KINH PHÁP CÚ THÍ DỤ
Dịch từ Phạn văn: Pháp sư Pháp Cự và Pháp sư Pháp Lập ở Thế Kỷ 4
Dịch sang Tiếng Việt: Tại gia Bồ-tát giới Thanh tín nam Nguyên Thuận

 

 QUYỂN 3

PHẨM 30: ĐỊA NGỤC

Thuở xưa ở thành Phong Đức có một Phạm Chí sư tên là Mãn Ẩm Quang. Ông có 500 đệ tử theo học tập. Trước đây quốc vương và nhân dân đều cùng phụng sự ông ta. Bấy giờ Đức Phật vừa mới thành Đạo. Ngài cùng với các đệ tử từ thành Vương Xá đến thành Phong Đức. Thân tướng của Phật chói sáng và Đạo Pháp lan truyền khắp nơi. Từ vua chúa cho đến nhân dân, không ai là chẳng cung kính phụng hành.

Do đó Phạm chí sư Mãn Ẩm Quang khởi lòng ganh ghét và muốn hủy báng Thế Tôn để một mình được mọi người kính ngưỡng.

Ông liền dẫn các đệ tử đến gặp vua Thắng Quân và bày tỏ rằng:

“Tâu đại vương! Chúng tôi là các bậc trưởng lão tiền bối đã theo học từ vị quốc sư trước kia. Đạo nhân Gautama là kẻ hậu bối cầu Đạo, thật chẳng phải là thần thánh mà tự xưng là Phật, và còn khiến đại vương bỏ tôi mà hết lòng phụng sự ông ta. Tôi nay muốn cùng với Phật so tài Đạo lực để biết ai cao thấp. Người thắng cuộc thì đại vương phải suốt đời phụng sự.”

Nhà vua nói rằng:

“Rất tốt!”

Nhà vua liền chuẩn bị xe ngựa và đến chỗ của Phật, rồi đảnh lễ và bạch rằng:

“Bạch Thế Tôn! Phạm chí sư Mãn Ẩm Quang muốn cùng với Thế Tôn so tài Đạo lực và hiện thần thông biến hóa. Không biết Thế Tôn có thể nhận lời chăng?”

Đức Phật bảo:

“Rất tốt!”

Kỳ hẹn cho cuộc so tài biến hóa này sẽ diễn ra sau bảy ngày. Nhà vua ra lệnh cho dựng hai tòa cao ở chỗ đất rộng, bằng phẳng, và sạch sẽ ở phía đông của thành. Mỗi tòa cao 40 trượng, trang nghiêm bằng bảy báu, có treo tràng phan, và được lót chiếu ngay ngắn. Khoảng cách giữa hai tòa là hai dặm và các đệ tử của hai bên ngồi ở dưới đó. Lúc ấy quốc vương, quần thần và đại chúng tụ hội để muốn xem hai vị thầy tỉ thí thần thông biến hóa.

Bấy giờ Phạm chí sư Mãn Ẩm Quang cùng với các đệ tử đến trước chỗ tòa cao, rồi ông leo lên bậc thang. Lúc ấy có quỷ thần vương tên là Ban Sư. Khi thấy tâm giả dối đố kỵ của Phạm chí sư Mãn Ẩm Quang và các đệ tử, quỷ thần vương liền thổi tòa cao của ông ta, khiến chỗ ngồi nghiêng ngả và tràng phan bay tứ tung. Quỷ thần vương lại mưa xuống cát đá vụn nên khiến hai mắt của Phạm chí sư Mãn Ẩm Quang chẳng dám mở ra nhìn. Giữa lúc đó thì Pháp tòa của Thế Tôn vẫn yên lặng bất động. Phật cùng đại chúng uy nghiêm đi đến. Khi vừa đến tòa cao, Thế Tôn hốt nhiên đã ngồi trên Pháp tòa. Tất cả chư Tăng đều ngồi im lặng theo thứ tự.

Thấy vậy, nhà vua cùng quần thần càng thêm kính ngưỡng, cúi đầu và thưa với Phật rằng:

“Xin Thế Tôn rủ lòng thương xót mà thị hiện thần thông biến hóa để chế phục tà kiến và cũng khiến nhân dân trong nước tin sâu nơi chánh giáo.”

Lúc bấy giờ Thế Tôn đang ở trên Pháp tòa, liền hoát nhiên biến mất, bay lên hư không và phóng đại quang minh. Ngài hiện ra ở phương tây và ẩn mất ở phương đông; bốn phương cũng đều như vậy. Phần trên của thân vọt ra nước, còn phần dưới của thân phun ra lửa, hoặc ngược lại. Ngài nằm hay ngồi trong hư không và hiện ra 12 sự biến hóa, rồi bỗng nhiên biến mất và ngồi trở lại trên Pháp tòa. Lúc ấy trời rồng quỷ thần rải hương hoa cúng dường và âm thanh tán dương chấn động khắp đất trời.

Phạm chí sư Mãn Ẩm Quang tự biết chẳng có Đạo hạnh nên cúi đầu xấu hổ và chẳng dám ngước mắt nhìn.

Bấy giờ vị Kim Cang Lực Sĩ nhấc chày kim cang lên, ở đầu chày có lửa phun ra, và hỏi Phạm chí sư Mãn Ẩm Quang rằng:

“Sao ông chẳng hiện thần thông biến hóa?”

Phạm chí sư Mãn Ẩm Quang kinh hoàng và bỏ tòa mà chạy. 500 đệ tử cũng bỏ chạy loạn xạ. Bấy giờ uy nhan của Thế Tôn chẳng chút lo âu, rồi Ngài trở về vườn Cấp Cô Độc trong Rừng cây Chiến Thắng. Quốc vương cùng quần thần vui vẻ ra về.

Khi ấy Phạm chí sư Mãn Ẩm Quang cùng các đệ tử chịu nhục bỏ đi. Họ đang đi trên đường thì gặp một Thanh Tín Nữ già tên là Maṇi mắng chửi rằng:

“Các người là một đám ngu si, chẳng biết lượng sức mình mà dám cùng Phật so tài Đạo lực. Thật là điên rồ dối trá và chẳng biết liêm sỉ. Các người còn sỉ diện nào mà vác mặt đi trên thế gian nữa.”

Phạm chí sư Mãn Ẩm Quang cảm thấy xấu hổ ở trước các đệ tử, nên ông đến gần bờ sông mà nói dối gạt họ rằng:

“Ta nay nhảy xuống nước và nhất định sẽ sanh lên Phạm Thiên. Nếu ta chẳng quay lại thì biết rằng ta đang ở cõi kia thọ hưởng vui sướng.”

Chúng đệ tử chờ hồi lâu mà chẳng thấy quay lại nên cùng bàn luận với nhau rằng:

“Thầy mình nhất định đã sanh lên trời. Chúng ta còn ở đây làm gì?”

Và thế là ai nấy cùng nhảy xuống nước và mong muốn theo gót của thầy mình. Họ chẳng biết bị nghiệp tội lôi đi và đều đọa địa ngục.

Khi nghe được chuyện như thế vào ngày hôm sau, vua Thắng Quân vô cùng kinh ngạc và đến chỗ của Phật và bạch Phật rằng:

“Bạch Thế Tôn! Phạm chí sư Mãn Ẩm Quang và đệ tử của ông ta thật ngu si mê muội. Nhân duyên gì mà phải chịu như thế?”

Phật bảo nhà vua rằng:

“Phạm chí sư Mãn Ẩm Quang và đệ tử của ông ta đã phạm hai trọng tội.

1. ba độc bốc cháy phừng phừng và tự mạo xưng đắc Đạo
2. hủy báng Như Lai và mong người cung kính

Bởi phạm hai tội đó nên họ phải đọa địa ngục. Do tai ương dẫn dắt nên khiến họ quăng mình xuống sông. Khi chết thần thức rời khỏi thân xác và họ phải chịu vô lượng thống khổ. Cho nên bậc trí luôn thu nhiếp tâm họ, bên trong chẳng khởi ác nên ở ngoài tội chẳng thể đến. Đây ví như cạnh bên thành có giặc cướp liên miên. Nếu ai phòng thủ kiên cố thì sẽ chẳng sợ hãi bất cứ điều gì. Người ở trong thành an ổn thì giặc cướp ở ngoài chẳng thể vào. Bậc trí tự hộ thì cũng lại như thế.”

Lúc bấy giờ Thế Tôn liền nói kệ rằng:

“Nói dối tham hối lộ
Việc làm không chân chánh
Vu khống người lương thiện
Phạt oan bậc thiện sĩ
Tội siết những kẻ đó
Tự lọt hố hiểm sâu

Ví như phòng vệ thành
Trong ngoài đều kiên cố
Ai tự giữ tâm họ
Phi pháp chẳng thể sanh
Lầm lỗi nảy ưu sầu
Khiến đọa chốn địa ngục”

Khi nói kệ xong, Đức Phật lại bảo nhà vua rằng:

“Vào thuở xưa có hai con khỉ chúa. Mỗi khỉ chúa thống lãnh 500 con khỉ. Có một hôm, trong lòng của con khỉ chúa nọ khởi sanh đố kỵ và mưu tính muốn giết con khỉ chúa kia để một mình thống trị. Nó liền dẫn đàn khỉ đến chiến đấu mà luôn luôn bị thua. Nó cảm thấy xấu hổ rồi bỏ đi đến bờ biển lớn. Bấy giờ trong vùng vịnh có bọt nước tụ bị gió thổi nên chúng chất cao lên đến vài trăm trượng.

Con khỉ chúa ngu si đó cho là núi Tuyết, rồi bảo đàn khỉ rằng:

‘Xưa ta nghe trong biển có núi Tuyết. Trong ấy rất vui sướng và có trái cây ngon ngọt tha hồ mà ăn. Hôm nay mới tận mắt thấy, ta sẽ đến đó trước xem sao. Nếu đích thật vui sướng thì ta sẽ không trở về. Còn như chẳng vui sướng, ta sẽ về nói cho các người hay.’

Và thế là từ trên cây, nó dùng hết sức nhảy vào trong bọt nước và bị chết chìm dưới đáy biển. Chờ một hồi lâu mà chẳng thấy ra, những con khỉ khác cảm thấy quái lạ, nên chúng cho rằng dưới đó nhất định là rất vui sướng. Sau đó từng con từng con một lao xuống và kết quả là cả đàn bị chết chìm.”

Phật bảo nhà vua rằng:

“Con khỉ chúa sanh lòng ganh ghét thuở đó, nay chính là Phạm chí sư Mãn Ẩm Quang. Còn đàn khỉ của nó, nay chính là 500 đệ tử của Phạm chí sư Mãn Ẩm Quang vậy. Con khỉ chúa của một đàn khỉ khác chính là tiền thân của Ta. Ở đời trước, Phạm chí sư Mãn Ẩm Quang vì ôm lòng đố kỵ nên bị tội dẫn dắt, tự mình lao xuống bọt nước và cũng khiến cả đàn bị chết. Bây giờ ông ta lại phỉ báng và cũng khiến đồ chúng quăng mình xuống sông. Họ bị nghiệp tội sai khiến như thế cho đến nhiều kiếp cũng khó mà thoát ra.”

Khi nghe xong, nhà vua tỏ ngộ, rồi đảnh lễ và cáo lui.


Thuở xưa có bảy vị Bhikṣu vào rừng học Đạo và trải qua 12 năm mà chẳng thể đắc Đạo.

Một hôm họ cùng bàn luận với nhau rằng:

“Học Đạo thật quá khó. Thân thể hao mòn, đói rét khốn khổ, suốt đời phải đi khất thực, và luôn chịu nhục khó nhẫn mà chẳng thể đắc Đạo. Nghiệp tội thật khó diệt trừ, chỉ nhọc nhằn uổng công, và có thể sẽ phải mất mạng ở trên núi nữa. Chi bằng hãy trở về nhà để gầy dựng gia đình, lấy vợ nuôi con, và nỗ lực phát triển gia nghiệp thì tâm ý sẽ được thỏa thích. Chúng ta hà tất phải lo lắng cho mai sau để làm gì?”

Và thế là bảy người họ liền đứng dậy và hạ sơn. Đức Phật từ xa biết họ đáng được hóa độ. Chỉ có một chút khổ mà không nhẫn chịu được thì họ vĩnh viễn sẽ đọa địa ngục. Bởi rất thương xót cho họ nên Đức Phật liền hóa làm một vị Đạo Nhân và đi đến cửa hang động.

Khi gặp bảy vị Bhikṣu ở giữa đường, hóa nhân hỏi rằng:

“Các vị học Đạo đã lâu, sao giờ lại rời bỏ?”

Bảy người họ đáp rằng:

“Học Đạo quá gian khổ mà căn gốc của nghiệp tội chẳng thể nhổ trừ, phải đi khất thực và chịu nhục thật khó nhẫn. Hơn nữa ở trong núi chẳng có ai cúng dường và phải ăn uống kham khổ đến nhiều năm. Chỉ tự nhọc nhằn uổng công mà chẳng thể đắc Đạo. Chi bằng hoàn tục và dốc sức mưu cầu sự nghiệp để làm ra nhiều của cải, rồi đến lúc già thì mới cầu Đạo.”

Hóa Đạo Nhân bảo rằng:

“Xin hãy dừng lại! Hãy nghe tôi nói. Đời người vô thường, sáng tối chẳng thể bảo hộ. Học Đạo tuy gian nan nhưng trước khổ sau vui. Còn sống tại gia thì sự gian khổ đến ức kiếp mà chẳng thôi nghỉ. Những ai mong cầu vợ chồng con cái sum vầy, nguyện cùng hưởng lợi ích an bình, vĩnh viễn được an vui, và không gặp hoạn nạn thì cũng giống như muốn trị bệnh mà lại đi uống thuốc độc. Việc đó chỉ tăng mà chẳng giảm. Chúng sanh trong ba cõi đều có ưu phiền khổ não. Duy chỉ có tín tâm giữ giới, chẳng buông lung tâm ý, và tinh tấn đắc Đạo thì mọi khổ ách mới vĩnh viễn chẳng còn.”

Lúc bấy giờ hóa Đạo Nhân hiện ra thân tướng quang minh uy nghiêm của Phật, và liền nói kệ rằng:

“Tu khó bỏ ác khó
Tại gia sống cũng khó
Hội họp đồng lợi khó
Khó nhất vượt ba cõi

Bhikṣu khất thực khó
Sao không tự gắng sức?
Tinh tấn được tự tại
Sau khỏi nhờ mong ai

Có tín giới sẽ thành
Từ giới nhiều tài bảo
Do giới hợp với Đạo
Nơi nơi người cúng dường

Bất luận đi nằm ngồi
Một mình không buông lung
Hãy tự hàng phục tâm
Lòng vui chốn núi rừng”

Khi thấy thân tướng của Phật và còn nghe được những bài kệ này, bảy vị Bhikṣu cảm thấy hổ thẹn và run sợ. Họ cúi đầu đảnh lễ sát đất với trán chạm sát chân của Phật, thu nhiếp tâm ý, sám hối lỗi lầm, rồi đảnh lễ và cáo lui. Sau khi trở về núi, họ hết lòng tinh tấn, tư duy về ý nghĩa của bài kệ, chánh tâm nhất ý, sống an nhàn nơi yên tĩnh, và cuối cùng đắc Đạo Ứng Chân.



KINH PHÁP CÚ THÍ DỤ