Want create site? Find Free WordPress Themes and plugins.

Quán Thế Âm Bồ Tát Bổn Tích Cảm Ứng Tụng
觀世音菩薩本跡感應頌
Bành Trạch Bồ Tát Giới đệ tử Hứa Chỉ Tịnh soạn
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa
Giảo chánh: Minh Tiến, Huệ Trang, Vạn Từ và Đức Phong

 

QUYỂN I PHẦN 2

Từ đây trở đi, tuy biết các pháp lìa danh tự, nhưng nói các pháp như huyễn, như nắng gợn[1], chúng sanh vô tướng, nhưng độ chúng sanh như mộng, như bóng (Từ đây trở đi là phần ca tụng sự phát tâm thọ ký của Quán Âm Đại Sĩ được nói trong kinh Bi Hoa, gồm hai đoạn).

Phẩm Hiền Thủ kinh Hoa Nghiêm chép: “Linh tri chúng sanh tánh không tịch, nhất thiết chư pháp vô sở hữu, diễn thuyết chư pháp không, vô chủ, như huyễn, như diệm, thủy trung nguyệt, nãi chí do như mộng, ảnh, tượng. Thị cố, đắc thành thử quang minh” (Khiến cho biết tánh của chúng sanh là rỗng lặng, hết thảy các pháp không có sở hữu, diễn nói các pháp không, vô chủ, như huyễn, như bóng nắng dợn, như trăng in hình trong nước, cho đến giống như mộng, bóng, hình. Vì thế, được thành quang minh này). Kinh Duy Ma chép: Pháp vô danh tự, ngôn ngữ đoạn cố” (Pháp không có danh tự vì ngôn ngữ dứt bặt). Phẩm Phát Tâm Công Đức kinh Hoa Nghiêm có đoạn: “Tuy quán chư pháp nhi bất thủ, hằng cứu chúng sanh vô sở độ. Tri không, vô tướng, vô chân thật, nhi hành kỳ tâm bất giải thoái” (Tuy quán các pháp nhưng chẳng giữ lấy, luôn cứu chúng sanh nhưng không thấy có kẻ được độ. Biết là không, vô tướng, không chân thật, nhưng hành cái tâm ấy chẳng lười nhác, lui sụt).

Bởi vậy, trong kiếp Thiện Trì, Phật hiệu là Bảo Tạng. Trong thuở ấy, Di Đà có hiệu là Ly Tịnh, Bồ Tát làm Thái Tử, mang cái tên hư giả là Bất Thuấn. Đại thần Phạm Chí phổ độ trọn khắp các hàng trời rồng. Các tiểu vương tử phát nguyện cầu thoát khỏi tay ma. Khi ấy, do Đồng Sự, Ái Ngữ, Đại Sĩ thị hiện thuộc địa vị phàm phu, cầu giàu có, cầu sanh lên cõi trời, chẳng biết đến Duyên Giác. Sống chết rình ngó cái thân, nghiễm nhiên như sói, hổ, đền thân nợ mạng, truyền mãi cái vỏ là người, là dê.

Khi ấy, ngài Hải Tế đại bi lại khuyên họ hãy phát tâm. Đức Di Đà được thọ ký thành Chánh Giác trước tiên. Đại Sĩ cúng dường [Bảo Tạng Phật] trong chín mươi ngày, hồi hướng Bồ Đề. Tư duy suốt bảy năm để chọn lấy cõi tịnh. Cảm khái lục đạo xoay vần, tam đồ dễ đọa, thoái thất chánh pháp, hết sạch thiện căn, thâu giữ hạnh tà, phần nhiều vì bạn ác [xúi giục], Ngài bèn nguyện khi hành Bồ Tát đạo, sẽ xa lìa những sự sợ hãi. Không nơi nương tựa, không nơi an trụ, chúng sanh phiền não lắm đường; dù thấy, hay nghe, nguyện của ta rộng sâu như biển. Sanh tâm đại bi cứu khổ, bèn hiệu là Quán Âm. Kế thừa Vô Lượng Thọ thành Phật, lại có hiệu là Thức Đức. Đấy là Đại Sĩ suất lãnh một trăm ức người cùng phát đại tâm. Vì thế, trong các cõi mười phương, lại được chư Phật thọ ký.

Theo kinh Bi Hoa, xưa kia, trong số A-tăng-kỳ kiếp nhiều như cát sông Hằng, có một kiếp tên là Thiện Trì. Chuyển Luân Thánh Vương tên là Vô Tránh Niệm, vua có một ngàn người con. Thái Tử thứ nhất tên là Bất Thuấn, suốt trong ba tháng cúng dường Bảo Tạng Như Lai, ai nấy đều phát tâm, nguyện làm Đao Lợi thiên vương, hoặc Phạm Vương, Ma Vương, Chuyển Luân Vương, hoặc nguyện giàu to, hoặc cầu làm Thanh Văn, không một ai cầu thành Duyên Giác, huống hồ cầu Đại Thừa! Khi ấy, đại thần là Bảo Hải phạm-chí[2], khuyên khắp nam nữ trong thế giới và trời, rồng, quỷ thần v.v… hãy phát Bồ Đề tâm. Ông mộng thấy mặt vua và các vương tử hoặc là như mặt lợn, hoặc như mặt sư tử, cáo, sói, báo v.v… ăn các loại trùng. Lại có vô lượng chúng sanh đến ăn thịt chúng, nhiều lượt thọ thân cũng giống như vậy. Do vậy, khuyên họ hãy cùng phát Bồ Đề tâm.

Thái Tử tư duy tu tập đủ mọi thứ trang nghiêm hợp thành thế giới Phật của chính mình. Trong bảy năm, tâm không ham muốn, cho đến không có ý tưởng nghĩ nhớ hương, vị, xúc. Vì thế, bèn nói: “Ta xem thấy địa ngục nhiều sự khổ não, trong cõi trời người, lắm phen đọa tam ác đạo. Các chúng sanh này do thân cận ác tri thức nên thoái thất chánh pháp, dứt hết các thiện căn, thâu giữ đủ mọi tà kiến che lấp cái tâm, hành theo tà đạo. Nguyện khi ta hành Bồ Tát đạo, chúng sanh nào hứng chịu các thứ khổ não, sợ hãi, không ai cứu vớt, che chở, không nơi nương tựa, không chốn nương náu, nhưng nếu kẻ ấy có thể nghĩ tới ta, xưng danh hiệu ta thì ta do thiên nhĩ nghe tiếng, do thiên nhãn trông thấy những chúng sanh ấy mà nếu chẳng cứu họ thoát khỏi những khổ não ấy, ta trọn chẳng thành A Nậu Bồ Đề” (Vô Thượng Chánh Giác).

Bảo Tạng Phật thọ ký rằng:

– Ông quán sát trời, người, và hết thảy chúng sanh trong tam ác đạo, sanh tâm đại bi, muốn dứt các sự khổ não của chúng sanh, muốn chúng sanh an trụ trong an lạc, nên nay ta sẽ đặt tên cho ông là Quán Thế Âm. Khi Vô Lượng Thọ Phật nhập Niết Bàn thì cõi ấy sẽ đổi tên là thế giới Nhất Thiết Trân Bảo Sở Thành Tựu, thế giới An Lạc chẳng sánh bằng được tất cả các thứ trang nghiêm vô lượng vô biên [trong cõi Nhất Thiết Trân Bảo Sở Thành Tựu]! Trong khoảng một niệm, ông thành Đẳng Chánh Giác, hiệu là Biến Xuất Nhất Thiết Quang Minh Công Đức Sơn Vương Như Lai,

Đức Phật nói kệ rằng: – Bậc đại bi công đức, nay hãy dấy khởi lên, chư Phật trong mười phương, đã thọ ký cho ông, ông sẽ được thành Phật, cho nên hãy hoan hỷ”.

Kinh Phân Đà Lợi lại dịch chữ Vô Tránh Niệm thành Ly Tịnh, dịch Bảo Hải thành Hải Tế. [Theo kinh Bi Hoa, ngài Quán Âm thành Phật có hiệu là] Biến Xuất Nhất Thiết Quang Minh Công Đức Sơn, [kinh Phân Đà Lợi] dịch là Quang Minh Phổ Chí Tôn Thức Đức Vương.

Bố thí, ái ngữ, lợi hành, đồng sự được gọi là Tứ Nhiếp Pháp. Lăng Nghiêm Kinh: “Dĩ nhân thực dương, dương tử vi nhân, nhân tử vi dương. Như thị nãi chí thập sanh chi loại, tử tử, sanh sanh, hỗ tương lai đạm” (Do người ăn dê, dê chết thành người, người chết thành dê. Như thế cho đến mười loại chúng sanh, chết chết, sống sống, ăn nuốt lẫn nhau). Kinh còn dạy: “Nhữ phụ ngã mạng, ngã hoàn nhữ trái, dĩ thị nhân duyên, kinh bách thiên kiếp, thường tại sanh tử” (Ngươi nợ mạng ta, ta đòi nợ ngươi, do nhân duyên ấy, trải trăm ngàn kiếp, thường ở trong sanh tử). Kinh Pháp Hoa chép: “Hoằng thệ thâm như hải, lịch kiếp bất tư nghị” (Thệ rộng sâu như biển, trải kiếp chẳng nghĩ bàn). Bi Hoa Kinh: “Nhĩ thời hữu cửu thập nhị ức chúng sanh, diệc các phát nguyện, thủ chủng chủng trang nghiêm thắng diệu Phật độ” (Khi ấy, có chín mươi hai ức chúng sanh cũng đều phát nguyện, giữ lấy các thứ cõi Phật trang nghiêm thù thắng nhiệm mầu).

Đến khi đức Phật Năng Nhân ta, giáng thần cõi Kham Nhẫn, là minh quân Oai Đức, nay thành đấng Chánh Giác, Ngài chính là Phạm Chí đại bi. Đã sớm có nhân duyên, nên Đại Sĩ hóa làm Bồ Tát, người theo học đông như cát sông Hằng, giúp Phật độ chúng sanh, hiện thân càng trọn khắp (Từ đây trở đi là phần ca tụng chương hai mươi bảy trong phần Thiện Tài tham học của kinh Hoa Nghiêm, gồm năm đoạn).

Thích Ca Mâu Ni (Śākyamuni) dịch nghĩa là Năng Nhân Tịch Mặc. Chữ Kham Nhẫn xin coi trong phần trước. Thọ Ký Kinh: “Phật ngôn: – Oai Đức Vương, ngã thân thị dã” (Phật nói: – Oai Đức Vương là thân ta đấy). Bi Hoa Kinh: “Phật ngôn: – Nhĩ thời, đại bi Phạm Chí tắc ngã thân thị” (Đức Phật nói: – Vị Phạm Chí đại bi khi ấy chính là thân ta). Phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện của kinh Hoa Nghiêm có chép: “Bát giả, thường tùy Phật học” (Điều thứ tám là thường học theo Phật).

1. Trước hết, diễn nói Hoa Nghiêm, đồng quy pháp giới.

2. Thiện Tài hỏi đạo, đã đến thành Thiện Độ. Hàm Nhiếp thôi thăng[3], riêng chỉ bày biển Phạm Âm.

3. Bèn có núi hiệu Bạch Hoa, đất do các báu hợp thành.

4. Suối chảy, ao chuôm, nước công đức thường đầy ắp. Hoa quả, rừng cây, hương giáo hóa tỏa trọn (Ca tụng sự khen ngợi phẩm đức, đề cao [Quán Âm Đại Sĩ] của [cư sĩ] Bệ Sắt Chi La [trong phẩm Nhập Pháp Giới của kinh Hoa Nghiêm]. Do Bồ Tát đại bi nên tôi đặc biệt thêm vào một đoạn tán tụng).

(1) Đức Như Lai lúc mới thành đạo, hiện Báo Thân viên mãn Lô Xá Na, trong hai mươi mốt ngày, diễn nói kinh Hoa Nghiêm. Kinh Hoa Nghiêm lấy pháp giới chẳng thể nghĩ bàn làm tông[4], gồm mười hội thuyết pháp. Cuối cùng là phẩm Nhập Pháp Giới. Đó gọi là “không gì chẳng từ pháp giới này lưu xuất, không gì chẳng trở về pháp giới này”.

(2) Thiện Tài đi về phương Nam, vị thiện tri thức thứ hai mươi sáu là cư sĩ Bệ Sắt Chi La ở thành Thiện Độ (Subapārangama). Bệ Sắt Chi La (Vesthila) dịch nghĩa là Hàm Nhiếp.

(3 & 4) Theo kinh Hoa Nghiêm, cư sĩ dạy Thiện Tài như sau: Ư thử Nam phương hữu sơn, danh Bổ Đát Lạc Ca, bỉ hữu Bồ Tát, danh Quán Tự Tại. Tức tụng viết: – Hải thượng hữu sơn đa thánh hiền, chúng bảo sở thành cực thanh tịnh, hoa quả thụ mộc giai biến mãn, tuyền lưu trì chiểu tất cụ túc. Dũng mãnh trượng phu Quán Tự Tại, vị lợi chúng sanh trụ thử sơn. Nhữ ưng vãng vấn chư công đức, bỉ đương thị nhữ đại phương tiện” (Ở phương Nam nơi đây có quả núi tên là Bổ Đát Lạc Ca, nơi ấy có Bồ Tát tên là Quán Tự Tại. Liền nói kệ tụng như sau: – Trên biển có núi, đông thánh hiền, các báu hợp thành cực thanh tịnh. Hoa quả, cây cối đều trọn khắp, suối chảy, ao chuôm thảy đầy đủ. Dũng mãnh trượng phu Quán Tự Tại, vì lợi chúng sanh trụ núi này. Ngươi nên tới hỏi các công đức, Ngài sẽ dạy ngươi phương tiện lớn). Sách Tây Phương Hiệp Luận viết: “Bổ Đát Lạc Ca, Hán dịch là Tiểu Bạch Hoa Thụ (cây có hoa trắng nhỏ). Hoa ấy rất thơm, biểu thị hạnh hoa của Đại Sĩ là từ bi khiêm hạ, nở xòe hạnh hương giáo hóa, khiến cho kẻ nghe danh phát tâm Bồ Đề”.

1. Thấy hang đá trong rừng, trên tảng đá Kim Cang.

2. Có trượng phu dũng mãnh, tức bậc thánh từ bi.

3. Đuốc trí vô tận, làm quang minh trong đêm tối. Hết thảy mây pháp, che chở, tăng trưởng mầm phước (Ca tụng Thiện Tài vừa thấy Đại Sĩ, trong tâm bèn tán thán)

(1) Hoa Nghiêm Kinh: “Thiện Tài chí ư bỉ sơn, cầu mịch thử Đại Bồ Tát, kiến Tây diện nham cốc chi trung, thụ lâm ông úc, hương thảo nhu nhuyễn, hữu toàn bố địa. Quán Tự Tại Bồ Tát, ư Kim Cang thạch thượng, kết già phu tọa” (Thiện Tài đến núi ấy tìm kiếm vị Đại Bồ Tát ấy, thấy trong vùng hang đá ở phía Tây, rừng cây xanh tươi, cỏ thơm mềm mại phủ khắp đất, mọc xoay về bên phải, Quán Tự Tại Bồ Tát ngồi xếp bằng trên tảng đá Kim Cang).

(2) Xem chữ “dũng mãnh trượng phu” trong phần trước.

(3) [Cũng theo kinh Hoa Nghiêm], Thiện Tài trông thấy, hoan hỷ, hớn hở, nghĩ như thế này: Thiện tri thức là mây pháp của hết thảy. Thiện tri thức là đuốc trí vô tận. Thiện tri thức là rễ mầm phước đức.

Đại Sĩ thuộc địa vị Tùy Thuận Chúng Sanh Hồi Hướng, nói hạnh môn Đại Bi Giải Thoát, hiện đang hành Tứ Nhiếp, chẳng giống ba mươi lăm thân. Phát nguyện ở trong cõi Đồng Cư, nhằm dứt trừ vĩnh viễn mười tám thứ sợ hãi, khiến cho những ai xưng danh, nhìn mặt Ngài đều quay về môn phương tiện, sám quả, tu nhân, rốt cuộc vào nẻo Bồ Đề (Ca tụng Đại Sĩ giảng cho Thiện Tài pháp môn Đại Bi Giải Thoát)

Đại Sĩ là vị thiện tri thức thứ hai mươi bảy trong chuyến đi về phương Nam của Thiện Tài. Ngài thuộc vào địa vị Tùy Thuận Nhất Thiết Chúng Sanh Hồi Hướng[5].

Kinh chép: Ngã dĩ thử Bồ Tát Đại Bi hạnh môn, bình đẳng giáo hóa nhất thiết chúng sanh, tương tục bất đoạn. Thiện nam tử! Ngã trụ thử Đại Bi hạnh môn, thường tại nhất thiết chư Như Lai sở, phổ hiện nhất thiết chúng sanh chi tiền. Hoặc dĩ bố thí, nhiếp thủ chúng sanh; hoặc dĩ ái ngữ, hoặc dĩ lợi hành, hoặc dĩ đồng sự nhiếp thủ chúng sanh. Hoặc hiện sắc thân nhiếp thủ chúng sanh. Hoặc hiện chủng chủng bất tư nghị sắc, tịnh quang minh võng nhiếp thủ chúng sanh. Hoặc dĩ âm thanh, hoặc dĩ oai nghi, hoặc vị thuyết pháp, hoặc hiện thần biến, linh kỳ tâm ngộ nhi đắc thành thục. Hoặc vị hóa hiện đồng loại chi hình, dữ kỳ cộng cư, nhi thành thục chi.

Thiện nam tử! Ngã tu hành thử Đại Bi hạnh môn, nguyện thường cứu hộ nhất thiết chúng sanh. Nguyện nhất thiết chúng sanh ly hiểm đạo bố, ly nhiệt não bố, ly mê hoặc bố, ly hệ phược bố, ly sát hại bố, ly bần cùng bố, ly bất hoạt bố, ly ác danh bố, ly ư tử bố, ly đại chúng bố, ly ác thú bố , ly hắc ám bố, ly thiên di bố, ly ái biệt bố, ly oán hội bố, ly bức bách thân bố, ly bức bách tâm bố, ly ưu bi bố. Phục nguyện chư chúng sanh, nhược niệm ư ngã, nhược xưng ngã danh, nhược kiến ngã thân, giai đắc miễn ly nhất thiết bố úy.

Thiện nam tử! Ngã dĩ thử phương tiện linh chư chúng sanh, ly bố úy dĩ, phục giáo linh phát A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề tâm, vĩnh bất thoái chuyển”

(Ta dùng hạnh môn Đại Bi này của bậc Bồ Tát để bình đẳng giáo hóa hết thảy chúng sanh liên tục chẳng dứt.

Này thiện nam tử! Ta trụ trong hạnh môn Đại Bi này, thường ở nơi hết thảy Như Lai, hiện trước khắp hết thảy chúng sanh, hoặc dùng bố thí để nhiếp thủ chúng sanh, hoặc dùng ái ngữ, hoặc dùng lợi hành, hoặc dùng đồng sự để nhiếp thủ chúng sanh, hoặc hiện sắc thân để nhiếp thủ chúng sanh. Hoặc hiện lưới quang minh trong sạch có các thứ sắc chẳng thể nghĩ bàn để nhiếp thủ chúng sanh. Hoặc dùng âm thanh, hoặc dùng oai nghi, hoặc vì họ thuyết pháp, hoặc hiện thần thông biến hóa, khiến cho tâm họ ngộ, được thành thục. Hoặc vì họ hiện thân hình giống như họ, cùng ở chung với họ để thành thục họ.

Này thiện nam tử! Ta tu hành hạnh môn Đại Bi này, nguyện thường cứu vớt, che chở hết thảy chúng sanh. Nguyện hết thảy chúng sanh lìa nỗi sợ nơi đường hiểm, lìa nỗi sợ nhiệt não, lìa nỗi sợ mê hoặc, lìa nỗi sợ trói buộc, lìa nỗi sợ sát hại, lìa nỗi sợ nghèo túng, lìa nỗi sợ chẳng sống sót, lìa nỗi sợ tiếng ác, lìa nỗi sợ chết chóc, lìa nỗi sợ đại chúng, lìa nỗi sợ [bị đọa] đường ác, lìa nỗi sợ tối tăm, lìa nỗi sợ dời chuyển, lìa nỗi sợ yêu thương mà phải chia lìa, lìa nỗi sợ oán ghét phải gặp gỡ, lìa nỗi sợ thân bị bức bách, lìa nỗi sợ tâm bị bức bách, lìa nỗi sợ lo buồn. Lại nguyện các chúng sanh hoặc nghĩ tới ta, hoặc xưng danh ta, hoặc thấy thân ta, đều được tránh lìa hết thảy sợ hãi.

Này thiện nam tử! Ta dùng phương tiện này khiến cho các chúng sanh lìa sợ hãi xong, lại dạy họ phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, vĩnh viễn không lui sụt)

Ngài Thanh Lương giảng: “Từ chữ bố thí trở đi nói về ý nghĩa ‘phổ hiện’ (hiện trọn khắp). So với ba mươi lăm ứng thân được nói trong kinh Pháp Hoa thì mới thoạt nhìn [những sự ứng hóa nói trong đoạn kinh văn này] dường như ít ỏi, nhưng về ý nghĩa lại nhiều. Ba mươi lăm ứng thân ấy chỉ là các thứ sắc thân thị hiện và sự thuyết pháp [đã được nói] trong đoạn này”.

1. Thật đúng là: Chúng sanh ví như cội rễ, chư Phật chính là hoa quả.

2. Phụng sự mười hai loại chúng sanh giống như cha mẹ, tam thế chư Phật mới đắc Bồ Đề.

3. Ấy là vì: Tự và Tha chẳng ngăn cách mảy lông, chúng sanh và Phật vốn không sai biệt.

4. Vì thế, trưởng tử Phổ Hiền khởi đủ vạn hạnh, con thứ Văn Thù viên thành Chủng Trí. Chẳng lên cửa Đại Sĩ, khó nhập biển Tỳ Lô! (Ca tụng địa vị Tùy Thuận Chúng Sanh Hồi Hướng của Đại Sĩ)

(1) Phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện chép: “Thí như khoáng dã, hữu đại thụ vương, nhược căn đắc thủy, chi, diệp, hoa, quả tất giai phồn mậu. Sanh tử khoáng dã Bồ Đề thụ vương, diệc phục như thị. Nhất thiết chúng sanh nhi vi thụ căn, chư Phật, Bồ Tát nhi vi hoa quả. Dĩ đại bi thủy, nhiêu ích chúng sanh, tắc năng thành tựu chư Phật, Bồ Tát trí huệ hoa quả” (Ví như nơi đồng hoang có một cây chúa[6], nếu rễ của nó được nước thấm nhuần thì cành, lá, hoa, quả thảy đều xum xuê. Cây chúa Bồ Đề trong đồng hoang sanh tử cũng giống như vậy. Hết thảy chúng sanh là rễ cây, chư Phật, Bồ Tát là hoa quả. Dùng nước Đại Bi làm lợi ích chúng sanh thì sẽ có thể thành tựu hoa quả trí huệ Phật, Bồ Tát).

(2) Kinh còn chép: Sở vị, noãn sanh, thai sanh, thấp sanh, hóa sanh, vô túc, nhị túc, tứ túc, đa túc, hữu sắc, vô sắc, hữu tưởng, vô tưởng, phi hữu tưởng, phi vô tưởng, như thị đẳng loại, ngã giai ư bỉ tùy thuận nhi chuyển. Chủng chủng thừa sự, chủng chủng cúng dường, như kính phụ mẫu, như phụng sư trưởng, cập A La Hán, nãi chí Như Lai, đẳng vô hữu dị” (Đó là noãn sanh, thai sanh, thấp sanh, hóa sanh, không chân, hai chân, bốn chân, nhiều chân, có sắc, không sắc, có tưởng, không tưởng, chẳng phải có tưởng, chẳng phải không tưởng, đối với những loài như vậy, ta đều tùy thuận chuyển hóa họ. Các thứ hầu hạ, các thứ cúng dường, như kính cha mẹ, như thờ sư trưởng, và A La Hán cho đến Như Lai, giống hệt không khác).

Kinh còn chép: “Nhược chư Bồ Tát dĩ đại bi thủy, nhiêu ích chúng sanh, tắc năng thành tựu A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề. Thị cố Bồ Đề thuộc ư chúng sanh” (Nếu các Bồ Tát dùng nước Đại Bi tạo lợi ích cho chúng sanh thì sẽ có thể thành tựu Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Vì vậy, Bồ Đề thuộc về chúng sanh).

(3) Phẩm Dạ Ma Kệ Tán của kinh Hoa Nghiêm có đoạn: “Như tâm, Phật diệc nhĩ. Như Phật, chúng sanh nhiên. Tâm, Phật, dữ chúng sanh. Thị tam vô sai biệt” (Như tâm, Phật cũng thế. Như Phật, chúng sanh đồng. Tâm, Phật và chúng sanh, cả ba không sai biệt).

(4) Sách [Hoa Nghiêm] Hợp Luận viết: “Trưởng tử [của chư Như Lai] là Phổ Hiền nêu quả đức nơi Tạng thân, con thứ là Văn Thù, khơi mở cho kẻ tối tăm về thế giới Kim Sắc”. Sách còn viết: “Phổ Hiền biểu thị Hạnh, Văn Thù biểu thị Trí, Quán Âm biểu thị Bi. Ba pháp thuộc vào một người, đầy đủ, trọn khắp, nên gọi là Tỳ Lô Giá Na. Không có Thập Hồi Hướng, sẽ không có Bồ Tát thành Phật đạo”.

1. Nhưng Viên Giáo, Đốn Giáo, chỉ độ bậc đại căn, còn với hạng điếc câm thì vẫn hành đạo nhỏ.

2. Ấy là vì: Nhìn thấy bóng trong gương, vô cớ phát cuồng. Chẳng biết: Trong chéo áo giấu châu, vốn chưa từng mất (Từ đây trở đi ca tụng Tâm Kinh, gồm hai đoạn).

(1) Ngài Hiền Thủ phán định giáo pháp:

– Một là Tiểu Thừa Giáo.

– Hai là Đại Thừa Thỉ Giáo.

– Ba là Đại Thừa Chung Giáo.

– Bốn là Đốn Giáo.

– Năm là Viên Giáo.

Kinh Hoa Nghiêm thuộc Đốn Viên. Hoa Nghiêm lấy hàng phàm phu đại căn làm đương cơ. Phẩm Nhập Pháp Giới có đoạn: “Ư thị thượng thủ chư đại Thanh Văn, Xá Lợi Phất đẳng tại Thệ Đa lâm, giai tất bất kiến Như Lai thần lực dĩ chí bất khả tư nghị Bồ Tát cảnh giới. Hà dĩ cố? Chư đệ tử y Thanh Văn thừa nhi cầu xuất ly cố” (Khi ấy, các bậc thượng thủ trong hàng đại Thanh Văn như Xá Lợi Phất v.v… ở trong rừng Thệ Đa[7] đều chẳng thấy được thần lực của Như Lai cho đến cảnh giới chẳng thể nghĩ bàn của Bồ Tát. Vì sao vậy? Vì các đệ tử nương theo Thanh Văn thừa để cầu xuất ly). [Hoa Nghiêm Kinh] Sớ Sao giảng: “Hoa Nghiêm hiển thị trực tiếp Nhất Thật sâu huyền, mà họ lại dùng Quyền Trí để nhận biết nên như câm điếc”.

(2) Lăng Nghiêm Kinh: Thất La thành trung, Diễn Nhã Đạt Đa, hốt ư thần triêu, dĩ kính chiếu diện, ái kính trung đầu, my mục khả kiến, sân trách kỷ đầu, bất kiến diện mục, dĩ vi si mị, vô trạng cuồng tẩu” (Trong thành Thất La (Śrāvastī, tức thành Xá Vệ), chàng Diễn Nhã Đạt Đa (Yajñadatta) buổi sáng chợt soi gương, yêu mến cái đầu [hiện bóng] trong gương vì nó có lông mày và mắt có thể nhìn thấy được, giận trách cái đầu của chính mình sao chẳng thấy được vẻ mặt, cho nó là yêu quái, vô duyên cớ điên cuồng chạy quàng).

Kinh còn chép: “Thí như hữu nhân, ư tự y trung, hệ Như Ý châu, bất tự giác tri, cùng lộ tha phương, khất thực trì tẩu. Tuy thật bần cùng, châu bất tằng thất” (Ví như có kẻ ở trong áo mình buộc châu Như Ý mà không hay biết, túng quẫn nơi quê người, lê la ăn xin. Tuy thật bần cùng, nhưng châu chưa từng mất).

1. Đại Sĩ động lòng thương xót sâu xa, chỉ bày Bát Nhã.

2. Voi chúa xoay mình đoái trông, kêu tên Thu Tử.

3. Sắc chính là Không, Không chính là Sắc, chẳng cần phải chia chẻ đến lân hư trần. Bất sanh, bất diệt, chớ nhìn lầm nước sông Hằng.

4. Phá được Ngũ Ấm, tướng mười tám giới[8] đều tiêu. Tứ Đế chẳng làm, mười hai duyên liền dứt.

5. Đến lúc ấy, thân chứa mười phương, miệng nuốt ba đời.

6. Chẳng thấy Phật nơi Niết Bàn, tâm còn do đâu vướng mắc?

7. Như xướng Kim Cang tự mẫu đã qua khỏi môn chữ Trà; đấy là Bát Nhã tổng trì, bèn nói chú Ba La, hòng độ khắp lợi độn, mà cũng là nhằm khiến Bi lẫn Trí viên dung.

Bị chú của người dịch: Cư sĩ Hứa Chỉ Tịnh không chú thích cho câu thứ nhất trong đoạn này.

(2) Phẩm Nhập Pháp Giới của kinh Hoa Nghiêm có chép: “Văn Thù Sư Lợi như tượng vương hồi, quán chư tỳ-kheo” (Ngài Văn Thù Sư Lợi như voi chúa quay mình, nhìn các tỳ-kheo). Xá Lợi Tử (Śāriputra), cõi này dịch là Thu Tử, do gọi theo tên mẹ[9].

(3) Tâm Kinh: “Sắc bất dị Không, Không bất dị Sắc, Sắc tức thị Không, Không tức thị Sắc”. Lăng Nghiêm Kinh: “Thô vi đại địa, tế vi vi trần. Chí lân hư trần, tích bỉ cực vi sắc biên tế tương thất phần sở thành. Cánh tích lân hư, tức thật không tánh” (Thô là đại địa, nhỏ nhặt là vi trần. Còn như lân hư trần là do chia cực vi sắc biên tế ra bảy phần mà thành. Lại chia chẻ lân hư trần thì nó thật sự là tánh Không). Tâm Kinh: Thị chư pháp Không tướng, bất sanh, bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng, bất giảm” (Tướng Không của các pháp chẳng sanh, chẳng diệt, chẳng nhơ, chẳng sạch, chẳng tăng, chẳng giảm).

Lăng Nghiêm Kinh: “Phật cáo Nặc vương: – Ngã kim thị nhữ bất sanh diệt tánh. Nhữ niên kỷ thời kiến Hằng hà thủy? Vương ngôn: – Ngã sanh tam tuế, kinh quá thử lưu, tức tri thị Hằng hà thủy. Phật ngôn: – Nhữ thuyết nhị thập chi thời, suy ư thập tuế, nãi chí lục thập, nhật nguyệt tuế thời, niệm niệm thiên biến. Tắc nhữ tam tuế, kiến thử hà thời, chí niên thập tam, kỳ thủy vân hà? Vương ngôn: – Như tam tuế thời, uyển nhiên vô dị, nãi chí ư kim niên lục thập nhị, diệc vô hữu dị! Phật ngôn: – Nhữ kim tự thương phát bạch diện trứu. Nhữ diện tuy trứu, nhi thử kiến tinh tánh vị tằng trứu. Trứu giả vi biến, bất trứu phi biến. Biến giả thọ diệt, bỉ bất biến giả nguyên vô sanh diệt, vân hà ư trung thọ nhữ sanh tử?” (Phật bảo vua Ba Tư Nặc[10]: – Nay ta chỉ cho ông tánh không sanh diệt. Ông thấy nước sông Hằng lúc mấy tuổi? Vua thưa: – Khi con ba tuổi đi qua dòng sông ấy, liền biết nước sông Hằng. Phật nói: – Ngươi nói xem: Từ lúc hai mươi tuổi, già suy hơn lúc mười tuổi, cho đến sáu mươi, ngày giờ năm tháng, niệm niệm đổi đời, như vậy thì từ lúc ngươi ba tuổi trông thấy sông ấy cho đến năm mười ba tuổi, nước sông ra sao? Vua đáp: – Giống như thuở ba tuổi, y hệt không khác gì, thậm chí đến nay con được sáu mươi hai tuổi, cũng chẳng khác gì! Phật dạy: – Ông nay tự xót xa đầu bạc, mặt nhăn. Mặt ông tuy nhăn, nhưng cái tánh thấy trong trẻo ấy chưa từng bị nhăn. Nhăn là biến đổi, không nhăn là chẳng biến đổi. Hễ biến đổi sẽ bị diệt, còn cái không biến đổi vốn chẳng sanh diệt, cớ sao ông lại phải chịu sanh tử?)

(4) Tâm Kinh: “Chiếu kiến Ngũ Uẩn giai không” (Soi thấy năm Uẩn đều không). Còn nói: “Vô nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý, vô sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Vô nhãn giới, nãi chí vô ý thức giới” (Không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, không  sắc, thanh, hương, vị xúc pháp. Không có nhãn giới cho đến không có ý thức giới). Tứ Đế là Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Ngài Thanh Nguyên Hành Tư nói: “Thánh Đế cũng chẳng làm”.

Tâm Kinh: “Vô vô minh, diệc vô vô minh tận, nãi chí vô lão tử, diệc vô lão tử tận” (Không có vô minh, cũng chẳng có hết vô minh, cho đến không có già chết mà cũng không có hết già chết), đấy chính là mười hai pháp duyên sanh.

(5) Lăng Nghiêm Kinh: “Tâm tinh biến viên, hàm lý thập phương” (Cái tâm trong trẻo trọn khắp, chứa đựng mười phương). Lại chép: “Thân hàm thập phương vô tận hư không” (Thân chứa mười phương vô tận hư không). Ngài Nam Nhạc Huệ Tư nói: “Tam thế chư Phật bị ta một miệng nuốt sạch”.

(6) Tâm Kinh: “Bồ Đề Tát Đỏa y Bát Nhã Ba La Mật Đa cố, tâm vô quái ngại, vô quái ngại cố, vô hữu khủng bố, viễn ly điên đảo mộng tưởng, cứu cánh Niết Bàn” (Do Bồ Tát nương vào Bát Nhã Ba La Mật Đa nên tâm không vướng mắc. Do không vướng mắc nên không sợ hãi, xa lìa mộng tưởng điên đảo, chứng rốt ráo Niết Bàn).

Lăng Già Kinh: “Nhất thiết vô Niết Bàn, vô hữu Niết Bàn Phật, vô hữu Phật Niết Bàn, viễn ly giác, sở giác” (Hết thảy không có Niết Bàn. Không có Phật nơi Niết Bàn, mà cũng chẳng có Niết Bàn của Phật, xa lìa giác lẫn sở giác).

Kinh Viên Giác lại nói: “Nhất thiết Như Lai diệu viên giác tâm, bổn vô Bồ Đề cập dữ Niết Bàn, diệc vô thành Phật cập bất thành Phật” (Tâm diệu viên giác của hết thảy Như Lai vốn không có Bồ Đề và Niết Bàn, cũng chẳng có thành Phật lẫn không thành Phật).

(7) Trong bốn mươi hai tự mẫu[11] của kinh Bát Nhã, chữ cuối cùng là chữ Trà (ksa); vì thế, sách Ma Ha Chỉ Quán viết: “Qua khỏi chữ Trà không thể nói nữa”. Gọi là Kim Cang [tự mẫu] vì đây chính là thân Kim Cang được chứng bởi Như Lai, nghĩa ấy có thể thấy từ kinh Niết Bàn. Tâm Kinh: “Cố tri Bát Nhã Ba La Mật Đa thị đại thần chú, thị đại minh chú, thị vô thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhất thiết khổ, chân thật bất hư. Cố thuyết Bát Nhã Ba La Mật Đa Chú” (Vì vậy, biết Bát Nhã Ba La Mật Đa là đại thần chú, là đại minh chú, là chú không chi hơn, là chú không gì sánh bằng, trừ hết thảy khổ, chân thật chẳng dối. Do vậy, nói Bát Nhã Ba La Mật Đa Chú). Chú, tiếng Phạn là Đà La Ni (Dhāranī), dịch nghĩa là Tổng Trì.

1. Người học ngầm tu Huệ sâu, vì vào cửa tòa nhà lộng lẫy. Kẻ chỉ mới đắc Văn Huân, cũng gieo thành hạt giống Kim Cang.

2. Quý ở chỗ chí thành, cung kính, như thân cận oai trời! Đừng vọng tưởng tư duy, uổng công đốt lửa đom đóm mà thôi! (Từ đây trở đi ca tụng pháp thức trì tụng thần chú, gồm hai đoạn. Trước hết, riêng nêu công đức trì kinh).

(1) Trong Lăng Nghiêm Kinh, ngài A Nan nói: “Ngã kim do như lữ bạc chi nhân, hốt mông thiên vương tứ dữ hoa ốc, tuy hoạch đại trạch, yếu nhân môn nhập” (Tôi nay giống như lữ khách lênh đênh, chợt được thiên vương ban cho căn nhà lộng lẫy. Tuy đã được căn nhà to lớn, vẫn phải theo cửa để vào). Phẩm Xuất Hiện kinh Hoa Nghiêm có câu: “Thực thiểu kim cang, chung cánh bất tiêu” (Ăn chút kim cang, trọn chẳng tiêu được).

(2) Tổ Ấn Quang nói: “Phàm tụng kinh ắt phải chí thành, khẩn thiết như đối trước thánh dung, đích thân nghe viên âm, từ đầu đến cuối, một mực đọc qua, dù văn hay nghĩa nhất loạt chẳng gắng tâm thấu hiểu. Xem kinh như thế, kẻ lợi căn sẽ có thể ngộ được hai pháp Không (Ngã Không và Pháp Không), chứng lý Thật Tướng. Ngay như kẻ độn căn cũng có thể tiêu trừ nghiệp chướng, tăng trưởng phước huệ. Nếu một đằng xem, một đằng phân biệt, sẽ hoàn toàn thuộc về phàm tình vọng tưởng, phỏng đoán, suy lường, làm sao có thể ngầm hợp ý Phật, tăng phước huệ, tiêu nghiệp chướng cho được?”

Ngài còn nói: “Muốn được lợi ích thật sự nơi Phật pháp, cần phải cầu từ nơi cung kính. Có một phần cung kính, sẽ tiêu được một phần nghiệp chướng, tăng một phần phước huệ. Có mười phần cung kính, sẽ tiêu được mười phần nghiệp chướng, tăng mười phần phước huệ”.

Viên Giác Kinh: “Dĩ hữu tư duy tâm, trắc độ Như Lai viên giác cảnh giới, như thủ huỳnh hỏa, thiêu Tu Di sơn, chung bất năng trước” (Dùng cái tâm có tư duy để suy lường cảnh giới viên giác của Như Lai thì giống như đem lửa đom đóm thiêu núi Tu Di, trọn chẳng thể làm được).

1. Chỉ vì: Chúng sanh thiếu Huệ, tâm thiên trọng lắm nỗi phân biệt. Ngã Kiến dễ tăng, nghe quá nhiều [mà không thấu hiểu] sẽ thành lầm lỗi.

2. Tranh cãi đoán mò màu sữa, lời càng thốt lắm càng sai. Chưa nhìn thấu suốt da trâu, Lý bị chướng ngăn chẳng thấy. [Do vậy, Đại Sĩ] mở môn bí mật, dùng con đường lấp chặt tư duy (Đây là trước khi ca tụng thần chú, nêu ra lý do vì sao chú ngữ không dịch nghĩa. Vì vậy, cổ đức nói: “Chú viên mãn, kiến giải thiên lệch. Hễ nẩy sanh kiến giải thì chú ngữ mất sạch ý nghĩa”).

(1) Viên Giác Kinh: “Chúng sanh vô huệ mục” (Chúng sanh không có con mắt huệ). Khởi Tín Luận: “Như Lai thiện xảo phương tiện, nhờ vào ngôn ngữ để hướng dẫn chúng sanh, khiến họ bỏ văn tự, nhập chân thật. Nếu dựa theo lời nói, chấp vào ý nghĩa, sẽ tăng trưởng phân biệt lầm lạc, chẳng sanh Thật Trí, chẳng đắc Niết Bàn”.

Viên Giác Kinh: “Duy ích đa văn, tăng trưởng Ngã Kiến” (Chỉ [chú trọng] nghe cho nhiều sẽ tăng trưởng Ngã Kiến). Lăng Nghiêm Kinh: “Súc văn thành quá ngộ” (Nghe quá nhiều trở thành lỗi lầm).

(2) Niết Bàn Kinh: Như sanh manh nhân, bất thức nhũ sắc, tiện vấn hà tự? Nhân ngôn: Bạch như bối. Vấn: Như bối thanh da? Đáp ngôn: Bất dã! Vấn: Bối sắc hà tự? Viết: Như mễ mạt. Vấn: Nhu nhuyễn như mễ mạt da? Mễ mạt phục hà tự? Viết: Như tuyết. Phục vấn: Lãnh như tuyết da? Tuyết phục hà tự? Thị sanh manh nhân, tuy văn chủng chủng thí dụ, chung bất năng thức nhũ chân sắc” (Như kẻ mù từ lúc lọt lòng, chẳng biết sữa màu gì, liền hỏi giống như thế nào? Người ta nói: Trắng như vỏ ốc. Liền hỏi: Như tiếng ốc (tù và) thổi phải không? Đáp: Không phải! Hỏi: Màu của vỏ ốc giống như thế nào? Đáp: Như bột gạo. Hỏi: Mềm mịn như bột gạo ư? Bột gạo lại giống như thế nào? Đáp: Như tuyết. Lại hỏi: Lạnh như tuyết ư? Tuyết lại giống như thế nào? Kẻ mù từ lúc lọt lòng ấy tuy nghe các thứ thí dụ, trọn chẳng biết được màu sắc thật sự của sữa).

Tăng sĩ hỏi ngài Dược Sơn Nghiễm: “Hòa thượng chẳng cho người khác xem kinh, sao lại tự mình xem?” Ngài Dược Sơn bảo: “Ta chỉ che mắt”. Tăng hỏi: “Như vậy thì người học cũng bắt chước Ngài được chăng?” Ngài Dược Sơn bảo: “Nếu ông xem thì da trâu cũng bị xuyên thủng”. Ngài Thiên Đồng tụng rằng: “Xem kinh nào phải lọt da trâu”.

1. Khi ấy, đức Phật ta ngự tại đạo tràng Trúc Duẫn, đại hội xiển dương không ngăn che, Đại Sĩ làm Liên Hoa Bộ Chủ[12], thống lãnh các vị thần tiên trì chú.

2. Nói ra chú tâm Thập Nhất Diện, trọn khắp oai lực Tứ Tất Đàn.

3. Nhớ tại nơi Liên Hoa Nhãn thuở trước, ở chỗ ngài Mỹ Âm Hương.

4. Hoặc làm tiên nhân đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn, hoặc làm cư sĩ đạt Đại Bi trí tạng.

5. Do tụng trì trăm lẻ tám biến, vượt thoát bốn vạn kiếp sanh tử.

6. Mười thứ lợi ích thù thắng, đã hưởng phước trong thuở sanh tiền. Bốn thứ công năng, càng hiệu nghiệm sau khi đã khuất.

7. Chỉ cần chí tâm tụng niệm, Cực Lạc ắt sẽ sanh về. Nếu tu hành đúng pháp, Bồ Đề nắm chắc trong tay (Đoạn này ca tụng Thập Nhất Diện Chú Kinh. Do khi trì chú này, Ngài là tiên nhân hoặc là cư sĩ, nên xếp vào trước phần này).

(1) Thập Nhất Diện Chú Kinh: “Phật tại Thất La Phiệt Trúc Duẫn đạo tràng” (Đức Phật ở tại đạo tràng Măng Tre nơi thành Thất La Phiệt). Lăng Nghiêm Kinh: “Khai xiển vô giá, độ chư nghi báng” (Khai thị, xiển dương, không ngăn che, để độ những kẻ nghi ngờ, hủy báng). Mật Tông chia ra năm bộ, Đại Sĩ là bộ chủ của Liên Hoa Bộ. Thập Nhất Diện Chú Kinh: “Quán Tự Tại Bồ Tát dữ vô lượng câu-chi na-dữu-đa bách thiên trì chú thần tiên, đáo dĩ, đảnh lễ Phật túc” (Quán Tự Tại Bồ Tát và vô lượng câu-chi na-do-tha[13] trăm ngàn thần tiên trì chú đến nơi rồi bèn lễ dưới chân Phật).

(2) Thập Nhất Diện Chú Kinh[14]: “Bạch Phật ngôn: – Ngã hữu thần chú tâm, danh Thập Nhất Diện, cụ đại oai lực” ([Quán Thế Âm Bồ Tát] bạch Phật rằng: – Con có chú tâm[15] tên là Thập Nhất Diện, đầy đủ oai lực). Tứ Tất Đàn thì một là thế giới Tất Đàn, hai là vị nhân Tất Đàn, ba là đối trị Tất Đàn, bốn là đệ nhất nghĩa Tất Đàn. Tất Đàn (Siddhanta) nghĩa là “thí trọn khắp”.

(3 & 4 & 5) Kinh chép: Ngã ức quá khứ hằng hà sa kiếp tiền, hữu Phật danh Bách Liên Hoa Nhãn. Ngã thời tác đại tiên nhân, thọ đắc thử chú, ứng thời chứng đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn. Hựu quá khứ quá hằng hà sa kiếp, hữu Phật danh Mỹ Âm Hương, ngã thân tác đại cư sĩ, thọ đắc thử chú, tiện ư sanh tử siêu tứ vạn kiếp. Tụng trì thử chú, phục đắc chư Phật đại bi trí tạng, nhất thiết Bồ Tát giải thoát pháp môn” (Tôi nhớ hằng hà sa kiếp trước trong quá khứ, có Phật hiệu Bách Liên Hoa Nhãn. Khi ấy, tôi làm đại tiên nhân nhận lãnh chú này, ngay khi ấy chứng đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn. Lại qua khỏi hằng hà sa kiếp về quá khứ, có Phật hiệu là Mỹ Âm Hương, tôi làm thân đại cư sĩ, được nhận lãnh chú này, liền vượt thoát bốn vạn kiếp sanh tử. Tụng trì chú này lại đắc đại bi trí tạng của chư Phật và hết thảy pháp môn giải thoát của Bồ Tát).

(6) Thập Nhất Diện Thần Chú Kinh: Thị cố tịnh tín nam nữ, đương cung kính, chí tâm hệ niệm. Mỗi thần triêu tụng chú nhất bách bát biến, hiện thân hoạch thập chủng thắng lợi. Nhất thân thường vô bệnh, nhị chư Phật nhiếp thọ, tam tài bảo vô tận, tứ năng phục oán địch, ngũ tôn quý cung kính, lục quỷ độc bất thương, thất đao trượng bất hại, bát thủy bất nịch, cửu hỏa bất thiêu, thập bất hoạnh tử. Phục đắc tứ chủng công đức thắng lợi: Nhất mạng chung đắc kiến chư Phật, nhị chung bất đọa ác thú, tam bất nhân hiểm ách tử, tứ đắc sanh Cực Lạc thế giới” (Do vậy, kẻ nam người nữ có lòng tin trong sạch hãy nên cung kính, chí tâm hệ niệm. Mỗi sáng sớm tụng chú 108 biến thì nơi thân hiện tại được mười thứ lợi ích thù thắng: Một là thân thường không bệnh, hai là chư Phật nhiếp thọ, ba là của cải vô tận, bốn là hàng phục oán địch, năm là tôn quý, [được người khác] cung kính, sáu là quỷ mị, chất độc không hại được, bảy là đao gậy không hại được, tám là nước chẳng nhấn chìm, chín là lửa chẳng đốt được, mười là chẳng chết ngang trái. Lại còn được bốn thứ công đức lợi ích thù thắng: Một là mạng chung được thấy chư Phật, hai là trọn chẳng đọa vào đường ác, ba là chẳng chết vì nguy hiểm, tai ách, bốn là được sanh về thế giới Cực Lạc).

(7) Thập Nhất Diện Kinh Chú: “Ư ngã sở thuyết thần chú, thọ trì, độc tụng, như thuyết tu hành, thị nhân ư vô thượng Bồ Đề lãnh thọ như tại chưởng trung” (Đối với thần chú do ta đã nói mà thọ trì, đọc tụng, tu hành đúng như lời dạy thì người ấy sẽ nhận lãnh Vô Thượng Bồ Đề như đang cầm trong tay).

1. Kế tiếp là Phật ngự trong vườn Am La, khắp thành Tỳ Xá mắc bệnh.

2. Dạ Xoa mến giữ, [thầy thuốc] đã bó tay chẳng thể chữa lành, Nguyệt Cái nặng lòng, bèn thỉnh cầu đức Phật thương xót.

3. Do thấy đời ngũ trược khó thể ở lâu dài, Phật dạy hãy chú tâm nơi Tịnh Độ. Sáu thức hãy gấp nên chuyển biến, thỉnh Quán Âm là bậc trí chiếu soi.

4. [Đức Phật] dặn dò [Nguyệt Cái] hãy cầu bậc Năng Thí cõi Cực Lạc phóng tịnh quang trọn khắp, diệt tối, trừ si, tiêu tai, ngừa ách.

5. Vốn là cha mẹ từ bi, Đại Sĩ nói tâm ấn trừ phiền não. Do lòng lân mẫn chúng sanh, Thế Tôn thỉnh Đà La Ni phá ác.

6. Muốn được Ngài hiện thân, nên biết pháp Sổ Tức.

7. Chương cú Lục Tự, nhất định cát tường, năm môn Thiền Quán, càng tăng Định lực.

8. Vì thế, lìa ác như mây trôi gặp gió, thấy Phật dường lũ trút khe ngòi.

9. Vị đẫm cam lộ, nhỏ giọt từ cành dương liễu. Miệng phóng quang như thể ráng chiều, lưỡi hoa sen khen ngợi trọn khắp.

10. Vì thế, chư thiên cúng dường, hầu hạ, như tôn cha kính mẹ. Được nghe tựa đề kinh, cũng sanh về Tịnh Độ (Đoạn này ca tụng Tiêu Phục Độc Hại Chú Kinh[16]).

(1) Tiêu Phục Độc Hại Chú Kinh: Phật trụ Tỳ Xá Ly Am La thụ viên Đại Lâm tinh xá. Thời Tỳ Xá Ly quốc nhân, ngộ đại ác bệnh” (Đức Phật ngự tại tinh xá Đại Lâm trong vườn cây Am La (Ambāla-vana) thành Tỳ Xá Ly[17]. Khi ấy, dân nước Tỳ Xá Ly mắc bệnh ngặt nghèo).

(2) Kinh chép: Hữu ngũ dạ-xoa, hấp nhân tinh khí. Lương y Kỳ Bà, tận kỳ đạo thuật, bất năng cứu. Hữu nhất trưởng giả danh Nguyệt Cái, nghệ Phật bạch ngôn: ‘Nguyện Thế Tôn từ mẫn nhất thiết, cứu tế bệnh khổ” (Có năm dạ-xoa[18] hút tinh khí của con người. Lương y Kỳ Bà[19] dốc hết khả năng y thuật vẫn chẳng thể chữa lành. Có một trưởng giả tên là Nguyệt Cái đến chỗ Phật bạch rằng: ‘Xin đức Thế Tôn từ bi thương xót hết thảy, cứu chữa bệnh khổ). Ngài Trí Giả sớ giải: “Những người tu hành thuộc về Phần Đoạn sanh tử, chưa đoạn Hoặc, hễ tâm vừa dấy lên ý niệm thì luôn bị ái kiến mê hoặc đến nỗi sáu trần làm tổn thương sáu căn tạo thành bệnh. Do xét theo Lý nên gọi Ngũ Căn là năm dạ-xoa vì chúng sanh ra năm thứ Kiến vậy”.

(3). Kinh chép: Phật ngôn: – Khứ thử bất viễn, chánh lập Tây Phương, hữu Phật danh Vô Lượng Thọ, Bồ Tát danh Quán Thế Âm, Đại Thế Chí, hằng dĩ đại bi cứu tế khổ ách. Nhữ đương tác lễ, thiêu hương, hệ niệm, sổ tức, linh tâm bất tán, kinh thập niệm khoảnh, vị chúng sanh thỉnh bỉ Phật, Bồ Tát” (Phật dạy: – Cách đây chẳng xa, ngay nơi phương Tây có Phật hiệu là Vô Lượng Thọ, có Bồ Tát tên là Quán Thế Âm và Đại Thế Chí, thường đem lòng đại bi cứu giúp khổ ách. Ông hãy nên làm lễ, hệ niệm, đếm hơi thở sao cho tâm chẳng tán loạn trong vòng mười niệm, vì chúng sanh thỉnh đức Phật và các vị Bồ Tát ấy). [Ngài Trí Khải] chú giải: “Chúng sanh cõi uế do thấy Kiến Hoặc, Tư Hoặc độc hại, nên muốn nhờ vào Tịnh Độ để phá bệnh ấy. Hơn nữa, Quán Âm biểu thị trí Chánh Quán Trung Đạo, nhằm đối trị các thứ độc. Vì thế, thỉnh một mình Quán Âm nói ra thần chú”.

(4) Kinh chép: “Phổ phóng tịnh quang minh, diệt trừ si ám minh” (Phóng khắp quang minh sạch, trừ diệt tối si ám). Lại chép: “Tất lai chí ngã sở, thí ngã đại an lạc” (Ắt đến chỗ của ta, ban cho đại an lạc).

(5) Kinh chép: Ngã kim tự quy y, thế gian từ bi phụ” (Con nay tự quy y, thế gian từ bi phụ). Lời sớ giải ghi: “Ba bài chú trong kinh này trừ tam chướng. Chú thứ nhất trừ độc phiền não, chú thứ hai phá ác nghiệp độc, chú cuối cùng, phá được quả báo độc”.

Kinh dạy: “Nhĩ thời Thế Tôn, lân mẫn chúng sanh, trùng thỉnh Quán Thế Âm Bồ tát thuyết Tiêu Phục Độc Hại Chú. Quán Thế Âm đại bi huân tâm, nhi thuyết Phá Ác Nghiệp Chướng Tiêu Phục Độc Hại đà-la-ni chú” (Khi ấy, đức Thế Tôn thương xót chúng sanh lại thỉnh Quán Thế Âm Bồ Tát hãy nói Tiêu Phục Độc Hại Chú. Quán Thế Âm đại bi hun đúc nơi lòng, bèn nói Phá Ác Nghiệp Chướng Tiêu Phục Độc Hại đà-la-ni chú).

(6) Kinh chép: Vân hà đắc kiến Quán Thế Âm Bồ Tát, cập thập phương Phật? Nhược dục đắc kiến, đoan thân chánh tâm, sử tâm bất động, linh tức điều quân, bất thô, bất tán, an tường từ sổ, tùng nhất chí thập, thành tựu tức niệm, vô phân tán ý. Khí bất ngoại hướng, bất sáp, bất hoạt, điều hòa đắc trung, linh tâm minh tịnh”. (Làm thế nào để thấy Quán Thế Âm và mười phương Phật? Nếu muốn được thấy, hãy đoan thân, chánh tâm, khiến cho tâm bất động, khiến cho hơi thở điều hòa, quân bình, chẳng thô, chẳng tán loạn, an tường thong thả đếm từ một đến mười, thành tựu ý niệm chú tâm nơi hơi thở, ý không phân tán. Khí chẳng hướng ra ngoài, chẳng thô rít, chẳng quá nhanh, điều hòa đúng mực, khiến cho tâm sáng lặng).

(7) Kinh chép: “Thị lục tự chương cú tất định cát tường, chân thật bất hư” (Chương cú sáu chữ này nhất định là tốt lành, chân thật, chẳng dối). Sớ giải ghi: “Có nhiều cách giải thích từ ngữ ‘chương cú sáu chữ’ khác nhau. Có thuyết cho rằng: Tam Bảo là ba chữ, Quán Thế Âm là ba chữ nữa cho tiện tụng trì, tức là như kinh chép: ‘Nam-mô Phật, nam-mô Pháp, nam-mô Tăng, nam-mô Quán Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát”.

Kinh lại chép: “Phật cáo chư tỳ-kheo: – Nhữ đẳng dục phục cam lộ vô thượng pháp vị, tu ngũ môn Thiền, đương tự quán thân, tùng đầu chí túc, nhất nhất tiết gian, giai linh hệ niệm, đình trụ bất tán, đế quán chúng tiết như ba tiêu thụ, nội ngoại câu không. Đương tri Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức, diệc phục như thị” (Phật bảo các tỳ-kheo: – Các ông muốn uống cam lộ vô thượng pháp vị, tu năm môn Thiền, hãy tự quán tâm từ đầu đến chân, trong mỗi lóng đốt đều hệ niệm gìn giữ cho chẳng tán loạn, xem kỹ các lóng giống như cây chuối, trong và ngoài đều rỗng không. Hãy nên biết Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức, cũng giống như vậy).

(8) Kinh chép: Dĩ thử sổ tức tâm định lực cố, như sử thủy lưu, tất tật đắc kiến Quán Thế Âm Bồ Tát cập thập phương Phật” (Do phép đếm hơi thở này, tâm có định lực giống như nước chảy mạnh, ắt nhanh chóng được thấy Quán Thế Âm Bồ Tát và mười phương Phật). Kinh còn chép: “Nhược hữu túc thế tội nghiệp nhân duyên, cập hiện sở tạo cực trọng ác hạnh, mộng trung đắc kiến Quán Thế Âm Bồ Tát như đại mãnh phong xuy ư trùng vân giai tất tứ tán, đắc ly ác nghiệp, sanh chư Phật tiền” (Nếu có tội nghiệp nhân duyên trong đời trước và những hạnh ác cực nặng trót tạo trong đời này, trong mộng sẽ được thấy Quán Thế Âm Bồ Tát như cơn gió to mạnh thổi những tầng mây bay tứ tán, được lìa ác nghiệp, sanh về trước các đức Phật). Theo Thiên Lộc Các Ngoại Sử đời Hán: “Nếu mây trôi gặp phải trận gió sẽ bị cuốn vùn vụt về nơi hang hốc, không ai có thể ngăn được!”

(9) Tiêu Phục Độc Hại Chú Kinh: “Tỳ Xá Ly nhân, tức cụ dương chi tịnh thủy, thọ dữ Quán Thế Âm Bồ Tát” (Người nước Tỳ Xá Ly bèn chuẩn bị cành dương, nước sạch, trao cho Quán Thế Âm Bồ Tát). Kinh còn chép: “Nhất thiết Phật hưng thế, an lạc chúng sanh cố. Dị khẩu, các các thân, đoan tọa Kim Cang tòa, khẩu xuất ngũ sắc quang, liên hoa diệp hình thiệt, tán thán đại bi giả, điều ngự sư tử pháp” (Hết thảy Phật ra đời, nhằm an lạc chúng sanh. Mỗi vị thân miệng khác, ngồi trên tòa Kim Cang, miệng tỏa quang năm sắc, lưỡi như cánh hoa sen, khen ngợi bậc Đại Bi, pháp điều ngự sư tử).

(10) Kinh chép: “Từ tâm ủng hộ trì kinh giả, cung kính cúng dường tiếp túc lễ. Thí như chư thiên phụng Đế Thích, diệc như hiếu tử kính phụ mẫu” (Từ tâm ủng hộ người trì kinh, cung kính, cúng dường, lễ dưới chân, ví như chư thiên thờ Đế Thích, cũng như con hiếu kính cha mẹ).

Kinh còn chép: “Nhược thiện nam tử nữ nhân, đắc văn thử kinh thủ đề danh tự, thường đắc kiến Phật, cập chư Bồ Tát, cụ túc thiện căn, sanh tịnh Phật quốc” (Nếu thiện nam tử, nữ nhân nào được nghe danh tự nơi tựa đề kinh này sẽ thường được thấy Phật và các Bồ Tát, đầy đủ thiện căn, sanh về cõi Phật thanh tịnh).

1. Lại từ trong điện Trang Nghiêm nơi núi Bố Đát.

2. Bậc Diệu Giác Thế Tôn giáng xuống, nhóm hội Bồ Tát đại bi.

3. Bèn tuyên nói thần châu Như Ý, có tên là Bất Không Quyến Sách.

4. Trao cho các thế chủ[20], hòng dạy khắp trời người.

5. Mười ức số diệu trí hiện tiền, hai mươi thứ đại lợi thành tựu.

6. Lại thêm tám pháp, Tịnh Độ tùy nguyện vãng sanh, được nhập Chánh Định, chư thiên thường đến ủng hộ.

7. Dù tội khó sám hối, ghẻ lở cũng được tiêu trừ, dẫu vờ vĩnh thọ trì, tự đượm mùi hương trầm, xạ.

8. Muốn thành tựu nghiệp tối thắng, thân tự tại càng trang nghiêm.

9. Búi tóc xoắn ốc xoay theo chiều phải, đầu đội mão hoa, khoác tấm da hươu trên vai bên trái, tóc xanh buông rủ.

10. Anh lạc để trang nghiêm, hương hoa dâng cúng dường.

11. Tâm tin sẽ cảm Phật, nên khiến thân có quang minh. Tượng vẽ chẳng khác chân thân, bởi đó, thỏa mãn các nguyện (đoạn này ca tụng Bất Không Quyến Sách Kinh[21])

(1) Bất Không Quyến Sách Kinh: “Phật tại Bố Đát Lạc Ca sơn, Quán Tự Tại cung điện. Kỳ địa hữu vô lượng bảo thụ, châu táp trang nghiêm” (Phật ngự tại núi Bố Đát Lạc Ca, trong cung điện của ngài Quán Tự Tại. Nơi cuộc đất ấy có vô lượng cây báu vây quanh trang nghiêm).

(3) Trong lời tựa cuối kinh Bất Không Quyến Sách có đoạn: “Các nước trong xứ Ấn Độ đều gọi kinh này là viên thần châu Như Ý”.

(4 & 5) Kinh chép: “Vãng tích hữu Phật, hiệu Thế Chủ Vương Như Lai, ngã tùng bỉ Phật, thọ thử chú tâm, giáo hóa vô lượng bách thiên thiên tử, linh thú Bồ Đề. Dĩ thị công đức, hoạch thập ức tam-ma-địa bất không diệu trí” (Thuở xưa có Phật hiệu là Thế Chủ Vương Như Lai, ta nhận lãnh chú tâm này từ nơi đức Phật ấy, giáo hóa vô lượng trăm ngàn thiên tử, khiến họ tiến nhập Bồ Đề. Do công đức ấy, đạt được mười ức tam-ma-địa, bất không diệu trí).

Kinh còn chép: “Nhược nhân ư nguyệt bát nhật, chuyên tâm trai giới, bất tạp dư ngữ, tụng chú thất biến, hiện tại đắc nhị thập chủng thù thắng lợi ích” (Nếu có người trong ngày mồng Tám mỗi tháng, dốc lòng trai giới, chẳng xen tạp những lời nào khác, tụng chú này bảy biến thì trong hiện tại sẽ đạt được hai mươi thứ lợi ích thù thắng).

(6) Kinh chép: “Phục hoạch bát pháp: Nhất giả, lâm chung kiến Quán Tự Tại Bồ Tát, tác tỳ-kheo tượng, hiện tiền ủy dụ… Bát giả, mạng chung tùy nguyện vãng sanh chư Phật Tịnh Độ” (Lại đạt được tám pháp: Một là lâm chung thấy Quán Tự Tại Bồ Tát hiện thân tướng tỳ-kheo ở trước mặt vỗ về, khuyên nhủ… Tám là mạng chung, tùy theo ý nguyện vãng sanh Tịnh Độ của chư Phật).

Kinh còn chép: “Hữu thử chú xứ, tức hữu thập nhị ức chư thiên ủng hộ” (Chỗ nào có chú này thì chỗ ấy liền có mười hai ức chư thiên ủng hộ).

(7) Kinh chép: “Nhược nhân tạo chư trọng tội, hủy nhục thánh hiền, phỉ báng chánh pháp, đương đọa Vô Gián địa ngục, thọ chư kịch khổ, chư Phật, Bồ Tát diệc bất năng cứu. Nhược văn thử chú, nhất nhật dạ, thọ trì trai giới, tụng thử chú tâm, sở tác tội nghiệp, hiện thế khinh thọ, hoặc tao hàn nhiệt, cập chư tiễn giới, bất phục đương đọa địa ngục. Sở tạo tội nghiệp tất đắc tiêu trừ” (Nếu có người tạo các trọng tội, hủy báng, nhục mạ thánh hiền, phỉ báng chánh pháp, sẽ đọa vào địa ngục Vô Gián, chịu các nỗi khổ dữ dội, chư Phật, Bồ Tát cũng chẳng thể cứu, mà nếu nghe chú này, thọ trì trai giới một ngày một đêm, tụng chú tâm này thì các tội nghiệp đã tạo sẽ chuyển thành báo nhẹ trong đời này, hoặc bị bệnh hàn, bệnh nhiệt và các thứ ghẻ lở, chẳng còn đọa vào địa ngục, tội nghiệp đã tạo đều được tiêu trừ).

Kinh còn chép: “Nhược chúng sanh văn thử chú tâm, trá hiện thọ trì, diệc sanh thắng phước. Như nhân thủ chiên đàn, trầm, xạ, dụng đồ kỳ thân, tuy mạ lỵ, hủy tý, nhi bỉ hương đẳng, chung bất vị thử nhân hủy ngã, lận kỳ hương khí, nhi bất dữ chi” (Nếu chúng sanh nghe chú tâm này, giả vờ thọ trì, cũng sanh phước thù thắng. Như người lấy chiên đàn, trầm, xạ bôi lên thân mình, tuy chửi mắng, rủa xả, nhưng những thứ hương ấy trọn chẳng nói ‘kẻ này hủy nhục ta’ mà tiếc rẻ mùi hương chẳng ban cho hắn).

(8 & 9 & 10) Kinh chép: Thử thần chú thành tựu như thị tối thắng sự nghiệp. Vị thành biện giả, dĩ tố điệp họa Phật tượng, ư hữu biên họa Quán Tự Tại Bồ Tát tượng. Kỳ thân hoàng bạch, đảnh hữu loa kế, cám phát thùy hạ, thủ quan hoa quan, phi lộc bì phú tả kiên thượng. Tự dư thân phần, anh lạc, hoàn, xuyến, nhi vi trang nghiêm. Đàn nội tán bạch hoa, dĩ bát tịnh bình thịnh hương hoa thủy an bát phương” (Thần chú này thành tựu sự nghiệp tối thắng như thế. Kẻ nào chưa thành tựu thì hãy dùng vải điệp trắng vẽ tượng Phật. Ở bên phải [tượng Phật], vẽ tượng Quán Tự Tại Bồ Tát. Thân Ngài màu vàng pha sắc trắng, đảnh đầu có búi tóc xoắn ốc, tóc xanh biếc rủ xuống, đầu đội mão hoa, khoác da hươu bên vai trái. Những phần thân thể khác trang nghiêm bằng anh lạc, vòng, xuyến. Trong đàn rải hoa trắng, dùng tám cái bình thanh tịnh đựng nước cắm hoa, hòa chất thơm đặt ở tám phương).

(11) Kinh chép: “Chí thành tụng chú, mãn bát thiên biến, hành giả tự kiến kỳ thân biến phóng quang minh. Quán Tự Tại tiện hiện kỳ tiền, tùy sở nguyện cầu, giai linh mãn túc” (Chí thành tụng chú trọn tám ngàn biến, hành giả tự thấy khắp thân tượng Ngài phóng quang minh. Quán Tự Tại liền hiện ra trước mặt, tùy theo nguyện cầu của hành nhân sẽ đều làm cho được thỏa mãn).

1. Chỉ vì Đại Sĩ nhận lãnh pháp môn bí mật, số lượng vốn như vi trần, nhiếp khắp các đà-la-ni diệu ngữ, một hội há tuyên nói trọn!

2. Vì thế, đức Phật lại giáng lâm, phàm thánh bèn tái nhóm.

3. Sắp nói thần chú Đại Bi, ngầm phóng quang minh thần thông (Từ đây ca tụng Đại Bi Chú Kinh[22], gồm năm đoạn)

(1) Lăng Nghiêm Kinh: Thừa thuận thập phương vi trần Như Lai bí mật pháp môn, thọ lãnh vô thất” (Vâng theo pháp môn bí mật của mười phương vi trần Như Lai, nhận lãnh không mất).

Đại Bi Chú Kinh: “Thị diệu pháp tạng phổ nhiếp nhất thiết chư đà-la-ni môn. Hựu thị diệu ngữ tạng, khẩu trung đà-la-ni âm vô đoạn tuyệt cố” (Đây là diệu pháp tạng, nhiếp khắp hết thảy các môn đà-la-ni, lại là diệu ngữ tạng vì trong miệng âm thanh đà-la-ni không đoạn tuyệt).

(2) Kinh chép: Phật tại Bổ Đà Lạc Ca sơn, Quán Thế Âm cung điện, dữ vô ương số Bồ Tát, Thanh Văn, dĩ chí thiên, long, dạ-xoa, nhân, phi nhân đẳng, giai lai tập hội” (Đức Phật ở núi Bổ Đà Lạc Ca trong cung điện của ngài Quán Thế Âm, cùng vô ương số Bồ Tát, Thanh Văn, cho đến trời, rồng, dạ-xoa, người, phi nhân đều cùng đến nhóm hội).

(3) Kinh chép: “Quán Thế Âm Bồ Tát mật phóng thần thông quang minh, chiếu diệu thập phương sát độ, giai tác kim sắc, nhật nguyệt chi quang giai tất bất hiện. Quán Thế Âm Bồ Tát bạch Phật ngôn: – Ngã hữu Đại Bi Tâm đà la ni chú, kim đương dục thuyết” (Quán Thế Âm Bồ Tát ngầm phóng quang minh thần thông, chiếu sáng ngời mười phương cõi nước đều biến thành sắc vàng, ánh sáng của mặt trời, mặt trăng đều [bị che lấp] chẳng hiện. Quán Thế Âm Bồ Tát bạch Phật: – Con có Đại Bi Tâm đà-la-ni chú, nay con muốn nói).

Ấy là vì: Từ vô lượng kiếp trước, nơi Thiên Quang Vương Phật, nhận lãnh vô ngại đà-la-ni này, vì vị lai tạo lợi lạc trọn khắp. Ngàn mắt, ngàn tay trong một niệm liền trọn đủ, vượt ngay lên Bát Địa, mười phương chư Phật đều phóng quang minh, đồng thời đến chứng minh.

Đại Bi Chú Kinh: Ngã niệm quá khứ vô lượng ức kiếp, hữu Phật danh Thiên Quang Vương Tĩnh Trụ Như Lai. Bỉ Phật lân ngã cập nhất thiết chúng sanh, thuyết Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà-la-ni. Dĩ kim thủ ma ngã đảnh, ngôn: – Nhữ đương trì thử tâm chú, phổ vị vị lai ác thế nhất thiết chúng sanh, tác đại lợi lạc. Ngã ư thị thời, thỉ trụ Sơ Địa, nhất văn thử chú, siêu Đệ Bát Địa. Ngã phát thệ ngôn: – Nhược ngã đương lai năng lợi lạc nhất thiết chúng sanh giả, linh ngã thân thiên thủ thiên nhãn cụ túc. Phát thị nguyện dĩ, ứng thời cụ túc. Thập phương Phật tất phóng quang minh, chiếu xúc ngã thân” (Tôi nhớ trong quá khứ vô lượng ức kiếp, có Phật hiệu là Thiên Quang Vương Tĩnh Trụ Như Lai. Đức Phật ấy thương tôi và hết thảy chúng sanh, nói Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm đà-la-ni, dùng cánh tay sắc vàng xoa đầu tôi, nói: ‘Ông nên trì tâm chú này, vì khắp hết thảy chúng sanh trong đời ác mai sau mà làm lợi lạc’. Khi ấy, tôi mới trụ Sơ Địa, vừa nghe chú này liền vượt lên Bát Địa. Tôi thốt lời thề: ‘Nếu trong tương lai con có thể lợi lạc hết thảy chúng sanh thì khiến cho thân con đầy đủ ngàn mắt, ngàn tay’. Phát lời nguyện ấy xong, ngay lập tức bèn đầy đủ. Mười phương chư Phật đều phóng quang minh chiếu chạm thân tôi).

1. Phàm là người học Phật, hãy nên phát thệ nguyện rộng lớn.

2. Trước hết, mở mười nguyện, rộng phát Bồ Đề, lại trở vào tam đồ, giải thoát trọn khắp.

3. Xưa lễ Không Vương Phật, nhân chẳng khác quả, nay xưng danh Đại Sĩ, thoạt đầu, lúc cuối chẳng hai.

(1 & 2) Đại Bi Chú Kinh: Dục tụng trì giả, ư chúng sanh khởi từ bi tâm, tiên đương tùng ngã phát nguyện” (Người muốn tụng trì, hãy khởi tâm từ bi đối với chúng sanh, trước hết hãy theo ta phát nguyện). Mười nguyện chính là nguyện tôi sớm biết hết thảy pháp, nguyện tôi sớm đắc mắt trí huệ, nguyện tôi mau độ hết thảy chúng sanh, nguyện tôi sớm đắc phương tiện khéo, nguyện tôi mau ngồi thuyền Bát Nhã, nguyện tôi sớm được thoát biển khổ, nguyện tôi mau đắc đạo giới định, nguyện tôi sớm lên non Niết Bàn, nguyện tôi mau về nhà vô vi, nguyện tôi sớm cùng chứng thân pháp tánh.

Kinh còn chép: “Ngã nhược hướng đao sơn, đao sơn tự tồi chiết. Ngã nhược hướng hỏa thang, hỏa thang tự tiêu diệt. Ngã nhược hướng địa ngục, địa ngục tự khô kiệt. Ngã nhược hướng ngạ quỷ, ngạ quỷ tự bão mãn. Ngã nhược hướng Tu-la, ác tâm tự điều phục. Ngã nhược hướng súc sanh, tự đắc đại trí tuệ” (Nếu ta hướng về núi đao, núi đao tự sụp vỡ. Nếu ta hướng về lò lửa, vạc sôi, lò lửa, vạc sôi tự tiêu diệt. Nếu ta hướng về địa ngục, địa ngục tự khô cạn. Nếu ta hướng về ngạ quỷ, ngạ quỷ tự no đủ. Nếu ta hướng về Tu-la, ác tâm tự điều phục. Nếu ta hướng về súc sanh, tự đắc đại trí huệ).

(3) Hoằng Mãnh Hải Huệ Kinh: “Tích Diêm Phù Đề hữu vương danh Thiện Thủ, hữu ngũ bách vương tử. Đệ nhất thái tử danh Thiện Quang, trị Không Vương Quán Thế Âm Phật, nãi phát thập nguyện. Nhất nguyện tri nhất thiết pháp, nhị nguyện thừa Bát Nhã thuyền, tam nguyện đắc trí huệ phong, tứ nguyện đắc thiện phương tiện, ngũ nguyện độ nhất thiết nhân, lục nguyện siêu sanh tử hải” (Xưa kia, trong Diêm Phù Đề có vua tên là Thiện Thủ, có năm trăm vương tử. Thái tử thứ nhất tên là Thiện Quang, gặp đức Không Vương Quán Thế Âm Phật, bèn phát ra mười nguyện. Nguyện thứ nhất là biết hết thảy pháp, nguyện thứ hai là ngồi thuyền Bát Nhã, nguyện thứ ba là được gió trí huệ, nguyện thứ tư là đắc phương tiện khéo, nguyện thứ năm là độ hết thảy mọi người, nguyện thứ sáu là vượt biển sanh tử). Bốn nguyện còn lại giống như phần kinh văn đã dẫn ở trên. Hơn nữa, trước mỗi câu nguyện trong mười nguyện của Đại Bi Chú Kinh, đều có câu “Nam-mô Đại Bi Quán Thế Âm”, còn trong đoạn văn nói về mười nguyện ấy [của kinh Hoằng Mãnh Hải Huệ], trước mỗi câu nguyện chỉ thiếu hai chữ Nam Mô.

1. Lại niệm Bổn Sư, rồi mới trì thần chú.

2. Khi ấy, diệt trọng tội trong một ức vạn kiếp, tùy nguyện vãng sanh, đắc mười lăm thứ sống tốt lành, lại không chết thảm.

3. Dẫu là độn căn, vẫn đắc tiểu quả, thành tựu huệ thân, chẳng do ai giác ngộ.

(1 & 2) Kinh chép: Phát nguyện dĩ, chí tâm xưng niệm ngã chi danh tự, diệc ưng chuyên niệm ngã Bổn Sư A Di Đà Như Lai, nhiên hậu tụng chú, nhất túc mãn ngũ biến, trừ diệt thân trung bách thiên vạn ức kiếp sanh tử trọng tội. Nhược chư nhân thiên tụng trì Đại Bi chương cú giả, lâm mạng chung thời, thập phương chư Phật giai lai thọ thủ, dục sanh hà quốc, tùy nguyện vãng sinh. Tụng trì Đại Bi thần chú, nhược bất sanh chư Phật quốc giả, ngã thệ bất thành chánh giác. Tụng trì Đại Bi thần chú, ư hiện sanh trung, nhất thiết sở cầu bất quả toại giả, bất đắc vi Đại Bi Tâm đà-la-ni dã. Duy trừ bất thiện, trừ bất chí thành” (Phát nguyện xong, hãy chí tâm xưng niệm danh hiệu ta, cũng nên chuyên niệm Bổn Sư của ta là A Di Đà Như Lai rồi mới tụng chú. Một đêm tụng đủ năm biến, sẽ trừ diệt trọng tội trong trăm ngàn vạn ức kiếp sanh tử. Nếu các trời người trì tụng chương cú Đại Bi thì lúc lâm chung, mười phương chư Phật đều đến xòe tay tiếp dẫn. Muốn sanh về cõi nào, sẽ tùy theo lòng mong, sanh về cõi ấy. Tụng trì thần chú Đại Bi mà nếu chẳng sanh về các cõi Phật thì ta thề chẳng thành Chánh Giác. Tụng trì thần chú Đại Bi mà trong đời này hết thảy sở cầu chẳng được toại nguyện thì chẳng đáng gọi là Đại Bi Tâm đà-la-ni, chỉ trừ kẻ chẳng lành, hoặc chẳng chí thành)

Lại nữa, người tụng trì tâm chú Đại Bi được mười lăm thứ sanh tốt lành, chẳng bị mười lăm thứ chết thảm. Một là chẳng bị chết vì đói khát khốn khổ. Hai là chẳng bị chết vì xiềng xích, giam cầm, đánh đập. Ba là chẳng bị oán gia cừu nhân hại chết. Bốn là chẳng bị chết trong chiến trận. Năm là chẳng bị chết vì ác thú tàn hại. Sáu là chẳng bị rắn rết cắn chết. Bảy là chẳng bị chết vì nước trôi, lửa cháy. Tám là chẳng bị chết vì trúng thuốc độc. Chín là chẳng chết vì trùng độc làm hại. Mười là chẳng điên loạn, mất trí mà chết. Mười một là chẳng chết vì rơi té từ núi, cây, vách đá. Mười hai là chẳng chết vì bị kẻ ác ếm đối, quỷ mị. Mười ba là chẳng chết vì tà thần, ác quỷ thừa dịp hãm hại. Mười bốn là chẳng chết vì bệnh ngặt dây dưa. Mười lăm là chẳng tự hại chết trái lẽ.

[Mười lăm chỗ sanh tốt lành là]: Một là thường sanh về nơi có vua tốt lành. Hai là thường sanh vào nước tốt lành. Ba là thường gặp thời tốt lành. Bốn là thường gặp bạn lành. Năm là thân căn đầy đủ. Sáu là đạo tâm thuần thục. Bảy là chẳng phạm giới cấm. Tám là tất cả quyến thuộc đều nghĩ đến nhân nghĩa, hòa thuận. Chín là của cải đầy đủ. Mười là thường được người khác cung kính, nâng đỡ. Mười một là tất cả của cải không bị kẻ khác cướp đoạt. Mười hai là những điều mong mỏi đều được vừa lòng. Mười ba là long thiên, thiện thần luôn thường ủng hộ, bảo vệ. Mười bốn là tại chỗ sanh về thường thấy Phật, nghe pháp. Mười lăm là được nghe chánh pháp, có thể ngộ được nghĩa rất sâu).

(3). Kinh chép: Nhược năng tinh thành dụng tâm, trai giới sám hối, khẩu trung ngập ngập tụng thử đà-la-ni, thanh thanh bất tuyệt giả, tứ Sa-môn quả, thử sanh tức chứng. Kỳ lợi căn hữu huệ quán giả, Thập Địa quả vị, khắc hoạch bất nan” (Nếu có thể dụng tâm tinh thành trai giới, sám hối, trong miệng luôn ra rả tụng trì đà-la-ni này chẳng ngớt tiếng thì sẽ chứng bốn quả Sa Môn ngay trong đời này. Những người lợi căn có huệ quán thì sẽ đạt được quả vị Thập Địa chẳng khó).

Kinh còn chép: “Bồ Tát vị giai Sơ Trụ giả, tốc linh đắc cố, hựu linh đắc đáo Phật địa cố. Tự nhiên thành tựu tam thập nhị tướng, bát thập tùy hình hảo” (Sẽ làm cho Bồ Tát nhanh chóng đạt được địa vị Sơ Trụ, lại còn làm cho đạt đến địa vị Phật. Tự nhiên thành tựu ba mươi hai tướng, tám mươi thứ vẻ đẹp phụ). Phẩm Phạm Hạnh của kinh Hoa Nghiêm nói: “Tri nhất thiết pháp tức tâm tự tánh. Thành tựu huệ thân, bất do tha ngộ” (Biết hết thảy pháp chính là tự tánh của cái tâm. Thành tựu huệ thân, chẳng do người khác giác ngộ).

1. Chạm gió thổi thân người trì chú, thường sanh trước Phật. Dính nước tắm từ thân người ấy, cùng về Tịnh Độ.

2. Khen ngợi công đức, mười hai tạng rộng lớn chưa thể bao trùm. Xưng dương, cầu nguyện, bốn mươi tay cùng làm há nào trọn hết.

3. Cầu biệt tướng Đại Bi, phải đủ mười tâm. Tổng trì thần chú này, tuyên dương chín hiệu.

4. Sức oai thần như thế, trước Bồ Tát, quả chưa từng nghe [có ai giống vậy]! Kinh văn rộng lớn, dẫu Như Lai cũng sẽ tùy hỷ.

(1) Đại Bi Chú Kinh: Nhược chư nhân thiên tụng trì thử đà-la-ni, kỳ nhân nhược tại giang, hà, đại hải trung mộc dục, kỳ trung chúng sanh, đắc thử nhân dục thân chi thủy, triêm trước kỳ thân, nhất thiết ác nghiệp, tất giai tiêu diệt, tức đắc chuyển sanh tha phương tịnh độ, liên hoa hóa sanh, bất thọ thai thân, thấp noãn chi thân. Hà huống thọ trì, độc tụng giả? Nhược tụng trì giả, hành ư đạo lộ, đại phong lai thời, xuy thử nhân thân mao, phát, y phục, dư phong hạ quá, chư loại chúng sanh đắc kỳ nhân phiêu thân phong xuy trước thân giả, nhất thiết ác nghiệp tịnh giai diệt tận, bất thọ tam ác đạo báo, thường sanh Phật tiền. Đương tri thọ trì giả, phước đức quả báo bất khả tư nghị” (Nếu các trời người tụng trì đà-la-ni này, nếu như người ấy tắm gội trong sông, rạch, biển cả, những chúng sanh ở trong ấy được nước tắm của người ấy dính vào thân thì hết thảy ác nghiệp đều được tiêu diệt, liền được sanh về Tịnh Độ trong những phương khác, hóa sanh trong hoa sen, chẳng còn phải mang những thân thai, noãn, thấp sanh. Huống hồ kẻ thọ trì, đọc tụng? Nếu người tụng trì đi trên đường sá, khi trận gió lớn lùa tới, thổi qua lông, tóc, y phục trên thân người ấy, các loại chúng sanh do được hơi gió thừa sau khi đã thổi qua thân người ấy chạm vào thân thì hết thảy ác nghiệp đều tiêu diệt sạch, chẳng mắc báo đọa trong ba đường ác, thường sanh trước Phật. Hãy nên biết quả báo, phước đức của người thọ trì chẳng thể nghĩ bàn).

(2) Mười hai tạng là: 1) Phật tạng 2) Quang minh tạng 3) Từ bi tạng 4) Diệu pháp tạng 5) Thiền định tạng 6) Hư không tạng 7) Vô úy tạng 8) Diệu ngữ tạng 9) Thường trụ tạng 10) Giải thoát tạng 11) Dược vương tạng 12) Thần thông tạng. Bốn mươi tay[23]: Kinh văn quá rườm rà nên không sao lục.

(3) Đại Bi Chú Kinh: “Đại Phạm thiên vương bạch Bồ Tát ngôn: – Duy nguyện Đại Sĩ, vị ngã thuyết thử đà-la-ni hình mạo trạng tướng. Quán Thế Âm Bồ Tát ngôn: – Đại từ bi tâm thị, bình đẳng tâm thị, vô vi tâm thị, vô nhiễm trước tâm thị, không quán tâm thị, cung kính tâm thị, ty hạ tâm thị, vô tạp loạn tâm thị, vô kiến thủ tâm thị, vô thượng Bồ Đề tâm thị” (Đại Phạm thiên vương bạch Bồ Tát rằng: “Kính xin Đại Sĩ hãy vì con nói hình mạo, tướng trạng của đà-la-ni này”. Quán Thế Âm Bồ Tát nói: “Tâm đại từ bi, tâm bình đẳng, tâm vô vi, tâm không nhiễm trước, tâm không quán, tâm cung kính, tâm khiêm hạ, tâm không tạp loạn, tâm chẳng chấp vào kiến giải, tâm vô thượng Bồ Đề chính là hình mạo, tướng trạng [của chú Đại Bi]”).

Lại nữa, trong kinh này, đức Phật bảo A Nan: “Như thị thần chú danh Quảng Đại Viên Mãn, danh Vô Ngại Đại Bi, danh Cứu Khổ, danh Diên Thọ, danh Diệt Ác Thú, danh Phá Ác Nghiệp Chướng, danh Mãn Nguyện, danh Tùy Tâm Tự Tại, danh Tốc Siêu Thượng Địa Đẳng đà-la-ni” (Thần chú như thế này tên là Viên Mãn Rộng Lớn, tên là Vô Ngại Đại Bi, tên là Cứu Khổ, tên là Kéo Dài Tuổi Thọ, tên là Diệt Đường Ác, tên là Phá Nghiệp Chướng Ác, tên là Thỏa Nguyện, tên là Tùy Theo Tâm Nguyện Mà Tự Tại, tên là Đà-la-ni Giúp Hành Nhân Nhanh Chóng Vượt Lên Địa Vị Cao Hơn). Tổng cộng gồm chín tên.

(4) Đại Bi Chú Kinh chép: “A Nan ngôn: – Thử Bồ Tát danh tự hà đẳng, thiện năng tuyên thuyết như thị đà-la-ni? Phật ngôn: – Thử Bồ Tát danh Quán Thế Âm, bất khả tư nghị oai thần chi lực. Quá khứ vô lượng kiếp trung, dĩ tác Phật cánh, hiệu Chánh Pháp Minh Như Lai. Đại bi nguyện lực, vị dục phát khởi nhất thiết Bồ Tát, an lạc thành thục chư chúng sanh cố, hiện tác Bồ Tát. Nhữ đẳng đại chúng chư Bồ Tát giai ưng cung kính, mạc sanh khinh mạn” (A Nan thưa: – Danh hiệu của vị Bồ Tát ấy như thế nào mà có thể khéo tuyên nói đà-la-ni như thế ấy? Phật đáp: – Vị Bồ Tát này tên là Quán Thế Âm, sức oai thần chẳng thể nghĩ bàn. Trong vô lượng kiếp về quá khứ, Ngài đã thành Phật, hiệu là Chánh Pháp Minh Như Lai. Do đại bi nguyện lực, vì muốn phát khởi hết thảy các Bồ Tát, an lạc thành thục các chúng sanh, nên thị hiện làm Bồ Tát. Đại chúng và các vị Bồ Tát các ông hãy đều nên cung kính Ngài, chớ sanh lòng khinh mạn). Đức Phật lại dạy: “Nhữ đại từ bi, an lạc chúng sanh, dục thuyết thần chú, Như Lai tùy hỉ” (Ông đại từ bi, an lạc chúng sanh, muốn nói thần chú, Như Lai tùy hỷ).

1. Ngoài những thứ tối thắng trong ba đời ấy, Ngài còn diễn nói mười lăm loại chân ngôn, hết thảy tùy tâm, nêu cặn kẽ bốn mươi tám ấn pháp.

2. Trên đảnh Tu Di, thân hóa hiện minh phi[24]. Cõi trời Tịnh Cư, mắt xuất hiện diệu nữ.

3. Bao trùm Liên Hoa Bộ, có chú tâm bảy chữ. Khoác lầm tràng hoa, được Phật thỉnh ba lượt.

4. Nhận lời Kim Cang cầu khẩn, từng hiện thân Diệp Y. Trọn khắp pháp giới được xông, hương ấn càng phong phú.

5. Trang nghiêm địa ngục, nói nhân duyên nhiều kiếp. Đảnh sen bí mật, giống Như Ý thần châu.

6. Đảnh hiện La Sát, hiệu Nhất Kế Tôn. Đầu hiện Mã Vương, ấn tôn Thiên Chuyển.

7. Câu tâm chú sáu chữ, Như Lai còn phải tìm cầu. Đà La Ni ngàn tay, người dịch từng mong thánh chứng.

8. Thanh tịnh phụng thỉnh, trời lạy Bạch Y. Viên mãn từ bi, tướng tôn Thanh Cảnh.

9. Nói danh hiệu Như Lai, phá ác, sanh thiên. Tu quán hạnh Bồ Tát, đem thân làm Phật.

10. Vô biên thần chú như vậy, diệu dung thật nhiều.

11. Không gì chẳng nhằm đặt các con ngồi yên trên xe, chỉ đường phẳng phiu dẫn đến đạo tràng.

12. Làm Phật sự lớn lao, phù hợp lời Bảo Tạng dự ghi. Viên mãn quả Bồ Đề, đáng hưởng Phật Thích Ca huyền ký (đoạn này ca tụng những bộ chú kinh khác)

(1) Trong Kim Cang Khủng Bố Tập Hội Phương Quảng Nghi Quỹ Quán Tự Tại Bồ Tát Tam Thế Tối Thắng Tâm Minh Vương Kinh, Đại Sĩ nói tâm chân ngôn và những bài chân ngôn đầu, đảnh, nhãn[25] v.v…, tổng cộng là mười lăm chân ngôn. Trong Quán Tự Tại Bồ Tát Đát Phạ Đa Lị Tùy Tâm Đà La Ni Kinh, Đại Sĩ nói thần chú và bốn mươi tám ấn pháp.

(2) Theo Nhất Thiết Như Lai Chân Thật Nhiếp Đại Thừa Hiện Chứng Tam Muội Đại Giáo Vương Kinh, đức Tỳ Lô Giá Na Như Lai lên đảnh núi Tu Di, nhập các tam-muội, xuất sanh mười sáu Kim Cang đại Bồ Tát[26] và bốn vị Như Lai là A Súc, Bảo Sanh, Quán Tự Tại Vương, Bất Không Thành Tựu. Mỗi vị Như Lai ấy cũng hiện ra các hình tượng Kim Cang. Đức Tỳ Lô Giá Na lại nhập bốn môn tam-muội, xuất sanh bốn vị đại minh phi. Bốn vị Như Lai cũng xuất sanh bốn vị đại minh phi[27].

Theo Đại Phương Quảng Mạn Thù Thất Lợi Kinh và Quán Tự Tại Bồ Tát Nghi Quỹ Kinh, đức Thế Tôn xem khắp Tịnh Cư thiên cung, tán thán Quán Tự Tại Bồ Tát, thọ ký Ngài sẽ thành Phật. Đại Sĩ trở về chỗ ngồi, nhập Phổ Quang Minh Đa La tam-muội, từ tròng mắt phải phóng ra ánh sáng, hiện thành diệu nữ[28]. [Vị diệu nữ ấy] bảo khắp các chúng sanh: “Thề vượt khổ hải, dạo khắp các thế giới”, trở về chỗ Phật, lễ Quán Tự Tại, cầm hoa sen xanh, đứng chiêm ngưỡng.

(3) Theo A Lỗ Lực Kinh, Quán Thế Âm Bồ Tát nói [chân ngôn]: “Án, a lỗ lực ca sa phạ ha” (Aum, arolik, svaha). Đây chính là tâm chú của hết thảy [những thần chú] trong Liên Hoa Bộ. Người trì tâm chú này sẽ sanh về Cực Lạc.

Theo Quảng Đại Liên Hoa Trang Nghiêm Mạn Noa La Diệt Nhất Thiết Tội Chú Kinh, do quốc vương Phạm Thọ ngẫu nhiên đến chùa, vị Tăng trong chùa dùng tràng hoa đang khoác trên đảnh tượng Phật để đón vua. Vua đeo vào liền bị nhức đầu, em gái vua khuyên hãy đến gặp Phật. Phật nói sử dụng vật của thường trụ thì quả báo là quyết định đọa địa ngục. Vua lại hỏi phương cách cứu vớt như thế nào, Phật bèn ba lần thỉnh Quán Thế Âm Bồ Tát nói thần chú.

(4) Theo Diệp Y[29] Quán Tự Tại Kinh, đức Phật ở tại thế giới Cực Lạc, ngài Kim Cang Thủ thỉnh Quán Tự Tại Bồ Tát hãy nói Diệp Y Quán Tự Tại Bồ Tát Chú và các phương pháp trì tụng, cầu nguyện.

Trong Tục Tạng của Nhật Bản, có Quán Tự Tại Bồ Tát Đại Bi Trí Ấn Châu Biến Pháp Giới Lợi Ích Chúng Sanh Huân Chân Như Diệu Hương Ấn Pháp (một quyển) do ngài Bất Không dịch vào đời Đường.

(5) Theo Đại Thừa Trang Nghiêm Bảo Vương Kinh, từ dưới địa ngục hiện ra đại quang minh chiếu khắp nước Xá Vệ, hiện sự đại trang nghiêm. Trừ Cái Chướng Bồ Tát hỏi là nhân duyên gì, Phật bèn vì Ngài nói những chuyện cứu khổ trong nhiều kiếp của Thánh Quán Tự Tại Bồ Tát.

Trong Như Ý Luân Đà La Ni Kinh, Quán Tự Tại Bồ Tát bạch Phật: “Con có Đại Liên Hoa Phong Kim Cang Bí Mật Như Ý Luân Chú, như châu Ma Ni, khiến cho chúng sanh được mãn sở nguyện”.

(6) Theo Nhất Kế Tôn Đà La Ni Kinh, Quán Tự Tại Bồ Tát từ trên đảnh hóa ra một La Sát vương[30], nói chú hàng phục các quỷ thần ác.

Trong Đà La Ni Tập Kinh có pháp ấn chú của Mã Đầu Quán Âm[31] và tâm ấn chú của Thiên Chuyển Quán Âm[32].

(7) Theo [Đại Thừa Trang Nghiêm Bảo Vương Kinh], hết thảy Như Lai chẳng biết tìm đại minh chú sáu chữ của đức Quán Âm ở đâu, bèn trải qua bao kiếp tìm cầu bài chú sáu chữ ấy. Đấy chính là câu chú “Án, ma-ni bát-di hồng” (Aum, mani padme hum).

Theo Thiên Nhãn Thiên Tý Quán Thế Âm Bồ Tát Thần Chú Kinh thì [bài chú nói trong kinh ấy] có thể diệt tội, trị bệnh, thỏa mãn những điều mong cầu, khác với Đại Bi Tâm Chú. Ngài Trí Thông đời Đường dịch xong kinh ấy, khẩn cầu Bồ Tát ứng hiện, liền cảm được Bồ Tát chứng minh.

(8) Trong Thanh Tịnh Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ Hiền Đà La Ni Kinh, Đại Sĩ nói chú Phụng Thỉnh, chú Kết Giới, chú Căn Bản. Có thiên nữ mặc áo trắng, quỳ hướng về Bồ Tát.

Trong Tục Tạng của Nhật Bản có Đại Từ Bi Viên Mãn Vô Ngại Thanh Cảnh Đại Bi Tâm Chú Ấn, một quyển, do ngài Bất Không dịch vào đời Đường.

(9) Theo Nhất Thiết Như Lai Danh Hiệu Chú Kinh, lúc Phật mới thành đạo, ngài Quán Tự Tại nói chú này, người thọ trì chẳng đọa ác đạo, sanh lên trời, thành Phật.

Theo Thánh Quán Tự Tại Bồ Tát Tâm Chân Ngôn Du Già Quán Hạnh Nghi Quỹ; trước hết, hãy quán thân của Bổn Tôn là Quán Tự Tại cho được thành tựu, tu các chú, ấn. Kế đó, quán tưởng cách sắp xếp các chủng tự trong thần chú [trên thân hành giả] (Bố Tự Pháp) khiến cho thân mình và thân của Bổn Tôn như hình hiện bóng trong gương, chẳng một, chẳng khác.

(10) Lăng Nghiêm Kinh: “Ngã năng hiện chúng đa diệu dung, năng thuyết vô biên thần chú” (Ta có thể hiện rất nhiều thân tướng nhiệm mầu, nói vô biên thần chú).

(11) Lời tựa ở phía sau bộ Bất Không Quyến Sách Chú Kinh có đoạn: “Đây chính là lời chí lý về Chủng Trí trong ba đời, là chỗ tiến nhập cùng cực hòng chứng Chân trong Thập Địa, chuyển các con lên ngồi yên trên xe, chỉ đường phẳng phiu dẫn đến đạo tràng”.

(12) Trong kinh Bi Hoa, Bảo Tạng Phật thọ ký [cho Quán Thế Âm Bồ Tát]: “Nhữ vi Bồ Tát thời, dĩ năng đại tác Phật sự” (Trong lúc làm Bồ Tát, ông đã có thể thực hiện Phật sự lớn lao).

Lăng Nghiêm Kinh: “Viên mãn Bồ Đề, quy vô sở đắc” (Viên mãn Bồ Đề, trở về chỗ không có gì để đạt được).

1. Do vậy, trong vườn tiên nhân thành Ba La Nại, Hoa Đức Tạng Bồ Tát thưa rằng:

2. Muốn phổ độ chúng sanh, hãy nên đắc Như Huyễn tam-muội.

3. Sao buổi sớm lưa thưa, cảm khái Đông Độ khó bề gặp gỡ, khảy ngón tay vượt thoát, ngưỡng mộ sự vô lượng cõi Tây Phương.

4. Cầu Thế Tôn phóng bạch hào quang, tiến thẳng về An Lạc. Đại Sĩ hiện thân tướng tử kim, sang trụ cõi Diêm Phù (Từ đây trở đi ca tụng kinh Thọ Ký, gồm ba đoạn)

(1 & 2) Theo Quán Thế Âm Thọ Ký Kinh[33], Phật ở tại Vườn Nai (Lộc Uyển) của tiên nhân trong thành Ba La Nại, Hoa Đức Tạng Bồ Tát bạch Phật: – Làm thế nào để được bất thoái nơi Bồ Đề và năm thứ thần thông, đắc Như Huyễn tam-muội, có thể hóa hiện thân hình tùy theo từng loại chúng sanh hòng thành thục thiện căn cho họ, vì họ thuyết pháp khiến họ đắc Bồ Đề?

(3) Kinh chép: “Ư thử chúng trung, hữu đắc thị tam muội giả hồ? Phật ngôn: – Di Lặc, Văn Thù đẳng, lục thập Chánh Sĩ. Tha phương hữu Bồ Tát thành tựu như thị tam-muội giả hồ? Phật ngôn: – Tây Phương An Lạc thế giới, Quán Thế Âm, Đắc Đại Thế đắc thị tam-muội. Phục thứ, nhược Bồ Tát tùng bỉ Chánh Sĩ, thất nhật thất dạ, thính thọ thị pháp, tiện đắc Như Huyễn tam-muội. Đức Tạng ngôn: – Bỉ quốc ưng hữu vô lượng Bồ Tát đắc thị tam-muội. Phật ngôn: – Như thị, như thị, hữu vô lượng A-tăng-kỳ Bồ Tát đắc thị tam-muội” (Trong đại chúng đây, có vị nào đắc tam-muội ấy hay không? Phật nói: “Di Lặc, Văn Thù, sáu mươi vị Chánh Sĩ”. Phương khác có Bồ Tát thành tựu tam-muội như thế hay chăng? Phật nói: “Tây Phương An Lạc thế giới có Quán Thế Âm, Đắc Đại Thế đắc tam-muội ấy. Lại nữa, nếu có Bồ Tát trong bảy ngày bảy đêm nghe nhận pháp này từ vị Chánh Sĩ ấy thì sẽ đắc Như Huyễn tam-muội”. Đức Tạng nói: “Trong cõi ấy phải có vô lượng Bồ Tát đắc tam-muội này”. Phật nói: “Đúng như vậy, đúng như thế, có vô lượng A-tăng-kỳ Bồ Tát đắc tam-muội này”).

(4) Kinh chép: “Hoa Đức Tạng bạch Phật ngôn: – Nguyện linh bỉ Chánh Sĩ, chí thử thế giới. Thế Tôn tức phóng mi gian Bạch Hào tướng quang, chí An Lạc thế giới” (Hoa Đức Tạng bạch Phật rằng: – Xin hãy làm cho vị Chánh Sĩ ấy đến thế giới này. Thế Tôn liền phóng quang minh từ tướng Bạch Hào giữa chặng mày chiếu đến thế giới An Lạc). Quán Kinh: “Quán Thế Âm Bồ Tát thân tử kim sắc” (Quán Thế Âm Bồ Tát thân màu vàng tía).

1. Đại Sĩ liền cung kính bạch A Di Đà Phật, dẫn ngài Thế Chí đi theo.

2. Suất lãnh bốn mươi ức quyến thuộc quy y, hóa hiện đài báu lớn mười hai do-tuần.

3. Bảy tầng trân bảo, trọn đủ trang nghiêm, hoa sen bốn màu, đua chen tỏa sáng.

4. Tám vạn bốn ngàn ngọc nữ, chia nhau cầm quả, nâng hoa. Như Lai ba mươi hai tướng, dâng bình, hiến hương cúng dường.

5. Ao báu, cây báu, gió Cực Lạc nghiễm nhiên. Diệu nhạc, diệu âm, trời Dạ Ma diễn tấu đâu bằng!

6. Chẳng đi mà đến, phô vẻ diệu dung thù đặc. Vô vi mà thành, hiện trang nghiêm nơi đời trược.

7. Nhất niệm, nhất thời, chiếu khắp Phật hội, vô pháp, vô đắc, thọ ký Bồ Đề.

(1 & 2) Quán Thế Âm Thọ Ký Kinh: “Nhĩ thời, Quán Thế Âm cập Đắc Đại Thế, bạch bỉ Phật ngôn: ‘Ngã đẳng dục nghệ Sa Bà thế giới, lễ bái, cúng dường Thích Ca Mâu Ni Phật’. Phục cáo tứ thập ức Bồ Tát quyến thuộc cộng vãng thính pháp. Dĩ thần thông lực, các vị quyến thuộc, hóa tác tứ thập ức trang nghiêm bảo đài, tung quảng thập nhị do-tuần” (Khi ấy, Quán Thế Âm và Đắc Đại Thế Bồ Tát bạch với đức Phật cõi ấy rằng: “Chúng con muốn sang thế giới Sa Bà lễ bái, cúng dường Thích Ca Mâu Ni”. Lại bảo bốn mươi ức Bồ Tát quyến thuộc hãy cùng đi nghe pháp. Ngài dùng sức thần thông, vì mỗi một quyến thuộc, hóa ra bốn mươi ức đài báu trang nghiêm, mỗi đài có kích thước là mười hai do-tuần).

(3) Các đài báu ấy do vàng, bạc, lưu ly, xích châu, xa cừ, mã não hợp thành. Lại dùng xích châu, chiên đàn, các thứ hoa sen xanh, đỏ, vàng, trắng để trang nghiêm. Vãng Sanh Luận: “Gió nhẹ lay hoa lá, ánh sáng chen lẫn chuyển biến”.

(4) Trên đài lại hóa ra tám vạn bốn ngàn ngọc nữ, hoặc cầm hoa sen bốn màu đứng nghiễm nhiên, hoặc cầm hết thảy hoa quả đứng nghiễm nhiên. Trên đài có tòa sư tử trang nghiêm bằng các báu, trên mỗi tòa đều có hóa Phật [trọn đủ] ba mươi hai tướng, tám mươi thứ hảo để tự trang nghiêm thân. Mỗi đài lại có tám vạn bốn ngàn bình bằng các thứ báu nhiệm mầu, đựng đầy hương bột bày ở trên đó.

(5) Trên mỗi đài đều có tám vạn bốn ngàn các cây báu đẹp đẽ, giữa các cây báu là ao bảy báu, nước tám công đức đầy ắp trong đó. Các hoa sen bằng nhiều chất báu, màu sắc, ánh sáng chiếu rực. Gió nhẹ lay động các hàng cây báu, phát ra âm thanh vi diệu. Âm thanh ấy hòa nhã, vượt xa nhạc trời.

(6) Kinh chép: “Nhĩ thời, Quán Thế Âm, Đắc Đại Thế, dữ kỳ quyến thuộc bát thập ức chúng Bồ Tát, như lực sĩ khuất thân tý khoảnh, tùng bỉ quốc một, chí thử thế giới. Dĩ thần thông lực, linh thử thế giới địa bình như thủy. Dữ bát thập ức Bồ Tát tiền hậu vi nhiễu, dĩ đại công đức trang nghiêm thành tựu, đoan nghiêm thù đặc, vô khả vi dụ” (Khi ấy, Quán Thế Âm và Đại Thế Chí Bồ Tát cùng với quyến thuộc là tám mươi ức[34] các vị Bồ Tát, như trong khoảng lực sĩ co duỗi cánh tay, biến mất nơi nước kia, đến thế giới này. Do sức thần thông khiến cho thế giới này mặt đất bằng phẳng như nước. [Quán Thế Âm và Đại Thế Chí Bồ Tát] cùng với tám mươi ức Bồ Tát vây quanh trước sau, dùng đại công đức trang nghiêm thành tựu, đoan nghiêm thù thắng đặc biệt không thể tỷ dụ được).

Phần Hệ Từ Truyện trong sách Châu Dịch lại viết: “Vô tật nhi tốc, bất hành nhi chí” (Chẳng nhanh mà lẹ, chẳng đi mà đến). Sách Trung Dung có câu: “Bất kiến nhi chương, vô động nhi biến, vô vi nhi thành” (Chẳng thấy mà hiện bày, chẳng động mà biến, không làm mà thành).

(7) Vãng Sanh Luận: “Ánh sáng vô cấu trang nghiêm, trong một niệm và một thời chiếu khắp các hội Phật, lợi ích các chúng sanh”.

Kim Cang Kinh: “Dĩ thật vô hữu pháp, đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề. Thị cố, Nhiên Đăng Phật dữ ngã thọ ký, tác thị ngôn: – Nhữ ư lai thế, đương đắc tác Phật, hiệu Thích Ca Mâu Ni” (Do thật sự không có pháp để đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, cho nên Nhiên Đăng Phật thọ ký cho ta, nói như thế này: – Trong đời mai sau, ông sẽ thành Phật hiệu là Thích Ca Mâu Ni)

1. Lúc đó, Thế Tôn truy từ nhân quá khứ, nhằm chỉ dạy quả vị lai.

2. Trong cõi Chúng Bảo Phổ Tập Trang Nghiêm, có danh hiệu tôn quý là Phổ Quang Công Đức Sơn Vương.

3. Cõi An Lạc Đức Tụ khó thể sánh bằng. Hàng Duyên Giác, Thanh Văn thảy đều lui gót.

4. Cõi chủng tánh Đại Thừa, vĩnh viễn dứt gièm báng. Thọ mạng thuận lòng muốn, há còn luận thời kiếp? Ấy là Đại Sĩ trong khi tu hạnh Bồ Tát, thệ nguyện cực sâu, nên lúc thành Như Lai, sự trang nghiêm hết sức tuyệt diệu.

(1 & 2) Về nhân duyên trong thuở xưa, xin xem trong phần trước. Quả vị lai là theo như Quán Thế Âm Thọ Ký Kinh: Trong kiếp lâu xa chẳng thể tính toán trong tương lai, khi Chánh Pháp của A Di Đà Như Lai diệt, Quán Thế Âm Bồ Tát thành Đẳng Chánh Giác, hiệu là Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Như Lai, cõi nước tên là Chúng Bảo Phổ Tập Trang Nghiêm. Sự trang nghiêm trong cõi nước ấy, dẫu chư Phật giảng nói trong hằng sa kiếp vẫn chẳng thể hết được!

(3) An Lạc Đức Tụ chính là cõi nước của Kim Quang Sư Tử Du Hý Phật. Kinh chép: “Kim Quang Sư Tử quốc độ trang nghiêm, phương ư Công Đức Sơn Vương quốc độ, toán số sở bất năng cập” (Đem so sự trang nghiêm trong cõi nước của Kim Quang Sư Tử Phật với cõi Công Đức Sơn Vương Phật thì dùng toán số cũng không thể sánh bằng được). Kinh còn nói: “Kỳ Phật quốc độ, vô hữu Thanh Văn, Duyên Giác chi danh; thuần chư Bồ Tát sung mãn kỳ quốc” (Cõi nước Phật ấy không có danh từ Thanh Văn, Duyên Giác, thuần là các Bồ Tát đầy ắp trong nước ấy). Trong Pháp Hoa Kinh có đoạn văn nói năm ngàn vị [Thanh Văn, Duyên Giác] rời chỗ rút lui [khi đức Phật chấp nhận lời thỉnh cầu của ngài Xá Lợi Phật giảng về đạo Nhất Thừa].

(4) Vãng Sanh Luận: “Cõi căn tánh Đại Thừa bình đẳng, không có danh từ đáng bị chê gièm như nữ nhân và thiếu căn, chủng tánh Nhị Thừa chẳng thể sanh về cõi ấy”. Quán Thế Âm Thọ Ký Kinh: “Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Như Lai, tùy kỳ thọ mạng” (Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Như Lai, thọ mạng tùy theo ý muốn).

Hơn nữa, Như Lai tại thế, nhờ vào Phật lực gia trì. Đức Phật nhập Niết Bàn, cảm thương quần sanh, truyền trao chỗ quy ngưỡng, tựa nương. Lại mở môn quán tưởng, khéo nói pháp tư duy (Từ đây trở đi là ca tụng phần kinh văn giảng về phép quán hoa tòa và quán tưởng thân tướng Đại Sĩ trong Quán Kinh, tổng cộng bốn đoạn).

Trong Quán Kinh, bà Vy Đề Hy bạch Phật: “Như ngã kim giả, dĩ Phật lực cố, kiến bỉ quốc độ. Nhược Phật diệt hậu, chư chúng sanh đẳng, trược ác bất thiện, ngũ khổ sở bức, vân hà đắc kiến A Di Đà Phật Cực Lạc thế giới” (Như con hiện nay do nhờ Phật lực, được thấy cõi nước kia. Nếu sau khi Phật diệt độ, các hàng chúng sanh trược ác chẳng lành, bị năm nỗi khổ bức bách, phải làm sao để thấy thế giới Cực Lạc của A Di Đà Phật?). Lại nói: “Duy nguyện Thế Tôn, giáo ngã tư duy” (Kính xin đức Thế Tôn hãy dạy con cách tư duy).

1. Rộng bày y báo, chánh báo, đã thấy Di Đà, quán trọn sắc thân, lại nghĩ tới Bồ Tát.

2. Đứng bên trái Như Lai, tưởng đặt tòa Bồ Tát.

3. Sen hiện tám vạn bốn ngàn cánh, ánh sáng báu tỏa ngời, rộng hai trăm năm mươi do-tuần, những đường gân trên cánh hoa hệt như nét vẽ cõi trời.

4. Trăm ức châu vương, phóng quang như lọng. Tám vạn kim bảo, trang hoàng làm đài.

5. Trên đảnh Tu Di, bảo tràng cao lớn khó bề chiêm ngưỡng . Cung trời Dạ Ma, sánh với màn che [trên tràng] đành kém trang nghiêm.

6. Bảo châu lóa mắt, có vô lượng quang minh. Mây rợp sắc vàng, làm Phật sự mười phương.

(1) Trong Quán Kinh, phép quán thứ bảy là Hoa Tòa Tưởng, phép quán thứ tám là Tượng Tưởng, phép quán thứ chín là Biến Quán Nhất Thiết Sắc Thân Tướng (quán trọn khắp hết thảy tướng nơi sắc thân), phép quán thứ mười là quán tướng sắc thân chân thật của Quán Thế Âm Bồ Tát.

(2) Kinh chép: “Phục đương cánh tác nhất đại liên hoa, tại Phật tả biên, như tiền liên hoa, đẳng vô hữu dị. Tưởng nhất Quán Thế Âm Bồ Tát tượng, tọa tả hoa tòa, diệc tác kim sắc, như tiền vô dị” (Lại nên tưởng một hoa sen lớn ở bên trái đức Phật, giống hệt như hoa sen được nói trong phần trước (tức là phần nói về tòa sen của A Di Đà Phật), trọn chẳng khác gì. Tưởng một tượng Quán Thế Âm Bồ Tát ngồi trên tòa sen bên trái, cũng là sắc vàng giống như trong phần trước chẳng khác).

(3 & 4) Kinh chép: “Ư thất bảo trì thượng, tác liên hoa tưởng, linh kỳ liên hoa, nhất nhất diệp thượng, tác bách bảo sắc, hữu bát vạn tứ thiên mạch, do như thiên họa. Hoa diệp tiểu giả, tung quảng nhị bách ngũ thập do-tuần. Như thị liên hoa, hữu bát vạn tứ thiên diệp. Nhất nhất diệp gian, hữu bách ức Ma Ni châu vương, dĩ vi ánh sức. Nhất nhất châu, phóng thiên quang minh. Kỳ quang như cái, thất bảo hợp thành, biến phú địa thượng. Thích Ca Tỳ Lăng Già bảo, dĩ vi kỳ đài. Đài hữu bát vạn Kim Cang Chân Thúc Ca bảo, diệu chân châu võng, dĩ vi hiệu sức” (Trên ao bảy báu, tưởng có hoa sen. Tưởng trên mỗi cánh của đóa sen ấy đều có màu sắc của trăm thứ báu, có tám vạn bốn ngàn đường gân giống như nét vẽ cõi trời. Hoa sen như vậy có tám vạn bốn ngàn cánh. Trong mỗi một cánh có trăm ức Ma Ni châu vương trang hoàng chói ngời. Mỗi một viên châu tỏa ngàn quang minh. Quang minh ấy như cái lọng do bảy báu hợp thành, che khắp trên mặt đất. Chất báu Thích Ca Tỳ Lăng Già dùng làm đài hoa. Trên đài có tám vạn báu Kim Cang Chân Thúc Ca, lưới kết bằng chân châu đẹp đẽ để trang hoàng). Thích Ca Tỳ Lăng Già (Sakrā-bhilagna-mani-ratna), cõi này dịch là Năng Thắng. Chân Thúc Ca (Kimśuka) cõi này dịch là Xích Sắc.

(5 & 6) Trên đài có bốn trụ tràng báu, như trăm ngàn vạn ức núi Tu Di. Trên tràng treo màn báu như cung trời Dạ Ma. Năm trăm ức bảo châu vi diệu trang hoàng chói ngời. Mỗi viên châu có tám vạn bốn ngàn tia sáng, mỗi tia sáng bao gồm tám vạn bốn ngàn thứ sắc vàng ròng khác nhau. Mỗi một sắc vàng chiếu khắp cõi báu, chỗ nào cũng biến hóa thành đài Kim Cang, thành lưới chân châu, thành mây các loại hoa, thực hiện Phật sự trong mười phương.

1. Mặt Đại Sĩ như vàng Diêm Phù Đàn, đảnh đầu lộ nhục kế.

2. Thân sắc vàng tía, hiện bóng chúng sanh trong năm đường. Mão trời Ma Ni, hóa Phật cao ngàn dặm đứng trên đó.

3. Trong viên quang, chư thánh giáng lâm, nơi hào tướng bảy báu gồm đủ.

4. Lưu xuất vô lượng Như Lai, trọn khắp mười phương thế giới.

5. Cánh tay như sen thắm, bàn tay dường hoa bình[35].

6. Quang minh, anh lạc, hiện khắp trang nghiêm, nét ấn nhu nhuyễn, phóng quang chuyển vần.

7. Tuy đủ ba mươi hai tướng đại nhân, đảnh đầu vẫn kém Thế Tôn, dạo bước năm trăm ức đài đỡ gót, khác gì đức Phật.

8. Chỉ nghe danh hiệu, được phước há biết bến bờ. Nếu được nhìn kỹ, trừ chướng chẳng còn dư sót.

(1) Theo Quán Kinh, mặt Bồ Tát như sắc vàng Diêm Phù Đàn, trên đảnh có nhục kế.

(2) Kinh chép: “Thân tử kim sắc, cử thân quang trung. Ngũ đạo chúng sanh, nhất thiết sắc tướng, giai ư trung hiện. Đảnh thượng Tỳ Lăng Già Ma Ni bảo, dĩ vi thiên quan. Quan trung nhất lập hóa Phật, cao nhị thập ngũ do-tuần” (Thân màu vàng tía, khắp thân phủ trong ánh sáng. Hết thảy sắc tướng của chúng sanh trong năm đường đều hiện trong quang minh ấy. Trên đảnh có mão trời bằng chất báu Tỳ Lăng Già Ma Ni, trong mão có một vị hóa Phật đứng, cao hai mươi lăm do-tuần). Một do-tuần bằng bốn mươi dặm cõi này.

(3 & 4) Quán Kinh: “Đảnh hữu viên quang, diện các bách thiên do-tuần. Viên quang trung hữu ngũ bách hóa Phật, nhất nhất hóa Phật, hữu ngũ bách hóa Bồ Tát, vô lượng chư thiên, dĩ vi thị giả. Hựu my gian hào tướng, bị thất bảo sắc, lưu xuất bát vạn tứ thiên chủng quang minh. Nhất nhất quang minh, hữu vô lượng vô số hóa Phật. Nhất nhất hóa Phật, hữu vô số hóa Bồ Tát, dĩ vi thị giả, biến hiện tự tại mãn thập phương giới” (Trên đảnh có viên quang, mỗi phía chiếu xa tới trăm ngàn do-tuần. Trong viên quang có năm trăm hóa Phật, mỗi một hóa Phật có năm trăm hóa Bồ Tát và vô lượng chư thiên làm thị giả. Lại nữa, tướng bạch hào giữa hai mày có đủ màu của bảy báu, tỏa ra tám vạn bốn ngàn thứ quang minh. Trong mỗi một quang minh có vô lượng vô số hóa Phật. Mỗi một hóa Phật, có vô số hóa Bồ Tát làm thị giả, biến hiện tự tại trọn khắp các cõi trong mười phương). Trong kinh Lăng Nghiêm, Di Lặc Bồ Tát nói: “Thức tánh lưu xuất vô lượng Như Lai”.

(5 & 6) Quán Kinh: “Tý như hồng liên hoa sắc, hữu bát thập ức vi diệu quang minh, dĩ vi anh lạc. Kỳ anh lạc trung, phổ hiện nhất thiết chư trang nghiêm sự. Thủ chưởng tác ngũ bách ức tạp liên hoa sắc. Thủ thập chỉ đoan, nhất nhất hữu bách vạn tứ thiên hoạch, do như ấn văn. Nhất nhất hoạch, hữu bát vạn tứ thiên sắc. Nhất nhất sắc, hữu bát vạn tứ thiên quang. Kỳ quang nhu nhuyễn, phổ chiếu nhất thiết” (Cánh tay như màu hoa sen hồng, có tám mươi ức quang minh vi diệu để làm anh lạc. Trong các chuỗi anh lạc, hiện khắp hết thảy các sự trang nghiêm. Lòng bàn tay có màu của năm trăm ức hoa sen nhiều màu. Mười đầu ngón tay, mỗi ngón đều có tám vạn bốn ngàn đường vân giống như nét khắc trên ấn. Mỗi một đường vân có tám vạn bốn ngàn sắc. Mỗi một sắc có tám vạn bốn ngàn ánh sáng. Ánh sáng ấy mềm mại, chiếu khắp hết thảy). Vãng Sanh Luận lại ghi: “Mềm mại xoay tròn chung quanh”. Lăng Nghiêm Kinh: “Như Lai tùng luân chưởng trung, phi nhất bảo quang, tại A Nan hữu, hựu phóng nhất quang, tại A Nan tả” (Từ bàn tay có hình bánh xe[36] của Như Lai tỏa ra một tia sáng báu chiếu tới bên phải A Nan, lại tỏa ra một tia sáng chiếu về bên trái của A Nan).

(7) Theo Quán Kinh, các thân tướng khác [của Quán Thế Âm Bồ Tát] đều có trọn đủ các thứ hảo, giống như Phật chẳng khác; chỉ có nhục kế trên đảnh và Vô Kiến Đảnh Tướng là chẳng bằng Thế Tôn. Kinh còn nói khi Ngài giở chân lên, dưới chân có tướng bánh xe ngàn căm, tự nhiên hóa thành năm trăm ức đài quang minh.

(8) Quán Kinh: “Như thử Bồ Tát, đản văn kỳ danh, hoạch vô lượng phước, hà huống đế quán, tác thị quán giả, tịnh trừ nghiệp chướng, trừ vô số kiếp sanh tử chi tội” (Vị Bồ Tát như vậy, chỉ nghe danh hiệu Ngài sẽ được vô lượng phước, huống là quán sát kỹ. Người quán tưởng Ngài như vậy sẽ trừ sạch nghiệp chướng, trừ tội trong vô số kiếp sanh tử).

1. Là vì: Chúng sanh dễ độ, chỉ vọng tưởng khó trừ. Phật pháp vô biên, tại chế tâm một chỗ.

2. Nhưng khởi, diệt không ngừng, quả thật do tâm mắt lỗi lầm.

3. Muốn khuất phục Kiến Hoặc, Tư Hoặc, không gì bằng đổ công quán tưởng.

4. Tuy Dụng quy về ý thức, tâm sanh tử vẫn hệt như xưa, huân nhập A Lại Da Thức, có thể chấp trì thành chủng tử.

5. Hệt như ở chung quanh, dường thấy nơi canh, tường.

6. Chẳng phải là chí thành cảm thánh, thì cũng là tâm này làm Phật!

(1) Lục Tổ Đàn Kinh: “Nhân tánh bổn tịnh, do vọng niệm cố, cái phú Chân Như, đản vô vọng tưởng, tánh tự thanh tịnh” (Tánh của con người vốn tịnh, do vọng niệm che lấp Chân Như. Chỉ cần không có vọng tưởng thì tánh tự thanh tịnh). Trong Tứ Hoằng Thệ có “pháp môn vô lượng thệ nguyện học”. Di Giáo Kinh: “Chế tâm nhất xứ, vô sự bất biện” (Chế ngự tâm vào một chỗ thì không chuyện gì chẳng hoàn thành).

(2) Lăng Nghiêm Kinh: “Sử nhữ lưu chuyển, tâm mục vi cữu” (Khiến cho ông bị lưu chuyển là do lỗi của tâm và mắt).

(3) Niệm Phật có bốn cách: Trì danh, quán tượng, quán tưởng và Thật Tướng.

(4) Sách Đại Thừa Chỉ Quán giảng: “Lấy ý thức nương tựa cái tâm này để tu Chỉ Quán, niệm niệm huân tập bổn thức, sức giải tánh được tăng thêm, ý thức càng thêm sáng suốt, nhạy bén. Huân tập cái tâm lâu ngày, cho nên giải tánh viên minh, soi rõ cái Thể của chính mình chỉ là Chân và Tịch, ý thức liền dứt bặt”. Bổn thức chính là A Lại Da Chủng Tử Thức.

(5) Sách Trung Dung có câu: “Như tại kỳ thượng, như tại kỳ tả hữu” (Như là ở trên đó, như là ở hai bên đó). Trong tiểu truyện của ông Lý Cố đời Hậu Hán có nói vua Thuấn khi ăn thì thấy vua Nghiêu hiện trong canh, khi ngồi thì thấy vua Nghiêu hiện nơi tường.

(6) Quán Kinh: “Thị tâm tác Phật, thị tâm thị Phật” (Tâm này làm Phật, tâm này là Phật). Sách Đại Thừa Chỉ Quán có đoạn viết: “Nhờ vào tưởng để huân tập cái tâm thì chư Phật ở ngay trong tâm đều hiển hiện. Có thể thấy rằng đức Phật được thấy đó chính là vị Phật chân thật xuất thế. Hết thảy chư Phật là do tâm tạo ra”.

1. Vàng, bạc, cùng các báu, nào phải châu trong búi tóc; sữa, lạc, hai thứ tô, hương vị vẫn kém Đề Hồ.

2. Cảm khái diệu quán khó thành, chẳng gì bằng lễ kính. Than thở tụng kinh bị chuyển, không chi hơn trì danh.

3. Giơ tay, cúi đầu đều thành Phật đạo. Danh tự rốt ráo, Nhị Tức viên dung. Pháp giản dị nhưng cao rộng, môn phổ cập càng nhiệm mầu (Đoạn này ca tụng sự lễ kính, trì danh. Dựa theo sự phán định của ngài Thiên Thai đối với phẩm Phổ Môn thì: “Xưng danh trừ được bảy tai nạn, lễ bái mãn hai nguyện”. Trong Vãng Sanh Luận, ngài Thiên Thân đưa lễ kính vào môn thứ nhất, trì danh vào môn thứ ba. Vì thế, trước khi ca tụng kinh Pháp Hoa, đem lời khuyên niệm đặt trước phần ca tụng).

(1) Phẩm An Lạc Hạnh kinh Pháp Hoa có đoạn: “Như Chuyển Luân Vương, kiến binh chúng chiến hữu công giả, tùy công thưởng tứ, dữ chủng chủng trân bảo kim ngân đẳng, duy kế trung minh châu, bất dĩ dữ chi” (Như vua Chuyển Luân thấy các quân lính chiến đấu có công bèn tùy theo công mà ban thưởng, ban cho những thứ như vật quý báu, vàng, bạc v.v… chỉ có viên minh châu trong búi tóc là chẳng ban cho).

Ngài Thiên Thai phán giáo, đem năm vị đối ứng với năm thời: Thứ nhất là kinh Hoa Nghiêm, giống như từ bò sanh ra sữa. Tiếp đó là Tam Tạng Giáo (Tạng Giáo) chuyển phàm thành thánh, giống như chuyển sữa thành lạc. Kế đến là thời Phương Đẳng, bài xích, quở trách Thanh Văn, hạ thấp Tiểu Thừa, ngưỡng mộ Đại Thừa, như chuyển lạc thành sanh tô. Tiếp đó là thời Bát Nhã, vâng lời Phật sắc truyền, lần lượt dạy nhau, tâm dần dần thông thái, như chuyển sanh tô thành thục tô. Kế đó là thời Pháp Hoa, được thọ ký thành Phật, như chuyển thục tô thành Đề Hồ[37].

(2) Ngài Thiện Đạo nói: “Chúng sanh chướng nặng, cảnh tế, tâm thô, quán khó thành tựu”. Đàn Kinh: “Tâm mê, Pháp Hoa chuyển; tâm ngộ, chuyển Pháp Hoa. Tụng kinh lâu chẳng hiểu, bèn đối với nghĩa kinh, trở thành kẻ oán cừu”.

(3) Pháp Hoa Kinh: “Hoặc hữu nhân lễ bái, hoặc phục đản hiệp chưởng, nãi chí cử nhất thủ, hoặc phục tiểu đê đầu. Dĩ thử cúng dường tượng, tiệm kiến vô lượng Phật, tự thành vô thượng đạo” (Hoặc có người lễ bái, hoặc lại chỉ chắp tay, thậm chí giơ một tay, hoặc lại khẽ cúi đầu. Dùng đấy cúng dường tượng, dần thấy vô lượng Phật, tự thành đạo vô thượng). Kinh còn chép: “Nhược nhân tán loạn tâm, nhập ư tháp miếu trung, nhất xưng Nam Mô Phật, giai dĩ thành Phật đạo” (Nếu người tâm tán loạn, đi vào trong tháp miếu, niệm Mô Phật một tiếng, đều đã thành Phật đạo).

Ngài Thiên Thai dùng Lục Tức để luận Phật:

  1. Lý tức
  2. Danh tự tức
  3. Quán hạnh tức
  4. Tương tự tức
  5. Phần chứng tức
  6. Cứu cánh tức.

Nhưng Hàng Bố[38] chẳng ngại Viên Dung, Viên Dung chẳng ngại Hàng Bố. [Nhị Tức] được nói ở đây chính là Danh Tự Tức và Phần Chứng Tức, Nhị Tức dung thông, chẳng nói đến Lý Tức, bởi lẽ, Lý Tức chỉ gồm Lý tánh chưa khởi Sự tu.

1. Do nhập lưu tướng, Đại Sĩ phát khởi môn Diệu Nhĩ.

2. Ngũ Quán viên dung, bốn âm thù thắng.

3. Vì vậy, trong kinh Phật Đảnh, A Nan Đà thỉnh cầu phương tiện, nơi hội Pháp Hoa, Vô Tận Ý khải vấn nhân duyên.

4. Diệu Đức đã tự tuyên nói, thần lực càng được Phật khen.

5. Nếu có thể niệm niệm tín tâm, sẽ khế hợp quán quán diệu giác.

6. Dẫu bị xô rớt hầm lửa, lửa biến thành ao nước mát trong. Tuy trôi giạt biển khơi, nước hóa thành trưởng dưỡng.

7. Thuyền giạt nước quỷ, thành sắt bỗng hóa ra vò vàng. Thân ngã đầu non, dường Tu Di khẽ rơi hạt cải.

8. Đi qua đường hiểm, giặc dấy lòng Từ, phép vua xử tội, đao như cắt nước.

9. Trong chốn giam cầm nhốt kín, vạch đất nhọc công. Ếm, rủa, độc dược xảy tới, khạc trời, tự bẩn.

10. Gặp gỡ thú dữ, độc xà, lòng thành cảm hóa vật. Tiêu tan sấm rền, chớp giật, sức chuyển được trời.

11. Lìa sân, lìa dục, ba độc trọn tiêu. Cầu con trai, mong sanh gái, đôi lòng cầu đều được thỏa nguyền.

12. Làm bậc lương y, tự đạt thượng thọ. Diệt trừ phiền não, quyết chứng tam-ma.

13. Hễ niệm Ngài đều chẳng uổng công, phước đức chẳng hề luống mất.

14. Không gì chẳng một dạ vì chúng sanh, nên Bồ Tát cảm được thập phổ (Đoạn này ca tụng phẩm Phổ Môn của kinh Pháp Hoa và mười bốn thứ Vô Úy được nói trong chương Viên Thông của kinh Lăng Nghiêm, nhưng lấy bài kệ trong [phẩm Phổ Môn của] kinh Pháp Hoa làm chủ, nhằm nói lên những điều ứng nghiệm nhỏ nhặt của người lễ kính, trì danh [Bồ Tát]).

(1) Lăng Nghiêm Kinh: “Nhân nhập lưu tướng, đắc Tam-ma-đề” (Do nhập vào trong tướng lưu xuất [của tánh Nghe] nên đắc Chánh Định). Kinh còn chép: “Do ngã sở đắc viên thông bổn căn, phát diệu nhĩ môn” (Do ta đắc được sự viên thông tận gốc rễ của Căn nên phát sanh môn Nghe mầu nhiệm).

(2) Pháp Hoa Kinh: “Chân quán, thanh tịnh quán, quảng đại trí huệ quán, bi quán, cập từ quán, thường nguyện, thường chiêm ngưỡng” (Chân quán, thanh tịnh quán, trí huệ quán rộng lớn, bi quán và từ quán, thường nguyện, thường chiêm ngưỡng). Kinh còn chép: “Diệu âm, quán thế âm, phạm âm, hải triều âm, thắng bỉ thế gian âm, thị cố thường tu niệm” (Tiếng diệu, tiếng xét đời, phạm âm, tiếng sóng biển, trỗi vượt tiếng thế gian, cho nên hãy thường niệm).

(4) Lăng Nghiêm Kinh: “Ngã hựu hoạch thị viên thông tu chứng vô thượng đạo cố, hựu năng thiện hoạch tứ bất tư nghị vô tác diệu đức” (Ta lại đạt được viên thông này, tu chứng đạo vô thượng, lại có thể khéo đạt được bốn thứ diệu đức vô tác chẳng thể nghĩ bàn). Pháp Hoa Kinh: “Quán Thế Âm Bồ Tát hữu như thị đẳng đại oai thần lực, đa sở nhiêu ích” (Quán Thế Âm Bồ Tát có những sức oai thần to lớn như thế, tạo nhiều lợi ích)

(5) Pháp Hoa Kinh: “Niệm niệm vật sanh nghi” (Niệm niệm đừng sanh lòng nghi). Lăng Nghiêm Kinh: “Do ngã bất tự quán âm, dĩ quán quán giả” (Do chính tôi không quán âm thanh, mà quán nơi tự tánh của phép quán)[39]. Kinh còn chép: “Thượng hợp thập phương chư Phật bổn diệu giác tâm” (Trên là hợp với tâm diệu giác sẵn có của mười phương chư Phật).

(6) Pháp Hoa Kinh: “Giả sử hưng hại ý, thôi lạc đại hỏa khanh, niệm bỉ Quán Âm lực, hỏa khanh biến thành trì” (Giả sử nẩy lòng hại, xô té hầm lửa lớn, do sức niệm Quán Âm, hầm lửa biến thành ao). Phẩm Thập Hạnh của kinh Hoa Nghiêm có đoạn: “Bồ Tát vị thế gian nhất thiết thiên nhân tác thanh lương trì” (Bồ Tát làm ao trong mát cho hết thảy trời người trong thế gian). Pháp Hoa Kinh: “Hoặc phiêu lưu cự hải, long, ngư, chư quỷ nạn, niệm bỉ Quán Âm lực, ba lãng bất năng một” (Hoặc trôi giạt biển cả, các nạn rồng, cá, quỷ, do sức niệm Quán Âm, sóng mòi chẳng chìm được). [Trong cõi Cực Lạc] nước có tám công đức thì điều thứ tám là trưởng dưỡng các căn, chẳng giống với nước trong cõi này tổn hoại các căn, gây thêm bệnh, chết chìm.

(7) Pháp Hoa Kinh: “Giả sử hắc phong xuy kỳ thuyền phưởng, phiêu đọa La Sát quỷ quốc, kỳ trung nhược hữu nhất nhân xưng Quán Thế Âm Bồ Tát danh giả, thị chư nhân đẳng giai đắc giải thoát La Sát chi nạn” (Giả sử cuồng phong thổi giạt thuyền bè vào nước quỷ La Sát, trong ấy nếu có một người xưng danh Quán Thế Âm Bồ Tát, thì những người ấy đều được thoát khỏi nạn La Sát). Phật Bổn Hạnh Tập Kinh: “Tích hữu ngũ bách thương nhân, nhập hải thái bảo, hốt trị ác phong, xuy thuyền phưởng chí La Sát quốc. Chư nữ tương bỉ thương nhân, trí thiết thành trung vi thực” (Xưa kia có năm trăm thương nhân vào biển để thâu nhặt của báu, chợt gặp cơn gió dữ, thổi thuyền bè giạt vào nước La Sát. Các La Sát nữ nhốt những thương nhân ấy trong thành bằng sắt để ăn thịt [dần dần]).

Kinh Hiền Ngu Nhân Duyên cũng chép: “Hữu bà-la-môn phụ thọ Bát Quan Trai. Thời vương dạ phần, di nhân tống thực vãng khoáng dã, đạo đa La Sát, vô cảm vãng. Thử phụ tín trì Bát Quan giả, quỷ bất năng hại, toại vãng. La Sát nữ dục thực bất cảm, tặng nhất phủ kim. Phục tiền phùng kỳ muội, kỳ đệ, giai tặng nhất phủ kim” (Có một phụ nữ Bà-la-môn thọ Bát Quan Trai. Khi ấy, vào ban đêm, vua sai người đưa đồ ăn qua chỗ quỷ Khoáng Dã, trên đường có nhiều La Sát, [người ấy] không dám đi. Phụ nữ đó tin quỷ chẳng thể hại được người trì Bát Quan Trai, bèn đi. La Sát nữ muốn ăn thịt bà ta nhưng không dám, bèn tặng cho bà ta một vò vàng. Trước đó, bà ta lại gặp em gái và em trai [của La Sát nữ ấy], mỗi người đều tặng một vò vàng).

Pháp Hoa Kinh: “Hoặc tại Tu Di phong, vị nhân sở thôi đọa, niệm bỉ Quán Âm lực, như nhật hư không trụ. Hoặc bị ác nhân trục, đọa lạc Kim Cang sơn, niệm bỉ Quán Âm lực, bất năng tổn nhất mao” (Hoặc trên chót Tu Di, bị người đẩy té xuống, do sức niệm Quán Âm, như mặt trời trên không. Hoặc bị kẻ ác đuổi, rớt xuống núi Kim Cang, do sức niệm Quán Âm, chẳng tổn hại mảy lông).

Duy Ma Kinh: “Dĩ Tu Di chi cao quảng, nội giới tử trung, vô sở tăng giảm. Tu Di sơn vương, bổn tướng như cố” (Lấy núi Tu Di cao rộng bỏ vào trong hạt cải, chẳng có tăng giảm. Tướng sẵn có của núi Tu Di vẫn y hệt như cũ).

(8) Pháp Hoa Kinh: “Hoặc trị oán tặc nhiễu, các chấp đao gia hại, niệm bỉ Quán Âm lực, hàm tức khởi từ tâm” (Hoặc gặp oán tặc vây, đều cầm đao toan hại, do sức niệm Quán Âm, chúng liền khởi lòng Từ). Kinh Hoa Nghiêm cũng nói: “Năng linh chúng sanh kinh quá hiểm lộ, tặc bất năng kiếp” (Có thể làm cho chúng sanh đi qua đường hiểm mà giặc chẳng thể cướp bóc).

Pháp Hoa Kinh: “Hoặc tao vương nạn khổ, lâm hình dục thọ chung, niệm bỉ Quán Âm lực, đao tầm đoạn đoạn hại” (Gặp nạn vua gây khổ, sắp bị xử tử hình, do sức niệm Quán Âm, đao liền gãy từng đoạn). Lăng Nghiêm Kinh: “Sử kỳ binh qua, do như cát thủy, diệc như xuy quang, tánh vô dao động” (Khiến cho vũ khí của chúng giống như cắt nước, cũng giống như thổi ánh sáng, tánh không dao động).

(9) Pháp Hoa Kinh: “Hoặc nhân cấm già tỏa, thủ túc bị nữu giới, niệm bỉ Quán Âm lực, thích nhiên đắc giải thoát” (Hoặc do bị gông cùm, chân tay bị xiềng xích, do sức niệm Quán Âm, tháo gỡ, được giải thoát). Lăng Nghiêm Kinh: “Năng linh chúng sanh cấm hệ già tỏa, sở bất năng trước” (Có thể làm cho chúng sanh bị giam cầm mà gông xiềng không trói buộc được). Thời cổ, người ta vạch đất làm nhà tù.

Pháp Hoa Kinh: “Chú trớ, chư độc dược, sở dục hại thân giả, niệm bỉ Quán Âm lực, hoàn trước ư bổn nhân” (Nguyền rủa, các thuốc độc, muốn làm hại đến thân, do sức niệm Quán Âm, trở ngược kẻ làm hại). Ngài Liên Trì giải thích: “Như ngậm máu phun lên trời, lại bẩn chính mình”.

Tứ Thập Nhị Chương Kinh: “Ác nhân hại hiền giả, do ngưỡng thiên nhi thóa, thóa bất chí thiên, hoàn tùng kỷ đọa” (Kẻ ác hại người hiền, giống như ngửa mặt nhổ lên trời, nhổ chẳng tới trời lại rơi xuống chính mình).

(10) Pháp Hoa Kinh: “Nhược ác thú vi nhiễu, lợi nha trảo khả bố, niệm bỉ Quán Âm lực, tật tẩu vô biên phương. Ngoan xà cập phúc yết, khí độc yên hỏa nhiên, niệm bỉ Quán Âm lực, tầm thanh tự hồi khứ” (Nếu ác thú vây quanh, nanh vuốt bén đáng sợ, do sức niệm Quán Âm, chúng bỏ chạy mất tích. Rắn độc, bò cạp, rết, phun hơi độc mịt mù, do sức niệm Quán Âm, theo tiếng lui chạy hết). Lại chép: “Vân lôi cổ, xiết điển, giáng bạc chú đại vũ, niệm bỉ Quán Âm lực, ứng thời đắc tiêu tán” (Trời nổi sấm, nháng chớp, tuôn mưa đá, mưa to, do sức niệm Quán Âm, ngay lập tức tan mất).

Trong Mật Bộ có Tiêu Trừ Nhất Thiết Thiểm Điển Chướng Nạn Kinh, Quán Tự Tại Bồ Tát có nói thần chú [dứt trừ những tai nạn mưa giông, sấm sét].

(11) Pháp Hoa Kinh: “Nhược hữu chúng sanh, đa ư dâm dục, thường niệm cung kính Quán Thế Âm Bồ Tát, tiện đắc ly dục. Nhược đa sân khuể, thường niệm cung kính Quán Thế Âm Bồ Tát, tiện đắc ly sân. Nhược đa ngu si, thường niệm cung kính Quán Thế Âm Bồ Tát, tiện đắc ly si” (Nếu có chúng sanh lắm dâm dục, thường niệm cung kính Quán Thế Âm Bồ Tát sẽ được lìa dục. Nếu lắm nóng giận, thường niệm cung kính Quán Thế Âm Bồ Tát sẽ được lìa giận. Nếu lắm ngu si, thường niệm cung kính Quán Thế Âm Bồ Tát sẽ được lìa si).

Lại nói: “Nhược hữu nữ nhân, thiết dục cầu nam, lễ bái cúng dường Quán Thế Âm Bồ Tát, tiện sanh phước đức, trí huệ chi nam, thiết dục cầu nữ, tiện sanh đoan chánh hữu tướng chi nữ, túc thực đức bổn, chúng nhân ái kính” (Nếu có nữ nhân muốn sanh con trai, lễ bái, cúng dường Quán Thế Âm Bồ Tát, liền sanh con trai phước đức, trí huệ. Nếu muốn cầu con gái, liền sanh con gái có tướng đoan chánh, đã gieo cội đức từ kiếp trước, được mọi người yêu mến, kính trọng).

(12) Lăng Nghiêm Kinh: “Cầu tam-muội đắc tam-muội, cầu trường thọ đắc trường thọ”. Phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện có đoạn nói: “Ư chư bệnh khổ vị tác lương y” (Làm lương y cho những kẻ bệnh tật khổ sở).

Pháp Hoa Kinh: “Bi thể giới lôi chấn, từ ý diệu đại vân, chú cam lộ pháp vũ, diệt trừ phiền não diệm” (Thể bi răn như sấm, ý từ diệu dường mây, tuôn mưa pháp cam lộ, diệt trừ lửa phiền não). Tam-ma là tam-muội.

(13) Pháp Hoa Kinh: “Văn danh cập kiến thân, tâm niệm bất không quá, năng diệt chư hữu khổ” (Nghe tên và thấy thân, tâm niệm chẳng luống uổng, diệt khổ trong các cõi). Lại chép: “Nhược hữu chúng sanh, cung kính, lễ bái Quán Thế Âm Bồ Tát, phước bất đường quyên” (Nếu có chúng sanh cung kính, lễ bái Quán Thế Âm Bồ Tát, phước chẳng luống uổng). “Đường quyên” còn nói là bỏ phí.

(14) Pháp Hoa Kinh: “Nhữ đẳng ưng đương nhất tâm cúng dường Quán Thế Âm Bồ Tát” (Các ông hãy nên nhất tâm cúng dường Quán Thế Âm Bồ Tát).

Ngài Thiên Thai sớ giải phẩm Phổ Môn nói có mười loại phổ: 1) Từ bi phổ 2) Hoằng thệ phổ 3) Tu hành phổ 4) Ly hoặc phổ 5) Nhập pháp môn phổ 6) Thần thông phổ 7) Phương tiện phổ 8) Thuyết pháp phổ 9) Thành tựu chúng sanh phổ 10) Cúng dường chư Phật phổ.

 

Quán Thế Âm Bồ Tát Bổn Tích Cảm Ứng Tụng

Quyển 1, phần 2 hết

 

[1] Nguyên văn “dương diệm” (mirage) là một loại ảo ảnh. Khi trời nắng gắt, những chỗ bị nắng chiếu xuống, nhìn xa trông lấp loáng như nước thì gọi là “dương diệm”.

[2] Phạm Chí (Brahmacarin) có nghĩa là “có chí hướng cầu sanh lên cõi trời của Đại Phạm Vương”, được sử dụng với hai nghĩa:

1. Chữ Phạm (Brahma) chỉ hàng Bà La Môn như phần nói về ngoại đạo trong sách Phiên Dịch Danh Nghĩa Tập đã giảng: “Chủng tánh Bà La Môn tự xưng là từ miệng Phạm Thiên sanh ra, cao quý nhất trong bốn chủng tánh, riêng dùng chữ Phạm để đặt tên cho chủng tánh của mình. Chỉ riêng năm xứ Thiên Trúc có chủng tánh này, các nước khác không có. Chữ Phạm Chí dùng trong các kinh có cùng ý nghĩa với danh từ này”.

2. Phạm Chí là tiếng gọi chung những hàng ngoại đạo xuất gia ở Ấn Độ. Đại Trí Độ Luận, quyển 56 giảng: “Phạm Chí là hết thảy ngoại đạo xuất gia. Nếu có kẻ nào vâng thờ pháp của bọn họ thì cũng gọi là Phạm Chí”.

[3] Thôi thăng (推升): Đây là từ ngữ được dùng bởi đại sư Thanh Lương trong Hoa Nghiêm Kinh Sớ khi viết khoa phán nhằm phân chia mỗi chương tham học của Thiện Tài đồng tử thành các tiểu đoạn. “Thôi thăng” là sau khi mỗi vị thiện hữu đã dạy cho Thiện Tài hiểu biết cảnh giới của pháp môn do chính mình tu học, bèn nói “ta chỉ biết một pháp môn, không thể biết trọn hết Bồ Tát hạnh. Vị thiện hữu kế tiếp tốt đẹp hơn ta, sẽ dạy cho ngươi biết rõ về Bồ Tát hạnh” (đó gọi là Thôi, tức đề cao) với ngụ ý là thể hiện ý khiêm hư, đề cao cảnh giới của địa vị kế tiếp nhằm thúc đẩy Thiện Tài dũng mãnh tu tập, tiến lên địa vị cao hơn (Thăng) trong năm mươi hai địa vị Bồ Tát.

[4] Tông ở đây là giáo nghĩa chủ yếu, chánh yếu của một bộ kinh.

[5] Xin lưu ý đây cũng là sự thị hiện nhằm dạy pháp, chứ không phải thật sự đức Quán Thế Âm Bồ Tát chưa chứng Thập Địa, vẫn còn thuộc địa vị Tùy Thuận Nhất Thiết Chúng Sanh Hồi Hướng.

[6] Cây to nhất trong các cây xung quanh thì được tôn là “thụ vương” (cây vua, cây chúa).

[7] Thệ Đa lâm (Jetavāna), thường được biết dưới danh xưng phổ biến hơn là Kỳ Viên hoặc Kỳ Hoàn tịnh xá. Khu rừng này vốn là hoa viên của thái tử Kỳ Đà (Jetakumāra) do ông Cấp Cô Độc (Anāthapindika) dâng cúng. Trong các kinh Đại Thừa thường gọi khu rừng này là Kỳ Thọ Cấp Cô Độc Viên (Jetavane Anāthapindikassa ārāma).

[8] Thập Bát Giới là sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) phối hợp với sáu trần (Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc, Pháp) và sáu thức. Mười tám giới biểu thị toàn bộ sự nhận thức của con người đối với hiện tượng và sự vật chung quanh. Do vậy, ta có nhãn giới, nhĩ giới, tỷ giới, cho đến ý giới, sắc giới cho đến pháp giới, nhãn thức giới cho đến ý thức giới. Dùng trí huệ Bát Nhã để quán chiếu, mười tám giới này chỉ là phân biệt, vọng tưởng, chấp trước tạo ra, bản tánh của chúng là Không, cho nên Tâm Kinh mới bảo “vô nhãn giới, nãi chí vô ý thức giới” (không có nhãn giới, cho đến không có ý thức giới).

[9] Śāri là một loại chim, thường được dịch là Thu Lộ, cặp mắt rất đẹp và trong vắt. Phong tục Ấn Độ thời ấy hay gọi tên con theo tên mẹ. Mẹ của ngài Xá Lợi Phất tên là Śāri nên Ngài được gọi là Śāriputra (con của bà Xá Lợi, con bà Thu Lộ).

[10] Vua Ba Tư Nặc (Prasenajit, dịch nghĩa là Thắng Quân, hay Thắng Quang) là vua nước Kiều Tát La (Kosala), thuộc vương triều Aiksvāka, là một vị cư sĩ hộ pháp nổi tiếng thời ấy. Thoạt đầu, vua không tin Phật, do thấy trưởng giả Cấp Cô Độc (Tu Đạt Đa) không tiếc của trải vàng để mua bằng được rừng Thệ Đa dâng lên Phật làm tinh xá, vua bèn thống lãnh các đại thần đến thăm Phật. Vua đến tinh xá với vẻ hống hách ta là chủ một nước, coi Phật như một tu sĩ khổ hạnh toan đến kiếm chác lợi dưỡng trong xứ Kiều Tát La, huênh hoang nói: “Ta nghe nói có một vị đại giác ngộ tên là Phật Đà, nhưng ta không hiểu! Có nhiều người tu hành khổ hạnh trong núi sâu rừng thẳm mấy chục năm cho đến khi già lụm cụm vẫn chưa giác ngộ, làm sao người trẻ tuổi này lại giác ngộ cho được?” Đức Phật ngồi yên trong thất, trả lời: “Đại Vương! Đa số khinh người trẻ tuổi, nhưng thế gian có bốn sự không thể coi thường. Một là vương tử trẻ tuổi, hai là rồng con mới sanh, ba là đốm lửa nhỏ tí, bốn là tăng lữ trẻ tuổi. Vương tử tuy nhỏ mai sau cũng là vua một nước, rồng con rồi sẽ trưởng thành, phun mưa vẫy gió, đốm lửa nhỏ tí cũng đốt cháy cả cánh đồng, tăng lữ trẻ tuổi chỉ cần vâng giữ đạo nghiệp, sẵn lòng cứu độ chúng sanh, chẳng phân biệt đều có thể chứng vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Chớ nên ác khẩu, kẻo mắc tội chướng”. Vua nghe nói, ngỡ ngàng nín lặng, vì từ trước đến nay, chưa ai dám cãi vua. Phật lại từ tốn thuyết pháp khiến cho vua giải ngộ, chí thành quy hướng, thề trọn đời ủng hộ Tam Bảo.

[11] Bốn mươi hai tự mẫu này chính là bốn mươi hai chữ cái trong một loại tiếng Phạn cổ, gọi là Tất Đàm (Siddham). Ba kinh Bát Nhã, Niết Bàn và Hoa Nghiêm đều giảng về những pháp, những ý nghĩa được biểu thị bởi bốn mươi hai chữ ấy. Phật môn Trung Hoa có riêng một nghi thức xướng tụng bốn mươi hai chữ này, gọi là Hoa Nghiêm Tự Mẫu Xướng Tụng (theo ngu ý, tại Việt Nam thuở trước cũng có nhiều nơi tụng đọc nghi thức này vì nhà xuất bản Sen Vàng có in nghi thức Hoa Nghiêm Tự Mẫu do Hòa Thượng Thiện Hoa phiên âm).

[12] Liên Hoa Bộ là một trong năm bộ của Kim Cang Giới (Phật Bộ, Liên Hoa Bộ, Bảo Bộ, Kim Cang Bộ, Yết Ma Bộ), hoặc một trong ba bộ của Thai Tạng Giới (Phật Bộ, Liên Hoa Bộ, Kim Cang Bộ). Nếu hiểu một cách nông cạn thì trong Thai Tạng Giới, những chú ngữ của Phật thuộc về Phật Bộ, chú ngữ của Bồ Tát thuộc Liên Hoa Bộ, chú ngữ của quỷ thần thuộc về Kim Cang Bộ. Hiểu theo Kim Cang Giới, năm bộ chính là Ngũ Trí của Như Lai từ Đại Viên Kính Trí của Pháp Thân Tỳ Lô Giá Na Phật lưu xuất. Liên Hoa Bộ tượng trưng cho tâm Bồ Đề thanh tịnh sẵn có của chúng sanh, vừa tiêu biểu cho tâm đại bi của mười phương Như Lai. Dù bị lưu chuyển trong sanh tử, tâm Bồ Đề thanh tịnh sẵn có của chúng sanh vẫn chẳng hoen ố, như hoa sen mọc trong bùn nên gọi là Liên Hoa Bộ. Ở đây, cư sĩ Hứa Chỉ Tịnh nói Quán Thế Âm Bồ Tát làm bộ chủ Liên Hoa Bộ là dựa theo quan điểm Thai Tạng Giới. Trong Thai Tạng Giới Mạn Đồ La, hai viện Quán Âm và viện Địa Tạng đều thuộc Liên Hoa Bộ, tôn Mã Đầu Quán Âm làm Bộ Chủ, Bạch Y Quán Âm làm Bộ Mẫu. Nếu nói theo Kim Cang Giới thì Liên Hoa Bộ Chủ là A Di Đà Phật, Kim Cang Pháp Ba La Mật Bồ Tát (Kim Cang mật hiệu của Quán Thế Âm Bồ Tát) là Bộ Mẫu.

[13] Na-dữu-đa là cách phiên âm khác của chữ Na-do-tha (Nayuta). Một Na-do-tha là một ngàn ức.

[14] Thập Nhất Diện Quán Âm (Ekādaśa Mukhānām Avalokiteśvara) là một trong sáu hóa thân được tôn sùng nhất của ngài Quán Âm. Với hóa thân này, Ngài đặc biệt cứu vớt chúng sanh trong loài A Tu La, ban bố lợi ích trừ bệnh, diệt tội, tăng phước trong đời hiện tại. Hiện thời, trong Đại Tạng có ba bộ kinh nói về hóa thân này là Thập Nhất Diện Quán Âm Thần Chú Kinh do ngài Da Xá Quật Đa dịch vào năm Bảo Định thứ 4 (564) đời Bắc Châu và quyển thứ tư trong bộ Đà La Ni Tập Kinh do ngài A Địa Cù Đa dịch vào năm Vĩnh Huy thứ 4 (653) đời Đường. Ngài Huyền Trang cũng dịch Thập Nhất Diện Thần Chú Tâm Kinh vào năm Hiển Khánh nguyên niên (656) đời Đường. Thật ra, cả ba bản này đều là bản dịch khác nhau của một hội trong bộ Đại Kim Cang Đạo Tràng Kinh. Ngài Bất Không có dịch một nghi quỹ niệm tụng là Thập Nhất Diện Quán Tự Tại Bồ Tát Tâm Mật Ngôn Niệm Tụng Nghi Quỹ. Bản kinh này giảng rõ các nghi thức niệm tụng, kết giới, cách vẽ tượng, các phương pháp cúng dường v.v… Theo các sớ giải, với hóa thân này, Đại Sĩ có mười một mặt, mười mặt phía dưới được xếp thành ba tầng tượng trưng cho mười phương và ba đời, đồng thời biểu thị Đại Sĩ đã vượt khỏi Thập Địa, một mặt trên cùng là mặt A Di Đà Phật, biểu thị Đại Sĩ đã thật sự chứng Phật quả. Thân tượng Thập Nhất Diện có nhiều tay, cầm tịnh bình, cành dương liễu, Nhật Tinh Ma Ni, bảo châu, chĩa ba, bảo bát, xâu chuỗi, dây quyến sách, hoa sen, gậy đầu lâu, kết các ấn như Thí Vô Úy, Dữ Nguyện v.v… Đa phần các tượng Thiên Thủ Thiên Nhãn được thờ hiện thời đã kết hợp giữa tượng ngàn mắt ngàn tay và Thập Nhất Diện này.

[15] Phần cốt tủy của một bài thần chú được gọi là Chú Tâm. Chẳng hạn phần lớn chú Lăng Nghiêm là danh xưng của chư Phật, Bồ Tát, chư thiên, quỷ thần, phần chính thức của bài chú bắt đầu bằng chữ Án (Om, Aum).

[16] Kinh này có tên gọi đầy đủ là Thỉnh Quán Thế Âm Bồ Tát Tiêu Phục Độc Hại Đà La Ni Chú Kinh (1 quyển), do cư sĩ Trúc Nan Đề (Pháp Hỷ) dịch vào thời Đông Tấn.

[17] Tỳ Xá Ly (Vaishali, Vesali, Visálá): Còn phiên âm là Duy Da Ly, là vương thành của thị tộc Licchavi (kinh thường gọi là “Ly Xa chủng tánh” hoặc “Ly Xa tộc tử”). Thành này được đặt tên theo vua Vishal của thời cổ Ấn Độ. Đức Phật giảng kinh ở đây khá nhiều lần. Hội nghị kết tập kinh điển lần thứ hai cũng được tổ chức tại kinh thành này. Am La (Am Ba La, Yêm Ma La) chính là quả xoài.

[18] Dạ-xoa (Yaksha), còn phiên âm là Dược Xoa, dịch nghĩa là Tiệp Tật Quỷ (quỷ nhanh lẹ), Khinh Tiệp (nhẹ nhàng, nhanh chóng), Dũng Kiện (mạnh mẽ) là một loài quỷ trong tám bộ quỷ thần (thiên long bát bộ). Loài quỷ này dưới quyền thống lãnh của Bắc Phương Tỳ Sa Môn thiên vương. Dạ-xoa thân hình đen đúa, mặt mũi hung ác, đầu không có tóc, tay cầm chĩa sắt, gồm ba loại: Địa hành dạ-xoa, hư không dạ-xoa và thiên dạ-xoa. Theo Đại Nhật Kinh Sớ, dưới quyền Tỳ Sa Môn thiên vương (Mật giáo thường được gọi là tài thần Kumbera – Câu Tỳ La), có tám vị Dạ Xoa đại tướng rất nhiệt tâm hộ trì Phật pháp. Tên của họ là Ma Ni Bạt Đà La (Bảo Hiền), Bố Lỗ Bạt Đà La (Mãn Hiền), Bán Chỉ Ca (Tán Chi đại tướng), Sa Đa Kỳ Lý, Hê Ma Phược Đa, Tỳ Sái Ca, A Tra Phạ Ca và Bán Già La.

[19] Kỳ Bà (Jivakajiva), còn phiên âm là Kỳ Vực hoặc Thời Phược Ca, dịch nghĩa là Cố Hoạt hay Năng Hoạt (cứu sống), ông là con của Bình Sa Vương (Tần Bà Sa La) và bà Nại Nữ, là một vị thần y nổi tiếng nhất Ấn Độ thời đức Phật. Trong Quán Kinh, chính Kỳ Bà đã can ngăn A Xà Thế đừng giết mẹ khi bà Vy Đề Hy lén lút đem thức ăn vào ngục để duy trì mạng sống của vua Tần Bà Sa La.

[20] Thế chủ: Các vị chúa tể trong cõi đời, chỉ chư thiên, chư thần quản lãnh, chẳng hạn như Tứ Thiên Vương, Đao Lợi Thiên Vương, Đại Phạm Thiên Vương, Chủ Dạ Thần, Chủ Hải Thần, Chủ Không Thần, Chủ Phong Thần v.v…

[21] Trong Đại Tạng, có rất nhiều bản kinh nói về Bất Không Quyến Sách Quán Âm như Bất Không Quyến Sách Chú Kinh do ngài Xà Na Quật Đa dịch vào đời Tùy, Bất Không Quyến Sách Tâm Chú Vương Kinh do ngài Bảo Tư Duy dịch vào đời Đường, Bất Không Quyến Sách Thần Biến Chân Ngôn Kinh do ngài Bồ Đề Lưu Chi dịch cũng vào đời Đường, Bất Không Quyến Sách Thần Chú Tâm Kinh do ngài Huyền Trang dịch vào đời Đường, Thánh Quán Tự Tại Bồ Tát Bất Không Vương Bí Mật Tâm Đà La Ni do ngài Thi Hộ dịch vào đời Tống v.v… Trong các bản đó, bản Bất Không Quyến Sách Thần Biến Chân Ngôn Kinh của ngài Bồ Đề Lưu Chi đầy đủ nhất.

Bất Không Quyến Sách Quán Âm (Amogha-pasa Avalokiteśvara), còn gọi là Bất Không Quảng Đại Minh Vương Quán Thế Âm Bồ Tát, hoặc Bất Không Tất Địa Vương Quán Thế Âm Bồ Tát, mật hiệu là Đẳng Dẫn Kim Cang. Bất Không có nghĩa là “không gì chẳng thành tựu”. Dây Quyến Sách vốn là sợi dây thừng để quăng bắt thú của thợ săn (gần giống như dây lasso của các chàng chăn bò ở châu Mỹ), hàm ý Bồ Tát dùng lòng từ bi trói lôi chúng sanh lìa bỏ ác nghiệp, dẫn về chánh đạo. Bất Không Quán Âm Bồ Tát thường được tạc tượng đầu đội mão báu có hóa Phật đứng ở giữa mão, một mặt, bốn tay, vẻ mặt tươi cười, hai tay phía trên lần lượt cầm hoa sen và xâu chuỗi, hai tay phía dưới kết ấn Thí Vô Úy, hoặc là một mặt ba mắt, cầm hoa sen, chĩa ba, dây Quyến Sách và kết ấn Thí Vô Úy, vai trái khoác da hươu, ngồi xếp bằng trên tòa sen.

[22] Trong Đại Tạng, cũng có rất nhiều bản kinh về chú Đại Bi như Thiên Nhãn Thiên Tý Quán Thế Âm Bồ Tát Đà La Ni Thần Chú (Trí Thông dịch), Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Đà La Ni Thân Kinh (Bồ Đề Lưu Chí dịch), Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Tự Tại Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni Chú Bản (Kim Cang Trí dịch), Kim Cang Đảnh Du Già Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Tự Tại Bồ Tát Tu Hành Nghi Quỹ (Bất Không dịch) v.v… Bản đầy đủ và gãy gọn nhất là bản Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Đại Bi Tâm Đà La Ni Kinh do ngài Già Phạm Đạt Mạ dịch dưới đời Đường nên Hòa Thượng Thiền Tâm dùng bản này để dịch sang tiếng Việt. Thần chú Đại Bi được lưu hành trong Phật môn hiện thời cũng dựa theo cách phiên âm trong bản dịch của ngài Già Phạm Đạt Mạ.

[23] Bốn mươi tay (đúng ra là bốn mươi hai tay) ở đây chính là bốn mươi cánh tay của Bồ Tát được nói trong kinh Đại Bi, mỗi cánh tay cầm một thứ pháp khí, có bài thần chú tương ứng nhằm thỏa một nguyện đặc biệt của hành nhân, chẳng hạn như: “Nếu muốn vãng sanh thập phương Tịnh Độ thì hãy nên cầu nơi tay cầm hoa sen xanh, chú rằng: – Án, phạ nhật ra, đạt ma, nĩnh la bát nạp ma, ốt bệ đa, bột đà vĩ sái dĩnh, sa phạ hạ”.

[24] Minh phi (Vidyā-rājñī): Minh (Vidyā) là một danh xưng khác của Đà La Ni. Do đà-la-ni có công năng diệt trừ tối tăm phiền não nên gọi là Minh (sáng). Do có công năng tăng trưởng hết thảy công đức nên gọi là Phi (Rājñī). Đại Nhật Kinh Sớ, quyển 9, giảng: “Minh là đại huệ quang minh, Phi, tiếng Phạn là La Thệ (rājñī), là danh xưng giống cái của chữ Vương (Raja). Phi có nghĩa là tam-muội, tức là Đại Bi Thai Tạng tam-muội vậy”. Do Đà La Ni có công năng sanh trưởng hết thảy pháp công đức nên dùng Phi (nữ nhân) để biểu thị. Hơn nữa, trong Mật Giáo, trí huệ được coi là tĩnh, còn phương tiện là động, cho nên dùng nữ để biểu trưng trí huệ, nam biểu trưng phương tiện. Vì thế, mỗi một bài chú thường có minh vương và minh phi xuất hiện để biểu thị lực dụng trí và hạnh của chân tâm bổn giác cùng hành, cũng như biểu thị sự từ bi, nhu thuận cứu khổ của trí huệ.

[25] Trong một bài kinh dạy về thần chú trong Mật Tông, nhất là trong những kinh điển thuộc hệ thống Kim Cang Giới luôn gồm nhiều thần chú nhằm thể hiện lực dụng vô biên của bổn tôn (vị tôn thánh nói ra bài chú ấy), ngoài chánh chú, còn có tâm chú (chú cốt lõi), đảnh chú, nha chú, nhãn chú v.v… cũng như rất nhiều bài chú nhằm giúp cho hành giả thanh tịnh thân tâm, chánh tâm nhập định quán tưởng như chú kết giới, chú giáp trụ, chú sái tịnh v.v…

[26] Mười sáu vị Kim Cang Đại Bồ Tát là 1) Kim Cang Tát Đỏa (Phổ Hiền Bồ Tát, ngài còn có mật hiệu là Kim Cang Thủ) 2) Kim Cang Vương (Diệu Bất Không Vương Bồ Tát, còn có mật hiệu là Kim Cang Câu) 3) Kim Cang Ái (Ma La Bồ Tát, vị này còn có mật hiệu là Kim Cang Cung) 4) Kim Cang Hỷ (Cực Hỷ Vương Bồ Tát) 5) Kim Cang Bảo (Hư Không Tạng Bồ Tát) 6) Kim Cang Quang (Đại Oai Quang Bồ Tát) 7) Kim Cang Tràng (Bảo Tràng Bồ Tát) 8) Kim Cang Tiếu (Thường Hoan Hỷ Căn Bồ Tát) 9) Kim Cang Pháp (Quán Tự Tại Bồ Tát, còn có mật hiệu là Kim Cang Nhãn) 10) Kim Cang Lợi (Diệu Cát Tường, tức Văn Thù Bồ Tát, còn có mật hiệu là Kim Cang Huệ) 11) Kim Cang Nhân (Khởi Bình Đẳng Tâm Chuyển Pháp Luân Bồ Tát, mật hiệu là Kim Cang Trường) 12) Kim Cang Ngữ (Vô Ngôn Bồ Tát) 13) Kim Cang Nghiệp (Nhất Thiết Như Lai Xảo Nghiệp Bồ Tát) 14) Kim Cang Hộ (Cực Nan Địch Tinh Tấn Bồ Tát, còn có mật hiệu là Kim Cang Từ Hữu) 15) Kim Cang Nha (Tồi Chư Ma Bồ Tát, còn có mật hiệu là Kim Cang Bạo Nộ) 16) Kim Cang Quyền (Nhất Thiết Như Lai Quyền Bồ Tát).

[27] Tỳ Lô Giá Na Phật xuất sanh bốn vị minh phi: Kim Cang Hỷ Hoan Đại Minh Phi, Kim Cang Man Đại Minh Phi, Kim Cang Diệu Ca Đại Minh Phi, Kim Cang Vũ Đại Minh Phi. A Súc Phật xuất sanh Kim Cang Hương Đại Minh Phi, Bảo Sanh Phật xuất sanh Kim Cang Hoa Đại Minh Phi, Quán Tự Tại Vương Phật xuất sanh Kim Cang Đăng Đại Minh Phi, Bất Không Thành Tựu Phật xuất sanh Kim Cang Đồ Hương Đại Minh Phi.

[28] Vị diệu nữ này chính là Đa La Bồ Tát (Ārya Tārā), thường được dịch nghĩa là Độ Mẫu. Do thân chính của Ngài có màu xanh lá cây nên thường gọi là Lục Độ Mẫu. Từ vị Lục Độ Mẫu này lại xuất sanh ra 21 vị Độ Mẫu nữa. Mật Tông Tây Tạng đặc biệt sùng bái Đa La Bồ Tát, nhất là các vị Bạch Độ Mẫu, Hoàng Độ Mẫu và Xích Độ Mẫu. Mỗi một vị Độ Mẫu tượng trưng cho một khía cạnh đặc biệt trong sự cứu độ của Quán Thế Âm Bồ Tát, chẳng hạn như Bạch Độ Mẫu chuyên ban bố sự trường thọ, chữa trị bệnh tật và bình an.

[29] Theo như kinh chép, Diệp Y Quán Tự Tại Bồ Tát (Parna-Savari) có hình dạng như thiên nữ, trên đầu đội mão báu, trên mão có Vô Lượng Thọ Phật ngồi. Thân Bồ Tát có bốn tay, trang nghiêm bằng anh lạc, vòng vàng, xuyến vàng, cánh tay thứ nhất bên phải đặt ngang ngực cầm quả Cát Tường, cánh tay phải thứ hai kết ấn Thí Nguyện, cánh tay trái thứ nhất cầm búa, cánh tay trái thứ hai cầm dây Quyến Sách, ngồi trên hoa sen, ngang hông quấn y kết bằng lá cây (do vậy gọi là Diệp Y).

[30] Vị La Sát Vương này chính là Nhất Kế Tôn La Sát. Sở dĩ gọi là Nhất Kế (Ekajati: một búi tóc) vì tượng Ngài mang thân hình La Sát nữ, thân màu xanh pha sắc đen, hoặc nâu hồng, chỉ có một mắt ở chính giữa trán, miệng có một răng nanh chĩa ra ngoài, vểnh lên trên, tóc kết thành búi nhọn hoắt trên đỉnh đầu, đội mão năm nhánh, mình trần, chỉ có một vú nằm chính giữa ngực, tay phải nâng xác người, tay trái cầm tim của Ma và xác sói, khoác da người, vận quần da hổ, cổ đeo chuỗi tràng hạt làm bằng năm mươi ba đầu người còn tươi, một chân co, một chân duỗi, đứng trên xác người đặt trên tòa hoa sen (những điều này đều nhằm biểu thị pháp; chẳng hạn năm mươi ba đầu người còn tươi tượng trưng cho năm mươi ba Tâm Sở, đầu người còn tươi tượng trưng cho vận dụng tâm sở một cách hoạt bát, uyển chuyển. Sợ quá rườm rà nên không sao chép vào đây).

[31] Mã Đầu Quán Âm (Hayagriva ) còn gọi là Mã Đầu Minh Vương, Mã Đầu Kim Cang Minh Vương, hoặc Sư Tử Vô Úy Quán Thế Âm, là một hóa thân của Quán Thế Âm Bồ Tát khi nói ra bài chú Ha Gia Yết Lị Bà. Theo Phật Học Đại Từ Điển, trên đầu của Bồ Tát có hình đầu ngựa nhằm biểu thị Chuyển Luân Thánh Vương có bảo mã có thể du hóa khắp nơi tự tại, xuất nhập biển sanh tử vô ngại. Đầu ngựa còn biểu thị sự ăn nuốt vô minh trọng chướng một cách vô ngại. Đại Nhật Kinh Sớ, quyển 5, viết: “Ha Da Yết Lị Bà, dịch là Mã Đầu, thân màu chẳng phải vàng, chẳng phải đỏ, như màu mặt trời vừa mới mọc, dùng hoa sen màu trắng làm anh lạc để trang nghiêm thân. Khắp thân tuôn lửa mạnh hừng hực, chói ngời như tràng hoa, móng tay dài bén, hai nanh chĩa ngược lên trên, tóc trên đầu trông như bờm sư tử, hiện tướng cực phẫn nộ. Đây chính là Phẫn Nộ Trì Minh Vương của Liên Hoa Bộ”. Ngài hiện thân phẫn nộ nhằm hàng phục những kẻ tâm sân nộ, cống cao, ngã mạn, cũng như trấn nhiếp những thiên ma toan phá hoại Phật pháp.

[32] Thiên Chuyển Quán Âm là danh hiệu gọi theo tên bộ kinh Thiên Chuyển Đà La Ni Quán Thế Âm Bồ Tát Chú Kinh do ngài Trí Thông dịch vào đời Đường (ngài Huyền Trang cũng dịch bài chú này trong Chú Ngũ Thủ Kinh, một tên gọi khác của kinh này là Năng Diệt Chúng Tội Thiên Chuyển Đà La Ni Kinh). Theo như kinh văn: “Nghiệp chướng tụ tập trong ngàn kiếp, nhất thời niệm tụng đều tiêu diệt sạch, đạt được thiện căn của một ngàn đức Phật tụ tập, vượt khỏi giới hạn lưu chuyển sanh lão bệnh tử trong ngàn kiếp. Sau khi bỏ thân liền thấy một ngàn vị Chuyển Luân Thánh Vương”.

[33] Bài kinh này có tên đầy đủ là Quán Thế Âm Bồ Tát Đắc Đại Thế Bồ Tát Thọ Ký Kinh, 1 quyển, do ngài Đàm Vô Kiệt dịch vào thời Lưu Tống.

[34] Nguyên văn chép đoạn này là “tứ thập ức Bồ Tát”, vậy thì tại sao đến đoạn sau lại nói là tám mươi ức. Kiểm trong chánh kinh, chúng tôi thấy vì lời kinh trong lời tụng và chú giải của cư sĩ Hứa Chỉ Tịnh đã bị trích lược dễ gây hiểu lầm. Theo chánh kinh, Quán Thế Âm, Đại Thế Chí, mỗi vị có bốn mươi ức Bồ Tát làm quyến thuộc. Do vậy, có đến tám mươi ức Bồ Tát theo hai Ngài đến thế giới Sa Bà.

[35] Hoa bình: Cái bình đẹp lộng lẫy, rực rỡ.

[36] Giữa lòng bàn tay và bàn chân của đức Phật có hình bánh xe ngàn căm.

[37] Không rõ thời ấy, những thứ này được dùng theo nghĩa nào, chứ nếu căn cứ theo hiện thời thì Lạc chính là lớp kem sữa, váng sữa, ngưng đọng khi đem thắng (cô đặc) sữa, hoặc sữa chế thành gia-ua (yogurt). Sanh Tô là phần chất béo của sữa kết đông lại, Thục Tô là Sanh Tô đã khử nước, còn Đề Hồ chính là phó-mát (cheese).

[38] Hàng Bố nói đầy đủ là Thứ Đệ Hàng Bố Môn. Hàng là Hàng Liệt (để theo từng dãy), Bố là Bố Trí (xếp đặt). Đây là một thuật ngữ nhằm diễn tả từng giai đoạn địa vị tu tập của Bồ Tát từ lúc sơ phát tâm cho đến khi chứng được Phật Quả. Hàng Bố đối lập với Viên Dung. Theo ngài Thanh Lương, từ địa vị Bồ Tát tiến đến Phật quả gồm hai môn:

1) Sơ Hậu Tương Tức (đầu tiên và sau rốt không sai, không khác): Nghĩa là lúc mới phát tâm thì đã thành Chánh Giác (đây là nói trên mặt Lý, giống như Lý Tức Phật trong tông Thiên Thai). Đó gọi là Viên Dung Môn.

2) Sơ Hậu Thứ Đệ (Đầu tiên và sau rốt theo thứ tự): Tức là năm mươi hai địa vị tu chứng từ Thập Tín, Thập Trụ… cho đến địa vị Đẳng Giác (Thập Tín chưa được kể là Pháp Thân đại sĩ, nên thường nói là bốn mươi mốt địa vị Pháp Thân đại sĩ, tức là những địa vị từ Thập Trụ cho đến Đẳng Giác Bồ Tát). Phải theo thứ tự mà lần lượt tấn tu nên gọi là Hàng Bố Môn.

[39] Trong bộ Đại Phật Đảnh Thủ Lăng Nghiêm Kinh Giảng Nghĩa, pháp sư Viên Anh đã giảng như sau: “Câu này nói về sự tự tu: Do phép quán của tôi chẳng lấy âm thanh làm đối tượng để quán. Chữ Quán trong câu thứ hai chính là nói về trí Năng Quán. Nghĩa là trí quang chẳng chiếu ra ngoài, nên nói ‘chẳng tự quán âm thanh của thế gian’. Do vậy, câu thứ nhất là lìa khỏi trần cảnh, câu dưới là nói về chiếu tánh, trái trần, hiệp giác”.

 

Did you find apk for android? You can find new Free Android Games and apps.