩm tánh hiền thục, hiếu thảo cha mẹ, tôn kính chồng, dạy con, cai quản việc nhà, châu cấp kẻ nghèo cùng, túng thiếu, cứu giúp sanh mạng, đều đáng làm bậc thầy khuôn mẫu cho nữ giới. Bà lại còn dốc lòng tin tưởng Phật pháp, tu trì Tịnh nghiệp, từ trẻ đến già không hề phế bỏ. Huống chi đã mang thân nữ khó thể đi xa tham học với bậc cao nhân, lại sống ở Ngọc Điền[13], rất ít bậc thượng sĩ hoằng pháp, mà vẫn suốt đời khăng khắng tu trì thì chính là do nhiều kiếp huân tu tạo thành vậy.

Xét khi xưa, lúc phu nhân về với ông Tôn, nghèo cùng không đủ ăn, cần cù, vất vả quá người làm công. Tuổi trung niên trở đi, nhà cửa mới dần dần dư dả, có năm người con, mười mấy đứa cháu, tôi tớ rất đông. Lẽ ra nên an nhàn hưởng thụ, nhưng bà vẫn chịu thương, chịu khó như cũ, chỉ mặc áo vải thô, chẳng mặc lượt là, giặt giũ, chằm vá, chẳng nỡ bỏ đi. Thấy người khác đói rét khác nào chính thân mình đang khổ, ắt phải thí tiền cho cơm thì tâm mới yên. Có ai đến cầu xin bèn vui vẻ cho ngay. Đối với côn trùng, kiến bọ, đều răn [người nhà] chớ gây tổn thương; đối với rắn, rết, độc vật cũng dạy tìm cách đuổi đi, trọn chẳng chịu gây thương tổn cho chúng. Ấy là vì muốn cho con cháu đời đời giữ đạo cần kiệm nhân từ, lấy chính thân mình làm gương, ngõ hầu con cháu hành theo. Bình thời, cụ hay đem chuyện nhân quả báo ứng răn dạy con cháu, thường bảo: “Lợi người thật ra là lợi mình, hại người khổ hơn hại mình rất nhiều. Phàm suy nghĩ, xử sự, nói năng đều phải quy vào phương diện từ thiện mới nên. Nếu các ngươi làm được như thế thì mới khỏi gây thẹn cho người sanh ra mình. Nếu không, dù phú quý tột bậc vẫn là đại oan gia ô nhục tổ tông”. Do vậy, con cháu cụ đa số đều thuần hậu, kính cẩn, chẳng nhiễm thói tục hiện thời.

Chuyện lạ nhất là vào mùa Đông năm ngoái, khi chiến tranh nổ ra, Khánh Trạch đưa mẹ đi xa lánh nạn tại nhà họ hàng. Trong lúc ra đi, [mọi người] tâm lo lắng sợ sệt, phu nhân sai đem cái rương đựng quần áo cũ theo, nhưng chẳng nói rõ duyên do. Đến tháng Chạp cụ mất, dùng ngay quần áo ấy để khâm liệm. Tuy nói là cụ tuổi đã tám mươi tám, chẳng thể không dự đoán được, nhưng tâm địa cụ an tường, chẳng bị ngoại cảnh nhiễu loạn, từ chỗ này ta có thể thấy được. Trong lúc phu nhân lâm chung, Khánh Trạch đang đốc suất người nhà đồng thanh niệm Phật, chợt như phát cuồng, xé rách giấy dán cửa sổ. Ngay khi ấy, có hai con bướm to như bàn tay theo cửa sổ chui vào, sắc vàng chen lẫn những vằn đen trắng, rực rỡ phi thường, bay quanh quẩn trong nhà. Người nhà xua đuổi rốt cuộc vẫn không đuổi được. Độ hơn nửa ngày, tẫn liệm xong xuôi, khiêng [linh cữu] sang gian nhà khác, bướm cũng chấp chới bay theo quan tài. Đến khi linh cữu đã đặt yên, bướm mới bay ra khỏi nhà, hướng về Tây bay đi. Khi ấy, nhằm tiết tháng Chạp, huống hồ đất phương Bắc đang rét căm căm làm sao có bướm được? Khi đó, người trong nhà và thân quyến bảy mươi mấy người đều kinh ngạc, cho là điềm lành chưa từng thấy nghe. Ấy chính là do thạnh đức, tịnh tâm của phu nhân chiêu cảm hòng biểu thị điềm lành lìa khỏi Sa Bà, sanh về Cực Lạc, nhưng vì người đời căn cơ hèn kém nên bèn thị hiện thành bướm, chứ nào phải là bướm thật!

Khánh Trạch thuật đại lược tâm hạnh của mẹ, xin Quang phát huy ý nghĩa để khuyên đời. Ôi! Con xiển dương đức của mẹ, cố nhiên là bổn phận nên làm; nhưng xiển dương đức mẹ mà chẳng tu đức thực hành cẩn thận thì còn tệ hơn vu báng lỗi ác cho mẹ. Vì thế, Hiếu Kinh coi lập thân hành đạo, lưu danh hậu thế, khiến cha mẹ vẻ vang là tột cùng của đạo hiếu. Những vị như Khổng Tử, Mạnh Tử v.v… chưa từng thấy họ thuật bày đức của cha mẹ, mà thiên hạ hậu thế không ai chẳng tôn cha mẹ các ngài là bậc thánh phụ, thánh mẫu. Muốn phô bày đức của cha mẹ chẳng thể không biết [điều này]! Hiếu thế gian như thế có thể nói là tột bậc, nhưng chẳng có ích gì cho linh thức của cha mẹ! Nếu luận theo Phật pháp thì hễ cha mẹ còn sống bèn khuyến dụ cha mẹ nhập đạo, ngõ hầu họ bỏ mê theo ngộ, trái trần hiệp giác, tín nguyện niệm Phật, cầu sanh Tây Phương. Cha mẹ đã mất thì chí thành niệm Phật, hồi hướng cho cha mẹ, cúng quải, đãi khách nhất loạt chẳng dùng đồ mặn, ngõ hầu cha mẹ chưa vãng sanh liền được vãng sanh, đã vãng sanh liền tăng cao phẩm sen. Đấy chính là đạo trọng yếu của đức Như Lai để phổ độ chúng sanh khiến họ khôi phục Phật tánh vốn có. Phận làm con muốn báo ân cha mẹ, xiển dương đức của cha mẹ thì suốt đời phải phụng hành để rộng cảm hóa, chỉ dạy. Lợi ích ấy chỉ có Phật mới biết được, chứ ngôn ngữ, văn tự chẳng thể hình dung được nổi!

  1. Nêu bày ý nghĩa ẩn kín trong chuyện vãng sanh của Tôn phu nhân mẹ ông Thôi

      Đạo Thành Minh của thánh nhân, pháp chân thường của đức Như Lai, thất phu, thất phụ đều kham biết được, làm được; bởi lẽ con người có cùng một tâm này, tâm cùng một lý này. Phàm – thánh tuy khác, tâm thể chẳng khác! Vì thế nói: “Thánh mất niệm thành cuồng, cuồng khắc chế được ý niệm bèn thành thánh. Ai cũng có thể làm Nghiêu – Thuấn, ai cũng có thể làm Phật”. Hết thảy chúng sanh đều có Phật tánh, do mê trái nên oan uổng hứng chịu nỗi khổ sanh tử luân hồi. Phật coi lục đạo chúng sanh đều giống hệt như con một. Huống chi những người sanh lòng tin, phát nguyện, kiền thành trì Phật hiệu, hành đủ mọi điều thiện thế gian, kiêm trì kinh, tụng chú, chí thành hồi hướng để cầu được vãng sanh, có ai chẳng cảm ứng đạo giao được Phật tiếp dẫn lìa cõi Sa Bà sanh sang Cực Lạc?

Thôi mẫu Tôn phu nhân là người vợ đức hạnh của xử sĩ [Thôi] Chú Xuyên, là mẹ đẻ các ông Tường Cưu, Tường Côn, Tường Hồng, tánh tình trầm mặc, thuần hậu, xử sự cần kiệm, khoan hòa, hiếu thuận cha mẹ, giúp chồng, chăm sóc việc nhà, dạy con, giúp nghèo, cứu nguy, kiêng giết, bảo vệ sanh mạng, thảy đều đáng nêu gương cho hàng khuê các, là bậc thầy khuôn mẫu cho nữ giới. Nếu chẳng phải là xưa đã có thiện căn, há có được như thế hay chăng? Cụ lại còn dốc lòng tin tưởng Phật pháp, chân thành thọ Tam Quy Ngũ Giới. Tuổi ngoài bảy mươi bèn chuyên tinh tu Tịnh nghiệp. Con cụ là Tường Hồng lại giúp đỡ mẹ nhiều cách, cho nên bà cụ biết trước lúc mất, chánh niệm vãng sanh, đáng gọi là bậc trượng phu trong giới nữ, là hoa sen nở trong lửa, chẳng cô phụ ơn Phật giáo hóa, chẳng phụ bạc tánh linh của chính mình. Những kẻ tu mi trượng phu trong cõi đời, lắm tài, lắm nghệ, tự cậy mình phi phàm, đến khi lâm chung nghiệp thức mịt mờ, chẳng có gì để trông cậy được, vẫn cứ y như cũ luân hồi trong tam đồ lục đạo, há chẳng đáng buồn quá đỗi ư?

Nếu như nói: Thường thấy chép trong sách vở những bậc suốt đời tu trì, Định lực lẫn Huệ lực đều sâu, Tông lẫn thuyết đều thông, giải hạnh tương ứng, rất nhiều vị chẳng giải quyết được sanh tử, vẫn phải thọ sanh. Lẽ đâu Thôi mẫu (Tôn phu nhân) chỉ do năm sáu năm công phu bèn được vãng sanh, liễu sanh tử? Có chứng cứ gì mà biết bà cụ quyết định được vãng sanh?

Đáp: Ông chưa biết duyên do liễu sanh tử có chuyện nhờ vào Phật lực và tự lực vậy! Hết thảy pháp môn đều cậy vào tự lực, còn pháp môn Tịnh Độ hoàn toàn cậy vào Phật lực. Cậy vào tự lực mà Kiến – Tư chưa hết sạch thì sẽ không có cách nào thoát lìa sanh tử được! Cậy vào Phật lực nếu tín nguyện chân thật, thiết tha, ắt được đới nghiệp vãng sanh. Ví như vượt biển, một đằng do tự nổi, một đằng do ngồi thuyền, tuy cùng đến bờ kia, nhưng khó – dễ, an – nguy khác biệt vời vợi như trời với vực. Kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật dạy về ba thứ chánh nhân Tịnh nghiệp: Một là hiếu dưỡng cha mẹ, phụng sự sư trưởng, từ tâm không giết, tu Thập Thiện Nghiệp. Hai là thọ trì Tam Quy, đầy đủ các giới, chẳng phạm oai nghi. Ba là phát Bồ Đề tâm, tin sâu nhân quả, đọc tụng Đại Thừa, khuyến tấn hành giả. Mười một việc này nếu có được một hai việc, kèm thêm tín nguyện niệm Phật thì đều được vãng sanh. Huống chi Thôi mẫu làm được gần đủ? Hơn nữa, chúng sanh Ngũ Nghịch Thập Ác khi lâm chung tướng địa ngục hiện, có thiện tri thức dạy niệm Phật hoặc được mười tiếng hoặc chỉ được mấy tiếng rồi liền mạng chung, cũng vẫn có thể cậy vào Phật từ lực vãng sanh trong Hạ Hạ Phẩm. Huống chi Thôi mẫu năm sáu năm qua ngày đêm đều hệ niệm ư?

Nói đến chứng cứ thì lúc lâm chung chẳng khởi ái luyến, thầm lặng niệm Phật, giơ tay tỏ vẻ tôn kính, ngồi ngay ngắn qua đời. Mấy tướng lành ấy chính là tướng vãng sanh; huống chi mất rồi, toàn thân đã lạnh, đảnh đầu vẫn còn ấm. Đến khi nhập liệm, diện mạo giống như còn sống. Căn cứ theo thuyết “đảnh thánh, nhãn sanh thiên” như kinh luận đã nói thì cụ được vãng sanh còn ngờ chi nữa?

Nếu nói: “Cảnh ấy, Sư chưa đích thân thấy, làm sao biết không phải là do con bà cụ thêu dệt?” Đáp: Thêu dệt thì trong đời cố nhiên là có, ấy là do không biết nhân quả nên mới làm như thế. Tường Hồng muốn cho đồng nhân cùng sanh tín tâm, cùng tu Tịnh nghiệp, cùng sanh Tây Phương, ngõ hầu mẹ ông ta được tăng cao phẩm sen, quyết chẳng phạm tội đại vọng ngữ khiến cho cả mẹ lẫn bản thân đều mắc phải tội nặng tột bậc “chưa đắc đã nói đắc, chưa chứng đã nói chứng, đem phàm lạm thánh” vậy!

  1. Nêu bày ý nghĩa ẩn kín của bộ sách Từ Bi Kính

      Sát kiếp thê thảm trong thời gần đây xưa nay chưa từng nghe thấy. Xét đến nguyên do đều do ăn thịt mà ấp ủ thành, nghĩa là: Ăn thịt là nhân gây nên sát kiếp, sát kiếp là cái quả của việc ăn thịt, rồi quả lại tạo nhân, nhân lại cảm quả, xoay vần giết lẫn nhau để ăn thịt, trọn chẳng có lúc nào ngưng, chẳng đáng buồn ư? Nỗi thảm sát kiếp ai nấy cùng kinh sợ, nhưng nỗi thảm sát sanh ăn thịt, ai nấy cùng vui! Thật chẳng khác gì tự giết mình để ăn thịt và tự giết cha mẹ, anh em, vợ con, quyến thuộc để ăn thịt vậy. Do đó, kinh Nhập Lăng Già dạy: “Hết thảy chúng sanh từ vô thủy đến nay, luân hồi trong sanh tử chẳng ngơi. Không ai chẳng từng làm cha mẹ, anh em, con cái, quyến thuộc, thậm chí bè bạn, người thân ái, kẻ hầu hạ, qua đời khác phải thọ những thân cầm thú. Sao lại bắt lấy những con vật trong số ấy để ăn thịt?” Lỗi hại của sự ăn thịt chẳng thể kể xiết!

Các thiện sĩ ở Tuyền Châu[14] muốn vãn hồi sát kiếp nên lập ra Đại Đồng Phóng Sanh Hội. Phóng sanh chính là muốn cảm phát lòng từ bi của mọi người, từ đó chẳng nỡ ăn thịt. Đã không ăn thịt thì hiện tại chẳng tạo sát nghiệp, tương lai chẳng phải chịu sát báo. Tuy nói là yêu tiếc sanh mạng loài vật, nhưng thật ra là nhằm bảo vệ sẵn cho bản thân mình. Nếu mọi người cùng mang chí này, khó gì chẳng cảm được thiên hòa. Nếu người phóng sanh cứ phóng sanh, kẻ ăn cứ ăn thì những con vật được thả chỉ hữu hạn, những con vật bị ăn là vô cùng, tiêu trừ sát nghiệp cho cá nhân phóng sanh thì được, chứ chưa thể tiêu trừ sát nghiệp cho những người đồng phận được. Vì thế, thâu tóm những lời lẽ khuyên răn rõ ràng dễ hiểu của cổ nhân, [soạn thành bộ sách] đặt tên là Từ Bi Kính (Gương Từ Bi) lưu truyền khắp trong làng xóm, ngõ hầu người thấy nghe đều dấy lòng từ bi, đều cùng kiêng giết, đều cùng ăn chay hòng vãn hồi kiếp vận, cùng hưởng thái bình. Do vậy, tôi bèn lược thuật lỗi hại của việc ăn thịt để phụ trợ. Nguyện những ai ăn thịt sẽ nghĩ loài vật như chính mình, nghĩ chính mình [đang lâm cảnh khổ] giống như loài vật, nghĩ như thế lâu ngày ắt sẽ bị sức ép đến nỗi ăn thịt cũng chẳng dám, há còn vì mong cầu thỏa mãn bụng miệng đến nỗi tế thần, cúng giỗ tổ tiên, phụng dưỡng cha mẹ, đãi khách nếu dùng món chay là không được, cứ phải sát sanh mới được ư?

  1. Trình bày nghĩa lý ẩn kín của việc xây kèm tháp của ni sư Thanh Liên thuộc am Đại Thành vào phần mộ cha mẹ họ Đường

      Ai cũng đều có thể là Nghiêu – Thuấn, ai cũng đều có thể làm Phật, bởi con người có cùng một cái tâm này, tâm cùng một lý này. Những kẻ không làm được đều là hạng tự cam phận kém hèn, chẳng nỗ lực cho nên mới không làm được, chứ không phải là thật sự không thể làm được! Lễ Kinh nói: “Uống ăn, trai gái là điều con người ham muốn nhất; chết chóc, nghèo khổ là điều con người chán ghét nhất”. Nhưng đã có chí làm Nghiêu – Thuấn, làm Phật thì chẳng đem điều chán ghét nhất đổi lấy điều ham muốn nhất. Do vậy, Khổng Tử nói: “Chí sĩ, nhân nhân vô cầu sanh dĩ hại nhân. Hữu sát thân dĩ thành nhân[15] (Bậc có chí, người có đức hạnh tốt đẹp chẳng cầu sống để làm hại đến lòng nhân, có người hy sinh để thành tựu điều nhân). Mạnh Tử nói: “Sống cũng là điều ta ham muốn, mà nghĩa cũng là điều ta ham muốn. Nếu hai điều ấy chẳng cùng trọn vẹn được thì bỏ cái sống để giữ lấy cái nghĩa”.

Đối với bà ni Thanh Liên ở am Đại Thành tôi có cảm xúc sâu xa. Ni sư vốn vợ ông X… ở Tây Giao, Võ Tấn[16], xuống tóc từ lúc còn trẻ, tinh tu phạm hạnh, được thiện tín xa gần kính ngưỡng. Năm Hàm Phong thứ 10 (1860) đời Thanh, giặc vây hãm Thường Châu, ni sư mặc ca-sa lễ Phật, nhảy xuống ao trước am. Đến khi giặc tràn đến, thôn lẫn am đều thành cuộc đất hoang vắng. Mấy ngày sau có hai ông Uông và Thiệu ngầm trở về thăm dò, thấy xác ni sư nổi trên mặt ao. Hai ông ngưỡng mộ đức đẹp, tiết tháo trong sạch của ni sư nên đợi đến lúc đêm khuya, vớt xác lên, chôn tạm dưới nền am. Mười sáu năm sau, nhằm lúc Quang Tự cải nguyên[17] (1875), cha của ông Đường Đà là Tuân Chi mất, mẹ ông Đà là bà Trâu Cung Nhân[18] tom góp được mấy chục ngàn [đồng] mua đất làm phần mộ, tức là nền am Đại Thành khi ấy. Người trong thôn muốn bán đất bèn lén đem hài cốt ni sư đem chôn trong khu mộ địa [bà Trâu] vừa tậu, đắp thành một nấm mộ nhỏ. Trâu Cung Nhân xét kỹ nguồn cơn, chẳng những không tỵ hiềm, trái lại còn sanh lòng tin tưởng, ngưỡng mộ. Mỗi dịp tế lễ, tảo mộ, anh em ông Đà cũng cúng tế mộ ni sư luôn. Thuở ấy, Trâu Cung Nhân tuổi còn đang thanh xuân, cam phận nghèo, thủ tiết, vì chồng nuôi dạy con cái, gia kế chẳng dư dật, phải siêng năng khâu vá, thêu thùa, giặt giũ quần áo cho người ta để sống qua ngày. Khi ấy, anh của ông Đà là Quang Thịnh mười một tuổi, ông Đà mới chỉ lên năm, em gái vừa lên ba, lênh đênh cô khổ không sao nói nổi. Trâu Cung Nhân gắng sức bươn chải nuôi dạy con khiến cho anh em ông Đà đều thành người có đức hạnh tốt đẹp. Hoàn cảnh của bà tuy khác với ni sư Thanh Liên, nhưng đức đẹp, trinh tâm chẳng thua kém ni Thanh Liên! Đến năm Quang Tự hai mươi tám (1902), Trâu Cung Nhân qua đời, được hợp táng cùng ông Tuân Chi. Anh em ông Đà đi làm việc nơi khác, hơn hai mươi năm chưa cùng tế lễ, tảo mộ.

Đến năm Dân Quốc thứ 10 (1921), anh ông Đà từ quan trở về quê, ông Đà cũng thường từ Thượng Hải trở về đất Thường cùng nhau tế lễ, tảo mộ, tìm mộ phần ni sư không được, hỏi chủ đất thì được biết do không tiện cho việc cày cấy, đã dời sang ruộng dâu. Ông Đà bàn cùng anh là Quang Thịnh: “Hiện thời vẫn còn có người biết được đức của ni sư, cho nên còn có ý niệm bảo vệ, gìn giữ [phần mộ]. Nếu không tính kế, sau này khó tránh được nỗi thảm mộ bị dời, xương cốt bị bộc lộ. Huống chi hai vị Uông và Thiệu mạo hiểm để chôn lén, hằng năm mẹ chúng ta dẫn anh em mình đi cúng tế. Nếu bỏ qua việc này không quan tâm đến thì chẳng những phải thẹn với hai vị Uông và Thiệu mà còn đắc tội rất lớn đối với mẹ chúng ta; làm sao bọn ta chịu đựng được nổi!” Do vậy, bèn lựa ngày tốt, dời về chôn chung trong phần mộ cha mẹ. Lại còn lập một tòa tháp đá, viết chữ to “Đại Thành Am Thanh Liên Ni Sư Chi Tháp” (tháp của ni sư Thanh Liên thuộc am Đại Thành), đề ở mặt sau rằng: “Ni sư đắp ca-sa tuẫn nạn, chí hạnh của ngài đáng tưởng nhớ, nên dời di cốt về chôn trong mộ phần cha mẹ chúng tôi, chỉ mong người đời cùng nhau gìn giữ”. Ý của ông Đà là tính kế lâu dài phòng sau này con cháu dời đi nơi khác, hoặc không còn ai nối dõi, không thể không cầu người đời gìn giữ cho!

Có kẻ can gián, cho là không hợp lẽ, ông Đà nói: “Bà ni này chính là vị Tăng tu hành chân thật trong nhà Phật. Lúc còn sống được xa gần kính ngưỡng, khi giặc sắp tràn đến, liền đắp ca-sa tự nịch[19], chẳng kém những bậc đức đẹp, nghĩa sĩ thời cổ cho lắm! Huống chi mẹ tôi rất khâm phục ni sư, thường bảo anh em tôi cúng tế. Nay đem chôn trong phần mộ của cha mẹ cũng giống như thỉnh cao Tăng về nhà cúng dường, có gì là không được? Hơn nữa, vị ni sư này đức đẹp, tiết tháo trong sạch, có lẽ đã siêu phàm nhập thánh, nếu cha mẹ chúng tôi thường được thân cận sẽ được nương nhờ từ lực ngài liền được cao siêu tam giới, gởi thân nơi chín phẩm sen. Do vậy, lòng cha mẹ tôi được vui sướng!” Mạnh Tử coi ‘phú quý chẳng dâm, bần tiện chẳng đổi chí, oai vũ chẳng khuất phục’ là bậc đại trượng phu. Như bà ni đây thoạt đầu bỏ điều ham muốn lớn lao là “ăn uống, trai gái” để trường trai thờ Phật, tinh tu phạm hạnh, khi mất thì có tiết tháo lớn lao “tự giết mình để thành tựu điều nhân, bỏ mạng sống để giữ nghĩa”, ngõ hầu chẳng phụ tánh linh của chính mình, chẳng gây tỳ vết cho sự giáo hóa của Phật, nêu gương cho trời – người, dứt thói tục suy đồi đời Mạt, chẳng đáng gọi là bậc trượng phu trong nữ giới hay sao? [Ni sư] đáng để Đường Đà dựng tháp, lại còn cầm “y câu”[20] cầu khắp các danh nhân đề lời tán thán hòng phát huy u quang nơi đức hạnh ngầm kín của bà ta, mong sao thế đạo khỏi suy đọa vậy. Do đó, tôi bèn nêu bày nghĩa lý ẩn kín như thế đó.

  1. Bày tỏ ý nghĩa ẩn kín của việc lập trường học trong nhà thờ ông Đường Hiếu Tử

      Mạnh Tử nói: “Ai cũng có thể là Nghiêu – Thuấn”. Lại nói: “Đạo của Nghiêu – Thuấn chỉ là Hiếu – Đễ mà thôi!” Hữu Tử[21] nói: “Quân tử chăm lo nơi cái gốc, gốc được lập thì đạo sanh. Hiếu – Đễ chính là cái gốc của lòng Nhân vậy”. Như vậy, thành Nghiêu – Thuấn, đạt lòng nhân chẳng ngoài tận lực hành Hiếu – Đễ, thoạt đầu chẳng có gì là lạ lùng, đặc biệt, huyền diệu, gian nan khốn khổ đến nỗi dù muốn làm cũng không thể làm được! Ai nấy phải nên gắng sức để khỏi phụ đức tánh chỉ riêng con người là “vạn vật chi linh”, sánh cùng thiên địa gọi là Tam Tài. Trời đất thật rộng, thật lớn, con người chỉ có cái thân bảy thước mà lại có thể xưng ngang hàng với trời đất là vì có thể tán trợ sự sanh trưởng, nuôi nấng của trời đất, kế tục chí hướng, sự nghiệp của thánh hiền. Nếu không, cứ mưu mẹo, quỷ quyệt, bại hoại luân thường, gây loạn phong tục, gây ô nhục cho cả trời đất lẫn nhân loại thì hình dáng tuy là người, nhưng thật ra chẳng bằng cầm thú! Cầm thú chẳng biết lễ giáo, còn con người biết lễ giáo, biết lễ mà trái nghịch thì phải ở dưới loài cầm thú. Con người như vậy sống làm loài cầm thú mặc áo đội mũ, chết ắt đọa trong tam đồ ác đạo.

Con người sao lại khổ sở dùng cái tư chất làm Nghiêu – Thuấn, làm bậc nhân từ, để cam lòng mãi mãi làm loài chúng sanh đáng thương trong súc sanh, ngạ quỷ, địa ngục, thật ra là do cái tâm gì vậy? Không có gì khác cả, đều là do giáo dục trong gia đình chưa tới nơi tới chốn, cũng như do chính mình chẳng nỗ lực mà nên nỗi! Gần đây, phong tục Âu Tây dần dần lan đến, những kẻ theo tân học chán cái cũ, thích cái mới, ùa theo như ngựa chạy quàng. Phàm những chỗ hay vì nước vì dân của người Âu thảy đều chẳng học, còn những chỗ khinh miệt lễ nghĩa, loạn luân thường của họ lại dốc sức học đòi. Rốt cuộc phế kinh, phế luận, căm ghét lòng hiếu v.v… không gì chẳng làm, chỉ muốn cho con người hoàn toàn chẳng khác gì cầm thú mới thôi! Những người có lòng lo cho thế đạo nhân tâm, ai nấy đều ôm lòng lo lắng.

Ông Đường Đà ở Võ Tấn muốn cứu vãn phong tục suy đồi, thấy sự tích của tiên tằng tổ[22] là Đường Hiếu Tử, tức An Bang Công, tuy đã được phô tỏ, chép trong ấp thừa (sổ bộ trong làng), nhưng chưa lập miếu thờ, người biết đến cũng ít nên bèn lập miếu, khắc bia để tỏ rõ đức. Lại lập một trường tiểu học trong miếu thờ, đặt tên là Đường Hiếu Tử Từ Hiệu (trường học trong nhà thờ ông Đường Hiếu Tử) để những con em nhà nghèo nơi ấy đến học, ngõ hầu trông thấy tên nghĩ đến nghĩa, học đòi tiền nhân, giữ vẹn cái gốc, trọng luân thường, tận hết bổn phận. Ban đầu thì hầu hạ, phụng dưỡng cho cha mẹ được an thân; kế đến là lập thân hành đạo để cha mẹ được vẻ vang. Đã có hiếu thì ắt sẽ có thể dốc sức tu tập hiếu, đễ, trung, tín, lễ, nghĩa, liêm, sỉ v.v… Đã thực hiện được cái đạo làm người thì cái đạo làm Nghiêu – Thuấn, làm bậc nhân từ cũng đạt được, mà cái đạo “tán trợ quyền sanh trưởng, dưỡng dục của trời đất, kế tục chí hướng, sự nghiệp của thánh hiền” cũng có thể tùy phần mà đạt được! Ý của ông Đà là như thế đó. Do vậy, chẳng từ nhọc nhằn, bán chữ để lo liệu, thật có thể nói là người dốc lòng nơi cái gốc, trọng luân thường, đề cao đức, hâm mộ nghĩa, ông Đà là người hiền vậy. Cháu ông ta là Doãn Trung cũng tùy sức khuyến trợ, đủ thấy trong họ Đường có lắm người hiền.

Tuy thế, ông Đà hiền là có nguyên do. Xét ra, khi ông Đà mới được năm tuổi, cha là cụ Tuân Chi qua đời; khi ấy, anh ông Đà là Quang Thịnh mười một tuổi, em gái mới ba tuổi, gia cảnh nghèo nàn, lênh đênh cô khổ không sao nói nổi. Mẹ ông là bà Trâu Cung Nhân hằng ngày siêng năng khâu vá, thêu thùa, giặt quần áo thuê để kiếm sống qua ngày hầu nuôi dạy con khiến cho anh em ông Đà đều thành người vẹn đức. Bà lại vì chồng mua đất làm nơi chôn cất. Lập xong, người trong thôn dời di cốt của ni sư Thanh Liên thuộc am Đại Thành vào chôn trong đó. Trâu Cung Nhân hỏi han kỹ, biết [ngọn ngành], chẳng những không lấy đó làm điều tỵ hiềm, trái lại còn sanh lòng kính ngưỡng sâu xa. Hằng năm, cúng tế, tảo mộ, dạy hai con đến tế mộ ni sư. Đến khi Cung Nhân mất đi, chủ đất dời [hài cốt ni sư] chôn đi nơi khác. Anh em ông Đà cảm lòng từ của mẹ, lại sợ sau này mất dấu, nên đem về chôn trong phần mộ của cha mẹ, lại dựng tháp để biểu lộ đức cao đẹp, tiết tháo thanh khiết của ni sư. Khi chồng mất, Trâu Phu Nhân tuổi còn rất trẻ, cam phận nghèo cùng, thủ tiết nuôi dạy hai con, kính ngưỡng ni sư đem thân tuẫn pháp[23] giống như Từ Mẫu nước Ngụy[24], người cô có nghĩa đất Tề, đức đẹp, trinh tâm đáng làm gương cho đời. Vì thế, khiến cho ông Đà tuổi quá năm mươi vẫn chẳng giảm lòng quyến luyến, ngưỡng mộ, muốn tỏ rộng lòng hiếu để báo ân mẹ, nên mới lập nhà thờ này, lập trường học trong ấy để dạy con em nhà nghèo trong làng, hòng làm căn cứ để vãn hồi thế đạo nhân tâm. Có thể nói là dốc lòng thờ mẹ, trọn hết đạo con.

Do vậy, tôi bèn phát huy ý nghĩa ẩn tàng ngõ hầu hiếu hạnh của An Bang Công và đức ngầm của Trâu Cung Nhân đều được tỏ rõ, khiến cho người thấy nghe thảy đều phát tâm. Hiếu Kinh nói: “Đại hiếu là kinh của trời, nghĩa của đất, hạnh của dân”. Do vậy, nói rằng: “Một lời, một hạnh chẳng hợp đạo đều là bất hiếu!” Vì thế mới nói: “Hiếu – Đễ là cái gốc của lòng nhân. Đạo của Nghiêu – Thuấn chỉ là Hiếu – Đễ mà thôi!” Phàm những ai làm con không thể không suy nghĩ sâu xa, cực lực hành theo vậy!

  1. Duyên khởi của Hội Nghiên Cứu Phật Học Cao Châu, tỉnh Quảng Đông

(viết thay cho ông Hà Kiếm Tinh)

      Phật pháp không gì lớn chẳng bao trùm, không gì nhỏ nhặt chẳng nêu. Y theo pháp này tu tập thì chẳng những có thể đoạn Hoặc chứng Chân, liễu sanh thoát tử, mà đối với đạo “cách vật trí tri, chánh tâm thành ý, tu – tề – trị – bình, làm sáng tỏ Minh Đức, đạt đến chí thiện” nếu như thấu hiểu Phật pháp sẽ bớt được nửa công sức mà đạt hiệu quả gấp bội. Bởi lẽ những gì thánh nhân thế gian đã nói chỉ nhằm dạy con người trọn hết bổn phận, chỉ có bậc thượng trí mới có thể tuân theo trọn vẹn, chứ nếu là kẻ căn tánh trung hạ ắt sẽ hờ hững bỏ qua. Phật dạy tường tận sự lý nhân quả báo ứng, sanh tử luân hồi và “hết thảy chúng sanh đều sẵn đủ Phật tánh, đều có thể thành Phật”, khiến cho kẻ thượng trí ắt mong chứng được điều mình sẵn có, kẻ hạ ngu cũng chẳng dám phóng túng buông tuồng kẻo chuốc lấy tội khổ trong vị lai, thế tất nhiên sẽ cải ác hướng thiện, mong thành thánh thành hiền, dẫu ở trong nhà tối, phòng kín vẫn thường như đối trước Phật, trời.

Đức Như Lai dùng Tam Quy, Ngũ Giới, Thập Thiện để thâu nhiếp khắp hàng tại gia nam nữ. Tu được Ngũ Giới Thập Thiện sẽ thắng được hung tàn, dứt bỏ giết chóc, bỏ tồi tệ, khôi phục thuần hòa, mãi mãi lìa khỏi ác báo tam đồ, thường hưởng khoái lạc trời – người. Pháp nông cạn nhất còn được như thế, huống chi là pháp sâu xa nhất. Vì thế biết đức Như Lai là đại sư của tam giới, là cha lành của bốn loài, là bậc thánh của chư thánh, là trời của các trời. Do vậy, vua thánh tôi hiền, người thông hiểu, bậc thấu đạt không ai chẳng y giáo tu tập, hộ trì, lưu thông bởi lẽ hết thảy các pháp lấy tâm làm gốc, chỉ có Phật pháp dạy rõ rốt ráo cái tâm. Xét từ thời Đông Hán, đại giáo từ phương Tây truyền qua. Gần hai trăm năm, chỉ lưu truyền ở phương Bắc. Đến thời Tam Quốc, ngài Khang Tăng Hội cảm hóa được Tôn Quyền, người phương Nam mới bắt đầu được thấm nhuần sự giáo hóa của Phật. Đến đời Tấn, Phật pháp truyền khắp toàn quốc và Cao Ly, Nhật Bản v.v… Đến đời Đường, các tông đều có đủ, có thể sánh bằng Tây Thiên.

Mấy trăm năm qua, pháp đạo lưu thông, cao nhân như rừng, chép trong các truyện ký không biết bao nhiêu mà kể. Pháp phái Tào Khê phát xuất tại đất Việt Đông[25] ta, truyền tâm ấn của Phật, không ai chẳng sùng mộ. Do vậy, biết đất Việt (Quảng Đông) tuy là nơi biên địa, nhưng lại có đại nhân duyên đối với đại pháp của Như Lai. Do vậy, Thiền Tông hưng khởi mạnh mẽ, trong hai chúng tại gia cũng vẫn có nhiều người triệt ngộ cái mình sẵn có, minh tâm kiến tánh. Đến các đời Tống, Nguyên, Minh, pháp đạo chẳng suy. Vào cuối thời Minh, đột nhiên [Phật pháp] hưng khởi mạnh mẽ, ngài Hám Sơn do hoằng pháp bị sàm báng, phải tội đày đi Việt Đông, [nhờ đó] trung hưng Tào Khê. Khi ấy, giặc giã tứ bề, bá tánh khốn khổ, quan Chế Đài[26] chẳng biết tính cách nào, ngài Hám Sơn dùng lời giảng giải dẹp tan. Đọc bộ Hám Sơn Niên Phổ và Niên Phổ Sớ sẽ biết dân đất Việt gội ân đức đại sư rất sâu.

Đến khi có nhà Thanh, tôn sùng, kính trọng Phật pháp thật mạnh mẽ, Thế Tổ (Thuận Trị) tuân theo chế định của Phật, bãi trừ lệ thí Tăng và quy chế cấp độ điệp, cho tùy ý xuất gia. Đương thời, cao nhân như rừng, lệnh ấy khá hữu ích, nhưng điềm khiến cho Phật pháp suy vi thật sự đã bắt đầu từ đây. Từ đó về sau, hơn một trăm năm, Phật pháp vẫn còn hưng thạnh. Từ thời Gia Khánh – Đạo Quang trở đi, bậc triết nhân ngày càng hiếm, người nêu gương càng kém, quốc gia chẳng chú trọng đề xướng, tăng lữ suy đồi chẳng gắng sức. Lại thêm vào thời Hàm Phong – Đồng Trị, chiến tranh liên miên, bậc tiền tu đã mất, đám hậu côn (con cháu) cũng chẳng nghe thấy ai, đến nỗi nhiều kẻ thô bỉ, bại hoại, vô lại trà trộn vào pháp môn. Hàng nho sĩ tại gia nếu không có tri kiến lỗi lạc không ai chẳng cho Phật pháp là ung nhọt, cho là vô ích đối với nhân dân, quốc gia, nhưng đại kinh đại pháp “cách vật trí tri, chánh tâm thành ý, tu – tề – trị – bình và đoạn Hoặc chứng chân liễu sanh thoát tử” của đức Như Lai nếu không nghiên cứu nào ai biết được. Những kẻ theo tân học xuất hiện, lầm lạc cậy vào ý mình, mặc tình gièm báng, khinh nhờn, đến nỗi những kẻ hủy chùa, đuổi Tăng nối nhau dấy lên. Mấy năm gần đây, nhân sĩ các giới mở rộng tầm mắt, biết Phật là đạo độc nhất vô nhị trong thế gian, chẳng những không xung đột với hết thảy triết học, khoa học, chính trị, luật pháp, mà còn có thể giúp cho hết thảy triết học, khoa học, chính trị, pháp luật đều đạt được lợi ích thật sự. Do vậy, phàm những ai có chí muốn tự thấy được bản lai diện mục và vãn hồi thế đạo nhân tâm không ai chẳng nghiên cứu Phật pháp, thọ Tam Quy để chánh tam nghiệp, vâng giữ Ngũ Giới, tu Thập Thiện, ăn chay, niệm Phật, kiêng giết, phóng sanh, [những chuyện] xưa kia bị chê bai là hạnh của kẻ ngu phu, ngu phụ, nay vĩ nhân, danh sĩ đều làm. Do vậy, mọi nơi đều lập ra hội nghiên cứu Phật học, Phật kinh lưu thông xứ (nơi phát hành, truyền bá kinh Phật). Suy đồi cùng cực ắt sẽ khôi phục, bỉ cực ắt thái lai. Nay thế đạo nhân tâm đã suy hãm đến cực điểm, nếu chẳng dùng “nhân quả báo ứng, sanh tử luân hồi và hết thảy chúng sanh đều có Phật tánh, đều có thể thành Phật” để giáo huấn, quyết khó thể thâu được hiệu quả. Do một niệm tâm tánh của chúng ta bất biến tùy duyên, tùy duyên bất biến, hễ gặp ngộ tịnh duyên bèn chứng tam thừa và Phật pháp giới. Hễ theo mê nhiễm duyên bèn thành nhân – thiên và bốn ác thú pháp giới. Tuy mười pháp giới thăng – trầm, sướng – khổ khác xa như trời với đất, nhưng tâm tánh sẵn có tại phàm chẳng giảm, nơi thánh chẳng tăng. Nếu hiểu chắc chắn nghĩa này, dẫu táng thân mất mạng quyết chẳng chịu bỏ ngộ tịnh duyên, chọn lấy mê nhiễm duyên để rồi bao kiếp luân hồi, không thể thoát ra. Do vậy, biết những pháp nhân quả báo ứng sanh tử luân hồi trị được cả gốc lẫn ngọn, là đại đạo để phàm lẫn thánh cùng theo, là phương tiện lớn lao để thánh nhân thế gian, xuất thế gian bình trị thiên hạ, độ thoát chúng sanh. Trong thời buổi hiện tại, nếu bỏ pháp này thì dẫu cho Nghiêu, Thuấn, Vũ, Thang, Văn, Võ, Châu, Khổng cùng xuất thế cũng chẳng biết làm sao!

Thiên hạ chẳng yên, thất phu có trách nhiệm! Phật pháp cao vời bị điêu tàn đã lâu, xuất gia lẫn tại gia đều đang trong mộng mị. Những đồng nhân lập ra hội nghiên cứu Phật học và Phật kinh lưu thông xứ để những người có chí tự lập, lập người tùy theo thiên tư của mình mà tu trì. Người sâu xa bèn thấy sâu xa, khó gì chẳng đoạn Hoặc chứng Chân, liễu sanh thoát tử. Người nông cạn sẽ thấy nông cạn, cũng có thể sửa lỗi làm lành, mong thành thánh thành hiền, vãn hồi thế đạo nhân tâm, thúc đẩy đạo đức của nhân quần, cố nhiên phạm vi chính trị và tôn giáo chẳng giẫm chân nhau, mà cũng chẳng mâu thuẫn nhau. Một lòng thành khăng khăng, xin hãy rủ lòng soi xét.

  1. Duyên khởi của Thượng Hải Phật Học Biên Tập Xã

      Tâm tánh chính là căn bản để hết thảy phàm – thánh trong mười pháp giới đọa địa ngục hay sanh lên trời, chứng chân, thành Phật. Nhân quả là phương tiện lớn lao để hết thảy thánh nhân thế gian, xuất thế gian bình trị thiên hạ, độ thoát chúng sanh. Nhưng tâm tánh này ai nấy vốn tự có đủ, chân thường tịch chiếu, mầu nhiệm chẳng thể diễn tả được. Chỉ do mê chưa ngộ nên chẳng những không thọ dụng được, trái lại còn dùng sức tâm tánh này để khởi Hoặc tạo nghiệp; do nghiệp đọa khổ, xoay vần trầm luân, mê muội, luân hồi sáu nẻo đến tận đời vị lai, trọn không có lúc thoát ra được, khiến cho đức Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn ta rủ lòng thương xót, khởi lòng Vô Duyên Từ, vận lòng Đồng Thể Bi, chẳng lìa Tịch Quang, thị hiện giáng sanh trong thế gian, tinh tu phạm hạnh, thành Đẳng Chánh Giác. Do vậy, Phật than: “Lạ thay! Lạ thay! Hết thảy chúng sanh đều đầy đủ trí huệ, đức tướng của Như Lai, nhưng do vọng tưởng, chấp trước nên chẳng chứng đắc. Nếu lìa vọng tưởng thì Nhất Thiết Trí, Tự Nhiên Trí, Vô Ngại Trí liền được hiện tiền”.

Bởi đó, tùy cơ thuyết pháp khiến cho [chúng sanh] được độ thoát. Nhưng do căn khí sai biệt nên pháp không có tướng nhất định, hoặc Tiệm, hoặc Đốn, hoặc Quyền, hoặc Thật, hoặc Hiển, hoặc Mật, hoặc Tánh, hoặc Tướng, cốt sao đều được triệt ngộ, triệt chứng diệu Chân Như tánh “tại phàm chẳng giảm, nơi thánh không tăng, suốt ngày tùy duyên, nhưng suốt ngày bất biến” mới thôi. Do tâm tánh này về Thể tuy bất biến, nhưng Dụng lại thường tùy duyên, do thuận theo mê nhiễm duyên dầy hay mỏng sai khác mà thành sáu phàm pháp giới. Do nương theo ngộ tịnh duyên sâu – cạn khác biệt mà thành bốn thánh pháp giới. Đã biết Thể thường bất biến, do mê – ngộ, thuận – nghịch nên Tướng – Dụng khác biệt vời vợi, ai không muốn bỏ mê nhiễm duyên, thuận theo ngộ tịnh duyên, khôi phục thiên chân sẵn có, viên thành vô thượng giác đạo ư? Mười pháp giới mỗi mỗi đều chẳng ra ngoài nhân quả, muốn lìa khổ được vui siêu phàm nhập thánh thì cố nhiên nên chọn lựa cẩn thận.

Lại sợ chúng sanh nghiệp nặng chướng sâu, dù có trồng thiện căn, được sanh trong trời – người, nhưng chưa đoạn Hoặc ắt phải tạo nghiệp, một khi đọa vào ác đạo, chẳng có lúc hết khổ. Vì vậy, do tâm đại từ bi, đức Phật đặc biệt mở ra pháp môn Tịnh Độ để phàm phu đầy dẫy phiền não trong đời hiện tại liền thoát khỏi Sa Bà, sanh về Cực Lạc, cùng với các vị Bồ Tát thuộc những địa vị Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Thập Địa, Đẳng Giác như Quán Âm, Thế Chí, Văn Thù, Phổ Hiền v.v… cùng tụ hội một chỗ, thân cận Phật Di Đà để dần dần chứng được đạo quả. Ôi! Ân Thế Tôn có thể nói là tột bậc, dẫu trời che đất chở cũng khó ví được chút phần! Đến khi chúng sanh căn cơ [phù hợp] đã hết, sự ứng hiện của Như Lai phải thôi dứt, nhưng lòng đại bi lợi sanh trọn chẳng cùng tận. Do vậy, các đại đệ tử phân bố xá-lợi, kết tập Kinh Tạng hòng lưu thông khắp pháp giới, để tất cả đều được thấm nhuần pháp.

Đến thời Đông Hán, đại giáo mới bắt đầu truyền sang [Trung Hoa]. Nhưng do phong khí chưa được mở mang nên chỉ lưu truyền ở phương Bắc, đến năm Xích Ô thứ tư (241) đời Tôn Ngô, tôn giả Khang Tăng Hội khai hóa ở Kiến Nghiệp[27], được xá-lợi của Như Lai giáng lâm, khiến Tôn Quyền hết sức tín ngưỡng bèn dựng chùa xây tháp để hoằng dương pháp hóa. Pháp được lưu truyền ở phương Nam từ đó. Đến đời Tấn, pháp được truyền khắp các nước Cao Ly, Nhật Bản, Diến Điện, An Nam, Tây Tạng, Mông Cổ. Từ đấy trở đi, ngày càng hưng thạnh. Đến đời Đường có đủ các tông, có thể nói là cực thạnh. Thiên Thai, Hiền Thủ, Từ Ân hoằng Giáo, Lâm Tế, Tào Động, Quy Ngưỡng, Vân Môn, Pháp Nhãn hoằng Tông, Nam Sơn nghiêm tịnh Tỳ Ni (Luật), Liên Tông chuyên tu Tịnh Độ. Như những chức vụ thuộc các ty sở của các bộ, như công dụng của sáu căn giúp đỡ lẫn nhau. Ấy là vì Giáo là Phật ngữ, Tông là Phật tâm, Luật là Phật hạnh. Ba thứ tâm, ngữ, hạnh quyết khó thể tách rời, ước theo chỗ chuyên chú mà lập những danh hiệu ấy. Chỉ có mình pháp Tịnh Độ thoạt đầu là phương tiện để phàm phu nhập đạo, chứ thật ra là chỗ quy túc rốt ráo của các tông. Vì thế, kẻ sắp đọa A Tỳ còn được dự vào phẩm cuối, bậc chứng bằng với chư Phật vẫn mong vãng sanh.

Khi Như Lai tại thế, ngàn căn cơ đều được dưỡng dục, vạn phái chầu về; đức Phật diệt độ rồi, bậc hoằng pháp đại sĩ mỗi vị hoằng dương một tông, để mong thâm nhập một môn thì các pháp đều thông. Ví như ngàn hạt châu nơi cái lưới của Thiên Đế, mỗi một hạt châu chẳng lẫn vào nhau, nhưng một châu lại nhập vào trong khắp ngàn hạt châu, ngàn hạt châu được nhiếp trong một hạt châu, hòa lẫn vào nhau nhưng chẳng xen tạp, riêng biệt nhưng chẳng tách rời. Kẻ câu nệ hình tích cho là hết thảy pháp, mỗi pháp đều khác biệt. Người khéo hiểu thấy hết thảy pháp, pháp nào pháp nấy viên thông. Như bốn cửa thành, gần cửa nào bèn vào bằng cửa đó, cửa tuy bất đồng, nhưng vào [trong thành] rồi chẳng khác gì nhau. Nếu biết ý này thì há phải đâu chỉ có những lý chắc thật rất sâu do chư Phật, chư Tổ đã nói mới là pháp để quy chân đạt gốc minh tâm kiến tánh? Khắp cả thế gian, hết thảy Ấm, Nhập, Xứ, Giới, Đại v.v… mỗi mỗi đều là pháp để quy chân đạt gốc minh tâm kiến tánh. Đã thế, mỗi mỗi đều là Chân, là Gốc, là Tâm, là Tánh. Vì vậy, kinh Lăng Nghiêm coi Ngũ Ấm, Lục Nhập, Thập Nhị Xứ, Thập Bát Giới, Thất Đại đều là Như Lai Tạng Diệu Chân Như Tánh. Do vậy, nói “không một pháp nào chẳng phải là Phật pháp, cũng như không một ai chẳng phải là Phật”.

Hiềm rằng chúng sanh châu trong chéo áo trọn chẳng biết hay; ôm của báu đi ăn xin, chịu nghèo khổ oan uổng, dùng tâm Như Lai tạo nghiệp chúng sanh, dùng pháp giải thoát để chịu khổ luân hồi, chẳng đáng buồn ư? Vì vậy, hoằng pháp đại sĩ chẳng nề khổ sở, dùng đủ mọi phương tiện chỉ bày, hướng dẫn, khiến cho họ hiểu chắc thật sự lý nhân quả của mười pháp giới, triệt ngộ tự tánh của cái tâm để rốt ráo viên chứng. Từ Đường tới Tống, sang Nguyên, sang Minh rồi đến Thanh, trọn một ngàn năm, thanh giáo chẳng suy. Tuy chẳng hưng thịnh bằng đời Đường, vẫn có thể nói là chỉ kém hơn đôi chút. Từ thời Hàm Phong – Đồng Trị trở đi, chiến tranh liên miên, đói kém liên tiếp, cao nhân ngày càng hiếm hoi, kẻ tầm thường ngày càng đông đảo, quốc gia chẳng rảnh rang để đề xướng, tăng lữ không có sức chấn hưng. Do vậy, những vị cao nhân tại gia vì chưa từng nghiên cứu, lầm lạc học theo thói cũ của họ Âu, họ Hàn, khiến cho Phật pháp suy bại sát đất.

Đến cuối đời Thanh, học giới mở rộng, những người thiên tư cao đều xem đọc kinh Phật, mới biết cái gốc đạo là đây, bèn đều lắng lòng nghiên cứu. Đến khi Dân Quốc thành lập, pháp luật, quy chế đổi mới, quyền tự do tôn giáo được ghi trong hiến pháp. Hơn mười năm qua, phong khí rộng mở. Phàm vĩ nhân thuộc các giới chính khách, quân sự, học thuật, thương nghiệp, đa phần đều nghiên cứu Phật pháp, ăn chay, niệm Phật. Các vị cư sĩ Cố Liên Thừa, Triệu Vân Thiều v.v…muốn khiến cho đồng nhân cùng được thấm nhuần pháp lợi nên tính lập Phật Học Biên Tập Xã tại ngõ Trường Khang đường Bắc Kinh ở Thượng Hải. Phàm những luận thuyết giải thích rõ tâm tánh, nêu rõ nhân quả, lợi ích của việc kiêng giết, phóng sanh, những chuyện cảm thông của việc niệm Phật vãng sanh, cùng những giải thích kinh luận sâu xa uyên áo, những sự tu trì của bậc nhân sĩ cao đẹp đều thâu thập, biên tập, mỗi tháng ra một số để hiến cho người đương thời, ngõ hầu những người không biết Phật pháp sẽ do đây được biết, kẻ biết Phật pháp đôi chút [sẽ do đây] dần dần hiểu biết thù thắng hơn. Nếu có thể tuân theo ngôn giáo của Phật, đừng làm các điều ác, vâng làm các điều thiện, trọng lòng kính, giữ lòng thành, gột tâm rửa lòng thì không những thiên tai, nhân họa sẽ do đây được tiêu diệt, mà phong tục lại thuần hậu, tốt đẹp, hưởng mãi thái bình. Sẽ thấy triệt ngộ duy tâm, đích thân thấy được Phật tánh, xa lìa nhân khổ quả khổ tam giới, chứng nhân vui, quả vui Nhất Thừa, để khỏi phụ Chân Như diệu tánh sẵn có trong tâm này vậy.

  1. Đề từ và duyên khởi của Thường Trai Hội

      Tâm tánh của chúng sanh bằng với chư Phật. Do thiện nghiệp hay ác nghiệp mà quả báo chia thành con người hay súc sanh. Con người có tri thức, súc sanh chẳng có tài khéo. Cậy mạnh hiếp yếu, bèn giết chúng ăn thịt. Con nhà thành đạt còn chẳng vay nợ nặng, há nên giết thân chúng chỉ để sướng miệng, oán hận cố kết, trải bao kiếp đền trả lẫn nhau! Thử suy nghĩ đến đó, trong tâm đau thương. Vì vậy, bèn nhóm họp đồng nhân cùng lập ra hội này. Phàm trăm chuyện thù tiếp đều dùng đồ ăn chay, lập riêng quy ước và thuật duyên khởi, nguyện khắp cả những ai thấy nghe đều dốc lòng nghĩ chúng sanh như ruột thịt, coi chúng như chính bản thân mình.

      Vốn là vì hết thảy những chúng sanh trên không, dưới nước, trên cạn, không một loài nào chẳng biết đau đớn, sướng – khổ, không một loài nào chẳng biết tham sống sợ chết, không một loài nào chẳng phải là cha mẹ, anh em, chị em, vợ con, bằng hữu, thân thích trong vô lượng kiếp của chúng ta. Hơn nữa, trong đời vị lai không con vật nào chẳng thể gieo sâu thiện căn, tu trì Tịnh nghiệp, đoạn Hoặc chứng chân, viên thành Phật đạo; chỉ vì ác nghiệp đời trước, phải đọa trong dị loại. Do vậy, hãy nên sanh lòng thương xót che chở, khiến chúng đều được sống yên vui, há nên cậy mạnh hiếp yếu, hoặc dùng trí bắt lấy, hoặc dùng tiền mua lấy những loài ấy để cung cấp cho bụng miệng? Chúng nó tuy sức không chống cự lại được, nhưng cố nhiên tâm [oán hận] cố kết, cho nên trong đời đời kiếp kiếp lần lượt giết lẫn nhau. Vì thỏa bụng miệng một chốc để rồi thân mạng bị giết nhiều kiếp. So với chuyện tự giết mình còn khốc liệt hơn vạn phần. Sao lại khổ sở chuốc lấy chuyện tai ương, họa hại; sao lại ngu mê cùng cực đến thế?

Xưa kia, nước Lỗ có hai gã dũng sĩ, nghe tiếng nhau nhưng chưa gặp gỡ, một ngày kia gặp được nhau, mua rượu cùng uống. Một gã nói: “Không có thịt uống rượu chẳng vui, hãy đi mua thịt!” Gã kia đáp: “Thịt của tôi với anh đây nè, cần gì tìm nữa!” Gã trước cho rằng kiến giải ấy rất cao, liền trật áo cắt thịt mình để đôi bên cùng ăn. Gã sau lại cắt thịt mình để đáp tạ gã trước, dương dương tự đắc, cho là tình giao du của chúng ta quả thật là tha thiết. Cắt thịt, ăn thịt nhau mãi đến chết! Phàm những ai thấy nghe đều than hai gã ấy ngu quá. Người đời do ăn thịt nên tạo các sát nghiệp, đến nỗi bao kiếp tàn sát lẫn nhau, so với bọn dũng sĩ kia càng khốc liệt hơn nữa. Do không có con mắt Huệ, chẳng biết hậu báo, đâm ra đắc ý, tự kiêu, khoe khoang, chê trách người ăn chay là mê tín và bạc phước. Thế tục quen thói, điềm nhiên chẳng biết là sai. Vì thế, trong kinh Đại Thừa như Phạm Võng, Lăng Nghiêm, Lăng Già v.v… đức Như Lai đã bày tỏ cùng cực lỗi họa của việc sát sanh ăn thịt, có thể nói là lòng chân từ đại bi nhổ gốc, lấp nguồn vậy.

Cõi đời gần đây, sát kiếp thê thảm, ngàn xưa chưa từng nghe thấy. Huống chi những tai nạn nước, lửa, tật dịch, bão tố, động đất, hạn hán, lụt lội v.v… không lúc nào chẳng có. Nói chung là do sát nghiệp làm duyên khởi, khiến cho thế đạo nhân tâm ngày càng đi xuống. Do vậy, thiên tai, nhân họa tiếp nối nhau dấy lên, như đứng trước gương chẳng trốn được bóng. Đồng nhân lo lắng, muốn làm cho người đời cùng vâng giữ chuyện kiêng giết, ai nấy đều ăn chay. Bất luận chúc thọ, cầu phước, quan – hôn – tang – tế, đãi khách, nhóm bạn v.v… đều dùng tiệc chay, một là để trọn vẹn cái tâm trắc ẩn của ta, hai là mong cho những vị thần thánh ta tôn thờ và tổ tông, cha mẹ, bè bạn, thân thích của ta dứt trừ sát nghiệp, tăng trưởng thiện căn, chứ không phải chỉ riêng lo cho hết thảy loài vật sống trên không, dưới nước, trên cạn. Lại mong đây kia bắt chước nhau cho đến khắp cả làng, cả nước và toàn thiên hạ, ắt thấy phong tục tốt đẹp thuần hậu, dân giàu nước mạnh, cùng hưởng sự giáo hóa đại đồng, vĩnh viễn dứt bặt thói tranh đua, chim thú, cá, rùa đều được yên vui, ngõ hầu con người đứng cùng trời đất xưng tên là Tam Tài, cũng như nghĩa lý “Càn là đại phụ, Khôn là đại mẫu, nhân dân và ta cùng là ruột thịt, loài vật cũng giống như ta” chẳng đến nỗi chỉ là nói xuông, chẳng có mảy may thật nghĩa nào!

  1. Duyên khởi quyên mộ xây dựng Tịnh Độ Đường tại Liễu Thị, Lạc Thanh[28]

      Tam giới không yên giống như nhà lửa, các khổ đầy dẫy thật đáng sợ hãi. Chúng sanh ngu si, thường sống trong ấy, dẫu chịu khổ sở cùng cực vẫn chẳng cầu thoát lìa. Dù sẵn có Phật tánh, nhưng do mê trái nên [tánh ấy] lại biến thành cái gốc để khởi Hoặc tạo nghiệp, đến nỗi trải trần điểm kiếp không do đâu giải thoát được. Chẳng đáng buồn ư? Huống chi nay thế đạo nhân tâm chìm đắm đến cùng cực, sát kiếp thê thảm suốt từ xưa đến nay chưa từng nghe thấy. Lại thêm trào lưu tân học bác không nhân quả, [bài xích] đạo nghĩa của thánh hiền, chê là cổ hủ, mặc sức đề xướng ý kiến ức đoán của chính mình. Người đui dẫn lũ mù kéo nhau vào lửa, đến nỗi thiên tai, nhân họa, liên tiếp giáng xuống. Dân đen ngây ngô thật đáng thương xót! Do vậy, những người có tâm lo cho thế đạo mạnh mẽ dấy lên chí lớn muốn cứu giúp dân, bởi lẽ những nghiệp quả ấy đều vì chỉ biết tự tư tự lợi, chẳng biết tam thế nhân quả thiện ác báo ứng, cho là người chết đi thần thức liền diệt, nào có linh hồn theo nhân duyên tội – phước mà thọ sanh trong trời – người hay tam đồ ác đạo! Nếu thiện – ác đều đồng bị diệt mất như nhau, sao không mặc sức mà làm cho sướng khoái thân tâm? Do vậy, hăm hở tranh nhau làm những chuyện nghịch trời, trái lý, tổn người, lợi mình và sát hại sanh mạng hòng sướng bụng miệng, chẳng kiêng dè, áy náy chi!

Nếu biết nhân quả ba đời ắt sẽ sợ phải thọ báo, chẳng dám nẩy sanh chút ý niệm ấy, há còn thực hiện những chuyện ấy hay sao? Do vậy, sự lý nhân quả ba đời sanh tử luân hồi do đức Phật ta đã nói chính là huệ nhật trong đêm dài, niệm Phật cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới chính là thuyền từ trong biển khổ sanh tử. Muốn vãn hồi kiếp vận mà bỏ pháp này thì không còn cách nào cả. Do vậy, những vị Tăng – tục đại tâm các nơi đều miệt mài đề xướng Phật học ngõ hầu thiên hạ thái bình, nhân dân yên vui. Cư sĩ Hồ Thiên Bộc ở Lạc Thanh dựng một tòa Tịnh Độ Đường tại Hồng Kiều, khai giảng vào ngày Rằm tháng Tám, muôn người đều vui vẻ, khen là chưa từng có. Các thiện sĩ ở Liễu Thị ngưỡng mộ khôn cùng, cũng muốn lập một chỗ như vậy nơi thành phố của họ để ai nấy đều được thấm nhuần pháp. Ngoài những khoản đóng góp do những người đề xướng bỏ ra, họ còn tính quyên mộ bốn phương nên cư sĩ Bao Hựu Vũ xin Quang viết sớ.

Trộm nghĩ: Một pháp nhân quả chính là phương tiện lớn lao để thánh nhân thế gian lẫn xuất thế gian bình trị thiên hạ, độ thoát chúng sanh; một hạnh Niệm Phật quả thật là đạo thông đạt để mười phương tam thế chư Phật làm cho các chúng sanh được thoát khổ trong hiện đời. Bỏ pháp này thì tà kiến không do đâu diệt được, lợi ích thật sự sẽ không thể nhờ vào đâu để đạt được! Khế lý, khế cơ lợi ích khó thể nghĩ lường! Khẩn thiết mong những vị đại nhân có sức ai nấy đều tán trợ, khiến cho Phật đường hoàn thành, giảng hội được khai diễn dài lâu, nhân tâm xoay chuyển, kiếp vận mau dứt, ngõ hầu thắng hung tàn, trừ khử giết chóc, phong cách “đối xử với hết thảy mọi người bằng lòng nhân từ” lại được thấy trong ngày nay. Công đức lợi ích ấy ắt sẽ có thọ lượng bằng với mười phương hư không, không ngọn bút nào có thể diễn tả được nổi!

  1. Bài văn cung thỉnh pháp sư Tịnh Quyền giảng kinh Pháp Hoa

(viết thay giám viện chùa Pháp Vũ)

      Cúi mình trộm nghĩ: Tri kiến của Như Lai ẩn náu trong tâm chúng sanh, nếu chẳng do đức Phật nói ra, ai có thể tự ngộ được? Hết thảy các kinh được nói trong cả một đời đức Thích Ca, chỉ có mình kinh Pháp Hoa bàn thông suốt nghĩa ấy. Giơ tay, cúi đầu đều thành Phật đạo; xử sự, nói năng đều thuận chánh pháp. Chỉ minh châu trong chéo áo, thoát khỏi hiểm nạn nhà lửa. Đứa con ăn mày nghèo cùng côi cút lênh đênh là con đích thật của ông trưởng giả. Từ đất dầy vô minh, đạt được suối ngọt pháp tánh. Từ ngay tâm của chúng sanh chỉ ra Như Lai Tạng. [Những điều ấy] nếu chẳng được giảng diễn, ai hòng biết được? Kính nghĩ: Tịnh công đại pháp sư xưa đã lãnh nhận lời Phật phó chúc làm sứ giả của Như Lai thường hoằng đại giáo, lợi lạc khắp muôn loài. Dùng đại trí huệ phát đại biện tài khiến cho đá tảng cũng phải gật đầu, hoa trời rơi đầy đất. Vãn bối ngưỡng mộ phong cách đức hạnh đã lâu, chưa được một lần gặp gỡ. Duyên kém, chướng dầy, thẹn thùng chi xiết! Do vậy, chủ nhân tệ tự tính trong mấy tháng mùa Hạ năm sau thỉnh Ngài giảng diễn kinh Pháp Hoa. Vốn biết tọa hạ vận lòng Bi đồng thể, khởi lòng Từ vô duyên, nên mới mạo muội khẩn cầu, chỉ mong Ngài lặng im chấp nhận, ắt hội Linh Sơn khi xưa sẽ lại được thấy, ai nấy đều cùng chiêm ngưỡng. Vào dịp ấy ai ai cũng đều vào được Phổ Môn của đức Quán Âm. Cúi mong Ngài rủ lòng từ bi thì pháp môn may mắn lắm mà chúng sanh cũng may mắn lắm. Thưa lên cùng Ngài, hết sức khẩn cầu mong mỏi đến cùng cực vậy!

  1. Bài văn cung thỉnh pháp sư Tịnh Quyền giảng Di Đà Sớ Sao

(viết thay trụ trì chùa Pháp Vũ)

      Cúi mình trộm nghĩ: Viên giác diệu tâm hữu tình ai nấy đều có, nhưng tu trì để chứng đắc mấy ai biết phải nên như thế nào. Kính nghĩ: Tịnh công đại pháp sư xưa đã nhận lãnh lời Phật phó chúc thừa nguyện tái lai, khai tri kiến Như Lai, nối tiếp đạo pháp của tông Thiên Thai. Đế quán viên dung, Thiền -Tịnh nhất trí, dắt tam thừa cùng chứng chín phẩm, dẫn ngũ tánh cùng chứng duy tâm. Vãn bối ngưỡng mộ cao phong đã lâu, nhưng thật ít dịp được thân cận. Hổ thẹn làm người giữ gìn môn đình chùa Pháp Vũ, trọn chẳng có trí lực để hoằng dương pháp đạo. Xét kỹ thời tiết, cơ nghi đời hiện tại, chỉ có Tịnh Độ là thích hợp căn cơ nhất. Nghĩ rằng giảng Di Đà Sớ Sao, ngoài Ngài ra, ắt không ai có thể đáp ứng lòng mong mỏi của đại chúng được! Khẩn cầu Ngài chẳng trái bổn thệ, rủ lòng thuận theo hạ tình, đến tháng Bảy năm sau chống tích trượng vào núi hoang, khiến cho tứ chúng trăm ngàn người được gởi lòng nơi bí tạng. Dùng biện tài huyền diệu cuồn cuộn như dòng sông để phô trọn bản hoài của đức Như Lai, khiến cho bản kinh không ai hỏi tự nói này, lời sớ phô rõ cả lý lẫn sự này đều được sáng tỏ thì chẳng những chốn núi hoang được may mắn sâu xa mà pháp môn cũng may mắn sâu xa thay! Chỉ xin Ngài từ bi lặng yên chấp thuận. Thưa lên cùng Ngài, hết sức tha thiết, mong mỏi đến cùng cực vậy!

  1. Quảng cáo khai trương tiệm bán đồ chay của Ninh Ba Công Đức Lâm

      Hết thảy chúng sanh đều có Phật tánh, đều là cha mẹ trong quá khứ, là chư Phật đời vị lai. Lập phương cách cứu giúp, che chở còn e chẳng kịp, lẽ nào chỉ nhằm sướng bụng miệng ta mà giết thân mạng chúng ư? Phải biết những loài vật bay trên không, lặn dưới nước đều có cùng một tâm linh minh giác tri như ta, nhưng vì túc nghiệp sâu nặng cho nên hình thể rất khác biệt, miệng chẳng nói được. Nhìn vào tình trạng tìm tòi cái ăn, trốn tránh cái chết sẽ tự hiểu chúng nó chẳng khác gì con người. Chúng ta nương vào sức túc phước, may mắn được sanh trong loài người, tâm có trí khôn, lẽ ra phải giữ vẹn tình cha trời mẹ đất, coi dân như ruột thịt, xem loài vật như chính mình, hòng khỏi phụ [cái tiếng] sánh cùng trời đất xưng là Tam Tài, phụ trợ quyền sanh trưởng dưỡng dục của trời đất, khiến cho dân lẫn loài vật đều được sống yên, cùng được [trời đất] che chở, cùng hưởng niềm vui [sống hết] tuổi trời thì mới nên!

Nếu chẳng cảm nhận đức hiếu sanh của trời đất, cứ mặc tình giữ ý niệm tham ăn, tham uống, cậy ta mạnh lấn hiếp loài yếu, ăn thịt chúng nó cho thỏa bụng mình, ắt đến ngày nào đó phước xưa đã hết, sát nghiệp hiện tiền, muốn chẳng bị đổi đầu thay mặt, lần lượt bị chúng nó giết ăn, há có được chăng? Huống chi thịt có chất độc do lúc chúng bị giết hại tâm oán hận cố kết lại. Vì thế, những khi ôn dịch lưu hành, người ăn chay rất ít bị truyền nhiễm. Hơn nữa, thịt là thứ uế trược, ăn vào khí huyết dơ, tinh thần tăm tối, phát triển nhanh nhưng chóng suy, là đầu mối dễ nẩy sanh bệnh tật nhất. Đồ chay là phẩm vật tinh khiết, ăn vào khí chất trong sạch, trí óc sáng sủa, khỏe mạnh lâu dài, lâu già, do có nhiều khả năng bồi bổ. Đây tuy là lời bàn thông thường về phép vệ sinh, chứ thật ra chính là lời luận cùng tột tánh. Do tập tục quen thói đến nỗi mê muội chất chứa, không thể phản tỉnh được!

Phải biết: Nhân từ đối với dân thì phải thương yêu loài vật, tàn nhẫn đối với loài vật quyết khó thể nhân từ đối với dân, do tập tánh khiến ra như thế. Vì vậy, khi vua thánh cai trị cõi đời, chim, thú, cá, rùa đều sống yên vui. [Thánh vương dùng] đạo sáng dạy dân, chất keo dính (để bẫy chim), gậy gộc, đạn, cung đều bỏ hết. Thử nghĩ xem, từ xưa đến nay, phàm những kẻ tàn nhẫn, tham tàn, dòng dõi đa phần tuyệt diệt. Người nhân từ cứu giúp con cháu ắt thạnh vượng. Kẻ làm ác, Khổng Tử phán đoán kẻ ấy vô hậu. Kẻ mặc tình ăn thịt, Như Lai dự ký ắt phải đền trả. Xin chớ nói xuông “xa lánh chuyện bếp núc”, đấy chính là lời nói quyền biến thuận theo thế tục. Hãy nên vĩnh viễn dứt những thứ hôi tanh thì mới là thật nghĩa xứng lý.

Gần đây, nỗi thảm sát kiếp quả thật là nghìn xưa chưa từng nghe thấy. Nếu suy xét kỹ càng căn nguyên thì đều là do ăn thịt mà ra. Những bậc lo cho đời ai nấy đều muốn nhổ rễ lấp nguồn, mà Công Đức Lâm được sáng lập ở vùng Thân Giang (Thượng Hải – Giang Tây) là chỗ đã dựng lá cờ đầu. Các vị hương thân[29] như quan Đạo Doãn họ Hoàng, quan Trấn Sử họ Vương, quan Tri Sự họ Khương, ông Trương Nhượng Tam, và ông Ngô Đông Sơn v.v… các vị sa-môn như Đế Nhàn pháp sư, Khai Như, Liễu Dư v.v… cùng thương xót cho sát kiếp trong cõi đời, tính gieo trồng nhân, thọ, hạnh phúc, bèn dấn mình vào chốn bụi trần miền Thân Giang, tự đặt mình làm người xướng suất cho vùng Ninh Ba, lập ra Công Đức Lâm này, đề xướng tiệc chay khiến cho người dân trong vùng mỗi dịp quan – hôn – tang – tế đều dùng tiệc chay, đãi khách, nhóm bạn đều dùng món chay. Dùng hành động nấu nướng nhỏ nhoi thay cho người khác này để tạo thành phương tiện vãn hồi kiếp vận lớn lao. Chuyên mang chí lợi sanh, hoàn toàn chẳng phải chỉ để kiếm lời; do vậy, bèn mời những thợ khéo chế biến món ngon để đáp ứng nhu cầu quan – hôn – tang – tế tiệc tùng của người dân trong vùng, hoặc đến Công Đức Lâm này để dùng, hoặc gởi đến tận nhà cho họ thụ dụng. [Trả công] ít – nhiều, nồng hậu hay sơ sài đều tùy ý. Phàm những ai đoái tưởng tới, quyết chẳng phụ lòng. Khẩn thiết mong thiện tín chốn quan trường hay thương mãi đều phát tâm kiêng giết, bảo vệ sanh vật, cùng bỏ ăn mặn, cùng nhau ăn chay, khiến cho từ phong (gió từ) từ đây được thổi khắp, ngõ hầu sát kiếp từ đây tiêu diệt. Sẽ thấy thời thế hòa bình, được mùa, dân giàu, vật mạnh, vĩnh viễn không có thiên tai nhân họa, hưởng mãi yên vui thái bình. Đấy chính là thâm tâm của các vị như Đạo Doãn phát khởi Công Đức Lâm này, cho nên tôi sáng tối thắp hương niệm Phật khẩn cầu, mong sao các nơi bắt chước theo. Do vậy, bèn trần thuật duyên khởi.

  1. Bài Tiểu Tham[30] dành cho lễ cử hành pháp hội Thủy Lục

(Khải kiến Thủy Lục thọ diên tiểu tham)

(viết thay cho bạn)

      Chỉ một niệm Bồ Đề tâm này chính là thường trụ vô lượng thọ, khiến cho khắp các chúng sanh trong pháp giới công đức tánh – tu đều thành tựu. Kính trông: Trai chủ của Vô Giá Thắng Hội là Thái Thái Tần Định Thánh túc căn sâu dầy, bẩm tánh hiền thục, dốc lòng tin tưởng Phật pháp, quy y Tam Bảo, tu chân trong cõi tục, làm bậc mẫu nghi trong chốn khuê các, tùy duyên hiểu đạo, làm bậc thầy khuôn mẫu cho nữ giới. Thường nhàm lìa Sa Bà, không chỉ lo tính kế quay về cho riêng mình, một dạ vui cầu Cực Lạc mà thường muốn phổ độ quần manh. Nay gặp lúc tuổi bước vào độ lục tuần (sáu mươi), sao Vụ[31] sáng ngời giữa trời, xa lìa những thói quen thế tục, đến thẳng đạo tràng viên thông, tận lực tạ từ những lễ nghi chúc tụng, ăn mừng của hàng thân thích bằng hữu, mà mở hội lớn cho thánh phàm trong pháp giới. Dùng lòng thành của chính mình để cảm từ lực của Tam Bảo khiến cho chồng lẫn mình đều được nghiệp chướng ngầm tiêu, các duyên đều tốt lành: Lúc còn sống hưởng được năm điều phước như sách Hồng Phạm[32] đã nói, khi lâm chung lên ngay Thượng Phẩm trong chín phẩm sen, con vinh, cháu quý, hưởng tốt lành dài lâu trong đời, đạo tốt đẹp, thời thế yên vui, cả nước đều hưởng vui mừng. Chứ nào phải chỉ nhằm làm cho những vị tổ tiên, những người đã mất trước của họ Vương, họ Tần đang được lập trai hội cầu siêu đây đều cùng được sanh Tịnh Độ!

Kính mong mười phương pháp giới, tứ sanh lục đạo, hết thảy hàm thức cùng chứng chân thường. Vốn là dùng cái tâm “tự lập, lập người” của Nho gia để hành chuyện “tự lợi, lợi người” của Bồ Tát. Chỉ vì do tâm sẵn có Phật nên nguyện đem lại tuổi thọ cho mọi người. Ôi! Tánh sẵn có phước thọ mầu nhiệm khó thể diễn tả, khác nào như biển cả, như núi non, cùng tận ba đời không sanh diệt, vượt khỏi hai tầng ải nghĩ – bàn.

  1. Bài Tiểu Tham dành cho các vong linh

(viết thay)

      Tam giới vốn chẳng phải là pháp nào khác, chỉ là do nhất tâm tạo ra. Hiểu các pháp đều do tâm thì siêu phàm chứng giác nào có khó gì! Xét nghĩ như vị cư sĩ X… đang được làm chay để cầu siêu đây xưa đã có linh căn, dốc lòng tin tưởng Phật pháp, thông minh, trí huệ, hiểu thấu suốt, ôn hòa, hiền lành, cung kính, cần kiệm. Lòng hiếu thuận phát xuất từ thiên tánh, lòng nhân từ thấu khắp người vật. Suy nhân tính quả, dùng tâm nghiệm phước, ắt cư sĩ sẽ hưởng thọ dầy, tước cao để rộng mở mối kinh luân. Ngờ đâu tuổi mới vừa nhược quan (hai mươi tuổi) đã chết yểu, liền mất thân mạng. Chắc là do tình yêu thương cha mẹ tha thiết, muốn cho [cha mẹ] cùng được sanh Tịnh Độ nên mới thị hiện vô thường, hòng khích động cái tâm xuất thế cho cha mẹ để thành tựu lòng hiếu “không lòng hiếu thế gian nào lớn lao hơn được”! Có thể nói là “tuy bất hiếu nhưng lại chính là đại hiếu, do vô thường chứng được chân thường” hòng báo ân cha mẹ cũng như cảnh tỉnh đồng luân, hiện thân thuyết pháp, hay khéo không gì sánh ví được!

Nào ngờ lại làm cho tâm cha mẹ thương yêu con càng thêm chân thành, thiết tha, chỉ sợ Tịnh nghiệp của ông chưa chín muồi chẳng thể vãng sanh, bèn đến đạo tràng viên thông, lập Vô Ngại Hội, cứu tế khắp các cô hồn. Do công đức này sẽ khiến cho ông nếu chưa vãng sanh liền được vãng sanh, đã vãng sanh ắt tăng cao phẩm vị. Như vậy là muốn cho ông hiểu Đệ Nhất Nghĩa, ngự lên tòa sen Thượng Phẩm, thấy Di Đà nơi tự tâm, chứng Vô Sanh trong đương niệm, lập bày tiệc chay thơm thảo, lại dạy pháp yếu.

Phải biết: Trước khi được cha mẹ sanh ra, vốn không hề có tướng nam hay nữ; sau khi Tứ Đại chia lìa, chỉ có mỗi một cái tâm linh tri. Do huyễn nghiệp buộc ràng nên chẳng thể liễu thoát ngay lập tức. Nếu phàm tình mau chóng dứt bặt, triệt để gánh vác nào có khó chi? Tướng do nghiệp mà huyễn sanh, nghiệp do tâm mà vọng khởi. Tâm nếu chẳng sanh, nghiệp bèn tiêu diệt. Nghiệp tận tình không, hoàn lại cội, quay về nguồn. Ví như mây tan giữa không trung, vầng mặt trời nhanh chóng hiển hiện bản thể; nước đổ vào biển cả, sông ngòi và biển sâu rộng nào khác chi nhau? Trọn mười phương không thiếu, không thừa, tột cùng ba đời bất sanh bất diệt.

Lý ấy tuy ngộ dễ dàng, chứng được thật khó! Hãy nên phát tâm tín nguyện, cầu sanh Tây Phương, nhất định cậy vào sức của Phật Di Đà mau chóng lìa ngũ trược. Từ đây, hầu cận Như Lai, tham dự vào hải chúng, nghe pháp thọ ký, khai tri kiến Phật, đoạn Hoặc chứng chân, đạt được cái vốn sẵn viên thông. Rồi cậy vào từ lực của Phật, nương theo nguyện luân của chính mình hiện sắc thân trọn khắp pháp giới khiến cho những kẻ mê cùng được lên bờ giác. Ôi! Lâu đài gần nước được thấy vầng trăng trước, hoa cỏ hướng về mặt trời sớm gặp được tiết Xuân. Từ khi được ngài Biến Cát (Phổ Hiền) chỉ dạy, dẫn về [Tịnh Độ], hải chúng đều phế bỏ chuyện đi về phương Nam[33].

  1. Bài Tiểu Tham dành cho vong linh trong trai hội Thủy Lục

(viết thay cho bạn)

      Sa Bà vốn là cõi nước khổ đau, sanh tử luân hồi thật đáng đau thương, nhổ trừ rễ ái trở về Tây, nhiệt não bao kiếp nhanh chóng biến thành mát mẻ. Kính trông vị được cầu siêu trong trai hội này là tiên sinh Thiệu Cầm Đào, xưa đã trồng cội đức, giữ hạnh trong sáng; đọc sách hiểu lý, nêu gương điển hình trong chốn trần ai, học đạo yêu người, giúp việc chánh trị trong chốn quan phủ, buôn bán qua lại khiến cho nước giàu mạnh, ai nấy đều được hưởng gió mát từ hai ống tay áo; giúp nạn phò nguy, tâm riêng nêu một vầng trăng sáng. Lại còn dốc lòng tin tưởng Phật pháp, tôn sùng, kính trọng Tam Bảo. Tuy chưa chuyên tu Định Huệ, nhưng thật đã hợp với từ bi. Sắp bước vào tuổi tri mạng (50 tuổi), liền vứt bỏ thân huyễn; [đây là] chuyện đáng đau lòng nên nhờ cánh tay vàng [của Phật giúp đỡ]. Do vậy, hiếu nam là những vị tên… cùng với các quyến thuộc tính làm lễ truy tiến, mở ra hội lớn Vô Giá.

Phải biết: Tâm, Phật, chúng sanh, ba thứ không sai biệt. Do mê hay ngộ bất đồng cho nên thăng hay trầm thật khác! Nghĩ ngài xưa đã nêu gương “gió mát, trăng trong” tốt lành, vốn là nương oai thần của Pháp Thân Bát Nhã. Hiểu được điều này sẽ tự dứt được cái tâm cuồng nhận lầm hình bóng, khởi chánh trí phản chiếu, mới biết đầu vốn chẳng mất, Phật tự viên thành! Chẳng lìa niệm này, nhập thánh siêu phàm, vĩnh viễn lìa khỏi huyễn khổ hư vọng, thường hưởng pháp lạc chân thường. Lý tuy có thể đốn ngộ, sự khó thể viên mãn ngay. Hãy nên phát thâm tâm tín nguyện cầu sanh Tịnh Độ, chắc chắn sẽ được đức Từ Phụ Quang Thọ dẫn về Liên Bang. Từ đây thần thức siêu thăng cõi Thanh Thái[34], nghiệp tạ từ trần lao, sen nở hoa Thượng Phẩm, Phật thọ ký ngay trong một đời. Sau đấy sẽ nương theo nguyện luân của chính mình, trở vào Sa Bà, nghịch – thuận – ẩn – hiển độ thoát chúng sanh, khiến cho hữu tình khắp pháp giới cùng chứng Phật tánh thường trụ, khiến cho tấm lòng hiểu lý yêu người, tiết tháo gió mát trăng trong theo chiều dọc cùng tột ba đời, theo chiều ngang trọn khắp mười phương. Như vậy mới có thể gọi là chẳng cô phụ ân Phật giáo hóa, chẳng phụ bạc tánh linh của chính mình, siêu quần bạt tụy, thật sự là bậc đại trượng phu. Ôi! Băng và nước tánh ướt nào hai? Chúng sanh và Phật vốn cùng một tâm giác. Chỉ cần quay trở lại nhìn vào tự tánh liền đạt được của quý báu vô giá sẵn có.

  1. Bài Tiểu Tham dành cho vong linh trong lễ cầu siêu cha mẹ ông Trương Tổng Nhung[35] trấn Định Hải

(viết thay)

      Nhất niệm Chân Như tâm tánh sáng ngời trọn đại thiên. Ngộ – mê tuy khác, bản thể vẫn là thiên nhiên. Kính trông: Vị được sắc phong là Trương lão đại nhân… lúc sanh tiền tích thiện tu đức, xử sự nhân nghĩa, nên mất rồi, con cháu nối tiếp nhau hưởng mãi phước lành, gương đức luôn như mới, trâm anh tiếp nối mãi mãi, làm bậc đứng đầu trong chốn cổ quăng[36], làm nanh vuốt cho nước nhà. Nay pháp hội rộng mở, kính cẩn cầu siêu.

Phải gấp hiểu rõ: Lúc sống tích đức nên nay mới có cái tâm hưởng sự cầu siêu. Tánh vốn như như, chẳng dời, chẳng biến, thường tịch, thường chiếu, lìa niệm, lìa danh, viên mãn vô lượng công đức, trọn đủ vô biên diệu dụng. Phàm chẳng thể làm cho tâm ấy giảm tổn, thánh chẳng thể làm cho tâm ấy tăng thêm, chẳng phải sắc, chẳng phải không, trải khắp mười pháp giới chẳng khác, bất sanh, bất diệt, tận cùng ba đời thường hằng. Tâm được diễn tả là “linh quang riêng chiếu, thoát khỏi căn trần, thể lộ chân thường, chẳng câu nệ vào văn tự, tâm tánh vô nhiễm, vốn tự viên thành, chỉ lìa được vọng niệm thì chính là Như Như Phật”. Nếu hiểu được như thế sẽ tự nhiên thấy được thiên chân Phật tánh, thẳng đến vô thượng Bồ Đề. Nếu như chưa thể [làm được như vậy] thì hãy cậy vào đại bi nguyện lực của Phật A Di Đà vãng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới. Nếu phát trọn vẹn ba tâm thì ngay khi đó sẽ lên được chín phẩm, hoa nở thấy Phật, chứng Vô Sanh Nhẫn. Mới biết từ trước thăng trầm sáu nẻo, tích thiện tu đức, cho tới bây giờ đến dự pháp hội, nghe pháp, hưởng thụ sự dâng cúng. Nhất niệm tâm tánh vốn từ đầu đã thanh tịnh không bị nhiễm ô, vốn tự sẵn đủ hằng sa công đức. Ôi! Đường Tây phương rộng rãi thênh thang, thẳng bước về nhà chẳng cần hỏi lối. Do tự mình chẳng về, chứ hễ về liền được. Gió trăng quê cũ há ai tranh?

Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao

Quyển Thứ Tư

(Phần 3 hết)

 


[1] Nghi Nhân: Thời Minh, Thanh vợ các quan thuộc ngạch Ngũ Phẩm được phong là Nghi Nhân. Bà Nghi Nhân này họ Phùng, pháp danh là Bình Trai.

[2] Thái Tự là vợ của Văn Vương

[3] Đây là đoạn đầu bài thơ Tư Tề trong kinh Thi, nguyên văn: “Tư Tề Thái Nhậm, Văn Vương chi mẫu, tư mị Thái Khương, kinh thất chi phụ, Thái Tự tự huy âm, tắc bách tư nam”. Theo chú giải được đăng tải trong trang nhà Trung Quốc Khổng Tử Võng (không rõ tác giả) thì đoạn thơ này phải hiểu như sau: “Thái Nhậm phong thái đoan trang, mẹ đẻ của Văn Vương. Thái Khương đức cao đáng trọng, làm bậc chủ phụ trong vương thất. Thái Tự kế thừa danh tiếng tốt đẹp, nuôi dưỡng con cháu thật đông đảo”. Thái Khương chính là bà nội của Văn Vương.

[4] Bất tiếu: Con cái không xứng đáng, không nối được phẩm hạnh của cha mẹ, tổ tiên.

[5] Di thể ở đây có nghĩa là cái thân ta do chính cha mẹ ban tặng, để lại cho ta nên gọi là “di thể”.

[6] Nguyên văn: “Tánh tương cận dã, tập tương viễn dã”. Câu nói này xuất phát từ thiên Dương Hóa, sách Luận Ngữ. Chúng tôi dịch theo cách giải thích của sách Tứ Thư Bạch Thoại Chú Giải.

[7] Xin các tịnh nghiệp hành nhân đừng quá chú ý thăm dò hơi nóng trên thân người lâm chung khiến người sắp chết đau đớn hay sanh ái luyến, khó thể vãng sanh.

[8] Xưa kia, người Tàu rất coi trọng chữ viết vì đối với họ, chữ Hán là văn tự ghi chép những giáo huấn, đạo đức, luân lý của thánh hiền. Những mảnh giấy có viết chữ Hán đều được thâu nhặt, cất giữ cẩn thận. Nếu giấy đã dơ rách thì thiêu đốt nơi lò sạch, đem tro đi chôn, hay đổ xuống sông.

[9] Nguyên văn: “Ai mạc đại vu tử tâm”. Câu này trích từ sách Trang Tử, thiên Điền Tử Phương: “Phù ai mạc đại vu tử tâm, nhi nhân tử diệc thứ chi” (Buồn không gì lớn lao bằng cõi lòng đã chết, ngay cả cái chết của con người cũng chẳng bằng). “Tử tâm” tức là cõi lòng nguội lạnh, không mong cầu điều gì, thờ ơ, hờ hững, không quan tâm đến gì nữa. Dĩ nhiên sẽ không thể lo tấn tu đức hạnh, đạo nghiệp!

[10] Theo Liệt Nữ Truyện, thiên Tiết Nghĩa, khi quân Tề sang đánh nước Lỗ, thấy một người đàn bà quê tay ẵm một đứa con, tay dẫn một đứa nữa bỏ chạy. Quân Tề đuổi theo, chợt người đàn bà ấy bỏ đứa bé đang bồng xuống, ẵm lấy đứa kia chạy, mặc cho đứa nhỏ khóc lóc chạy theo. Quân Tề lấy làm lạ, bắt người đàn bà lại tra hỏi. Bà ta nói: “Đứa lớn là con của người anh tôi đã mất, đứa nhỏ là con ruột” “Sao bà lại bỏ con dứt ruột đẻ ra để cứu con anh mình?” Bà ta đáp: “Con tôi là tình riêng, còn con anh tôi là nghĩa chung. Nếu bỏ nghĩa chung để lo cho tình riêng thì vua chẳng dung, quan chẳng tha thứ, người nước Lỗ chẳng nhìn đến tôi nữa. Bỏ con đau đớn lắm chứ, nhưng thà bỏ con để trọn nghĩa, chứ vô nghĩa làm sao nhìn mặt người nước Lỗ cho được?” Tướng Tề bèn đóng quân lại, sai sứ tâu với vua Tề: “Chưa thể chinh phạt nước Lỗ được! Người dân nơi biên cảnh còn trọng đạo nghĩa như thế, chẳng chịu để lòng riêng tư làm hại đến lẽ công chánh, huống chi triều thần, đại phu!” Vua Tề nghe theo, cho rút quân.

[11] Thiên hòa: Nói tắt của “thiên thời, địa lợi, nhân hòa” tức thời cơ tốt đẹp, thuận lợi về mặt vị trí (hiểu theo nghĩa rộng là về mặt vật chất) và con người đồng lòng đoàn kết.

[12] Nguyên văn “lân chỉ trình tường” (dấu chân lân hiện điềm lành). Điển tích này xuất phát từ bài thơ Chu Nam trong kinh Thi, ca ngợi con cháu Văn Vương đông đảo đức hạnh. Về sau, mỗi khi mừng ai sanh con trai, người Hoa thường tặng bức liễn có bốn chữ này.

[13] Huyện Ngọc Điền nằm ở vùng Tây Bắc tỉnh Hà Bắc. Thời đầu Dân Quốc, đường sá nơi ấy rất hiểm trở.

[14] Tuyền Châu là một thành phố thuộc vùng duyên hải Đông Nam tỉnh Phước Kiến, nhìn thẳng qua đảo Đài Loan.

[15] Theo từ điển Từ Hải, thiên Vệ Linh Công của sách Luận Ngữ có câu: “Hữu sát thân dĩ thành nhân” và giải thích: Phàm những ai vì chánh nghĩa mà hy sinh đều gọi là “thành nhân”. Sách Tứ Thư Bạch Thoại Chú Giải Giảng: “Người có chí gọi là chí sĩ, người có đức hạnh tốt đẹp gọi là nhân nhân. Chí sĩ nhân nhân trọn chẳng vì ham sống mà làm hại đến điều nhân, chỉ bỏ mạng giết thân để thành tựu điều nhân vậy. Sát thân thành nhân là hy sinh bản thân nhỏ bé của chính mình để làm lợi cho mọi người”. Chúng tôi dịch câu này theo cách giải thích của bộ Tứ Thư Bạch Thoại Chú Giải.

[16] Võ Tấn là một thị trấn trực thuộc thành phố Thường Châu, tỉnh Giang Tô.

[17] Vua mới lên ngôi, đổi niên hiệu, gọi là “cải nguyên”.

[18] Thời Minh – Thanh, vợ các quan tứ phẩm được gọi là Cung Nhân. Bà Cung Nhân này họ Trâu nên gọi là Trâu Cung Nhân.

[19] Tự nịch: Gieo mình xuống nước tự tử, còn gọi là tự trầm.

[20] “Y câu”: Cái móc cài y ca-sa. Ở đây được dùng chỉ hành trạng, đức hạnh của vị xuất gia.

[21] Hữu Tử (khoảng 518 trước Công Nguyên), tên Nhược, tự là Tử Nhược, người ở Phì Thành, là học trò của Khổng Tử, từng đề xướng thuyết “dùng lễ, coi trọng hòa hiếu”. Do ông này khí chất, hình dáng rất giống Khổng Tử, nên sau khi Khổng Tử mất, các môn sinh khác rất kính trọng ông.

[22] Tằng tổ: Ta gọi là ông cố.

[23] Tuẫn pháp: Vì pháp mà hy sinh.

[24] Theo Thái Thượng Cảm Ứng Thiên Hội Biên, Từ Mẫu là người xứ Mạnh Dương, thời Châu Ngụy, là vợ sau của Mang Liễu, sanh được ba người con. Năm người con của đời vợ trước đều không ưa bà. Bà đối xử thật tốt với con chồng, chúng càng thêm căm ghét. Bà dạy con mình chẳng được so bì với con bà vợ trước, thứ gì cũng dành phần hơn cho con chồng. Chẳng lâu sau, đứa con thứ hai của người vợ trước phạm tội, bị xử tội chết. Từ Mẫu hết sức thương xót, sáng tối chạy vạy tìm cách cứu giúp. Có người bảo: “Nó đã không thương bà quá đáng như thế! Sao còn phải nhọc nhằn lo toan như thế?” Bà đáp: “Dẫu con không thương mình, tôi vẫn phải cứu nó. Nếu không như thế, con người vợ trước có khác gì không có mẹ. Vì sợ nó cô đơn nên cha nó phải lấy vợ kế. Kế mẫu làm vợ người ta mà chẳng thương con vợ trước thì có gọi là Từ Mẫu được chăng? Thương con mình, bỏ mặc con chồng, có đáng gọi là Nghĩa hay chăng? Bất từ, bất nghĩa, có đáng sống trên đời nữa chăng? Dẫu nó không thương tôi, tôi quên được nghĩa hay sao?” Có người thuật chuyện với vua Ngụy, vua cảm động bèn hạ lệnh ân xá. Từ đấy năm đứa con chồng đều thương bà như mẹ ruột. Bà dạy dỗ tám đứa con đều thành tài, về sau đều thành đại phu khanh sĩ nước Ngụy.

[25] Đất Quảng Đông còn gọi là Việt Đông.

[26] Chế Đài: Chức quan văn đứng đầu một tỉnh thời Minh – Thanh, sau đổi thành Tổng Đốc.

[27] Kiến Nghiệp chính là Kim Lăng (Nam Kinh) ngày nay. Cái tên Kiến Nghiệp đã có từ thời Hán Hiến Đế (181-234); trước đó, đất này được gọi là Kim Lăng dưới thời Sở Oai Vương, Tần Thủy Hoàng đổi thành Mạt Lăng, Hán Hiến Đế đổi tên thành Kiến Nghiệp.

[28] Lạc Thanh là một huyện thuộc miền Đông Nam tỉnh Chiết Giang. Liễu Thị là một trấn thuộc Lạc Thanh.

[29] Hương thân: các vị thân sĩ (có địa vị, tiếng tăm, đạo đức) trong một vùng.

[30] Tiểu Tham: Dụng ngữ của nhà Thiền, có nghĩa là tùy thời thuyết pháp, khác với bài thuyết pháp theo quy củ nhất định trong pháp đường (“Đại Tham”). Tiểu Tham không có nơi chốn nhất định. Mỗi tối, sau khi đánh chuông thu không, vị phương trượng thấy chúng nhiều hay ít, bèn quyết định thuyết pháp tại tẩm đường (nhà nghỉ), pháp đường hay phương trượng. Lời thuyết pháp thường đề cập đến những điều trọng yếu cũng như những chuyện đúng sai vụn vặt trong ngày. Đến thời Nam Tống, Tiểu Tham mới được phát triển thành loại định kỳ thuyết pháp, có nghi thức nhất định. Do pháp hội Thủy Lục này được tiến hành thay cho tiệc sinh nhật, nên gọi là Thọ Diên.

[31] Tức sao Vụ Nữ, ngôi sao tượng trưng cho nữ giới, còn gọi tắt là sao Nữ (là một ngôi sao trong Nhị Thập Bát Tú), thuộc chùm sao Huyền Vũ (gồm các sao Đẩu, Ngưu, Nữ, Hư, Nguy, Thất, Bích). Sao Nữ còn có tên khác là Tu Nữ, Chức Nữ. Thật ra, sao Nữ là một chòm sao gồm bốn ngôi sao nhỏ ở phương Bắc. Đạo giáo coi ngôi sao này là con rùa thiêng của Huyền Thiên Thượng Đế (tức Huyền Vũ Chân Quân).

[32] Thật ra Hồng Phạm là một chương sách của Kinh Thư, nhưng thường được tách riêng ra như một cuốn sách. Tương truyền tác giả của thiên sách này là Cơ Tử.

[33] Trong phẩm Nhập Pháp Giới của kinh Hoa Nghiêm, ngài Văn Thù (Diệu Cát Tường) dạy Thiện Tài đồng tử lần lượt đi về phương Nam tham học với 53 vị thiện tri thức để học cách thành tựu Bồ Tát Đạo. Vị thiện tri thức thứ 53 là ngài Phổ Hiền (Biến Cát) dạy Thiện Tài dùng mười đại nguyện vương Phổ Hiền để hồi hướng vãng sanh Cực Lạc. Câu này ý nói: Sau khi được ngài Phổ Hiền chỉ dạy quy tâm về Tịnh Độ, đại chúng nhất tâm tu tập Tịnh nghiệp, không cần phải tham học với khắp các tri thức để tìm một pháp môn nào khác thích hợp với căn cơ nữa!

[34] Thanh Thái: Tên khác của cõi Cực Lạc. A Di Đà Phật Cổ Âm Thanh Vương Kinh gọi cõi Cực Lạc là Thanh Thái.

[35] Tổng Nhung là tên một chức quan võ đời Thanh, còn gọi là Tổng Binh. Từ năm 1663 trở đi, chức quan cai quản binh bị toàn một tỉnh được quy về tay quan Tuần Vũ là chức quan văn. Tổng Binh là người trực tiếp chỉ huy quân lính theo mạng lệnh của quan Tuần Vũ. Tuy không có phẩm trật nhất định, nhưng Tổng Binh là người có thế lực nhất trong một phủ hay một tỉnh. Một viên quan Tổng Binh có thể chỉ huy từ một vạn đến một vạn rưỡi quân. Dưới triều Thanh, cả nước Trung Hoa chỉ có chừng 83 tổng binh.

[36] Cổ là bắp đùi, Quăng là cánh tay (từ khủy tay đến bàn tay). Từ ngữ “cổ quăng” được dùng để chỉ những bầy tôi thân cận hữu ích của vua.

Print Friendly, PDF & Email
Did you find apk for android? You can find new Free Android Games and apps.