Want create site? Find Free WordPress Themes and plugins.

KINH ĐẠI BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA

Hán dịch: Pháp Sư Huyền Trang
Việt dịch: Hòa Thượng Trí Nghiêm

HỘI ĐẦU – PHẦN ĐẦU

III. PHẨM TƯƠNG ƯNG

(Từ giữa quyển 4 đến giữa 7)

Lúc bấy giờ, Xá Lợi Tử bạch Phật: Bạch Thế Tôn! Đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, do cùng tương ưng với pháp nào, mà gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa?

Phật bảo cụ thọ Xá Lợi Tử: Xá Lợi Tử! Đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, do cùng tương ưng với cái không của sắc, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa; do cùng tương ưng với cái không của Thọ, tưởng, hành, thức, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Xá Lợi Tử! Đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, do cùng tương ưng với cái không của nhãn xứ, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa; do cùng tương ưng với cái không của nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xứ, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Xá Lợi Tử! Đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, do cùng tương ưng với cái không của sắc xứ, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa; do cùng tương ưng với cái không của thanh, hương, vị, xúc, pháp xứ, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Xá Lợi Tử! Đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, do cùng tương ưng với cái không của nhãn giới, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa; do cùng tương ưng với cái không của nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý giới, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Xá Lợi Tử! Đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, do cùng tương ưng với cái không của sắc giới, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa; do cùng tương ưng với cái không của thanh, hương, vị, xúc, pháp giới, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Xá Lợi Tử! Đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, do cùng tương ưng với cái không của nhãn thức giới, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa; do cùng tương ưng với cái không của nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý thức giới, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Xá Lợi Tử! Đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, do cùng tương ưng với cái không của nhãn xúc, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa; do cùng tương ưng với cái không của nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Xá Lợi Tử! Đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, do cùng tương ưng với cái không của các thọ do nhãn xúc làm duyên sanh ra, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa; do cùng tương ưng với cái không của các thọ do nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc làm duyên sanh ra, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Xá Lợi Tử! Đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, do cùng tương ưng với cái không của địa giới, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa; do cùng tương ưng với cái không của thủy, hỏa, phong, không, thức giới, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Xá Lợi Tử! Đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, do cùng tương ưng với cái không của nhân duyên, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa; do cùng tương ưng với cái không của các pháp do đẳng vô gián duyên, sở duyên duyên, tăng thượng duyên, và do các duyên khác sinh ra, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Xá Lợi Tử! Đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, do cùng tương ưng với cái không của vô minh, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa; do cùng tương ưng với cái không của hành, thức, danh sắc, lục xứ, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sanh, lão tử, sầu, than, khổ, lo phiền, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Xá Lợi Tử! Đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, do cùng tương ưng với cái không của bố thí Ba-la-mật-đa, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa; do cùng tương ưng với cái không của tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, Bát-nhã-ba-la-mật-đa, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Xá Lợi Tử! Đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, do cùng tương ưng với cái nội không, cái ngoại không, cái nội ngoại không, cái không không, cái không lớn, cái không thắng nghĩa, cái không hữu vi, cái không vô vi, cái không rốt ráo, cái không không biên giới, cái không tản mạn, cái không không đổi khác, cái không bổn tánh, cái không tự tướng, cái không cộng tướng, cái không tất cả pháp, cái không không thể nắm bắt được, cái không không tánh, cái không tự tánh, cái không không tánh tự tánh, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Xá Lợi Tử! Đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, do cùng tương ưng với cái không của chơn như, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa; do cùng tương ưng với cái không của pháp giới, pháp tánh, tánh không hư vọng, tánh không đổi khác, tánh bình đẳng, tánh ly sanh, định pháp, trụ pháp, thật tế, cõi hư không, cõi không thể nghĩ bàn, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Xá Lợi Tử! Đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, do cùng tương ưng với cái không của bốn niệm trụ, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa; do cùng tương ưng với cái không của bốn chánh đoạn, bốn thần túc, năm căn, năm lực, bảy chi đẳng giác, tám chi thánh đạo, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Xá Lợi Tử! Đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, do cùng tương ưng với cái không của khổ thánh đế, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa; do cùng tương ưng với cái không của tập, diệt, đạo thánh đế, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Xá Lợi Tử! Đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, do cùng tương ưng với cái không của mười thiện nghiệp đạo, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa; do cùng tương ưng với cái không của năm giới cận sự, tám giới cận trụ, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Xá Lợi Tử! Đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, do cùng tương ưng với cái không của việc làm lành mang tính bố thí, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa; do cùng tương ưng với cái không của việc làm lành mang tính giữ giới, mang tính tu hành, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Xá Lợi Tử! Đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, do cùng tương ưng với cái không của bốn tịnh lự, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa; do cùng tương ưng với cái không của bốn vô lượng, bốn định vô sắc, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Xá Lợi Tử! Đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, do cùng tương ưng với cái không của tám giải thoát, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa; do cùng tương ưng với cái không của tám thắng xứ, chín định thứ đệ, mười biến xứ, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Xá Lợi Tử! Đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, do cùng tương ưng với cái không của pháp môn giải thoát Không, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa; do cùng tương ưng với cái không của pháp môn giải thoát vô tướng, vô nguyện, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Xá Lợi Tử! Đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, do cùng tương ưng với cái không của tất cả pháp môn Đà-la-ni, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa; do cùng tương ưng với cái không của tất cả pháp môn Tam-ma-địa, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa

Xá Lợi Tử! Đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, do cùng tương ưng với cái không của bậc Cực hỷ, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa; do cùng tương ưng với cái không của bậc Ly cấu, bậc Phát quang, bậc Diệm tuệ, bậc Cực nan thắng, bậc Hiện tiền, bậc Viễn hành, bậc Bất động, bậc Thiện tuệ, bậc Pháp vân, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Xá Lợi Tử! Đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, do cùng tương ưng với cái không của năm loại mắt, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa; do cùng tương ưng với cái không của sáu phép thần thông, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Xá Lợi Tử! Đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, do cùng tương ưng với cái không của mười lực của Phật, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa; do cùng tương ưng với cái không của bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả, mười tám pháp Phật bất cộng, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Xá Lợi Tử! Đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, do cùng tương ưng với cái không của ba mươi hai tướng đại sĩ, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa; do cùng tương ưng với cái không của tám mươi vẻ đẹp kèm theo, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Xá Lợi Tử! Đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, do cùng tương ưng với cái không của pháp không quên mất, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa; do cùng tương ưng với cái không của tánh luôn luôn xả, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Xá Lợi Tử! Đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, do cùng tương ưng với cái không của trí nhất thiết, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa; do cùng tương ưng với cái không của trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Xá Lợi Tử! Đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, do cùng tương ưng với cái không của trí Nhất thiết trí, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa; do cùng tương ưng với cái không của việc bứng gốc vĩnh viễn tất cả phiền não, thói xấu nhiều đời, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Xá Lợi Tử! Đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, do cùng tương ưng với cái không của quả Dự-lưu, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa; do cùng tương ưng với cái không của quả Nhất-lai, Bất-hoàn, A-la-hán, Độc-giác Bồ-đề, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Xá Lợi Tử! Đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, do cùng tương ưng với cái không của tất cả hạnh đại Bồ-tát, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa; do cùng tương ưng với cái không của quả vị Giác ngộ cao tột của chư Phật, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Xá Lợi Tử! Đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, do cùng tương ưng với cái không của ngã, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa; do cùng tương ưng với cái không của hữu tình, dòng sinh mạng, sự sanh, sự dưỡng, sự trưởng thành, chủ thể luân hồi, người do người sanh, ngã tối thắng, khả năng làm việc, khả năng khiến người làm việc, khả năng tạo nghiệp, khả năng khiến người tạo nghiệp, tự thọ quả báo, khiến người thọ quả báo, cái biết, cái thấy, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Xá Lợi Tử! Đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, do cùng tương ưng với những cái không như vậy, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Xá Lợi Tử! Đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, do khi cùng tương ưng với những cái không như vậy, chẳng thấy sắc, hoặc tương ưng hoặc chẳng tương ưng; chẳng thấy thọ, tưởng, hành, thức, hoặc tương ưng hoặc chẳng tương ưng. Vì sao? Xá Lợi Tử! Vì đại Bồ-tát ấy, chẳng thấy sắc, là pháp sanh hoặc là pháp diệt; chẳng thấy thọ, tưởng, hành, thức, là pháp sanh hoặc là pháp diệt; chẳng thấy sắc là pháp nhiễm hoặc là pháp tịnh; chẳng thấy thọ, tưởng, hành, thức là pháp nhiễm, hoặc là pháp tịnh.

Xá Lợi Tử! Đại Bồ-tát ấy, chẳng thấy sắc hiệp với thọ, chẳng thấy thọ hiệp với tưởng, chẳng thấy tưởng hiệp với hành, chẳng thấy hành hiệp với thức. Vì sao? Xá Lợi Tử! Không có một pháp nhỏ nhiệm nào hiệp với một pháp nhỏ nhiệm nào, vì bản tánh là không. Vì sao vậy? Xá Lợi Tử! Vì cái không của các sắc, nó chẳng phải là sắc; các cái không của thọ, tưởng, hành, thức, chúng chẳng phải là thọ, tưởng, hành, thức. Vì sao? Xá Lợi Tử! Vì cái không của các sắc, nó chẳng phải là tướng biến đổi, ngăn ngại; cái không của thọ, nó chẳng phải là tướng lãnh nạp; cái không của các tưởng, nó chẳng phải là tướng nắm bắt hình tượng; cái không của các hành, nó chẳng phải là tướng tạo tác; cái không của các thức, nó chẳng phải là tướng liễu biệt. Vì sao? Xá Lợi Tử! Vì sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc; sắc tức là không, không tức là sắc; thọ, tưởng, hành, thức chẳng khác không, không chẳng khác thọ, tưởng, hành, thức; thọ, tưởng, hành, thức tức là không, không tức là thọ, tưởng, hành, thức. Vì sao? Xá Lợi Tử! Vì tướng không của các pháp ấy chẳng sanh, chẳng diệt, chẳng nhiễm, chẳng tịnh, chẳng tăng, chẳng giảm, chẳng phải quá khứ, chẳng phải vị lai, chẳng phải hiện tại.

Xá Lợi Tử! Như vậy, trong cái không, không có sắc, không có thọ, tưởng, hành, thức; không có địa giới, không có thủy, hỏa, phong, không, thức giới; không có nhãn xứ, không có nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xứ; không có sắc xứ, không có thanh, hương, vị, xúc, pháp xứ; không có nhãn giới, không có nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý giới; không có sắc giới, không có thanh, hương, vị, xúc, pháp giới; không có nhãn thức giới, không có nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý thức giới; không có nhãn xúc, không có nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc; không có các thọ do nhãn xúc làm duyên sanh ra, không có các thọ do nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc làm duyên sanh ra; không có sự sanh khởi của vô minh, không có sự diệt tận của vô minh; không có sự sanh khởi của hành, thức, danh sắc, lục xứ, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sanh, lão tử, sầu, than, khổ, lo phiền; không có sự diệt tận của hành cho đến lão tử, sầu, than, khổ, lo phiền; không có khổ thánh đế, không có tập, diệt, đạo thánh đế; không có đắc, không có hiện quán; không có Dự-lưu, không có quả Dự-lưu, không có Nhất-lai, không có quả Nhất-lai, không có Bất-hoàn, không có quả Bất-hoàn, không có A-la-hán, không có quả A-la-hán, không có Độc-giác, không có quả vị Độc-giác, không có Bồ-tát, không có hạnh Bồ-tát, không có Phật, không có quả vị Phật.

Xá Lợi Tử! Đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, do cùng tương ưng với các pháp như vậy, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Lại nữa, Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng thấy tương ưng, hoặc chẳng tương ưng với sắc. Chẳng thấy tương ưng, hoặc chẳng tương ưng với thọ, tưởng, hành, thức.

Chẳng thấy tương ưng, hoặc chẳng tương ưng với nhãn xứ, chẳng thấy tương ưng, hoặc chẳng tương ưng với nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xứ.

Chẳng thấy tương ưng, hoặc chẳng tương ưng với sắc xứ, chẳng thấy tương ưng, hoặc chẳng tương ưng với thanh, hương, vị, xúc, pháp xứ.

Chẳng thấy tương ưng, hoặc chẳng tương ưng với nhãn giới, chẳng thấy tương ưng, hoặc chẳng tương ưng với nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý giới.

Chẳng thấy tương ưng, hoặc chẳng tương ưng với sắc giới, chẳng thấy tương ưng, hoặc chẳng tương ưng với thanh, hương, vị, xúc, pháp giới.

Chẳng thấy tương ưng, hoặc chẳng tương ưng với nhãn thức giới, chẳng thấy tương ưng, hoặc chẳng tương ưng với nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý thức giới.

Chẳng thấy tương ưng, hoặc chẳng tương ưng với nhãn xúc, chẳng thấy tương ưng, hoặc chẳng tương ưng với nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc.

Chẳng thấy tương ưng, hoặc chẳng tương ưng với các thọ do nhãn xúc làm duyên sanh ra, chẳng thấy tương ưng, hoặc chẳng tương ưng với các thọ do nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc làm duyên sanh ra.

Chẳng thấy tương ưng, hoặc chẳng tương ưng với địa giới, chẳng thấy tương ưng, hoặc chẳng tương ưng với thủy, hỏa, phong, không, thức giới.

Chẳng thấy tương ưng, hoặc chẳng tương ưng với nhơn duyên, chẳng thấy tương ưng, hoặc chẳng tương ưng với sở duyên duyên, đẳng vô gián duyên, tăng thượng duyên, chẳng thấy tương ưng, hoặc chẳng tương ưng với các pháp do duyên sanh ra.

Chẳng thấy tương ưng, hoặc chẳng tương ưng với vô minh, chẳng thấy tương ưng, hoặc chẳng tương ưng với hành, thức, danh sắc, lục xứ, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sanh, lão tử, sầu, than, khổ, lo, phiền.

Chẳng thấy tương ưng, hoặc chẳng tương ưng với cõi Dục, chẳng thấy tương ưng, hoặc chẳng tương ưng với cõi Sắc, cõi Vô sắc.

Chẳng thấy tương ưng, hoặc chẳng tương ưng với bố thí Ba-la-mật-đa, chẳng thấy tương ưng, hoặc chẳng tương ưng với tịnh giới, an nhẫn, tinh tiến, tịnh lự, Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Chẳng thấy tương ưng, hoặc chẳng tương ưng với cái không nội, chẳng thấy tương ưng, hoặc chẳng tương ưng với cái không ngoại, cái không nội ngoại, cái không không, cái không lớn, cái không thắng nghĩa, cái không hữu vi, cái không vô vi, cái không rốt ráo, cái không không biên giới, cái không tản mạn, cái không không đổi khác, cái không bổn tánh, cái không tự tướng, cái không cộng tướng, cái không tất cả pháp, cái không không nắm bắt được, cái không không tánh, cái không tự tánh, cái không không tánh tự tánh.

Chẳng thấy tương ưng, hoặc chẳng tương ưng với chơn như, chẳng thấy tương ưng, hoặc chẳng tương ưng với pháp giới, pháp tánh, tánh không hư vọng, tánh không đổi khác, tánh bình đẳng, tánh ly sanh, định pháp, trụ pháp, thật tế, cõi hư không, cõi không thể nghĩ bàn.

Chẳng thấy tương ưng, hoặc chẳng tương ưng với bốn niệm trụ, chẳng thấy tương ưng, hoặc chẳng tương ưng với bốn chánh đoạn, bốn thần túc, năm căn, năm lực, bảy chi đẳng giác, tám chi thánh đạo.

Chẳng thấy tương ưng, hoặc chẳng tương ưng với thánh đế khổ, chẳng thấy tương ưng, hoặc chẳng tương ưng với thánh đế tập, diệt, đạo.

Chẳng thấy tương ưng, hoặc chẳng tương ưng với mười thiện nghiệp đạo, chẳng thấy tương ưng, hoặc chẳng tương ưng với năm giới cận sự, tám giới cận trụ.

Chẳng thấy tương ưng, hoặc chẳng tương ưng với việc làm phước mang tính bố thí, chẳng thấy tương ưng, hoặc chẳng tương ưng với việc làm phước mang tính giữ  giới, mang tính tu hành.

Chẳng thấy tương ưng, hoặc chẳng tương ưng với bốn tịnh lự, chẳng thấy tương ưng, hoặc chẳng tương ưng với bốn vô lượng, bốn định vô sắc.

Chẳng thấy tương ưng, hoặc chẳng tương ưng với tám giải thoát, chẳng thấy tương ưng, hoặc chẳng tương ưng với tám thắng xứ, chín định thứ đệ, mười biến xứ.

Chẳng thấy tương ưng, hoặc chẳng tương ưng với pháp môn giải thoát không, chẳng thấy tương ưng, hoặc chẳng tương ưng với pháp môn giải thoát vô tướng, vô nguyện.

Chẳng thấy tương ưng, hoặc chẳng tương ưng với tất cả pháp môn Đà-la-ni, chẳng thấy tương ưng, hoặc chẳng tương ưng với tất cả pháp môn Tam-ma-địa.

Chẳng thấy tương ưng, hoặc chẳng tương ưng với bậc Cực hỷ, chẳng thấy tương ưng, hoặc chẳng tương ưng với bậc Ly cấu, bậc Phát quang, bậc Diệm tuệ, bậc Cực nan thắng, bậc Hiện tiền, bậc Viễn hành, bậc Bất động, bậc Thiện tuệ, bậc Pháp vân.

Chẳng thấy tương ưng, hoặc chẳng tương ưng với năm loại mắt, chẳng thấy tương ưng, hoặc chẳng tương ưng với sáu pháp thần thông.

Chẳng thấy tương ưng, hoặc chẳng tương ưng với mười lực của Phật, chẳng thấy tương ưng, hoặc chẳng tương ưng với bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả, mười tám pháp Phật bất cộng.

Chẳng thấy tương ưng, hoặc chẳng tương ưng với ba mươi hai tướng đại sĩ, chẳng thấy tương ưng, hoặc chẳng tương ưng với tám mươi vẻ đẹp kèm theo.

Chẳng thấy tương ưng, hoặc chẳng tương ưng với pháp không quên mất, chẳng thấy tương ưng, hoặc chẳng tương ưng với tánh luôn luôn xả.

Chẳng thấy tương ưng, hoặc chẳng tương ưng với trí nhất thiết, chẳng thấy tương ưng, hoặc chẳng tương ưng với trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng, trí nhất thiết tướng vi diệu, chẳng thấy tương ưng, hoặc chẳng tương ưng với trí nhất thiết trí.

Chẳng thấy tương ưng, hoặc chẳng tương ưng với việc bứng gốc vĩnh viễn tất cả phiền não, thói xấu nhiều đời.

Chẳng thấy tương ưng, hoặc chẳng tương ưng với quả Dự-lưu, chẳng thấy tương ưng, hoặc chẳng tương ưng với quả Nhất-lai, Bất-hoàn, A-la-hán, chẳng thấy tương ưng, hoặc chẳng tương ưng với quả vị Độc-giác, chẳng thấy tương ưng, hoặc chẳng tương ưng với tất cả hạnh đại Bồ-tát, chẳng thấy tương ưng, hoặc chẳng tương ưng với quả vị Giác ngộ cao tột của chư Phật.

Chẳng thấy tương ưng, hoặc chẳng tương ưng với ngã, chẳng thấy tương ưng, hoặc chẳng tương ưng với hữu tình, dòng sinh mạng, sự sanh, sự dưỡng, sự  trưởng thành, chủ thể luân hồi, người do người sinh, ngã tối thắng, khả năng làm việc, khả năng khiến người làm việc, khả năng tạo nghiệp, khả năng khiến người tạo nghiệp, tự thọ quả báo, khiến người thọ quả báo, cái biết, cái thấy.

Xá Lợi Tử! Nên biết, các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, vì những nhân duyên ấy nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Lại nữa, Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng quán sự tương ưng, chẳng tương ưng giữa cái không với cái không, chẳng quán sự tương ưng, chẳng tương ưng giữa cái vô tướng với cái vô tướng, chẳng quán sự tương ưng, chẳng tương ưng giữa cái vô nguyện với cái vô nguyện. Vì sao? Xá Lợi Tử! Vì không, vô tướng, vô nguyện đều không có tương ưng, chẳng tương ưng.

Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, vì cùng tương ưng với các pháp như vậy, nên gọi là cùng tương ưng Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Lại nữa, Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, đã thể nhập cái không tự tướng của tất cả pháp rồi, thì chẳng quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng của sắc, chẳng quán sự tương ưng, chẳng tương ưng của thọ, tưởng, hành, thức.

Vị đại Bồ-tát ấy, chẳng quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa sắc với đời trước. Vì sao? Vì chẳng thấy đời trước; chẳng quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa thọ, tưởng, hành, thức với đời trước. Vì sao? Vì chẳng thấy đời trước.

Chẳng quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa sắc với đời sau. Vì sao? Vì chẳng thấy đời sau, chẳng quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa thọ, tưởng, hành, thức với đời sau. Vì sao? Vì chẳng thấy đời sau.

Chẳng quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa sắc với hiện tại. Vì sao? Vì chẳng thấy hiện tại, chẳng quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa thọ, tưởng, hành, thức với hiện tại. Vì sao? Vì chẳng thấy hiện tại.

Lại nữa, Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa đời trước với đời sau, chẳng quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa đời trước với hiện tại.

Chẳng quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa đời sau với đời trước, chẳng quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa đời sau với hiện tại.

Chẳng quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa hiện tại với đời trước, chẳng quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa hiện tại với đời sau.

Chẳng quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa đời trước với đời sau và hiện tại.

Chẳng quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa đời sau với đời trước và hiện tại.

Chẳng quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa hiện tại với đời trước và đời sau.

Chẳng quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa đời trước, đời sau, hiện tại. Vì sao? Xá Lợi Tử! Vì ba đời đều không.

Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, vì cùng tương ưng với các pháp như vậy, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Lại nữa, Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa trí nhất thiết với quá khứ. Vì sao? Vì quá khứ còn chẳng thấy có, huống là quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa trí nhất thiết với quá khứ.

Chẳng quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa trí nhất thiết với vị lai. Vì sao? Vì vị lai còn chẳng thấy có, huống là quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa trí nhất thiết với vị lai.

Chẳng quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa trí nhất thiết với hiện tại. Vì sao? Vì hiện tại còn chẳng thấy có, huống là quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa trí nhất thiết với hiện tại.

Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa vì cùng tương ưng với các pháp như vậy, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Lại nữa, Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa trí nhất thiết với sắc. Vì sao? Vì sắc còn chẳng thấy có, huống là quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa trí nhất thiết với sắc.

Chẳng quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa trí nhất thiết với thọ, tưởng, hành, thức. Vì sao? Vì thọ, tưởng, hành, thức còn chẳng thấy có, huống là quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa trí nhất thiết với thọ, tưởng, hành, thức.

Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, vì cùng tương ưng với các pháp như vậy, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Lại nữa, Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa trí nhất thiết với nhãn xứ. Vì sao? Vì nhãn xứ còn chẳng thấy có, huống là quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa trí nhất thiết với nhãn xứ.

Chẳng quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa trí nhất thiết với nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xứ. Vì sao? Vì nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xứ còn chẳng thấy có, huống là quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa trí nhất thiết với nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xứ.

Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, vì cùng tương ưng với các pháp như vậy, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Lại nữa, Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa trí nhất thiết với sắc xứ. Vì sao? Vì sắc xứ còn chẳng thấy có, huống là quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa trí nhất thiết với sắc xứ.

Chẳng quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa trí nhất thiết với thanh, hương, vị, xúc, pháp xứ. Vì sao? Vì thanh, hương, vị, xúc, pháp xứ, còn chẳng thấy có, huống là quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa trí nhất thiết với thanh, hương, vị, xúc, pháp xứ.

Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, vì cùng tương ưng với các pháp như vậy, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Lại nữa, Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa trí nhất thiết với nhãn giới. Vì sao? Vì nhãn giới còn chẳng thấy có, huống là quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa trí nhất thiết với nhãn giới.

Chẳng quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa trí nhất thiết trí với nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý giới. Vì sao? Vì nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý giới, còn chẳng thấy có, huống là quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa trí nhất thiết với nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý giới.

Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, vì cùng tương ưng với các pháp như vậy, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Lại nữa, Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa trí nhất thiết với sắc giới. Vì sao? Vì sắc giới còn chẳng thấy có, huống là quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa trí nhất thiết với sắc giới.

Chẳng quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa trí nhất thiết với thanh, hương, vị, xúc, pháp giới. Vì sao? Vì thanh, hương, vị, xúc, pháp giới, còn chẳng thấy có, huống là quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa trí nhất thiết với thanh, hương, vị, xúc, pháp giới.

Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, vì cùng tương ưng với các pháp như vậy, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Lại nữa, Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa trí nhất thiết với nhãn thức giới. Vì sao? Vì nhãn thức giới còn chẳng thấy có, huống là quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa trí nhất thiết với nhãn thức giới.

Chẳng quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa trí nhất thiết với nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý thức giới. Vì sao? Vì nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý thức giới, còn chẳng thấy có, huống là quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa trí nhất thiết với nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý thức giới.

Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, vì cùng tương ưng với các pháp như vậy, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Lại nữa, Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa trí nhất thiết với nhãn xúc. Vì sao? Vì nhãn xúc còn chẳng thấy có, huống là quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa trí nhất thiết với nhãn xúc.

Chẳng quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa trí nhất thiết với nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc. Vì sao? Vì nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc còn chẳng thấy có, huống là quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa trí nhất thiết với nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc.

Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, vì cùng tương ưng với các pháp như vậy, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Lại nữa, Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa trí nhất thiết với các thọ do nhãn xúc làm duyên sanh ra. Vì sao? Vì các thọ do nhãn xúc làm duyên sanh ra còn chẳng thấy có, huống là quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa trí nhất thiết với các thọ do nhãn xúc làm duyên sanh ra.

Chẳng quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa trí nhất thiết với các thọ do nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc làm duyên sanh ra. Vì sao? Vì các thọ do nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc làm duyên sanh ra còn chẳng thấy có, huống là quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa trí nhất thiết với các thọ do nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc làm duyên sanh ra.

Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, vì cùng tương ưng với các pháp như vậy, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Lại nữa, Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa trí nhất thiết với địa giới. Vì sao? Vì địa giới còn chẳng thấy có, huống là quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa trí nhất thiết với địa giới.

Chẳng quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa trí nhất thiết với thủy, hỏa, phong, không, thức giới. Vì sao? Vì thủy, hỏa, phong, không, thức giới còn chẳng thấy có, huống là quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa trí nhất thiết với thủy, hỏa, phong, không, thức giới.

Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, vì cùng tương ưng với các pháp như vậy, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Lại nữa, Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa trí nhất thiết với nhơn duyên. Vì sao? Vì nhơn duyên còn chẳng thấy có, huống là quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa trí nhất thiết với nhơn duyên.

Chẳng quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa trí nhất thiết với các pháp do đẳng vô gián duyên, sở duyên duyên, tăng thượng duyên và các duyên khác sanh ra. Vì sao? Vì các pháp do đẳng vô gián duyên, sở duyên duyên, tăng thượng duyên và các duyên khác sanh ra còn chẳng thấy có, huống là quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa trí nhất thiết với các pháp do đẳng vô gián duyên, sở duyên duyên, tăng thượng duyên và các duyên khác sanh ra.

Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, vì cùng tương ưng với các pháp như vậy, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Lại nữa, Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa trí nhất thiết với vô minh. Vì sao? Vì vô minh còn chẳng thấy có, huống là quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa trí nhất thiết với vô minh.

Chẳng quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa trí nhất thiết với hành, thức, danh sắc, lục xứ, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sanh, lão tử, sầu, than, khổ, lo, phiền. Vì sao? Vì từ hành cho đến lão tử, sầu, than, khổ, lo, phiền còn chẳng thấy có, huống là quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa trí nhất thiết với hành cho đến lão tử, sầu, than, khổ, lo, phiền.

Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, vì cùng tương ưng với các pháp như vậy, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Lại nữa, Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa trí nhất thiết với bố thí Ba-la-mật-đa. Vì sao? Vì bố thí Ba-la-mật-đa còn chẳng thấy có, huống là quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa trí nhất thiết với bố thí Ba-la-mật-đa.

Chẳng quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa trí nhất thiết với tịnh giới, an nhẫn, tinh tiến, tịnh lự, Bát-nhã-ba-la-mật-đa. Vì sao? Vì tịnh giới, an nhẫn, tinh tiến, tịnh lự, Bát-nhã-ba-la-mật-đa còn chẳng thấy có, huống là quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa trí nhất thiết với tịnh giới, an nhẫn, tinh tiến, tịnh lự, Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, vì cùng tương ưng với các pháp như vậy, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Lại nữa, Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa trí nhất thiết với cái không nội. Vì sao? Vì cái không nội còn chẳng thấy có, huống là quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa trí nhất thiết với cái không nội.

Chẳng quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa trí nhất thiết với cái không ngoại, cái không nội ngoại, cái không không, cái không lớn, cái không thắng nghĩa, cái không hữu vi, cái không vô vi, cái không rốt ráo, cái không không biên giới, cái không tản mạn, cái không không đổi khác, cái không bổn tánh, cái không tự tướng, cái không cộng tướng, cái không tất cả pháp, cái không không nắm bắt được, cái không không tánh, cái không tự tánh, cái không không tánh tự tánh. Vì sao? Vì cái không ngoại cho đến cái không không tánh tự tánh, còn chẳng thấy có, huống là quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa trí nhất thiết với cái không ngoại, cho đến cái không không tánh tự tánh.

Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, vì cùng tương ưng với các pháp như vậy, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Lại nữa, Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa trí nhất thiết với bốn niệm trụ. Vì sao? Vì bốn niệm trụ còn chẳng thấy có, huống là quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa trí nhất thiết với bốn niệm trụ.

Chẳng quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa trí nhất thiết với bốn chánh đoạn, bốn thần túc, năm căn, năm lực, bảy chi đẳng giác, tám chi thánh đạo. Vì sao? Vì bốn chánh đoạn cho đến tám chi thánh đạo còn chẳng thấy có, huống là quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa trí nhất thiết với bốn chánh đoạn cho đến tám chi thánh đạo.

Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, vì cùng tương ưng với các pháp như vậy, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Lại nữa, Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa trí nhất thiết với thánh đế khổ. Vì sao? Vì thánh đế khổ còn chẳng thấy có, huống là quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa trí nhất thiết với thánh đế khổ.

Chẳng quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa trí nhất thiết với thánh đế tập, diệt, đạo. Vì sao? Vì thánh đế tập, diệt, đạo còn chẳng thấy có, huống là quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa trí nhất thiết với thánh đế tập, diệt, đạo.

Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, vì cùng tương ưng với các pháp như vậy, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Lại nữa, Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa trí nhất thiết với bốn tịnh lự. Vì sao? Vì bốn tịnh lự còn chẳng thấy có, huống là quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa trí nhất thiết với bốn tịnh lự.

Chẳng quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa trí nhất thiết với bốn vô lượng, bốn định vô sắc. Vì sao? Vì bốn vô lượng, bốn định vô sắc còn chẳng thấy có, huống là quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa trí nhất thiết với bốn vô lượng, bốn định vô sắc.

Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, vì cùng tương ưng với các pháp như vậy, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Lại nữa, Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa trí nhất thiết với tám giải thoát. Vì sao? Vì tám giải thoát còn chẳng thấy có, huống là quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa trí nhất thiết với tám giải thoát.

Chẳng quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa trí nhất thiết với tám thắng xứ, chín định thứ đệ, mười biến xứ. Vì sao? Vì tám thắng xứ, chín định thứ đệ, mười biến xứ còn chẳng thấy có, huống là quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa trí nhất thiết với tám thắng xứ, chín định thứ đệ, mười biến xứ.

Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, vì cùng tương ưng với các pháp như vậy, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Lại nữa, Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa trí nhất thiết với pháp môn giải thoát không. Vì sao? Vì pháp môn giải thoát không còn chẳng thấy có, huống là quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa trí nhất thiết với pháp môn giải thoát không.

Chẳng quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa trí nhất thiết với pháp môn giải thoát vô tướng, vô nguyện. Vì sao? Vì pháp môn giải thoát vô tướng, vô nguyện còn chẳng thấy có, huống là quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa trí nhất thiết với pháp môn giải thoát vô tướng, vô nguyện.

Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, vì cùng tương ưng với các pháp như vậy, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Lại nữa, Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa trí nhất thiết với tất cả pháp môn Đà-la-ni. Vì sao? Vì tất cả pháp môn Đà-la-ni còn chẳng thấy có, huống là quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa trí nhất thiết với tất cả pháp môn Đà-la-ni.

Chẳng quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa trí nhất thiết với tất cả pháp môn Tam-ma-địa. Vì sao? Vì tất cả pháp môn Tam-ma-địa còn chẳng thấy có, huống là quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa trí nhất thiết với tất cả pháp môn Tam-ma-địa.

Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, vì cùng tương ưng với các pháp như vậy, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Lại nữa, Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa trí nhất thiết với bậc Cực hỷ. Vì sao? Vì bậc Cực hỷ còn chẳng thấy có, huống là quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa trí nhất thiết với bậc Cực hỷ.

Chẳng quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa trí nhất thiết với bậc Ly cấu, bậc Phát quang, bậc Diệm tuệ, bậc Cực nan thắng, bậc Hiện tiền, bậc Viễn hành, bậc Bất động, bậc Thiện tuệ, bậc Pháp vân. Vì sao? Vì từ bậc Ly cấu cho đến bậc Pháp vân còn chẳng thấy có, huống là quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa trí nhất thiết với bậc Ly cấu cho đến bậc Pháp vân.

Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, vì cùng tương ưng với các pháp như vậy, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Lại nữa, Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa trí nhất thiết với năm loại mắt.Vì sao? Vì năm loại mắt còn chẳng thấy có, huống là quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa trí nhất thiết với năm loại mắt.

Chẳng quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa trí nhất thiết với sáu phép thần thông. Vì sao? Vì sáu phép thần thông còn chẳng thấy có, huống là quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa trí nhất thiết với sáu phép thần thông.

Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, vì cùng tương ưng với các pháp như vậy, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Lại nữa, Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa trí nhất thiết với mười lực của Phật. Vì sao? Vì mười lực của Phật còn chẳng thấy có, huống là quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa trí nhất thiết với mười lực của Phật.

Chẳng quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa trí nhất thiết với bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả, mười tám pháp Phật bất cộng. Vì sao? Vì bốn điều không sợ cho đến mười tám pháp Phật bất cộng còn chẳng thấy có, huống là quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa trí nhất thiết với bốn điều không sợ cho đến mười tám pháp Phật bất cộng.

Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, vì cùng tương ưng với các pháp như vậy, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Lại nữa, Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa trí nhất thiết với ba mươi hai tướng đại sĩ. Vì sao? Vì ba mươi hai tướng đại sĩ còn chẳng thấy có, huống là quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa trí nhất thiết với ba mươi hai tướng đại sĩ.

Chẳng quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa trí nhất thiết với tám mươi vẻ đẹp kèm theo. Vì sao? Vì tám mươi vẻ đẹp kèm theo còn chẳng thấy có, huống là quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa trí nhất thiết với tám mươi vẻ đẹp kèm theo.

Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, vì cùng tương ưng với các pháp như vậy, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Lại nữa, Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa trí nhất thiết với pháp không quên mất. Vì sao? Vì pháp không quên mất còn chẳng thấy có, huống là quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa trí nhất thiết với pháp không quên mất.

Chẳng quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa trí nhất thiết với tánh luôn luôn xả. Vì sao? Vì tánh luôn luôn xả còn chẳng thấy có, huống là quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa trí nhất thiết với tánh luôn luôn xả.

Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, vì cùng tương ưng với các pháp như vậy, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Lại nữa, Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa trí nhất thiết với trí nhất thiết. Vì sao? Vì trí nhất thiết còn chẳng thấy có, huống là quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa trí nhất thiết với trí nhất thiết.

Chẳng quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa trí nhất thiết với trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng. Vì sao? Vì trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng còn chẳng thấy có, huống là quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa trí nhất thiết với trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng.

Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, vì cùng tương ưng với các pháp như vậy, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Lại nữa, Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa trí nhất thiết với Phật. Vì sao? Vì Phật còn chẳng thấy có, huống là quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa trí nhất thiết với Phật.

Chẳng quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa trí nhất thiết với Bồ-đề. Vì sao? Vì Bồ-đề còn chẳng thấy có, huống là quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa trí nhất thiết với Bồ-đề.

Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, vì cùng tương ưng với các pháp như vậy, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Lại nữa, Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa trí nhất thiết với Phật, cũng chẳng quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa Phật với trí nhất thiết. Vì sao? Vì trí nhất thiết tức là Phật, Phật tức là trí nhất thiết.

Chẳng quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa trí nhất thiết với Bồ-đề; chẳng quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa Bồ-đề với trí nhất thiết. Vì sao? Vì trí nhất thiết tức là Bồ-đề, Bồ-đề tức là trí nhất thiết.

Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, vì cùng tương ưng với các pháp như vậy, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Lại nữa, Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng đắm vào cái có của sắc, chẳng đắm vào cái chẳng phải có của sắc, chẳng đắm vào cái có của thọ, tưởng, hành, thức, chẳng đắm vào cái chẳng phải có của thọ, tưởng, hành, thức.

Chẳng đắm vào cái thường của sắc, chẳng đắm vào cái vô thường của sắc, chẳng đắm vào cái thường của thọ, tưởng, hành, thức, chẳng đắm vào cái vô thường của thọ, tưởng, hành, thức.

Chẳng đắm vào cái vui của sắc, chẳng đắm vào cái khổ của sắc chẳng đắm vào cái vui của thọ, tưởng, hành, thức, chẳng đắm vào cái khổ của thọ, tưởng, hành, thức.

Chẳng đắm vào cái ngã của sắc, chẳng đắm vào cái vô ngã của sắc, chẳng đắm vào cái ngã của thọ, tưởng, hành, thức, chẳng đắm vào cái vô ngã của thọ, tưởng, hành, thức.

Chẳng đắm vào cái tịch tịnh của sắc, chẳng đắm vào cái chẳng tịch tịnh của sắc; chẳng đắm vào cái tịch tịnh của thọ, tưởng, hành, thức, chẳng đắm vào cái chẳng tịch tịnh của thọ, tưởng, hành, thức.

Chẳng đắm vào cái không của sắc, chẳng đắm vào cái chẳng không của sắc; chẳng đắm vào cái không của thọ, tưởng, hành, thức, chẳng đắm vào cái chẳng không của thọ, tưởng, hành, thức.

Chẳng đắm vào cái vô tướng của sắc, chẳng đắm vào cái hữu tướng của sắc; chẳng đắm vào cái vô tướng của thọ, tưởng, hành, thức, chẳng đắm vào cái hữu tướng của thọ, tưởng, hành, thức.

Chẳng đắm vào cái vô nguyện của sắc, chẳng đắm vào cái hữu nguyện của sắc; chẳng đắm vào cái vô nguyện của thọ, tưởng, hành, thức, chẳng đắm vào cái hữu nguyện của thọ, tưởng, hành, thức.

Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, vì cùng tương ưng với các pháp như vậy, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Lại nữa, Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng đắm vào cái có của nhãn xứ, chẳng đắm vào cái chẳng phải có của nhãn xứ; chẳng đắm vào cái có của nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xứ, chẳng đắm vào cái chẳng phải có của nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xứ.

Chẳng đắm vào cái thường của nhãn xứ, chẳng đắm vào cái vô thường của nhãn xứ; chẳng đắm vào cái thường của nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xứ, chẳng đắm vào cái vô thường của nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xứ.

Chẳng đắm vào cái vui của nhãn xứ, chẳng đắm vào cái khổ của nhãn xứ; chẳng đắm vào cái vui của nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xứ, chẳng đắm vào cái khổ của nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xứ.

Chẳng đắm vào cái ngã của nhãn xứ, chẳng đắm vào cái vô ngã của nhãn xứ; chẳng đắm vào cái ngã của nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xứ, chẳng đắm vào cái vô ngã của nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xứ.

Chẳng đắm vào cái tịch tịnh của nhãn xứ, chẳng đắm vào cái chẳng tịch tịnh của nhãn xứ; chẳng đắm vào cái tịch tịnh của nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xứ, chẳng đắm vào cái chẳng tịch tịnh của nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xứ.

Chẳng đắm vào cái không của nhãn xứ, chẳng đắm vào cái chẳng không của nhãn xứ; chẳng đắm vào cái không của nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xứ, chẳng đắm vào cái chẳng không của nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xứ.

Chẳng đắm vào cái vô tướng của nhãn xứ, chẳng đắm vào cái hữu tướng của nhãn xứ; chẳng đắm vào cái vô tướng của nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xứ, chẳng đắm vào cái hữu tướng của nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xứ.

Chẳng đắm vào cái vô nguyện của nhãn xứ, chẳng đắm vào cái hữu nguyện của nhãn xứ; chẳng đắm vào cái vô nguyện của nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xứ, chẳng đắm vào cái hữu nguyện của nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xứ.

Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, vì cùng tương ưng với các pháp như vậy, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Lại nữa, Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng đắm vào cái có của sắc xứ, chẳng đắm vào cái chẳng phải có của sắc xứ; chẳng đắm vào cái có của thanh, hương, vị, xúc, pháp xứ, chẳng đắm vào cái chẳng phải có của thanh, hương, vị, xúc, pháp xứ.

Chẳng đắm vào cái thường của sắc xứ, chẳng đắm vào cái vô thường của sắc xứ; chẳng đắm vào cái thường của thanh, hương, vị, xúc, pháp xứ, chẳng đắm vào cái vô thường của thanh, hương, vị, xúc, pháp xứ.

Chẳng đắm vào cái vui của sắc xứ, chẳng đắm vào cái khổ của sắc xứ; chẳng đắm vào cái vui của thanh, hương, vị, xúc, pháp xứ, chẳng đắm vào cái khổ của thanh, hương, vị, xúc, pháp xứ.

Chẳng đắm vào cái ngã của sắc xứ, chẳng đắm vào cái vô ngã của sắc xứ; chẳng đắm vào cái ngã của thanh, hương, vị, xúc, pháp xứ, chẳng đắm vào cái vô ngã của thanh, hương, vị, xúc, pháp xứ.

Chẳng đắm vào cái tịch tịnh của sắc xứ, chẳng đắm vào cái chẳng tịch tịnh của sắc xứ; chẳng đắm vào cái tịch tịnh của thanh, hương, vị, xúc, pháp xứ, chẳng đắm vào cái chẳng tịch tịnh của thanh, hương, vị, xúc, pháp xứ.

Chẳng đắm vào cái không của sắc xứ, chẳng đắm vào cái chẳng không của sắc xứ; chẳng đắm vào cái không của thanh, hương, vị, xúc, pháp xứ, chẳng đắm vào cái chẳng không của thanh, hương, vị, xúc, pháp xứ.

Chẳng đắm vào cái vô tướng của sắc xứ, chẳng đắm vào cái hữu tướng của sắc xứ; chẳng đắm vào cái vô tướng của thanh, hương, vị, xúc, pháp xứ, chẳng đắm vào cái hữu tướng của thanh, hương, vị, xúc, pháp xứ.

Chẳng đắm vào cái vô nguyện của sắc xứ, chẳng đắm vào cái hữu nguyện của sắc xứ; chẳng đắm vào cái vô nguyện của thanh, hương, vị, xúc, pháp xứ, chẳng đắm vào cái hữu nguyện của thanh, hương, vị, xúc, pháp xứ.

Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, vì cùng tương ưng với các pháp như vậy, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Lại nữa, Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng đắm vào cái có của nhãn giới, chẳng đắm vào cái chẳng phải có của nhãn giới; chẳng đắm vào cái có của nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý giới, chẳng đắm vào cái chẳng phải có của nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý giới.

Chẳng đắm vào cái thường của nhãn giới, chẳng đắm vào cái vô thường của nhãn giới; chẳng đắm vào cái thường của nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý giới, chẳng đắm vào cái vô thường của nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý giới.

Chẳng đắm vào cái vui của nhãn giới, chẳng đắm vào cái khổ của nhãn giới; chẳng đắm vào cái vui của nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý giới, chẳng đắm vào cái khổ của nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý giới.

Chẳng đắm vào cái ngã của nhãn giới, chẳng đắm vào cái vô ngã của nhãn giới; chẳng đắm vào cái ngã của nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý giới, chẳng đắm vào cái vô ngã của nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý giới.

Chẳng đắm vào cái tịch tịnh của nhãn giới, chẳng đắm vào cái chẳng tịch tịnh của nhãn giới; chẳng đắm vào cái tịch tịnh của nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý giới, chẳng đắm vào cái chẳng tịch tịnh của nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý giới.

Chẳng đắm vào cái không của nhãn giới, chẳng đắm vào cái chẳng không của nhãn giới; chẳng đắm vào cái không của nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý giới, chẳng đắm vào cái chẳng không của nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý giới.

Chẳng đắm vào cái vô tướng của nhãn giới, chẳng đắm vào cái hữu tướng của nhãn giới; chẳng đắm vào cái vô tướng của nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý giới, chẳng đắm vào cái hữu tướng của nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý giới.

Chẳng đắm vào cái vô nguyện của nhãn giới, chẳng đắm vào cái hữu nguyện của nhãn giới; chẳng đắm vào cái vô nguyện của nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý giới,chẳng đắm vào cái hữu nguyện của nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý giới.

Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, vì cùng tương ưng với các pháp như vậy, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Lại nữa, Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng đắm vào cái có của sắc giới, chẳng đắm vào cái chẳng phải có của sắc giới; chẳng đắm vào cái có của thanh, hương, vị, xúc, pháp giới, chẳng đắm vào cái chẳng phải có của thanh, hương, vị, xúc, pháp giới.

Chẳng đắm vào cái thường của sắc giới, chẳng đắm vào cái vô thường của sắc giới; chẳng đắm vào cái thường của thanh, hương, vị, xúc, pháp giới, chẳng đắm vào cái vô thường của thanh, hương, vị, xúc, pháp giới.

Chẳng đắm vào cái vui của sắc giới, chẳng đắm vào cái khổ của sắc giới; chẳng đắm vào cái vui của thanh, hương, vị, xúc, pháp giới, chẳng đắm vào cái khổ của thanh, hương, vị, xúc, pháp giới.

Chẳng đắm vào cái ngã của sắc giới, chẳng đắm vào cái vô ngã của sắc giới; chẳng đắm vào cái ngã của thanh, hương, vị, xúc, pháp giới, chẳng đắm vào cái vô ngã của thanh, hương, vị, xúc, pháp giới.

Chẳng đắm vào cái tịch tịnh của sắc giới, chẳng đắm vào cái chẳng tịch tịnh của sắc giới; chẳng đắm vào cái tịch tịnh của thanh, hương, vị, xúc, pháp giới, chẳng đắm vào cái chẳng tịch tịnh của thanh, hương, vị, xúc, pháp giới.

Chẳng đắm vào cái không của sắc giới, chẳng đắm vào cái chẳng không của sắc giới; chẳng đắm vào cái không của thanh, hương, vị, xúc, pháp giới, chẳng đắm vào cái chẳng không của thanh, hương, vị, xúc, pháp giới.

Chẳng đắm vào cái vô tướng của sắc giới, chẳng đắm vào cái hữu tướng của sắc giới; chẳng đắm vào cái vô tướng của thanh, hương, vị, xúc, pháp giới, chẳng đắm vào cái hữu tướng của thanh, hương, vị, xúc, pháp giới.

Chẳng đắm vào cái vô nguyện của sắc giới, chẳng đắm vào cái hữu nguyện của sắc giới; chẳng đắm vào cái vô nguyện của thanh, hương, vị, xúc, pháp giới, chẳng đắm vào cái hữu nguyện của thanh, hương, vị, xúc, pháp giới.

Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, vì cùng tương ưng với các pháp như vậy, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Lại nữa, Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng đắm vào cái có của nhãn thức giới, chẳng đắm vào cái chẳng phải có của nhãn thức giới; chẳng đắm vào cái có của nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý thức giới, chẳng đắm vào cái chẳng phải có của nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý thức giới.

Chẳng đắm vào cái thường của nhãn thức giới, chẳng đắm vào cái vô thường của nhãn thức giới; chẳng đắm vào cái thường của nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý thức giới, chẳng đắm vào cái vô thường của nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý thức giới.

Chẳng đắm vào cái vui của nhãn thức giới, chẳng đắm vào cái khổ của nhãn thức giới; chẳng đắm vào cái vui của nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý thức giới, chẳng đắm vào cái khổ của nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý thức giới.

Chẳng đắm vào cái ngã của nhãn thức giới, chẳng đắm vào cái vô ngã của nhãn thức giới; chẳng đắm vào cái ngã của nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý thức giới, chẳng đắm vào cái vô ngã của nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý thức giới.

Chẳng đắm vào cái tịch tịnh của nhãn thức giới, chẳng đắm vào cái chẳng tịch tịnh của nhãn thức giới; chẳng đắm vào cái tịch tịnh của nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý thức giới, chẳng đắm vào cái chẳng tịch tịnh của nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý thức giới.

Chẳng đắm vào cái không của nhãn thức giới, chẳng đắm vào cái chẳng không của nhãn thức giới; chẳng đắm vào cái không của nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý thức giới, chẳng đắm vào cái chẳng không của nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý thức giới.

Chẳng đắm vào cái vô tướng của nhãn thức giới, chẳng đắm vào cái hữu tướng nhãn thức giới; chẳng đắm vào cái vô tướng của nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý thức giới, chẳng đắm vào cái hữu tướng của nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý thức giới.

Chẳng đắm vào cái vô nguyện của nhãn thức giới, chẳng đắm vào cái hữu nguyện của nhãn thức giới; chẳng đắm vào cái vô nguyện của nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý thức giới, chẳng đắm vào cái hữu nguyện của nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý thức giới.

Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, vì cùng tương ưng với các pháp như vậy, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Lại nữa, Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng đắm vào cái có của nhãn xúc, chẳng đắm vào cái chẳng phải có của nhãn xúc; chẳng đắm vào cái có của nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc, chẳng đắm vào cái chẳng phải có của nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc.

Chẳng đắm vào cái thường của nhãn xúc, chẳng đắm vào cái vô thường của nhãn xúc; chẳng đắm vào cái thường của nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc, chẳng đắm vào cái vô thường của nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc.

Chẳng đắm vào cái vui của nhãn xúc, chẳng đắm vào cái khổ  của nhãn xúc; chẳng đắm vào cái vui của nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc, chẳng đắm vào cái khổ  của nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc.

Chẳng đắm vào cái ngã của nhãn xúc, chẳng đắm vào cái vô ngã của nhãn xúc; chẳng đắm vào cái ngã của nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc, chẳng đắm vào cái vô ngã của nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc.

Chẳng đắm vào cái tịch tịnh của nhãn xúc, chẳng đắm vào cái chẳng tịch tịnh của nhãn xúc; chẳng đắm vào cái tịch tịnh của nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc, chẳng đắm vào cái chẳng tịch tịnh của nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc.

Chẳng đắm vào cái không của nhãn xúc, chẳng đắm vào cái chẳng không của nhãn xúc; chẳng đắm vào cái không của nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc, chẳng đắm vào cái chẳng không của nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc.

Chẳng đắm vào cái vô tướng của nhãn xúc, chẳng đắm vào cái hữu tướng của nhãn xúc; chẳng đắm vào cái vô tướng của nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc, chẳng đắm vào cái hữu tướng của nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc.

Chẳng đắm vào cái vô nguyện  của nhãn xúc, chẳng đắm vào cái hữu nguyện của nhãn xúc; chẳng đắm vào cái vô nguyện  của nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc, chẳng đắm vào cái hữu nguyện của nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc.

Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, vì cùng tương ưng với các pháp như vậy, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Lại nữa, Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng đắm vào cái có của các thọ do nhãn xúc làm duyên sanh ra, chẳng đắm vào cái chẳng phải có của các thọ do nhãn xúc làm duyên sanh ra; chẳng đắm vào cái có của các thọ do nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc làm duyên sanh ra, chẳng đắm vào cái chẳng phải có của các thọ do nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc làm duyên sanh ra.

Chẳng đắm vào cái thường của các thọ do nhãn xúc làm duyên sanh ra, chẳng đắm vào cái vô thường của các thọ do nhãn xúc làm duyên sanh ra; chẳng đắm vào cái thường của các thọ do nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc làm duyên sanh ra, chẳng đắm vào cái vô thường của các thọ do nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc làm duyên sanh ra.

Chẳng đắm vào cái vui của các thọ do nhãn xúc làm duyên sanh ra, chẳng đắm vào cái khổ của các thọ do nhãn xúc làm duyên sanh ra; chẳng đắm vào cái vui của các thọ do nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc làm duyên sanh ra, chẳng đắm vào cái khổ  của các thọ do nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc làm duyên sanh ra.

Chẳng đắm vào cái ngã của các thọ do nhãn xúc làm duyên sanh ra, chẳng đắm vào cái vô ngã của các thọ do nhãn xúc làm duyên sanh ra; chẳng đắm vào cái ngã của các thọ do nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc làm duyên sanh ra, chẳng đắm vào cái vô ngã của các thọ do nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc làm duyên sanh ra.

Chẳng đắm vào cái tịch tịnh của các thọ do nhãn xúc làm duyên sanh ra, chẳng đắm vào cái chẳng tịch tịnh của các thọ do nhãn xúc làm duyên sanh ra; chẳng đắm vào cái tịch tịnh của các thọ do nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc làm duyên sanh ra, chẳng đắm vào cái chẳng tịch tịnh của các thọ do nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc làm duyên sanh ra.

Chẳng đắm vào cái không của các thọ do nhãn xúc làm duyên sanh ra, chẳng đắm vào cái chẳng không của các thọ do nhãn xúc làm duyên sanh ra; chẳng đắm vào cái không của các thọ do nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc làm duyên sanh ra, chẳng đắm vào cái chẳng không của các thọ do nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc làm duyên sanh ra.

Chẳng đắm vào cái vô tướng của các thọ do nhãn xúc làm duyên sanh ra, chẳng đắm vào cái hữu tướng của các thọ do nhãn xúc làm duyên sanh ra; chẳng đắm vào cái vô tướng của các thọ do nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc làm duyên sanh ra, chẳng đắm vào cái hữu tướng của các thọ do nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc làm duyên sanh ra.

Chẳng đắm vào cái vô nguyện của các thọ do nhãn xúc làm duyên sanh ra, chẳng đắm vào cái hữu nguyện của các thọ do nhãn xúc làm duyên sanh ra; chẳng đắm vào cái vô nguyện  của các thọ do nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc làm duyên sanh ra, chẳng đắm vào cái hữu nguyện của các thọ do nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc làm duyên sanh ra.

Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, vì cùng tương ưng với các pháp như vậy, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Lại nữa, Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng đắm vào cái có của địa giới, chẳng đắm vào cái chẳng phải có của địa giới; chẳng đắm vào cái có của thủy, hỏa, phong, không, thức giới, chẳng đắm vào cái chẳng phải có của thủy, hỏa, phong, không, thức giới;

Chẳng đắm vào cái thường của địa giới, chẳng đắm vào cái vô thường của địa giới; chẳng đắm vào cái thường của thủy, hỏa, phong, không, thức giới, chẳng đắm vào cái vô thường của thủy, hỏa, phong, không, thức giới.

Chẳng đắm vào cái vui của địa giới, chẳng đắm vào cái khổ  của địa giới; chẳng đắm vào cái vui của thủy, hỏa, phong, không, thức giới, chẳng đắm vào cái khổ của thủy, hỏa, phong, không, thức giới.

Chẳng đắm vào cái ngã của địa giới, chẳng đắm vào cái vô ngã của địa giới; chẳng đắm vào cái ngã của thủy, hỏa, phong, không, thức giới, chẳng đắm vào cái vô ngã của thủy, hỏa, phong, không, thức giới.

Chẳng đắm vào cái tịch tịnh của địa giới, chẳng đắm vào cái chẳng tịch tịnh của địa giới; chẳng đắm vào cái tịch tịnh của thủy, hỏa, phong, không, thức giới, chẳng đắm vào cái chẳng tịch tịnh của thủy, hỏa, phong, không, thức giới.

Chẳng đắm vào cái không của địa giới, chẳng đắm vào cái chẳng không của địa giới; chẳng đắm vào cái không của thủy, hỏa, phong, không, thức giới, chẳng đắm vào cái chẳng không của thủy, hỏa, phong, không, thức giới.

Chẳng đắm vào cái vô tướng của địa giới, chẳng đắm vào cái hữu tướng của địa giới; chẳng đắm vào cái vô tướng của thủy, hỏa, phong, không, thức giới, chẳng đắm vào cái hữu tướng của thủy, hỏa, phong, không, thức giới.

Chẳng đắm vào cái vô nguyện của địa giới, chẳng đắm vào cái hữu nguyện của địa giới; chẳng đắm vào cái vô nguyện  của thủy, hỏa, phong, không, thức giới, chẳng đắm vào cái hữu nguyện của thủy, hỏa, phong, không, thức giới.

Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, vì cùng tương ưng với các pháp như vậy, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Lại nữa, Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng đắm vào cái có của nhân duyên, chẳng đắm vào cái chẳng phải có của nhân duyên; chẳng đắm vào cái có của các pháp do đẳng vô gián duyên, sở duyên duyên, tăng thượng duyên và các duyên khác sanh ra, chẳng đắm vào cái chẳng phải có của các pháp do đẳng vô gián duyên, sở duyên duyên, tăng thượng duyên và các duyên khác sanh ra.

Chẳng đắm vào cái thường của nhân duyên, chẳng đắm vào cái vô thường của nhân duyên; chẳng đắm vào cái thường của các pháp do đẳng vô gián duyên, sở duyên duyên, tăng thượng duyên và các duyên khác sanh ra, chẳng đắm vào cái vô thường của các pháp do đẳng vô gián duyên, sở duyên duyên, tăng thượng duyên và các duyên khác sanh ra.

Chẳng đắm vào cái vui của nhân duyên, chẳng đắm vào cái khổ  của nhân duyên; chẳng đắm vào cái vui của các pháp do đẳng vô gián duyên, sở duyên duyên, tăng thượng duyên và các duyên khác sanh ra; chẳng đắm vào cái khổ  của các pháp do đẳng vô gián duyên, sở duyên duyên, tăng thượng duyên và các duyên khác sanh ra.

Chẳng đắm vào cái ngã của nhân duyên, chẳng đắm vào cái vô ngã của nhân duyên; chẳng đắm vào cái ngã của các pháp do đẳng vô gián duyên, sở duyên duyên, tăng thượng duyên và các duyên khác sanh ra, chẳng đắm vào cái vô ngã của các pháp do đẳng vô gián duyên, sở duyên duyên, tăng thượng duyên và các duyên khác sanh ra.

Chẳng đắm vào cái tịch tịnh của nhân duyên, chẳng đắm vào cái chẳng tịch tịnh của nhân duyên; chẳng đắm vào cái tịch tịnh của các pháp do đẳng vô gián duyên, sở duyên duyên, tăng thượng duyên và các duyên khác sanh ra, chẳng đắm vào cái chẳng tịch tịnh của các pháp do đẳng vô gián duyên, sở duyên duyên, tăng thượng duyên và các duyên khác sanh ra.

Chẳng đắm vào cái không của nhân duyên, chẳng đắm vào cái chẳng không của nhân duyên; chẳng đắm vào cái không của các pháp do đẳng vô gián duyên, sở duyên duyên, tăng thượng duyên và các duyên khác sanh ra, chẳng đắm vào cái chẳng không của các pháp do đẳng vô gián duyên, sở duyên duyên, tăng thượng duyên và các duyên khác sanh ra.

Chẳng đắm vào cái vô tướng của nhân duyên, chẳng đắm vào cái hữu tướng của nhân duyên; chẳng đắm vào cái vô tướng của các pháp do đẳng vô gián duyên, sở duyên duyên, tăng thượng duyên và các duyên khác sanh ra, chẳng đắm vào cái hữu tướng của các pháp do đẳng vô gián duyên, sở duyên duyên, tăng thượng duyên và các duyên khác sanh ra.

Chẳng đắm vào cái vô nguyện  của nhân duyên, chẳng đắm vào cái hữu nguyện của nhân duyên; chẳng đắm vào cái vô nguyện  của các pháp do đẳng vô gián duyên, sở duyên duyên, tăng thượng duyên và các duyên khác sanh ra, chẳng đắm vào cái hữu nguyện của các pháp do đẳng vô gián duyên, sở duyên duyên, tăng thượng duyên và các duyên khác sanh ra.

Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, vì cùng tương ưng với các pháp như vậy, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Lại nữa, Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa chẳng đắm vào cái có của vô minh, chẳng đắm vào cái chẳng phải có của vô minh; chẳng đắm vào cái có của hành, thức, danh sắc, lục xứ, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sanh, lão tử, sầu, than, khổ, lo, phiền, chẳng đắm vào cái chẳng phải có của hành cho đến lão tử, sầu, than, khổ, lo, phiền.

Chẳng đắm vào cái thường của vô minh, chẳng đắm vào cái vô thường của vô minh; chẳng đắm vào cái thường của hành cho đến lão tử, sầu, than, khổ, lo, phiền, chẳng đắm vào cái vô thường của hành cho đến lão tử, sầu, than, khổ, lo, phiền.

Chẳng đắm vào cái vui của vô minh, chẳng đắm vào cái khổ  của vô minh; chẳng đắm vào cái vui của hành cho đến lão tử, sầu, than, khổ, lo, phiền, chẳng đắm vào cái khổ  của hành cho đến lão tử, sầu, than, khổ, lo, phiền.

Chẳng đắm vào cái ngã của vô minh, chẳng đắm vào cái vô ngã của vô minh; chẳng đắm vào cái ngã của hành cho đến lão tử, sầu, than, khổ, lo, phiền, chẳng đắm vào cái vô ngã của hành cho đến lão tử, sầu, than, khổ, lo, phiền.

Chẳng đắm vào cái tịch tịnh của vô minh, chẳng đắm vào cái chẳng tịch tịnh của vô minh; chẳng đắm vào cái tịch tịnh của hành cho đến lão tử, sầu, than, khổ, lo, phiền, chẳng đắm vào cái chẳng tịch tịnh của hành cho đến lão tử, sầu, than, khổ, lo, phiền.

Chẳng đắm vào cái không của vô minh, chẳng đắm vào cái chẳng không của vô minh; chẳng đắm vào cái không của hành cho đến lão tử, sầu, than, khổ, lo, phiền, chẳng đắm vào cái chẳng không của hành cho đến lão tử, sầu, than, khổ, lo, phiền.

Chẳng đắm vào cái vô tướng của vô minh, chẳng đắm vào cái hữu tướng của vô minh; chẳng đắm vào cái vô tướng của hành cho đến lão tử, sầu, than, khổ, lo, phiền, chẳng đắm vào cái hữu tướng của hành cho đến lão tử, sầu, than, khổ, lo, phiền.

Chẳng đắm vào cái vô nguyện  của vô minh, chẳng đắm vào cái hữu nguyện của vô minh; chẳng đắm vào cái vô nguyện  của hành cho đến lão tử sầu, than, khổ, lo, phiền, chẳng đắm vào cái hữu nguyện của hành cho đến lão tử, sầu, than, khổ, lo, phiền.

Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, vì cùng tương ưng với các pháp như vậy, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Lại nữa, Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng đắm vào cái có của bố thí Ba-la-mật-đa, chẳng đắm vào cái chẳng phải có của bố thí Ba-la-mật-đa; chẳng đắm vào cái có của tịnh giới, an nhẫn, tinh tiến, tịnh lự, Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng đắm vào cái chẳng phải có của tịnh giới, an nhẫn, tinh tiến, tịnh lự, Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Chẳng đắm vào cái thường của bố thí Ba-la-mật-đa, chẳng đắm vào cái vô thường của bố thí Ba-la-mật-đa; chẳng đắm vào cái thường của tịnh giới, an nhẫn, tinh tiến, tịnh lự, Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng đắm vào cái vô thường của tịnh giới, an nhẫn, tinh tiến, tịnh lự, Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Chẳng đắm vào cái vui của bố thí Ba-la-mật-đa, chẳng đắm vào cái khổ  của bố thí Ba-la-mật-đa; chẳng đắm vào cái vui của tịnh giới, an nhẫn, tinh tiến, tịnh lự, Bát-nhã-ba-la-mật-đa lạc, chẳng đắm vào cái khổ  của tịnh giới, an nhẫn, tinh tiến, tịnh lự, Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Chẳng đắm vào cái ngã của bố thí Ba-la-mật-đa, chẳng đắm vào cái vô ngã của bố thí Ba-la-mật-đa; chẳng đắm vào cái ngã của tịnh giới, an nhẫn, tinh tiến, tịnh lự, Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng đắm vào cái vô ngã của tịnh giới, an nhẫn, tinh tiến, tịnh lự, Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Chẳng đắm vào cái tịch tịnh của bố thí Ba-la-mật-đa, chẳng đắm vào cái chẳng tịch tịnh của bố thí Ba-la-mật-đa; chẳng đắm vào cái tịch tịnh của tịnh giới, an nhẫn, tinh tiến, tịnh lự, Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng đắm vào cái chẳng tịch tịnh của tịnh giới, an nhẫn, tinh tiến, tịnh lự, Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Chẳng đắm vào cái không của bố thí Ba-la-mật-đa, chẳng đắm vào cái chẳng không của bố thí Ba-la-mật-đa; chẳng đắm vào cái không của tịnh giới, an nhẫn, tinh tiến, tịnh lự, Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng đắm vào cái chẳng không của tịnh giới, an nhẫn, tinh tiến, tịnh lự, Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Chẳng đắm vào cái vô tướng của bố thí Ba-la-mật-đa, chẳng đắm vào cái hữu tướng của bố thí Ba-la-mật-đa; chẳng đắm vào cái vô tướng của tịnh giới, an nhẫn, tinh tiến, tịnh lự, Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng đắm vào cái hữu tướng của tịnh giới, an nhẫn, tinh tiến, tịnh lự, Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Chẳng đắm vào cái vô nguyện  của bố thí Ba-la-mật-đa, chẳng đắm vào cái hữu nguyện của bố thí Ba-la-mật-đa; chẳng đắm vào cái vô nguyện  của tịnh giới, an nhẫn, tinh tiến, tịnh lự, Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng đắm vào cái hữu nguyện của tịnh giới, an nhẫn, tinh tiến, tịnh lự, Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, vì cùng tương ưng với các pháp như vậy, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Lại nữa, Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng đắm vào cái có của cái không nội, chẳng đắm vào cái chẳng phải có của cái không nội; chẳng đắm vào cái có của cái không ngoại, cái không nội ngoại, cái không không, cái không lớn, cái không thắng nghĩa, cái không hữu vi, cái không vô vi, cái không rốt ráo, cái không không biên giới, cái không tản mạn, cái không không đổi khác, cái không bổn tánh, cái không tự tướng, cái không cộng tướng, cái không tất cả pháp, cái không không thể nắm bắt được, cái không không tánh, cái không tự tánh, cái không không tánh tự tánh, chẳng đắm vào cái chẳng phải có của cái không ngoại cho đến cái không không tánh tự tánh.

Chẳng đắm vào cái thường của cái không nội, chẳng đắm vào cái vô thường của cái không nội; chẳng đắm vào cái thường của cái không ngoại cho đến cái không không tánh tự tánh; chẳng đắm vào cái vô thường của cái không ngoại cho đến cái không không tánh tự tánh.

Chẳng đắm vào cái vui của cái không nội, chẳng đắm vào cái khổ  của cái không nội; chẳng đắm vào cái vui của cái không ngoại cho đến cái không không tánh tự tánh, chẳng đắm vào cái khổ  của cái không ngoại cho đến cái không không tánh tự tánh.

Chẳng đắm vào cái ngã của cái không nội, chẳng đắm vào cái vô ngã của cái không nội; chẳng đắm vào cái ngã của cái không ngoại cho đến cái không không tánh tự tánh, chẳng đắm vào cái vô ngã của cái không ngoại cho đến cái không không tánh tự tánh.

Chẳng đắm vào cái tịch tịnh của cái không nội, chẳng đắm vào cái chẳng tịch tịnh của cái không nội; chẳng đắm vào cái tịch tịnh của cái không ngoại cho đến cái không không tánh tự tánh, chẳng đắm vào cái chẳng tịch tịnh của cái không ngoại cho đến cái không không tánh tự tánh.

Chẳng đắm vào cái không của cái không nội, chẳng đắm vào cái chẳng không của cái không nội; chẳng đắm vào cái không của cái không ngoại cho đến cái không không tánh tự tánh, chẳng đắm vào cái chẳng không của cái không ngoại cho đến cái không không tánh tự tánh.

Chẳng đắm vào cái vô tướng của cái không nội, chẳng đắm vào cái hữu tướng của cái không nội; chẳng đắm vào cái vô tướng cái không ngoại cho đến cái không không tánh tự tánh, chẳng đắm vào cái hữu tướng của cái không ngoại cho đến cái không không tánh tự tánh.

Chẳng đắm vào cái vô nguyện  của cái không nội, chẳng đắm vào cái hữu nguyện của cái không nội; chẳng đắm vào cái vô nguyện  của cái không ngoại cho đến cái không không tánh tự tánh, chẳng đắm vào cái hữu nguyện của cái không ngoại cho đến cái không không tánh tự tánh.

Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, vì cùng tương ưng với các pháp như vậy, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Lại nữa, Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng đắm vào cái có của chơn như, chẳng đắm vào cái chẳng phải có của chơn như; chẳng đắm vào cái có của pháp giới, pháp tánh, tánh chẳng hư vọng, tánh chẳng đổi khác, tánh bình đẳng, tánh ly sanh, định pháp, trụ pháp, thật tế, cõi hư không, cõi không thể nghĩ bàn, chẳng đắm vào cái chẳng phải có của pháp giới cho đến cõi không thể nghĩ bàn.

Chẳng đắm vào cái thường của chơn như, chẳng đắm vào cái vô thường của chơn như; chẳng đắm vào cái thường của pháp giới cho đến cõi không thể nghĩ bàn, chẳng đắm vào cái vô thường của pháp giới cho đến cõi không thể nghĩ bàn.

Chẳng đắm vào cái vui của chơn như, chẳng đắm vào cái khổ  của chơn như; chẳng đắm vào cái vui của pháp giới cho đến cõi không thể nghĩ bàn, chẳng đắm vào cái khổ  của pháp giới cho đến cõi không thể nghĩ bàn.

Chẳng đắm vào cái ngã của chơn như, chẳng đắm vào cái vô ngã của chơn như; chẳng đắm vào cái ngã của pháp giới cho đến cõi không thể nghĩ bàn, chẳng đắm vào cái vô ngã của pháp giới cho đến cõi không thể nghĩ bàn.

Chẳng đắm vào cái tịch tịnh của chơn như, chẳng đắm vào cái chẳng tịch tịnh của chơn như; chẳng đắm vào cái tịch tịnh của pháp giới cho đến cõi không thể nghĩ bàn, chẳng đắm vào cái chẳng tịch tịnh của pháp giới cho đến cõi không thể nghĩ bàn.

Chẳng đắm vào cái không của chơn như, chẳng đắm vào cái chẳng không của chơn như; chẳng đắm vào cái không của pháp giới cho đến cõi không thể nghĩ bàn, chẳng đắm vào cái chẳng không của pháp giới cho đến cõi không thể nghĩ bàn.

Chẳng đắm vào cái vô tướng của chơn như, chẳng đắm vào cái hữu tướng của chơn như; chẳng đắm vào cái vô tướng của pháp giới cho đến cõi không thể nghĩ bàn, chẳng đắm vào cái hữu tướng của pháp giới cho đến cõi không thể nghĩ bàn.

Chẳng đắm vào cái vô nguyện  của chơn như, chẳng đắm vào cái hữu nguyện của chơn như; chẳng đắm vào cái vô nguyện  của pháp giới cho đến cõi không thể nghĩ bàn, chẳng đắm vào cái hữu nguyện của pháp giới cho đến cõi không thể nghĩ bàn.

Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, vì cùng tương ưng với các pháp như vậy, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Lại nữa, Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng đắm vào cái có của bốn niệm trụ, chẳng đắm vào cái chẳng phải có của bốn niệm trụ; chẳng đắm vào cái có của bốn chánh đoạn, bốn thần túc, năm căn, năm lực, bảy chi đẳng giác, tám chi thánh đạo, chẳng đắm vào cái chẳng phải có của bốn chánh đoạn cho đến tám chi thánh đạo.

Chẳng đắm vào cái thường của bốn niệm trụ, chẳng đắm vào cái vô thường của bốn niệm trụ; chẳng đắm vào cái thường của bốn chánh đoạn cho đến tám chi thánh đạo, chẳng đắm vào cái vô thường của bốn chánh đoạn cho đến tám chi thánh đạo.

Chẳng đắm vào cái vui của bốn niệm trụ, chẳng đắm vào cái khổ  của bốn niệm trụ; chẳng đắm vào cái vui của bốn chánh đoạn cho đến tám chi thánh đạo, chẳng đắm vào cái khổ  của bốn chánh đoạn cho đến tám chi thánh đạo.

Chẳng đắm vào cái ngã của bốn niệm trụ, chẳng đắm vào cái vô ngã của bốn niệm trụ; chẳng đắm vào cái ngã của bốn chánh đoạn cho đến tám chi thánh đạo, chẳng đắm vào cái vô ngã của bốn chánh đoạn cho đến tám chi thánh đạo.

Chẳng đắm vào cái tịch tịnh của bốn niệm trụ, chẳng đắm vào cái chẳng tịch tịnh của bốn niệm trụ; chẳng đắm vào cái tịch tịnh của bốn chánh đoạn cho đến tám chi thánh đạo, chẳng đắm vào cái chẳng tịch tịnh của bốn chánh đoạn cho đến tám chi thánh đạo.

Chẳng đắm vào cái không của bốn niệm trụ, chẳng đắm vào cái chẳng không của bốn niệm trụ; chẳng đắm vào cái không của bốn chánh đoạn cho đến tám chi thánh đạo, chẳng đắm vào cái chẳng không của bốn chánh đoạn cho đến tám chi thánh đạo.

Chẳng đắm vào cái vô tướng của bốn niệm trụ, chẳng đắm vào cái hữu tướng của bốn niệm trụ; chẳng đắm vào cái vô tướng của bốn chánh đoạn cho đến tám chi thánh đạo, chẳng đắm vào cái hữu tướng của bốn chánh đoạn cho đến tám chi thánh đạo.

Chẳng đắm vào cái vô nguyện  của bốn niệm trụ, chẳng đắm vào cái hữu nguyện của bốn niệm trụ; chẳng đắm vào cái vô nguyện  của bốn chánh đoạn cho đến tám chi thánh đạo, chẳng đắm vào cái hữu nguyện của bốn chánh đoạn cho đến tám chi thánh đạo.

Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, vì cùng tương ưng với các pháp như vậy, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Lại nữa, Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng đắm vào cái có của thánh đế khổ, chẳng đắm vào cái chẳng phải có của thánh đế khổ; chẳng đắm vào cái có của thánh đế tập, diệt, đạo, chẳng đắm vào cái chẳng phải có của thánh đế tập, diệt, đạo.

Chẳng đắm vào cái thường của thánh đế khổ, chẳng đắm vào cái vô thường của thánh đế khổ; chẳng đắm vào cái thường của thánh đế tập, diệt, đạo, chẳng đắm vào cái vô thường của thánh đế tập, diệt, đạo.

Chẳng đắm vào cái vui của thánh đế khổ, chẳng đắm vào cái khổ của thánh đế khổ; chẳng đắm vào cái vui của thánh đế tập, diệt, đạo, chẳng đắm vào cái khổ của thánh đế tập, diệt, đạo.

Chẳng đắm vào cái ngã của thánh đế khổ, chẳng đắm vào cái vô ngã của thánh đế khổ; chẳng đắm vào cái ngã của thánh đế tập, diệt, đạo, chẳng đắm vào cái vô ngã của thánh đế tập, diệt, đạo.

Chẳng đắm vào cái tịch tịnh của thánh đế khổ, chẳng đắm vào cái chẳng tịch tịnh của thánh đế khổ; chẳng đắm vào cái tịch tịnh của thánh đế tập, diệt, đạo, chẳng đắm vào cái chẳng tịch tịnh của thánh đế tập, diệt, đạo.

Chẳng đắm vào cái không của thánh đế khổ, chẳng đắm vào cái chẳng không của thánh đế khổ; chẳng đắm vào cái không của thánh đế tập, diệt, đạo, chẳng đắm vào cái chẳng không của thánh đế tập, diệt, đạo.

Chẳng đắm vào cái vô tướng của thánh đế khổ, chẳng đắm vào cái hữu tướng của thánh đế khổ; chẳng đắm vào cái vô tướng của thánh đế tập, diệt, đạo, chẳng đắm vào cái hữu tướng của thánh đế tập, diệt, đạo.

Chẳng đắm vào cái vô nguyện  của thánh đế khổ, chẳng đắm vào cái hữu nguyện của thánh đế khổ; chẳng đắm vào cái vô nguyện  của thánh đế tập, diệt, đạo, chẳng đắm vào cái hữu nguyện của thánh đế tập, diệt, đạo.

Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, vì cùng tương ưng với các pháp như vậy, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Lại nữa, Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng đắm vào cái có của bốn tịnh lự, chẳng đắm vào cái chẳng phải có của bốn tịnh lự; chẳng đắm vào cái có của bốn vô lượng, bốn định vô sắc, chẳng đắm vào cái chẳng phải có của bốn vô lượng, bốn định vô sắc.

Chẳng đắm vào cái thường của bốn tịnh lự, chẳng đắm vào cái vô thường của bốn tịnh lự; chẳng đắm vào cái thường của bốn vô lượng, bốn định vô sắc, chẳng đắm vào cái vô thường của bốn vô lượng, bốn định vô sắc.

Chẳng đắm vào cái vui của bốn tịnh lự, chẳng đắm vào cái khổ của bốn tịnh lự; chẳng đắm vào cái vui của bốn vô lượng, bốn định vô sắc, chẳng đắm vào cái khổ của bốn vô lượng, bốn định vô sắc.

Chẳng đắm vào cái ngã của bốn tịnh lự, chẳng đắm vào cái vô ngã của bốn tịnh lự; chẳng đắm vào cái ngã của bốn vô lượng, bốn định vô sắc, chẳng đắm vào cái vô ngã của bốn vô lượng, bốn định vô sắc.

Chẳng đắm vào cái tịch tịnh của bốn tịnh lự, chẳng đắm vào cái chẳng tịch tịnh của bốn tịnh lự; chẳng đắm vào cái tịch tịnh của bốn vô lượng, bốn định vô sắc, chẳng đắm vào cái chẳng tịch tịnh của bốn vô lượng, bốn định vô sắc.

Chẳng đắm vào cái không của bốn tịnh lự, chẳng đắm vào cái chẳng không của bốn tịnh lự; chẳng đắm vào cái không của bốn vô lượng, bốn định vô sắc, chẳng đắm vào cái chẳng không của bốn vô lượng, bốn định vô sắc.

Chẳng đắm vào cái vô tướng của bốn tịnh lự, chẳng đắm vào cái hữu tướng của bốn tịnh lự; chẳng đắm vào cái vô tướng của bốn vô lượng, bốn định vô sắc, chẳng đắm vào cái hữu tướng của bốn vô lượng, bốn định vô sắc.

Chẳng đắm vào cái vô nguyện  của bốn tịnh lự, chẳng đắm vào cái hữu nguyện của bốn tịnh lự; chẳng đắm vào cái vô nguyện  của bốn vô lượng, bốn định vô sắc, chẳng đắm vào cái hữu nguyện của bốn vô lượng, bốn định vô sắc.

Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, vì cùng tương ưng với các pháp như vậy, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Lại nữa, Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng đắm vào cái có của tám giải thoát, chẳng đắm vào cái chẳng phải có của tám giải thoát; chẳng đắm vào cái có của tám thắng xứ, chín định thứ đệ, mười biến xứ, chẳng đắm vào cái chẳng phải có của tám thắng xứ, chín định thứ đệ, mười biến xứ.

Chẳng đắm vào cái thường của tám giải thoát, chẳng đắm vào cái vô thường của tám giải thoát; chẳng đắm vào cái thường của tám thắng xứ, chín định thứ đệ, mười biến xứ, chẳng đắm vào cái vô thường của tám thắng xứ, chín định thứ đệ, mười biến xứ.

Chẳng đắm vào cái vui của tám giải thoát, chẳng đắm vào cái khổ của tám giải thoát; chẳng đắm vào cái vui của tám thắng xứ, chín định thứ đệ, mười biến xứ, chẳng đắm vào cái khổ của tám thắng xứ, chín định thứ đệ, mười biến xứ.

Chẳng đắm vào cái ngã của tám giải thoát, chẳng đắm vào cái vô ngã của tám giải thoát; chẳng đắm vào cái ngã của tám thắng xứ, chín định thứ đệ, mười biến xứ, chẳng đắm vào cái vô ngã của tám thắng xứ, chín định thứ đệ, mười biến xứ.

Chẳng đắm vào cái tịch tịnh của tám giải thoát, chẳng đắm vào cái chẳng tịch tịnh của tám giải thoát; chẳng đắm vào cái tịch tịnh của tám thắng xứ, chín định thứ đệ, mười biến xứ, chẳng đắm vào cái chẳng tịch tịnh của tám thắng xứ, chín định thứ đệ, mười biến xứ.

Chẳng đắm vào cái không của tám giải thoát, chẳng đắm vào cái chẳng không của tám giải thoát; chẳng đắm vào cái không của tám thắng xứ, chín định thứ đệ, mười biến xứ, chẳng đắm vào cái chẳng không của tám thắng xứ, chín định thứ đế, mười biến xứ.

Chẳng đắm vào cái vô tướng của tám giải thoát, chẳng đắm vào cái hữu tướng của tám giải thoát; chẳng đắm vào cái vô tướng của tám thắng xứ, chín định thứ đệ, mười biến xứ, chẳng đắm vào cái hữu tướng của tám thắng xứ, chín định thứ đệ, mười biến xứ.

Chẳng đắm vào cái vô nguyện  của tám giải thoát, chẳng đắm vào cái hữu nguyện của tám giải thoát; chẳng đắm vào cái vô nguyện  của tám thắng xứ, chín định thứ đệ, mười biến xứ, chẳng đắm vào cái hữu nguyện của tám thắng xứ, chín định thứ đệ, mười biến xứ.

Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, vì cùng tương ưng với các pháp như vậy, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Lại nữa, Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng đắm vào cái có của pháp môn giải thoát không, chẳng đắm vào cái chẳng phải có của pháp môn giải thoát không; chẳng đắm vào cái có của pháp môn giải thoát vô tướng, vô nguyện, chẳng đắm vào cái chẳng phải có của pháp môn giải thoát vô tướng, vô nguyện.

Chẳng đắm vào cái thường của pháp môn giải thoát không, chẳng đắm vào cái vô thường của pháp môn giải thoát không; chẳng đắm vào cái thường của pháp môn giải thoát vô tướng, vô nguyện, chẳng đắm vào cái vô thường của pháp môn giải thoát vô tướng, vô nguyện.

Chẳng đắm vào cái vui của pháp môn giải thoát không, chẳng đắm vào cái khổ của pháp môn giải thoát không; chẳng đắm vào cái vui của pháp môn giải thoát vô tướng, vô nguyện, chẳng đắm vào cái khổ của pháp môn giải thoát vô tướng, vô nguyện.

Chẳng đắm vào cái ngã của pháp môn giải thoát không, chẳng đắm vào cái vô ngã của pháp môn giải thoát không; chẳng đắm vào cái ngã của pháp môn giải thoát vô tướng, vô nguyện, chẳng đắm vào cái vô ngã của pháp môn giải thoát vô tướng, vô nguyện.

Chẳng đắm vào cái tịch tịnh của pháp môn giải thoát không, chẳng đắm vào cái chẳng tịch tịnh của pháp môn giải thoát không; chẳng đắm vào cái tịch tịnh của pháp môn giải thoát vô tướng, vô nguyện, chẳng đắm vào cái chẳng tịch tịnh của pháp môn giải thoát vô tướng, vô nguyện.

Chẳng đắm vào cái không của pháp môn giải thoát không, chẳng đắm vào cái chẳng không của pháp môn giải thoát không; chẳng đắm vào cái không của pháp môn giải thoát vô tướng, vô nguyện, chẳng đắm vào cái chẳng không của pháp môn giải thoát vô tướng, vô nguyện.

Chẳng đắm vào cái vô tướng của pháp môn giải thoát không, chẳng đắm vào cái hữu tướng của pháp môn giải thoát không; chẳng đắm vào cái vô tướng của pháp môn giải thoát vô tướng, vô nguyện, chẳng đắm vào cái hữu tướng của pháp môn giải thoát vô tướng, vô nguyện.

Chẳng đắm vào cái vô nguyện của pháp môn giải thoát không, chẳng đắm vào cái hữu nguyện của pháp môn giải thoát không; chẳng đắm vào cái vô nguyện của pháp môn giải thoát vô tướng, vô nguyện, chẳng đắm vào cái hữu nguyện của pháp môn giải thoát vô tướng, vô nguyện.

Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, vì cùng tương ưng với các pháp như vậy, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Lại nữa, Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng đắm vào cái có của tất cả pháp môn Đà-la-ni, chẳng đắm vào cái chẳng phải có của tất cả pháp môn Đà-la-ni; chẳng đắm vào cái có của tất cả pháp môn Tam-ma-địa, chẳng đắm vào cái chẳng phải có của tất cả pháp môn Tam-ma-địa.

Chẳng đắm vào cái thường của tất cả pháp môn Đà-la-ni, chẳng đắm vào cái vô thường của tất cả pháp môn Đà-la-ni; chẳng đắm vào cái thường của tất cả pháp môn Tam-ma-địa, chẳng đắm vào cái vô thường của tất cả pháp môn Tam-ma-địa.

Chẳng đắm vào cái vui của tất cả pháp môn Đà-la-ni, chẳng đắm vào cái khổ của tất cả pháp môn Đà-la-ni; chẳng đắm vào cái vui của tất cả pháp môn Tam-ma-địa, chẳng đắm vào cái khổ của tất cả pháp môn Tam-ma-địa.

Chẳng đắm vào cái ngã của tất cả pháp môn Đà-la-ni, chẳng đắm vào cái vô ngã của tất cả pháp môn Đà-la-ni; chẳng đắm vào cái ngã của tất cả pháp môn Tam-ma-địa, chẳng đắm vào cái vô ngã của tất cả pháp môn Tam-ma-địa.

Chẳng đắm vào cái tịch tịnh của tất cả pháp môn Đà-la-ni, chẳng đắm vào cái chẳng tịch tịnh của tất cả pháp môn Đà-la-ni; chẳng đắm vào cái tịch tịnh của tất cả pháp môn Tam-ma-địa, chẳng đắm vào cái chẳng tịch tịnh của tất cả pháp môn Tam-ma-địa.

Chẳng đắm vào cái không của tất cả pháp môn Đà-la-ni, chẳng đắm vào cái chẳng không của tất cả pháp môn Đà-la-ni; chẳng đắm vào cái không của tất cả pháp môn Tam-ma-địa, chẳng đắm vào cái chẳng không của tất cả pháp môn Tam-ma-địa.

Chẳng đắm vào cái vô tướng của tất cả pháp môn Đà-la-ni, chẳng đắm vào cái hữu tướng của tất cả pháp môn Đà-la-ni; chẳng đắm vào cái vô tướng của tất cả pháp môn Tam-ma-địa, chẳng đắm vào cái hữu tướng của tất cả pháp môn Tam-ma-địa.

Chẳng đắm vào cái vô nguyện của tất cả pháp môn Đà-la-ni, chẳng đắm vào cái hữu nguyện của tất cả pháp môn Đà-la-ni; chẳng đắm vào cái vô nguyện của tất cả pháp môn Tam-ma-địa, chẳng đắm vào cái hữu nguyện của tất cả pháp môn Tam-ma-địa.

Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, vì cùng tương ưng với các pháp như vậy, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Lại nữa, Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng đắm vào cái có của bậc Cực hỷ, chẳng đắm vào cái chẳng phải có của bậc Cực hỷ; chẳng đắm vào cái có của bậc Ly cấu, bậc Phát quang, bậc Diệm tuệ, bậc Cực nan thắng, bậc Hiện tiền, bậc Viễn hành, bậc Bất động, bậc Thiện tuệ, bậc Pháp vân, chẳng đắm vào cái chẳng phải có của bậc Ly cấu cho đến bậc Pháp vân.

Chẳng đắm vào cái thường của bậc Cực hỷ, chẳng đắm vào cái vô thường của bậc Cực hỷ; chẳng đắm vào cái thường của bậc Ly cấu cho đến bậc Pháp vân, chẳng đắm vào cái vô thường của bậc Ly cấu cho đến bậc Pháp vân.

Chẳng đắm vào cái vui của bậc Cực hỷ, chẳng đắm vào cái khổ của bậc Cực hỷ; chẳng đắm vào cái vui của bậc Ly cấu cho đến bậc Pháp vân, chẳng đắm vào cái khổ của bậc Ly cấu cho đến bậc Pháp vân.

Chẳng đắm vào cái ngã của bậc Cực hỷ, chẳng đắm vào cái vô ngã của bậc Cực hỷ; chẳng đắm vào cái ngã của bậc Ly cấu cho đến bậc Pháp vân, chẳng đắm vào cái vô ngã của bậc Ly cấu cho đến bậc Pháp vân.

Chẳng đắm vào cái tịch tịnh của bậc Cực hỷ, chẳng đắm vào cái chẳng tịch tịnh của bậc Cực hỷ; chẳng đắm vào cái tịch tịnh của bậc Ly cấu cho đến bậc Pháp vân, chẳng đắm vào cái chẳng tịch tịnh của bậc Ly cấu cho đến bậc Pháp vân.

Chẳng đắm vào cái không của bậc Cực hỷ, chẳng đắm vào cái chẳng không của bậc Cực hỷ; chẳng đắm vào cái không của bậc Ly cấu cho đến bậc Pháp vân, chẳng đắm vào cái chẳng không của bậc Ly cấu cho đến bậc Pháp vân.

Chẳng đắm vào cái vô tướng của bậc Cực hỷ, chẳng đắm vào cái hữu tướng của bậc Cực hỷ; chẳng đắm vào cái vô tướng của bậc Ly cấu cho đến bậc Pháp vân, chẳng đắm vào cái hữu tướng của bậc Ly cấu cho đến bậc Pháp vân.

Chẳng đắm vào cái vô nguyện của bậc Cực hỷ, chẳng đắm vào cái hữu nguyện của bậc Cực hỷ; chẳng đắm vào cái vô nguyện của bậc Ly cấu cho đến bậc Pháp vân, chẳng đắm vào cái hữu nguyện của bậc Ly cấu cho đến bậc Pháp vân.

Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, vì cùng tương ưng với các pháp như vậy, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Lại nữa, Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng đắm vào cái có của năm loại mắt, chẳng đắm vào cái chẳng phải có của năm loại mắt; chẳng đắm vào cái có của sáu phép thần thông, chẳng đắm vào cái chẳng phải có của sáu phép thần thông.

Chẳng đắm vào cái thường của năm loại mắt, chẳng đắm vào cái vô thường của năm loại mắt; chẳng đắm vào cái thường của sáu phép thần thông, chẳng đắm vào cái vô thường của sáu phép thần thông.

Chẳng đắm vào cái vui của năm loại mắt, chẳng đắm vào cái khổ của năm loại mắt; chẳng đắm vào cái vui của sáu phép thần thông, chẳng đắm vào cái khổ của sáu phép thần thông.

Chẳng đắm vào cái ngã của năm loại mắt, chẳng đắm vào cái vô ngã của năm loại mắt; chẳng đắm vào cái ngã của sáu phép thần thông, chẳng đắm vào cái vô ngã của sáu phép thần thông.

Chẳng đắm vào cái tịch tịnh của năm loại mắt, chẳng đắm vào cái chẳng tịch tịnh của năm loại mắt; chẳng đắm vào cái tịch tịnh của sáu phép thần thông, chẳng đắm vào cái chẳng tịch tịnh của sáu phép thần thông.

Chẳng đắm vào cái không của năm loại mắt, chẳng đắm vào cái chẳng không của năm loại mắt; chẳng đắm vào cái không của sáu phép thần thông, chẳng đắm vào cái chẳng không của sáu phép thần thông.

Chẳng đắm vào cái vô tướng của năm loại mắt, chẳng đắm vào cái hữu tướng của năm loại mắt; chẳng đắm vào cái vô tướng của sáu phép thần thông, chẳng đắm vào cái hữu tướng của sáu phép thần thông.

Chẳng đắm vào cái vô nguyện của năm loại mắt, chẳng đắm vào cái hữu nguyện của năm loại mắt; chẳng đắm vào cái vô nguyện của sáu phép thần thông, chẳng đắm vào cái hữu nguyện của sáu phép thần thông.

Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, vì cùng tương ưng với các pháp như vậy, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Lại nữa, Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng đắm vào cái có của mười lực của Phật, chẳng đắm vào cái chẳng phải có của mười lực của Phật; chẳng đắm vào cái có của bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả, mười tám pháp Phật bất cộng, chẳng đắm vào cái chẳng phải có của bốn điều không sợ cho đến mười tám pháp Phật bất cộng.

Chẳng đắm vào cái thường của mười lực của Phật, chẳng đắm vào cái vô thường của mười lực của Phật; chẳng đắm vào cái thường của bốn điều không sợ, cho đến mười tám pháp Phật bất cộng, chẳng đắm vào cái vô thường của bốn điều không sợ cho đến mười tám pháp Phật bất cộng.

Chẳng đắm vào cái vui của mười lực của Phật, chẳng đắm vào cái khổ của mười lực của Phật; chẳng đắm vào cái vui của bốn điều không sợ, cho đến mười tám pháp Phật bất cộng, chẳng đắm vào cái khổ của bốn điều không sợ cho đến mười tám pháp Phật bất cộng.

Chẳng đắm vào cái ngã của mười lực của Phật, chẳng đắm vào cái vô ngã của mười lực của Phật; chẳng đắm vào cái ngã của bốn điều không sợ, cho đến mười tám pháp Phật bất cộng, chẳng đắm vào cái vô ngã của bốn điều không sợ cho đến mười tám pháp Phật bất cộng.

Chẳng đắm vào cái tịch tịnh của mười lực của Phật, chẳng đắm vào cái chẳng tịch tịnh của mười lực của Phật; chẳng đắm vào cái tịch tịnh của bốn điều không sợ, cho đến mười tám pháp Phật bất cộng, chẳng đắm vào cái chẳng tịch tịnh của bốn điều không sợ cho đến mười tám pháp Phật bất cộng.

Chẳng đắm vào cái không của mười lực của Phật, chẳng đắm vào cái chẳng không của mười lực của Phật; chẳng đắm vào cái không của bốn điều không sợ, cho đến mười tám pháp Phật bất cộng, chẳng đắm vào cái chẳng không của bốn điều không sợ cho đến mười tám pháp Phật bất cộng.

Chẳng đắm vào cái vô tướng của mười lực của Phật, chẳng đắm vào cái hữu tướng của mười lực của Phật; chẳng đắm vào cái vô tướng của bốn điều không sợ, cho đến mười tám pháp Phật bất cộng, chẳng đắm vào cái hữu tướng của bốn điều không sợ cho đến mười tám pháp Phật bất cộng.

Chẳng đắm vào cái vô nguyện của mười lực của Phật, chẳng đắm vào cái hữu nguyện của mười lực của Phật; chẳng đắm vào cái vô nguyện của bốn điều không sợ, cho đến mười tám pháp Phật bất cộng, chẳng đắm vào cái hữu nguyện của bốn điều không sợ cho đến mười tám pháp Phật bất cộng.

Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, vì cùng tương ưng với các pháp như vậy, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Lại nữa, Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng đắm vào cái có của ba mươi hai tướng đại sĩ, chẳng đắm vào cái chẳng phải có của ba mươi hai tướng đại sĩ; chẳng đắm vào cái có của tám mươi vẻ đẹp kèm theo, chẳng đắm vào cái chẳng phải có của tám mươi vẻ đẹp kèm theo.

Chẳng đắm vào cái thường của ba mươi hai tướng đại sĩ, chẳng đắm vào cái vô thường của ba mươi hai tướng đại sĩ; chẳng đắm vào cái thường của tám mươi vẻ đẹp kèm theo, chẳng đắm vào cái vô thường của tám mươi vẻ đẹp kèm theo.

Chẳng đắm vào cái vui của ba mươi hai tướng đại sĩ, chẳng đắm vào cái khổ của ba mươi hai tướng đại sĩ; chẳng đắm vào cái vui của tám mươi vẻ đẹp kèm theo, chẳng đắm vào cái khổ của tám mươi vẻ đẹp kèm theo.

Chẳng đắm vào cái ngã của ba mươi hai tướng đại sĩ, chẳng đắm vào cái vô ngã của ba mươi hai tướng đại sĩ; chẳng đắm vào cái ngã của tám mươi vẻ đẹp kèm theo, chẳng đắm vào cái vô ngã của tám mươi vẻ đẹp kèm theo.

Chẳng đắm vào cái tịch tịnh của ba mươi hai tướng đại sĩ, chẳng đắm vào cái chẳng tịch tịnh của ba mươi hai tướng đại sĩ; chẳng đắm vào cái tịch tịnh của tám mươi vẻ đẹp kèm theo, chẳng đắm vào cái chẳng tịch tịnh của tám mươi vẻ đẹp kèm theo.

Chẳng đắm vào cái không của ba mươi hai tướng đại sĩ, chẳng đắm vào cái chẳng không của ba mươi hai tướng đại sĩ; chẳng đắm vào cái không của tám mươi vẻ đẹp kèm theo, chẳng đắm vào cái chẳng không của tám mươi vẻ đẹp kèm theo.

Chẳng đắm vào cái vô tướng của ba mươi hai tướng đại sĩ, chẳng đắm vào cái hữu tướng của ba mươi hai tướng đại sĩ; chẳng đắm vào cái vô tướng của tám mươi vẻ đẹp kèm theo, chẳng đắm vào cái hữu tướng của tám mươi vẻ đẹp kèm theo.

Chẳng đắm vào cái vô nguyện của ba mươi hai tướng đại sĩ, chẳng đắm vào cái hữu nguyện của ba mươi hai tướng đại sĩ; chẳng đắm vào cái vô nguyện của tám mươi vẻ đẹp kèm theo, chẳng đắm vào cái hữu nguyện của tám mươi vẻ đẹp kèm theo.

Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, vì cùng tương ưng với các pháp như vậy, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Lại nữa, Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng đắm vào cái có của pháp không quên mất, chẳng đắm vào cái chẳng phải có của pháp không quên mất; chẳng đắm vào cái có của tánh luôn luôn xả, chẳng đắm vào cái chẳng phải có của tánh luôn luôn xả.

Chẳng đắm vào cái thường của pháp không quên mất, chẳng đắm vào cái vô thường của pháp không quên mất; chẳng đắm vào cái thường của tánh luôn luôn xả, chẳng đắm vào cái vô thường của tánh luôn luôn xả.

Chẳng đắm vào cái vui của pháp không quên mất, chẳng đắm vào cái khổ của pháp không quên mất; chẳng đắm vào cái vui của tánh luôn luôn xả, chẳng đắm vào cái khổ của tánh luôn luôn xả

Chẳng đắm vào cái ngã của pháp không quên mất, chẳng đắm vào cái vô ngã của pháp không quên mất; chẳng đắm vào cái ngã của tánh luôn luôn xả, chẳng đắm vào cái vô ngã của tánh luôn luôn xả.

Chẳng đắm vào cái tịch tịnh của pháp không quên mất, chẳng đắm vào cái chẳng tịch tịnh của pháp không quên mất; chẳng đắm vào cái tịch tịnh của tánh luôn luôn xả, chẳng đắm vào cái chẳng tịch tịnh của tánh luôn luôn xả.

Chẳng đắm vào cái không của pháp không quên mất, chẳng đắm vào cái chẳng không của pháp không quên mất; chẳng đắm vào cái không của tánh luôn luôn xả, chẳng đắm vào cái chẳng không của tánh luôn luôn xả.

Chẳng đắm vào cái vô tướng của pháp không quên mất, chẳng đắm vào cái hữu tướng của pháp không quên mất; chẳng đắm vào cái vô tướng của tánh luôn luôn xả, chẳng đắm vào cái hữu tướng của tánh luôn luôn xả.

Chẳng đắm vào cái vô nguyện của pháp không quên mất, chẳng đắm vào cái hữu nguyện của pháp không quên mất; chẳng đắm vào cái vô nguyện của tánh luôn luôn xả, chẳng đắm vào cái hữu nguyện của tánh luôn luôn xả.

Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, vì cùng tương ưng với các pháp như vậy, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Lại nữa, Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng đắm vào cái có của trí nhất thiết, chẳng đắm vào cái chẳng phải có của trí nhất thiết; chẳng đắm vào cái có của trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng, chẳng đắm vào cái chẳng phải có của trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng.

Chẳng đắm vào cái thường của trí nhất thiết, chẳng đắm vào cái vô thường của trí nhất thiết; chẳng đắm vào cái thường của trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng, chẳng đắm vào cái vô thường của trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng.

Chẳng đắm vào cái vui của trí nhất thiết, chẳng đắm vào cái khổ của trí nhất thiết; chẳng đắm vào cái vui của trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng, chẳng đắm vào cái khổ của trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng.

Chẳng đắm vào cái ngã của trí nhất thiết, chẳng đắm vào cái vô ngã của trí nhất thiết; chẳng đắm vào cái ngã của trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng, chẳng đắm vào cái vô ngã của trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng.

Chẳng đắm vào cái tịch tịnh của trí nhất thiết, chẳng đắm vào cái chẳng tịch tịnh của trí nhất thiết; chẳng đắm vào cái tịch tịnh của trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng, chẳng đắm vào cái chẳng tịch tịnh của trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng.

Chẳng đắm vào cái không của trí nhất thiết, chẳng đắm vào cái chẳng không của trí nhất thiết; chẳng đắm vào cái không của trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng, chẳng đắm vào cái chẳng không của trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng.

Chẳng đắm vào cái vô tướng của trí nhất thiết, chẳng đắm vào cái hữu tướng của trí nhất thiết; chẳng đắm vào cái vô tướng của trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng, chẳng đắm vào cái hữu tướng của trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng.

Chẳng đắm vào cái vô nguyện của trí nhất thiết, chẳng đắm vào cái hữu nguyện của trí nhất thiết; chẳng đắm vào cái vô nguyện của trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng, chẳng đắm vào cái hữu nguyện của trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng.

Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, vì cùng tương ưng với các pháp như vậy, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Lại nữa, Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng đắm vào cái có của quả Dự-lưu, chẳng đắm vào cái chẳng phải có của quả Dự-lưu; chẳng đắm vào cái có của quả Nhất-lai, Bất-hoàn, A-la-hán, và quả vị Độc-giác, chẳng đắm vào cái chẳng phải có của quả Nhất-lai, Bất-hoàn, A-la-hán, và quả vị Độc-giác.

Chẳng đắm vào cái thường của quả Dự-lưu, chẳng đắm vào cái vô thường của quả Dự-lưu; chẳng đắm vào cái thường của quả Nhất-lai, Bất-hoàn, A-la-hán, và quả vị Độc-giác, chẳng đắm vào cái vô thường của quả Nhất-lai, Bất-hoàn, A-la-hán, và quả vị Độc-giác.

Chẳng đắm vào cái vui của quả Dự-lưu, chẳng đắm vào cái khổ của quả Dự-lưu; chẳng đắm vào cái vui của quả Nhất-lai, Bất-hoàn, A-la-hán, và quả vị Độc-giác, chẳng đắm vào cái khổ của quả Nhất-lai, Bất-hoàn, A-la-hán, và quả vị Độc-giác.

Chẳng đắm vào cái ngã của quả Dự-lưu, chẳng đắm vào cái vô ngã của quả Dự-lưu; chẳng đắm vào cái ngã của quả Nhất-lai, Bất-hoàn, A-la-hán, và quả vị Độc-giác, chẳng đắm vào cái vô ngã của quả Nhất-lai, Bất-hoàn, A-la-hán, và quả vị Độc-giác.

Chẳng đắm vào cái tịch tịnh của quả Dự-lưu, chẳng đắm vào cái chẳng tịch tịnh của quả Dự-lưu; chẳng đắm vào cái tịch tịnh của quả Nhất-lai, Bất-hoàn, A-la-hán, và quả vị Độc-giác, chẳng đắm vào cái chẳng tịch tịnh của quả Nhất-lai, Bất-hoàn, A-la-hán, và quả vị Độc-giác.

Chẳng đắm vào cái không của quả Dự-lưu, chẳng đắm vào cái chẳng không của quả Dự-lưu; chẳng đắm vào cái không của quả Nhất-lai, Bất-hoàn, A-la-hán, và quả vị Độc-giác, chẳng đắm vào cái chẳng không của quả Nhất-lai, Bất-hoàn, A-la-hán, và quả vị Độc-giác.

Chẳng đắm vào cái vô tướng của quả Dự-lưu, chẳng đắm vào cái hữu tướng của quả Dự-lưu; chẳng đắm vào cái vô tướng của quả Nhất-lai, Bất-hoàn, A-la-hán, và quả vị Độc-giác, chẳng đắm vào cái hữu tướng của quả Nhất-lai, Bất-hoàn, A-la-hán, và quả vị Độc-giác.

Chẳng đắm vào cái vô nguyện của quả Dự-lưu, chẳng đắm vào cái hữu nguyện của quả Dự-lưu; chẳng đắm vào cái vô nguyện của quả Nhất-lai, Bất-hoàn, A-la-hán, và quả vị Độc-giác, chẳng đắm vào cái hữu nguyện của quả Nhất-lai, Bất-hoàn, A-la-hán, và quả vị Độc-giác.

Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, vì cùng tương ưng với các pháp như vậy, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Lại nữa, Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng đắm vào cái có của tất cả hạnh đại Bồ-tát, chẳng đắm vào cái chẳng phải có của tất cả hạnh đại Bồ-tát; chẳng đắm vào cái có của quả vị Giác ngộ cao tột của chư Phật, chẳng đắm vào cái chẳng phải có của quả vị Giác ngộ cao tột của chư Phật.

Chẳng đắm vào cái thường của tất cả hạnh đại Bồ-tát, chẳng đắm vào cái vô thường của tất cả hạnh đại Bồ-tát; chẳng đắm vào cái thường của quả vị Giác ngộ cao tột của chư Phật, chẳng đắm vào cái vô thường của quả vị Giác ngộ cao tột của chư Phật.

Chẳng đắm vào cái vui của tất cả hạnh đại Bồ-tát, chẳng đắm vào cái khổ của tất cả hạnh đại Bồ-tát; chẳng đắm vào cái vui của quả vị Giác ngộ cao tột của chư Phật, chẳng đắm vào cái khổ của quả vị Giác ngộ cao tột của chư Phật.

Chẳng đắm vào cái ngã của tất cả hạnh đại Bồ-tát, chẳng đắm vào cái vô ngã của tất cả hạnh đại Bồ-tát; chẳng đắm vào cái ngã của quả vị Giác ngộ cao tột của chư Phật, chẳng đắm vào cái vô ngã của quả vị Giác ngộ cao tột của chư Phật.

Chẳng đắm vào cái tịch tịnh của tất cả hạnh đại Bồ-tát, chẳng đắm vào cái chẳng tịch tịnh của tất cả hạnh đại Bồ-tát; chẳng đắm vào cái tịch tịnh của quả vị Giác ngộ cao tột của chư Phật, chẳng đắm vào cái chẳng tịch tịnh của quả vị Giác ngộ cao tột của chư Phật.

Chẳng đắm vào cái không của tất cả hạnh đại Bồ-tát, chẳng đắm vào cái chẳng không của tất cả hạnh đại Bồ-tát; chẳng đắm vào cái không của quả vị Giác ngộ cao tột của chư Phật, chẳng đắm vào cái chẳng không của quả vị Giác ngộ cao tột của chư Phật.

Chẳng đắm vào cái vô tướng của tất cả hạnh đại Bồ-tát, chẳng đắm vào cái hữu tướng của tất cả hạnh đại Bồ-tát; chẳng đắm vào cái vô tướng của quả vị Giác ngộ cao tột của chư Phật, chẳng đắm vào cái hữu tướng của quả vị Giác ngộ cao tột của chư Phật.

Chẳng đắm vào cái vô nguyện của tất cả hạnh đại Bồ-tát, chẳng đắm vào cái hữu nguyện của tất cả hạnh đại Bồ-tát; chẳng đắm vào cái vô nguyện của quả vị Giác ngộ cao tột của chư Phật, chẳng đắm vào cái hữu nguyện của quả vị Giác ngộ cao tột của chư Phật.

Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, vì cùng tương ưng với các pháp như vậy, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Xá Lợi Tử! Đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng khởi lên ý nghĩ thế này: Ta hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa; chẳng khởi lên ý nghĩ thế này: Ta chẳng hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa; chẳng khởi lên ý nghĩ thế này: Ta cũng hành, cũng không hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa; chẳng khởi lên ý nghĩ thế này: Ta chẳng phải hành, chẳng phải chẳng hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, vì cùng tương ưng với các pháp như vậy, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Lại nữa, Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng vì bố thí Ba-la-mật-đa, mà tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa; chẳng vì tịnh giới, an nhẫn, tinh tiến, tịnh lự, Bát-nhã-ba-la-mật-đa, mà tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Các đại Bồ-tát, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng vì cái không nội mà tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa; chẳng vì cái không ngoại, cái không nội ngoại, cái không không, cái không lớn, cái không thắng nghĩa, cái không hữu vi, cái không vô vi, cái không rốt ráo, cái không không biên giới, cái không tản mạn, cái không không đổi khác, cái không bản tánh, cái không tự tướng, cái không cộng tướng, cái không tất cả pháp, cái không không thể nắm bắt được, cái không không tánh, cái không tự tánh, cái không không tánh tự tánh, mà tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Các đại Bồ-tát, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng vì chơn như, mà tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa; chẳng vì pháp giới, pháp tánh, tánh chẳng hư vọng, tánh chẳng đổi khác, tánh bình đẳng, tánh ly sanh, định pháp, trụ pháp, thật tế, cõi hư không, cõi không thể nghĩ bàn, mà tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Các đại Bồ-tát, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng vì chứng nhập Chánh tánh, xa lìa sanh tử, mà tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa; chẳng vì chứng đắc bậc Bất thối chuyển, mà tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa; chẳng vì thành thục hữu tình, mà tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa; chẳng vì nghiêm tịnh cõi Phật, mà tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Các đại Bồ-tát, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng vì bốn niệm trụ, mà tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa; chẳng vì bốn chánh đoạn, bốn thần túc, năm căn, năm lực, bảy chi đẳng giác, tám chi thánh đạo, mà tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa; chẳng vì thánh đế khổ, mà tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa; chẳng vì thánh đế tập, diệt, đạo mà tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Các đại Bồ-tát, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng vì bốn tịnh lự, mà tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa; chẳng vì bốn vô lượng, bốn định vô sắc, mà tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Các đại Bồ-tát, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng vì tám giải thoát, mà tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa; chẳng vì tám thắng xứ, chín định thứ đệ, mười biến xứ, mà tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Các đại Bồ-tát, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng vì pháp môn giải thoát không, mà tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa; chẳng vì pháp môn giải thoát vô tướng, vô nguyện, mà tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Các đại Bồ-tát, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng vì tất cả pháp môn Đà-la-ni, mà tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa; chẳng vì tất cả pháp môn Tam-ma-địa, mà tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Các đại Bồ-tát, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng vì bậc Cực hỷ mà tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa; chẳng vì bậc Ly cấu, bậc Phát quang, bậc Diệm tuệ, bậc Cực nan thắng, bậc Hiện tiền, bậc Viễn hành, bậc Bất động, bậc Thiện tuệ, bậc Pháp vân, mà tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Các đại Bồ-tát, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng vì nhục nhãn, mà tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa; chẳng vì thiên nhãn, tuệ nhãn, pháp nhãn, Phật nhãn, mà tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Các đại Bồ-tát, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng vì mười lực của Phật, mà tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa; chẳng vì bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả, mười tám pháp Phật bất cộng, mà tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Các đại Bồ-tát, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng vì ba mươi hai tướng đại sĩ, mà tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa; chẳng vì tám mươi vẻ đẹp kèm theo, mà tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Các đại Bồ-tát, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng vì pháp không quên mất, mà tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa; chẳng vì tánh luôn luôn xả, mà tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Các đại Bồ-tát, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng vì trí  nhất thiết, mà tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa; chẳng vì trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng, trí nhất thiết tướng vi diệu, mà tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Các đại Bồ-tát, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng vì vượt qua quả Dự-lưu, mà tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa; chẳng vì vượt qua quả Nhất-lai, Bất-hoàn, A-la-hán và quả vị Độc-giác, mà tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Các đại Bồ-tát, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng vì tất cả hạnh đại Bồ-tát, mà tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa; chẳng vì quả vị Giác ngộ cao tột của chư Phật, mà tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa. Vì sao? Xá Lợi Tử! Vì các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng thấy sự sai biệt của các pháp tánh.

Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát, tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, vì cùng tương ưng với  các pháp như vậy, nên gọi là cùng tương ưng với  Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Lại nữa, Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng vì trí chứng Thiên nhãn thông, mà tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa; chẳng vì trí chứng Thiên nhĩ thông, mà tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa; chẳng vì trí chứng Tha tâm thông, mà tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa; chẳng vì trí chứng Túc trụ tùy niệm thông, mà tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa; chẳng vì trí chứng Thần cảnh thông, mà tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa; chẳng vì trí chứng Lậu tận thông, mà tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa. Vì sao? Xá Lợi Tử! Vì các đại Bồ-tát, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, sự tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, còn chẳng thấy có, huống là thấy có sự tu hành sáu pháp thần thông của Bồ-tát, Như Lai.

Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát, tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, vì cùng tương ưng với  các pháp như vậy, nên gọi là cùng tương ưng với  Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Lại nữa, Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng khởi lên ý nghĩ thế này: Ta dùng trí chứng Thiên nhãn thông, để thấy sự chết nơi này sinh nơi kia của tất cả hữu tình, trong khắp vô số thế giới chư Phật ở mười phương.

Chẳng khởi lên ý nghĩ thế này: Ta dùng trí chứng Thiên nhĩ thông, để nghe tiếng thuyết pháp của chư Phật, Bồ-tát, trong khắp vô số thế giới chư Phật ở mười phương.

Chẳng khởi lên ý nghĩ thế này: Ta dùng trí chứng Tha tâm thông, để biết tâm và tâm sở pháp của tất cả hữu tình trong khắp vô số thế giới chư Phật ở mười phương.

Chẳng khởi lên ý nghĩ thế này: Ta dùng trí chứng Túc trụ tùy niệm thông, để nhớ lại các sự việc đời trước của tất cả hữu tình, trong khắp vô số thế giới chư Phật ở mười phương.

Chẳng khởi lên ý nghĩ thế này: Ta dùng trí chứng Thần cảnh thông, để đi đến chỗ chư Phật và Bồ-tát, trong khắp vô số thế giới chư Phật ở mười phương, để cung kính cúng dường, tôn trọng ngợi khen.

Chẳng khởi lên ý nghĩ thế này: Ta dùng trí chứng Lậu tận thông, để quán biết lậu của tất cả hữu tình trong khắp thế giới chư Phật ở mười phương, hết hay chẳng hết.

Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát, tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, vì cùng tương ưng với  các pháp như vậy, nên gọi là cùng tương ưng với  Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Lại nữa, Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, vì cùng tương ưng với  Bát-nhã-ba-la-mật-đa như vậy, nên có thể khéo an lập vô lượng, vô số, vô biên hữu tình, ở cảnh giới Vô-dư-y-Niết-bàn, tất cả ác ma không tùy tiện được, tất cả phiền não đều được phục diệt, các việc trong đời, tùy theo ý muốn.

Tất cả các Đức Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác và các chúng đại Bồ-tát, ở vô số thế giới trong mười phương, đều cùng hộ niệm cho Bồ-tát như vậy, khiến chẳng thối đọa xuống tất cả bậc Thanh-văn, Độc-giác.

Chúng trời trong cõi Tứ-đại-thiên-vương, trời Ba-mươi-ba, trời Dạ-ma, trời Đỗ-sử-đa, trời Lạc-biến-hóa, trời Tha-hóa-tự-tại, trời Phạm-chúng, trời Phạm-phụ, trời Phạm-hội, trời Đại-phạm, trời Quang, trời Thiểu-quang, trời Vô-lượng-quang, trời Cực quang tịnh, trời Tịnh, trời Thiểu-tịnh, trời Vô-lượng-tịnh, trời Biến-tịnh, trời Quảng, trời Thiểu-quảng, trời Vô-lượng-quảng, trời Quảng-quả, trời Vô-phiền, trời Vô-nhiệt, trời Thiện-hiện, trời Thiện-kiến, trời Sắc-cứu-cánh và tất cả Thanh-văn, Độc-giác trong vô số thế giới ở mười phương, đều cùng ủng hộ, bảo vệ Bồ-tát như vậy, khiến mọi việc làm không bị trở ngại, tật bệnh, lo phiền của thân tâm đều được thuyên giảm, tiêu trừ; dù có nghiệp tội, sẽ nhận chịu khổ báo ở đời sau, cũng chuyển thành nhẹ. Vì sao? Xá Lợi Tử! Vì đại Bồ-tát ấy, từ bi đối với  tất cả hữu tình.

Xá Lợi Tử! Đại Bồ-tát ấy, tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, nhờ sức oai thần, nên dùng ít gia hạnh, mà có thể dẫn phát một cách tối thắng tự tại pháp môn Đà-la-ni, pháp môn Tam-ma-địa, khiến mau hiện khởi; tùy theo nơi sanh, thường được phụng sự tất cả Đức Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác, cho đến khi chứng được điều mong cầu là quả vị Giác ngộ cao tột, ở khoảng trung gian ấy, thường chẳng xa Phật.

Xá Lợi Tử! Khi đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, vì cùng tương ưng với  Bát-nhã-ba-la-mật-đa như vậy, nên được vô lượng, vô số, công đức vi diệu không thể nghĩ bàn như vậy.

Lại nữa, Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng khởi lên ý nghĩ thế này: Có sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng, bình đẳng hoặc chẳng bình đẳng, giữa pháp với  pháp. Vì sao? Xá Lợi Tử! Vì đại Bồ-tát ấy, chẳng thấy có sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng, bình đẳng hoặc chẳng bình đẳng giữa pháp với  pháp.

Các đại Bồ-tát, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng khởi lên ý nghĩ thế này: Đối với  pháp giới, ta mau hiện Đẳng-giác, hoặc chẳng mau hiện Đẳng-giác. Vì sao? Xá Lợi Tử! Vì đối với  pháp giới, đại Bồ-tát ấy, chẳng thấy có một pháp nhỏ nhiệm nào có thể hiện Đẳng-giác.

Các đại Bồ-tát, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng thấy có một pháp nào lìa pháp giới, chẳng thấy có pháp giới lìa các pháp mà có, cũng chẳng thấy các pháp tức là pháp giới, chẳng thấy pháp giới tức là các pháp.

Các đại Bồ-tát, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng khởi lên ý nghĩ thế này: Pháp giới có thể làm nhân duyên cho các pháp; chẳng khởi lên ý nghĩ thế này: Các pháp có thể làm nhân duyên cho pháp giới.

Các đại Bồ-tát, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng khởi lên ý nghĩ thế này: Pháp này có thể chứng pháp giới, pháp này chẳng có thể chứng pháp giới. Vì sao? Xá Lợi Tử! Vì đại Bồ-tát ấy, pháp còn chẳng thấy có, huống là thấy có pháp có thể chứng pháp giới, hoặc chẳng có thể chứng.

Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát, tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, vì cùng tương ưng với  các pháp như vậy, nên gọi là cùng tương ưng với  Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Lại nữa, Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng thấy sự tương ưng giữa sắc với không, cũng chẳng thấy sự tương ưng giữa không với  sắc; chẳng thấy sự tương ưng giữa thọ, tưởng, hành, thức với  không, cũng chẳng thấy sự tương ưng giữa không với  thọ, tưởng, hành, thức.

Các đại Bồ-tát, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng thấy sự tương ưng giữa nhãn xứ với  không, cũng chẳng thấy sự tương ưng giữa không với  nhãn xứ; chẳng thấy sự tương ưng giữa nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xứ với  không, cũng chẳng thấy sự tương ưng giữa không với  nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xứ.

Các đại Bồ-tát, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng thấy sự tương ưng giữa sắc xứ với  không, cũng chẳng thấy sự tương ưng giữa không với  sắc xứ; chẳng thấy sự tương ưng giữa thanh, hương, vị, xúc, pháp xứ với  không, cũng chẳng thấy sự tương ưng giữa không với  thanh, hương, vị, xúc, pháp xứ.

Các đại Bồ-tát, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng thấy sự tương ưng giữa nhãn giới với  không, cũng chẳng thấy sự tương ưng giữa không với  nhãn giới; chẳng thấy sự tương ưng giữa nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý giới với không, cũng chẳng thấy sự tương ưng giữa không với nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý giới.

Các đại Bồ-tát, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng thấy sự tương ưng giữa sắc giới với không, cũng chẳng thấy sự tương ưng giữa không với sắc giới; chẳng thấy sự tương ưng giữa thanh, hương, vị, xúc, pháp giới với không, cũng chẳng thấy sự tương ưng giữa không với thanh, hương, vị, xúc, pháp giới.

Các đại Bồ-tát, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng thấy sự tương ưng giữa nhãn thức giới với không, cũng chẳng thấy sự tương ưng giữa không với nhãn thức giới; chẳng thấy sự tương ưng giữa nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý thức giới với không, cũng chẳng thấy sự tương ưng giữa không với nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý thức giới.

Các đại Bồ-tát, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng thấy sự tương ưng giữa nhãn xúc với không, cũng chẳng thấy sự tương ưng giữa không với nhãn xúc; chẳng thấy sự tương ưng giữa nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc với không, cũng chẳng thấy sự tương ưng giữa không với nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc.

Các đại Bồ-tát, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng thấy sự tương ưng giữa các thọ do nhãn xúc làm duyên sanh ra với không, cũng chẳng thấy sự tương ưng giữa không với các thọ, do nhãn xúc làm duyên sanh ra; chẳng thấy sự tương ưng giữa các thọ, do nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc làm duyên sanh ra với không, cũng chẳng thấy sự tương ưng giữa không với các thọ, do nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc làm duyên sanh ra.

Các đại Bồ-tát, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng thấy sự tương ưng giữa địa giới với không, cũng chẳng thấy sự tương ưng giữa không với địa giới; chẳng thấy sự tương ưng giữa thủy, hỏa, phong, không, thức giới với không, cũng chẳng thấy sự tương ưng giữa không với thủy, hỏa, phong, không, thức giới.

Các đại Bồ-tát, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng thấy sự tương ưng giữa nhân duyên với không, cũng chẳng thấy sự tương ưng giữa không với nhân duyên; chẳng thấy sự tương ưng giữa các pháp, do đẳng vô gián duyên, sở duyên duyên, tăng thượng duyên và các duyên khác sanh ra với không, cũng chẳng thấy sự tương ưng giữa không với các pháp, do đẳng vô gián duyên, sở duyên duyên, tăng thượng duyên và các duyên khác sanh ra.

Các đại Bồ-tát, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng thấy sự tương ưng giữa vô minh với không, cũng chẳng thấy sự tương ưng giữa không với vô minh; chẳng thấy sự tương ưng giữa hành, thức, danh sắc, lục xứ, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sanh, lão tử, sầu, than, khổ, lo, phiền với không, cũng chẳng thấy sự tương ưng giữa không với hành cho đến lão tử, sầu, than, khổ, lo phiền.

Các đại Bồ-tát, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng thấy sự tương ưng giữa bố thí Ba-la-mật-đa với không, cũng chẳng thấy sự tương ưng giữa không với bố thí Ba-la-mật-đa; chẳng thấy sự tương ưng giữa tịnh giới, an nhẫn, tinh tiến, tịnh lự, Bát-nhã-ba-la-mật-đa với không, cũng chẳng thấy sự tương ưng giữa không với tịnh giới, an nhẫn, tinh tiến, tịnh lự, Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Các đại Bồ-tát, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng thấy sự tương ưng giữa cái không nội với không, cũng chẳng thấy sự tương ưng giữa không với cái không nội; chẳng thấy sự tương ưng giữa cái không ngoại, cái không nội ngoại, cái không không, cái không lớn, cái không thắng nghĩa, cái không hữu vi, cái không vô vi, cái không rốt ráo, cái không không biên giới, cái không tản mạn, cái không không đổi khác, cái không bản tánh, cái không tự tướng, cái không cộng tướng, cái không tất cả pháp, cái không không thể nắm bắt được, cái không không tánh, cái không tự tánh, cái không không tánh tự tánh với không, cũng chẳng thấy sự tương ưng giữa không với cái không ngoại, cho đến cái không không tánh tự tánh.

Các đại Bồ-tát, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng thấy sự tương ưng giữa chơn như với không, cũng chẳng thấy sự tương ưng giữa không với chơn như; chẳng thấy sự tương ưng giữa pháp giới, pháp tánh, tánh chẳng hư vọng, tánh chẳng đổi khác, tánh bình đẳng, tánh ly sanh, định pháp, trụ pháp, thật tế, cõi hư không, cõi không thể nghĩ bàn với không, cũng chẳng thấy sự tương ưng giữa không với pháp giới, cho đến cõi không thể nghĩ bàn.

Các đại Bồ-tát, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng thấy sự tương ưng giữa bốn niệm trụ với không, cũng chẳng thấy sự tương ưng giữa không với bốn niệm trụ; chẳng thấy sự tương ưng giữa bốn chánh đoạn, bốn thần túc, năm căn, năm lực, bảy chi đẳng giác, tám chi thánh đạo với không, cũng chẳng thấy sự tương ưng giữa không với bốn chánh đoạn, cho đến tám chi thánh đạo.

Các đại Bồ-tát, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng thấy sự tương ưng giữa thánh đế khổ với không, cũng chẳng thấy sự tương ưng giữa không với thánh đế khổ; chẳng thấy sự tương ưng giữa thánh đế tập, diệt, đạo với không, cũng chẳng thấy sự tương ưng giữa không với thánh đế tập, diệt, đạo.

Các đại Bồ-tát, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng thấy sự tương ưng giữa bốn tịnh lự với không, cũng chẳng thấy sự tương ưng giữa không với bốn tịnh lự; chẳng thấy sự tương ưng giữa bốn vô lượng, bốn định vô sắc với không, cũng chẳng thấy sự tương ưng giữa không với bốn vô lượng, bốn định vô sắc.

Các đại Bồ-tát, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng thấy sự tương ưng giữa tám giải thoát với không, cũng chẳng thấy sự tương ưng giữa không với tám giải thoát; chẳng thấy sự tương ưng giữa tám thắng xứ, chín định thứ đệ, mười biến xứ với không, cũng chẳng thấy sự tương ưng giữa không với tám thắng xứ, chín định thứ đệ, mười biến xứ.

Các đại Bồ-tát, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng thấy sự tương ưng giữa pháp môn giải thoát không với không, cũng chẳng thấy sự tương ưng giữa không với pháp môn giải thoát không; chẳng thấy sự tương ưng giữa các pháp môn giải thoát vô tướng, vô nguyện với không, cũng chẳng thấy sự tương ưng giữa không với các pháp môn giải thoát vô tướng, vô nguyện.

Các đại Bồ-tát, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng thấy sự tương ưng giữa tất cả pháp môn Đà-la-ni với không, cũng chẳng thấy sự tương ưng giữa không với tất cả pháp môn Đà-la-ni; chẳng thấy sự tương ưng giữa tất cả pháp môn Tam-ma-địa với không, cũng chẳng thấy sự tương ưng giữa không với tất cả pháp môn Tam-ma-địa.

Các đại Bồ-tát, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng thấy sự tương ưng giữa bậc Cực hỷ với không, cũng chẳng thấy sự tương ưng giữa không với bậc Cực hỷ; chẳng thấy sự tương ưng giữa bậc Ly cấu, bậc Phát quang, bậc Diệm tuệ, bậc Cực nan thắng, bậc Hiện tiền, bậc Viễn hành, bậc Bất động, bậc Thiện tuệ, bậc Pháp vân với không, cũng chẳng thấy sự tương ưng giữa không với bậc Ly cấu cho đến bậc Pháp vân.

Các đại Bồ-tát, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng thấy sự tương ưng giữa năm loại mắt với không, cũng chẳng thấy sự tương ưng giữa không với năm loại mắt; chẳng thấy sự tương ưng giữa sáu phép thần thông với không, cũng chẳng thấy sự tương ưng giữa không với sáu phép thần thông.

Các đại Bồ-tát, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng thấy sự tương ưng giữa mười lực của Phật với không, cũng chẳng thấy sự tương ưng giữa không với mười lực của Phật; chẳng thấy sự tương ưng giữa bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả, mười tám pháp Phật bất cộng với không, cũng chẳng thấy sự tương ưng giữa không với bốn điều không sợ, cho đến mười tám pháp Phật bất cộng.

Các đại Bồ-tát, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng thấy sự tương ưng giữa ba mươi hai tướng đại sĩ với không, cũng chẳng thấy sự tương ưng giữa không với ba mươi hai tướng đại sĩ; chẳng thấy sự tương ưng giữa tám mươi vẻ đẹp kèm theo với không, cũng chẳng thấy sự tương ưng giữa không với tám mươi vẻ đẹp kèm theo.

Các đại Bồ-tát, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng thấy sự tương ưng giữa pháp không quên mất với không, cũng chẳng thấy sự tương ưng giữa không với pháp không quên mất; chẳng thấy sự tương ưng giữa tánh luôn luôn xả với không, cũng chẳng thấy sự tương ưng giữa không với tánh luôn luôn xả.

Các đại Bồ-tát, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng thấy sự tương ưng giữa trí nhất thiết với không, cũng chẳng thấy sự tương ưng giữa không với trí nhất thiết; chẳng thấy sự tương ưng giữa trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng với không, cũng chẳng thấy sự tương ưng giữa không với trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng.

Các đại Bồ-tát, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng thấy sự tương ưng giữa quả Dự-lưu với không, cũng chẳng thấy sự tương ưng giữa không với quả Dự-lưu; chẳng thấy sự tương ưng giữa quả Nhất-lai, Bất-hoàn, A-la-hán, và quả vị Độc-giác với không, cũng chẳng thấy sự tương ưng giữa không với quả Nhất-lai, Bất-hoàn, A-la-hán và quả vị Độc-giác.

Các đại Bồ-tát, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng thấy sự tương ưng giữa tất cả hạnh đại Bồ-tát với không, cũng chẳng thấy sự tương ưng giữa không với tất cả hạnh đại Bồ-tát; chẳng thấy sự tương ưng giữa quả vị Giác ngộ cao tột của chư Phật với không, cũng chẳng thấy sự tương ưng giữa không với quả vị Giác ngộ cao tột của chư Phật.

Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, nếu có thể tương ưng như vậy, thì đó là tương ưng bậc nhất với không.

Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, do vì cùng tương ưng với  không như vậy, nên chẳng rơi xuống các bậc Thanh-văn, Độc-giác; nghiêm tịnh cõi Phật, thành thục hữu tình, mau chứng quả vị Giác ngộ cao tột.

Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, trong các tương ưng, tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa là cao tột nhất, tối tôn, tối thắng, tối thượng, tối diệu, tối cao, tối cực, vô thượng, vô thượng thượng, vô đẳng, vô đẳng đẳng. Vì sao? Xá Lợi Tử! Vì sự tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa là cao tột nhất, tức là tương ưng với  không, tức là tương ưng với  vô tướng, tức là tương ưng với  vô nguyện. Do nhân duyên này, nên được cao tột nhất.

Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, khi cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa như vậy, thì biết ngay là được thọ ký, hoặc gần được thọ ký làm Phật. Xá Lợi Tử! Đại Bồ-tát ấy, do sự tương ưng này, có thể làm việc lợi ích lớn cho vô lượng, vô số, vô biên hữu tình.

Xá Lợi Tử! Đại Bồ-tát ấy, chẳng khởi lên ý nghĩ thế này: Ta cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa; chẳng khởi lên ý nghĩ thế này: Ta được thọ ký nhất định sẽ làm Phật, hoặc gần được thọ ký; chẳng khởi lên ý nghĩ thế này: Ta có thể nghiêm tịnh cõi Phật; chẳng khởi lên ý nghĩ thế này: Ta có thể thành thục hữu tình; cũng chẳng khởi lên ý nghĩ thế này: Ta sẽ chứng được điều mong cầu là quả vị Giác ngộ cao tột, chuyển bánh xe pháp mầu nhiệm, độ vô lượng chúng sanh. Vì sao? Xá Lợi Tử! Vì đại Bồ-tát ấy, chẳng thấy có pháp lìa pháp giới, chẳng thấy pháp giới lìa các pháp; chẳng thấy các pháp tức là pháp giới, chẳng thấy pháp giới tức là các pháp; chẳng thấy có pháp tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng thấy có pháp được Phật thọ ký, chẳng thấy có pháp sẽ chứng được quả vị Giác ngộ cao tột, chẳng thấy có pháp nghiêm tịnh cõi Phật, chẳng thấy có pháp thành thục hữu tình. Vì sao? Xá Lợi Tử! Vì các đại Bồ-tát, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng khởi tưởng ngã, tưởng hữu tình, tưởng dòng sinh mạng, tưởng sự sanh, tưởng sự dưỡng, tưởng sự trưởng thành, tưởng chủ thể luân hồi, tưởng người do người sanh, tưởng ngã tối thắng, tưởng khả năng làm việc, tưởng khả năng khiến người làm việc, tưởng khà năng tạo nghiệp, tưởng khà năng khiến người tạo nghiệp, tưởng tự thọ quả báo, tưởng khiến người thọ quả báo, tưởng cái biết, tưởng cái thấy. Vì sao? Vì ngã, hữu tình v.v… rốt ráo đều chẳng sanh, lại cũng chẳng diệt. Những thứ ấy đã là rốt ráo, chẳng sanh chẳng diệt, thì vì sao còn phải tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, và được các thứ công đức lợi ích thù thắng? Xá Lợi Tử! Đại Bồ-tát ấy, vì chẳng thấy sự sanh của hữu tình, nên tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa; chẳng thấy sự diệt của hữu tình, nên tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa; vì biết cái không của các hữu tình, nên tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa; vì biết cái chẳng phải ngã của các hữu tình, nên tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa; vì biết cái không thể nắm bắt được của các hữu tình, nên tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa; vì biết sự xa lìa của các hữu tình, nên tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa; vì biết bản tánh của các hữu tình chẳng phải là hữu tình, nên tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, trong các tương ưng, cùng tương ưng với không là cao tột nhất, cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa là tối tôn, tối thắng, không có gì sánh kịp.

Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát, vì sự tương ưng như vậy, nên phát huy rộng lớn khả năng dẫn phát mười lực của Như Lai, bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả, mười tám pháp Phật bất cộng; ba mươi hai tướng đại sĩ, tám mươi vẻ đẹp kèm theo; pháp không quên mất, tánh luôn luôn xả, trí nhất thiết, trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng và vô lượng, vô biên, pháp Phật khác.

Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát, tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, vì cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa như vậy, nên rốt ráo chẳng khởi các tâm chướng ngại là xan tham, phạm giới, giận hờn, lười biếng, tán loạn, ác tuệ, bố thí, tịnh giới, an nhẫn, tinh tiến, tịnh lự, bát nhã Ba la mật tự nhiên hiện tiền, không gián đoạn.

Print Friendly, PDF & Email
Did you find apk for android? You can find new Free Android Games and apps.