Want create site? Find Free WordPress Themes and plugins.

QUYỂN III
 
Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Thông Nghĩa
PHẨM HÓA THÀNH DỤ
THỨ BẢY
 
Đại ý phẩm này do năm vị đại đệ tử đều được thọ ký. Trong khi đó trong chúng hội còn một loại Thanh văn độn căn, tự cho mình không có phần dự vào Bồ đề Phật quả, tập khí hẹp hòi chưa mất. Họ cho rằng năm vị Đại đệ tử đó, là những vị đứng đầu trong việc xương minh Phật pháp nên được thọ ký. Còn họ nghĩ mình thấp kém không có phần.
Cho nên Đức Thế Tôn dẫn chứng từ nhiều kiếp về trước, Đức Phật Đại Thông có nhân duyên giáo hóa 16 vị vương tử, trồng được chủng tử Nhất thừa, từ đó về sau đời đời được giáo hóa (nhất thừa). Nay nhân duyên đã chín muồi, đúng lúc ấn chứng để phá tâm chấp chặt hoài nghi của đại chúng. Làm phát khởi tâm hân hoan hâm mộ Đại thừa để dứt trừ tập khí. Do vậy mà dẫn giải việc xưa của Đức Phật Đại Thông và nhân duyên giảng pháp cho 16 vị vương tử để làm hiển lộ nhân duyên Phật tánh. Trình bày thí dụ Hóa thành chỉ là giả lập để thuyết minh ba thừa là tạm thiết lập mục đích là làm cho chúng sinh đừng sợ đường xa và sự mệt nhọc, tạo cho họ tạm nghỉ ngơi để tiếp tục tiến về bảo sở (Niết bàn tối hậu).
Do vậy, đây là khai phát và khích lệ hàng độn căn. Đại chúng nghe nói như vậy hiểu được nhân đời trước mà tự tin được thành Phật. Nên người đều được thọ ký. Nên mới có phẩm này vậy.
1. Từ câu: “Phật cáo chư Tỳ kheo” đến câu: “Thông đạt vô lượng kiếp” (Đức Phật bảo các thầy Tỳ kheo… suốt thấu vô lượng kiếp).
Đoạn này Như Lai dẫn chứng nhân duyên từ Đức Phật Đại Thông Trí Thắng để minh chứng cho hạt giống nhân duyên nối tiếp ngày nay.
Phật hiệu là Đại Thông Trí Thắng nghĩa là Nhất Thiết Chủng Trí, là thể tính pháp thân của chư Phật, là Phật tính vốn có của chúng sinh. Trí tuệ bản thể này siêu việt dung lượng của pháp giới nên gọi là Đại. Thấu triệt thánh phàm nên gọi là Thông. Thường sáng không mờ nên gọi là trí. Nghĩa Thù thắng trong những Thù thắng nên gọi là Thắng. Trí tuệ tối thắng này thì tác dụng không rời thể tánh, đủ cả mười hiệu, thường ở trong trạng thái thanh tịnh và chiếu sáng, cho nên tên nước ấy gọi là Hảo thành. Kể từ không kiếp về trước nên gọi thời gian ấy là Đại Tướng, chúng sinh đi ngược với thể trí này từ vô thỉ nên gọi là trải qua A tăng kỳ kiếp không thể nghĩ bàn. Ngài Tịch Âm lấy pháp giới quán của Hoa Nghiêm, gồm ba phép quán: Chơn không tuyệt tướng quán; Lý sự vô ngại quán; Châu biến hàm dung quán, để giải thích ba chữ Đại Thông Trí, ba nghĩa đầy đủ nên gọi là Thắng, rất phù hợp nghĩa lý. Trong kinh nói Trí vốn có. Trong quán pháp nói tu mới hiển lộ, làm như Trí có cái trước cái sau. Ở đây Trí còn gọi là Vô Sư Trí, Tự nhiên trí. Chư Phật chứng được bản thể của trí này nên gọi là Nhất Thiết Chủng Trí. Kinh Hoa Nghiêm nói: Lạ thay! Lạ thay! tất cả chúng sinh đều có đủ trí tuệ, đức tướng của Như Lai. Chỉ vì vọng tưởng điên đảo chấp trước mà không chứng được. Nếu bỏ được vọng tưởng điên đảo chấp trước ấy thì nhất thiết Trí, Vô Sư Trí, Tự Nhiên Trí lập tức có mặt. Vậy nên biết rằng trí này là nền tảng của chư Phật, là Phật tính của tất cả chúng sinh. Hàng nhị thừa vì không biết Trí này, nên cho cho rằng trước nay không có (trí này) nên bảo là không có phần thành Phật.
Đoạn trước tuy có năm đại đệ tử được thọ ký, họ có lòng tin vào tâm Phật không còn nghi, nhưng những người căn cơ thấp kém, còn vướng mắc vào danh ngôn và tập khí nhị thừa điều nghi ngày xưa chưa mất. Nay nghe được thọ ký mà lòng nghi vẫn chưa hết, không ngộ được lý do không mất. Cho nên Đức Phật đặc biệt chỉ dạy nhân duyên để thấy rõ nguồn cội của Phật tính từ xưa đến nay không mất đi đâu. Đó là lý do nói việc đã qua của Phật Đại Thông Trí Thắng làm sáng tỏ việc hiện nay. Như vậy vấn đề thọ ký đắc quả ở tương lai không phải là vấn đề không có thật. Có thể nói, đây là dùng nhân duyên để phá bỏ cái chấp của người căn tánh thấp kém.
Trước đã nói qua trí Phật không phải là đối tượng hiểu biết của hàng Nhị thừa, ngoài ra công đức quả mãn của Phật không thể nghĩ bàn, đây cũng là điều mà nhị thừa không biết. Nói “Từ khi Phật diệt độ đến nay đã rất lâu” là muốn nói rằng pháp thân ẩn không có cơ hội hiển lộ, do chúng sinh mê muội từ lâu rồi nên nói số kiếp nhiều như chấm mực nhỏ để so sánh. Lấy cõi đất cả Tam thiên đại thiên thế giới mài làm mực rồi đi khắp mười phương, bắt đầu từ phương Đông đi qua 1000 quốc độ chấm một giọt mực nhỏ như hạt bụi. Chỉ một giọt cho 1000 quốc độ, như thế từ phương Đông đi qua các phương khác nữa như trên. Những quốc độ chấm mực ta không thể biết nổi, không con số toán học nào tính được, huống gì những quốc độ không có chấm mực và có chấm mực cộng lại rồi nghiền thành bụi thì số bụi này quá lớn. Lấy một hạt bụi tính một kiếp thì số lượng kiếp ấy có thể tính được sao! Đó là truy nguyên cái khởi đầu là vô thỉ.
Đức Phật Đại Thông Trí Thắng diệt độ đến nay lâu hơn số lượng trên. Như vậy biết rằng chúng sinh đã mê mờ bản tính đến nay là lâu lắm rồi. Làm sao hàng nhị thừa có thể biết được! Ở trước đối với hàng thượng căn chỉ nói thành Phật đến nay, không nói về thời gian. Đối với hàng trung căn nói việc giáo hóa, chỉ nói hai vạn ức Phật, đều là một cách nói. Nay đối với hàng hạ căn thì nói vô lượng kiếp như vi trần, do nhị thừa kiến giải yếu kém còn nhị thừa vướng mắc vào tri kiến về đoạn diệt, trước sau. Sự chấp thủ khó buông xả, nếu không nói như thế khó phá bỏ. Đây là phương tiện tiếp dẫn của Như Lai. Hơn nữa tri kiến Như Lai xem thời gian lâu dài ấy như thời gian hiện tại, huống gì ngài ra đời độ sinh hơn bốn mươi năm qua không khi nào rời khỏi Tam muội (thiền định) Lại nói lời dối trá sao! Điều Như Lai nói là chân thật không lừa dối. Hàng hạ căn nghe điều này dù ngu muội đến đâu cũng có thể tin lời nói của Phật là chân thật. Đức Phật vì hàng nhị thừa mà khổ tâm, như ông Trưởng giả trong ngôi nhà lửa và cha của đứa con khốn cùng. Há có thể nói hết lòng thương vô hạn của Phật sao!. Có bài kệ nói rằng:
“ Trí Phật thanh tịnh vi diệu
Vô lậu, không chướng ngại
Thông đạt mọi thời kiếp”
Thế mới biết trí Phật, nhìn về quá khứ là vô thỉ nhìn về vị lai thì vô chung. Do vậy việc thọ ký cho đệ tử thành Phật, lâu xa không quá 300 vạn ức kiếp. Dùng Phật nhãn mà xem thì như trước mắt. Không đáng tin sao!
2. Từ câu: “Phật cáo chư Tỳ kheo” đến câu “Thành A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề” (Đức Phật bảo các Tỳ Kheo… thành đạo vô thượng chánh đẳng chánh giác).
Đoạn này nói về Đức Phật Đại Thông Trí Thắng từ pháp thân mà ứng hiện thân.
Nói: “Phật thọ năm trăm vạn ức na do tha kiếp”, đặc biệt nêu lên dấu vết ứng duyên. Nói “ Trước lúc ngồi đạo tràng” là nói ban đầu xuất hiện điềm lành của bậc thánh, chuẩn bị đắc quả Bồ đề. Chư Phật xuất hiện ở đời, lúc đầu phải thị hiện thành tựu chánh giác, nên gọi là “sắp được” Hỏi rằng: Phật đã thị hiện thì không cần có đắc làm gì mà nói là sắp được, tức là Bồ đề Phật Pháp, không xuất hiện là nghĩa gì? Đáp: Đây là chờ thời cơ. Đó có nghĩa là pháp thân Phật giống như hư không, ứng vật hiện hình như trăng dưới nước. Tâm thủy của chúng sinh thanh tịnh thì bóng Bồ đề hiện trong đó. Kinh Hoa Nghiêm dạy: “Phật Tỳ Lô Giá na ở trong thân tất cả chúng sinh mà thành chánh giác”. Do vậy, mới biết Phật vốn không thân, mà lấy chúng sinh làm thân. Nay Phật Đại Thông Trí Thắng có ứng mà không có cảm, nên nói là sắp được Bồ đề mà Phật pháp không xuất hiện trước. Do tâm chúng sinh chưa thanh tịnh nên chờ thời cơ đến mười tiểu kiếp. Trong kinh văn nói ngài “Ngồi kiết già phu tọa thân tâm không động” Đó nghĩa là đang nhập sát na tế tam muội, tức nói ở trước là vô lượng nghĩa xứ tam muội. Ngày nay Đức Phật ứng hiện thân chờ bốn mươi năm, không có gì là lâu cả.
Chư Thiên ở cõi trời Đao Lợi đến dưới cây Bồ đề trải tòa ngồi để chờ, chính là ý không rời khỏi cây bồ đề mà ứng hiện khắp nơi. Nói: “Vừa ngồi xuống tòa chư thiên mưa hoa, tấu nhạc cúng dường cho đến khi Ngài diệt độ”, là ý nói từ khi Phật xuất hiện trước sau không rời sát na tế Tam muội. Như Phẩm Tự đã nói trong hào quang xuất hiện chư Phật trước và sau đầy đủ, đều là cảnh trong hào quang. Nay trình bày thẳng, Kinh này luôn nói sự việc thật trong hào quang. “Qua 10 tiểu kiếp Phật pháp hiện ra trước mắt mới đắc quả vị Bồ đề”, là thời cơ khế hội, tâm cảnh thông suốt hết thời gian chờ đợi. Cổ đức nói: “Muốn biết nghĩa Phật tánh phải quán thời tiết nhân duyên”. Vậy mới biết đây là thời cơ nhân duyên nói trí tuệ của Phật. Cần chờ cơ duyên khế hội, nếu không đúng thời không thể gượng nói được.
3. Từ câu: “Kỳ Phật vị xuất gia thời” đến câu: “Đầu diện lễ túc nhiễu Phật tất dĩ” (Lúc Phật chưa xuất gia… đầu mặt lạy chân Phật, đi vòng quanh Đức Phật xong).
Đoạn này nói nhân duyên xưa của Đức Phật Thích Ca.
Khi nói Đại Thông Trí Thắng là muốn nói rõ Nhất thiết chủng trí. Nay nói rằng: Lúc Phật chưa xuất gia có 16 vị vương tử là nói rõ rằng Nhất thiết chủng trí đều do chuyển thức mà thành. Vì mê muội trí này gọi là Alạida thức, là tên gọi khi bị sinh tử trói buộc. Đây là thức căn bản tác dụng ra thành tám thức. Ở trước nói Đức Phật Nguyệt Đăng có tám người con riêng chỉ vào tám thức mà nói, cho nên gọi là “ Hữu ý” Nay gọi là 16, tên là “ Trí tích” thức vốn ở nơi trí, do mê mà chuyển tải thành thức, tác dụng nó có tám. Ngộ thì chuyển Thức thành Trí tác dụng nó có bố, nhưng Thành Sở Tác Trí tác dụng có năm nên cũng thành tám. Nay hiệp Vọng và Chân làm một thành 16. Đối với bốn trí viên mãn gọi chung là Nhất Thiết Chủng Trí. Cho nên người con ất tên gọi là Trí Tích. Nói: “Lúc chưa xuất gia”, là nói khi còn ở trần lao. Nếu đến quả thể thì chân vọng không hai. Tình cha con đều mất. Nhân xưa Đức Thích Ca là con thứ mười sáu, thì quyền hay thật có thể biết.
Nói “Các người con đều có các món đồ chơi” là nói thức căn bản (Alạida) chưa chuyển hóa, thì tất cả các thức đều ô nhiễm, vô tri và đắm nhiễm các đối tượng. Một khi thức căn bản đã chuyển thì các thức đều chuyển hóa, nhanh chóng đoạn trừ hai loại vô minh là phát nghiệp và nhuận sinh. Cho nên nói là “Nghe cha xuất gia đều bỏ các đồ châu báu”. Thỉ giác hiệp bổn giác nên nói “Đi đến chỗ Phật”. Kinh nói: “Lấy vô minh làm cha cùng với tham ái làm mẹ”. Nay Thức đã chuyển thành Trí, thì phiền não tham ái trở thành vun bồi cho tác dụng của Trí. Nên nói là “Các người mẹ khóc lóc theo đưa”. Do tâm ái nhiễm khó trừ nhưng không thể không bỏ.
Câu: “Ông nội là vua Chuyển Luân Thánh Vương”, trong luận Duy thức nói ngoài Alạida thức còn lập thêm một thức thứ chín gọi là Bạch tịnh thức, cũng chính là Chân như. Nay khi Alạida đã chuyển thì các tâm lý phụ thuộc (tâm sở) và 100 pháp, tất cả vi tế phiền não đều chuyển theo, đều cùng với Chân như làm tác dụng của Trí. Nên nói “Ông nội Chuyển Luân Thánh Vương cùng 100 đại thần và trăm nghìn muôn ức nhân dân đều cũng vây quanh đi theo đến đạo tràng.
4. Từ câu: “Nhất tâm hiệp chưởng chiêm ngưỡng Thế Tôn” đến câu: “Đương chuyển vô thượng luân” (Đều chắp tay một lòng chiêm ngưỡng… nên chuyển pháp vô thượng).
Đoạn này nói về vương tử tán thán sự xuất hiện của Đức Phật chỉ vì lợi ích cho cả nhân thiên.
Từ câu: “Thế Tôn đại oai đức”û xuống 6 câu, là tán thán công đức đắc quả của Phật. Câu: “ Thế Tôn rất ít có” xuống 8 câu, khen ngợi sự nhập định chờ cơ duyên của Phật. Câu: “Ngày nay thấy Thế Tôn” xuống 4 câu, là tự thấy vui mừng mà được lợi ích. Câu: “Chúng sinh thường đau khổ” xuống 8 câu, là nói về cơ duyên đang giáo hóa. Câu: “Nay Phật đặng vô thượng” xuống 6 câu, là vui mừng mình và mọi người đều được lợi ích.Khen ngợi xong rồi thỉnh cầu vận chuyển bánh xe chánh pháp để hiển bày ý nghĩa Đức Phật xuất hiện ở đời vốn vì muốn an ổn và thương xót chúng sinh, không để nơi xuất hiện của Ngài là vô nghĩa, cho nên thỉnh Phật thuyết pháp.
Từ câu: “Đức Phật không ai bằng” xuống 4 câu, là thỉnh Phật thuyết pháp về Thật trí. Câu: “Độ thoát cho chúng con” xuống 6 câu, là thỉnh Phật thuyết Quyền trí. Câu: “Thế Tôn biết chúng sinh” trở xuống 8 câu, là thỉnh Phật khai mở phương tiện để phù hợp với căn cơ của chúng sinh.
5. Từ câu: “Phật cáo chư Tỳ kheo” đến câu: “Thắng chư thiện quang” (Phật bảo các Tỳ kheo… sáng hơn ánh sáng của trời)..
Đoạn này Như Lai đặc biệt vì hàng hạ căn mà mở bày tri kiến Phật.
Tiếng Phạn gọi là Tỳ Lô Giá Na, Trung hoa dịch là Quang Minh Biến Chiếu tức là Đại Thông Trí Thắng. Cho nên nói thành Phật là Nhất thiết chủng trí, trí này là Phật tri kiến mà tất cả chúng sinh vốn có nó. Đức Phật vì vấn đề này mà xuất hiện ở đời nên gọi là vì một đại sự nhân duyên. Chúng sinh một khi đã mê mờ, bị vô minh trói chặt, thân thể và hoàn cảnh thế giới bị chướng ngại mà không thông suốt được. Chỉ vì bị rối loạn bởi vọng tưởng, phiền não. Sử dụng hằng ngày mà không biết, nên tạo vọng nghiệp, vướng mắc các khổ. Do vậy Đức Phật lấy tâm đại bi đồng thể, xuất hiện ở đời mà khai thị cho, khiến được ngộ nhập trí này, ra khỏi tử sinh. Đây mới là bổn hoài xuất thế của Như Lai. Chúng sinh một khi biết rõ trí này tức nhiên là Phật. Ý nghĩa này làm cho mọi người kinh sợ, không phải là điều mà hàng hạ căn chịu đựng nổi nên Phật chờ thơi cơ chín muồi mới nói.
Một hội Pháp Hoa này, nói chung trong bốn mươi năm qua, chỉ vì bản hoài độ sinh. Thế nên không coi thường mà vội nói. Nói khai thị là dùng ngôn ngữ để cho hiểu, dùng việc để chỉ cho thấy. Nên buổi đầu của Pháp hội, trước hết phóng một luồng hào quang, soi sáng phương Đông một vạn tám ngàn thế giới. Hiển rõ sự tướng của pháp giới, chúng sinh và Phật trước sau là một cách thể hiện toàn thể trí này. Lấy đó làm tiền đồ mà khai tri kiến Phật. Cho rằng căn cơ đệ tử đã thuần thục, có thể không cần dùng lời mà dụ. Hơn nữa cảnh của trí này, cả đến Ngài Di Lặc, đã được bổ xứ mà vẫn còn hoài nghi, phải nhờ ngài Văn Thù, là thầy của bảy Đức Phật, thay Phật nói giải nghi ngờ. Ngài đã viện dẫn nguồn gốc ban đầu của Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh để minh chứng cho điềm lành hiện nay của Phật. Đây là lần thứ nhất mở bày Phật tri kiến. Trong pháp hội vẫn mù mờ chưa hiểu, phải chờ Thế tôn xuất định, ân cần ca ngợi phương tiện, khai thị đến cuối phẩm Phương Tiện. Đức Thế Tôn mới hết lời tuyên dương, chỉ một mình ngài Xá Lợi Phất lãnh hội, mới biết sự mê mờ của chúng sinh rất sâu nặng. Phật phải thuyết thí dụ ngôi nhà lửa, nói về tình trạng đau khổ của ba cõi. Có thể biết rõ như xem đường chỉ trong bàn tay. Đến đây có bốn người lãnh hội, nhưng trong khi hội chúng có mặt 1200 vị, vẫn còn như trong giấc mộng. Biết sao đây! Phải tin rằng cánh cửa trí tuệ khó hiểu khó vào, nên Phật nói về nhân duyên đời trước một cách rõ ràng để chỉ cho dẫn chứng nguồn cội cuả đức Đại Thông Trí Thắng để làm nhân duyên cho ngày nay. Đặc biệt vì hàng hạ căn mà làm sáng tỏ vấn đề. Ban đầu thì ánh sáng ở giữa chặng mày phóng ra, sau đó mới chiếu rọi chỉ ở phương Đông. Nay là ánh sáng tuệ giác vốn có, không tùy thuộc vào phóng hay không phóng mà nó thường sáng tỏ, nên các chỗ tối tăm đều được soi sáng. Đây là trí tuệ bản nhiên, hằng ngày chúng ta đều sử dụng mà không biết, giờ trí tuệ bản nhiên chợt hiển lộ, tất cả chúng sinh đều thấy được tánh giác của mình. Cho nên đều nói: “Trong đây tại sao bỗng sinh ra chúng sinh?” Lạ thay! Lạ thay! Hào quang lớn chiếu sáng khắp chốn đến cả 10 phương. Đây là đặc biệt vì hàng hạ căn mà khai thị tri kiến Phật lần thứ hai.
Đoạn này vẫn dẫn chứng việc Phật ngày xưa, còn sau này ở trong phẩm Hiện Bửu Tháp thì Phật vì đại chúng mà chỉ cho thấy trí tuệ hiện tiền. Đó là lần thứ ba khai thị tri kiến Phật. Vấn đề chư thiên mười phương tìm theo ánh sáng mà thỉnh Phật, là nói rộng thêm ý chưa hết ở cuối phẩm Phương tiện.
6. Từ câu: “Nhĩ thời phương Đông” đến câu: “Vô lượng kiếp tập pháp” (Bấy giờ phương Đông… pháp tu vô lượng kiếp).
Đoạn này nói về đức Trí Thắng ban đầu ngồi ở đạo tràng, chư thiên, Phạm vương thỉnh Phật chuyển pháp luân.
Ở cuối phẩm Phương tiện Đức Như Lai tự thuật việc ban đầu ngồi đạo tràng, xem cây kinh hành, tư duy hai mươi mốt ngày. Ý muốn đem pháp Nhất thừa phân biệt nói thành ba thừa, tiến hay thối chưa quyết định. Bấy giờ chư thiên, Phạm vương thỉnh Phật khai mở tiệm pháp, do đó mà thuyết tam thừa.
Đức Phật nghĩ đến chư Phật quá khứ, đều thiết lập phương tiện, cũng thuyết Tam thừa. Nay Phật Đại Thông Trí Thắng được mười phương Phạm thiên một lúc đồng thỉnh cầu. Phật xuất định thuyết pháp Tứ đế. Thế mới biết rằng, ở trước nói Phật quá khứ tức ngày nay là Phật Trí Thắng. Đức Thích Ca là con của Phật Trí Thắng, nên khi thuyết pháp đều tuân theo bổn sư mình. Đó là gia pháp truyền thừa vậy. Trước chỉ nói sơ lược nay mới thật sự chỉ rõ lý do vì hàng hạ căn mà thiết lập.
Phàm khi chư Phật ra đời, đều do chư Thiên phạm thiên thỉnh cầu, điều này như một thông lệ. Hào quang của Phật Trí Thắng chiếu khắp mười phương, chư thiên đều theo ánh sáng mà hướng về tìm theo ánh sáng mà đến. Ở trước phẩm Dược Thảo Dụ nói: “Ta là Như Lai thì dùng lời nói mà triệu tập” Ở đây dùng hào quang để triệu tập đối với vấn đề thuyết pháp thì giống nhau. Đủ biết chư Phật đều dùng phương tiện, đều vì pháp Nhất thừa, chắc chắn không nghi.
Chư thiên gặp Phật và cúng dường đều giống nhau, nhưng lời khen ngợi có khác. Chỉ có thời kiếp không có Phật ra đời thì bất đồng Phương Đông Nam nói là 180 kiếp, Phương nam thì nói 130 kiếp, Thượng phương nói xưa vô lượng kiếp trải qua không có Phật… là do cơ cảm của chư thiên không giống nhau. Nói ánh sáng của đức Đại Thông Trí Thắng chiếu rất xa và mạnh mẽ. Bởi lẽ Đại Phạm Thiên Vương làm chủ thế giới Ta bà. Nay nói thêm mười phương đều có 500 vạn ức quốc độ đều có Đại Phạm Thiên Vương, hào quang chiếu sáng của Phật, dung lượng trùm cả pháp giới, hiệp chúng thành một cõi. So sánh với hào quang ở chặng mày chiếu sáng phương Đông một vạn 8000 cõi, thì như một trời một vực vậy. Chỉ có trí tuệ của Phật mới hiểu hết được. Đối với bậc thượng căn có thể nêu ra một phần, còn hạng hạ căn thì không có phần, do vậy không thể không vì họ mà thổ lộ, để họ hiểu rõ và tin tưởng. Nên biết đó là hạng độn căn, nếu không làm như vậy thì họ không tin hiểu. Đây là phương tiện thiện xảo của Như Lai.
7. Từ câu: “Nhĩ thời Đại Thông Trí Thắng Như Lai” đến câu: “Thị khổ diệt thị khổ diệt đạo” (Lúc bấy giờ đức Đại Thông Trí Thắng Như Lai … Đây là khổ diệt, đây là đạo diệt khổ).
Đoạn này nói về đức Đại Thông Trí Thắng nhận lời thỉnh cầu thuyết pháp.
Ba lần chuyển thành mười hai lần vận động bánh xe pháp, chính là thuyết pháp Tứ Đế. Ba lần chuyển ban đầu là nêu rõ hiện tượng của các khổ bức bách, lần chuyển thứ hai nêu rõ cái khổ cần phải biết, khuyến khích nhàm chán cái khổ, và hướng đến Niết bàn. Lần chuyển thứ ba tác chứng chuyển nghĩa là ta đã biết đã diệt khổ, do mình đã chứng được. Hàng nhị thừa nghe như vậy, nhờ nghe mà ngộ nên gọi là Thanh văn. Người xưa giải thích rằng ba lần chuyển hóa làm cho bước vào địa vị kiến đạo, tu đạo và vô học. Đề cập đến mười hai hành, Ngài Tịch Âm cho rằng nhờ đó mà người nghe pháp ấy phát sinh chân thánh tuệ nhãn vô lậu. Ở trong mỗi Đế quán chung ba đời, quán riêng thì lấy quá khứ làm đối tương trí quán, lấy vị lai làm đối tượng minh quán, lấy hiện tại làm đối tượng của giác quán. Như vậy một lần chuyển gồm cả Tổng và Biệt (quán chung và quán riêng) gồm bốn pháp, nên gọi là ba lần chuyển và mười hai hành tướng.
Đế là thẩm đế, (suy xét sự thật) Đế còn gọi là chân thật. Người phàm phu ở nơi cảnh khổ nhưng không biết bản chất cái khổ. Hàng nhị thừa thì thấy sự thật cái khổ nhưng không biết cái chân thật. Bồ tát thì thấy cái khổ là tánh không. Vậy tên gọi Tứ đế là một mà thông suốt cả Đại thừa lẫn Tiểu thừa. Ngài Thiên Thai giải nghĩa Tứ đế có bốn nghĩa: Sinh diệt, vô sinh, vô lượng, vô tác, tùy theo bốn giáo mà giải thích không đồng. Tạng giáo Tiểu thừa chỉ biết sinh diệt mà không biết vô sinh. Thông giáo tuy biết vô sinh mà không biết vô lượng, vô tác. Biệt giáo thì ngộ lý Vô lượng, Viên giáo thì ngộ lý Vô tác, Tuy một Tứ đế mà điều thấy bất đồng. Ở phẩm Phương tiện Đức Thích Ca nhận lời thỉnh cầu, là nói “Đem Nhất thừa phân biệt nói thành ba”. Nay Đại Thông nhận lời thỉnh cầu thì nói thẳng tiểu pháp mà không nói phân biệt. Chính vì giải thích điều nghi kia là thực. Vì Tiểu thừa cứ một chiều không biết đó là quyền, nên ở phẩm Phương tiện, đặc biệt vì họ mà mở bày quyền pháp hiển thị Thật pháp, điều mà hàng thượng căn đã lãnh hội. Hàng trung căn chưa lãnh hội ý nghĩa ba là giả, một là thật, cho nên thuyết dụ ngôi nhà lửa, ba xe và một xe, làm cho họ lãnh hội. Nhưng các hàng Tiểu thừa tuy biết xưa là quyền pháp mà không biết Quyền tức là Thật, cho nên thuyết dụ Dược thảo, một trận mưa vô tư, ba thứ cỏ, hai thứ cây, tùy rễ mà hút nhận, để trình bày pháp vốn là một. Chỉ vì căn cơ có khác biệt vậy. Hàng trung căn tuy ngộ, mà hạ căn vẫn nghi, không hiểu được ý chỉ pháp là một mà căn cơ là khác. Do đó dẫn chứng nhân duyên thuyết pháp của đức Đại Thông Trí Thắng để trình bày pháp chỉ có một. Đây chính là tương ứng với một trận mưa của Dược thảo dụ. Vì vậy, nay đức Trí Thắng nhận lời thỉnh thuyết pháp mà không nói phân biệt làm ba thừa. Chỉ nói thẳng pháp Tứ đế, tùy căn cơ mà lãnh hội đại tiểu bất đồng. Một pháp Tứ đế mà Tiểu thừa nghe thì ngộ được lý sinh diệt, Thông giáo nghe thì ngộ lý vô sinh, Biệt giáo nghe thì ngộ lý vô lượng, Viên giáo nghe thì ngộ lý vô tác. Đó chẳng phải là pháp thì một mà căn cơ thì khác hay sao! Nên Kinh Hoa Nghiêm nói về Tứ thánh đế rằng: đối tượng tu hành của bậc Địa thượng bồ tát là Tứ thánh đế, huống gì là bậc Tiểu thừa! Vì vậy Đức Như Lai nói pháp, cánh cửa trí tuệ ấy khó hiểu khó vào, là ý này vậy.
8. Từ câu: “Cập quảng thuyết thập nhị nhân duyên pháp” đến câu: “Bất khả xưng số” (Và rộng nói 12 nhân duyên… không thể tính kể được).
Đoạn này nói rộng hơn về Tứ Đế, tức nói pháp mười hai nhân duyên.
Pháp mười hai nhân duyên là pháp trung thừa có hai cách quán: Quán lưu chuyển và quán hoàn diệt. Từ vô minh duyên hành cho đến sinh duyên lão tử, ưu, bi, khổ, não là cách quán lưu chuyển. Đó là cách nói rộng hơn về Khổ và Tập đế, là nhân và quả thế gian. Quán từ vô minh diệt cho đến ưu, bi, khổ, não diệt là cách quán hoàn diệt, nói rộng về Diệt và Đạo đế là nhân quả xuất thế gian. Tiểu thừa lấy tập đế làm gốc của cái khổ, tập gồm có ba độc: tham, sân, si và các phiền não. Trung thừa thì nói vô minh là nhân tố của ba độc và các phiền não ấy, như vậy tiến sâu hơn vào nguyên nhân mê muội. Đây là vì hạng lợi căn mà nói.
Vô minh nghĩa diệu tánh bổn minh, chỉ vì một vọng niệm động làm tối tăm mờ ám bổn tính viên minh, nên gọi là “vô minh”. Ở nơi bản thể sáng trong, bị vô minh khuấy động mà sinh lưu chuyển nên gọi là “ Hành” Thể tánh đã dời đổi thì trí chuyển thành thức, gọi là Hành duyên thức. Ba chi phần này làm nguyên nhân khởi nghiệp trong quá khứ. Có nhân tức có quả, nên thức làm gốc kết tập cho sinh tử (Kiết sinh thức) Trí vốn vô danh vô tướng, mà thức thì nắm lấy Tứ đại. Sắc và tâm hòa hợp nên có danh có tướng, gọi là “Danh sắc”. Đây là lúc mới đầu thai. Đã nhập vào thai rồi thời gian vài tháng sáu căn đầy đủ gọi là “Lục nhập” Sáu căn đã đủ, hình hài thành tựu thì ra khỏi thai, các căn tiếp xúc cảnh trần gọi là “Xúc”. Nhận lãnh cái xúc chạm cảnh thuận hay nghịch gọi là “Thọ” Năm chi phần này là kết quả trong hiện tại. Thọ thì sinh “Ái” ái thì chấp thủ. Thủ dẫn đến tạo nghiệp. Đã tạo nghiệp rồi thì hậu quả không mất gọi là “Hữu” Ba chi phần này là nhân của hiện tại. Đã có nghiệp nhân, thì nghiệp quả tùy theo sau gọi là “Sinh”. Sinh duyên lão tử.v..v. Đây là hai chi phần của quả vị lai. Tuần hoàn ba đời, sinh tử tiếp diễn cho đến tận cùng số kiếp không dứt, làm nhân duyên cho mọi thứ khổ, chúng cùng tác thành hai đế: Khổ đế và Tập đế.
Bậc trung thừa tu tập đoạn trừ, quán chiếu một khi vô minh diệt thì 11 chi phần khác đều diệt. Như cây ngã, rễ dứt thì cành lá đều ngã đổ. Đó là hạnh tu đoạn của hàng lợi căn, chính là hai đế sau Diệt và Đạo, nên trong Kinh văn nói: “Rộng nói pháp mười hai nhân duyên” là vậy.
Từ câu: “Đức Phật ở trong đại chúng trời người” trở xuống, nói về lần pháp thứ nhất, thính chúng nghe pháp được lợi ích. “Không thọ nhận tất cả pháp” là ngộ được lý không. Nói “ các lậu” là chỉ cho lậu có ba thứ: Dục lậu, Hữu lậu, và Vô minh lậu. Nói: “Tâm được giải thoát” nói đoạn trừ duyên cành lá gốc rễ vô minh tiềm phục nhưng không khởi sinh, đó là giải thoát chứ chẳng phải đoạn trù vô minh là đại giải thoát. Nói “ Thiền định” “ ba minh” … đều là quả chứng được của hàng nhị thừa.“Nói pháp lần thứ hai thứ ba” … là nói kế tiếp, các pháp hội ấy cũng thuyết pháp Tứ đế, mười hai nhân duyên mà Tiểu thừa được độ thoát. Nên gọi là “Bất khả xưng số”.
9. Từ câu: “Nhĩ thời thập lục vương tử” đến câu: “Vương tức thính hứa”
(Bấy giờ 16 vị vương tử… vua liền thuận cho).
Đoạn này các vương tử thỉnh cầu thuyết pháp Phật Đại thừa.
Mười sáu vị vương tử ban đầu xả bỏ tham ái, gần gũi đức Đại Thông Trí Thắng, thỉnh ngài chuyển bánh xe pháp. Điều thỉnh cầu ấy chỉ là làm an ổn thiên nhân, tuy không nói là Tiểu thừa nhưng ý là ở nơi Tiểu thừa. Cho nên đức Đại Thông Trí Thắng trước hết nói pháp Tứ đế và Thập nhị nhân duyên. Như nay Đức Thích Ca ban đầu thuyết kinh A Hàm, là Tiệm giáo, các vị Tiểu thừa nhờ đó mà được hóa độ.
Các vị vương tử đều là đồng tử xuất gia, đặc biệt thỉnh Phật thuyết pháp Vô thượng bồ đề, là pháp thành Phật. Tự bày tỏ bổn nguyện thâm sâu, đó là chí nguyện thành Phật, không phải đối tượng hiểu biết của nhị thừa. Các vương tử xuất gia biểu tượng cho sự giải thoát khỏi triền phược, các thức đã được chuyển hóa, thì tất cả gốc rễ cành ngọn của phiền não đều chuyển thành diệu dụng chân như. Đó là ý nghĩa chuyển luân vương đem thần dân tám vạn ức người cũng xuất gia. Các thức đều chuyển thành tác dụng Trí tuệ, là nhân chính tác thành Phật quả. Đó là lý do thỉnh Phật thuyết pháp Đại thừa.
10. Từ câu: “Nhĩ thời Phật thọ sa di thỉnh” đến câu: “Ư kim bất tận” (Bấy giờ Đức Phật nhận lời thỉnh của sa di… đến nay vẫn chẳng ngớt).
Đoạn này nói về Đức Đại Thông Trí Thắng nhận lời thuyết pháp Đại thừa.
Tuy đã nhận lời mà còn chờ hơn hai vạn kiếp mới nói kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Chờ thời gian chín muồi mới nói, cũng như hôm nay, do Phật kia thọ mạng rất dài nên thời gian chờ đợi cũng lâu, điều ấy tự nhiên. Đến khi thuyết pháp, thuyết riêng cho mười sáu vị vương tử, là chúng đương cơ có thể thọ trì và tin nhận. Ngoài ra các Thanh văn có thể có lòng tin nhưng thọ trì thì chưa. Chúng sinh còn lại đều mang lòng nghi hoặc, đó chính là những hạt bụi lúc ấy, trở thành chúng đương cơ ngày nay. Vì đối tượng còn nghi hoặc ấy mà thời gian thuyết pháp lâu dài đến 8.000 kiếp. Nay thuyết kinh này, chưa đủ số năm mà cơ duyên tiếp nhận đã hết, căn cơ ở mà ngưng ngay đây. Còn những người chưa thuần thục thì làm nhân tố của tương lai. Đức Như Lai thuyết kinh này xong, không bao lâu Ngài nhập Niết bàn, duyên hóa độ đã mãn. Còn Phật Đại Thông Trí Thắng nhập thất thiền định để chờ sự thành thục của mười sáu vị vương tử. Ngài muốn đem Diệu pháp truyền nối đến vô cùng, đó gọi là “ Hộ niệm phó chúc giáo Bồ tát pháp”. Thời bấy giờ có vị vương tử thuyết kinh Pháp Hoa, đó là vị vương tử thủy tổ của kinh Diệu Pháp Liên Hoa từ khi thành Phật độ sinh đến nay chưa rời khỏi Đại thông tam muội.
Phật Trí Thắng nhập định tám vạn bốn ngàn kiếp, biểu tượng cho 84.000 phiền não của chúng sinh, là cánh cửa thiền định của chư Phật, là tác dụng Trí tuệ và đức hạnh của Bồ tát.Do vậy có thể hóa độ sáu trăm vạn ức na do tha hằng hà sa chúng sinh. Tiêu biểu cho chuyển hóa vi tế phiền não của sáu thức thành diệu hạnh của sự thành Phật, làm cho tất cả đều phát tâm Bồ đề. Thế mới biết sự nghi hoặc của chúng sinh, nếu không nhờ công đức tích luỹ tri thức lâu ngày, thì làm sao mà sinh chánh tín được. Thật là khó tin khó hiểu. Vì vậy mà trong hội chúng này có nhiều người rút lui không dự.
Đức Đại Thông Trí Thắng ra khỏi thiền định ấn chứng cho mười sáu vị sa di đã khéo léo thuyết pháp trọng yếu. Ngài dặn dò đại chúng cần phải gần gũi cúng dường. Chính là nhân duyên chủng tử của ngày hôm nay.
Từ câu: “ Vì sao như vậy” trở xuống, là giải thích ý nghĩa của sự gần gũi. Vì người trong ba thừa chỉ tin thuyết lý của mười sáu vị này, nên đều được ích lợi lớn về trí tuệ Như Lai. Vậy mới bảo nên gần gũi. Câu: “Phật bảo các Tỳ kheo” trở xuống, là biểu thị dấu vết ngày xưa làm nhân tố cho ngày nay. Mười sáu vị Bồ tát thường nói Diệu pháp là để giáo hóa chúng sinh, đời đời không dứt. Lâu dài mà tự tin là làm hiển lộ công phu nghe và huân tập Diệu pháp. Trải qua nhiều đời gặp Phật, đến nay không cùng tận. Qua đó nói rõ cội nguồn của Diệu pháp xuất sinh cho đến ngày nay, đó là nhân duyên không nhỏ vậy.
11. Từ câu: “Chư tỳ kheo ngã kim ngữ nhữ” đến câu: “Thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề” (Các Tỳ kheo! Ta nói với các ông… Thành vô thượng chánh đẳng chánh giác).
Đoạn này nói 16 vị vương tử do công đức thuyết Diệu pháp mà được thành Phật, thị hiện trong tám phương, tên gọi khác nhau, do vì tùy theo đức hạnh mà phù hợp với tên gọi. Theo lối giải thích xưa thì căn cứ theo bát quái mà giải vốn có lý, người học dễ hiểu Đức Thích Ca Mâu Ni thị hiện cõi Ta bà, còn gọi là cõi khó nhẫn. Đặc biệt theo bổn nguyện mà ở trong thế giới khó chịu đựng để giáo hóa chúng sinh. Nếu không có lòng từ bi sâu sắc và chí nguyện lớn, thì ai có thể chịu được như vậy! Phẩm Thọ Lượng nói: “Thật ra ta đã thành Phật đến nay rất lâu rồi”. Ở đây nói: “ Ta thành Phật trong cõi Ta bà”, là muốn nói rằng Đức Thích Ca là ứng thân của Phật Tỳ Lô Giá Na, thế mới biết cả ba thân đồng một thể, lâu và mau đều mất. Đó là lực Bất tư nghì của Phật vậy.
12. Từ câu: “Chư Tỳ kheo” đến câu: “Vị lai thế trung, Thanh văn đệ tử thị dã” (Các tỳ kheo … các đệ tử Thanh văn trong đời vị lai).
Đoạn này Đức Như Lai thuật lại những sự giáo hóa thuở xưa, chính là nhân duyên ngày nay.
Ban đầu Đức Như Lai chỉ dùng Diệu pháp nhất thừa làm chủng tử thành Phật. Đã độ cho vô lượng chúng sinh đều theo Phật, phát Bồ đề tâm rồi, mà nay vẫn ở địa vị Thanh văn. Ở đây nói về sau bị thoái đọa. Trước đã nói: Ngày xưa ta dạy chí nguyện về Phật đạo mà nay các ông đều quên. Thật vậy, ban đầu dùng pháp Đại thừa dạy các ông, muốn các ông thành Phật, nhưng các ông đều quên, nên nay ta phải dùng pháp Tam thừa để các ông dần dần thành tựu Phật đạo. Đây là nguyên nhân ngày xưa, các ông chỉ chấp chặt pháp tạm thời được thiết lập thuở trước mà không đạt ngộ được ý nghĩa chân chính của Như Lai. Do vậy mới nói trí tuệ Như Lai, khó tin khó hiểu. Bây giờ đây đại chúng được giáo hóa, tức là các ông nay hiện diện, làm đệ tử thọ giáo. Ngày nay duyên đã thuần thục là thời kỳ đắc đạo. Ngoài ra những người chưa được thọ ký thì nhân tố ngày xưa vẫn còn đó, sẽ làm duyên cho tương lai. Sau khi ta diệt độ, đời vị lai làm Thanh văn đệ tử là các ông vậy.
13. Từ câu: “Ngã diệt độ hậu” đến câu: “Trừ chư Như Lai phương tiện thuyết pháp” (Sau khi ta diệt độ … trừ các đức Như Lai phương tiện nói pháp).
Đoạn này nói rộng hơn về nhân duyên đắc đạo trong tương lai.
Những đệ tử được ta giáo hóa, đời này không thể nhận hết sự giáo hóa của Phật. Sau khi ta diệt độ có người không tin kinh này, vướng mắc vào pháp tiểu thừa, thì ta ở một cõi Phật khác, sẽ có một danh hiệu khác để tạo điều kiện hóa độ cho họ. Tức là ở cõi khác mà nhận sự giáo hóa và cũng từ kinh này mà vào Phật đạo, không có thừa nào khác, ngoại trừ nói các phương tiện. Vậy mới biết chư Phật độ sinh thành Phật đều lấy Kinh này làm cứu cánh.
Nói ở nước khác làm Phật, như trong Kinh Hoa nghiêm phẩm danh hiệu Phật, nói Phật có bốn trăm ức mười ngàn tên gọi, đều tùy cơ mà ứng hiện danh hiệu. Tuy nhiên tên gọi có khác mà thực chất không khác, đều dùng Diệu pháp khai thị trí tuệ Phật cho chúng sinh.
14. Từ câu: “Chư tỳ kheo” đến câu: “Duy nhất Phật thừa đắc diệt độ nhĩ” (Các Tỳ kheo … chỉ có một Phật thừa đặng diệt độ thôi).
Đoạn này là phần kết, tổng quát về sự thật đã trình bày ở trên.
Chư Phật ra đời, tuy vì một nhân duyên lớn, nhưng vẫn quyết định thuyết ba thừa để dẫn lối cho chúng sinh, chờ cơ duyên thành tựu, hóa duyên sắp hết, sau đó mới nói Kinh này. Triệt để bác bỏ pháp tạm ngày xưa, chỉ nói một pháp chân thật. Đây là nguyên tắc độ sinh của chư Phật. Đại chúng đều đã thanh tịnh, đó là những người căn cơ đã chín muồi có thể thọ nhận được. Cho nên mới tập trung các vị Bồ tát mà nói kinh này, họ đều được thọ ký làm Phật, mới thỏa mãn được tâm nguyện xuất thế vậy.
15. Từ câu: “Tỳ kheo đương tri” đến câu: “thử thành phi thực, ngã hóa tác nhĩ” (Tỳ kheo nên rõ … thành này không phải thật của ta, do ta biến hóa làm ra đó thôi).
Đoạn này lấy thí dụ về Hóa thành để chỉ dẫn đi tới, trước thiết lập pháp tạm thời làm thí dụ gốc.
Đức Như Lai sở dĩ trước hết thiết lập Tiệm Giáo sử dụng phương tiện quyền trí, là vì quán sát thấy chúng sinh, tâm ưa muốn không giống nhau. Biết họ thích pháp nhỏ, khó mà làm họ giác ngộ pháp lớn, nên thuyết về Niết bàn của Tiểu thừa, tạm thời dừng nghỉ.
Từ câu: “Thí như đường hiểm” trở xuống, là dụ nói về ý muốn thiết lập pháp phương tiện. “Năm trăm do tuần” dụ cho chúng sinh lưu chuyển trong năm đường, ba độc hưng thịnh. Nên dụ là ác đạo làm mất tính chân thật, chỉ chạy theo tham, sân. Cho nên gọi là “Chốn ghê sợ”. Nói: “hoang vắng không người”, dụ cho chúng sinh mê muội. Chốn trân bảo, dụ cho cõi Diệu trang nghiêm hải, là quả giác báo độ. “Nhiều người” dụ cho người trong ba thừa muốn ra khỏi sinh tử và muốn làm Phật. Bên Ấn Độ những người đi buôn tìm châu báu, phải có một người làm người dẫn đường. Ở đây dụ cho Đức Thích Tôn xuất thế làm đạo sư cho chúng sinh, dẫn chúng sinh ra khỏi năm đường. Cho nên nói: muốn vượt qua nạn này, còn đem theo những người mệt mỏi muốn lui. Đây là dụ cho hàng nhị thừa hẹp hòi, yếu đuối, lo sợ Phật đạo xa xôi, đều muốn ngừng nghỉ. Nói “Vị đạo sư nhiều sức phương tiện”, dụ cho Đức Thế Tôn thiết lập phương tiện tạm thời. “Quá ba trăm do tuần hóa làm một cái thành” dụ cho ngoài ba cõi, thiết lập Niết bàn Tiểu thừa làm chỗ nghỉ giữa đường. Nói “Chúng mỏi mệt rất vui mừng” là dụ cho hợp với tâm người Nhị thừa. “Mọi người vào thành sinh lòng tưởng cho rằng đã được độ rất an ổn” là dụ cho hàng Tiểu thừa đắm trước Niết bàn, không chịu tiến lên nữa. Nói: “Bậc đạo sư, khi biết đại chúng đã hết mệt mỏi liền phá bỏ hóa thành” là dụ cho ngày nay căn cơ đã thuần thục bỏ pháp tạm lập pháp chân thật. Nói “Chỗ chân báu ở gần” dụ cho Phật quả không xa, quyết đi tới thì gặp. Như vậy các thí dụ nói rõ vì hàng hạ căn mà khai quyền hiển thị pháp thật.
“Các Tỳ kheo” trở xuống, nói đến Pháp và Dụ phù hợp. Nói“ Biết các đường dữ sinh tử” trở xuống, là ý nói muốn biết thông suốt nền tảng (con đường sinh tử). “Nếu như chúng sinh” trở xuống, là nói sợ xa làm mỏi mệt, nếu chỉ nói Phật thừa mà không mở phương tiện thì chúng sinh sợ hãi Phật đạo quá xa. Vì thế không thể không lập phương tiện. “Phật biết tâm chúng” trở xuống, ý nói đến Hóa thành, “Hai món Niết bàn” tức hai quả vị Thanh văn và Duyên giác. “ Nếu chúng sinh trụ nơi” trở xuống, phù hợp với ý là đại chúng nghỉ ngơi, liền bỏ hóa thành để khích lệ tiến tới bảo sở. Nhất thừa Phật huệ chính là bảo sở. Hàng nhị thừa đã ra khỏi con đường hiểm trở của ba cõi, nên gọi là “Gần với huệ của Phật”. Do bỏ quyền mà thành thật pháp, nên thành Phật không khó. Đây là ý nghĩa của khai quyền hiển thật vậy.
16. Từ câu: “Nhĩ thời Thế Tôn” đến câu: “Vật hoài kinh cụ” (Lúc đó Đức Thế Tôn… dè dặt chớ kinh sợ).
Đoạn kệ tụng này nói việc nhân duyên.
Từ câu: “Đức Đại Thông Trí Thắng Phật” trở xuống 16 câu, nói lại Đức Đại Thông Trí Thắng thành Phật. Câu “Mười sáu người con Phật” trở xuống bốn câu, nói vương tử gặp Phật. Câu: “Đầu mặt lạy chơn Phật” trở xuống, nói Vương tử thỉnh Phật thuyết pháp. Câu: “Các thế giới phương đông” trở xuống 20 câu, nói về Phạm thiên trong mười phương thỉnh Phật chuyển pháp luân. Câu: “Thế Tôn huệ vô lượng” trở xuống 8 câu, nói về Phật chấp nhận lời thỉnh cầu mà khai mở tiệm pháp. Câu: “Tuyên nói pháp đó rồi” xuống 4 câu, nói về hội thuyết pháp thứ nhất, hàng Nhị thừa được lợi ích.Câu: “Thời nói pháp thứ hai” xuống 8 câu, là nói lại hội thứ 2, 3, 4, rất nhiều người được lợi ích. Câu: “Bấy giờ mười sáu vị” xuống 8 câu, là nói Vương tử thỉnh Phật thuyết pháp Đại thừa. Câu: “Phật biết lòng đồng tử” xuống 10 câu, nói lại Phật chấp nhận vì họ mà nói Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Nói “Kệ nhiều như hằng sa” là nói không gian rộng và thời gian dài, cho nên kinh được nói, lời lẽ cũng nhiều như vậy.
Những lời đàm luận phù hợp chân lý, hợp với căn cơ, vốn không phải là một pháp nhất định. Cho nên Kinh này một thời chỉ hai mươi tám phẩm mà Phật Đăng Minh nói 60 kiếp, Đức Đại Thông Trí Thắng thì nói 8.000 kiếp. Ngài Thường Bất Khinh Bồ Tát nghe từ nơi Phật Oai Âm Vương hai mươi vạn ức bài kệ, Hỷ Kiến Bồ Tát nghe từ nơi Phật Nhật Nguyệt Tịnh Đức 500 vạn ức A súc bà bài kệ. Đây là nói pháp phù hợp chân lý. Nói rộng hẹp không đồng vì thông suốt phương tiện mà nói (nên tùy mà nhiều hay ít).
Từ câu: “ Phật kia nói Kinh rồi” xuống 16 câu, là nói Đức Đại Thông Trí Thắng nhập định, các vương tử nói Kinh Diệu Pháp Liên Hoa độ cho hằng sa chúng. Câu: “Sau khi Phật diệt độ” xuống 4 câu, nói lại đại chúng được giáo hóa, đời đời làm nhân duyên được hóa độ. Trong văn Trường hàng không có nói diệt độ, trong kệ tụng lại nói. Câu: “Mười sáu vị sa di đó” xuống 4 câu, nói về Vương tử thành Phật. Câu: “Người nghe pháp thuở đó” xuống 8 câu, nói về 16 vị Phật đều thuyết Diệu Pháp, để dẫn vào Trí tuệ Phật. Thế mới biết duyên hóa độ đến nay rất là lâu xa. Câu: “Do bổn nhân duyên đó” xuống 4 câu, nói về sự giáo hóa bây giờ đều do duyên xưa, đã gieo chủng tử thành Phật thì nay làm Phật, đừng có hoài nghi. Như vậy trải qua nhân duyên xưa, do hạ căn mê mờ mà thành không tin.
17. Từ câu: “Thí như hiểm ác đạo” đến câu: “Dẫn nhập ư Phật huệ” (Thí như đường hiểm dữ… dẫn vào nơi huệ Phật).

Đoạn kệ tụng này từ câu đầu đến câu 46 là nói chung về các thí dụ như ở văn Trường hàng đã nói. Trong văn Trường hàng thì nói hóa thành mà kệ tụng lại nói thành quách, nhà cửa, vườn tược, rừng, suối, ao hồ, lầu các, nam nữ đầy đủ các việc. Tức là ví dụ rộng về kết quả của Quyền pháp tam thừa, công đức lợi ích như vậy. Đại hay Tiểu đều giống nhau, đều không phải là thực chứng. Nên gọi chung là biến hóa làm ra để nghỉ ngơi mà thôi.

Câu: “Ta lại cũng như vậy” trở xuống, là nói về pháp. Mười câu đầu là khai mở phương tiện “Đã biết” xuống 16 câu, là bỏ Quyền lập Thật. “Các Phật là đạo sư” xuống bốn câu, là tổng kết Pháp và Dụ, trọn nghĩa của một phẩm./.
Print Friendly, PDF & Email
Did you find apk for android? You can find new Free Android Games and apps.