Want create site? Find Free WordPress Themes and plugins.
PrintFriendly and PDF

QUYỂN IV
 
Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Thông Nghĩa
PHẨM PHÁP SƯ
THỨ MƯỜI
 
Đại ý phẩm này là trước đây Đức Thế Tôn ca ngợi rộng rãi pháp Nhất thừa là thậm thâm vi diệu. Nếu có thể tin nhận tức được thành Phật. Vậy nên các đệ tử lớn đều được thọ ký. Nhưng pháp Nhất thừa này vốn có trong mọi người, đó là chánh nhân Phật tính. Nay Đức Như Lai phương tiện khai mở chỉ bày nói Diệu pháp này, tạo nhân duyên để hiển lộ tính Phật, không ai mà không hiểu, mới có thể gánh vác nổi. Lấy cái hôm nay chứng minh cho cái ngày xưa như biết nhân xưa của Đức Đại Thông Trí Thắng, các duyên nối nhau cho đến nay không mất. Do vậy mà biết nhân duyên pháp hội ngày hôm, nay sẽ làm chủng tử cho vô tận tương lai. Đó gọi là: “Phàm có nghe pháp thì không ai không thành Phật”. Cho đến chỉ một niệm tùy hỷ liền chứng Bồ đề. Do vậy lấy Pháp Sư để nêu tên của phẩm.
Lấy tâm làm thầy nên gọi là Pháp Sư. Ý nói hôm nay dùng Pháp Hoa làm nhân duyên chính, nhờ Pháp sư khai mở, hiển lộ để làm thắng duyên cho tương lai. Bởi lẽ chủng tử Phật tánh phải do huân tập. Huân tập có cái cũ, cái mới. Đức ĐạiThông Trí Thắng là cái huân tập cũ, còn hôm nay là huân tập cái mới.
Pháp sư có năm loại: Tùy hỷ, đọc tụng, thọ trì, viết chép, giảng thuyết. Chỉ cần có một loại cũng là Pháp sư. Vì kinh này có toàn thân Như Lai, nên người thọ trì là gánh vác Như Lai, phải kính trọng người ấy như Phật. Điều đó nói lên sự thù thắng của Diệu pháp, cần có người hoằng dương mới làm cho chủng tử Phật không gián đoạn. Nếu hủy báng người trì kinh tội rất nặng vì đoạn diệt chủng tử Phật tính.
Như vậy đủ thấy bản hoài xuất thế của Như Lai đã bao trùm khắp cả. Nên tiếp phẩm Thọ ký lại có phẩm này.
1. Từ câu: “Nhĩ thời Thế Tôn” đến câu: “Đương đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ đề” Lúc bấy giờ Đức Thế Tôn… đặng Vô thượng chánh đẳng chánh giác).
Từ đây trở xuống là thọ ký rộng rãi cho Bát bộ, để nói lên tính bình đẳng đại từ và sự lợi ích của trì kinh.
Trước đã được thấy trong hào quang trắng, các Phật tử tùy theo nhân duyên của mình mà cầu Phật đạo. Đó là các vị thọ ký trước, đều là người ở trong ba thừa, tùy các nhân duyên mà cầu Phật đạo vậy. Những người cầu mong Tam thừa đều có nghi ngờ hối hận, Phật vì họ mà đoạn trừ. Do vậy mà biết hiện tại tám bộ chúng đều là người cầu ba thừa. Nếu truy nguyên về nhân duyên ngày xưa, họ chẳng phải là hạt bụi còn sót lại của Đức Đại Thông Trí Thắng hay sao! Hơn nữa hạng người này, khi các Đức Phật ra đời họ đều làm người hộ pháp, tức duyên nghiệp nghe pháp đã chín muồi. Huống gì nay nghe Diệu pháp này một bài kệ, một câu cho đến một niệm tùy hỷ, đều được thọ ký đắc quả Bồ đề. Điều đó biểu thị Trí tuệ Phật bình đẳng. Cho nên hiện tiền mọi người đều được thọ ký, nói lên sự lợi ích thù thắng của Diệu pháp. Đây là đặc biệt nói với Dược vương, là người quên thân xả chấp, khế hợp Diệu pháp. Người có thể giữ gìn, tức là thầy tiêu biểu cho sự giữ gìn kinh.
2. Từ câu: “Phật cáo Dược vương” đến câu: “Dữ thọ A nậu đa la tam miệu tam Bồ đề” (Phật bảo Dược vương… thọ ký đạo vô thượng chánh đẳng chánh giác).
Đoạn này huyền ký cho người trì pháp ở tương lai.
Sau khi Như Lai diệt độ, pháp này còn ở đời tức là pháp thân thường trụ. Cho nên nếu nghe một bài kệ, một câu cho đến một niệm tùy hỷ, thì đã có hạt giống chân chánh để thành Phật. Như người nuốt một chút ít kim cương, rốt cuộc thẩm thấu qua da mà ra. Không lý gì mà không thành Phật. Do vậy vì họ mà thọ ký. Đây chỉ nói tùy hỷ, dưới đây trình bày sáu vị pháp sư.
3. Từ câu: “Nhược phục hữu nhân thọ trì” đến câu: “Ư vị lai thế tất đắc tác Phật” (Nếu lại có người thọ trì … ở đời vị lai ắt đặng làm Phật).
Đoạn này nêu sáu hạng pháp sư, chính là những người trì kinh.
Nghĩa là sáu hạng người trì kinh có khả năng kính trọng kinh này như Phật, cung kính cúng dường. Đó là những người đã từng cúng dường nhiều Đức Phật, phước đời trước sâu dày, do thành tựu đại nguyện mà đến đây. Nên Phật nói: “ Nếu có ai hỏi các chúng sinh nào sẽ thành Phật trong tương lai ta sẽ chỉ những người này quyết sẽ làm Phật”.
Ngài Thiên Thai phân sáu hạng pháp sư làm ngũ phẩm quán hạnh vị tức là lấy tùy hỷ Diệu pháp làm chủng tử chính cho sự thành Phật, nên chắc chắn làm Phật không nghi ngờ gì. Ngài Tịch Âm cho rằng Tu Đa La có hai phương pháp quán chiếu, đó là Diệu phương tiện. Đối với kinh này thọ trì, đọc tụng, viết chép, giảng giải là “ Quán chiếu phương tiện lực”.
Năm phẩm quán hạnh là: Tùy hỷ, đọc tụng, thuyết pháp, kiêm hành lục độ, chánh hành lục độ. Nói: “ Tùy hỷ”. Hỏi: Tùy hỷ pháp gì? Đáp: Là tùy hỷ Diệu pháp, “ Diệu pháp” tức là tâm này vậy. Sự mầu nhiệm của tâm đầy đủ như bảo châu như ý. Tâm Phật và chúng sinh cả ba không sai khác. Tâm này là Không, là Giả, là Trung đạo, là cảnh thường và vô tướng. Đương trí vô duyên,vô duyên mà duyên. Không ngược Tam quán, vô tướng mà hiện tướng, ba đế rõ ràng. Cho nên năm hạng pháp sư chắc chắn làm Phật, đó là “ Sức mạnh của quán hạnh”.
Quốc vương Đông Ấn Độ thỉnh Tổ thứ hai mươi bảy thọ trai. Vua hỏi tôn giả: Sao ngài không xem kinh? Tôn giả đáp: “Bần đạo thở ra không vướng mắc các duyên, thở vào không ở nơi ấm, giới. Thường chuyên kinh như vậy trăm ngàn vạn ức quyển”.
Do vậy mới biết, trì kinh điều quan trọng là quán chiếu giữ tâm, không phải theo tuần tự, số mục, chấp nơi văn tự mà làm nhân duyên thành Phật được.
4. Từ câu: “Hà dĩ cố” đến câu: “Quảng vị nhân duyên” (Vì sao? … rộng vì người nói).
Đoạn này giải thích chi tiết lý do trì kinh thù thắng. Ở trên nói có thể trì một câu là đầy đủ công đức của sáu hạng pháp sư, huống gì có thể trì toàn bộ kinh! Tuy nhiên ở đời ác mà diễn nói kinh này, người ấy nhất định là người được quả tịnh độ mà thị hiện ở cõi ác vậy.
Nếu sau khi Như Lai diệt độ, có thể vì một người mà nói một câu, đó là người sứ giả của Như Lai. Huống gì vì nhiều người mà thuyết pháp, người đó giữ gìn tuệ mạng của Như Lai.
5. Từ câu: “Dược vương nhược hữu ác nhân” đến câu: “kỳ tội thậm trọng” (Dược vương nếu có người ác … tội đây rất nặng).
Đoạn này răn dạy, đừng khinh chê người trì kinh.
Thân Phật như hư không, hủy báng như nhổ nước miếng lên hư không vậy. Người trì kinh là gắn bó với tuệ mạng, khinh chê tức là đoạn chủng tử Phật, tội không dể sám hối.
6. Từ câu: “Dược vương kỳ hữu đọc tụng” đến câu: “Tam miệu tam Bồ đề” (Dược vương có người đọc tụng … Vô thượng chánh đẳng chánh giác).
Đoạn này khuyên nên cung kính phụng sự người trì kinh như cung kính Phật. Vì có thể giữ gìn tâm này thì toàn thân là Phật, tức được Như Lai dùng vai mà gánh vác, không phải mình gánh vác Như Lai.
Ngày xưa Phật lên cung trời Đao Lợi thuyết pháp cho mẹ, Vua Ưu Điềm và các đệ tử nhớ nghĩ đến Thế Tôn. Ngài Mục Kiền Liên với ba mươi hai người đi đến thiên cung dùng gỗ hương Chiên Đàn khắc tượng của Như Lai, thỉnh về nhân gian cho tứ chúng chiêm bái. Đến khi Đức Thế Tôn từ thiên cung trở về thấy tượng liền thi lễ, khen ngợi nói rằng: Sau khi ta diệt độ nhờ người đến nước Chấn Đán (Trung Hoa) mà độ nhiều người ở đó. Như vậy chỉ một tượng bằng Chiên Đàn hương cũng đã có thể giữ gìn tuệ mạng của Phật, huống gì người trì kinh này ư! Nên Như Lai dùng vai mang vác, tùy theo điều kiện hoàn cảnh mà được tôn trọng, cúng dường. Sở dĩ được tôn trọng như vậy là do hoan hỷ thuyết kinh cho người nghe dù trong chốc lát cũng được Bồ đề vậy.
7. Từ câu: “Nhĩ thời Thế Tôn” đến câu: “Hành ư Như Lai sự” (Bấy giờ Đức Thế Tôn… Làm việc của Như Lai).
Đoạn kệ tụng này là nói tổng quát lợi ích thù thắng của người trì kinh.
Phật đạo cao xa không dễ an trú. “Tự nhiên trí”, là Diệu trí thiên nhiên, không dễ thành tựu. Chỉ cần cúng dường người trì kinh thì mọi thứ đều dễ. “Nhất Thiết Chủng Trí” là Phật quả trí. Nhiều kiếp tu nhân, sau mới thành tựu. Nay chỉ cần trì kinh này và cúng dường người trì kinh, thì mau thành tựu (Phật quả trí). Do đó mà biết toàn thể Diệu pháp đều ở nơi kinh và người trì kinh. Vậy người trì kinh nếu không phải sứ giả của Như Lai thì ai là người có khả năng đó!
Từ câu: “Những người hay thọ trì” trở xuống 8 câu, là nói xả hết nghiệp báo. Từ câu: “ Nay đem hoa hương trời” trở xuống 4 câu, là nói quả của người trì kinh được cúng dường. Từ câu: “Đời ác sau ta diệt” trở xuống 12 câu, là nói ở đời ô nhiễm khó trì kinh mà trì được, khó nghe kinh mà may mắn được nghe. Do vậy phải đảnh lễ cúng dường mong được nghe kinh dù trong giây lát. Trong đời ác mà trì được kinh nếu không phải Như Lai bảo vệ thì không thể có được.
8. Từ câu: “Nhược ư nhất kiếp” đến câu: “Pháp Hoa tối đệ nhất” (Nếu ở trong một kiếp… Pháp Hoa tột thứ nhất).
Đoạn kệ tụng này so sánh tội phước giữa tán thán và khinh chê.
Như trong văn Trường hàng nói rõ, người khinh chê tội như thế, người tán thán được phước như kia, quan trọng là vấn đề tuệ mạng không bị chấm dứt. Câu: “Trong tám mươi ức kiếp” trở xuống 8 câu, là nói cúng dường trong thời gian dài để được nghe chốc lát. Vì cúng dường là điều thiện nhỏ của nhân thiên, còn nghe pháp là thẳng đến quả Bồ đề, nên lợi ích rất lớn. Câu: “Dược Vương nay bảo ông” trở xuống 4 câu, là nói tổng kết sự lợi ích thù thắng. Bởi lẽ do trong các kinh thì Pháp Hoa này là số một.
9. Từ câu: “Nhĩ thời Phật phục cáo Dược Vương Bồ tát” đến câu: “Huống diệt độ hậu” (Bấy giờ Phật lại bảo ngài Dược Vương… huống là sai khi Phật diệt độ).
Đoạn này trình bày sự vi diệu của Pháp Hoa, tiếp theo trên đã nói Pháp Hoa là đệ nhất nên đừng khinh suất trao cho người.
Ba đời chư Phật thuyết kinh vô số cũng như Đức Thích Tôn thuyết kinh cũng vô số, nhưng chỉ có kinh Pháp Hoa là khó tin, khó hiểu. Đó là tạng bí yếu của chư Phật, nên không thể trao truyền cho người không đáng trao. Một mực giữ gìn, im lặng từ lâu mà không nói, vì Đức Như Lai ở đời còn nhiều người ganh ghét, đố kỵ, như những hạng người đã bỏ đi (Thối tịch), huống gì sau khi Phật diệt độ! Vì vậy phải thận trọng chớ xem thường mà truyền trao cho người.
10. Từ câu: “Dược Vương đương tri” đến câu: “Tắc vi Như Lai thủ ma kỳ đầu” (Dược Vương nên biết … được Đức Như Lai lấy tay xoa đầu)
Đoạn này nói về Đức Như Lai sau khi diệt độ, giữa cõi đời ác khó trì kinh mà có thể trì. Một là nhờ Phật che chở bảo hộ. Hai là tự mình có ba loại sức mạnh. Đức Phật lấy nhẫn nhục làm áo, nghĩa là bản thể Diệu pháp trụ nơi tịch diệt nhẫn. Đây là Như Lai lấy y trùm cho vậy, nhờ tùy thuận giác tánh nên được chư Phật hộ niệm. Tin triệt để tự tâm mình, là đại tín lực. Ý chí quyết đem pháp này giúp ích cho chúng sinh là Đại chí nguyện lực. Phụng sự chư Phật lòng không mệt mỏi là thiện căn lực. Do khế hợp với pháp thân nên cùng Đức Như Lai ở chung. Niệm Phật phải nên nhẫn nên được Như Lai lấy tay xoa đầu an ủi. Nếu không đủ các công đức này mà ở trong đời ác trì kinh rất khó.
11. Từ câu: “Dược Vương tại tại xứ xứ” đến câu: “A nậu đa la tam miệu tam Bồ đề” (Dược Vương nơi nơi chỗ … Vô thượng chánh đẳng chánh giác).
Đoạn này nói kinh này là toàn thể pháp thân của Như Lai, nên xây tháp thờ. Vì pháp thân không có chỗ nương tựa, nên xây tháp là phù hợp, cúng dường mọi thứ, thấy tháp lễ bái để được gần gũi pháp thân, như vậy gần gũi Bồ đề.
12. Từ câu: “Dược Vương đa hữu nhân tại gia” đến câu: “A nậu đa la tam miệu tam Bồ đề” (Dược Vương! Có rất nhiều người tại gia … Vô thượng chánh đẳng chánh giác).
Đoạn này nói Diệu pháp là nền tảng của Bồ tát tu hành thành Phật.
Nếu có Tăng hay tục muốn thực hành Bồ tát đạo, mà không nghe kinh này, thì người ấy chưa thuần thục thực hành Bồ tát đạo, vì chưa nắm được căn bản tu tập.Trong Kinh Hoa nghiêm nói: “Quên mất Bồ đề tâm mà tu các việc thiện đó là ma nghiệp”. Vì ngoài tâm mà chấp pháp. Đó gọi là “ Đạt được bản thể thì tình chấp sẽ hết”, khi biết được tâm thì sẽ hợp với bản thể. Do vậy gọi là thiện. Cho nên người được nghe kinh này mới được coi là thiện hạnh; Đây là tri kiến của Phật. Nếu được nghe kinh này mà tin hiểu, thọ trì thì mở được tri kiến Phật, gần được Bồ đề. Dưới đây là thiết lập thí dụ để làm rõ việc hành thiện ấy.
13. Từ câu: “Dược Vương! thí như hữu nhân” đến câu: “Tri thủy tất cận” (Dược Vương! Thí như có người … biết nước ắt gần).
Đây là thí dụ cốt yếu của cầu pháp, là dụ cho sự hành thiện.
“Nước” là dụ cho chánh nhân Phật tánh. “Cao nguyên” dụ cho phiền não sâu nặng. “Xoi đào” dụ cho quán chiếu nghiên cứu. “Đất khô” dụ cho chưa thấy tínhPhật. Nên gọi là “Cách nước còn xa”. “Thi công không ngừng” dụ cho quán hạnh dần dần tiến tới. “Đất ướt” dụ cho thấy một phần chân lý. “ Đến bùn” là dụ dòng pháp không còn xa, nên nói là “ Biết nước rất gần”. Đất ướt như nghe kinh Bát Nhã, bùn như nghe kinh Pháp Hoa này. Nghe kinh này phải nhờ công năng quán chiếu, phương tiện ngộ nhập mới thấy được nguồn chân Phật tính. Điều đó gọi là cùng với dòng pháp của Như Lai giao tiếp nhau.
Nếu lấy ngôn ngữ văn tự mà đắc đạo, nghĩa là nhờ bên ngoài mà hiểu, lấp bít con đường tự ngộ. Như vậy mà mong hết khát, được mát mẻ là rất khó, nên Kinh nói: “ Gần đó mà thôi”.
Ở trước có nói “ Bảo xứ” ở gần, còn đây thì nói “ Biết nước rất gần” còn nói “ Được gần Bồ đề” không nói đến mà chỉ nói gần, nên trong Tông môn gọi là ngôn ngữ rất kỵ mười thành (nói hoàn hảo).
14. Từ câu: “Bồ tát diệc phục như thị” đến câu: “Thành tựu Bồ tát nhi vị khai thị ” (Bồ tát cũng lại như thế … để thành tựu Bồ tát mà chỉ bày cho).
Đoạn này lấy Pháp phù hợp với Dụ.
Kinh này là tuệ mạng của chư Phật. Bồ tát tu hành nếu chưa nghe, chưa hiểu thì chưa thể tu tập kinh này, thì cách Bồ đề còn xa. Do vì còn bị vô minh phiền não che lấp như đất khô. Nếu được nghe hiểu, suy tư và tu tập, lấy phương tiện quán chiếu tức là gần Bồ đề như đào giếng thấy bùn. Bồ tát tu hành cần nương tựa kinh này vì tất cả trí tuệ đều thuộc về kinh này. Do kinh này khai mở phương tiện hiển thị thật tướng.
Kinh tạng Pháp Hoa là Như Lai tạng của chúng sinh. Nếu chưa mở bày thì còn trong tạng thức. Do còn ở trong tạng thức mà Bồ tát địa tận không thể biết hết, chỉ có Phật mới biết mà thôi. Cho nên gọi là sâu, chắc, tối, xa không ai có thể đến được. Không phải hạng đại căn cũng không ai có thể tin được. Nay Đức Phật vì các Bồ tát mà khai thị, không ở trong tay người khác được.
15. Từ câu: “Dược Vương! Nhược hữu Bồ tát” đến câu: “Tăng thượng mạn giả” (Dược vương! Nếu có Bồ tát… đó là hàng tăng thượng mạn).

Đoạn này nói không phải căn cơ thì khó tin.

Nếu Bồ tát nghe kinh này mà sợ hãi, đó là Bồ tát mới phát tâm. Còn hạng Thanh văn nghe mà hoảng sợ thì đó là hạng tăng thượng mạn. Đều không đúng căn cơ cả.
16. Từ câu: “Dược Vương! Nhược hữu thiện nam tử” đến câu: “Quảng thuyết thị Pháp Hoa kinh” (Dược Vương! Nếu có người thiện nam … rộng nói kinh Pháp Hoa này).
Đoạn này chỉ bày phương pháp thuyết kinh, đều gọi là dạy pháp cho Bồ tát vậy.
Trước đã nói cung kính và cúng dường người thuyết kinh như Phật. Kính người thuyết không phải kính miệng lưỡi của họ mà nên kính thể tánh cụ túc của Phật. Điều nói ra phải tương ứng với tâm Phật, và thể của tâm Phật. Cho nên nói vào nhà Như Lai, mặc áo Như Lai, ngồi tòa Như Lai mới có thể nói pháp. An thân là nhà, pháp thân không phải thân thể mình mà lấy chúng sinh làm thân. Nên gọi là Từ bi sở duyên, duyên nơi khổ của chúng sinh, đó là chư Phật lấy từ bi làm nhà. Che thân là Y, Phật vốn vô ngã, vô ngã nên không có vật gì làm đối tượng, nếu không có vật làm đối tượng sự vật không thể làm thương tổn. Thân ẩn trong nhẫn thì vô ngã sẽ đến, nên gọi là nhẫn nhục làm Y. Ẩn tâm là tòa, tâm không thì tịch diệt, tịch diệt thì như tiếng vang trong hang núi, nói mà không có cái để nói nên gọi là pháp không làm tòa. Thân tâm, ngôn ngữ của Như Lai là như vậy. Bồ tát có thể có đủ tính cách này, an trụ trong đó mới không bị giải đãi, và thuyết kinh cho bốn chúng. Như vậy mới gọi là người thuyết kinh. Nếu không như vậy muốn người khác kính trọng như Phật rất khó.
17. Từ câu: “Dược Vương! Ngã ư dư quốc” đến câu: “Ngã hoàn vị thuyết linh đắc cụ túc” (Dược Vương! Bấy giờ ta ở nước khác… Ta lại vì nói cho đó đặng đầy đủ).
Đoạn người thuyết kinh thể theo hạnh của Phật, thì cảm ứng được Phật hỗ trợ mà truyền bá Phật pháp.
Ở trước nói: “Nếu đệ tử ta chưa nhận được sự giáo hóa, sau khi ta diệt độ làm Phật ở nơi nước khác, có tên khác cũng độ cho họ”. Ở đây nói Đức Như Lai sau khi diệt độ có người nào dựa vào pháp mà thuyết kinh này, làm cho người không tin được tin tưởng. Nếu người nói pháp ở chỗ vắng vẻ, ta sẽ sai tám bộ chúng xuống làm người hộ pháp, để ma, tặc không làm hại. Không chỉ sai người mà chính ta đích thân hiện ra trước người, nếu có quên mất câu nào ta vì họ mà nói để được thông suốt. Sau khi Đức Như Lai diệt độ, trong đời ác trược, trì được kinh rất khó, nếu không nhờ Như Lai gia bị nhiếp thọ, thì làm sao cho pháp trụ ở đời lâu dài được.
18. Từ câu: “Nhĩ thời Thế Tôn dục trùng tuyên” đến câu: “Đắc kiến hằng sa Phật” (Bấy giờ Đức Thế Tôn muốn tuyên lại… được thấy hằng sa Phật .

Đoạn này bốn câu đầu là pháp rất thù thắng, nên người tin hiểu không dễ, bỏ tâm lười biếng không hòa lẫn với tình đời, đó gọi là chân tinh tấn. Dụng tâm phù hợp với Diệu pháp gọi là hạnh tinh tấn. Nếu muốn hết lười biếng thì phải nghe kinh này.

Câu: “Như người khát cần nước” trở xuống 6 câu, là thiết lập thí dụ. Câu: “Dược Vương ông nên biết” trở xuống 10 câu, là nói pháp hợp với thí dụ. Câu: “ Nếu người nói kinh này” trở xuống 14 câu, là nói thể theo hạnh của Phật. Câu: “ Ta trong muôn ức cõi” trở xuống 36 câu, là nói Phật trợ giúp truyền rộng Phật pháp, vì họ mà hiện thân ánh sáng… cho đến có mặt nói lời gia trì. Chư Phật hộ niệm chính là dạy Bồ tát pháp Phật thường hộ niệm. Câu: “Nếu ai gần pháp sư” trở xuống 4 câu, là khuyến khích kết duyên. Nói được thấy hằng sa Phật nghĩa là hằng sa đức tính ở trong tâm. Tùy thuận ở nơi tâm thì các đức tính hiển lộ.
Từ đây trở về trước chín phẩm là nói về khai Phật tri kiến. Khai có 2 ý: Đối với Phật thì vì chúng sinh mà khai thị, khai hiển, khai phát, cần làm cho chúng nghe được tự tin tâm này. Đối với căn cơ thì là khai ngộ, do chúng sinh từ lâu mê muội không tin tâm mình, nay nghe Phật thuyết thì bỗng nhiên liễu ngộ; đó gọi là “ Kẻ ngộ, tâm như hoa sen nở”.
Trong Kinh thường nói đến bốn loại Tri kiến, căn cứ nghĩa lý thì mười phẩm kinh trên đều trình bày bản hoài xuất thế của Như Lai. Các đệ tử một mực không biết tâm Phật, nên nghi lời Phật dạy, thậm chí cho Phật là ma. Nay thì xác tín không nghi mới tỏ lộ hiện tượng khai ngộ tâm này. Trong Tông môn bảo rằng: “Tin tự tâm là Phật thẳng đến chỗ không nghi” nên đều thuộc về chữ Khai cả.
Người xưa khái quát lấy phần trước là thuyết pháp ba châu để thọ ký ba căn cơ. Riêng phẩm Pháp Sư là thọ ký rộng rãi để bao gồm hết những sự thọ ký trước. Quán sát kỹ nghĩa kinh, chỉ nặng về người trì kinh, nói hết lợi ích của Diệu pháp.
Chúng sinh không biết có (tâm Phật) nay đã biết có nên phải trân trọng, không thể dễ dàng truyền cho những người không phải căn cơ. Điều ấy gọi là chẳng phải pháp khí thì chẳng truyền. Nói chung là hiển bày khai Phật Tri kiến vậy./.
Did you find apk for android? You can find new Free Android Games and apps.