Want create site? Find Free WordPress Themes and plugins.

Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao
Bửu Quang Tự Đệ Tử Như Hòa Chuyển Ngữ

Quyển Thứ Ba
(Phần 4)

  1. Lời tựa sách Nho Thích Nhất Quán

      Nho – Thích đạo không hai, chúng sanh và Phật tâm không hai. Do con người có cùng một tâm này, tâm cùng một lý này, nên hết thảy hữu tình đều nhờ vào Chân Như Phật Tánh mà được kiến lập. Nhưng chúng sanh và Phật thật khác biệt, phàm – thánh khác hẳn nhau là vì nhân địa mê – ngộ bất đồng, Tu Đức thuận – nghịch sai khác. Do vậy, thánh nhân Nho – Thích đều xuất hiện trong đời làm bậc hướng dẫn, ngõ hầu hết thảy chúng sanh bỏ mê theo ngộ, thấu dòng tột nguồn, khôi phục lại bản tánh sẵn có mà thôi! Sự phát huy tuy có Quyền – Thật, sâu – cạn, phương tiện – cứu cánh bất đồng, nhưng xét về đại thể thì lý thể được đề cao và công phu tu tập không hai.

Phật lấy Giác làm Thể, Giác có Bổn Giác, Thỉ Giác, Bất Giác. Bổn Giác chính là thiên chân Phật Tánh chúng sanh và Phật đều sẵn có, tức là Tánh Đức vậy. Còn Thỉ Giác là diệu trí do dựa theo lý Bổn Giác, phát khởi tu tập chân thật, đối trị phiền não tập khí khiến cho chúng bị tiêu diệt không còn sót. Đó chính là Tu Đức. Bất Giác là mê trái Bổn Giác, sanh khởi chấp trước vào cảnh, khởi tham – sân – si, tạo giết – trộm – dâm, coi khổ là vui, lấy mê làm đức, dùng sức Phật tánh để tạo nghiệp sanh tử. Hết thảy chúng sanh đang mê không nương theo Chánh Giác, lầm lạc tu tập đều là Bất Giác vậy. Bổn Giác thì phàm – thánh bình đẳng, không có cao – thấp. Thỉ Giác thì do công phu sâu hay cạn khác biệt mà địa vị ngộ chứng sai khác, từ Danh Tự cho đến Phần Chứng, từ địa vị Ngoại Phàm[1] cho đến Đẳng Giác đều thuộc trong phạm vi Thỉ Giác. Từ Đẳng Giác lại phá một phần vô minh thì công Tu Đức đã đến cùng cực, Tánh Đức hiển lộ trọn vẹn, phước huệ trọn đủ, phiền hoặc hết sạch, viên mãn Bồ Đề, trở về chỗ không thể đắc, mới thành bậc Đại Giác Thế Tôn, mới chứng Thỉ – Bổn hợp nhất tối thượng thừa tối cực, mới hoàn thành sự nghiệp tu nhân chứng quả của bậc đại trượng phu. Vì thế, kinh Hoa Nghiêm nói: “Hết thảy chúng sanh đều có đầy đủ trí huệ, đức tướng của Như Lai, nhưng do vọng tưởng, chấp trước nên chẳng chứng đắc. Nếu lìa hết thảy vọng tưởng, chấp trước thì Nhất Thiết Trí, Vô Ngại Trí đều được hiện tiền”. Nói “hết thảy chúng sanh đều đầy đủ trí huệ của Như Lai” là nói về lý tánh Bổn Giác vậy. “Do vọng tưởng, chấp trước nên chẳng chứng đắc” chính là trái nghịch Bổn Giác, khởi Hoặc tạo nghiệp, luân hồi trong sáu đường. “Lìa vọng tưởng thì trí huệ bèn hiện tiền” chính là thuận theo Bổn Giác để tu dần dần cho đến khi viên thành Phật quả. Hiểu rõ chỗ đạt đến của lý “Tánh – Tu” này ắt chẳng cam chịu phận phàm ngu, cũng chẳng dám đem phàm lạm thánh, ắt sẽ thật tu, thật ngộ, mong sao thật chứng mới thôi!

Nho thì lấy Thành – Minh làm gốc, Thành là Minh Đức, Minh nghĩa là “minh” (làm sáng tỏ) trong “minh Minh Đức”. Thật ra là Thành – Minh, tức “minh Minh Đức”. Minh Đức chính là chân tri (sự hiểu biết chân thật) sẵn có trong tâm chúng ta. Do có “vật” là nhân dục (lòng ham muốn của con người), nên [Minh Đức] bị ngăn lấp chẳng thể hiển hiện được; như mây che mặt trời, trọn chẳng thấy được tướng sáng. Muốn làm sáng tỏ Minh Đức ấy thì phải trọng lòng kính, giữ lòng thành, khắc kỷ, giữ lễ thì cái vật “nhân dục” tự chẳng có đất dung thân, chân tri sẵn có sẽ hiển lộ toàn thể, như phù vân (mây nổi) trôi đi, vầng mặt trời sáng rỡ. Chân tri đã hiển lộ thì đạt được quyền làm chủ, kẻ hầu hạ phải nghe theo. Vì thế những gì ý nghĩ đến, tâm suy nghĩ đến đều quy về chân thành, không vọng, trung chánh, chẳng thiên lệch vậy. Đấy chính là đại pháp “tu thân, trị người” của Khổng Tử thừa kế từ nhị đế tam vương[2] được trình bày tóm lược như vậy, để làm khuôn phép lớn lao cho thiên hạ hậu thế mong thành thánh thành hiền vậy.

Nếu đem so với Phật pháp để giải thích thì Thành và Minh Đức chính là Tánh Đức của Bổn Giác, còn Minh và Minh Minh Đức (làm sáng tỏ Minh Đức) chính là Tu Đức của Thỉ Giác vậy. “Vật” là vọng tưởng, chấp trước. “Cách vật” là lìa vọng tưởng, chấp trước. Lìa vọng tưởng, chấp trước liền đắc trí huệ của Như Lai. Trừ khử vật dục của con người thì lương tri và Chân Tri cố hữu trong tâm chúng ta sẽ tự hiển hiện triệt để. Do vậy, nói: “Phát huy sâu – cạn tuy khác nhau, nhưng công phu nơi lý thể cố nhiên chẳng hai”. Vì thế, những bậc thông minh duệ trí xưa nay đa số đều học Phật. Do đạt được tâm pháp của Phật nên mới hiểu thấu đáo tâm pháp của thánh nhân tiên hiền bên Nho; bởi lẽ nhà Nho đa phần coi trọng sự tướng, chẳng dốc sức ngộ hiểu tâm tánh. Nếu chẳng được Phật pháp hướng dẫn thì chính tâm mình còn chưa thể hiểu biết được, huống gì tâm pháp của thánh nhân ư? Do vậy, các nhà Nho câu nệ vào hình tích, đa số chê trách Phật giáo là do chẳng biết Phật pháp tuy là pháp xuất thế nhưng vẫn đầy đủ hết thảy những thiện pháp thế gian. Phàm là đạo luân thường, tu thân, tề gia cố nhiên cực lực hoằng dương, chẳng sót mảy may điều thiện nào, gặp cha nói từ, gặp con nói hiếu, anh nhường, em kính, chồng xướng, vợ theo, tùy theo chức phận ai nấy đều tận nghĩa, chẳng khác với những gì thánh nhân thế gian đã nói. Nhưng thánh nhân thế gian chỉ dạy con người tận nghĩa, tận phận, chứ đức Phật còn chỉ dạy cặn kẽ quả báo thiện ác của việc tận và không tận. Tận nghĩa, tận phận chỉ có thể dạy bậc thượng trí, chứ chẳng thể thâu nhiếp hết kẻ hạ ngu. Nếu biết quả báo thiện ác của việc tận và chẳng tận thì dù là phàm ngu cũng vẫn hâm mộ thiện báo, sợ ác quả; tuy chẳng muốn tận nghĩa, tận phận cũng phải gắng sức tận nghĩa, tận phận! Đấy là pháp để Như Lai phổ độ thượng trung hạ căn.

Đời thường có kẻ cậy vào sự hiểu biết, chẳng chuộng thật tu, bảo xằng nhân quả là pháp Tiểu Thừa, chẳng biết: Như Lai viên thành Phật đạo, chúng sanh thường đắm chìm trong sanh tử đều chẳng ra ngoài nhân quả! Chỉ có mỗi một niệm tâm tánh của đương nhân tuy chẳng thuộc nhân quả, nhưng vẫn chẳng lìa nhân quả. Muốn vượt ra ngoài nhân quả nhưng chưa viên thành Phật đạo sẽ trọn chẳng thể được. Chưa thành Phật mà đã vội vàng bác bỏ nhân quả sẽ vĩnh viễn đánh mất thiện nhân thiện quả, thường tạo nhân ác, thường bị quả ác đến tột cùng vị lai chẳng thể ngưng dứt. Chẳng đáng buồn ư? Đời thường có kẻ chẳng biết Phật pháp, cứ xằng bậy chê bai Phật giáo, cũng có kẻ hơi biết Phật pháp tuy ngấm ngầm tuân theo, nhưng bề ngoài chê trách. Những thứ hành vi ấy đều do tri kiến môn đình quá nặng, chẳng thể thực sự cách vật trí tri, đến nỗi ý có chỗ chẳng thành, tâm có chỗ chẳng chánh vậy. Những lời lẽ ấy đều đủ sức làm mù lòa con mắt trí của chúng sanh, đoạn huệ mạng của Như Lai. Bậc đại nhân thời cổ thường lo cho điều ấy nên thuận theo căn cơ đả phá, khiến cho những kẻ thốt ra lời ấy và những kẻ lậm chất độc đó đều hiểu sâu xa duyên do “đức Phật ta giáo hóa chúng sanh chẳng những không trái nghịch với Nho Giáo mà trái lại còn phát minh lớn lao Nho giáo, phụ trợ Nho Giáo đến tột lý, tột bậc!”

Gần đây, thế đạo nhân tâm suy hãm, yếu kém đến cùng cực, vứt bỏ pháp của tiên thánh gần như hết thuốc chữa. Phàm là những bậc lo cho đời không ai chẳng lấy việc đề xướng Phật học làm nhiệm vụ cấp bách, bởi lẽ Phật học chú trọng minh tâm và nhân quả báo ứng. Nếu có thể hiểu được bổn tâm của chính mình, chắc chắn chẳng đến nỗi hiểu lầm nhân quả. Nếu thật sự không hiểu lầm nhân quả, chắc chắn sẽ hiểu rõ bản tâm của chính mình. Đã hiểu rõ được bản tâm của chính mình thì cũng sẽ nhờ đó thấu hiểu được tâm của bậc thánh nhân Nho gia thời trước lẫn tâm của Như Lai. Đấy chính là ý chỉ lớn lao Nho -Thích nhất quán vậy.

Cư sĩ Hoằng Đạo xưa đã trồng cội đức, dốc lòng tin tưởng Phật thừa, xót thương những kẻ câu nệ, hẹp hòi, thấy biết lầm lạc, bèn thâu thập những lời cổ nhân đả phá, quở trách những kiến giải lầm lạc, kết hợp mọi ngôn luận của Nho – Thích, soạn thành một cuốn sách, đặt tên là Nho Thích Nhất Quán, muốn đem ấn loát lưu thông. Do Quang lúc ban đầu từng lậm chất độc của họ Hàn, họ Âu, làm một gã Nhất Xiển Đề, nên bảo Quang viết lời tựa, một là để thương mình, thương người, tự xót mình, xót người, hai là nhờ vào nhân duyên này tiêu diệt tội lỗi báng pháp để mong thỏa chí nguyện vãng sanh. Do vậy, chẳng nề hà kém cỏi, gắng gượng nêu ra những gì mình biết; tuy văn từ chẳng đáng để xem, nhưng xét về ý nghĩa lại có căn cứ. Nguyện người thấy nghe đều cách vật trí tri hòng tự sáng tỏ Minh Đức, bỏ lìa vọng tưởng, chấp trước, cùng chứng trí huệ của Như Lai thì ý thiết tha lưu lại giáo huấn của cổ nhân, tâm ông Hoằng Đạo soạn sách sâu xa nhằm diễn bày được bản hoài rộng lớn chẳng đến nỗi uổng công. Và nhờ vào đây, thế đạo nhân tâm được chuyển hồi cũng là điều đoán trước được, còn may mắn gì hơn!

  1. Lời tựa sách Cận Đại Vãng Sanh Truyện

Đức Như Lai điều ngự chúng sanh, tùy cơ thuyết pháp, tuy Quyền – Thật – Đốn – Tiệm bất đồng, Đại – Tiểu – Thiên – Viên khác biệt, nhưng cốt yếu đều là làm cho chúng sanh tự chứng Chân Như Phật Tánh sẵn có nơi bổn tâm mà thôi. Nhưng Phật tánh ấy sẵn có ngay trong tâm này, chẳng từ ngoài đến, chẳng do gì khác mà được, như lấy của báu sẵn có trong nhà tùy ý sử dụng, hiện thành. Vì thế, chứng điều ấy là chuyện hết sức dễ dàng! Hiềm rằng chúng sanh ở trong sanh tử đã lâu, mê hoặc quá sâu, ví như gương báu bị bụi phủ cả kiếp, muốn cho nó khôi phục bản thể, hiện tột cùng ánh sáng chiếu trời soi đất, cố nhiên chẳng phải đổ công lau chùi, mài giũa một hai ngày là có thể đạt được ngay. Như Lai bi tâm chân thật thiết tha, biết sự khó khăn của chúng sanh dùng tự lực để tự chứng, dù có tu trì nhưng vì phiền hoặc chưa đoạn, hễ phải thọ sanh một lần nữa khó khỏi lại bị mê. Từ đó, đọa lạc thì nhiều, siêu thăng ít ỏi.

Do vậy, đặc biệt mở ra pháp môn tín nguyện niệm Phật ngõ hầu dù thánh hay phàm đều cùng trong đời này cậy vào Phật từ lực vãng sanh Tây Phương. Người đã chứng thánh sẽ mau thăng lên địa vị bậc thượng; kẻ chưa đoạn Hoặc sẽ vĩnh viễn thoát khỏi luân hồi. So với những ai chỉ cậy vào tự lực tu Giới – Định – Huệ cho đến khi liễu sanh thoát tử, siêu phàm nhập thánh thì khó – dễ khác biệt một trời một vực. Vì thế, kể từ hội Hoa Nghiêm dẫn về, từ thuở tại Kỳ Viên diễn thuyết đến nay, ngàn kinh vạn luận chốn chốn chỉ quy, vãng thánh tiền hiền ai nấy đều hướng về. Đến khi pháp truyền sang Đông Chấn, Viễn Công đại sư xướng xuất tại Lô Sơn, quần hiền đương thời đều nhóm cả về, những người thông suốt đời sau đều quy hướng. Từ đấy, Tăng – tục bốn chúng hoặc là tu trọn vạn hạnh để hồi hướng, hoặc chuyên trì Phật hiệu để cầu vãng sanh. Đến khi lâm chung, chánh niệm rỡ ràng, hiện các tướng lành để vãng sanh, làm sao thấy hết, biết trọn cho được? Những gì Vãng Sanh Tập, Tịnh Độ Thánh Hiền Lục ghi chép chỉ là một hai phần trong ngàn vạn phần đó thôi. Một trăm mấy mươi năm qua, người tu pháp này há có hạn lượng? Huống chi gần đây tầm mắt của bậc nhân sĩ rộng mở, hạng ngầm tu hiển hóa thật đông đảo. Trong số ấy, những người dùng tâm Phiền Hoặc khế hợp Như Lai trí, thoát khổ Sa Bà, dự vào hội Liên Trì càng đông hơn trước, há chẳng nên ghi chép thêm để rồi những chuyện ấy bị quên lãng hay sao? Cư sĩ Dương Huệ Kính ở Dư Diêu[3] riêng sưu tập những truyện đó, đặt tên là Cận Đại Vãng Sanh Truyện. Ý ông muốn những chuyện vãng sanh thu thập sau này sẽ được gộp hết vào bản thảo, nên những danh từ xưng hô cứ giữ nguyên văn, không sửa chữa gì thêm, sao cho [cách hành văn] theo cùng một lối, cốt sao để tạo lòng tin, chứ không bỏ công chọn lựa, gọt giũa. Đã thâu thập được bấy nhiêu chuyện ấy xong, muốn khắc in, lưu truyền, xin tôi viết lời tựa.

Trộm nghĩ: Pháp môn tu trì có hai thứ bất đồng. Nếu cậy vào tự lực tu Giới – Định – Huệ để đoạn Hoặc chứng Chân liễu sanh thoát tử thì gọi là “pháp môn theo đường lối thông thường”. Nếu đầy đủ lòng tin chân thật, nguyện thiết tha, trì danh hiệu Phật để cậy vào Phật từ lực vãng sanh Tây Phương thì gọi là “pháp môn đặc biệt”. Đường lối thông thường thì hoàn toàn cậy tự lực, còn đường lối đặc biệt thì tự lực lẫn Phật lực đều có. Nếu có công tu Định – Huệ đoạn Hoặc sâu xa nhưng không chân tín, nguyện thiết, niệm Phật cầu vãng sanh thì vẫn thuộc về tự lực. Nay dùng thí dụ để chỉ rõ: Đường lối thông thường giống như vẽ núi sông, ắt phải từng nét bút, từng vạch một mới dần dần vẽ thành. Còn [pháp môn] đặc biệt như chụp cảnh sông núi, dẫu cho mấy mươi tầng núi non um tùm, chụp một cái liền đầy đủ. Lại nữa, đường lối thông thường như đi đường bộ, người mạnh một ngày bất quá đi được một trăm mười dặm; còn pháp môn đặc biệt như cưỡi Luân Bảo của Chuyển Luân Thánh Vương trong một ngày liền có thể đến khắp bốn đại bộ châu. Chúng ta không có tư cách thành Phật ngay lập tức, lại không có thật chứng “đoạn được Kiến Hoặc, tùy ý chẳng tạo ác nghiệp”, nếu chẳng chuyên tu Tịnh nghiệp để hòng cậy vào Phật từ lực đới nghiệp vãng sanh thì chỉ e đến tột cùng đời vị lai vẫn cứ phải chịu sống chịu chết trong tam đồ lục đạo không cách gì thoát ra được! Chẳng đáng buồn ư? Nguyện những người cùng hàng với tôi đều sanh chánh tín.

  1. Lời tựa cho sách Từ Bi Đạo Tràng Sám Pháp Tùy Văn Lục

(tục gọi là Lương Hoàng Sám)

      Tâm của chúng ta thể vốn sáng sạch. Do vô minh nên phiền hoặc bèn sanh. Phiền hoặc đã sanh bèn thành tối tăm, dơ bẩn, khiến cho bản thể sáng sạch bị ngăn lấp, chứ thật ra nó chưa hề bị tổn giảm một mảy may nào. Muốn trở về cội, quay về nguồn mà không cạn hết lòng thành, dốc hết lòng kính, cung kính đối trước Tam Bảo sám hối nghiệp chướng thì sẽ không thể nào đạt được! Các kinh Đại Thừa đều có những đoạn văn dạy sám hối, tùy theo con người tôn trọng pháp nào sẽ soạn sám pháp [cho kinh ấy], như Pháp Hoa, Kim Quang Minh, Tịnh Độ, Đại Bi v.v…

Bộ sám pháp này phô bày tường tận tội tướng (những hình tướng của tội lỗi) là vì Lương Vũ Đế muốn cứu độ người nguyên phối là phu nhân Hy Thị đã mắc nỗi khổ đọa làm thân mãng xà, cũng như muốn khiến cho hết thảy nhân dân cùng được pháp lợi thấm nhuần, bèn đặc biệt thỉnh ngài Chí Công và các cao tăng, tra đọc các kinh văn, soạn thành sám pháp. Nhà vua lúc ấy cũng nâng ngọn bút sắc sảo phát huy ý chỉ đến tột bậc. Tiếc là nhà vua chưa thông hiểu pháp môn Tịnh Độ, nên khi sám văn soạn xong, bà Hy Thị mang thân một vị trời trang nghiêm đẹp đẽ đến cảm tạ. Nếu như nhà vua hiểu rõ Tịnh tông, ắt phu nhân cậy vào Phật từ lực vãng sanh Tây Phương, cao dự hải hội, lên địa vị Bất Thoái, há lẽ nào nhờ vào đại pháp đại tâm này, rốt cuộc chỉ được sanh lên trời mà thôi! Những người lễ sám đời sau đều phải nên chú ý hồi hướng vãng sanh thì mới đạt được lợi ích rốt ráo thật sự.

Sám pháp này lấy đại Bồ Đề tâm làm gốc, từ đấy cạn lòng thành, tận lòng kính, ngoài thì kính mộ chư thánh, phơi bày tội lỗi, trong thì trọng tánh linh của chính mình, cho nên được tâm chúng sanh và tâm Phật dung thông, cảm ứng đạo giao, tiêu trừ tội cấu bao kiếp, khai phát tâm quang sẵn có. Lợi ích ấy chẳng thể nào nói trọn! Lời văn tuy rõ ràng, giản dị, so với những sám pháp của tông Thiên Thai chỉ chú trọng đến Lý Quán, chẳng nêu rõ các tội tướng, thì sám pháp này thích hợp khắp cả ba căn. Từ xưa đến nay, sám pháp này chưa từng được giảng giải hay chú giải là vì văn lẫn nghĩa đều rõ ràng, rộng mở, không cần phải giảng nói hay chú giải.

Phải biết pháp không có cạn hay sâu, chỉ cốt sao lợi người; luật không có nghĩa lý u huyền, thế mà Đạo Tuyên luật sư là bậc thượng căn lợi trí còn phải nghe giảng mười lần cũng như đã soạn chú sớ vẫn chưa cảm thấy hoàn toàn tường tận, há có nên đối với riêng một pháp này lại coi thường ư? Ngài Đế Công (pháp sư Đế Nhàn) chùa Quán Tông, do thấy thời này đang nhằm thời Mạt Pháp, con người đa số chẳng tự biết tỉnh ngộ khiến cho hành vi lẫn sở học trái nghịch nhau, nên Ngài bèn phát tâm diễn giảng, hy vọng con người ai nấy trọng lòng kính, giữ lòng thành, rửa tâm gột ý, cẩn thận dè chừng nơi những gì mình chưa thấy, kiêng sợ đối với những gì mình chưa nghe, học đi đôi với hành, ngõ hầu đứng vững nơi không lầm lỗi mới thôi!

Ông Phương Viễn Phàm xưa có linh căn, tuy xuất thân từ nhà giàu có, lại khá thích thanh tu, mỗi phen được nghe diệu nghĩa đều bèn lãnh hội được. Lần này nghe giảng bèn ghi chép lại, lại được ba vị sư là Bảo Tịnh, Thành Nhất, Thường Tịnh giúp đỡ biên tập thành sách. Cha mẹ ông cùng nghe giảng, đều tận lực ghi chép cẩn thận. Có thể nói là “thấy con liền biết được cha mẹ”, chẳng phải là hạng cha mẹ như thế sẽ không sanh được người con như thế! Ông Phương muốn đem in, xin tôi viết lời tựa. Tôi nghĩ trong những điều quan trọng của việc tu hành thì Kính là bậc nhất. Ai trọng lòng kính, giữ lòng thành thì hết thảy phàm tình không cách nào khởi lên được, thánh trí sẵn có tự nhiên phát hiện. Phàm hết thảy nhân – ngã, thị – phi, vô minh, kiêu căng, phách lối cũng như những tập khí lười nhác, biếng trễ, chần chừ, uể oải đều bị tiêu diệt. Huống chi cung kính đối trước Tam Bảo phơi bày tội lỗi ắt cái tâm hổ thẹn, kinh sợ, ý niệm mong thành thánh thành hiền như đang đói, đang khát [mong được ăn, được uống] sẽ tràn trề nẩy sanh. Trên ngưỡng mộ chư thánh, dưới trọng tánh linh của chính mình, đau đáu nghĩ mình và chư Phật có cùng một tâm tánh, cớ sao các Ngài đã viên chứng tam giác[4], ta vẫn cứ luân hồi mãi trong lục đạo? Từ đấy, sửa đổi lỗi cũ, tu tập, bỏ mê quy ngộ. Ví như Ma Ni bảo châu rớt trong nhà xí, liền nhặt đem ra, gột rửa nhiều phen mong sao khôi phục sự thanh tịnh vốn có. Đến khi đã trong sạch đến cùng cực thì treo trên tràng cao, ắt sẽ tùy ý tuôn ra các báu. Đại sự nhân duyên ấy nếu chẳng phát huy ý chỉ của văn hay nghĩa đến cùng cực thì rất có thể sẽ có người chẳng được lợi ích thật sự. Cuốn Tùy Văn Lục (sách ghi chép những lời được nghe giảng) này đáng được lưu truyền rộng khắp.

  1. Lời tựa sách Nhân Quả Lục

      Nhân quả báo ứng chính là ảnh hưởng thuận hay nghịch giữa nhân sự và thiên lý. Vì thế, kinh Thư chép: “Thuận theo lý dẫn đến điều lành, trái nghịch lại thì xấu, đều chỉ vì ảnh hưởng”. Người dẫu chí ngu chắc chắn cũng không vui mừng vì bị tai họa, tránh điều lành, ham điều xui, mong hết thảy những người chung quanh réo tên thóa mạ, bị thiên địa quỷ thần đoạt hồn giết hại, cũng như sau khi chết đi linh hồn bị đọa vĩnh viễn trong ba đường ác, chịu đựng khổ sở cùng cực trải trăm ngàn kiếp không thể thoát ra! Nhưng những gì người ta làm đa phần đều trái nghịch với những gì họ mong mỏi, là vì lẽ nào vậy? Là do cõi đời thiếu người thông hiểu, chẳng đề xướng đạo nhân quả báo ứng, sẵn quen thói tệ hại, chỉ biết truyền cho nhau thói tự tư tự lợi mà nên nỗi! Nếu như có ai hành động thuận theo thiên lý, trong gia đình thì trọn hết bổn phận, giao tế bên ngoài thì chú trọng làm lợi cho người, cũng như những cử chỉ tốt lành đều phụng hành, như giúp người bị tai họa, cứu đói, giúp người hoạn nạn, cứu người đang gặp nguy, kiêng giết, phóng sanh, che chở, thương tiếc sanh mạng loài vật, ăn chay, tụng kinh, niệm Phật ngõ hầu mình lẫn người đều được lợi, u lẫn hiển cùng được ích thì không một ai chẳng được gia đình yên tịnh, tốt lành, con cháu thạnh vượng, phú quý sang cả, khiến cho người khác kính ngưỡng. Xem khắp các truyện ký, phàm những bậc hiền triết xuất hiện, công nghiệp kiệt xuất, hoặc là tâm lãnh hội đạo được truyền bởi chư thánh, hoặc là đức khiến cho vạn dân trọng vọng thì đều là do đời trước có âm đức, hạnh đẹp “lợi người, lợi vật, giúp cho cả người âm lẫn kẻ dương” vậy. Nhưng đấy chỉ là những gì mắt phàm thấy được mà thôi, chứ còn thần thức người ấy hoặc sanh lên cung trời hoặc cao siêu Phật quốc, phàm phu thế gian làm sao thấy hết, biết hết cho được?

Nêu thật rõ lý nhân quả thật ra chỉ có mỗi mình kinh Phật, nhưng kinh sách Nho giáo cũng nhiều lần nói đến. Như kinh Thư ghi “làm thiện trăm điều lành giáng xuống, làm điều bất thiện, trăm tai ương giáng xuống” cũng như thuyết “ngũ phước lục cực” được nói đến trong sách Hồng Phạm, và câu kinh Dịch “nhà tích thiện ắt điều vui có thừa, nhà tích điều bất thiện ắt tai ương có thừa”, không gì chẳng phải đều là dùng lý nhân quả báo ứng để dạy người đó sao! Nhưng vì nói giản lược, chỉ nói đến đời này và con cháu, chưa nói tường tận chuyện luân hồi lục đạo tam đồ trong quá khứ, hiện tại, vị lai; nếu chẳng nghiên cứu sâu xa, suy nghĩ tinh tường, ắt sẽ ngay trước mặt lại bỏ lỡ! Hơn nữa, kẻ tục Nho thường muốn đề cao môn đình bèn tranh đua cho khác với nhà Phật, dù có biết đi nữa cũng chẳng chịu đề xướng, khiến cho người hiền không có cách tận lực làm cho đời yên dân lành, mà kẻ ngu cũng luôn ôm ấp ý niệm “mạnh ăn thịt yếu”. Do vậy, tấn công lẫn nhau trở thành cuộc sát kiếp xưa nay chưa hề nghe nói đến.

Người bị giết cố nhiên ai nấy biết là đáng thảm, nhưng nỗi thảm của kẻ giết hại còn khốc liệt gấp vạn lần. Tiếc rằng người đời chẳng biết tỏ, thấy suốt! Cái họ thấy được như “bị người khác giết, hoặc diệt môn tuyệt tộc” chỉ là một hai phần trong ngàn vạn phần, còn sự khổ phải hứng chịu trong tam đồ dù có hết sạch trúc cũng khó ghi được, chẳng đáng buồn ư? Tôi thường nói: “Nhân quả chính là phương tiện lớn lao thánh nhân thế gian lẫn xuất thế gian dùng để bình trị thiên hạ, độ thoát chúng sanh”. Dù nhằm thuở thánh giáo xương minh, nếu không đề xướng nhân quả thì còn chẳng thể làm cho mọi kẻ ngu dân ngấm ngầm đoạn dứt hay giấu ác, người trí đều tích chứa âm công lớn lao; huống chi nay đang lúc thế đạo nhân tâm suy hoại đến cùng cực, vứt bỏ kinh sách của thánh hiền, luân lý đổ nhào, tà thuyết hoành hành đều đến mức cùng cực ư? Những người có tâm lo cho thế đạo nghĩ muốn kéo lui con sóng cuồng loạn nếu chẳng dùng nhân quả báo ứng làm phương tiện chấn động kẻ điếc, soi sáng kẻ đui thì dẫu cho Phật, Bồ Tát, thánh hiền đều cùng xuất thế cũng không làm gì được, huống gì những kẻ thấp kém hơn các Ngài!

Cư sĩ Kim Xương ở Vô Tích[5] thấy được điều này bèn chép lại những chuyện nhân quả trong những đời gần đây và trong đời này, ấn loát lưu truyền, mong cho ai nấy đều ôm lòng tự lợi lợi tha, mang hạnh tự lập, lập người thì thói quen càng chánh trực, phong tục tốt đẹp, dứt bặt nhân họa mà quyến thuộc trời cũng thường ngự xuống. Những loài cạnh tranh với nhau đều cùng trở thành người trong thời Hy – Hoàng. Do vậy bèn lược thuật đại ý để cống hiến cùng người đọc.

  1. Lời tựa cho sách Sanh Tây Kim Giám

(sau này đổi tên thành sách Tịnh Độ Thanh Chung)

      Thế giới Sa Bà dùng âm thanh làm Phật sự. Biển khổ sanh tử, không niệm Phật chẳng thể thoát lìa! Bao nhiêu chúng sanh mê chân đuổi theo vọng, trái giác hiệp trần, nhiều kiếp lâu xa luân hồi sanh tử. Do vậy, động đến lòng Bi Đồng Thể của đức Thích Ca Thế Tôn ta, Ngài bèn đặc biệt mở ra pháp môn tín nguyện niệm Phật cầu sanh Tây Phương để thượng trung hạ căn dù thánh hay phàm đều cùng trong một đời này vãng sanh Tây Phương, thành tựu cho bậc đại căn cơ mau chứng Pháp Thân, nâng đỡ kẻ căn cơ kém cỏi mau thoát sanh tử. Những giáo pháp khác trong suốt một đời đức Phật đều chẳng sánh bằng được! Do vậy, những bậc cao nhân lỗi lạc ở Tây Thiên, Đông Độ không ai chẳng dùng pháp này để tự hành, dạy người, bởi pháp này chính là diệu môn để nhập đạo, là đường tắt để thành Phật vậy.

Cư sĩ Nhị Lâm (Bành Tế Thanh) thâu thập những nhân duyên lập pháp độ sanh của Phật, Bồ Tát và những sự tích niệm Phật vãng sanh của cổ đức, tăng, ni, vua, quan, nam nữ cho đến loài vật trong các đời, lại còn sao lục những câu nói hoằng dương Tịnh Độ thiết yếu soạn thành một cuốn sách, đặt tên là Tịnh Độ Thánh Hiền Lục. Cư sĩ Liên Quy lại soạn tiếp cuốn [Tịnh Độ Thánh Hiền] Tục Lục, đều nhằm làm kim chỉ nam cho những kẻ mê mất quê nhà, làm gương báu cho những ai chẳng nhận biết chính mình. Nhưng do số quyển quá nhiều chẳng thuận tiện cho hàng sơ cơ, nên cư sĩ [Phan] Đối Phù muốn làm cho kẻ sơ cơ dễ nẩy sanh lòng tin tưởng, do vậy bèn đối với hai bộ Chánh Lục, Tục Lục ấy, trích yếu những sự tích rõ ràng nhất gồm hơn hai trăm chuyện, lại viết thêm lời tán, đặt tên là Sanh Tây Kim Giám (gương vàng sanh Tây) ngõ hầu người đọc nhìn vào gương cổ nhân nẩy sanh lòng kính ngưỡng, ca ngợi. Ý ấy thật sâu xa.

Xưa kia, Tử Phòng (Trương Lương) muốn phá quân Sở liền truyền quân mình cùng hát những bài ca nước Sở, quân Sở nghe hát đều muốn quay về. Huống chi đương lúc thiên tai nhân họa liên tiếp xảy ra, vận nước nguy ngập dân không lẽ sống này, lại thêm tà thuyết tung hoành, bè lũ ma lừng lẫy, tà chánh chẳng phân, không có gì thích đáng để theo, vừa được nghe quang cảnh thế giới Cực Lạc vượt ra ngoài kiếp, trang nghiêm sẵn có, há chẳng muốn quay về để vui với thiên chân của chính mình ư? Nếu người đọc hiểu thấu suốt sự lợi – hại giữa Sa Bà và Cực Lạc, lại còn [được nghe] ca ngợi nhiều lần thì tôi biết cái tâm cầu sanh Tây Phương của họ sẽ như sông ngòi lúc vỡ đê, thế khôn ngăn được vậy!

  1. Lời tựa cho đạo tràng niệm Phật quanh năm tại Thê Chân thường trụ

      Pháp môn Niệm Phật cao cả thay! Do một niệm tâm tánh của chúng ta giống như hư không thường hằng bất biến. Tuy thường chẳng biến nhưng niệm niệm tùy duyên, chẳng duyên theo Phật giới sẽ duyên theo cửu giới, chẳng duyên theo tam thừa sẽ duyên theo lục đạo, chẳng duyên theo nhân thiên sẽ duyên theo tam đồ. Do duyên nhiễm – tịnh bất đồng cho nên quả báo khổ – vui rất khác. Tuy bản thể trọn chẳng biến đổi gì, nhưng Tướng – Dụng cố nhiên khác nhau một trời một vực! Ví như hư không mặt trời chiếu thì sáng, mây đùn bèn tối. Tuy bản thể của hư không chẳng do mây hay mặt trời mà tăng – giảm, nhưng tướng hiển hiện hay ngăn lấp cố nhiên có nói trọn năm cũng chẳng hết.

Do vì nghĩa này, Như Lai dạy khắp các chúng sanh duyên niệm nơi Phật. Vì thế nói: “Nếu tâm chúng sanh nhớ Phật, niệm Phật thì hiện tiền, tương lai nhất định thấy Phật, cách Phật chẳng xa”. Lại nói: “Chư Phật Như Lai là thân pháp giới vào trong tâm tưởng của hết thảy chúng sanh. Do vậy, lúc tâm các ông tưởng Phật thì tâm ấy chính là ba mươi hai tướng, tám mươi vẻ đẹp phụ, tâm này làm Phật, tâm này là Phật. Biển Chánh Biến Tri của chư Phật từ tâm tưởng sanh”. Hễ duyên theo Phật giới thì tâm này làm Phật, tâm này là Phật. Nếu duyên theo các giới chúng sanh thì tâm này làm chúng sanh, tâm này là chúng sanh. Hiểu rõ điều này rồi mà chẳng niệm Phật thì chưa bao giờ có chuyện ấy! Một pháp Niệm Phật chính là lấy hồng danh vạn đức của Như Lai làm duyên, mà hồng danh vạn đức ấy lại chính là vô thượng giác đạo Như Lai đã chứng nơi quả địa! Do dùng Quả Địa Giác ấy làm Nhân Địa Tâm nên nhân bao trùm biển quả, quả thấu tột nguồn nhân. Như người nhiễm hương, thân có mùi thơm; như tò vò chúc loài sâu[6], lâu ngày sẽ hóa thành [tò vò]. Thành Phật ngay trong đời này, chuyển phàm thành thánh, công năng lực dụng ấy vượt trội hết thảy những pháp môn khác trong cả một đời giáo hóa. Bởi lẽ hết thảy các pháp môn đều cậy vào tự lực đoạn Hoặc chứng Chân mới liễu thoát sanh tử; còn pháp môn Niệm Phật thì tự lực lẫn Phật lực hai thứ đều đầy đủ. Vì thế, người đã đoạn được Hoặc nghiệp bèn mau chứng Pháp Thân, người còn đầy đủ Hoặc nghiệp sẽ đới nghiệp vãng sanh.

Pháp này cực kỳ bình thường, dẫu là ngu phu ngu phụ cũng đạt được lợi ích, nhưng lại cực huyền diệu, dẫu là Đẳng Giác Bồ Tát cũng chẳng thể vượt khỏi phạm vi pháp này. Bởi vậy, không một ai chẳng kham tu, mà cũng không một ai chẳng thể tu được. Hạ thủ dễ, thành công cao, dùng sức ít được hiệu quả nhanh chóng, thật là một pháp môn đặc biệt trong giáo pháp cả một đời của đức Như Lai, cố nhiên chẳng thể dùng giáo lý thông thường để biện luận được. Chúng sanh đời Mạt Pháp phước mỏng huệ cạn, chướng dầy, nghiệp sâu chẳng tu pháp này, cứ muốn cậy vào tự lực để đoạn Hoặc chứng chân hòng liễu sanh tử thì khó khăn muôn phần! Trụ Trì chùa Thê Chân là hòa thượng Liên Nhân thấy được điều này nên đặc biệt lập đạo tràng niệm Phật suốt năm tại điện Tam Thánh, nhờ tôi giãi bày ý ấy ngõ hầu người thấy nghe phát tâm. Do vậy, tôi bèn viết đại lược như vậy đó.

  1. Lời tựa cho đồng tu tịnh nghiệp của Quy Tông tinh xá

      Hết thảy các pháp môn được nói trong giáo pháp cả một đời của đức Như Lai tuy Đại – Tiểu bất đồng, Quyền – Thật đều khác, nhưng không pháp nào chẳng nhằm làm cho chúng sanh đoạn Hoặc chứng chân, liễu sanh thoát tử, phô bày trọn vẹn cái họ sẵn có, thành ngay vào Phật đạo đó thôi! Nhưng vì chúng sanh căn cơ bất nhất, khiến cho đức Như Lai phải tùy thuận cơ nghi, lập ra đủ mọi cách thuyết pháp Thiên – Viên – Đốn – Tiệm. Nhưng chúng sanh luân chuyển sanh tử bao kiếp dài lâu, Hoặc nghiệp sâu dầy ngăn lấp diệu minh, nếu không phải là người túc căn thành thục lại muốn ngay trong một đời này hoàn thành thì thật là hiếm có mấy ai. Đã chẳng thể hoàn thành ngay trong một đời này thì phải thọ sanh lần nữa, những kẻ vừa mê vừa thoái thất trong vạn người có đến mười ngàn, những người vừa ngộ vừa tiến trong ức người chẳng được ba bốn.

Cậy vào tự lực tu Giới – Định – Huệ để đoạn phiền hoặc chứng Niết Bàn khó khăn như thế đó, khiến cho bản hoài phổ độ chúng sanh của Như Lai bị ngăn trở chẳng thể thông suốt được, đạo làm cho chúng sanh mau thoát sanh tử bị bế tắc không thông. Nhưng đức Như Lai đại từ ắt muốn làm cho hết thảy chúng sanh cùng trong một đời này được liễu thoát sanh tử siêu phàm nhập thánh nên bèn mở ra pháp môn Tịnh Độ tín nguyện niệm Phật cầu sanh Tây Phương, bất luận thượng trung hạ căn đều được độ thoát ngay trong đời này, dùng chính tín nguyện của mình để niệm Phật cảm Phật từ bi nhiếp thọ, do cảm ứng đạo giao nên đạt được lợi ích ấy. Những người đã đoạn được phiền hoặc sẽ có thể chóng chứng được Pháp Thân, mau thành Phật đạo. Dẫu là kẻ Hoặc nghiệp sâu dầy cũng có thể cậy vào Phật từ lực đới nghiệp vãng sanh. Do vậy, trong hội Hoa Nghiêm các bậc Đẳng Giác Bồ Tát chứng bằng với chư Phật còn phải dùng mười đại nguyện vương dẫn về Cực Lạc; trong Quán Kinh những tội nhân nghịch ác sắp đọa A Tỳ địa ngục do xưng niệm hồng danh mười lượt mà được dự vào các phẩm cuối. Độ khắp ba căn, lợi – độn gồm thâu, hết thảy chúng sanh trong tận pháp giới cứ hễ có tín nguyện thì không một ai chẳng được thấm nhuần, viên đốn thẳng chóng, vượt trỗi hết thảy các pháp môn. Chúng sanh đời Mạt muốn liễu sanh tử mà chẳng tu pháp này, cứ tu tràn lan các pháp môn cậy vào tự lực khác thì chỉ đạt được cái nhân đắc độ trong tương lai, quyết khó thể đắc quả liễu thoát ngay trong đời này!

Cư sĩ Vương Chửng Bang ở Hạ Môn túc căn sâu dầy, hạnh trong đời này tinh thuần, tin chắc nhân quả, chuyên dốc tu Tịnh nghiệp, muốn cho khắp mọi người đều sanh Tịnh Độ bèn dựng tinh xá tại bên trái Thái Bình Nham ở Bổn Phụ, ngõ hầu những người cùng chí hướng tùy theo thân phận đến đấy niệm Phật, gieo nhân vãng sanh. Vào ngày Chủ Nhật, đặc biệt thỉnh những người thông hiểu đến giảng diễn duyên do pháp môn Tịnh Độ và pháp tắc tu trì cũng như mọi lợi ích trong hiện đời và sau khi chết đi, cũng có thể nói ông ta là người đầy đủ tâm đại bi, có con mắt chọn lựa pháp vậy! Ông lại gởi thư xin tôi đề biển tên [tinh xá] và trình bày đại ý. Tôi nghĩ một pháp Tịnh Độ chính là pháp môn thù thắng để tam thế chư Phật dưới độ chúng sanh, để chín giới chúng sanh trên thành Phật đạo, là pháp môn thành thủy thành chung[7] thù thắng, cao vượt hết thảy Thiền – Giáo – Luật, thống nhiếp hết thảy Thiền – Giáo – Luật. Bởi lẽ, hết thảy các pháp truy đến nguồn gốc ban đầu thì không pháp nào chẳng lưu xuất từ pháp giới này, xét đến chung cục thì không pháp nào chẳng quy hoàn pháp giới này. Do vậy, bèn đặt tên là Quy Tông, ngụ ý: Hết thảy các pháp môn rốt cuộc đều quy về pháp này, giống như ý nghĩa sông ngòi đều chầu về biển cả vậy. Nghĩa này được tìm ra từ chỗ “quy tông” ở cuối kinh Hoa Nghiêm, những ai không tin được thì xin hãy chất vấn Phổ Hiền Bồ Tát.

      Lại nữa, phàm hết thảy những thiện tín tu Tịnh nghiệp đều phải tận lực giữ vẹn luân thường, ai nấy tận sức vâng giữ bổn phận, kiêng giết, ăn chay, thanh tâm, ít ham muốn, đừng làm các điều ác, vâng làm các điều lành, dùng việc làm của chính mình để hóa độ, hướng dẫn hết thảy, trong là cha mẹ quyến thuộc, ngoài là bầu bạn xóm làng, khiến cho hết thảy những người cùng hàng đều biết “tâm này là Phật”, cố nhiên thường học theo Phật hạnh, cùng tu Phật từ, cùng niệm Phật danh để mong sao hết một báo thân này vãng sanh Tây Phương, thoát luân hồi huyễn vọng, chứng Phật tánh sẵn có mới thôi!

  1. Lời tựa trình bày duyên khởi của hội Phật Giáo Đài Loan

      Phật giáo chính là cái gốc lớn lao của hết thảy các pháp, hết thảy các giáo. Vì sao nói thế? Hết thảy các pháp do tâm kiến lập, hết thảy phàm – thánh do tâm xuất sanh. Hết thảy các giáo trong thế gian tuy đều nói đến tâm, nhưng những gì được [các giáo ấy] nói chỉ là luận về tác dụng của tâm, chứ cội nguồn cùng tột của bản thể “bất biến tùy duyên, tùy duyên bất biến, tâm này làm Phật, tâm này là Phật, tâm làm tam thừa, tâm là tam thừa, tâm làm lục đạo, tâm là lục đạo ” thì các giáo đều chưa phát huy được! Chỉ có mình đức Thích Ca Thế Tôn ta triệt ngộ tự tâm, biết tâm của hết thảy chúng sanh và tâm của Như Lai không hai không khác, nhưng do mê nên chưa ngộ, oan uổng làm chúng sanh, cho nên nói: “Hết thảy chúng sanh đều đầy đủ trí huệ của Như Lai nhưng do vọng tưởng, chấp trước nên chẳng chứng đắc. Nếu lìa vọng tưởng, chấp trước thì Nhất Thiết Trí, Vô Ngại Trí đều được hiện tiền”. Lại nói: “Hết thảy chúng sanh đều có Phật tánh, ta là Phật đã thành, các ông là Phật chưa thành”. Đấy đều là những điều đức Phật nói ra khi mới vừa thành Phật trong các hội Hoa Nghiêm, Phạm Võng. Do vì đại căn chúng sanh mau chóng ngộ tự tâm, nhập Phật tri kiến, còn hàng tiểu căn chưa thể nhập được ngay nên Phật thuận theo cơ nghi để thành thục họ. Lại muốn cho hết thảy dù thánh hay phàm cùng trong một đời này thoát lìa sanh tử nên đặc biệt mở ra pháp môn tín nguyện niệm Phật vãng sanh Tây Phương, khiến cho hết thảy những ai không có sức đoạn Hoặc, chẳng thể vượt thoát ra ngoài luân hồi đều cậy vào Phật từ lực đới nghiệp vãng sanh, cao dự chín phẩm trong hội tốt lành, thân cận ánh sáng yên vui của Phật Di Đà, để rồi rốt ráo chứng triệt để tự tâm mới thôi! Lòng chân từ đại bi vỗ về, nuôi dạy kẻ căn cơ nhỏ nhoi của đức Như Lai có thể nói là tột bậc không còn gì hơn được nữa!

Phật pháp tuy gọi là pháp xuất thế gian, nhưng thật ra đạo luân thường hiếu đễ thế gian và pháp “cách vật trí tri, chánh tâm thành ý, tu – tề – trị – bình” đều được Phật pháp phát huy đến cùng tận, chẳng bỏ sót mảy may điều thiện nào. Vì thế, xưa nay những vị lập đại công, dựng đại nghiệp, hạo khí ngời trời đất, tinh thành lòa nhật nguyệt, lời lẽ, hành vi trở thành pháp tắc cho cõi đời phần nhiều là do học Phật đắc lực mà ra; những người thông minh duệ trí vượt trỗi muôn người không ai chẳng cung kính sùng phụng Phật pháp, hộ trì, lưu thông, để về mặt ngầm là giúp cho thế đạo, về mặt lộ là giữ yên dân tình, hòng đạt được hiệu quả thật sự là làm cho dân chúng ngày càng hướng thiện mà chẳng biết. Những nhà Nho câu nệ, hẹp hòi, không có được con mắt trí như vậy thường chỉ trích bừa bãi, bảo Phật pháp khinh miệt luân lý, vô ích cho quốc gia. Bọn họ chấp nhặt chuyện bỏ tục xuất gia, chẳng biết Phật giáo dạy người tận lực giữ vẹn luân thường, tận hết bổn phận, trọng lòng kính, giữ lòng thành, khắc kỷ, giữ lễ, đừng làm các điều ác, vâng làm các điều lành, kiêng giết, che chở sanh vật, tín nguyện niệm Phật ngõ hầu lúc sống dự vào dòng thánh, khi chết về cõi Cực Lạc. Khắp trọn thế gian hết thảy kẻ phú quý, bần tiện, trí, ngu, hiền, tệ, già, trẻ, trai, gái, không ai chẳng thể nương theo pháp này tu tập, há phải đâu chỉ có mình người xuất gia [mới làm được] ư?

Nếu như hết thảy mọi người thật sự nương theo pháp này tu tập thì gần là hưởng niềm vui thoát khỏi tam giới, xa là chứng quả phước huệ nhị nghiêm. Phải biết do Như Lai nêu tỏ lý “tâm sẵn có Phật tánh” và sự “nhân quả ba đời” nên đã khiến cho không biết bao nhiêu kẻ ngu phu ngu phụ trở thành thánh hiền, khiến cho không biết bao nhiêu kẻ đại ác ngoan bướng, hung hãn dứt bỏ lòng ác ngầm. Do vậy, thực hành Phật pháp thì thiên địa quỷ thần thảy đều hiện điềm lành, huống chi là con người? Ngay như một pháp xuất gia cũng chẳng phải là khinh miệt luân thường; bởi lẽ những người ấy được cha mẹ cho xuất gia, tu tinh ròng phạm hạnh, dùng công đức tu trì của chính mình để hồi hướng cho cha mẹ, mong sao thần thức cha mẹ thoát khỏi tam giới ngự lên chín phẩm, ngộ Vô Sanh, chứng bản tánh. So với những kẻ hiếu dưỡng, nhưng để cha mẹ luân hồi trong tam đồ lục đạo bao kiếp dài lâu không nơi nương tựa, chẳng tốt hơn lắm hay sao?

Huống chi Phật dạy đệ tử coi hết thảy chúng sanh đều là cha mẹ thân quyến trong quá khứ, dùng tâm từ bi hành hạnh phóng sanh. Chẳng những đối với cha mẹ trong đời này không nỡ lòng coi thường gạt qua một bên, mà còn đối với hết thảy những sanh vật sống trên đất, dưới nước, bay trên không cũng chẳng nỡ coi thường bỏ qua. Dù cho sức chẳng thể lo hết, vẫn dùng bi tâm thiện niệm vì họ niệm Phật, mong cho họ mau thoát khỏi ác đạo, mau sanh về Tây Phương mới thôi! Do vậy nói rằng: “Nếu con người hành theo Phật pháp sẽ thắng tàn bạo, bỏ giết chóc, thế đạo thái bình vậy!” Hơn mấy mươi năm gần đây, sát kiếp trọn khắp trong ngoài nước, do khí ác ấy chiêu cảm thiên tai, lụt lội, hạn hán, bão tố, động đất liên tiếp giáng xuống, vận đời nguy ngập, dân không lẽ sống. Những vị lo cho đời nghĩ cách cứu vãn, bèn lấy việc đề xướng Phật học làm nhiệm vụ cấp bách. Nếu con người biết được nhân quả ba đời, sự thật luân hồi lục đạo và diệu đạo “nhất niệm tâm tánh của chúng ta chẳng khác với chư Phật” thì có ai chịu dùng cái vốn “tâm này làm Phật, tâm này là Phật” để tạo nghiệp sanh tử, vĩnh viễn đọa trong ác đạo hay chăng?

Đại sư Đằng Chiếu ở Đài Loan thương cho đời nhiều kẻ không biết, thề muốn lợi khắp đồng nhân nên tính lập hội Phật giáo để đề xướng, giảng thuyết khiến cho đại chúng đều biết. Thoạt đầu, hội ấy định kỳ tu trì để làm gương mẫu ngõ hầu phong thái ấy được lưu hành khắp cõi, khiến cho nhà nhà Quán Thế Âm, chốn chốn Di Đà Phật. Lại còn lưu thông những kinh điển được in khắc từ các nơi, khiến cho những ai có tín tâm hiểu được văn nghĩa đều được đọc tụng, thọ trì, hòng tận lực thực hành luân thường, trọn hết bổn phận, trọng lòng kính, giữ lòng thành, khắc kỷ, giữ lễ, không làm các điều ác, vâng làm các điều thiện, kiêng giết, che chở loài vật, tín nguyện niệm Phật để mong sao sống dự vào bậc thánh hiền, mất về cõi Cực Lạc. Lợi ích ấy chẳng thể diễn tả được. Sư biết Quang là người có cùng chí hướng, bèn gởi thư nhờ viết lời tựa, nên tôi bèn diễn giải đại lược “Phật giáo lợi khắp hết thảy hữu tình” vậy!

  1. Lời tựa Phát Ẩn[8] cho Ngô Tùng[9] Phật Giáo Cư Sĩ Lâm

      Phật pháp rộng lớn như pháp giới, rốt ráo như hư không, không gì lớn lao chẳng bao gồm, không gì nhỏ nhặt chẳng nêu lên, vốn dùng nhất tâm để lập, tùy cơ nghi mà thuyết pháp. Tuy gọi là pháp xuất thế gian nhưng thật ra trọn đủ hết thảy thiện pháp thế gian. Tuy chẳng bỏ sót mảy may điều thiện nào, nhưng lại chẳng chấp vào một pháp (“Chẳng chấp” là chẳng cho đó là đức, chẳng tự mãn, cho là đủ. Nếu hiểu lầm chẳng tận lực thật hành là “chẳng chấp” thì lầm to mất rồi!) Chỉ vì không chấp trước nên hành đến rốt ráo. Xưa nay, những ai hạnh tốt đẹp hơn người đa phần là do học Phật đắc lực mà ra. Do vậy, từ ngay nơi cái tâm phàm phu bèn khế hợp Như Lai Tạng, đối với mỗi một pháp thảy đều thông đạt đến cùng tột cội nguồn, đích thân chứng được Thật Tướng. Tuy là lý u huyền sâu thẳm đến tột cùng, nhưng tùy theo căn cơ lớn – nhỏ đều có thể nhập được, trọn khắp thế gian không một ai chẳng kham tu, mà cũng không một ai chẳng thể tu được! Bởi lẽ con người có cùng một tâm này, tâm cùng một lý này vậy! Phải biết vô lượng pháp môn đều phải dùng tự lực đoạn Hoặc chứng chân mới thoát sanh tử được; tìm lấy một pháp nhiếp thọ chúng sanh phổ biến nhất, cứu vớt nhanh chóng không ngằn mé, ba căn thượng trung hạ đều cùng tu, chặng đầu, chặng giữa, chặng cuối, Thỉ Giác, Bổn Giác chẳng hai, chẳng đoạn phiền hoặc, chẳng cần phải đợi đến đời khác mà liễu sanh thoát tử siêu phàm nhập thánh ngay trong đời này thì chỉ có mình pháp môn Tịnh Độ là được như vậy.

Do vậy, bậc thượng căn như Văn Thù, Phổ Hiền, hạ căn như phường Ngũ Nghịch, Thập Ác đều là những căn cơ được nhiếp thọ bởi pháp môn Tịnh Độ. Do pháp này thật giản dị, thật dễ dàng, thật nhanh chóng, thật viên mãn, nên nó giống như đại địa chở khắp muôn vật, như biển cả dung nạp các dòng nước. Phàm những ai học Phật tu Tịnh nghiệp đều phải tận lực giữ vẹn luân thường, tận hết bổn phận, cha từ, con hiếu, anh nhường, em kính, chồng xướng, vợ theo, chủ nhân từ, tớ trung thành, chỉ cốt sao chẳng thẹn với thiên chức thì mới tạo lập được cơ sở để học Phật. Tiến hơn bước nữa thì cung kính thọ Tam Quy, kính cẩn tu Thập Thiện, đừng làm các điều ác, vâng làm các điều thiện (Chuyện “đừng làm”“vâng làm” phải căn cứ nơi khởi tâm động niệm mà luận, nếu chỉ luận trên mặt sự tướng thì là tự dối mình, lừa người vậy), kiêng giết, che chở loài vật, thương tiếc mạng sống loài vật, tín nguyện niệm Phật cầu sanh Tây Phương. Người như thế là của báu trong thế gian, sống được nổi tiếng, chết về cõi Phật.

Lại phải biết dùng những chuyện ấy cảm hóa hết thảy từ thân đến sơ, từ gần đến xa, khiến cho hết thảy mọi người cùng thành thiện nhân, tu chân ngay trong cõi tục, sống trong cõi trần đảm nhận việc nước, cảm hóa những điều tàn bạo đã phát sanh, tiêu trừ họa loạn khi còn chưa chớm. Do vậy, phong tục thuần mỹ, nhân tâm biến đổi lớn lao, tai tiêu phước thạnh, quyến thuộc trời thường đến, công đức ấy chẳng thể diễn tả được! Nếu chỉ lăm lăm trộm lấy cái danh học Phật, chẳng chuyên chú học Phật thật sự, sẽ trở thành tội nhân đối với Phật pháp, chẳng những cái hư danh chẳng thể đạt được mà còn sẽ bị tai họa thật sự xảy đến về sau. Ví như trẻ nhỏ vô tri, đem Ma Ni Bảo Châu trị giá tam thiên đại thiên thế giới đổi lấy một miếng đường để ăn. Đường chẳng thể no bụng, lại còn bị mất chỗ nương cậy cho cả một đời, muốn chẳng chết vì đói lạnh há có được ư? Các cư sĩ ở Ngô Tùng mở ra Phật Giáo Cư Sĩ Lâm muốn cho hết thảy đồng nhân dốc chí tu trì, ngõ hầu ai nấy đạt được lợi ích thật sự, xin Quang viết mấy lời để làm bài cảnh sách. Nhân đấy bèn trình bày đại ý. Xem đó thì biết Phật pháp là gốc của các pháp thế gian. Những kẻ câu nệ hẹp hòi kia do không có con mắt trí nên chẳng thể thấy thấu suốt, bèn nói Phật pháp diệt luân lý, vô ích cho con người, quốc gia, có khác gì kẻ mù từ lúc lọt lòng được hưởng ân che chở, chiếu soi của bầu trời và mặt trời nên được thành người, nhưng vì chẳng thấy bèn bảo là không có, chẳng đáng buồn lắm ư?

  1. Lời tựa cho Phật Hóa Tùy San

      Phật pháp là cội nguồn của hết thảy các pháp thế gian và xuất thế gian. Vì thế đạo ấy không gì lớn lao chẳng bao gồm, không gì nhỏ nhặt chẳng nêu. Lời lẽ rộng lớn dẫu cạn hết biển mực cũng chẳng thể viết hết được. Nói đến Sự thì dù kiếm lấy một chữ cũng không thể được. Phàm là đạo “hiếu – đễ – trung – tín – lễ – nghĩa – liêm – sỉ”, pháp “cách vật trí tri, thành ý chánh tâm, tu – tề – trị – bình”, không gì chẳng chỉ dạy tường tận không sót, chứ không phải chỉ nói về nhân quả ba đời, nêu rõ thiện ác báo ứng, xiển phát Phật tánh sẵn có nơi tâm, sự lý đoạn Hoặc chứng chân mà thôi! Ấy là vì hết thảy các pháp đều vốn ở nơi tâm, chỉ cần triệt ngộ tự tâm bèn có thể kiến lập các pháp. Hễ biết được chỗ chỉ quy thì dẫu là phàm phu cũng đều có thể làm được, đạt được. Xét đến cái đạo cùng cực thì dẫu là thánh nhân vẫn có điều không biết. Do vậy, những bậc thông minh duệ trí, những bậc cao nhân lỗi lạc vượt trỗi mọi người thời cổ, không ai chẳng hộ trì, lưu thông, ngầm tu hiển hóa còn e chưa xuể nữa là!

Xét từ thời Đông Hán, Phật pháp được truyền sang Chấn Đán, tìm lấy bậc cao nhân kiệt xuất, đại hưng pháp đạo thì xứ Tần (Thiểm Tây) chúng ta là nhất. Do Phật pháp được hưng khởi mạnh mẽ từ đời Tấn, đương thời Phù Tần, Diêu Tần[10] đều đóng đô tại Trường An[11], và ngài Đạo An đến đất Tần, ngài La Thập vào trong ải[12], phàm những vị kiến giải siêu việt trong hàng Tăng – tục, kiến thức xuất chúng đều quay về thờ hai vị ấy làm thầy. Đến thời Tùy – Đường vẫn đóng đô tại đây. Do vậy, hoằng tuyên pháp đạo vượt trội cổ kim. Vào thời Đường, các tông đều có đủ bởi quốc gia hết sức tôn sùng; do vậy, thủ lãnh các tông đa phần ngụ tại kinh đô, để sở học, sở đắc của mình về mặt ngầm giúp cho việc bình trị, về mặt nổi là giữ yên dân tình, sự thạnh hành của pháp đạo [tại Trường An] xứ khác làm sao sánh bằng cho được!

Về sau, tuy kinh đô được dời sang xứ khác, nhưng những vị hoằng Tông diễn Giáo, ngầm tu thầm chứng vẫn đời đời chẳng thiếu người. Đến cuối đời Thanh, sau cơn loạn giặc tóc dài, giặc Hồi, nhân dân khốn khó, đạo này bị gác lại không ai hỏi đến, nhưng mạch dây vẫn chưa đứt. Mười mấy năm gần đây, thế đạo nhân tâm đã hoại loạn đến cùng cực, nhưng loạn đến cùng cực ắt phải nghĩ đến bình trị, vận bỉ đến cùng cực ắt phải nghĩ đến lúc thái, phàm những người thấy biết thông suốt không ai chẳng dùng việc phô rõ nhân quả, chỉ bày báo ứng, chỉ thẳng nguồn tâm, nêu tỏ tánh thể của Phật pháp làm đạo trọng yếu để vãn hồi thế đạo nhân tâm. Do vậy, dù Tăng hay tục đều đua nhau đề xướng tu trì ngõ hầu mình lẫn người cùng thoát mê đồ, sanh lên bờ Giác. Do vậy, đôn đốc luân thường, tinh tu Tịnh nghiệp, sống dự vào bậc thánh hiền, thác về cõi Cực Lạc.

Do vậy, hội Phật Giáo ở Trường An tưng bừng thành lập, những người cùng tỉnh đã sống nơi xứ khác, nếu chẳng viết thư báo ắt chẳng thể diễn đạt hết ý được. Vì thế, những chuyện được thấy được nghe, những lý được thấu hiểu, được ngộ giải, những phương pháp ngầm tu thầm chứng, những giáo huấn cách ngôn, những lời luận bàn hay đẹp, những nghiên cứu bàn luận giữa bạn bè, những gì phát huy được soi sáng bởi trí huệ, đều chia môn phân loại, chép thành Tùy San. Đây – kia xem xét, bổ trợ lẫn nhau, cốt sao chánh trí được khai phát bởi các lời bàn luận, do giúp lẫn nhau lệ trạch[13] sẽ cùng được tươi tốt rộng khắp. Sẽ thấy do biết nhân quả nên vĩnh viễn dứt được ác tâm “mạnh ăn thịt yếu”, tận tâm giữ vẹn luân thường, cùng ôm ấp thiện niệm thương dân yêu vật, trừ giết chóc, thắng hung tàn, trở về thời Đại Đồng, phong tục thuần mỹ, cùng làm người trong thời Hy – Hoàng. Lợi ích ấy há thể diễn tả được ư?

Do vậy, bèn chúc rằng: “Như Lai đại pháp là nguồn các pháp, hết thảy các pháp không gì chẳng bao hàm. Giữ vẹn luân thường đến tột bực, phát huy không sót; sự lý nhân quả đều thích hợp cơ nghi. Tưởng nghĩ Tần Xuyên xưa kia hiệu là Pháp Quật (hang pháp), Hiền, Từ[14], Mật, Luật đều bắt nguồn từ đây. Thiện Đạo, Pháp Chiếu xiển dương Liên Tông, khiến cho khắp phàm phu cùng thoát lồng rọ. Chúng sanh đời Mạt đoạn Hoặc không dễ, chỉ mình pháp này thật đáng nương tựa. Từ Tấn đến Đường, hơn năm trăm năm, pháp đạo Chấn Đán không đâu hơn được! Từ đấy về sau, đời nào cũng có những bậc cao nhân ngầm tu mật chứng, phần nhiều ẩn mình. Bầu trời chân tánh lý đã già dặn, nhiếp thọ liên trì, trung hưng Tịnh Độ, quả thật bắt nguồn từ đây. Nếu đức không cùng tột, ai chịu khuất phục? Tiếc cho dấu thơm cổ đức đã bị mất nhiều! Đến cuối đời Thanh, chiến tranh liên miên, nhân dân tan tác, truyền hoằng gần tiêu. Gần đây bậc thông nhân tầm mắt rộng mở, biết nếu không dùng Phật pháp sẽ không cách gì vãn hồi tai kiếp. Do vậy, tụ tập Tăng – tục những người đồng chí tùy cơ đề xướng, dựng lập cờ pháp muốn cho khắp tất cả được hưởng pháp lợi, đề xuất Tùy San, lệ trạch tạo ích lợi lẫn nhau, mong ngộ được tánh thiên (bầu trời chân tánh). Phật do tâm làm, đạo do người hoằng, nếu cạn lòng thành đến mức cùng cực, gió thổi cỏ rạp. Quang tuy tầm thường, kém cỏi cũng biểu lộ đồng tình, chẳng nề ngu tối làm người rao đường. Nguyện những người đồng hành với tôi đều tu tịnh hạnh, ngõ hầu siêu phàm nhập thánh ngay trong đời này”.

  1. Lời tựa duyên khởi cho Đôn Bản Học Hiệu ở Phật Xuyên

      Nho – Thích hai giáo về mặt hình tướng tợ hồ khác nhau, về gốc vốn cùng. Có kẻ chấp vào hình tướng mê mất cái gốc thường bài xích Phật pháp, cho là diệt luân lý, gây rối chánh trị nước nhà, vô ích cho xã hội, có hại cho dân sanh. Đức Như Lai gọi những kẻ thế trí biện thông biện luận mù quáng như thế là “kẻ đáng thương xót”, chẳng biết Phật pháp có đủ pháp thế gian lẫn xuất thế gian. Nếu luận trên pháp thế gian thì đạo “hiếu – đễ – trung – tín – lễ – nghĩa – liêm – sỉ”, pháp “cách vật trí tri, chánh tâm thành ý, tu – tề – trị – bình” của Nho Giáo trong các kinh Đại Tiểu Thừa không gì Như Lai chẳng nói trọn! Nhưng thánh nhân thế gian chỉ căn cứ trên đời này, chỉ dạy con người tận nghĩa, tận phận, còn Phật nói đủ quá khứ – hiện tại – vị lai ba đời, và dạy rõ thiện báo của việc tận phận, ác báo của việc chẳng tận phận. Người thượng căn chỉ nghe được chuyện tận nghĩa, tận phận là chuyện nên làm bèn dốc trọn thân gánh vác, còn hạng trung hạ căn ngoài mặt kính phụng nhưng trong lòng ngầm trái nghịch nên không cách gì đối trị được. Nếu nghe đến nhân quả ba đời, biết tận phận thì được thiện báo, chẳng tận phận mắc ác báo, dẫu là kẻ ngu bướng chắc chắn cũng chẳng vui mừng vì bị tai họa, mang ý niệm tìm chuyện xui, tránh chuyện hên. Do biết tam thế thiện ác báo ứng, dù chẳng muốn tận nghĩa, tận phận, nhưng vì mong mỏi thiện báo, sợ ác báo nên cũng sẽ gắng sức tận nghĩa, tận phận.

Đấy chỉ là luận trên sự việc nông cạn, gần gũi nhất thì đã có thể biến kẻ ngu bướng thành người lương thiện, chuyển thói tục tệ bạc thành phong tục thuần hậu, huống hồ những lợi ích sâu xa thì bọn phàm phu thế gian kia làm sao có thể thấy hết, biết trọn cho được! Chỉ luận về Hiếu thì đã trọn khắp lục đạo cho đến tột cùng đời vị lai. Do vậy, các kinh Phạm Võng, Lăng Già v.v… đều dạy sanh tâm hiếu thuận, tâm từ bi, kiêng giết, phóng sanh, bởi lẽ hết thảy chúng sanh đều có Phật tánh, đều kham thành Phật, đều trong vô lượng kiếp đến nay luân hồi sáu nẻo, ai nấy lần lượt làm cha mẹ, anh em, vợ con, bạn bè của nhau. Nói nghĩ đến đây, lẽ ra phải giúp cho họ được sống yên vui, nỡ nào nhằm thỏa ham muốn của bụng miệng mà tàn hại cha mẹ quá khứ, chư Phật vị lai ư? Huống chi đã tạo sát nghiệp ắt mắc chịu sát báo, ai chịu thỏa nỗi ham muốn tạm thời của miệng bụng để rồi trong đời vị lai thường bị mỗi một chúng sanh từng bị ta giết hại ăn thịt trước kia sẽ giết ăn thịt trở lại chính mình ư? Huống chi binh đao đại kiếp trong thời gần đây thảm thương chẳng nỡ nói, nguyên nhân đều là do sát sanh ăn thịt mà ra. Nếu ai nấy đều y theo Phật pháp, kiêng giết, giữ gìn sanh mạng loài vật, ăn chay, niệm Phật, chẳng gây nhân giết chóc thì tự mình không có quả giết chóc, khó gì chẳng thắng được bạo tàn, trừ khử giết chóc, trở thành yên ổn rất mực ư? Xét ra, thế đạo có thái bình thì cha mẹ, anh em, vợ con, bạn bè ai nấy mới được vui sướng, ai nấy tận nghĩa tận phận không hối tiếc gì thì mới là hợp với tâm hiếu thuận, ý chỉ cốt lõi từ bi mà đức Phật đã nói. Do vậy, nói: “Đức Phật dạy đạo hiếu vừa lớn lao vừa sâu xa!”

Chân Đạt đại sư sanh trong nhà họ Hồ ở Phật Xuyên, tuổi nhược quan (20 tuổi) liền ngộ cõi đời chẳng thường, bèn xuất gia nơi Tam Thánh Đường ở núi Phổ Đà, tinh tu Tịnh nghiệp, mong sanh về Liên Bang. Mấy mươi năm qua, cha mẹ, anh em đều tạ thế cả, không người cúng giỗ. Do lòng hiếu thuận, lại nghĩ đến con em những nhà đói rét, nghèo hèn ở nơi ấy không đủ sức đi học, bèn đem tiền y bát dành dùm được hơn bảy ngàn đồng giao cho người nhiệt tâm công ích trong họ, lập ra một trường học nhỏ mang tên Đôn Bản để con em nơi ấy đều được đi học. Chương trình học chú trọng những chuyện như tận lực thực hành hiếu đễ v.v… Những sách dùng để học chú trọng vào Ngũ Kinh, Tứ Thư v.v… kèm thêm vài phần của cách học mới, ngõ hầu giữ vẹn cái gốc trọng đạo mà chẳng vướng khuyết điểm không hợp thời, chẳng thích ứng vậy. Người trong họ cảm nghĩa ấy, đem các thần chủ[15] cha mẹ, anh em… của Sư thờ cúng trong nhà trường. Nếu trường ấy chẳng bị phế bỏ thì sẽ thờ phụng mãi. So với những người có con cháu nhưng là hạng bất tiếu khiến cha mẹ bị nhục lây, hoặc giữa chừng bỏ lửng không cúng giỗ thì cha mẹ, anh em v.v… của Sư vinh diệu hơn nhiều lắm.

Lại do đất Phật Xuyên vốn nằm trên trục lộ giao thông, thường có người đi đường bị chết không có quan tài khâm liệm, Sư bèn bỏ ra riêng một ngàn đồng giao cho người quản trị nhà trường đầu tư kiếm lời, dùng tiền lời ấy làm chi phí mua gỗ đóng hòm, chôn cất. Người trong địa phương nghèo không mua nổi quan tài cũng thí cho. Ôi! Cao đẹp thay! Tâm của sư Chân Đạt có thể nói là bình đẳng công bình hết mực, trọn không có ý tự tư tự lợi, khiến người trong họ cảm kích, thờ phụng cha mẹ Sư dài lâu, những người chỉ mưu toan cho con cháu có được lợi ích như vậy hay chăng? Nhưng Quang lại muốn cho những người trong họ ấy đều được lợi ích thật sự nên chẳng ngại trình bày đại lược nỗi lòng ngu muội. Trộm cho rằng sư Chân Đạt xuất gia học Phật đem tiền y bát dư ra để làm chuyện công ích cho người quê mình thì người cùng quê cũng phải ngửa noi theo dấu thơm ấy, ai nấy tu Tịnh nghiệp. Gian chính giữa nhà trường nên thờ tượng Tây Phương Tam Thánh. Người quản trị, giáo viên, học sinh trong trường đều nên sáng chiều lễ kính để cầu nghiệp tiêu, trí rạng, chướng tận, phước cao thì mới là lợi ích thật sự rốt ráo. Trong trường cố nhiên nên đoạn dứt vĩnh viễn những thứ tanh tưởi (đồ mặn) thì mới chẳng phụ ân nghĩa của vị Tăng dùng tiền thập phương tín thí để lập học hiệu. Nếu không, chẳng những không hợp với bổn tâm của sư Chân Đạt mà cũng chẳng phải là giữ vẹn cái gốc, tự yêu lấy mình, khiến cho chính mình cùng các học trò hằng ngày được un đúc trong Phật pháp mà hoàn toàn chẳng được lợi ích thật sự gì! Chẳng tiếc lắm ư?

Phải biết Phật pháp chính là gốc của hết thảy các pháp, mà trong Phật pháp một pháp niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ lại là pháp môn vô thượng chí viên chí đốn, đơn giản nhất, dễ dàng nhất, độ khắp ba căn, lợi – độn đều thâu, thành thủy, thành chung, là pháp hết thảy mọi người đều nên tu tập, huống gì nhà trường này ư? Chớ nói Tăng bỏ tiền lập trường nên ép người ta học Phật. Đấy chính là tâm hiếu thuận, tâm từ bi muốn cho hết thảy mọi người trong trường này đều liễu sanh thoát tử, siêu phàm nhập thánh, làm đệ tử Phật Di Đà, chứng Phật tánh sẵn có mà thôi! Chẳng thấy hiện thời những người bác học đa văn tri kiến sâu xa quá nửa đều nghiên cứu tu trì pháp môn Niệm Phật đó ư? Nếu sống trong nhà trường này mà chẳng tu trì thì thành ra là gánh gai bỏ vàng, đến núi báu trở về tay không, chẳng đáng tiếc ư?

  1. Lời tụng và lời tựa bức tranh ngàn vị Phật

      Tâm như thợ vẽ khéo, vẽ được các thế gian. Phật là chánh giác thế gian, còn Bồ Tát, Duyên Giác, Thanh Văn, trời, người, A Tu La, súc sanh, ngạ quỷ, địa ngục là hữu tình thế gian, còn gọi là “mười pháp giới”. Mười pháp giới này tuy là thánh – phàm khác biệt, khổ – vui sai khác vời vợi, nhưng Chân Như Phật Tánh sẵn có đều hệt như nhau, chỉ do dụng tâm khác biệt nên mới có mười thứ tướng biến hiện ấy. Kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật dạy: “Tâm này làm Phật, tâm này là Phật”. “Làm Phật” là quán tưởng tượng Phật, ức niệm Phật đức cũng như Phật hiệu; “là Phật” nghĩa là lúc quán tưởng, ức niệm thì tướng hảo trang nghiêm, phước đức, trí huệ, thần thông, đạo lực của Phật đều hiện trong cái tâm quán tưởng, ức niệm ấy như gương soi hình, giống hệt nhau không hai.

Như vậy, nếu tâm chẳng làm Phật thì tâm chẳng phải là Phật; tâm làm tam thừa thì tâm là tam thừa; tâm làm lục đạo thì tâm là lục đạo. Bản thể của tâm giống như một tờ giấy trắng, tác dụng thiện ác nhân quả của tâm giống như vẽ Phật hay vẽ địa ngục, đều tùy tâm hiện. Bản thể tuy đồng, nhưng tạo tác thật khác. Vì thế nói: “Chỉ là thánh mất niệm thành cuồng, cuồng khắc chế được ý niệm bèn thành thánh”, chúng ta chẳng thận trọng nơi những gì mình nghĩ, mình làm ư? Cư sĩ Châu Hiểu Nhai xưa có linh căn, sanh ra liền ăn chay, khéo vẽ người vẽ vật, bút pháp xuất thần, muốn khiến cho diệu tướng vạn đức trang nghiêm của Như Lai in vào tám thức điền của hết thảy chúng sanh để nhờ vào đây, thiện căn được tăng trưởng, mở rộng dần cho đến khi thật sự chứng, hòng khỏi phụ Chân Như Phật tánh ai nấy sẵn có và tâm Như Lai đại từ bi nhiều cách dẫn dắt. Vì thế, ông ta kính cẩn vẽ một ngàn vị Phật cho in thạch bản lưu thông, xin Quang viết lời tựa để nêu bày nguyên do. Do vậy, tôi bèn phát huy đại lược ý nghĩa “tâm làm, tâm là” mong những ai thấy nghe đều biết được những gì nên lấy nên bỏ để dốc sức. Tụng rằng:

Phật do tâm làm,

Ngục do tâm tạo,

Lực dụng của tâm,

Thắng diệu bậc nhất.

Đã làm được Phật,

Sao tạo địa ngục?

Do mê hướng về,

Chứa nhân ác họa!

Cư sĩ Hiểu Nhai,

Muốn dẫn dắt người,

Kính vẽ ngàn Phật,

Để chỉ pháp yếu.

Khiến người thấy nghe,

Đều sanh kính ngưỡng,

Kiệt thành tận kính,

Lễ cúng quán tưởng,

Đã thấy thánh tượng,

In vào thức điền,

Do thiện căn này,

Ắt chứng nguồn tâm,

Đem in thạch bản,

Để rộng lưu truyền,

Giãi bày nguyên do

Biểu thị chút lòng

  1. Lời tựa sách Phật Pháp Yếu Luận

      Chúng sanh hôn mê điên đảo, phiền hoặc quá đỗi, chẳng thể tự ngộ! Trái nghịch trí huệ Như Lai sẵn có, đuổi theo căn trần chúng sanh huyễn hiện. Đối với sắc thanh, của cải, lợi lộc giống như hoa đốm trên không[16], huyễn ảnh, khởi tâm tham – sân – si, yêu – ghét, chấp trước. Tâm đã khởi tham – sân – si thì thân bèn tạo giết – trộm – dâm, từ đấy trải kiếp dài lâu báo phục lẫn nhau, từ khổ vào khổ, không hề ngừng nghỉ. Nếu như tự tu giới thiện thiền định, được sanh trong đường lành trời – người, nhưng Hoặc nghiệp chưa đoạn, phước hết lại bị đọa lạc, luân hồi sáu nẻo trọn chẳng có lúc nào hết! Được thân người như ở trọ, đọa trong tam đồ như ở quê nhà. Như vậy thì chẳng những tam đồ đáng sợ, mà nhân thiên cũng đáng sợ! Bởi thế, đức Đại Giác Thế Tôn riêng rủ lòng xót thương, thị hiện sanh trong thế gian thành Đẳng Chánh Giác, tùy thuận chúng sanh nói đủ mọi pháp. Với hàng đại căn bèn nói thẳng Lý “nhất tâm tạo đủ” khiến họ đích thân chứng ngộ, với tiểu căn bèn dạy rõ Sự tam thế nhân quả khiến họ tu trì dần dần. Đã biết lý này, sự này, ai chịu ôm châu làm kẻ ăn mày, cầu vui lại bị khổ; mà sẽ trái trần, hiệp giác, bỏ mê theo ngộ để mong khôi phục thiên chân Phật tánh sẵn có của mình chẳng để lỡ qua! Tuy nhiên, phiền não sâu dầy chẳng dễ tiêu trừ, nếu không phải là kẻ thiện căn nhiều kiếp chín muồi, thật khó thể siêu thoát ra ngoài luân hồi ngay trong đời này!

Vì vậy, đức Thế Tôn ta do lòng đại từ bi, đặc biệt mở ra pháp môn cậy vào Phật từ lực vãng sanh Tịnh Độ, để thượng thánh hạ phàm cùng được vãng sanh Tây Phương ngay trong đời này, quả là đạo trọng yếu vỗ về, nuôi nấng, bế bồng, nựng nịu[17], mà cũng là diệu pháp để mau chứng Bồ Đề vậy! Bởi lẽ, hết thảy chư Phật không có pháp này sẽ chẳng thể viên mãn Bồ Đề, hết thảy chúng sanh nếu không có pháp này sẽ chẳng thể thoát ngay được sanh tử. Hạ thủ dễ, thành công cao, dùng sức ít hiệu quả nhanh. Do dùng Quả Địa Giác làm Nhân Địa Tâm nên nhân trùm biển quả, quả thấu nguồn nhân. Gần đây thế đạo nhân tâm suy hoại đến cùng cực, phế kinh, phế luận, đua nhau lập tân pháp, lầm nhân mê quả, mặc sức làm xằng. Do vậy, thiên tai nhân họa liên tiếp giáng xuống, giặc cướp tung hoành, dân không lẽ sống, người lo cho đời đau buồn hết mực.

Cư sĩ Đạt Am Phùng Bảo Anh xưa đã trồng cội đức, dốc sức tin tưởng Phật thừa, triệt ngộ tự tâm, thâm nhập Kinh Tạng, thương xót những kẻ ấy mê muội bổn tâm, bèn soạn cuốn Phật Pháp Yếu Luận để cứu đời, phát huy mọi lẽ khế lý, khế cơ, khiến cho họ biết được tâm ta sẵn có Phật tánh, nhưng bị Hoặc nghiệp huyễn vọng khởi lên ngăn lấp. Do vậy, chịu sống chịu chết trong tam đồ lục đạo đến nỗi thân hình xấu hèn, thần thức tối tăm, thọ dụng khốn khổ gian nan, bị nguy hiểm bức bách. Ví như đặt hình tướng xấu hèn trước tấm gương sáng, quyết chẳng thể có được hình ảnh vi diệu trang nghiêm đẹp đẽ. Từ đấy, gột lòng tẩy ý, chuyên tu giới thiện và thiền định để làm nhân xuất thế. Lại còn phát Tứ Hoằng Thệ Nguyện và Đại Bồ Đề tâm, tự hành, dạy người cùng tu Tịnh nghiệp để mong khi báo hết nhanh chóng vãng sanh Tây Phương, thân cận Di Đà, theo gót hải chúng mau chứng Phật tánh tâm ta sẵn có, phổ độ vô biên chúng sanh trong pháp giới. Như thế thì trên chẳng cô phụ Phật giáo hóa, dưới chẳng phụ tánh linh của chính mình, mà thâm tâm soạn luận của Đạt Am, ý thiết tha lưu thông của các vị cũng được thông suốt, vui thỏa, không tiếc nuối vậy!

  1. Lời tựa trình bày duyên khởi cho hội Thí Quan Tài Thể Nhân ở Phổ Đà

      Câu “vùi xương chôn thây” xuất phát từ thiên sách Nguyệt Lệnh[18]. “Ân trạch thấm đến xương khô” là câu văn nói về việc thi ân của vua Châu, huống chi Phật pháp là đạo cứu giúp cả thân lẫn tâm, kẻ còn người mất đều giúp đỡ [lại chẳng như vậy] ư? Phổ Đà là đạo tràng của Quán Âm Đại Sĩ, bao triều đại đều khâm kính, khắp thế gian tôn sùng. Do vậy, có được ba ngôi chùa[19] như thế chân vạc, các am cùng khắp; trong nước, ngoài nước triều yết thật là đông đảo! Phàm là thợ cả, người sai vặt, người bán rong, kẻ bán sức thường quá ngàn người. Nếu đến kỳ dâng hương, con số ấy còn gấp bội. Vì thế, các vị trưởng lão trong núi thể theo lòng từ của Phật, mở ra y viện để chữa trị cho hết thảy những người mắc bệnh, hoặc là những người bán rong, bán sức bị chết bất thình lình, không có quan tài thật khó thể an ủi vong linh, mở rộng sự hóa độ từ bi. Huống chi thường có những tử thi từ biển giạt vào, cũng như những người khổ hạnh từ phương xa đến dâng hương bị chết bất ngờ, cần phải tẫn liệm ngay. Nếu không sẽ bị rữa nát, đối với chuyện giúp đỡ người chết lẫn vấn đề vệ sinh đều đáng phàn nàn.

Chân Đạt đại sư liền phát tâm thí quan tài. Lại nghĩ: Nếu chẳng lập cách, về sau sẽ khó thể duy trì lâu dài được! Năm Dân Quốc thứ năm (1916), các ông Dương Thúc Anh, Chúc Lan Phưởng, Viên Tổ Hoài, Tào Chấn Thanh v.v… lên núi, nhân đó bàn về chuyện này. Các ông cùng bỏ ra hai ngàn đồng, Chân Đạt đại sư tự bỏ ra bốn ngàn đồng. Năm ngoái lại cùng các thầy Liễu Tín chùa Phổ Tế, Đạt Viên chùa Pháp Vũ, Liên Hy chùa Hải Ngạn, Quảng Đức chùa Tử Trúc, Nguyện Lai chùa Hồng Phiệt, Giới Như chùa Hồng Phiệt, Oánh Chiếu chùa Báo Bổn, Thanh Phước chùa Hạc Minh, Khôn Sơn chùa Phổ Tuệ, Cực Đắc chùa Bách Tử và hai vị cư sĩ Lưu Ký Đình, Trương Tông Phú cùng nhau thương lượng bàn bạc biện pháp. Do đấy, lập ra một hội, đặt tên là Thể Nhân, nhằm kính cẩn thể theo lòng Từ của Phật, nhân từ cứu giúp vong linh, khiến cho người mất chẳng bị nỗi thảm phơi bày thi thể, Tăng chúng trong núi không bị cười chê là thiếu lòng Từ. Mỗi vị đều bỏ ra một trăm đồng, cùng với món tiền đã quyên được bên trên, tổng cộng là bảy ngàn hai trăm đồng dùng mua hằng sản, mời người [soạn văn] bày tỏ, lập bia. Riêng thỉnh các vị sư trong hội tại núi này luân lưu trông nom, dùng tô lợi thâu thập hằng năm chi dụng hết vào việc thí quan tài, ngõ hầu được truyền mãi không bị bỏ phế. Như thế thì sau này những người bần cùng mất đi đều được phước mà viên thông đạo tràng cũng được vinh lây. Phàm những người bỏ vốn và trông nom coi sóc đều được tiêu trừ túc nghiệp, tăng trưởng thiện căn. Hiện đời phước lẫn thọ cùng vượng, làm gương mẫu cho đời, lâm chung thì thân lẫn tâm đều diệu, dự vào cõi nước Phật. Muốn cho hậu nhân biết rõ nên thuật lại duyên khởi, ngõ hầu ức vạn năm sau, bố thí mãi mãi hầu đền đáp tâm cứu độ chúng sanh của Đại Sĩ, mà cũng chẳng phụ một phen tận tâm hộ giáo, giúp đỡ người mất của các vị đại sư, các vị cư sĩ vậy.

  1. Lời tựa cho Vạn Niên Bạ của Tam Thánh Đường

      Pháp chẳng khởi một mình, đạo do người hoằng. Thắng địa danh lam chỉ nhờ vào người [mà được nổi tiếng]. Có được người thì rừng gai góc biến thành rừng chiên-đàn; không có người thì hang sư tử biến thành ổ chồn hoang. Tam Thánh Đường được sáng lập vào năm Vạn Lịch thứ 30 (1602), khi ấy vị Tăng tên Đại Phương kết am tranh ở đây. Rồi hai thái giám Trương Tùy, Đảng Lễ phụng chỉ đứng trông coi xây Tàng Kinh Các, nhàn hạ đi đến đây, uống nước suối thấy ngọt bèn tìm nguyên do. Biết suối này nhằm lúc khô hạn hết sức cũng không cạn, trong chùa nhằm lúc hạn hán cầu mưa, ắt dùng nước lấy từ con suối này [để cầu mưa] sẽ liền được mưa tràn trề; do vậy bèn đặt tên là Bát Công Đức Tuyền (suối tám công đức). Vì vậy, hai ông bèn bỏ tiền sai dựng điện Tây Phương Tam Thánh, bởi nước tám công đức vốn có trong ao bảy báu của Tây Phương Cực Lạc thế giới. Đến thời Khang Hy nhà Thanh, vị tăng tên Hải An trùng tu. Về sau, lâu năm, hư nát. Đầu đời Hàm Phong, do Ân Đường Hiển Pháp Công tiềm tu tại đây, chùa đổi tên là Như Ý Am, vẫn chỉ là mấy gian nhà nhỏ mà thôi! Đầu đời Quang Tự, đồ tôn đời thứ tư [của Hiển Pháp Công] là Hoa Đức Công quyên mộ những vị trong ấp như các ông Hồng X… dựng điện Tam Thánh, đổi lại tên cũ. Từ đấy về sau, thế đạo thái bình, lại thêm đường thuyền, đường sắt đều thông, hương hỏa của Bồ Tát này càng thạnh vượng. Chuyện trong am đã gần như đâu vào đấy, Hoa Đức Công muốn lắng lòng chuyên tu Tịnh nghiệp, đem việc am giao cho đồ đệ là sư Trưởng Đính, lại sai cháu là sư Chân Đạt phụ giúp, chùa bèn được xây dựng rộng lớn. Đến khi thầy Trưởng Đính qua đời, thầy Chân Đạt lại càng chẳng tiếc tâm lực, những gì cần sửa bèn sửa, những gì nên dựng bèn dựng, chùa trở thành một ngôi già-lam đẹp đẽ lớn lao. Về sau, nhọc nhằn đã lâu, ý muốn tịnh dưỡng, bèn giao cho thầy Minh Giáo trông coi mấy năm.

Năm nay, thầy Minh Giáo lại xin thôi, thầy Chân Đạt nhân đó nghĩ đời người tuổi thọ được mấy, am này đã qua mấy đời Trụ Trì, do tâm lực mấy mươi năm mới được điện vũ nguy nga, liêu xá rộng rãi, Tăng chúng trong am được thanh tu, khách đến dâng hương có chỗ ở nhờ. Đương trong lúc này, chẳng đem quy củ khóa trình trong am cũng như kinh tượng trang nghiêm, pháp khí, đồ đạc viết hết vào sách để lại cho mai sau thì e rằng năm lâu tháng chầy, người đời sau chẳng biết, rất có thể phế bỏ quy củ, đồ vật thất lạc, khiến cho một phen khổ tâm tạo lập đạo tràng của tiền nhân đổ ra biển hết, toàn là khiến cho hậu nhân ở yên nơi đây ăn luống của tín thí, chẳng tu đạo nghiệp, há chẳng gây hận cho tiền nhân ư? Vì đó, viên thông đạo tràng bị tước mất sắc vẻ, Phổ Môn Đại Sĩ đành phải ngậm buồn nơi cõi Thường Tịch Quang! Do vậy, sai Quang lược thuật duyên khởi của am này, phàm mọi thứ quy củ, đồ đạc v.v… đều nhất nhất ghi cặn kẽ ngõ hầu người đời sau có cái để tuân thủ vậy.

  1. Lời tựa cho sách Anh Minh Tập của cư sĩ Sái Bá Luân

      Con người sống trong thế gian ai nấy phải tận hết luân thường. Nếu không, tuy mang danh là người, nhưng quả thật có khác biệt gì với loài thú đi ngang đâu? Mạnh Tử nói: “Ai cũng có thể là Nghiêu – Thuấn”. Kinh Phật dạy: “Hết thảy chúng sanh đều có Phật tánh, đều kham làm Phật”. Điều cốt yếu để làm Nghiêu – Thuấn, để làm Phật nằm ở chỗ tận lực thực hành hiếu đễ cũng như bỏ vọng theo chân mà thôi! Cái giúp cho chuyện này được thành tựu từ lúc ban đầu cho đến khi cuối cùng chính là khắc kỷ, giữ lễ, dứt lòng tà, giữ lòng thành, đừng làm các điều ác, vâng làm các điều thiện mà thôi! Gần đây, phái tân học trong thế gian tranh nhau học theo phong cách Âu Tây, phế bỏ kinh điển, trái nghịch luân thường, đến nỗi công khai đề xướng chống đối đạo hiếu, chung vợ, lõa thể v.v… chỉ muốn cho con người chẳng khác gì cầm thú! Điên cuồng mất trí quá sức vậy!

Cư sĩ Bá Luân sống gởi ở Đài Loan đã ba đời. Đến tuổi nhược quan muốn trở về tổ quốc, do bà mẹ chẳng muốn đi xa, nên gắng lưu lại chốn xa xôi, làm việc nhiều năm. Đến khi mẹ mất bèn ung dung trở về. Có thể nói là bậc đứng riêng, đi một mình, giữ vẹn luân thường, trọn hết bổn phận vậy. Ông sống tạm nơi đất Hỗ (Thượng Hải), sống bằng nghề xem tướng. Phàm những ai đến xem bói, bất luận tướng mạo thiện hay ác đều khuyên nên gắng tu đức tích thiện, ngõ hầu thiện càng thêm thiện, bất thiện cũng trở thành thiện, phù hợp sâu xa nghĩa lý “mạng do ta lập, phước do ta cầu” cũng như “có tâm không tướng, tướng tùy tâm sanh; có tướng không tâm, tướng theo tâm diệt”! Nhưng trong lúc bàn luận luôn ra rả nhắc đến tam thế nhân quả báo ứng và pháp môn Tịnh Độ hoành siêu khiến cho hết thảy mọi người do đến coi bói đều được dự vào cõi hiền thánh cũng như vãng sanh nước Cực Lạc, [cũng có công] vãn hồi thế đạo nhân tâm rất lớn! Do đây biết người có tâm cứu đời giúp người dẫu chẳng có địa vị để thực hành việc cai trị [theo đúng đạo nghĩa] cũng vẫn có thể thi hành vậy. Nhân đấy bèn đổi tên là Bá Luân, chẳng biết ý của cư sĩ Bắc Luân[20] có cho như vậy là đúng hay không?

  1. Lời tựa sách Giáo Hối Thiển Thuyết

      Giáo dục trong gia đình, nhân quả báo ứng là nhiệm vụ trọng yếu nhất để cứu vãn thế đạo nhân tâm trong hiện tại. Nếu chẳng bắt đầu từ đây thì dù có làm gì cũng đều thuộc về cành nhánh, đều có thể trá ngụy. Chỉ khi nào từ nhỏ đã dạy giữ vẹn luân thường, tận hết bổn phận, lý nhân quả báo ứng, tập quen thành tánh, đến khi lớn lên lẽ đâu chẳng trở thành người hiền! Sách Luận Ngữ chép: “Thiên hạ hưng vong, thất phu hữu trách” (Thiên hạ hưng vượng hay suy vong, kẻ thất phu có trách nhiệm). Kẻ thất phu thân hèn, danh kém, làm sao có trách nhiệm này cho được? Phải biết: Quốc gia thiên hạ do từng người, từng gia đình hợp thành. Những ai có quyền lực thì người cùng một nhà tranh chấp, những kẻ không quyền lực lập bè đảng cướp đoạt, cùng những kẻ phóng đãng, lười nhác, gian trá, phạm pháp, chỉ cầu may mắn tạm thời, chẳng đoái hoài họa – phước về sau, đều là do từ nhỏ chẳng được cha mẹ hiền khéo dạy, chẳng biết lợi người chính là lợi mình, hại người còn tệ hơn hại mình quá mức, làm lành ắt nhà mình thịnh vượng, chết đi thần thức siêu thăng thiện đạo, làm ác ắt nhà mình suy vong, đến nỗi chết đi thần thức đọa trong ác đạo.

Nếu như biết âm thanh êm ái thì tiếng vang dễ nghe, hình thẳng ắt bóng ngay, trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu, đã tạo nhân như thế phải cảm lấy quả như thế, quyết sẽ chẳng đến nỗi vì cầu yên vui, giàu có, sang cả cho chính mình mà giết người ngập thành, ngập đồng, khiến cho vận nước nguy ngập, dân không lẽ sống. Vì thế, những bậc lập đại công, dựng đại nghiệp, hạo khí ngút trời đất, tiết tháo trong sáng lòa nhật nguyệt, đều ôm tấm lòng lập mình, lập người, mang ý nguyện tự lợi, lợi người. Do vậy, trăm ngàn năm sau vẫn được người ta kính ngưỡng! Hiềm rằng, người đời kiến thức hẹp hòi, nông cạn, thường theo đuổi chuyện trái đạo, từ bé đã không có cha mẹ hiền khéo dạy, lớn lên lại không có thầy tốt bạn hiền dắt dìu. Do đó, vượt lý, trái phận đến nỗi bị giam cầm, tuy do họ tự chuốc lấy nhưng cũng rất đáng thương! Do vậy, các nhà ngục đều cử ra một vị thầy giáo huấn, hằng ngày giảng cho những tù nhân đạo lý “con người phải tận sức, lý nhân quả không lầm lạc”, hòng khiến cho những người ấy gột lòng tẩy ý, đổi ác hướng lành, gắng trở thành lương dân, lần lượt khuyến hóa lẫn nhau, sao cho dù mình hay người đều thuộc vào bậc hiền thánh, ngõ hầu quốc gia thiên hạ mãi mãi hưởng phước thái bình.

Ông Thiệu Huệ Viên đảm nhận chức thầy giáo huấn ở nhà tù Tào Hà Kính[21]. Bản thảo giảng dạy cho phạm nhân của ông có mấy chục thiên, ước chừng hơn mười vạn chữ đều là những lời khuyên họ nên giữ phận an vui với số mạng, giữ vẹn luân thường, tận hết bổn phận. Lại còn dẫn kinh trích sử, dựa vào đời cổ để chứng minh cho hiện tại. Văn tuy đơn giản nhưng ý chỉ thật sâu. Tuy là để nói với những tù nhân, nhưng hết thảy mọi người đều nên đọc để hành theo. Những người cùng chí hướng cho là sách ấy có ích, bèn đem in, xin Quang viết lời tựa để hướng dẫn. Nhân đấy, Quang bèn nêu đại lược những điều trọng yếu để vãn hồi thế đạo nhân tâm, ngõ hầu người khắp cõi đời đều chú trọng vào giáo dục gia đình và nhân quả báo ứng, nhưng trong chuyện giáo dục gia đình thì sự dạy dỗ của người mẹ quan trọng nhất. Nếu như bà mẹ hiền, ngay từ khi con cái còn bé đã chú trọng nêu gương giữ vẹn luân thường, tận hết bổn phận, lại hằng ngày nhắc nhở lý nhân quả báo ứng thì con cái bà ta quyết định đều thành hiền nhân, há lẽ nào có những hành vi vượt lẽ, phạm phận, thương thiên tổn đức ư? Mong rằng thất phu thất phụ đều nhận lấy trách nhiệm này, ngõ hầu người hiền vượt trội, giặc cướp đổi lòng, lễ giáo hưng thạnh, thiên hạ thái bình. Người hiểu lý thông đạt ắt chẳng cho lời tôi là sai lầm, xằng bậy vậy!

  1. Lời tựa trình bày duyên khởi của Hoành Siêu Liên Xã

      Kinh Pháp Hoa dạy: “Ba cõi không yên khác nào nhà lửa, các khổ đầy dẫy, thật đáng kinh sợ”. Huống chi đang lúc đấu tranh lẫn nhau, kẻ mạnh ăn thịt kẻ yếu, phương cách giết người lạ lùng không gì là chẳng có, lại còn đủ mọi thiên tai liên tiếp xảy ra này! Người có trí thức do vậy bèn đề xướng pháp môn Tịnh Độ để mong hết thảy những người cùng hàng đều được thoát khỏi tam giới, lên chín phẩm sen. Nếu luận về “thụ xuất” (thoát ra theo chiều dọc) thì nếu không tận lực tu đạo Giới – Định – Huệ để đoạn phiền hoặc sẽ không thể được. Nếu phiền hoặc còn chút gì chưa đoạn thì vẫn không thể thoát khỏi tam giới y như cũ, huống chi chúng sanh đời Mạt thiện căn mỏng cạn, thọ mạng ngắn ngủi. Dẫu người tu có ức ức kẻ, người thoát ra khó có một hai! Do chỉ cậy vào tự lực, cho nên khó được lợi ích thật sự.

Nếu luận về “hoành siêu” (thoát ra theo chiều ngang) thì chỉ nương theo pháp môn Tịnh Độ, sanh tín phát nguyện, niệm danh hiệu Phật, cầu sanh Tây Phương, lại thêm đôn đốc luân thường, trọn hết bổn phận, đừng làm các điều ác, vâng làm các điều lành thì vạn người chẳng sót một ai đều được vãng sanh! Đã vãng sanh thì liễu sanh thoát tử, siêu phàm nhập thánh vĩnh viễn lìa các khổ, chỉ hưởng các sự vui! Người công phu thành thục cố nhiên dự vào Thượng Phẩm, mà kẻ lâm chung mới niệm cũng dự vào hàng chót. Pháp này toàn cậy vào Phật lực, lợi ích so với pháp chỉ cậy vào tự lực khác nhau như trời với vực!

Vợ của cư sĩ Sư Hoằng là bà Sư Thang muốn cùng những vị anh hiền trong khuê các luôn tu trì Tịnh nghiệp để mong sao trong đời này cùng thoát khỏi nhà lửa, bèn lập một Liên Xã ở vùng phụ cận. Phân nửa do bà tự bỏ ra, phần còn lại do người khác giúp đỡ. Xây dựng đã xong, xin Quang đặt tên; nhân đó, bèn đặt tên là Hoành Siêu, ngõ hầu hết thảy những bậc trượng phu râu mày, những bậc khôn luân trinh tịnh[22] sợ hãi nhà lửa muốn thoát ra nhưng không có cách nào đều cùng nương theo đây tu tập hòng chào từ biệt Sa Bà mãi mãi, mau về cõi Cực Lạc, hễ siêu thoát bèn nhập thẳng vào Như Lai địa, vĩnh viễn làm người tiêu dao tự tại. Vì thế bèn tường thuật duyên do như vậy.

  1. Lời tựa khắc lại mộc bản sách Quán Thế Âm Bồ Tát Bổn Tích Cảm Ứng Tụng

      Tâm chúng sanh và tâm Phật không hai, tuy mê chân đuổi theo vọng, trái giác hợp trần, khởi tham – sân – si, tạo giết – trộm – dâm, luân hồi lục đạo trọn chẳng lúc ra, nhưng bản thể tịch chiếu chân thường vẫn y như cũ, chẳng tổn thất mảy may. Vì thế, Phật thấy hết thảy chúng sanh đều là Phật, thương họ nghiệp chướng sâu nặng, chẳng thể khôi phục ngay được bản thể; do vậy, dùng đủ mọi phương tiện khiến cho họ trồng thiện căn, trước hết dùng Dục để lôi kéo, rồi sau mới làm cho nhập Phật trí. Do vậy, đức Chánh Pháp Minh Như Lai thành Phật đã lâu, tuy vẫn chẳng lìa Tịch Quang, nhưng hiện hình trong chín giới, hiện hình theo từng loài, tầm thanh cứu khổ, nên dùng thân nào để độ bèn hiện thân ấy để thuyết pháp. Những thân hiện trong các pháp giới khác đều thuộc về bí mật, thân Quán Thế Âm hiện trong Bồ Tát pháp giới thì lại hiển lộ. Vì thế, mười phương chư Phật đều khen ngợi Quán Thế Âm Bồ Tát là bậc đại từ đại bi thí vô úy (ban cho sự không sợ hãi) ngõ hầu hết thảy chúng sanh trong chín pháp giới đều sanh lòng tin tưởng, cùng được nhiếp thọ.

Do Bồ Tát chứng tột cùng pháp giới, tỏ bày trọn vẹn tự tánh, triệt ngộ duy tâm, nên có thể vận dụng lòng Bi Đồng Thể, khởi lòng Từ Vô Duyên, hễ khắp pháp giới cảm bèn ứng khắp pháp giới. Tùy theo lòng thành cơ cảm lớn hay nhỏ sẽ được lợi ích tương xứng. Như phẩm Phổ Môn kinh Pháp Hoa, chương Quán Âm Viên Thông trong kinh Lăng Nghiêm đã nói và những sự tích cảm ứng phương này như đã được ca tụng trong sách đây há thể nghĩ bàn được ư? Ấy là vì tâm Bồ Tát giống như hư không, không đâu chẳng trọn khắp. Chỉ do chúng sanh đang mê, chẳng sanh tin tưởng, ví như hư không bị vật ngăn chướng nên biến thành cách trở, ngăn ngại, nếu xoi một lỗ nhỏ thì được một khoảng không bằng cái lỗ nhỏ. Nếu xoi một cái lỗ to sẽ được khoảng trống bằng cái lỗ to. Nếu bỏ được hoàn toàn vật chướng ngại thì sẽ xen lẫn khít khao cùng hư không bao hàm khắp muôn hình tượng. Do vì chúng sanh tiểu cảm sẽ được tiểu ứng, đại cảm bèn được đại ứng, nên kinh Lăng Nghiêm nói: “Cầu vợ được vợ (cầu vợ là cầu vợ hiền thục, trí huệ, trinh lương, nếu không cần gì phải hướng về Bồ Tát mà cầu!), cầu con được con, cầu tam-muội được tam-muội, cầu trường thọ được trường thọ, như thế cho đến cầu đại Niết Bàn được đại Niết Bàn”. Nói “cầu vợ được vợ” v.v… chính là xoi lỗ nhỏ được khoảng trống bằng cái lỗ nhỏ, xoi lỗ to được khoảng trống bằng cái lỗ to. Cầu đại Niết Bàn đắc đại Niết Bàn chính là hoàn toàn trừ bỏ được vật ngăn lấp, bèn hòa lẫn không xen hở cùng với hư không bao hàm vạn tượng.

Kinh Kim Cang nói: “Ta nên diệt độ hết thảy chúng sanh, diệt độ hết thảy chúng sanh xong nhưng thật ra không có một chúng sanh nào được diệt độ” vì tâm thể của chúng sanh chính là Vô Dư Niết Bàn, vốn chẳng hề mất đi, làm sao có lại? Bồ Tát riêng dùng các thứ phương tiện khiến cho chúng sanh tiêu trừ huyễn nghiệp, hồi phục bản thể mà thôi. Lại do chúng sanh mê hoặc sâu nặng, chẳng thể nhanh chóng phát khởi tâm Đại Bồ Đề, vì để tiếp dẫn kẻ sơ cơ vào chỗ thù thắng nên thuận theo phàm tình của họ, thỏa mãn điều họ mong mỏi, đợi đến khi thiện căn thành thục sẽ có thể rốt ráo đạt ngay được lợi ích chân thật. Đấy chính là ý chỉ căn bản của việc Bồ Tát tùy loại hiện thân tùy tâm mãn nguyện vậy.

Sách này đã được in bản kẽm, tính in ra mấy chục vạn bộ, ngõ hầu người khắp trong nước, ngoài nước đều được thọ trì. Hiện đã in được hơn bảy vạn bộ, như vậy chuyện sách sẽ được lưu thông khắp pháp giới trong tương lai khiến cho con người được thấm đượm sự giáo hóa từ bi là điều ắt sẽ thực hiện được! Nhưng vì chữ nhỏ, chẳng thuận tiện cho người già, quả là đáng tiếc. Cư sĩ Hoa Huệ Khả ở Vô Tích xưa đã gieo cội đức, dốc lòng tin tưởng Phật pháp, trông thấy sách này hoan hỷ tán thán như đạt được của quý báu nhất, mừng rỡ khôn cùng. Khẳng khái bỏ ra năm trăm đồng để khắc mộc bản, ngõ hầu hết thảy mọi người đều đọc được, hết thảy lúc đều có thể in, có thể thỉnh. Đúng là đời trước từng được Bồ Tát phó chúc vây bủa lòng từ giáo hóa hòng lợi ích hữu tình vậy! Ôi! Cao quý thay!

  1. Lời tựa cho sách A Di Đà Kinh Bạch Thoại Giải Thích

      Pháp môn Tịnh Độ quả là đường lối chung để mười phương ba đời hết thảy chư Phật trên thành Phật đạo dưới độ chúng sanh, mà cũng là đạo trọng yếu để hết thảy chúng sanh trong thời đại Mạt Pháp cậy vào Phật từ lực, liễu thoát ngay trong một đời này. Ấy là vì hết thảy các pháp môn đức Như Lai đã nói, không pháp nào chẳng nhằm làm cho chúng sanh thoát sanh tử, thành Phật đạo; nhưng do thượng căn thì ít, trung hạ căn lại đông, nên người được liễu thoát ngay trong một đời dẫu nhằm thời Chánh Pháp, Tượng Pháp còn chẳng thể thấy nhiều, huống gì thời Mạt Pháp căn cơ con người kém hèn, tuổi thọ ngắn ngủi, tri thức hiếm hoi, tà ma ngoại đạo tung hoành ư? Do vậy, đức Như Lai đã xét thấu trước cơ nghi, đặc biệt mở ra pháp môn Tịnh Độ nhằm làm cho hết thảy chúng sanh dù thánh hay phàm, thượng trung hạ căn đều chăm chú tu trì, đều cùng trong đời này vãng sanh Tịnh Độ. Bậc thượng căn thì mau thành Phật đạo, kẻ hạ căn cũng được dự vào dòng thánh.

So với những pháp môn cậy vào tự lực đã nói trong cả một đời đức Phật [thì pháp này] hạ thủ dễ, thành công cao, dùng sức ít được hiệu quả nhanh chóng. Do vì Phật lực, pháp lực chẳng thể nghĩ bàn, lại thêm sức Tín – Nguyện – Hạnh của chúng sanh nên bất luận công phu sâu hay cạn, tội nghiệp nặng hay nhẹ đều được Phật từ lực tiếp dẫn vãng sanh. Do vậy, trong các kinh Đại Thừa, đức Như Lai đều nói kèm pháp này, như các kinh Hoa Nghiêm, Pháp Hoa, Lăng Nghiêm v.v… Còn kinh chuyên nói [về pháp Tịnh Độ] thì có kinh A Di Đà, kinh Vô Lượng Thọ, kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật. Trong ba kinh này, phàm là thệ nguyện của Phật Di Đà, sự trang nghiêm của Tịnh Độ, nhân vãng sanh của ba bậc chín phẩm, mười phương chư Phật tán thán đều được nêu rõ không còn sót.

Thế nhưng kinh A Di Đà ngôn từ ngắn gọn, nghĩa lý đầy đủ, dễ thọ trì nhất. Do vậy, cổ nhân xếp vào khóa tụng hằng ngày, bất luận dù Tông, dù Giáo, dù Luật đều đọc tụng trong khóa tối, nghĩa là cả thiên hạ dù Tăng hay tục không ai chẳng lấy Tịnh Độ làm chỗ quy hướng. Tuy hành trì như thế nhưng nếu chẳng suy xét kỹ càng nguyên do Phật, Tổ lập pháp thì sẽ vẫn chẳng coi chuyện cầu sanh Tây Phương là trọng. Đấy chính là “dùng hằng ngày mà không biết, quen làm mà chẳng xem xét”. Dù là bậc cao nhân thông Tông thông Giáo vẫn còn rất nhiều người đề cao pháp môn Tự Lực, chẳng chịu tin tưởng nương cậy Phật lực. Chí ấy cố nhiên là cao, nhưng sự thật khó thể đạt được ngay trong đời này. Nếu như chưa đoạn sạch được Hoặc nghiệp, phải thọ sanh lần nữa, quá nửa bị mê mất. Không những mọi điều mong mỏi đều thành bánh vẽ mà còn có mối lo do phước tạo nghiệp, thân sau phải đọa lạc! Do đó, phải nói là “thật đáng kinh hãi!”

Phải biết: Pháp môn Tịnh Độ chính là pháp môn đặc biệt trong giáo pháp của cả một đời đức Phật, chẳng thể dùng những pháp môn thông thường để bàn luận được. Nếu chẳng hiểu rõ nghĩa này, cứ viện vào nghĩa lý của những pháp môn cậy vào tự lực thông thường để rồi ngờ vực lợi ích của pháp môn đặc biệt cậy vào Phật lực, chẳng chịu tin nhận thì sẽ bị mất mát to lớn. Phật nói pháp này khó tin chính là ngụ ý này vậy. Nếu không có mối chấp ấy thì có ai là không tin nhận, phụng hành? Gần đây thế đạo nhân tâm suy hãm, hèn tệ đến cùng cực hết cả thuốc chữa. Phàm những bậc vĩ nhân kiệt sĩ có đủ chánh tri kiến không ai chẳng lấy việc đề xướng nhân quả báo ứng, sanh tử luân hồi làm căn cứ để đẩy lùi cơn sóng cuồng, lấy việc tinh tu Tịnh nghiệp cầu sanh Tây Phương làm pháp an ổn rốt ráo. Một người xướng, trăm người hòa, không ai chẳng thuận theo. Do vậy, kẻ ăn chay, niệm Phật, đổi ác tu thiện ngày thấy càng nhiều.

Điều đáng tiếc là hạng thiện tín thông thường chưa từng được học hỏi, tuy hằng ngày tụng kinh Di Đà, rốt cuộc vẫn chẳng biết kinh dạy những nghĩa lý nào; dẫu có những bản chú giải như Sớ Sao, Yếu Giải v.v… họ cũng chẳng thể đọc được. Cư sĩ Hoàng Trí Hải tâm lợi người tha thiết, đem những nghĩa trong Sớ Sao, Yếu Giải diễn giải lại bằng văn Bạch Thoại khiến cho những người ít chữ nghĩa đều được hiểu rõ nghĩa kinh. Do vậy, lại càng thêm tinh tấn, dốc kiệt lòng thành tu trì, chuyển hóa kẻ hữu duyên, trong đời này thân tâm thanh tịnh, dự ngay vào bậc thánh bậc hiền, lâm chung cảm ứng đạo giao, lên thẳng cõi Cực Lạc. Lợi ích ấy làm sao diễn tả được! Do vậy, tôi viết ý nghĩa tổng quát để cống hiến cho người đọc.

  1. Lời tựa phổ khuyến thọ trì lưu thông sách Dục Hải Hồi Cuồng

      Mối họa cực thảm khốc, cực lớn, cực sâu trong thiên hạ, hễ bộp chộp động đến ắt phải táng thân mất mạng, nhưng nhiều người vẫn ưa thích theo đuổi, lăn xả thân vào dẫu chết chẳng hối thì có lẽ chỉ mình nữ sắc mà thôi! Những gã cuồng đồ buông lung nơi dục sự, mò hoa bẻ liễu, trộm ngọc cắp hương, diệt lý loạn luân, bại gia nhục tổ, danh xấu đồn khắp làng nước, để tiếng nhơ cho con cháu, sống chẳng được hưởng hết tuổi thọ, chết đọa mãi trong đường ác, hãy khoan nói đến những gã ấy! Ngay như trong tình vợ chồng, những kẻ đắm chìm trong ấy đến nỗi mất mạng kể sao cho xiết! Vốn mong cầu khoái lạc, bất ngờ chết mất, cảnh khổ góa bụa quả thật phần nhiều do mình tự chuốc! Há nào phải hoàn toàn do số mạng xui khiến như thế đâu! Những kẻ lụy tình ham hố đều là tự mình chuốc lấy tai ương. Cũng có kẻ hoàn toàn chẳng suồng sã, mê đắm, nhưng do không biết kiêng ngừa, cứ mạo muội theo đuổi đến nỗi phải bị tử vong cũng rất nhiều! Vì thế thiên Nguyệt Lệnh trong sách Lễ Ký có đoạn văn nói về chánh lệnh: “Chấn đạc bố cáo, linh giới dung chỉ” (gõ mõ truyền lệnh kiêng kỵ chuyện ăn nằm) (“Dung chỉ” có nghĩa là động tịnh, tức là chuyện phòng sự (ân ái)). Lòng thương dân của bậc thánh vương thời cổ có thể nói là chẳng bỏ sót điều nhỏ nhặt nào (Những nơi chỗ kiêng kỵ sách Thọ Khang Bảo Giám có chép rõ, hãy nên đọc kỹ).

Tôi thường nói trong mười phần nhân dân của thế gian thì những kẻ chết trực tiếp vì sắc dục chừng bốn phần, kẻ gián tiếp bị chết cũng phải là bốn phần, tức là do sắc dục gây hao tổn, chịu những cảm xúc khác mà chết. Những kẻ bị chết ấy không ai chẳng đổ thừa cho số mạng, nào biết vì tham sắc mà chết, đều chẳng phải do số mạng. Nếu là mạng thì phải là người giữ lòng thanh tịnh, trinh lương, không tham dục sự; những kẻ tham sắc kia tự tàn hại đời mình, há có thể nói là vì mạng ư? Còn những người do mạng mà sống, mạng hết bèn chết thì chẳng qua chỉ được một hai phần mà thôi! Do vậy biết quá nửa thiên hạ đều là kẻ chết oan uổng, mối họa này khốc liệt có một không hai trong cõi đời, chẳng đáng buồn ư? Chẳng đáng sợ ư?

Cũng có cách chẳng phí một đồng, chẳng tốn chút sức mà trở thành bậc đức hạnh cao tột, hưởng yên vui cực lớn, để lại phước ấm vô cùng cho con cháu, khiến đời sau được quyến thuộc trinh lương, có phải chỉ là kiêng dè dâm đó ư? Dâm tình chánh đáng giữa vợ chồng trước kia đã trình bày lợi – hại đại lược, nay không bàn đến nữa. Còn chuyện tà dâm vô liêm, vô sỉ, cực uế, cực ác, chính là dùng thân con người làm chuyện thú vật. Do vậy, gái đẹp đến tằng tịu, nữ nhân yêu mị đến quyến rũ, quân tử xem như mối họa ương không gì lớn bằng nên bèn cự tuyệt, ắt được phước diệu[23] chiếu soi, hoàng thiên che chở; tiểu nhân xem điều đó như hạnh phúc không gì lớn lao bằng bèn nhận lãnh, ắt đến nỗi tai tinh giáng xuống, quỷ thần tru lục. Quân tử do họa được phước, tiểu nhân do họa càng thêm họa. Vì thế nói: “Họa phước vô môn, do con người tự chuốc lấy”. Nếu đối với cái ải nữ sắc người đời chẳng thể thấy thấu suốt triệt để sẽ khiến cho đức hạnh cao tột, an lạc cực lớn, phước ấm vô cùng để lại cho con cháu, quyến thuộc trinh lương trong đời sau bị khoảnh khắc khoái lạc đoạt hết! Buồn thay!

Cuốn sách Dục Hải Hồi Cuồng của An Sĩ tiên sinh chia môn phân loại trình bày rành mạch, dùng tài văn bút khiến cho kẻ tục người nhã cùng thích xem, viết ra văn chương khuyên lơn lẫn răn dạy đều tha thiết. Chuyện xưa nay những người không dâm được phước, kẻ phạm dâm mắc họa, cội nguồn ngành ngọn đều thuật tỉ mỉ, lớn tiếng gào to chẳng tiếc sức. Trống khuya chuông sớm lay tỉnh con người sâu xa, muốn khiến cho người khắp cõi đời đều hưởng phước lạc, ai nấy hưởng hết tuổi trời mới thôi! Phải biết sách này tuy là để răn kiêng dâm mà soạn ra, nhưng về nghĩa và đạo thì phàm là những pháp cai trị đất nước, bình trị cõi đời, tu thân, tề gia, cùng lý tận tánh, liễu sanh thoát tử thảy đều trọn đủ. Nếu khéo lãnh hội thì thần trí sáng suốt, đâu đâu cũng thấy được nguồn, những gì chạm vào mắt đều là đạo, tâm thương đời cứu dân có thể nói là thật thâm thiết.

Do vậy, vào năm Dân Quốc thứ bảy (1918) Ấn Quang đặc biệt đưa bộ An Sĩ Toàn Thư sang khắc ván tại Tàng Kinh Viện ở Dương Châu. Năm Dân Quốc thứ tám (1919) lại cho khắc riêng lẻ hai bộ Dục Hải Hồi Cuồng, Vạn Thiện Tiên Tư. Năm Dân Quốc thứ 10 (1921) lại quyên mộ in bộ An Sĩ Toàn Thư dạng rút nhỏ, tính in mấy mươi vạn bộ để truyền bá khắp toàn quốc. Nhưng do người kém, đức mỏng, không cách nào cảm thông, chỉ in được bốn vạn mà thôi. Trung Hoa Thư Cục in riêng để bán cũng được gần hai vạn bản. Hàng Châu, Hán Khẩu đều bắt chước in theo, số sách được in đương nhiên cũng không ít. Nhờ có cư sĩ Ngô Tử Tường người đất Thái Thương, tỉnh Giang Tô nghĩ họa hại thế gian ngày càng nặng nề, những tân học phái đề xướng phế bỏ luân thường, tiết hạnh, chuyên chủ trương tự do luyến ái như đê bị vỡ, nước mặc sức chảy ào ạt, khiến cho mọi thanh niên nam nữ cùng bị hãm trong vùng nước xoáy của biển dục không đáy. Ông bèn phát tâm in rộng rãi bộ Dục Hải Hồi Cuồng thí cho khắp mọi người trong xã hội để mong đẩy lùi cơn sóng cuồng loạn. Chí của mọi người tạo thành bức thành, nhiều người nâng dễ giở lên, khẩn thiết xin những bậc quân tử nhân từ trong nước phát tâm cứu thế lớn lao, lượng sức ấn tống và khuyên kẻ hữu duyên phổ biến lưu thông. Lại mong cha dạy con, anh khuyên em, thầy răn trò, bạn bè bảo ban nhau, khiến cho người người đều biết họa hại, lập chí như núi, giữ thân như ngọc, chẳng những không phạm tà dâm mà ngay cả dâm sự chánh đáng giữa vợ chồng cũng biết chừng mực, sẽ thấy quan – quả – cô – độc từ đây ngày càng ít, giàu – thọ – mạnh – khỏe – yên ổn ai nấy đều được. Thân thể, nhà cửa do đấy được yên ổn, tốt lành, cõi nước vì thế an ninh, uế đức chuyển thành ý đức (đức tốt đẹp), tai ương biến thành may mắn, tốt lành, rốt ráo chẳng phí một đồng, chẳng nhọc chút sức lại được hiệu quả mỹ mãn như thế đó. Mong sao người nhân từ, bậc quân tử đều thấy chuyện nhân chẳng nhường, vui vẻ mà làm. Do vậy, thuật những ý chánh để cống hiến đồng nhân.

  1. Lời tựa cho sách Thọ Khang Bảo Giám

      Chẳng có ai không muốn trường thọ, mạnh khỏe, yên ổn, con cháu đông đảo, công nghiệp lẫy lừng, vận may đưa tới, cũng không ai muốn bị đoản mạng, chết yểu, bệnh tật, con cháu tuyệt diệt, gia đạo suy đồi, hung thần ngự đến. Đấy là mong ước thường tình của con người trong khắp cõi đời, dẫu là đứa bé con mới cao ba thước, không ai chẳng [mong muốn] như vậy. Dẫu là kẻ chí ngu cũng hoàn toàn chẳng vui mừng vì bị tai họa, chán phước, ghét lành. Nhưng kẻ háo sắc tham dâm thì những điều tâm họ mong mỏi và chuyện thân họ làm thật trái nghịch nhau, đến nỗi chuyện chẳng muốn lại bị, chuyện mong muốn không cách chi đạt được, chẳng đáng buồn ư? Khoan hãy nói đến kẻ buông tuồng nơi hoa nơi liễu chỉ mong mỏi chuyện ấy; ngay trong vòng vợ chồng, nếu cứ tham đắm ắt sẽ bị táng thân mất mạng. Cũng có kẻ chẳng quá tham đắm, nhưng do không biết kiêng kỵ (những chuyện kiêng kỵ được ghi đầy đủ ở phần sau cuốn sách, nên ở đây không ghi rõ) cứ mạo muội theo đuổi đến nỗi bị chết mất, thật quá đáng thương! Vì thế, tiền hiền soạn sách Bất Khả Lục, thuật rõ cặn kẽ mối hại sắc dục, những câu cách ngôn khuyên răn kiêng dâm, bớt dục, những câu chuyện chứng tỏ phước thiện họa dâm, phương pháp trì giới: ngày tháng, những lúc, những nơi chốn, những người, những việc nên kiêng kỵ, chẳng ngại phiền phức đều được trình bày cặn kẽ ngõ hầu người đọc biết nên kiêng dè những gì. Tâm giác thế cứu dân ấy có thể nói là khẩn thiết châu đáo, thiết tha hết sức. Ấn Quang lại tăng đính (soạn thêm, sửa cho đúng những chỗ bị in sai, thiếu sót) sách ấy, đặt tên là Thọ Khang Bảo Giám, và quyên mộ để in ra lưu truyền rộng rãi, là vì có nỗi đau lòng chẳng thể chịu được:

Một đệ tử [của Quang] là La Tế Đồng, người Tứ Xuyên, 46 tuổi, có thuyền buôn ở Thượng Hải, tánh tình khá trung hậu, tin sâu Phật pháp, cùng với các ông Quan Quýnh Chi v.v… cùng sáng lập Tịnh Nghiệp Xã. Trong những năm Dân Quốc 12, 13 (1923-1924), thường muốn đến núi [Phổ Đà] quy y, do bận việc nên chưa được thỏa nguyện. Năm Dân Quốc 14 (1925) ông ta mắc bệnh cổ trướng mấy tháng, tình thế cực nguy hiểm, chữa thuốc Tàu, thuốc Tây đều vô hiệu. Đến ngày 14 tháng Tám, thanh toán tiền thuốc, vì số tiền quá lớn liền bực mình nói: “Từ đây dù có chết ta cũng không uống thuốc nữa”. Bà vợ bèn đối trước Phật cầu đảo khẩn thiết, nguyện suốt đời ăn chay niệm Phật cầu cho chồng được lành bệnh. Ngay trưa hôm ấy, bệnh liền chuyển biến mạnh, đi tiêu xả ào ạt nước ứ ra, không thuốc gì mà hết bệnh.

Cuối tháng Tám, Quang đến đất Thân (Thượng Hải), ngụ tại chùa Thái Bình. Ngày mồng Hai tháng Chín, đến Tịnh Nghiệp Xã gặp Quan Quýnh Chi, ông Tế Đồng cũng có mặt. Tuy thân thể chưa hoàn toàn khỏe hẳn, nhưng khí sắc thuần tịnh tươi tắn không ai bằng. Gặp Quang, ông ta vui mừng thưa: “Sư phụ đến rồi! Xin quy y tại đất Thân, chẳng cần phải lên núi nữa!” Ông ta chọn ngày mồng Tám cùng vợ đến chùa Thái Bình, cùng thọ Tam Quy Ngũ Giới. Lại thỉnh các cư sĩ Trình Tuyết Lâu, Quan Quýnh Chi, Đinh Quế Tiêu, Âu Dương Thạch Chi, Từ Trĩ Liên, Nhậm Tâm Bạch v.v… bồi tiếp Quang dùng cơm. Ngày mồng Mười lại mời Quang đến nhà dùng cơm, lại nói: “Sư phụ chính là cha mẹ của bọn đệ tử, bọn đệ tử chính là con cái của sư phụ”. Quang nói: “Cha mẹ chỉ lo khi con bệnh, nay bệnh ông tuy khá, nhưng chưa bình phục, hãy nên thận trọng”. Tiếc là chưa nói rõ chuyện phải thận trọng chính là chuyện phòng sự (ân ái). Đến hôm cuối tháng, tại Công Đức Lâm mở hội Cảm Hóa Nhà Tù, ông ta cũng dự hội. Buổi hội giải tán xong, có mười mấy người giữ lại dùng cơm. Ông ta vừa mới đến bèn cùng người trông coi sổ sách trao đổi mấy câu rồi đi, sắc mặt giống hệt như người chết, Quang biết là do phạm phải phòng sự mà ra. Rất hối tiếc lúc đó chỉ nói “cha mẹ chỉ lo khi con bệnh”, chưa từng nói rõ duyên do, đến nỗi ông ta lại bị nguy ngập.

Muốn tu chỉnh sách này để khuyên răn, nhưng bận bịu chưa làm được. Ngày mồng Sáu tháng Chín về núi, bèn gởi ngay một lá thư, trình bày hết sức tường tận lẽ lợi – hại, nhưng đã không còn thuốc gì cứu được, mấy ngày sau [ông ta] bèn mất. Lúc mất, ông Quan Quýnh Chi mời các vị cư sĩ đều đến niệm Phật, ông La có được vãng sanh Tây Phương hay không chưa thể biết, nhưng không đến nỗi đọa lạc. Bị bệnh nặng mấy tháng, do Tam Bảo gia bị nên không dùng thuốc được lành bệnh, trong vòng mười mấy ngày khí sắc tươi tỉnh hơn xa người bình thường. Do không biết thận trọng, ngộ phạm phòng sự mà chết. Chẳng những tự tàn hại cuộc đời còn cô phụ từ ân của Tam Bảo quá đỗi! Quang nghe tin cáo phó, tâm đau xót, nghĩ cõi đời chẳng biết kiêng kỵ cứ mạo muội làm chuyện đó, đến nỗi mất mạng nhiều vô số! Nếu chẳng lập cách ngăn ngừa, gìn giữ trước, thật là đánh mất đạo từ bi cứu khổ của đức Như Lai. Tính đem Bất Khả Lục tăng đính, ấn loát lưu truyền rộng rãi, ngõ hầu cả thế gian đều biết kiêng kỵ, chẳng đến nỗi lầm mất tánh mạng.

Một vị cư sĩ đem số tiền mẹ để lại là một ngàn sáu trăm đồng, tính in thiện thư để thí tặng, Quang bảo ông ta dùng hết số tiền ấy để in Thọ Khang Bảo Giám hòng cứu vớt thanh niên nam nữ chưa bị mắc nguy thì do cái chết của một mình ông La Tế Đồng khiến cho hết thảy những người đọc sách này trong hiện tại và vị lai biết phải nên thận trọng, cũng như do xoay vần lưu thông, lần lượt khuyên bảo lẫn nhau, sẽ khiến cho cả thế gian đều cùng hưởng trường thọ, mạnh khỏe, bình yên, nỗi khổ quan quả cô độc ngày càng ít thấy. Như vậy do cái chết của mình ông La Tế Đồng lại khiến cho hết thảy mọi người đều được sống thọ, khỏe mạnh, thì cái chết của ông Tế Đồng bèn có công đức. Nhờ công đức ấy hồi hướng vãng sanh ắt sẽ từ tạ Sa Bà, cao đăng Cực Lạc, làm đệ tử của Phật Di Đà, làm bạn tốt trong hải chúng.

Mạnh Tử nói: “Dưỡng tâm không gì tốt bằng bớt ham muốn”. Có người đã ít dục, tuy không có nhiều vẫn giảm bớt dục. Cũng có người đa dục, do có nhiều bèn giảm bớt. Lúc mạnh khỏe còn nên tiết dục, huống chi lúc bệnh nặng mới lành! Mười năm trước, con của một vị đại thương gia, học Tây Y ở Nhật Bản, đỗ đầu, ngồi xe điện, xe chưa dừng đã nhảy xuống, ngã gãy cánh tay. Anh ta nhờ bác sĩ Tây Y chữa lành. Phàm bị thương ở xương, phải kiêng nữ sắc trong vòng một trăm mấy mươi ngày. Cánh tay anh ta lành chưa lâu, do mừng thọ mẹ liền trở về nước, đêm ngủ cùng vợ, ngày hôm sau liền chết. Anh chàng này khá thông minh, sắp thành bác sĩ sao chuyện kiêng kỵ này lại ngờ nghệch chẳng biết để đến nỗi khoảnh khắc khoái lạc cướp mất tánh mạng rất trọng? Đáng buồn quá sức!

Năm ngoái, một thương nhân đang gặp vận may, hôm trước giành được mối lợi sáu bảy trăm đồng, khá đắc ý. Ngày hôm sau từ chỗ người thiếp đi đến chỗ vợ cả, người vợ vui lắm. Lúc đó nhằm vào tháng Năm, trời thật nóng, vợ bật quạt điện, sắp đặt chậu tắm, lấy nước đá pha mật cho uống, chỉ biết giải nhiệt cho mát, nào biết hễ muốn ân ái thì không được dùng chất lạnh. Chưa đầy ba tiếng sau, đau bụng chết tốt! Do vậy, biết vì thế gian chẳng biết kiêng kỵ cứ làm bừa đi, đến nỗi chết mất chẳng biết mấy ngàn vạn ức! Nhưng từ xưa đến nay, người có phước lớn nhất không ai hơn hoàng đế. Phước lớn thì thọ cũng phải dài! Thử xét kỹ xem: Mười ông vua có tám chín ông không thọ, chẳng phải là vì dục sự quá nhiều lại do chẳng biết kiêng kỵ đến nỗi tự rút ngắn tuổi thọ đó ư? Người đại thông minh trong thế gian đa phần thường không thọ, là vì không hiểu kỹ chuyện này mà nên nỗi! Quang thường nói: “Người đời trong mười phần có đến bốn phần do sắc dục mà chết. Bốn phần tuy chẳng chết trực tiếp vì sắc dục thì cũng vì do tham sắc dục mà bị hao tổn, chịu đủ mọi cảm xúc gián tiếp khác mà chết. Người vốn do số mạng mà chết, bất quá chỉ một hai phần trong mười phần mà thôi!” Thế giới mênh mang, nhân dân đông đảo, mười phần có tám chín phần chết vì sắc dục, chẳng đáng buồn ư? Đấy chính là lý do Quang lưu thông sách Thọ Khang Bảo Giám.

Mong người đời yêu thương con cái cũng như vì đồng bào tạo hạnh phúc, ngừa họa hoạn, thảy đều phát tâm ấn tống, xoay vần lưu thông, khiến cho ai nấy biết những điều kiêng kỵ, ngõ hầu chẳng đến nỗi lầm lạc đánh mất tánh mạng cũng như chẳng bị tàn tật đến nỗi không thể thành tựu. Những kẻ buông tuồng nơi hoa nơi liễu đa số là vì không có chánh kiến, bị lầm lạc bởi bè bạn phóng túng, dâm thư, đến nỗi hãm thân trong biển dục không thể thoát được. Nếu chịu đọc kỹ thì sẽ biết lợi hại sâu xa, đối với những điều quan hệ đến sự vinh diệu hay nhục nhã của tổ tông cha mẹ cũng như sự sống – chết, thành – bại của bản thân lẫn gia đình, cùng là con cháu hiền hay ngu, tuyệt diệt hay thạnh vượng, đều hiểu rõ như nhìn vào ngọn lửa. Nếu thiên lương chưa hoàn toàn mê muội, sao không mắt nhìn đến tâm kinh hoàng, nỗ lực đau đáu gìn giữ ư? Sẽ thấy từ đó về sau, ai nấy vui với mối thiên luân vợ chồng, chẳng đến nỗi tham dục tổn thân, tề mi giai lão[24], vừa thọ vừa khỏe mạnh. Người ít dục thường đông con, con họ chắc chắn thể chất mạnh mẽ, tâm chí trinh lương, chẳng những không bị lỗi tự hại mà chắc chắn còn trở thành hạng lanh lợi làm rạng rỡ cha mẹ, Đấy chính là điều Quang thơm thảo mong mỏi dài lâu. Nguyện người đọc cùng thể hiện sự đồng tình, tùy duyên lưu truyền thì nhân dân may mắn lắm mà vận nước cũng may mắn lắm.

  1. Lời tựa cho bài văn quở trách tà thuyết tự do kết hôn

(soạn thay)

      Con người bẩm thụ khí Âm – Dương của trời đất, nhận lãnh tinh cha huyết mẹ mà sanh. Từ lúc mới sanh cho đến năm ba bốn tuổi, nhất cử nhất động cha mẹ đều phải chăm sóc. Từ đấy trở đi tuy có thể tự hành động, nhưng phàm các sự lý đều cần đến cha mẹ sắp đặt, chỉ dạy. Nếu không, chẳng thể sống còn trong cõi đời. Đến khi trưởng thành, cha mẹ chọn lựa người hôn phối hòng được hưởng niềm vui có gia đình, ngõ hầu trong ngoài giúp đỡ nhau, để con tận hết bổn phận phụng dưỡng cha mẹ, có con cháu để phòng lúc già – chết. Đấy là đạo tất nhiên của trời đất, thánh nhân phỏng theo đạo trời đặt ra lễ, ngõ hầu ai nấy đều giữ luân thường để tận hết đạo làm người và đạo làm con vậy! Nếu chẳng tuân theo lễ của thánh nhân đã chế cũng như mệnh lệnh của cha mẹ, chỉ cần hai bên say mê nhau là thành vợ chồng thì có khác gì cầm thú đâu! Những kẻ chẳng biết tốt – xấu chuyên bắt chước thói ác của Âu Tây, ồn ào đề xướng tự do kết hôn, sao không đề xướng lúc mới sanh bèn chẳng nhận sự chăm sóc, dạy dỗ của cha mẹ để tự do khôn lớn, thành người? Nếu như họ trong một đời này tự do khôn lớn, tuyệt đối không phải nhận sự chăm sóc, dạy dỗ của cha mẹ thì cứ tự do kết hôn, vì sự và lý đều thật sự hết sức chánh đáng. Nếu không thể như vậy, sao chỉ đến lúc trưởng thành, lại có thể tự lực lấy chuyện nam nữ luyến ái làm tiêu chuẩn? Đấy chính là kẻ tội nhân cực nặng nghịch trời trái lý, khinh thánh, miệt thị luân thường. Do vậy, tâm hạnh kẻ ấy có khác gì cầm thú đâu? Cư sĩ Dương Chương Phủ ở Vô Tích soạn văn đả phá, do vậy, tôi bèn làm lời tựa dẫn nhập để phát khởi điều chưa phát, hầu những người đề xướng thuyết [tự do kết hôn] đều giác ngộ!

  1. Bạt[25]
  2. Lời bạt cho Quy Tâm Đường

      Tâm vừa tịch vừa chiếu, bất sanh bất diệt, rộng rãi, thấu triệt, linh thông, viên dung sống động, là cội nguồn của hết thảy các pháp thế gian lẫn xuất thế gian. Dù ở địa vị phàm phu hôn mê điên đảo đầy dẫy phiền hoặc, tâm vẫn cùng một thể giống hệt như tam thế chư Phật, trọn chẳng khác gì. Vì thế, nói: “Tâm, chúng sanh, Phật, ba thứ không sai biệt”. Nhưng do chư Phật rốt ráo chứng đắc, nên công đức lực dụng được phô bày trọn vẹn triệt để, còn phàm phu toàn thể là mê trái nên đâm ra dùng sức công đức lực dụng ấy khởi tham – sân – si nơi sáu trần cảnh, tạo giết – trộm – dâm. Do Hoặc tạo nghiệp, do nghiệp cảm khổ. Ba món Hoặc – Nghiệp – Khổ dẫn khởi lẫn nhau, nhân nhân quả quả liên tục không ngừng, trải trần điểm kiếp luân hồi dài lâu. Dù muốn thoát lìa cũng không có cách gì! Ví như trong nhà tối chạm phải vật báu, chẳng những không thọ dụng được, trái lại còn bị thương tổn! Mê tâm đuổi theo cảnh, trái giác hiệp trần cũng giống như thế. Như Lai thương xót giảng cho diệu pháp, khiến cho bỏ vọng về chân, khôi phục tâm tánh. Thoạt đầu thì từ nơi vọng liền thấu hiểu tột cùng chân, kế đến thì toàn bộ vọng chính là chân, như gió lặng ắt sóng êm, trời nóng băng phải tan, sóng lẫn băng trở thành nước, nhưng sóng – băng và nước vốn chẳng phải là hai vật! So lúc sóng chưa êm, khi băng chưa tan với lúc sóng đã êm, băng đã tan thì thể tánh trọn chẳng hai, nhưng Tướng – Dụng thật sự khác biệt rất lớn. Do vậy, có câu: “Tu đức hữu công, tánh đức mới tỏ”.

Nếu chỉ cậy vào Tánh Đức chẳng chú trọng Tu Đức thì đến tột cùng đời vị lai vĩnh viễn vẫn là chúng sanh uổng có Phật tánh, nhưng không nơi nương tựa! Vì thế, Bát Nhã Tâm Kinh chép: “Quán Tự Tại Bồ Tát khi thực hành sâu xa Bát Nhã Ba La Mật Đa, chiếu thấy năm Uẩn đều không, độ hết thảy khổ ách”. Toàn thể của Ngũ Uẩn chính là Chân Như Diệu Tâm, nhưng do cứ một bề mê trái nên trở thành tướng huyễn vọng. Vọng tướng đã thành lập thì Nhất Chân liền bị mê. Nhất Chân đã bị mê thì các khổ đều nhóm họp. Giống như gió dậy thì toàn thể nước biến thành sóng, trời lạnh thì nước đang mềm biến thành cứng. “Chiếu” là dùng Bát Nhã rất sâu bèn hiểu rõ “do mê chân nên biến thành vọng, toàn thể vọng chính là chân”, như gió lặng, trời ấm lại khôi phục bản thể của nước vậy!

Do vậy, biết hết thảy pháp đều do vọng tình biến hiện. Nếu lìa được vọng tình thì bản thể hoàn toàn là không; do vậy Tứ Đại đều mất bản tánh, sáu căn có thể dùng lẫn cho nhau. Vì thế, Bồ Tát chẳng khởi Diệt Định mà hiện các oai nghi, nhãn căn có thể làm được Phật sự của nhĩ căn, nhĩ căn làm được Phật sự của nhãn căn, vào trong đất như vào nước, đi trong nước như đang đi trên đất, nước – lửa chẳng thể thiêu đốt, cuốn trôi được, tùy ý đi đứng trên hư không. Cảnh không tự tánh, đều tùy tâm chuyển. Do vậy, kinh Lăng Nghiêm chép: “Nếu có một người nhận ra lẽ thật trở về nguồn thì mười phương hư không đều bị tiêu tan”, đấy chính là hiệu quả thật sự của việc “chiếu thấy Ngũ Uẩn đều không”.

Quy là “quy đầu” (gieo trở vào), “quy hoàn” (trở về), có nghĩa là phản chiếu hồi quang khôi phục tâm tánh vốn có vậy. Nhưng muốn phản chiếu hồi quang, khôi phục tâm tánh vốn có mà nếu trước hết chẳng quy tâm nơi Tam Bảo, y giáo phụng hành sẽ không thể được! Đã có thể quy tâm Tam Bảo y giáo phụng hành thì sẽ tự có thể khôi phục nguồn tâm, triệt chứng Phật tánh. Đã khôi phục được nguồn tâm triệt chứng Phật tánh rồi thì mới biết tự tâm quý báu nhất, nơi mê chẳng giảm, nơi ngộ chẳng tăng. Chỉ là thuận theo pháp tánh bèn thọ dụng được, hễ trái nghịch pháp tánh bèn bị thương tổn, lợi – hại khác biệt như trời với vực. Cư sĩ Châu Sư Đạo muốn cho con cái cháu chắt đời đời phụng hành Phật pháp nên lấy chữ Quy Tâm đặt tên cho ngôi nhà lớn, thỉnh Quang đề ý nghĩa. Do vậy, bèn viết lời này cho xong trách nhiệm.

  1. Lời bạt cho sách Phạm Võng Kinh Tâm Địa Phẩm Bồ Tát Giới Sớ Chú Tiết Yếu

      Phật pháp rộng lớn như pháp giới, rốt ráo như hư không. Luận đến chỗ thiết yếu thì chỉ có ba pháp Giới – Định – Huệ mà thôi! Nhưng ba pháp này dung nhiếp lẫn nhau, chẳng thể đứng tách ra một mình được! Sơ tâm nhập đạo thì trì giới là nhiệm vụ quan trọng nhất. Do vậy, kinh Lăng Nghiêm nói: “Nhiếp tâm là Giới, nhân Giới sanh Định, nhân Định phát Huệ. Đấy gọi là Tam Vô Lậu Học”. Do vậy, lúc đức Như Lai mới thành Chánh Giác, liền nói Phạm Võng Kinh Bồ Tát Giới để hết thảy Bồ Tát cùng chư thiên Thích Phạm, và vua quan, nhân dân dù Tăng hay tục cho đến đào kép, nô tỳ, hết thảy chúng sanh trong ba ác đạo đều cùng thọ trì. Do vậy, biết Giới này chính là lò luyện lớn lao để Như Lai nung phàm luyện thánh vậy.

Ấy là vì lục đạo chúng sanh tuy tôn – ty, sang – hèn khác nhau, đủ mọi thứ bất đồng, nhưng nhất niệm tâm tánh chẳng hai, chẳng khác gì tam thế chư Phật. Chỉ vì thiện – ác đời trước mỗi người mỗi khác nên đời này quả báo bất đồng! Đức Như Lai chỉ nhìn vào Bổn, chẳng bận tâm đến Tích, do vậy, khuyên khắp mọi người thọ trì. Nếu có thể y giáo phụng hành thì ác nghiệp đời trước sẽ nhanh chóng tiêu trừ, phước huệ đời này mau được viên mãn. Thoạt đầu hiểu rõ vọng chính là chân, kế đó chỉ có chân không vọng, tự có thể khôi phục nguồn tâm, tự chứng diệu tánh. Vì thế nói: “Chúng sanh nhận lãnh giới của Phật liền nhập vào địa vị chư Phật, địa vị giống với Đại Giác rồi, thật sự là con của chư Phật”. Lại nói: “Các ông là Phật sẽ thành, ta là Phật đã thành, thường tin tưởng như thế thì Giới Phẩm được đầy đủ”. Đây chính là lời đảm bảo cho hết thảy chúng sanh từ chính kim khẩu của đức Như Lai, há chẳng đáng tin ư?

Cư sĩ Vô Danh xưa đã trồng cội đức, dốc lòng tu Tịnh nghiệp, muốn cho mình lẫn người cùng thoát luân hồi, bèn chọn lấy những chỗ thiết yếu trong các trước thuật Tịnh Độ soạn thành sách Tịnh Độ Tân Yếu (những điều chỉ bày trọng yếu về Tịnh Độ), ông lại soạn cuốn Tục Biên của sách ấy, tính đem kinh Phạm Võng đặt ở đầu sách. Lại vì kinh văn sâu xa, uyên áo chẳng dễ suy lường hời hợt được, khai – giá – trì – phạm[26] khó thể hiểu rõ; nếu không chú giải quả thật khó thể lợi ích rộng khắp. Do vậy, ông bèn chọn trích những điểm trọng yếu từ sách Phạm Võng Kinh Chú Sớ giản lược của ông Trần Hy Nguyện đời Thanh khiến cho dù văn hay nghĩa vừa xem đến bèn được hiểu rõ.

Muốn hoằng dương Tịnh Độ sao lại đặt kinh Phạm Võng lên đầu? Ấy là vì muốn sanh về Tịnh Độ thì phải tịnh được cái tâm. Hễ tâm tịnh cõi Phật sẽ tịnh! Muốn tịnh cái tâm, không thể nào không trì tịnh giới của Phật! Nếu trì giới thì tâm tham – sân – si sẽ chẳng hiện hành, đạo Giới – Định – Huệ được triệt để phơi bày trọn vẹn, hằng sa công đức, vô lượng diệu nghĩa chẳng cầu tự được, đều hiện trong tâm. Do vậy, nói: “Giới chính là pháp giới, hết thảy pháp quy về Giới, còn gì hơn được”. Huống chi lại thêm chân tín nguyện thiết, chấp trì vạn ức hồng danh của A Di Đà Phật thì cái tâm Năng Niệm và đức Phật được niệm sẽ thầm khế hợp. Trong đời này tâm – Phật đã chẳng hai, lâm chung không sanh Tịnh Độ thì sanh về đâu đây? Nếu như căn cơ kém hèn, chưa thể được như thế, nhưng nghiêm trì giới luật của Phật để thanh tịnh thân tâm, thật sự vì sanh tử, phát tâm Bồ Đề, dùng tín nguyện sâu trì danh hiệu Phật, đến khi lâm chung cảm ứng đạo giao được Phật tiếp dẫn vãng sanh Tây Phương. Dẫu là kẻ đới nghiệp vãng sanh cũng đã vĩnh viễn thoát luân hồi, cao siêu tam giới, luôn thân cận Phật Di Đà, nhanh chóng chứng được Pháp Thân, huống gì người nghiệp đã tận, tình đã không ư?

Có những kẻ tự khoe cao minh, miệt thị giới luật và Tịnh Độ, nói: “Tự tánh thanh tịnh, nào có thiện – ác, trì – phạm, ta – người, sạch – nhơ, chỉ mặc sức thiên chân mới chính là Như Như Phật”. Từ đó, miệng xoen xoét nói Không, nhưng chuyện gì cũng Có! Nghe lời lẽ thì cao minh vượt khỏi chín tầng trời, xét đến hành vi tệ hại sâu lún chín tầng đất! Sống làm phường bại hoại trong pháp môn, chết làm chủ nhân cõi Nê Lê (địa ngục). So với những người đới nghiệp vãng sanh thì lấy trời và đất để sánh ví vẫn chẳng thể đủ để diễn tả sự sướng và khổ được; huống gì so sánh với những bậc cao hơn! Những ai muốn được lợi ích thật sự ngay trong đời này, lâm chung quyết định vãng sanh, xin hãy thật sự thực hành bằng việc trì giới niệm Phật, sẽ chẳng uổng công đâu!

  1. Lời bạt cho bản Thạch Ấn bài Tâm Kinh chép bằng lối chữ thảo của vị Tăng lạ lùng là Thủ Tùng

(do chữ viết liên tiếp nhau, không tách ra được nên chưa in)

      Kinh văn này tuy giản lược nhưng nghĩa lý cực rộng sâu, Tánh – Tướng dung thông, Chân – Tục cùng mất! Vạn pháp sâm la nhưng nhất đạo thanh tịnh. Do vậy hễ khởi Quán Chiếu thì xóm làng Ngũ Uẩn nhanh chóng trống rỗng, Thật Tướng phô bày trọn vẹn, sanh lên bờ kia Tứ Đức. Nói đến sự rộng lớn của kinh thì dù cạn hết biển mực cũng chẳng thể thuật hết nghĩa đó. Nói đến sự tinh vi thì tìm lấy một chữ cũng trọn chẳng thể được! Chí viên, chí đốn, tối diệu, tối huyền. Đúng là thầy của chư Phật, là mẹ của Bồ Tát, là cốt lõi của sáu trăm quyển Bát Nhã[27], là cương tông của toàn bộ Đại Tạng thánh giáo. Ấy là vì đức Đại Giác Thế Tôn xét căn cơ thuyết pháp, trí huệ tự tại, hoặc nói rộng, hoặc nói lược, diệu lý đều trọn đủ. Ví như vầng trăng vằng vặc giữa trời, hiện bóng trong những chỗ có nước. Không riêng gì sông to biển cả đều hiện trọn vẹn bóng trăng, mà nhỏ như một chước, một giọt, không đâu chẳng đều hiện trọn vẹn bóng trăng, chẳng hề khiếm khuyết. Cao quý thay, đẹp đẽ thay! Do chúng sanh có đủ diệu tâm “chúng sanh – Phật bình đẳng” nên cảm được đức Như Lai nói kinh mầu nhiệm Chân Không Thật Tướng này! Vì thế, từ thời Đường đến nay, văn nhân danh sĩ thường hay biên chép, trì tụng, có nhiều người đọc đến mấy ngàn vạn bản.

Vị Tăng lạ lùng là Thủ Tùng muốn viết kinh này hòng nạp vào trong tám thức điền của mọi người để tạo chủng tử thành Phật trong tương lai, nên bèn vận dụng thần bút tuyệt diệu chẳng thể nghĩ bàn biên chép lưu thông. Bạn bè được tặng tờ thiếp ấy, muốn đem in thạch bản để lưu truyền rộng rãi. Lại sợ [người đọc] chưa thể nhận hết [mặt chữ] nên chép thêm kinh văn theo lối chữ Khải trong phần sau. Do vậy, tôi bèn viết lời Bạt gồm mấy câu ngõ hầu mình lẫn người đều xa lìa điên đảo mộng tưởng, rốt ráo Niết Bàn. Phải biết: Kinh này ở tại đâu thì Phật ở nơi đó, tiêu trừ nghiệp chướng, được nhiều tốt lành. Phải nên dốc lòng cung kính cúng dường, thọ trì, đọc tụng, chớ nên khinh nhờn kẻo phải chuốc lấy tội lỗi, ắt sẽ độ hết thảy khổ, thành vô thượng đạo giống như đưa tờ bằng khoán ra lấy lại vật cũ vậy!

  1. Lời bạt cho bài văn bia ngự chế của Thanh Thế Tông ở chùa Pháp Vũ tại Phổ Đà

(năm Ất Mão, viết thay cho ông Triệu Hy Y)

      Thanh Thế Tông Hiến Hoàng Đế (Ung Chánh) xưa đã trồng cội đức, thừa nguyện tái lai, thâm nhập Kinh Tạng, thấu đạt thẳng vào nguồn Thiền, Tông – Thuyết đều thông, ngộ chứng gần như cùng cực, thông hiểu đạo tân truyền của Linh Sơn, Tứ Thủy, xiển dương diệu đạo “tâm chính là Phật”. Từ khi pháp truyền sang Chấn Đán, hai ngàn năm qua, trong các bậc hoàng đế, Ngài quả là bậc nhất. Nếu chẳng phải là bậc đã chứng Pháp Thân từ lâu, thị hiện trong đời Mạt này, ở trong cõi tục hiểu thấu lẽ chân, rộng độ hàm thức thì sao có thể được như vậy! Phật pháp lợi khắp chúng sanh, Đại Sĩ tùy cơ ứng theo lòng cảm rộng lớn như pháp giới, rốt ráo như hư không. Nếu không có đại trí huệ sẽ chẳng thể hình dung. Thanh Thế Tông cực lực phát huy những nghĩa lý như mưa đúng thời nhuần thấm muôn vật, có thể nói là khéo léo khế hợp tâm Phật, khó thể thí dụ được! Trước kia, tôi đã đọc sách Chiết Giang Thông Chí thấy bài văn bia này, khôn ngăn khâm phục. Sách Định Hải Sảnh Chí cũng chép đầy đủ. Mùa Xuân năm nay đến lễ Đại Sĩ, thấy trước tấm bia thờ một tượng Phật bằng ngọc, bia bị khám thờ che khuất nên chẳng thể xem rõ được. Là vì khi tượng Phật bằng ngọc được rước đến, được thờ tạm trước bia. Sau do không đất lập điện [thờ riêng], bèn thờ tượng vĩnh viễn ở đó. Tra trong Sơn Chí, lại thấy thiếu mất bản văn bày, buồn rầu khôn xiết. Nhân đó, cầm đuốc cung kính chép lại, bèn xin vị chủ chùa cho khắc vào bản gỗ, treo trong đình. Lại khắc kèm vào bản khắc ván của Sơn Chí, thuật hết duyên khởi ngõ hầu các vị quân tử trong tương lai đều được thấm nhuần mưa pháp, cùng chứng chân thường!

  1. Lời bạt cho Lục Độ Thất

(viết thay ông Đường Hưu Tử)

      Bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ gọi là Lục Độ, hoặc còn gọi là Lục Ba La Mật. Tiếng Phạn “Ba La Mật”, Hán dịch là Đáo Bỉ Ngạn (đến được bờ kia), có nghĩa là nhờ vào sáu pháp này từ bờ sanh tử bên đây vượt qua dòng phiền não sang đến được bờ Niết Bàn bên kia. Năm Độ như kẻ mù, Bát Nhã như người dẫn đường. Năm Độ không có Bát Nhã sẽ chẳng thể rốt ráo đến được bờ kia. Bát Nhã như mắt, Ngũ Độ như chân. Bát Nhã không có năm Độ kia cũng chẳng thể rốt ráo đến được bờ kia. Đầy đủ cả hai thứ thì mỗi một Độ đều đến được bờ kia, đều được gọi là Ba La Mật. Hòa thượng Khai Như đặt cho thất cái tên này, đáng gọi là bậc biết pháp, mà chí và hạnh của Ngài [từ đó] cũng có thể suy ra được. Do vậy, viết ba chữ này và lược thuật ý nghĩa để tặng cho.

  1. Lời bạt cho Tâm Quy Tịnh Xứ

(viết cho cư sĩ Lưu Trí Không)

      Tâm linh minh đỗng triệt, trạm tịch thường hằng, có khuôn phép, riêng làm chủ của vạn tượng, vô danh vô tướng hòa lẫn trong các pháp, chẳng nhơ, chẳng sạch, chẳng thể lập được mảy trần, vừa là Sắc vừa là Không, trọn Ngũ Nhãn cũng không thể thấy được! Xứ sở còn chẳng có, tịnh do đâu mà đến? Tịnh – xứ đã không, nương gởi vào đâu? Thật Tế lý địa chẳng nhiễm mảy trần. Nói đến chữ Tâm đã sớm trở thành vớ vẩn. Nếu có thể khế nhập ngay được điều này thì toàn thể đại dụng của tâm sẽ phô bày triệt để, trọn chẳng giấu diếm gì, liền có thể gọi là “bậc vô tâm đạo nhân”, liền có thể chen vai thích cánh cùng bậc Đại Sĩ đã rỗng không các Uẩn, nắm tay nhau cùng đi, cảm ứng khắp quần cơ, hiện thân thuyết pháp. Trăng in trên ngàn sông, gió thổi vạn ống tiêu, trọn pháp giới cảm bèn ứng trọn pháp giới. Nếu như căn cơ kém hèn, chưa thể chứng nhập bèn ước trên Sanh Diệt Môn chỉ cho phương hướng tiến đến chứng đắc. Do đã mê tâm đuổi theo cảnh, hướng ra ngoài tìm cầu, nên toàn bộ trí huệ đức tướng biến thành vọng tưởng, chấp trước, vậy thì hãy nên chuyên tinh tu tập chỉ một pháp, chấp trì thánh hiệu Di Đà, chân tín nguyện thiết, mong được vãng sanh Tây Phương. Trì lâu ngày, tâm và Phật hệt như một, chẳng lìa đương niệm triệt chứng Ngũ Uẩn đều không. Vọng tưởng, chấp trước đã diệt, trí huệ – đức tướng cũng mất. Hễ tâm tịnh cõi Phật bèn tịnh, chẳng lìa đương xứ thầm khế hợp cõi Tịch Quang. Chỉ có mỗi mình chỗ này mới là chỗ rốt ráo để chúng ta an thân lập mạng vậy. Nguyện học trò tôi là Trí Không làm cho chúng sanh khắp pháp giới cùng quy về đây thì may mắn lắm thay!

  1. Lời bạt cho sách Định Hải Huyện Giám Ngục Giảng Kinh Tham Quan Ký của Hạng Bá Xuy

      Việc cai trị trọng nơi đại thể. Đã đạt được đại thể thì chuyện không kể lớn hay nhỏ đều có hiệu quả. Nếu không, chỉ là làm dáng, khó đạt được lợi ích thật sự! Đại thể là gì? Thưa: Chỉ là Thành mà thôi! Người giữ chức vụ cai quản đất nước nếu phát xuất từ lòng Thành thì tuy là dị loại vẫn còn có thể cảm hóa được, huống gì con người là “vạn vật chi linh”? Vì thế, những chứng cứ lạ như hổ chẳng vào cõi, cá bỏ sang chỗ khác v.v… được chép rõ ràng trong sử sách. Sách Đại Học giải thích câu nói “Như bảo xích tử” (như che chở con đỏ) của kinh Thư như sau: “Tâm thành cầu chi, tuy bất trúng bất viễn hỹ”[28] (Dùng tâm thành mà cầu thì dù chẳng trúng cũng chẳng xa vậy). Dùng cái tâm “che chở con đỏ” để che chở dân thì không mưu tính điều gì mà chẳng đúng; nói là “chẳng xa” là vì sợ con người chẳng chí thành đến cùng cực, chứ thật ra là thúc đẩy sao cho chí thành đến mức cùng cực. Đây là lời quyết đoán, chứ chẳng phải là lời nói nghi ngờ, do dự!

Ấp lệnh Định Hải là ông Đào Tại Đông học đạo yêu dân cùng lý tận tánh. Đối với tâm pháp của thánh nhân Nho – Thích đều có sở đắc lớn lao. Lo việc cai trị chỉ lấy lòng tự lập, lập người, tự lợi, lợi tha làm gốc. Vừa đến nhậm chức, bèn đau đáu nghĩ đến nỗi khổ của kẻ dân ngu không được dạy dỗ, phạm pháp bị tù đày. Nguyên do là chẳng biết những chuyện nhân quả báo ứng, phước thiện họa dâm và sanh tử luân hồi, ác báo trong tam đồ v.v… cứ một mực có dã tâm ích kỷ, chẳng sợ mắc ác báo vì hại người, nên mới bị hãm vào đây. Do vậy, muốn tuyên giảng cho họ những chuyện tam thế nhân quả, lục đạo luân hồi, tam đồ khổ sở, cõi Phật yên vui v.v… ngõ hầu họ hoảng sợ, kinh hãi, mau mắn sửa đổi tâm trước, vâng phục tuân theo, sửa đổi đức sau.

Do vì biết một niệm tâm tánh của chúng ta và một niệm tâm tánh của Nghiêu – Thuấn không hai, với Phật không hai thì ai chịu liếm chút mật trên lưỡi dao để mắc cái họa đứt lưỡi, nỡ để Ma Ni bảo châu tùy ý mưa ra các báu bị chìm đắm vĩnh viễn trong nhà xí, chẳng những trọn không có ích gì, còn thường bị coi là hôi nhơ giống như phẩn vậy! Từ đấy, hành trọn vẹn đạo hiếu hữu nhân từ và Giới – Định – Huệ. Dù chẳng thể ngay trong đời này đạo đức bằng với Nghiêu – Thuấn và chư Phật, nhưng ngựa mong thành ngựa Ký thì cũng là loài ngựa Ký, người mong thành Nhan Hồi thì cũng là hạng giống như Nhan Hồi, sẽ cậy vào Phật từ lực đới nghiệp vãng sanh để thành tựu nhân duyên siêu phàm nhập thánh tối thắng. Nếu như chân ngữ, thật ngữ của thánh hiền, Phật, Bồ Tát dạy người chẳng truyền sang phương Đông thì làm sao thỏa mãn tâm ấy cho được? Nhân quả báo ứng thật sự là phương tiện lớn lao để thánh nhân Nho Giáo giữ yên thiên hạ, nhưng lời lẽ của họ đơn giản, sơ sài, khiến cho nhà Nho quá quen nên chẳng xem xét, coi nhẹ, bỏ qua, đến nỗi người bậc thượng chỉ làm một kẻ tự giải thoát, chứ không thể thay đổi phong tục được, còn kẻ bậc hạ bèn tùy ý hoành hành, cốt sao hưởng yên vui một thời. Do vậy, thế đạo nhân tâm mỗi ngày mỗi đi xuống, hết thuốc chữa!

Ông Đào bèn truyền cho hai vị trụ trì chùa trước và chùa sau của Phổ Đà[29], chọn ra từ trong núi những vị Tăng giới hạnh tinh nghiêm, hiểu kinh giáo thông suốt làm thầy giáo hối. Hai vị trụ trì muốn chọn những vị tại gia giỏi giang đảm nhiệm chức vụ ấy, nhưng ông Đào cho rằng: “Dùng lời lẽ để giáo hóa còn bị tranh cãi, chứ dùng thân để giáo hóa, người ta phải thuận theo”. Giáo hóa tù nhân không chỉ ở chỗ có khả năng tuyên thuyết! Do vậy, bèn cử pháp sư Trí Đức đáp ứng lời mời. Đến ngày khai giảng, sự sắp đặt, diễn thuyết, và dự trù chương trình, không gì chẳng đặt căn bản trên lòng Thành, nghiễm nhiên biến nhà ngục thành đạo tràng, biến tù nhân thành pháp lữ, kể từ khi Định Hải lập huyện đến nay chưa từng có chuyện như vậy! Ấy là vì ông Đào biết tù nhân do không được dạy dỗ nên mới phạm pháp, căn cứ vào ý “cách vật trí tri, làm sáng tỏ đức sáng, đạt đến chí thiện, con người ai cũng có thể là Nghiêu – Thuấn, ai cũng đều có thể thành Phật” mà làm chuyện này. Có thể nói là biết đại thể, lòng thành son sắt, chẳng thẹn là bậc cha mẹ của dân.

Ông lại chẳng chê bỏ Quang là kẻ bất tài, đem bài ký sự thăm viếng nhà tù của ông Hạng đưa cho Quang xem. Đọc xong, khôn ngăn mừng rỡ, bèn quên mình hèn kém, ghi đại lược mấy lời bạt dở tệ, ngõ hầu người đọc biết được tông chỉ của việc giáo hóa trong nhà tù và lòng thành của ông Đào, có lẽ người bắt chước làm theo sẽ chẳng phải chỉ có một, hai, ba, bốn, năm, sáu, bảy kẻ mà thôi! Tuy nhiên, thuyết pháp không bắt buộc phải sử dụng toàn là Tăng nhân. Những gì được giảng nếu chẳng lấy nhân quả ba đời, luân hồi sáu nẻo, sự khổ sở trong tam đồ, sự yên vui nơi cõi Phật làm gốc thì dẫu cho giảng nói diệu nghĩa cảm được hoa trời rơi xuống thì cũng chẳng có hiệu quả thật sự. Vì sao vậy? Vì không gây được xúc động bên trong, như gió lùa qua cây cối, chỉ phớt qua chứ chẳng ăn nhằm gì cả!

  1. Lời bạt cho sách Vãng Sanh Luận Chú

      Sanh tử là chuyện lớn lao bậc nhất của chúng ta. Pháp môn Tịnh Độ là diệu pháp liễu sanh tử vô thượng. Giáo pháp được giảng trong cả một đời đức Phật mênh mông như biển thẳm, nhưng pháp diễn bày rốt ráo bản hoài phổ độ chúng sanh của Phật chỉ có mình pháp Tịnh Độ mà thôi! Do dưới là phàm phu tín nguyện niệm Phật liền được đới nghiệp vãng sanh, trên là bậc thánh nếu chịu hồi hướng sẽ mau viên thành giác đạo. So sánh giữa việc cậy vào Phật từ lực và chỉ cậy vào tự lực thì khó – dễ còn nhiều hơn [sự khác biệt] giữa ngày và kiếp. Thiên Thân Bồ Tát soạn rất nhiều bộ luận để hoằng truyền, xiển dương Phật thừa. Ngài lại đề cao kinh Vô Lượng Thọ, soạn ra Nguyện Sanh Kệ Luận, chỉ ra năm cách tu (Ngũ Môn Tu Pháp) hòng rốt ráo được vãng sanh, dạy rõ các pháp lễ bái, tán thán, phát nguyện, quán sát, hồi hướng. Trong Quán Sát Môn, chỉ rõ sự trang nghiêm của Tịnh Độ, pháp lực của Như Lai, công đức của Bồ Tát, phàm những ai thấy nghe đều phát nguyện vãng sanh. Đàm Loan pháp sư soạn lời chú thích tường tận, triệt để phơi bày trọn vẹn thệ nguyện của Phật Di Đà và bổn hoài của Thiên Thân Bồ Tát, giãi bày hết cả ra. Nếu không thấu hiểu Phật tâm sâu xa, trọn đủ Vô Ngại Biện, sao có thể làm được như vậy?

Một pháp Tịnh Độ chính là chỗ quy hướng của hết thảy mọi pháp. Vì thế, những vị Đẳng Giác Bồ Tát đã chứng bằng với chư Phật trong hội Hoa Nghiêm còn phải dùng mười đại nguyện vương hồi hướng vãng sanh. Các vị Văn Thù, Phổ Hiền, Mã Minh, Long Thọ, Trí Giả, Từ Ân, Thanh Lương, Vĩnh Minh v.v… tự hành dạy người cùng về Tịnh Độ, nguyên do là vì vậy. Biết điều này thì những người chỉ chấp vào tự lực, chẳng nhờ vào Phật lực sẽ kinh hoảng sợ hãi, hiểu ra, sẽ cầu trong đời này liền được thoát khỏi cõi Sa Bà, sanh về Cực Lạc, cùng với Quán Âm, Thế Chí v.v… các vị thượng thiện nhân cùng ở một chỗ, thường luôn thân cận A Di Đà Phật, hòng chứng Vô Sanh Nhẫn, viên mãn Bồ Đề mới thôi. Lời này chẳng đáng tin thì xin hãy chất vấn Phổ Hiền Bồ Tát ắt sẽ tự chẳng còn nghi ngờ!

  1. Lời bạt cho bản điều lệ sắc lệnh quản lý chùa miếu của Đại Tổng Thống

      Xưa kia, khi sắp nhập Niết Bàn, đức Như Lai đã đem pháp đạo phó chúc cho quốc vương, đại thần hộ trì, lưu thông. Ấy là vì Tăng chúng bỏ tục xuất gia, tu ròng phạm hạnh, đã không có của cải, lại không có quyền thế, dầu có thể hoằng dương pháp hóa vẫn khó tránh khỏi bị người ngoài khinh khi, lấn hiếp. Nếu được vua quan hộ trì thì pháp hóa được rộng khắp, người ngoài chẳng dám coi thường, bởi kẻ cường bạo ngang ngược giấu hình ẩn tích, còn kẻ mềm mỏng lương thiện sẽ khởi lòng tin, gieo lòng thành. Vì thế, lưới giáo pháp được mở rộng, thâu tóm những loài cá trong biển khổ; chấn hưng tông phong, thấy thấu suốt vầng trăng nơi tự tâm. Nội hộ, ngoại hộ phải cùng có đủ thì pháp hóa của đức Như Lai sẽ tự có thể theo chiều ngang trọn khắp mười phương, theo chiều dọc thông suốt ba đời, khiến cho hàm thức đều cùng được thấm gội pháp trạch. Ấy là vì do nghe Phật pháp mới biết từ vô thủy đến nay đã mê trái bản tâm, khởi tham – sân – si, tạo giết – trộm – dâm, đến nỗi sanh tử luân hồi nhiều kiếp không cách gì thoát lìa. Đã biết điều này liền muốn diệt trừ nhân khổ, mong được quả vui. Từ đấy, bỏ mê theo ngộ khăng khắng gắng công. Nơi tâm bèn dứt tham – sân – si, nơi thân kiêng giết – trộm – dâm, đổi ác tu lành, gần thì cảm được phước lạc nhân thiên, đoạn Hoặc chứng chân, xa thì thành giác đạo Bồ Đề. Do vậy, tận lực tuân theo lời Phật dạy, gìn giữ tự tâm nghiêm ngặt, dẫu ở trong nhà tối phòng kín luôn như đối trước Phật, trời; người mang thiện niệm, nước dứt xử phạt. Về mặt ngầm là thầm giúp cho việc bình trị, dứt họa loạn khi chưa chớm; về mặt hiển lộ là phụ trợ cho chính sách cai trị, đề cao nhân ái hòa mục. Do có những lợi ích như vậy nên đế vương các đời ở Tây Trúc và cõi này vĩnh viễn tuân thủ lời Phật phó chúc, không ai không sùng phụng, hộ trì, chỉ lo chưa được truyền bá, lưu thông rộng rãi!

Xét từ thời Đông Hán, Phật pháp truyền sang Trung Quốc, trải hơn một ngàn tám trăm năm, không lúc nào chẳng như vậy. Đến cuối đời Thanh, pháp đạo suy vi, triết nhân ngày càng hiếm hoi, kẻ tầm thường ngày càng đông. Lại thêm đất nước lắm biến cố, chẳng rảnh rỗi đề xướng. Tăng đồ phần nhiều cam phận ngu hèn, chẳng chuyên chú thanh tu, sự giáo hóa lỏng lẻo, kẻ ngoài khinh lấn. Do vậy, những kẻ không có tín căn dòm ngó tài sản của Tăng, không có cách nào khác bèn mượn cớ mở trường học để thôn tính nhà chùa. Thường có những chuyện biến chùa Phật thành trường học, đoạt Tăng sản để đẫy túi mình xảy ra ồ ạt. Đến năm Dân Quốc thứ nhất (1911), nước nhà vừa lập, phong trào ấy càng quá đáng. Đồng nhân lo lắng, bèn lập ra hội Phật Giáo đông đảo, lắm phen khẩn cầu chánh phủ che chở. Vì thế, vào năm Dân Quốc thứ 4 (1915), chánh phủ bèn ban bố chánh sách quản lý tự miếu gồm ba mươi mốt điều lệ. Ý ấy tuy tốt lành, nhưng do chưa xét soi kỹ càng nên người thi hành vẫn chen lẫn đôi chút lòng riêng tư, khiến cho mối tệ nẩy sanh, tạo thành trở ngại lớn. Phàm những hàng Tăng – tục trong pháp môn không ai chẳng lo ngại hậu hoạn, nhiều phen gởi thư bày tỏ ý kiến, khẩn cầu sửa đổi.

Mùa Thu năm Dân Quốc thứ chín (1920), cư sĩ Trình Tuyết Lâu xét kỹ lợi – hại, lại gởi thư ý kiến trình lên Đại Tổng Thống. Đã được chấp thuận, giao cho bộ Nội Vụ bàn bạc. Đầu Xuân năm Dân Quốc thứ 10 (1921), mới bắt đầu tu chánh thành 24 điều. Suy xét, châm chước kỹ càng, có lợi không hại, bèn trình lên Đại Tổng Thống, để ông ta ban sắc lệnh công bố thi hành. Nhưng sắc lệnh của chánh phủ ban bố chẳng thể khiến cho mọi người đều thấy được hết, nên pháp sư Đạo Giai trụ trì chùa Pháp Nguyên ở Bắc Kinh tình hộ giáo sâu nặng, bèn tính gấp rút in ra để lưu thông, ngõ hầu Tăng – tục ở những chốn sơn cùng thủy tận đều được biết, không còn ngờ lo chi nữa! Sư xin tôi viết lời Bạt để góp phần cổ vũ, khuyến khích.

Tôi nói: “Đạo pháp của Như Lai tuy nhờ vào sức ngoại hộ, nhưng nội hộ cũng phải có người thì hộ trì mới có hiệu quả thật sự! Ví như bên ngoài có thành chắc, hào sâu, dù kiên cố không phá được, ắt chẳng thua bại ngay, nhưng nếu chủ soái bên trong hôn mê, ngu muội, chăm sóc dân cai quản lính đều không đúng lối thì sĩ tốt bá tánh đều thành bè lũ phản nghịch. Dầu có thành chắc, hào sâu cũng chẳng ích lợi gì! Nếu như chủ soái sáng suốt, khéo được lòng sĩ tốt nhân dân thì sự cai trị nhân từ thấm khắp, không ai không ca tụng, tiếng tăm lan xa bốn phương, mọi người đều quy phục thì giặc giã, kẻ thù đều như con đỏ, mọi kẻ phản nghịch đều thành lương dân. Khẩn cầu những người cùng một sắc áo, hãy phát Bồ Đề tâm, tận lực tu Định Huệ, dùng vô thượng diệu đạo của Như Lai để tự hành dạy người thì ai nấy đều cảm từ ân của Phật, ngưỡng mộ hạnh đẹp của Tăng chúng. Tự nhiên những kẻ không có tín tâm sẽ phát khởi tín tâm, người đã có tín tâm càng tận lực hành Phật đạo, sẽ thấy tàn nhẫn chuyển thành nhân từ, chiến tranh vĩnh viễn chấm dứt, chuyển thói tục tệ bạc thành thuần phong, vận đời thanh bình, hưng thạnh. Như vậy là trên chẳng phụ ý tha thiết hộ trì của quốc gia, dưới chẳng phụ thâm tâm học Phật của chính mình, ân Phật lẫn ân cha mẹ đều kham báo đáp được muôn một vậy. Phàm những ai cùng một sắc áo với tôi, xin hãy gắng sức lên”.

 

  1. Lời bạt cho bản in lại kinh Dược Sư Như Lai Bổn Nguyện

 

      Phật và chúng sanh cùng một tâm thể, nhưng sự thọ dụng khác biệt như trời với vực là do vì dụng tâm chẳng đồng mà ra. Phật chỉ nghĩ dùng lòng Vô Duyên Đại Từ, lòng Đồng Thể Đại Bi để độ thoát chúng sanh, trọn không có tâm “ta – người, đây – kia”. Dẫu cho độ tận hết thảy chúng sanh cũng chẳng thấy tướng người độ, kẻ được độ. Vì thế, phước huệ được trọn đủ, được thế gian tôn kính. Chúng sanh chỉ dốc lòng tự tư tự lợi, dẫu thân thiết như cha mẹ anh em còn chẳng thể không có tướng đây – kia, huống chi là người xung quanh, người trong cõi đời ư? Do vậy, cảm lấy nghiệp báo: Hoặc sanh trong nhà bần cùng hạ tiện, hoặc đọa trong tam đồ ác đạo! Dẫu cho tự tu giới thiện Thiền Định được sanh về chỗ vui trong nhân gian hay cõi trời, nhưng do không có tâm đại bi nên chẳng thể khế hợp Bồ Đề được ngay. Do vậy, vừa hết phước báo lại bị đọa lạc, chẳng đáng buồn ư? Như vậy, [nếu] chỉ muốn tạo lợi ích cho người khác thì lại trở thành làm lợi cho chính mình; chỉ muốn tự lợi thì chính là tự hại vậy!

Dược Sư Như Lai Bổn Nguyện Kinh chính là do đức Thích Ca Thế Tôn ta thương xót hết thảy chúng sanh tội khổ trong thế giới này, vì họ nói những chuyện lợi sanh của đức Dược Sư Như Lai trong khi tu nhân cũng như khi đã chứng quả, quả thật là diệu pháp vô thượng để rốt ráo lìa khổ được vui. Nếu chúng sanh phát được tâm đại Bồ Đề từ bi hỷ xả thọ trì kinh này, chú này và danh hiệu vị Phật này thì xét trên mặt hiệu quả còn phá rỗng toang được vô minh, viên thành Phật đạo, huống gì những quả vị khác, những phước lạc khác! Tâm Phật cố nhiên muốn trao toàn thể vô thượng giác đạo cho hết thảy chúng sanh, nhưng trí chúng sanh có kẻ cạn người sâu, chẳng thể không tùy theo lòng ưa thích của họ mà ban thuốc, khiến cho những điều họ mong cầu đều được như nguyện. Phải biết: Kinh Dược Sư, danh hiệu Phật và thần chú của Ngài chính là pháp Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác mà Phật Thích Ca, Phật Dược Sư đã chứng đắc. Phàm ai chí thành thọ trì chính là dùng sự trang nghiêm của Phật để tự trang nghiêm. Do đó, Ngọc Lâm Thông Tú quốc sư thường trì kinh và danh hiệu vị Phật này, vì kinh này là pháp môn tổng trì của Thiền, Giáo, Luật, Tịnh. Vì thế, người thọ trì hoặc sanh về thế giới Tịnh Lưu Ly, hoặc sanh sang thế giới Cực Lạc. Đến khi phá rỗng suốt phàm tình, viên thành thánh trí thì khế hợp thẳng vào Tịch Quang, Đông lẫn Tây đều mất, nhưng Đông – Tây đều rành rành, tùy nguyện vãng sanh, bèn cùng với Di Đà, Dược Sư về bí tạng. Đây gọi là “hành xứ thậm thâm” của chư Phật.

Thánh Thông đại sư khắc ván lưu thông bản kinh được chép bởi Tâm An hòa thượng, muốn cho người thọ trì phát khởi chánh tín, xin tôi hãy trình bày đại lược, rõ ràng. Lại do bản kinh này do pháp sư Huyền Trang dịch, chỉ nêu con số tám vị Bồ Tát, không nêu rõ tên hiệu, đoạn kinh nói thần chú lại bị thiếu. Tri thức đời sau muốn cho kinh nghĩa hoàn bị, nên y theo Thất Phật Bổn Nguyện Kinh thêm vào đoạn kinh văn nói ra thần chú tổng cộng bốn trăm hai mươi tám chữ, y theo bản kinh số 12 trong kinh Quán Đảnh, thêm vào danh hiệu của tám vị Bồ Tát, vì ba kinh này vốn là một kinh vậy. Phải biết từ xưa, chỉ dùng lá bối để biên chép, rất có thể bị thất lạc, đến nỗi những phần kinh văn được dịch hoàn bị hoặc thiếu sót khác nhau. Hậu nhân thêm vào như vậy quả thật khế hợp tâm Phật sâu xa. Vì thế, những người chú giải kinh đều cùng tôn trọng. Sợ rằng có kẻ đem đối chiếu với nguyên bản trong Đại Tạng sẽ sanh ngờ vực nên bèn ghi lại duyên khởi để mừng cho kinh văn được toàn bích vậy! (Đoạn nói ra thần chú bắt đầu từ câu “Lại này Mạn Thù Thất Lợi!” cho đến câu “sở cầu nguyện mãn cho đến Bồ Đề”)

  1. Lời bạt cho Văn Kinh Thất (Căn thất để nghe kinh

      Tứ Đại vốn không, Ngũ Uẩn đều không, thoát khỏi Căn – Trần, tâm lẫn cảnh đều tịch thì gì là kinh? Gì là nghe? Gì là thất? Nhất niệm bất sanh, trước – sau đều dứt, linh quang riêng chiếu, thể vốn toàn chân, có gì chẳng phải là kinh, gì chẳng phải là nghe, gì chẳng phải là thất? Hiểu được như thế thì gọi là “khéo nghe kinh”. Nếu không, ngay trong lúc đọc tụng kiệt lòng thành, tận lòng kính như đối trước thánh dung đích thân nghe viên âm sẽ tự có thể khế nhập sâu xa kinh tạng u viễn, tự thấy được Phật tánh sẵn có. Nguyện những người học trò của tôi hãy nhận hiểu phù hợp, dốc lòng tin tưởng, khế ngộ lời này thì may mắn lắm thay!

  1. Lời bạt cho sách Tín Nguyện Niệm Phật Quyết Định Vãng Sanh Thiển Thuyết

      Pháp môn Tịnh Độ là chỗ quy túc của các pháp. Ví như biển cả, toàn bộ nước của sông, rạch, khe, suối trong thế gian không gì chẳng đổ vào biển. Một khi đã vào trong ấy đều cùng mang tên là Biển, đều thành cùng một vị mặn. Tuy sâu rộng đến tột bậc, chẳng thể cùng tột bờ đáy, nhưng nếu luận từ chỗ nông cạn, dễ thấy thì danh, thể, vị, tánh cùng với chỗ sâu chẳng thể lường cố nhiên không hai, không khác. Từ khi đức Thế Tôn hoằng khai pháp này đến nay, chẳng biết bao nhiêu hằng hà sa hằng hà sa số chúng sanh y giáo tu hành vãng sanh Tây Phương? Ấy là vì lịch đại Bồ Tát, tổ sư, thiện tri thức, trên là kính vâng ý Phật, dưới là thuận theo cơ nghi khéo léo khuyến dụ dần dần, khiến cho mọi người đều được hay biết duyên do. Nhờ vậy, những người đầy đủ thiện căn từ trước bèn đều cùng được thoát khỏi Sa Bà, sanh sang Cực Lạc. Cư sĩ Đồng Liên Quốc muốn đồng nhân cùng sanh khởi chánh tín, cùng phát nguyện tha thiết, trì danh hiệu Phật cầu sanh Tây Phương, thấy những lời của cổ đức đều là văn sâu, nghĩa thẳm, hạng sơ cơ chẳng dễ gì lãnh hội được, bèn dùng những ngôn ngữ đơn giản, gần gũi để phát huy những ý nghĩa ấy. Do vậy, bèn đặt tên sách là Thiển Thuyết (Lời nói nông cạn). Phải biết tuy văn nói nông cạn, đơn giản, nhưng pháp được nói đến chính là pháp môn rất sâu vô thượng bậc nhất để chín giới cùng hướng về, được mười phương chư Phật cùng khen ngợi, được ngàn kinh đều xiển dương, vạn luận cùng tuyên nói. Nếu người đọc chẳng cho là pháp thiển cận, coi thường, mà hành theo thì tuy chưa ra khỏi Sa Bà đã chẳng phải là người khách lâu ngày nơi Sa Bà nữa, chưa sanh về Cực Lạc mà đã là khách quý cõi Cực Lạc.

  1. Lời bạt cho Liên Vinh Đường

      Hoa sen là vật tuy mọc lên từ bùn lầy, nhưng thể thường thanh tịnh. Người nào đối với hết thảy [mọi sự] đều không chấp trước, vui với thiên chân sẵn có, sẽ coi phú quý, bần tiện, mọi rợ, hoạn nạn như huyễn hóa, hành xử thuận theo địa vị, thích đáng với hoàn cảnh. Những ý niệm dâm, di, khuất, oán đều rốt ráo chẳng sanh, gần giống như hoa sen, còn gì vinh hơn? Luận ở mức độ cao hơn, hết thảy các pháp đều thuộc sanh diệt, đừng nói phú quý tôn vinh thế gian chưa đáng gọi là vinh, dẫu cho được làm Thiên Đế cho đến trời Phi Tưởng Phi Phi Tưởng cũng chưa đáng gọi là vinh! Vì sao vậy? Do phước trời một khi đã hết lại đọa xuống nhân gian. Đã sanh trong nhân gian khó tránh khỏi tạo nghiệp. Đã tạo ác nghiệp ắt đọa ác đạo, luân chuyển bao kiếp chẳng có lúc ra; không gì nhục hơn, có gì là vinh? Đáng gọi là vinh chính là đoạn phiền hoặc, thành đạo Bồ Đề, hiện thân trong pháp giới độ thoát chúng sanh vậy. Nhưng đang thuộc địa vị phàm phu, ngay trong đời này chắc chắn khó được như thế. Do vậy, hãy nên thật sự vì sanh tử phát Bồ Đề tâm, dùng tín nguyện sâu trì danh hiệu Phật để mong vãng sanh trong chín phẩm sen báu trong Tây Phương Cực Lạc thế giới. Nếu thật sự được như thế thì lúc lâm chung cảm ứng đạo giao được Phật tiếp dẫn, liền được vãng sanh. Từ đấy vĩnh viễn lìa khỏi tám khổ, thường hưởng Tứ Đức, thân cận Di Đà, tham dự vào hải chúng, nghe pháp, thọ ký mau chứng Vô Sanh. Không chỉ chính mình như thế, nếu như lại còn có thể trọn đủ lòng đại từ bi, phát đại thệ nguyện, rộng tu các việc thiện, giáo hóa khắp hết thảy, dùng công đức này kính vì hồi hướng cho cha mẹ tổ tông cũng được nhờ vào thiện lợi này cùng sanh về Tây Phương. Huống chi khi đã sanh về Tây Phương, chứng Vô Sanh Nhẫn thì chuyện thành vô thượng đạo, đạt đại Niết Bàn, chắc chắn là chuyện quyết định đạt được, còn gì vinh hơn được nữa? Nghĩa của chữ “Liên Vinh” là như thế, xin hãy nghĩ đến ý nghĩa của tên gọi mà thực hành thì may mắn lắm thay!

  1. Lời bạt cho nghĩa trang của Đặng Bộc Quân

      Con người không có ai chẳng mưu tính cho bản thân và con cháu, nhưng đường lối mưu tính cố nhiên phải nên xem xét tường tận. Nếu vì mọi người, vì việc công thì phước trạch dài lâu. Nếu vì mình, vì riêng tư sẽ như hạt móc mùa Xuân, giọt sương mùa Thu. Nếu như lại còn mưu mẹo, dối trá thì khác gì uống phê sương, trầm độc để cầu trường sanh, không lẽ nào chẳng chết! Đã thế, thần thức vĩnh viễn đọa trong ác đạo, chịu đủ họa ương, vốn muốn lợi mình, rốt cuộc thành tự hại. Tuy do mình tự chuốc lấy, nhưng thật đáng thương xót. Phạm Văn Chánh Công (Phạm Trọng Yêm) đời Tống lập nghĩa trang thí cho người trong tộc họ để họ hàng luôn được hưởng lợi ích. Vì thế, suốt tám chín trăm năm, dòng dõi ông luôn hưởng điều tốt lành. Cư sĩ Bộc Quân trên kế thừa chí cha mẹ, noi theo dấu thơm của Văn Chánh Công, khiến cho dù con hay cháu và người trong họ đều được hưởng nhờ, đều nghĩ đến A Di Đà Phật cầu sanh Tây Phương. Đấy chính là thí cả pháp lẫn tài, giúp đỡ sắc thân lẫn huệ mạng, phước trạch của mình lẫn người đều cùng thọ như hư không, không có tai ương. Do vậy, bèn nêu bày nghĩa lý ẩn tàng để con cháu và người trong họ cùng những ai thấy nghe đều được thấm gội ánh sáng của Phật vậy!

Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao,

Quyển 3 hết


[1] Ngoại Phàm là địa vị phàm phu, do đối ứng với Nội Phàm nên gọi là Ngoại Phàm. Đây chính là địa vị trước khi đạt đến địa vị Kiến Đạo. Thanh Văn thừa coi Ngũ Đình Tâm, Biệt Tướng Niệm Trụ, Tổng Tướng Niệm Trụ đều là Ngoại Phàm, nhưng Bồ Tát Thừa lại coi Thập Tín Phục Nhẫn là Ngoại Phàm. Cuối quyển 17, sách Đại Thừa Nghĩa Chương có ghi: “Nói Ngoại phàm chính là chỉ những người hướng đến điều lành nhưng hướng ra ngoài cầu lý, chưa thể dứt được tướng để duyên theo Chân Tánh bên trong, nên gọi là Ngoại. Do thân phàm phu Phần Đoạn trong sáu đường chưa thể bỏ được nên gọi là Phàm”. Theo Thiên Thai Tông thì có nhiều cách giải thích:

  1. Trong Tạng Giáo, Hiền Vị thuộc về Ngũ Đình Tâm Quán là Ngoại Phàm.
  2. Thông Giáo coi Càn Huệ Địa trong mười Địa là Ngoại Phàm.
  3. Biệt Giáo coi mười địa vị thuộc Thập Tín là Ngoại Phàm.
  4. Viên Giáo coi địa vị Ngũ Phẩm trong Quán Hạnh của Lục Tức Thành Phật là Ngoại Phàm.

[2] Nhị đế tam vương: Nhị Đế là Đế Nghiêu, Đế Thuấn, Tam Vương là vua Đại Vũ nhà Hạ, vua Thành Thang nhà Thương và Văn Vương nhà Châu, những vị này đều được coi là Thánh Quân của cổ Trung Hoa.

[3] Dư Diêu là một thành phố nhỏ ở phía Đông tỉnh Chiết Giang, phụ cận thành phố Ninh Ba. Tuy thế nơi này là quê hương của rất nhiều danh sĩ Trung Hoa như Vương Dương Minh, Hoàng Tông Hy, Hoàng Tông Vân, Nghiêm Tử Lăng, Từ Thu Bạch v.v…

[4] Có hai cách hiểu chữ Tam Giác:

  1. Tam Giác là ba đức tánh của quả vị Phật: Tự Giác, Giác Tha, Giác Hạnh Viên Mãn.
  2. Tam Giác như trong Đại Thừa Khởi Tín Luận đề xướng: Bổn Giác, Thỉ Giác và Cứu Cánh Giác.

[5] Vô Tích là một thành phố thuộc tỉnh Giang Tô, thuộc lưu vực sông Trường Giang, ở gần Thái Hồ và Tích Sơn. Theo truyền thuyết, do mỏ thiếc ở Tích Sơn bị cạn nên mới có tên này.

[6] Dân gian Trung Hoa khi xưa tin rằng con tò vò phải bắt những con sâu đem về bỏ vào tổ của chúng, rồi cứ nhắc nhở: “Biến thành tò vò!” thì những con sâu ấy lâu ngày sẽ biến thành tò vò chui ra. Thật ra, tò vò bắt những con sâu ấy bỏ vào tổ rồi đẻ trứng lên đó, tò vò con nở ra sẽ ăn thịt con sâu ấy. Khi tò vò con đã đủ sức, nó sẽ khoét tổ chui ra. Do vậy, dân gian tưởng lầm sâu nở ra thành tò vò. Ở đây, Tổ mượn truyền thuyết dân gian để nói cho người đương thời dễ hiểu.

[7] Thành thủy thành chung (thành ban đầu, thành sau rốt), gọi như vậy vì hành nhân dùng pháp này để viên thành Phật đạo. Đó là “thành thủy”. Thành Phật rồi lại dùng pháp này để thành tựu chúng sanh cùng viên thành Phật đạo nên gọi là “thành chung”.

[8] Phát ẩn là trình bày những nghĩa lý ẩn kín, làm cho được phô bày rõ ràng.

[9] Ngô Tùng là một thị trấn công nghiệp thuộc Thượng Hải, nằm ngay trên sông Hoàng Phố.

[10] Nhà Tiền Tần còn gọi là Phù Tần, do Phù Kiên lập ra ở đất Quan Trung. Vì Quan Trung thuộc đất Thiểm Tây (đất Tần cũ), nên xưng quốc hiệu là Tần. Do tham vọng, Phù Kiên xua quân đánh chiếm Ðông Tấn, nhưng bị thất trận. Trên đường rút lui, Phù Kiên bị một bộ tướng là Diêu Trành hạ sát, soán đoạt vương vị. Diêu Trành vẫn xưng quốc hiệu là Tần. Sử gọi là triều đại ấy là nhà Hậu Tần hay Diêu (Dao) Tần, và gọi triều đại của Phù Kiên là Phù Tần.

[11] Trường An chính là thành phố Tây An ngày nay, thuộc địa phận tỉnh Thiểm Tây.

[12] Do ngài La Thập người xứ Quy Tư (Kuche) ở ngoài quan ải của Trung Hoa, nên việc ngài đến Trường An được gọi là “nhập quan” (vào trong ải)

[13] Kinh Dịch có quẻ Lệ Trạch Đoài, được Khổng Tử giảng là “Quân tử dữ bằng hữu giảng tập” (quân tử cùng bạn bè nghiên cứu, bàn luận, tập tành) nên kinh sách cổ thường dùng chữ Lệ Trạch để chỉ sự thảo luận, nghiên cứu giữa những người cùng chí hướng.

[14] Hiền là Hiền Thủ tông (Hoa Nghiêm tông), Từ là Từ Ân tông (tức Duy Thức tông). Gọi là Từ Ân Tông vì ngài Khuy Cơ, cao đồ của pháp sư Huyền Trang, là người đã xiển dương tông Duy Thức đến cùng tột. Đương thời, ngài Khuy Cơ trụ tại chùa Từ Ân nên tông Duy Thức thường được gọi là Từ Ân Tông.

[15] Thần chủ là bài vị thờ người chết, khi xưa chưa có hình ảnh, người ta thường viết tên họ người chết làm bài vị để thờ.

[16] Nguyên văn là “không hoa”, tức khi bị mắt nhậm ta thường thấy những đốm sáng lấm tấm trong không trung. Đó gọi là “không hoa”.

[17] Ở đây Tổ dùng những hình ảnh cha mẹ chăm sóc, nuôi nấng con cái để hình dung lòng từ ái của đức Phật.

[18] Nguyệt Lệnh là một thiên sách của bộ Lễ Ký, tức sách ghi chép các chánh lệnh trong mười hai tháng của chính quyền Trung Hoa thời cổ về quy cách tế tự, những lệnh cấm, những khuyến cáo, chức vụ của những người thực hiện các lệnh ấy.

[19] Ba ngôi chùa lớn ở Phổ Đà Sơn là Pháp Vũ, Phổ Tế và Huệ Tế.

[20] Vị cư sĩ này vốn có tên là Bắc Luân 北崙, sau đổi tên thành Bá Luân 伯倫

[21] Tào Hà Kính là một thương cảng trọng yếu thuộc Phố Giang Trấn, Thượng Hải.

[22] Trong kinh Dịch, quẻ Khôn là thuần Âm nên nữ giới thường được coi như thuộc quẻ Khôn, những gì liên quan đến nữ giới thường được đi kèm với chữ Khôn, như Khôn Thuận (sự thuận thảo của người vợ), Khôn Trinh (sự trinh liệt của nữ giới). “Khôn luân” ở đây có nghĩa là nữ giới, “khôn luân trinh tịnh” là bậc trinh liệt, trong sạch trong nữ giới.

[23] Diệu và tinh đều có nghĩa là những ngôi sao, phước diệu là ngôi sao tốt lành, tai tinh là ngôi sao rủi ro. Phước diệu và tai tinh có nghĩa là vận tốt và vận rủi.

[24] Tề mi (ngang mày): Đời Hậu Hán, vợ của Lương Hồng là nàng Mạnh Quang khi đưa cơm cho chồng đều nâng bát cơm cao ngang mày, ngụ ý kính trọng chồng như khách quý. Sau này, thường dùng chữ “tề mi” để diễn tả ý vợ chồng kính trọng lẫn nhau. “Giai lão” là sống hạnh phúc đến răng long đầu bạc.

[25] Thông thường, Bạt là phần giới thiệu ở một tác phẩm và được ghi ở cuối sách. Ở đây, Tổ còn dùng chữ Bạt với ý nghĩa “một bài viết nhằm giải thích ý nghĩa tên gọi của một công trình đã xây dựng xong”.

[26] Khai giá trì phạm là thuật ngữ trong Luật Học Phật Giáo: Khai là có trường hợp vi phạm giới cấm nhưng không bị coi là phạm giới, Giá có nghĩa là ngăn cấm. Trì là vâng giữ, Phạm là vi phạm. Chẳng hạn như nói dối là phạm giới, nhưng trong nhiều trường hợp phải nói dối để cứu người thì không phạm giới.

[27] Kinh Đại Bát Nhã (Mahā-prajñāpāramitā-sūtra) gồm 600 quyển, do ngài Huyền Trang dịch vào đời Đường. Trong Đại Tạng Kinh, kinh này chiếm hết ba phần tư hệ thống Bát Nhã. Có thể nói, kinh này là một bộ đại tập thành của toàn bộ những kinh văn thuộc hệ thống Bát Nhã. Trước thời ngài Huyền Trang, đã có những bản dịch một phần kinh Bát Nhã như Kim Cang Bát Nhã, Phóng Quang Bát Nhã, Tiểu Phẩm Bát Nhã, Đạo Hành Bát Nhã, Đại Phẩm Bát Nhã v.v… Do vậy, ngài Huyền Trang bèn tập hợp các bản dịch, so sánh với ba thứ bản gốc tiếng Phạn, sai các vị Gia Thượng, Đại Thừa Khâm, Đại Thừa Quang, Huệ Lãng, Khuy Cơ làm Bút Thọ (ghi chép bản dịch), Huyền Trắc, Thần Phưởng làm Xuyết Văn (nhuận sắc sửa đổi câu văn cho hoàn chỉnh, đẹp đẽ), Huệ Quý, Thần Thái, Huệ Cảnh làm nhiệm vụ Chứng Nghĩa để cùng với Ngài dịch lại kinh này tại chùa trong cung Ngọc Hoa, từ tháng Giêng năm Hiển Khánh thứ năm (660) đời Đường Cao Tông đến tháng Mười năm Long Sóc thứ ba (663) mới dịch xong. Tháng Hai năm sau, tuân theo lời thỉnh cầu của Tăng chúng, Ngài cầm bút dịch được mấy trang kinh Bảo Tích bèn ngừng vì biết lúc thị tịch đã đến. Toàn kinh Đại Bát Nhã chia thành mười sáu hội được giảng tại bốn chỗ (núi Linh Thứu ở thành Vương Xá, vườn Cấp Cô Độc, cung trời Tha Hóa Tự Tại và Trúc Lâm tinh xá thuộc thành Vương Xá). Các hội thứ 1, 3, 5, 11, 12, 13, 14, 15, 16, tổng cộng bảy hội là do ngài Huyền Trang dịch mới, gồm 481 quyển. Bảy hội kia là bản dịch lại những bản cựu dịch.

Hội thứ nhất tương ứng với Phạn Bản là bộ Thập Vạn Tụng Bát Nhã (Śatasāhasrikā-prajñāpāramitā). Hội thứ hai tương ứng với bộ Nhị Vạn Ngũ Thiên Tụng Bát Nhã (Pañcavijśatisāhasrikā-prajñāpāramitā) của Phạn Bản. Các bản Hán dịch biệt xuất từ hội này là kinh Quang Tán Bát Nhã, Phóng Quang Bát Nhã, và Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Kinh (27 quyển). Hội thứ tư tương ứng với Bát Thiên Tụng Bát Nhã (Astasāhasrikā-prajñāpāramitā), các kinh biệt xuất là Đạo Hành Bát Nhã của ngài Chi Lâu Ca Sấm, Đại Minh Độ Kinh của ngài Chi Khiêm đời Ngô, Tiểu Phẩm Bát Nhã Kinh của ngài Cưu Ma La Thập, Phật Mẫu Xuất Sanh Tam Pháp Tạng Bát Nhã Ba La Mật Đa của ngài Thi Hộ. Hội thứ sáu giống với kinh Thắng Thiên Vương Bát Nhã Ba La Mật do ngài Nguyệt Bà Thủ Na dịch vào đời Trần. Hội thứ bảy tương ứng với Thất Bách Tụng Bát Nhã (Saptaśatikā-prajñāpāramitā) của Phạn Bản. Hội này chính là bản dịch khác của kinh Văn Thù Sư Lợi Sở Thuyết Bát Nhã Ba La Mật Đa do ngài Tăng Già Ba La dịch và kinh Văn Thù Sư Lợi Sở Thuyết Bát Nhã Ba La Mật Đa của ngài Mạn Đà La Tiên dịch vào đời Lương (chép trong kinh Đại Bảo Tích). Hội thứ tám chính là bản dịch khác của kinh Nhu Đạo Bồ Tát Vô Thượng Thanh Tịnh Phần Vệ Kinh do ngài Tường Công dịch vào đời Tống. Hội thứ chín là kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật Đa. Hội này chính là bản dịch khác các kinh cùng mang tên Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật Đa do các ngài Cưu Ma La Thập, Bồ Đề Lưu Chi, Chân Đế cũng như Kim Cang Năng Đoạn Bát Nhã Ba La Mật Đa do ngài Cấp Đa dịch, kinh Năng Đoạn Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật Đa do ngài Nghĩa Tịnh dịch vào thời Đường. Hội thứ 10 tương ứng với kinh Lý Thú Bát Nhã (Prajñāpāramitā-naya-śatapañcāśatikā), chính là bản dịch khác các kinh Thật Tướng Bát Nhã Ba La Mật Kinh do ngài Bồ Đề Lưu Chí dịch, Đại Nhạo Kim Cang Bất Không Chân Thực Tam Ma Da do ngài Bất Không dịch, kinh Năng Chiếu Bát Nhã Ba La Mật do ngài Thi Hộ dịch v.v… Những hội còn lại không còn Phạn bản, chỉ còn bản dịch tương ứng bằng tiếng Tây Tạng. Ngoài bản dịch của ngài Huyền Trang, Tâm Kinh còn có sáu bản dịch khác nhau:

  1. Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đại Minh Chú Kinh do Cưu Ma La Thập dịch.
  2. Bát Nhã Ba La Mật Đa Na Đề Kinh do Bồ Đề Lưu Chi dịch.
  3. Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh do Bát Nhã và Lợi Ngôn dịch.
  4. Phổ Biến Trí Tạng Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh do Pháp Nguyệt dịch.
  5. Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh do Trí Huệ Luân dịch.
  6. Thánh Phật Mẫu Bát Nhã Ba La Mật Đa Kinh do Thi Hộ dịch.

Trong số này, bản của Ngài Thi Hộ có ghi đầy đủ nơi xứ thuyết kinh, đương cơ của pháp hội, nhưng lời văn không được cô đọng, trau chuốt, đặc sắc như bản dịch của ngài Huyền Trang.

[28] Câu “như bảo xích tử” trích từ tiết Khang Cáo, chương Châu Thư của kinh Thư (tức sách Thượng Thư). Khang Cáo là đoạn sách ghi lại lời Châu Thành Vương răn dạy Khang Thúc về đạo trị dân. Trong sách Đại Học, Mạnh Tử đã giải thích câu nói “như bảo xích tử” bằng câu: “Tâm thành cầu chi, tuy bất trúng bất viễn hỹ”. Cổ thư thường dùng chữ “xích tử” để chỉ nhân dân, ý nói vua phải thương yêu nhân dân như con do mình dứt ruột đẻ ra.

[29] Tức chùa Pháp Vũ và Phổ Tế.

Print Friendly, PDF & Email
Did you find apk for android? You can find new Free Android Games and apps.