KINH PHÁP CÚ THÍ DỤ
Dịch từ Phạn văn: Pháp sư Pháp Cự và Pháp sư Pháp Lập ở Thế Kỷ 4
Dịch sang Tiếng Việt: Tại gia Bồ-tát giới Thanh tín nam Nguyên Thuận

 

 QUYỂN 3

PHẨM 31: VOI DỤ

Thuở xưa khi Tôn giả Phú Chướng vẫn chưa đắc Đạo, tâm tánh của ngài thô bạo và lời nói không thành tín.

Một hôm Phật bảo Cần sách nam Phú Chướng rằng:

“Ở nước Hiền Đề có một tinh xá, con hãy đến nơi ấy để thu nhiếp tâm ý, gìn giữ lời nói, và siêng tụng Kinh trì giới.”

Cần sách nam Phú Chướng vâng lời dạy, đảnh lễ rồi cáo lui. Suốt 90 ngày ở đó, ngài cảm thấy hổ thẹn và hối lỗi đến cả ngày lẫn đêm chẳng ngừng. Do đó Đức Phật đến thăm. Ngài rất vui mừng và đến ở trước Phật đảnh lễ, rồi đi móc cái chõng và nhiếp tâm khỏi run sợ.

Đức Phật ngồi ở trên chõng và bảo Cần sách nam Phú Chướng rằng:

“Con hãy mang chậu nước tới đây để Ta rửa chân.”

Cần sách nam Phú Chướng vâng lời mang đến và rửa chân cho Phật.

Khi đã rửa chân xong, Đức Phật bảo Cần sách nam Phú Chướng rằng:

“Con có thấy nước rửa chân ở trong chậu chăng?”

Cần sách nam Phú Chướng thưa với Phật rằng:

“Dạ, con thấy!”

Phật bảo Cần sách nam Phú Chướng:

“Nước này có thể dùng để nấu ăn hay súc miệng chăng?”

Cần sách nam Phú Chướng thưa rằng:

“Dạ, không thể dùng được nữa!

Vì sao thế? Bởi nước này vốn rất trong sạch, nhưng bây giờ đã dùng để rửa chân nên rất dơ bẩn. Cho nên nó không thể dùng được nữa.”

Phật bảo Cần sách nam Phú Chướng:

“Con cũng như thế. Tuy là con trai của Ta, là cháu nội của vua, đã lìa bỏ thế tục vinh hoa để làm Đạo Nhân nhưng chẳng tinh tấn thu nhiếp thân ngữ ý, mà chỉ ôm giữ đầy rẫy cấu uế của ba độc, thì cũng như nước này vậykhông thể dùng được nữa.”

Phật bảo Cần sách nam Phú Chướng:

“Hãy mang nước trong chậu đổ đi.”

Cần sách nam Phú Chướng liền mang đổ.

Phật bảo Cần sách nam Phú Chướng:

“Tuy giờ cái chậu trống rỗng, nhưng nó có thể dùng để đựng ẩm thực chăng?”

Ngài thưa với Phật rằng:

“Dạ, không thể dùng!

Vì sao thế? Bởi cái chậu này từng đã chứa đồ bất tịnh.”

Phật bảo Cần sách nam Phú Chướng:

“Con cũng như thế. Tuy là một Đạo Nhân nhưng lời nói không thành tín, tâm tánh cang cường, chẳng tinh tấn và từng bị mang tiếng xấu, thì cũng như cái chậu nàykhông thể dùng đựng thức ăn được nữa.”

Tiếp đó Đức Phật đưa ngón chân hất cái chậu. Cái chậu lập tức xoay vòng vòng đến nhiều lần mới dừng lại.

Phật bảo Cần sách nam Phú Chướng:

“Con có đau tiếc gì nếu bị Ta làm vỡ cái chậu này chăng?”

Cần sách nam Phú Chướng thưa với Phật rằng:

“Cái chậu đã dùng để rửa chân, là đồ vật rẻ mạt. Trong lòng sẽ tiếc một chút nhưng chẳng lưu luyến gì.”

Phật bảo Cần sách nam Phú Chướng:

“Con cũng như thế. Tuy là một Đạo Nhân nhưng không thu nhiếp thân tâm, lời nói thô ác khiến tổn thương kẻ khác, mọi người chẳng thương mến và bậc trí chẳng kính trọng. Khi chết thần thức sẽ rời khỏi thân và luân chuyển trong ba đường ác, tự sanh tự diệt và chịu vô lượng khổ não. Chư Phật và hiền thánh sẽ chẳng thương mến hạng người này, cũng giống như con nói rằng chẳng luyến tiếc cái chậu vậy.”

Khi nghe thế, Cần sách nam Phú Chướng cảm thấy hổ thẹn và run sợ.

Phật bảo Cần sách nam Phú Chướng:

“Hãy nghe Ta kể một thí dụ.

Thuở xưa có một quốc vương sở hữu một con voi to lớn. Nó rất dũng mãnh và có thể chiến đấu. Sức mạnh của nó vượt hơn 500 con voi nhỏ.

Bấy giờ ông vua này khởi binh và muốn thảo phạt nước gây loạn. Con voi được trang bị áo giáp sắt, có tượng sĩ chỉ huy ở trên, và hai cây giáo được buộc ở hai ngà voi. Lại dùng hai thanh kiếm buộc ở hai tai, dùng dao bén cong buộc ở bốn chân, và còn dùng mác sắt buộc ở đuôi voi. Toàn thân của voi lớn được buộc vào chín binh khí sắc bén vô cùng. Khi giao đấu, duy chỉ có cái vòi là voi che giấu và bảo hộ mà không sử dụng. Tượng sĩ vui mừng và biết voi đang bảo hộ thân mạng của nó.

Vì sao thế? Bởi cái vòi của voi rất mềm và mỏng. Nếu trúng tên thì nó sẽ chết ngay. Do đó nó không đưa vòi ra khi giao đấu vậy.

Lúc bấy giờ voi đang chiến đấu quyết liệt đã lâu, nó bỗng nhiên đưa vòi ra để tìm thanh gươm. Thấy thế tượng sĩ không cho phép, và nghĩ rằng con voi dũng mãnh này chẳng luyến tiếc thân mạng mà đưa vòi ra để tìm thanh gươm và muốn quấn ở trước đầu vòi của nó. Nhà vua cùng quần thần đều thương tiếc và sợ con đại tượng này sẽ trúng thương nên chẳng còn bắt đi tác chiến nữa.”

Phật bảo Cần sách nam Phú Chướng:

“Con người dù phạm chín loại nghiệp ác, nhưng nếu khéo gìn giữ lời nói thì vẫn có thể sống còn. Đây ví như con đại tượng kia bảo hộ cái vòi của nó mà không đưa ra khi giao đấu vậy.

Vì sao thế? Bởi nó sợ cái vòi bị trúng tên thì sẽ chết ngay. Con người cũng như thế. Cho nên phải gìn giữ lời nói, kinh sợ ba đường ác và những sự thống khổ ở địa ngục. Nếu mười nghiệp ác đều vi phạm và chẳng gìn giữ lời nói, thì cũng giống như con đại tượng kia tiêu tan cả thân mạng, chẳng màng bị trúng tên và đưa cái vòi ra khi giao đấu vậy.

Con người cũng như thế. Nếu ai tạo mười nghiệp ác và chẳng tư duy ba đường ác thì sẽ chịu thống khổ độc ác khôn lường. Còn nếu ai tu hành Mười Nghiệp Lành, thu nhiếp thân ngữ ý, và chẳng phạm các điều ác thì sẽ có thể đắc Đạo và vĩnh viễn lìa xa sanh tử ở ba đường ác.

Lúc bấy giờ Thế Tôn liền nói kệ rằng:

“Như voi lúc giao đấu
Chẳng sợ bị trúng tên
Luôn dùng lòng thành tín
Độ kẻ không giới đức

Ví như voi điều phục
Mới để cho vua cưỡi
Khéo điều làm hiền nhân
Mới được lời thành tín”

Khi nghe lời Phật dạy, Cần sách nam Phú Chướng thành khẩn sám hối và cảm động đến nước mắt bất chợt rơi xuống. Ngài khắc cốt ghi tâm, tinh tấn nhu hòa, lòng nhẫn như đại địa, tâm ý tịch tĩnh, và sau đó đắc Đạo Ứng Chân.


Thuở xưa Đức Phật diễn nói đại Pháp cho bốn chúng đệ tử, trời rồng quỷ thần, vua chúa, quân thần, và dân chúng ở vườn Cấp Cô Độc, trong Rừng cây Chiến Thắng gần thành Phong Đức.

Bấy giờ có một trưởng giả cư sĩ tên là Thậm Pháp. Ông ta đến chỗ của Phật, đảnh lễ Phật, ngồi qua một bên, rồi hai gối quỳ, chắp tay, và thưa với Thế Tôn rằng:

“Thưa Thế Tôn! Từ lâu đệ tử đã phụng hành giáo Pháp thâm sâu của Như Lai, nhưng vì chuyện nhà bề bộn nên mãi đến hôm nay mới được chiêm ngưỡng Tôn nhan. Kính mong Ngài lượng tình tha thứ.”

Thế Tôn bảo trưởng giả ngồi xuống và liền hỏi rằng:

“Ông từ đâu đến đây và danh tánh là gì?”

Trưởng giả quỳ hai gối và thưa rằng:

“Dạ, con vốn thuộc dòng dõi cư sĩ, tên là Thậm Pháp. Xưa kia con từng làm người điều phục voi cho vị vua trước đây.”

Phật hỏi cư sĩ:

“Phương pháp điều phục voi có bao nhiêu việc?”

Thưa rằng:

“Dạ, luôn dùng ba việc để điều phục voi. Những gì là ba?

1. dùng mõm sắt bọc miệng của nó lại
2. luôn giảm bớt thức ăn để khiến nó đói gầy
3. dùng gậy đánh đập để khiến nó đau đớn

Dùng ba việc như thế mới có thể thuần phục voi.”

Đức Phật lại hỏi rằng:

“Mục đích thi hành ba việc đó sẽ chế trị điều gì?”

Thưa rằng:

“Dạ, dùng mõm sắt bọc miệng để khống chế miệng voi. Không cho ăn uống để chế phục thân hung ác. Dùng gậy đánh đập để chế phục ý của nó. Với ba cách này thì voi sẽ lập tức thuần phục.”

Đức Phật hỏi rằng:

“Điều phục voi như thế để làm gì?”

Thưa rằng:

“Sau khi voi đã thuần phục thì nó mới có thể để cho vua cưỡi. Lại cũng có thể đưa nó ra trận, tiến lui tùy ý và không bị trở ngại.”

Đức Phật lại hỏi cư sĩ:

“Ngoài phương pháp này còn có cách nào khác chăng?”

Thưa rằng:

“Dạ, phương pháp điều phục voi chỉ có thế thôi!”

Phật bảo cư sĩ:

“Ông chỉ có thể điều phục voi mà chẳng thể điều phục chính mình.”

Thưa rằng:

“Dạ, chẳng hay điều phục chính mình nghĩa là sao? Kính mong Thế Tôn hãy nói rõ cho con nghe.”

Phật bảo cư sĩ:

“Ta cũng có ba việc để điều phục tất cả chúng sanh, và cũng dùng nó để điều phục chính mình đạt tới vô vi.

1. dùng chí thành chế ngự ngữ nghiệp
2. dùng từ bi chế phục thân cang cường
3. dùng trí tuệ diệt ý niệm si mê

Ta dùng ba việc này mà độ thoát tất cả chúng sanh, khiến họ lìa ba đường ác, tự đạt đến vô vi, và chẳng còn thọ sanh tử để chịu ưu sầu khổ não.”

Lúc bấy giờ Thế Tôn liền nói kệ rằng:

“Như voi tên Hộ Tài
Hung mãnh khó điều phục
Trói chân không cho ăn
Do bởi voi hung bạo

Bổn tâm đã thuần thục
Và luôn được an lành
Tất sẽ cởi bỏ trói
Như móc sắt phục voi

Tu Đạo chớ buông lung
Khéo luôn hộ tâm mình
Tất sẽ lìa ách khổ
Như voi ra khỏi bẫy

Dù ai giỏi huấn luyện
Như khéo huấn luyện ngựa
Lại khéo huấn luyện voi
Đâu bằng điều phục mình

Kẻ kia chẳng thể chở
Lại cũng chẳng thể đến
Chỉ ai tự điều phục
Mới đến nơi an lành”

Khi nghe kệ, trưởng giả vui mừng khôn xiết, tâm ý khai mở, và liền được Pháp nhãn thanh tịnh. Bấy giờ có vô số người đến nghe Pháp cũng đều thấy dấu Đạo.



KINH PHÁP CÚ THÍ DỤ