Want create site? Find Free WordPress Themes and plugins.

CHÚ ĐẠI THỪA NHẬP LĂNG GIÀ KINH

Sa-môn Bảo Thần ở Đông Đô soạn.

 

Phẩm 3: TẬP NHẤT THIẾT PHÁP

1. Giải thích về phẩm này:

Giải thích phẩm này có bốn môn: 1. Nguyên nhân có phẩm này. 2. Giải thích chướng nạn. 3. Giải thích tên gọi. 4. Giải thích văn.

1. Nguyên nhân có phẩm này: phẩm trên nói chung về hỏi đáp đã xong. Dưới đây các phẩm đều hỏi đáp riêng cho nên đặt ở kế sau.

2. Giải chướng nạn rằng: Trăm lẻ tám câu đã nói chung, vì sao các phẩm dưới mỗi thứ đều hỏi riêng, ý lời nói đều không ra ngoài phần chung, đâu thể chẳng rườm rà! Đáp: Chung riêng gồm nhiếp, chấp đoạn thường mới tiêu, chân tục viên dung, bỏ chấp tình mới bặt dứt.

3. Giải thích tên gọi: Luận rằng nương nhất tâm mà mở ra hai môn. Phẩm trên đã nói về tâm chân như môn, gồm nhiếp tất cả pháp. Phẩm này nói về tâm sinh diệt môn, gồm nhiếp tất cả pháp sinh tất cả pháp, do đó hai môn không lìa nhau. Luận rằng tâm sinh diệt, nương vào Như lai Tạng cho nên có tâm sinh diệt. Cái gọi là bất sinh bất diệt hòa hợp với sinh diệt, chẳng phải một, chẳng phải khác, gọi là thức A-lại-da. Thức này có hai nghĩa; năng gồm thâu tất cả pháp sinh tất cả pháp. Hai nghĩa: a) Nghĩa giác; b) Nghĩa bất giác. Nghĩa giác tức là tâm thể lìa niệm, tướng lìa niệm là bình đẳng với hư không giới, không chỗ nào là không trùm khắp. Pháp giới một tướng tức là pháp thân bình đẳng của Như lai, nói theo pháp thân này thì gọi là bản giác, nương vào bản giác mà có bất giác, cho đến ba tế sáu thô lên xuống trong biển khổ. Nương vào bất giác cho nên nói có Thỉ giác. Lại do nguồn tâm giác nên gọi rốt ráo giác, nguồn tâm bất giác gọi là chẳng phải rốt ráo giác. Vì vậy, cho nên trong mười pháp giới hoặc Thánh hoặc phàm, hoặc nhân hoặc quả, y báo chánh báo nhiễm tịnh đều nêu lên trong đó. Cho nên gọi là phẩm “Tập nhất thiết pháp”.

4. Kế văn kinh dưới là giải thích văn.

2. Nói riêng về hỏi đáp:

“Lúc bấy giờ, Đại Bồ-tát Đại Tuệ, cho đến các thức có mấy thứ sinh, trụ, diệt?” Từ phẩm này đến phẩm cấm ăn thịt gồm mười bốn phẩm nói rõ riêng về hỏi đáp, cho nên mỗi phẩm thường nhắc lại. Bạch Đức Thế Tôn! Đây là chương đầu, tức hỏi đáp riêng về tâm ý thức. Nghĩa là thức sát-na ban đầu khác với gỗ đá, sinh được nhiễm tịnh, đều tự có thể làm vô lượng vô số thức gốc nhiễm tịnh. Từ sát-na đầu không thể nói là kiếp, cho đến Kim cương dụ định, trải qua một sát-na có không thể nói không thể nói thức. Sinh các hữu tình, hai pháp sắc tâm thì có tịnh có nhiễm, có sinh có diệt. Thức này y theo sinh diệt môn. Có mấy thứ sinh, trú, diệt (nhưng từ vô thỉ kiếp lâu xa, làm sao gọi là sơ? Nghĩa là lúc này bỗng nhiên khởi lên một niệm. Vọng niệm trái với chân, gọi là thức ban đầu. Chẳng phải quá khứ có thức mới sinh khởi gọi là thức ban đầu).

3. Chân như diệu tánh chỉ có Phật mới biết:

“Đức Phật bảo ngài Đại Tuệ, thức có hai thứ sinh, trụ, diệt, suy nghĩ chẳng thể biết được”. Chân như diệu tánh vốn tự vô sinh, một niệm theo duyên sự phần đều khởi, tức là chân tâm không giữ gìn tự tánh, theo vô minh duyên thành các thức sinh, trụ, dị, diệt. Trí tuệ của phàm phu, Tiểu thừa chẳng thể biết được, cho đến Bồ-tát ở giai vị rốt ráo cũng không thể biết hết, chỉ có Phật mới biết hết.

4. Sinh, trụ, diệt nối nhau:

“Cái gọi là sinh ra nối tiếp và sinh nhau nối tiếp trụ và trụ lẫn nhau, nối nhau diệt và diệt lẫn nhau”. Nối nhau tức trôi chảy. Có bản khác cũng nói trôi chảy. Nói trôi chảy, chỉ gọi thức thứ tám. Ba tướng nhớ nhiệm (tức nghiệp tướng, chuyển tướng và hiện tướng, như trong luận Khởi Tín có nói), chủng hiện không dứt, gọi là trôi chảy. Do duyên vô minh mà sơ khởi nghiệp thức, cho nên nói là sinh. Nối nhau nhiều kiếp cho nên gọi là Trụ, đến định Kim cương. Một niệm Đẳng giác nhổ gốc vô minh, gọi là trôi chảy diệt. Tướng sinh, trụ, diệt, nghĩa là bảy thức còn lại tâm cảnh thô hiển, cho nên gọi là Tướng. Tuy bảy duyên tám, nhưng mong sáu làm tế, có đủ bốn hoặc, cũng gọi là Thô. Nương vào hiện thức kia tự gieo trồng các cảnh, duyên hợp sinh ra bảy, gọi là tướng sinh. Nhiều kiếp huân tập gọi là tướng Trụ. Từ ngọn hướng đến gốc, dần dần hàng phục dứt bỏ. Đến Địa thứ bảy đầy đủ gọi là tướng diệt. Nương vào sinh diệt trước mà lập mê ngộ y, nương vào sinh diệt sau mà lập nhiễm tịnh y. Sau ngắn trước dài sự chai ra hai thứ khác nhau, tức là lưu chú sinh trụ diệt, tướng sinh trụ diệt.

5. Vì sao gọi thức là sanh diệt:

“Các thức có ba tướng, đó là nghiệp tướng, chuyển tướng và chân tướng”: Trên tuy đáp các thức có hai thứ sinh trụ diệt, nhưng chưa nói rõ vì sao thức gọi là sinh diệt. Đây lại nói ba tướng. Muốn phân biệt đối với các thức có sinh diệt, không sinh diệt. Nói chân tướng, là Như lai Tạng tâm tại triền bất nhiễm, tánh tự thần giải, gọi là tự chân tướng. Vô minh căn bản khởi tịnh khiến động, động gọi là nghiệp thức, tức là tướng lại-da rất nhỏ nhiệm, gọi là Nghiệp tướng. Chuyển tướng là nương vào nghiệp tướng trước chuyển thành năng duyên và cảnh sở duyên, sinh bảy chuyển thức, đồng gọi là chuyển tướng. Lại, từ tịnh khởi động gọi là Nghiệp, từ nội hướng ngoại gọi là chuyển. Như lai Tạng tâm, không thể thêm bớt, gọi là chân tướng, cũng gọi là chân thức. Song, tuy ba tướng tên gọi khác nhau nhưng cũng đồng hai nghĩa nhất tâm là tùy duyên, bất biến, nghĩa là chân tâm bất biến tức tùy duyên, cho nên gọi chuyển tướng nghiệp tướng. Vì tùy duyên tức bất biến cho nên gọi chân tướng. Luận nói rằng tâm này từ xưa đến nay tự tánh thanh tịnh, do bị vô minh ô nhiễm cho nên có nhiễm tâm, đó là bất biến tức tùy duyên. Lại nói rằng tuy có nhiễm tâm mà thường hằng bất biến, đó là tùy duyên tức bất biến.

6. Tám thức và hai thức:

“Này Đại Tuệ! Thức nói rộng thì có tám thứ, nói lược thì có hai thứ, là hiện thức và thức phân biệt sự”. Đức Như lai ở trên nói các thức có ba tướng, đó là đã nói vừa chừng, nhưng ở đây lại nói các thức rộng lược, vì chúng sinh căn tánh khác nhau, sự thọ nhận hiểu biết có khác nhau. Nói rộng thì có tám: 1. Nhãn thức biết rõ đối với sắc. 2. Nhĩ thức biết rõ đối với thanh. 3. Tỷ thức biết rõ đối với hương. . Tỷ thức biết rõ đối với vị. . Thân thức biết rõ đối với xúc. 6. Ý thức nhận biết với các pháp. 7. Thức mạt-na (Hán dịch nhiễm ô ý), thường xét nét so lường, chỉ duyên kiến phần của tạng thức, cũng gọi thức truyền tống. 8. Gọi thức A-lại-da (Hán dịch là tạng thức) nghĩa là tám thức này đều là chúng sinh từ vô thỉ đến nay không rõ tự tâm, theo vọng duyên khởi, trong đó thức thứ tám là thức căn bản, lập tức biến thành hạt giống căn thân khí giới, chuyển sinh nảy thức đều có khả năng biến hiện tự phần sở duyên (sở duyên tức là cảnh. Sắc là nhãn thức tự phần sở duyên, cho đến ba cảnh là thức A-lại-da tự phần sở duyên, không bao giờ có tâm ngoài pháp, có thể làm duyên cho tâm, nhưng từ tự tâm sinh, lại làm tướng cho tâm). Ngoài tám thức này thật không có ngã pháp.

7. Nói về thức biến:

Hỏi: Biến như thế nào?

Đáp: Vì năng lực huân tập của phân biệt ngã pháp nên khi các thức sinh thì biến dường như có ngã pháp. Thức thứ sáu, thứ bảy bị vô minh che lấp, duyên chấp này làm thật ngã thật pháp, như người nằm ngủ, do năng lực của chiêm bao cho nên tâm dường như có nhiều tướng cảnh bên ngoài hiện ra, khi mộng chấp là thật có cảnh bên ngoài, khi thức mới biết chỉ do mộng biến hiện, thân tướng này của ta và các pháp sắc không ở thế giới bên ngoài, cũng giống như vậy. Chỉ do thức hiện ra, mê cho nên chấp có ngã và các pháp, khi ngộ mới biết do tâm thức hiện, vì như thật biết không có cảnh giới trước, các thứ phương tiện sinh khởi hạnh thuận theo. Chuyển tám thức thành bốn trí Bồ-đề, an trụ bí tạng, rốt ráo Niết-bàn, cho nên ngài Tào Khê nói rằng: Trí Đại viên cảnh tánh thanh tịnh, Trí bình đẳng tánh tâm vô bệnh, Trí diệu quán sát thấy chẳng có công, Trí thành sở tác đồng viên cảnh. Thứ năm thứ tám thứ sáu thứ bảy quả nhân xoay chuyển, chỉ chuyển tên gọi mà không thật tánh. Nếu đối với chuyển xứ không dính mắc, mãi mãi ở trong na-già định, thì thức này chuyển thành trí. Lược thì chỉ có hai: Nghĩa là chuyển thức và thức phân biệt sự. Bản dịch của ngài Cầu-na nói rằng lược có ba thứ, trong hiện thức thêm một chân thức. Nếu giải thích ba thức, chân nghĩa là tánh tịnh bản giác, hiện nghĩa là lại-da hiện thức, còn bảy thức khác đều gọi là thức phân biệt sự. Tuy thức thứ bảy không duyên ngoại trần, duyên thức thích cũng gọi là thức phân biệt sự. Chân là bản giác, tức thức thật tánh. Ở đây giải thích rằng: Hiện thức thuộc lại-da, thức phân biệt sự thuộc sáu thức trước, không nói thức thứ bảy, nghĩa là thức thứ bảy mạt-na chấp bên trong làm ngã, thuộc lại-da, chấp bên ngoài làm ngã sở thuộc sáu thức trước. Chân tức là thức thật tánh, cũng thuộc lại-da tịnh phần. Vì vậy nói lược thì chỉ có hai, thường không xâm lạm với thuyết này.

8. Nói về hiện thức:

“Này Đại Tuệ! Thí như gương sáng hiện các sắc tượng, hiện thức cũng giống như vậy”: Đây là nêu ví dụ hợp để nói rõ hiện thức. Nói hiện thức như gương, cảnh giới sở hiện như tượng, nên luận Khởi Tín chép: Ba cõi luống dối do tâm tạo ra, lìa tâm thì không có cảnh giới sáu trần. Lại nói rằng tạng thức thứ tám làm nơi nương tựa, chuyển sinh thức thứ bảy, trong đó, thức thứ sáu tạo ra nghiệp dẫn mãn, chiêu cảm quả báo chung riêng như gương hiện hình tượng, mảy may không sai. Nói quả báo chung riêng: 1. Quả báo chung, thuộc thức thứ tám. 2. Quả báo riêng, ở trong sáu thức trước. Vả lại, nói theo nghiệp lành hữu lậu thì như giữ gìn năm giới chiêu cảm được làm thân người, đó là nghiệp báo chung. Do trong nhân có sân nhẫn v.v… nên ở trong nghiệp báo chung của loài người mà có tốt, có xấu v.v… gọi là nghiệp báo riêng, cũng gọi là dẫn mãn nghiệp, tức có công năng chiêu cảm thức thứ tám dẫn dị thục quả, gọi là dẫn nghiệp. Năng chiêu cảm quả mãn dị thục của thức thứ sáu gọi là mãn nghiệp. Nhưng suy nghĩ về dẫn nghiệp năng tạo kia, phải là ý thức thứ sáu dẫn khởi, hoặc mãn nghiệp kia, suy tư năng tạo từ năm thức dẫn khởi. Tuy tạo mãn nghiệp cũng chẳng phải tự có khả năng, do ý thức dẫn mới có thể tạo tác. Thức thứ bảy kia chỉ có hai chướng câu sinh hoặc trí: Nghiệp chướng báo chướng. Bảy thức kia đều không, tuy có bốn hoặc, chỉ duyên bên trong nên thuộc về tánh hữu phú vô ký, thì không thể gây ra hai nghiệp thiện ác, chỉ có sáu thức trước khởi hoặc tạo nghiệp. Nghiệp thành khó tránh chiêu cảm các dị báo, như gương hiện bóng, không sót mảy may. Cho nên Kinh Lăng-nghiêm chép: Sáu thức tạo nghiệp chiêu cảm báo ác từ sáu căn ra, hoặc chú giải kinh này chỉ ra thức thứ bảy có khả năng gây ra nghiệp thiện ác, giáo không có văn nói rõ. (Chỉ bộ Tông cảnh lục, bảy mươi ba quyển đầu, nhờ nương vào phần chú giải xưa, mà nói thức thứ bảy tạo nghiệp. Lại cùng với Lục này tiết mục dẫn kinh luận nghĩa rõ ràng các thức xứ đều trái nhau, suy đoán sẽ thấy).

9. Hiện thức và thức phân biệt sự không khác nhau:

“Này Đại Tuệ! Hiện thức và thức phân biệt sự, hai thức này không khác nhau làm nhân cho nhau”. Nói lại-da hiện thức và thức phân biệt sự không có tướng khác, đều do một niệm đầu tiên làm duyên. Nay tâm chân như không giữ tự tánh, tùy duyên mà thành có, các thức huân tập lại làm nhân lẫn nhau, trôi lăn không dứt. Cho nên kinh Hoa Nghiêm chép: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, tâm, ý các tình căn, do sự thường trôi lăn này mà không thể chuyển. Sớ kia giải thích rằng: Nói lấy đây, nghĩa là dùng tám thức trên tự làm năng huân, sở huân, xoay vần làm nhân, cho nên mà thường trôi lăn không phân biệt ngã nhân, cho nên nói vô năng chuyển. Lại nói rằng ngoài thức chẳng có pháp cũng là không, cho nên nói hai thức này không có tướng khác, làm nhân lẫn nhau.

10. Nói rộng nguyên nhân sinh trụ của các thức:

“Này Đại Tuệ! Hiện thức lấy bất tư nghị huân và bất tư nghị biến làm nhân, cho đến thói quen hý luận làm nhân”. Ở đây lại nói rộng nguyên nhân sinh trụ của các thức. Nói chung thì hai thức thô tế đều nương vào Vô minh trụ địa mà khởi. Vì vô minh căn bản, làm động tâm thanh tịnh kia mà khởi thức nhỏ nhiệm, nương vào thức nhỏ nhiệm này chuyển khởi tâm thô, cho nên dùng vô minh thông làm gốc. Nếu nói riêng thì nương vô minh làm nhân, sinh ba tâm bất tương ưng nhỏ nhiệm. Nương cảnh giới làm duyên, sinh ra ba tâm tương ưng thô, cho nên nói hai thức thô tế, mỗi thức đều có đủ hai nhân, mới được sinh trụ.

Nói bất tư nghị huân, nghĩa là vô minh năng huân chân như, vì chỗ không thể huân mà huân được nêu, gọi là bất tư nghị huân. Lại, huân thì không huân; luận chủ không huân gọi là bất tư nghị huân.

Nói bất tư nghị biến, nghĩa là tâm chân như bị vô minh huân, không thể biến dị mà biến dị, cho nên gọi bất tư nghị biến. Lại, biến tức bất biến; biến của bất biến gọi là bất tư nghị biến.

11. Dẫn kinh luận làm sáng tỏ:

Kinh Thắng-man chép: Bất nhiễm mà nhiễm, khó rất dễ hiểu rõ, nghĩa là bất tư nghị này. Nhưng sự huân biến này rất nhỏ nhiệm lại ẩn kín, cho nên hành tướng của hiện thức sinh khởi rất nhỏ nhiệm, ở trong đó cũng có chuyển thức, nghiệp thức. Nêu thô để bày tế, cho nên chỉ nói hiện thức, tức luận Khởi Tín nói bất tương ưng tâm. Nói phân biệt cảnh giới, tức là hiện thức sở hiện các thứ cảnh giới, trở lại làm động biển tâm kia, khởi các sóng sự thức. Nói thói quen hý luận từ vô thỉ, tức hòa hợp trong biển tâm kia, vọng niệm thói quen hý luận, từ vô thỉ đến nay thói quen không dứt, không hề lìa niệm, cho nên cảnh giới này và vọng niệm hý luận huân động biển tâm sinh ra các thức. Do vọng niệm và cảnh giới, thô nên hiển hiện, vì thế sinh khởi thức phân biệt sự hành tướng thô hiển, tức luận Khởi Tín gọi là tương ưng tâm. Ở đây nghĩa là hiện thức nương bất tư nghị huân cho nên được sinh, nương bất tư nghị biến cho nên được trụ. Thức phân biệt sự nương cảnh giới cho nên được sinh, nương biển tâm cho nên được trú. Đoạn trên Phật nói các thức có hai thứ sinh trụ diệt đến đây đã xong. Nghĩa là do vô minh huân tập chân như thành nhiễm duyên khởi. Cho nên luận nói: Phải biết vô minh có công năng sinh ra tất cả pháp nhiễm, tất cả pháp nhiễm đều là tướng bất giác.

12. Nói về thức A-lại-da:

“Này Đại Tuệ! Thức A-lại-da luống dối phân biệt, cho đến đó gọi là danh tướng diệt”. Dưới đây là nói, nếu hiểu được nguồn gốc của vọng thì duyên tịnh khởi. Nói thức A-lại-da hòa hợp trong biển tâm. Nếu vọng niệm phân biệt các thứ thói quen diệt, thì tất cả căn thân diệt. Nói tất cả căn, nghĩa là ý căn khởi thức mà phân biệt được tất cả các pháp, thì gọi là Nhất thiết căn thức, tức là tướng ý thức thứ sáu, và sở y thứ bảy mạt-na hiện hành thức diệt, gọi là tướng sinh trụ diệt thức diệt. Có chỗ nói các thứ thói quen ấy, là y theo tông Duy thức, nói các thói quen gồm có ba thứ: 1. Thói quen danh ngôn: Nghĩa là pháp hữu vi mỗi pháp đều có thân chủng. Danh ngôn có hai: a. Nêu nghĩa danh ngôn, tức có khả năng giải thích nghĩa, âm thanh khác nhau; b. Hiển cảnh danh ngôn, tức có khả năng hiểu rõ cảnh tâm tâm sở pháp, tùy hai thức danh ngôn sở huân thành hạt giống, tạo ra pháp hữu vi, đều có nhân duyên riêng. 2. Thói quen Ngã chấp: nghĩa là luống dối chấp ngã và ngã sở. Ngã chấp có hai: a. Câu sinh ngã chấp, tức chấp ngã, ngã sở do tu mà dứt; b. Phân biệt ngã chấp, tức chấp ngã, ngã sở do thấy đạo mà diệt, tùy hai thứ ngã chấp huân thành hạt giống, giúp cho loài hữu tình v.v… mình và người khác nhau. 3. Thói quen hữu chi: Nghĩa là chiêu cảm quả dị thục trong ba cõi. Hữu chi có hai: a. Thiện hữu lậu, có công năng chiêu cảm nghiệp quả đáng ưa; b. Các bất thiện, có công năng chiêu cảm nghiệp quả chẳng đáng ưa, tùy theo hai hữu chi huân tập mà thành hạt giống, giúp cho quả dị thục chia đường thiện ác khác nhau. Các thuyết về thói quen, đều y theo đây nên biết.

13. Nói nhân sở y và sở duyên diệt:

“Này Đại Tuệ! Nối nhau diệt, cho đến tự tâm sở kiến phân biệt ảnh giới”: Nói nhân sở y và sở duyên diệt, tức nối nhau diệt, nghĩa là chỗ nương thói quen căn bản vô minh từ vô thỉ diệt, và cảnh giới sở duyên pháp duyên nhiễm diệt, tức là thức lưu chú sinh trụ diệt nhỏ nhiệm thức diệt. Nói nhân sở y, là thói quen hý luận từ vô thỉ. Sở duyên, nghĩa là tự tâm cảnh giới phân biệt sở kiến. Kinh có nhắc lại giải thích vô minh bị diệt, và ý nghĩa cảnh giới vọng làm nghĩa nhân duyên, cho nên luận chép: Do vô minh diệt cho nên tâm không sinh khởi, do tâm không khởi nên cảnh giới theo đó mà diệt. Vì nhân, duyên đều diệt nên tâm tướng đều hết, gọi là chứng đắc Niết-bàn thành nghiệp tự nhiên.

14. Nêu hai ví dụ:

“Này Đại Tuệ! Thí như nắm đất và hạt bụi, cho đến vàng và các thứ trang sức cũng giống như vậy”. Đây là dẫn hai ví dụ, ví dụ trên là hai duyên nhiễm và tịnh khởi: 1. Thể của chân vọng chẳng phải một, chẳng phải khác. 2. Chỉ có vọng diệt chứ chân không mất, nghĩa lời văn tiếp theo sẽ giải thích.

“Này Đại Tuệ! Nếu khối đất và hạt bụi khác, cho đến khối đất và hạt bụi lẽ ra không khác nhau”. Nếu nói khối đất và hạt bụi thật có khác nhau thì khối đất lẽ ra chẳng phải do hạt bụi tạo thành, mà thật do hạt bụi tạo thành, cho nên không thể nói khác. Nếu thật không khác thì khối đất và hạt bụi lẽ ra không khác nhau. Đã là nhân quả thô, tế có khác nhau, cũng chẳng thể nói đồng nhất.

15. Nói về chuyển thức và tàng thức:

“Này Đại Tuệ! Chuyển thức và tàng thức nếu khác nhau, cho đến nhưng chân tướng kia chẳng diệt”. Dùng pháp hợp để ví dụ, nói chẳng phải một, chẳng phải khác. Nói các thức chuyển và tàng thức khác nhau khi gió vô minh huân động, thể của tàng thức lẽ ra không tùy duyên, rơi vào lỗi thường. Nhưng Như lai Tạng tàng thức ấy là nhân lành hay không lành đều tùy duyên. Nếu không khác thì khi chuyển thức diệt thì tàng thức lẽ ra cũng phải diệt, thì rơi vào lỗi đoạn. Nhưng chân tướng của tàng thức rốt ráo không diệt. Cho nên luận Khởi Tín chép: Vì tướng của tất cả tâm thức đều là vô minh; tướng vô minh không lìa giác tánh, không thể hoại, chẳng phải không thể hoại, như nước của biển lớn, do gió mà sóng động, tướng nước tướng gió không xa lìa nhau, nhưng nước chẳng phải tánh động. Nếu gió dừng diệt tướng động thì tánh ướt không hoại. Như vậy tâm chúng sinh tự tánh thanh tịnh, bị gió vô minh làm động, tâm và vô minh đều không có hình tướng, không lìa bỏ nhau. Nhưng tâm chẳng phải tánh động, nếu vô minh diệt thì thức nối nhau diệt, trí tánh không hoại.

16. Như lai tạng bị ác tập luống dối từ vô thỉ huân tập:

“Này Đại Tuệ! Chân tướng của thức chẳng diệt, cho đến thì chẳng khác đoạn diệt hý luận của ngoại đạo”. Như đoạn kinh ở dưới nói: Như lai Tạng bị ác tập luống dối từ vô thỉ huân tập, gọi là tàng thức. Cho nên luận nói không sinh không diệt hòa hợp với sinh diệt, chẳng phải một, chẳng phải khác gọi là cụ phần A-lại-da thức, vì vậy trong tàng thức này không sinh không diệt, tịnh phần chân tướng không bao giờ diệt, nhưng nghiệp tướng nhiễm phần sinh diệt bị diệt, nếu chân tướng diệt thì thật tánh của tàng thức lẽ ra cũng diệt, nếu thật tánh của tàng thức diệt, thì giống với chấp đoạn của ngoại đạo, cho nên luận rằng: Nói diệt, là chỉ cho tâm tướng diệt, chẳng phải tâm thể diệt. Lại nói rằng chỉ vì si diệt nên tâm tướng diệt theo, chẳng phải tâm trí diệt.

17. Vọng chấp của ngoại đạo:

“Này Đại Tuệ! Các ngoại đạo kia nói như vầy, cho đến thì thức nối nhau từ vô thỉ cũng diệt” nghĩa các ngoại đạo thấy khi chết thân tan rã, sáu thức không thể chấp cảnh, một đời thức nối tiếp nhau sinh thì tùy theo lúc bốn đại duyên chia lìa, tức chấp đắm nối nhau từ vô thỉ diệt hẳn, không còn có nghiệp báo thọ sinh nối nhau, nên gọi là rơi vào chấp đoạn. Vì vậy nên bài kệ dưới nói, sắc thức dù chuyển diệt, nhưng nghiệp không hoại mất, khiến đối với các hữu, sắc thức lại nối nhau, nếu sắc thức chuyển diệt, các nghiệp hoại mất, thì không còn sinh tử, cũng không có thường, vô thường, tức hai kiến chấp đoạn, thường cũng đều lìa. Đâu có đồng với vọng chấp đoạn diệt của ngoại đạo!

18. Ngoại đạo chấp thắng tánh:

“Này Đại Tuệ! Các ngoại đạo kia nói thức nối nhau, cho đến chỉ nói tác giả làm nhân sinh”: Các ngoại đạo nói, sáu căn chấp lấy cảnh giới sáu thức, chấp từ thần ngã tà nhân v.v… sinh, không nói các thức như nhãn thức v.v… Từ các nhân duyên như sắc v.v… sinh ra, chỉ vì chấp tác giả làm nhân sinh cho nên gọi là ngoại đạo. “Tác giả là gì? Kia chấp thắng tánh, hoặc trượng phu, hoặc tự tại, hoặc thời và hạt bụi làm người năng tác”. Thắng tánh cũng dịch là thắng diệu, là vị thiên chủ sống ở tầng trời phạm thiên. Trượng phu là tên khác của ngã. Tự tại là trời Đại Tự Tại, cho đến chấp thời tiết, hạt bụi v.v… làm người năng tác. Lại còn chấp các thứ khác như đoạn dưới nói rộng.

19. Tự tánh có bảy thứ:

“Lại nữa, Này Đại Tuệ! Có bảy thứ tự tánh, cho đến Duyên tự tánh thành tự tánh”. Từ đoạn dưới lại nói về hai duyên nhiễm tịnh chân vọng thức thể. Bảy tự tánh này thành thân vọng thức sinh diệt trên, nghĩa là thể tánh phiền não có công năng chứa nhóm các nghiệp thiện ác, cho nên gọi phiền não là Tập tự tánh. Đã có tập nhân thì sẽ có tánh quả khổ ở vị lai, cho nên nói tánh tự tánh. Đã có quả khổ, thì sẽ có hình tướng, cho nên nói tướng tự tánh. Đã có hình tướng, thì là từ bốn đại chủng sinh, cho nên nói đại chủng tự tánh. Đã có bốn đại, thì từ nhân duyên tạo thành, cho nên nói nhân tự tánh, duyên tự tánh, thành tự tánh. Nhưng vọng không có thể tánh riêng, tùy theo sự chấp đắm mà đặt tên.

20. Nghĩa bậc nhất có bảy thứ:

“Lại nữa, Này Đại Tuệ! Có bảy thứ Đệ nhất nghĩa, cho đến Như lai tự chứng trí sở hành”: Đệ nhất nghĩa đế đạo lý không hai, vì người chứng khác nhau mà có hơn kém. Bảy thứ này thành pháp thân chân thức bất sinh bất diệt ở trên. Sở hành, bản dịch khác gọi là cảnh giới, tức cảnh giới sở hành, nghĩa là phát tâm Bồ-đề, duyên Đệ nhất nghĩa pháp tánh Như lai Tạng tâm, cho nên gọi là tâm sở hành thắng giải hạnh địa Bồ-tát v.v… Mỗi thứ đều sinh khởi mười trí tuệ, duyên theo chân như, nên gọi trí sở hành sơ địa Bồ-tát, chánh chứng chân như, thấy hai thứ vô ngã, nên gọi là hai chấp sở hành. Bồ-tát Địa thứ tám khởi Hai thừa, vượt Địa thứ bảy, cho nên gọi siêu hai kiến chấp sở hành. Địa thứ mười vượt qua địa thứ chín, cửu địa gọi là nhất tử địa. Hai sở hành sau tức là Phật địa.

“Này Đại Tuệ! Đây là quá khứ, vị lai, hiện tại cho đến pháp tự tánh Đệ nhất nghĩa tâm”. Bảy thứ Đệ nhất nghĩa này, là pháp tánh Đệ nhất nghĩa mà các Đức Phật ba đời đã chứng. Như lai tạng tâm, chẳng phải duyên lự vọng thức.

21. Nói về đức dụng của chân tâm:

“Do pháp tự tánh Đệ nhất nghĩa tâm này mà thành tựu pháp thế gian, xuất thế gian tối thượng của Như lai”. Từ đoạn này trở xuống là nói về đức dụng của chân tâm. Vì có Đệ nhất nghĩa tâm, cho nên có công năng thành tựu pháp thân Như lai và tất cả các pháp thế gian, xuất thế gian, tối thượng Bồ-đề, Niết-bàn tịnh diệu v.v… Nếu không có tâm này thì không thể thành tựu.

“Vì Thánh mắt tuệ nhập tự tướng, cộng tướng an thứ các lập, không đồng với ác kiến của ngoại đạo”: Ý nói Thánh mắt tuệ nhập tất cả pháp tự tướng, cộng tướng các thứ an lập. Chỉ là nhất tâm, chỗ an lập kia đều giúp cho ngộ nhập tri kiến Phật, không đồng với ác kiến của ngoại đạo. Lại nói rằng bảy thứ Đệ nhất nghĩa tâm này là trí tuệ sở kiến của bậc Thánh, lập ra bảy thứ khác nhau làm tự tướng, cùng thành pháp thân làm cộng tướng, các nghĩa khác như trên nói.

22. Nêu lên giải thích ác kiến:

“Này Đại Tuệ! Thế nào là đồng với ác kiến của ngoại đạo nói, cho đến thấy có thấy không mà khởi bàn luận hai kiến chấp”: Đây là nêu giải thích ác kiến, nghĩa là các hàng ngoại đạo kia không biết tất cả pháp trong cảnh giới đều do tự tâm phân biệt hiện ra, đối với tự tánh Đệ nhất nghĩa nói là hữu vô.

23. Lìa vọng niệm chỉ có chân tâm:

“Này Đại Tuệ! Nay ta sẽ nói nếu hiểu rõ cảnh như huyễn, cho đến và không biết ái, nghiệp duyên, Phật dạy nếu hiểu rõ cảnh giới do tự tâm hiển hiện”. Như huyễn không thật, thì tất cả vọng tưởng v.v… đều diệt. Nói khổ ba cõi là quả. Vô tri, là vô minh, ái là phiền não, nghiệp là các nghiệp hữu lậu thiện ác, ba thứ này đều là nhân. Cho nên luận nói nếu lìa vọng niệm thì không có tướng tất cả cảnh giới, chỉ có một chân tâm.

24. Người khởi tà kiến là hai thừa và ngoại đạo:

“Này Đại Tuệ! Nếu có các Sa-môn, Bà-la-môn v.v… cho đến nương vào duyên sinh trụ hữu rồi liền diệt”. Nói người khởi tà kiến, không ngoài hai chúng xuất gia và tại gia, cũng là hai chúng hai thừa và ngoại đạo. Phi hữu, nghĩa là chấp hư không tự nhiên là nhân. Và hữu nghĩa là chấp cát bụi thế tánh tự tại thiên v.v… là nhân. Tức là chấp vô nhân, tà nhân là nhân năng sinh. Chính là ở ngoài nhân quả chấp các vật hiển hiện, nương thời gian mà trụ đều là sở chấp của ngoại đạo, hoặc chấp năm uẩn, mười tám giới, mười hai xứ, nương nhân duyên sinh trụ, vô thường thay đổi. Sinh rồi liền diệt, không rõ chân tâm thường trụ, là sở chấp của Hai thừa, đều mê chấp tự tâm hiện.

25. Nhắc lại chấp để bác bỏ:

“Này Đại Tuệ! Kia hoặc chấp nối nhau, hoặc chấp tác dụng, cho đến không thể thấy được nguồn gốc”. Ở đây nhắc lại để bác bỏ. Nói hoặc nối nhau, tức nói chung nhân quả kia không dứt. Hoặc chấp tác dụng, tức nhắc lại trong sự sinh diệt kia tạm thời hữu dụng. Hoặc các hữu, hoặc ấm, giới, nhập diệt gọi là Niết-bàn, hoặc hướng về Niết-bàn gọi là đạo; hoặc các nghiệp hữu lậu, hoặc tu đạo chứng đắc gọi là quả, hoặc hai mươi lăm đế như minh sơ, v.v… Trên đây đều là nhắc lại chấp. Nói là phá hoại đoạn diệt. Phá chấp nghĩa là nói ngoại đạo từ vô chủng mà sinh, tức là phá hoại nhân quả. Lại nói từ hữu chủng sinh, sinh rồi diệt, là nói về luận thuyết đoạn diệt. Nói vì cớ sao? Tức là nêu lời tổng kiết, nghĩa là vọng chấp ở trên tức thể phi hữu, cho nên nói không được hiện pháp. Vì sao chỉ hiện chấp vốn không, cùng cực nhân ban đầu cũng không thật có. Cho nên nói không thể thấy được cội gốc.

26. Nêu thí dụ để làm sáng tỏ:

“Này Đại Tuệ! Thí như cái bình bể không thể làm được việc của cái bình, cũng như hạt giống bị cháy không thể làm được việc nẩy mầm”. Kế là dẫn thí dụ để làm sáng tỏ. Nói như cái bình đã bể, không có tác dụng làm được việc, dùng để thí dụ vô chủng thì vô pháp. Không thể làm nhân cho ấm, giới, nhập. Lại như tuy có hạt giống cũng bị cháy không thể nảy mầm được. Lấy thí dụ tuy có trời Tự tại v.v… làm hạt giống, không thể làm nhân cho ấm, giới, nhập nối nhau sinh.

27. Hợp với pháp:

“Ở đây cũng vậy, nếu tánh của ấm, giới, nhập, diệt, cho đến chỉ là tự tâm, tâm luống dối mà thấy”. Sau là nói pháp hợp. Vì hai nhân trên không thành, tức không có tánh ấm, giới, nhập để diệt. Nay ngoại đạo nói có tánh ấm, giới, nhập. Nói trong ba đời diệt được chứng Niết-bàn, là tự tâm vọng tưởng. Ấm, giới, nhập kia không nối nhau sinh, vì hữu chủng, vô chủng không thành nhân cho nên nói chỉ là tự tánh luống dối mà thấy.

28. Lặp lại câu lại nữa ở văn trước:

Lại nữa, Này Đại Tuệ! Nếu vốn không có thức, cho đến nếu có tạo sự nghiệp thảy đều luống uổng, vô ích: Lặp lại câu lại nữa ở văn trước, bác bỏ chuyển chấp nghĩa là phá chuyển chấp sở sinh, cùng với vô chủng, hữu chủng, ba duyên hòa hợp mà sinh. Rùa lẽ ra sinh lông, cát lẽ ra ép ra dầu; nhưng rùa vốn không có lông, cát vốn không có dầu. Hợp cũng không sinh, thể của ba duyên vốn không thì làm sao sinh quả. Tông của ông đã hoại, trái với nghĩa quyết định. Dụ bác bỏ không thành, cho nên nói tông hoại. Vì trái với nghĩa quyết định năng sinh của ông, lại, đối với nhất tướng vọng chấp. Ba duyên trái với nghĩa Đại thừa quyết định của ta. Sự nghiệp làm ra đều luống uổng, vô ích, vì sự tức là quả, nghiệp chính là nhân. Nói nhân quả sự nghiệp, đều chỉ là nói dối, đều không có nghĩa thật.

29. Nhắc lại lỗi ấy:

“Này Đại Tuệ! Ba thứ hợp lại làm duyên, là tánh nhân quả, cho đến huân tập khí còn lại mà nói như thế”: Đây là nhắc lại lỗi kia, nghĩa là hàng ngoại đạo kia dùng ba thứ hợp lại làm duyên, đó là tánh nhân quả, có thể nói là thành pháp ba đời. Đây là điều lầm lẫn truyền thừa nhau và tự ác kiến nói như thế.

30. Phàm phu ngoại đạo bị ác kiến làm hại:

“Này Đại Tuệ! Phàm phu ngu si bị ác kiến nuốt sống, cho đến lối xưng là do bậc Nhất thiết trí nói”: Ý nói phàm phu, ngoại đạo bị ác kiến say mê loạn nuốt sống, không thể tự biết mình là ngu si vô trí, nói dối là do bậc Nhất thiết trí nói. Ngoại đạo là chỉ cho sáu vị giáo chủ ngoại đạo và tất cả người trí. Hai thừa chấp quyền trí là thật trí.

31. Chánh quán là gì?

“Này Đại Tuệ! Lại có Sa-môn, Bà-la-môn, cho đến suy tư như vậy thường hằng không bỏ”. Từ đoạn dưới đây là nói người chánh kiến, quán tất cả pháp đều vô tự tánh, như huyễn mộng, v.v… không lìa tự tâm, vô năng thủ sở thủ và sinh trụ diệt, quán sát như thế không xen hở.

Đây gọi là chánh quán.

32. Nói về sự tu hành của các Bồ-tát Đăng địa:

“Này Đại Tuệ! Vị Đại Bồ-tát này, cho đến chuyển nương thứ lớp thành thân Như lai”. Đại Bồ-tát này, tức các vị Sa-môn, Bà-la-môn chánh kiến ở trên. Thực hành đạo vô tướng, nghĩa là muôn hạnh đều tu, ba luân thể vắng lặng. Dần dần tiến lên các địa, đầu tiên trước lên Hoan hỷ địa thứ bảy, cho đến địa Viễn hành thứ bảy. Chứng pháp vô sinh, nghĩa là chứng đắc vô công dụng đạo, dưới lên địa Bất động thứ tám.

Nhập Kim cương dụ tam-muội, nghĩa là Bồ-tát Sơ địa mới chứng được trí vô phân biệt, dứt chướng dị sinh tánh. Bồ-tát từ địa thứ hai đến địa thứ mười như thật tu hành, dần dần dứt bỏ các chướng, thêm lớn công đức cao quý. Đến địa thứ mười một tức là Bồ-tát Đẳng giác dùng trí phương tiện của Kim cương dụ định chóng dứt bỏ hạt giống câu sinh hai chướng, chuyển nương thứ lớp thành thân Như lai, tức sau Đẳng giác nhớ nghĩ đạo giải thoát, dứt bỏ thói quen hai chướng, liền chứng được Vô thượng Bồ-đề và Đại Niết-bàn của Như lai. Quả hai chuyển y: 1. Chuyển nhiễm thành tịnh; 2. Chuyển mê thành ngộ. Lại nữa, Bồ-đề gọi là sinh đắc. Hai chướng không sinh, nay dứt chướng được sinh. Niếtbàn gọi là hiển đắc. Bản tánh thanh tịnh, bị khách trần che lấp nên nay dứt mà kia hiển. Giai vị chuyển y chung riêng có sáu thứ, cho nên nói chuyển y thứ lớp mà thành thân Như lai. Các nghĩa khác như đoạn văn dưới có thể lấy ý mà hiểu.

33. Muốn chứng đắc thân Phật thì phải xa lìa hai quả, ba khoa:

“Bồ-tát Này Đại Tuệ! Cho đến Tự tất-đàn phải khéo tu học”. Ý nói chỉ trụ tâm lượng quán sát ba cõi. Lại nói rằng giúp cho thông đạt duy tâm, dần dần nhập vào các địa, nghĩa là pháp môn nhất tâm này, là điều căn bản của phàm lẫn Thánh, nếu mê thì bị rơi vào vòng sinh tử của thế gian, nếu ngộ thì chứng Bồ-đề xuất thế gian. Cho nên các bậc tiên Thánh nói: Thế gian không vượt ngoài ba khoa, xuất thế gian không vượt ngoài hai quả. Hai quả: tức như trên giải thích thành thân Như lai quả hai chuyển y. Ba khoa: tức các pháp vọng tâm như năm uẩn, mười hai xứ, mười tám giới này. Cho nên nói muốn chứng đắc thân Phật, thì phải xa lìa, cho đến quán sát giúp cho thông đạt duy tâm, đối với tự tâm tông khuyên khéo nên tu học.

34. Nói về sóng biểu tàng thức, cảnh giới pháp thân:

“Lúc ấy, Đại Bồ-tát Đại Tuệ, cho đến biển sóng tàng thức cảnh giới pháp thân”. Đại Tuệ ở trong đó. Tuy thỉnh chung nói về tâm, ý, ý thức, năm pháp, tự tánh, ý muốn Như lai đáp lời hỏi trước, cho nên tổng kiết thưa thỉnh chỉ nói: Thuận theo các Đức Phật nói sóng biển tàng thức cảnh giới pháp thân. Nói các Đức Phật dạy tâm xứng với nghĩa chân thật, để phân biệt với tâm thức chẳng luống dối. Nói tâm, là tóm lược nêu bày danh thể chung có bốn thứ, tiếng Phạm đều có khác nhau phiên dịch cũng khác nhau: 1. Hột-lỵ-đà-da, Hán dịch là Nhục đoàn tâm, là trái tim trong sắc thân. Như trong Ngũ tạng luận của Huỳnh Đình Kinh ở Trung Quốc nói. 2. Tâm duyên lự, đây thức thứ tám cùng năng duyên lự tự phần cảnh, thức thứ tám này đều có tâm số cũng gọi là tâm sở, trong đó hoặc vô ký, hoặc chung cho thiện nhiễm khác nhau, là tự tâm sở trong các kinh luận, pháp gọi chung là tâm, gồm tâm thiện, tâm ác v.v… 3. Chất-đa-la, Hán dịch tập khởi tâm, là chỉ cho thức thứ tám căn bản, chứa nhóm hạt giống các pháp mà sinh khởi hiện hạnh. . Càn-lậtđà-da, Hán dịch là Trinh thật tâm, cũng gọi là Kiên thật tâm, đây là tâm chân thật. Nhưng thức thứ tám không có tự thể riêng, chỉ là chân tâm, vì bất giác và các vọng tưởng mà có nghĩa hòa hợp, không hòa hợp. Nghĩa hòa hợp, có khả năng bao gồm pháp tịnh và nhiễm, gọi là tàng thức. Nghĩa bất hòa hợp là thể thường bất biến, gọi là chân như. Đây tức là giáo tâm của các Đức Phật, xứng với nghĩa chân thật, lìa tướng sở hành. Tuy bốn thứ này thể đồng, nhưng mê ngộ chân vọng nghĩa có khác. Như chấp vàng thật, phải biết rõ ngói gạch và vàng giả nên bỏ hết, dù không biết vàng, nhưng thể của vàng cũng tự hiện.

35. Do bốn nhân nên nhãn thức chuyển:

“Khi ấy, Thế Tôn bảo Bồ-tát Đại Tuệ rằng, cho đến Muốn thấy các thứ sắc tướng”. Phật dạy có bốn nhân duyên nên nhãn thức chuyển, chuyển sinh. 1. Là do bất giác trần bên ngoài nên tự tâm hiện mà chấp đắm. 2. Từ vô thỉ đến nay huân tập vọng tưởng chấp sắc không dứt. 3. Bản tánh của thức là như vậy, có công năng biết rõ tự tánh. . Muốn thấy các sắc tướng.

“Này Đại Tuệ! Do bốn duyên này, cho đến giống như gió mạnh thổi nước biển cả”. Ý nói đây là bốn duyên này, giúp cho dòng nước tàng thức và sóng chuyển thức sinh. Nếu nhãn thức đã như vậy thì các thức khác cũng như vậy. Đối với tất cả các căn, lỗ chân lông, hạt bụi, các chuyển thức như nhãn thức v.v… hoặc liền sinh ra, thí như gương sáng hiện các sắc tượng, không có trước sau hoặc dần dần sinh như gió mạnh thổi nước biển cả.

“Sóng trước dậy, sóng sau dậy theo”. Là nói hạt bụi, lỗ chân lông, tức là thân căn sắc trần.

“Gió cảnh giới bên ngoài trôi giạt biển tâm cũng như vậy, khởi các sóng thức nối nhau không dứt”. Ý nói bên ngoài vì gió cảnh giới làm kích động biển tâm Như lai Tạng, các sóng thức nổi dậy, tạo nghiệp cảm quả báo sinh tử không dừng cũng giống như vậy.

36. Các thức xoay vần làm nhân lẫn nhau:

“Này Đại Tuệ! tướng sở tác của Nhân chẳng phải một, chẳng phải khác, cho đến cảnh tướng khác nhau mà có ý thức sinh”. Đây là nói các thức xoay vần làm nhân lẫn nhau. Nói tướng sở tác của nhân chẳng phải một, chẳng phải khác, nhân tức là Như lai Tạng thức thứ tám, tướng sở tác, nghĩa là bảy chuyển thức từ thức thứ tám sinh. Chẳng phải một, là hành tướng của các thức khác nhau. Chẳng phải khác là đều do duyên khởi vô tự tánh. Nói nghiệp và tướng sinh trói buộc nhau càng chặt, nghĩa là thức thứ tám biến khởi căn thân, khí giới gọi là tướng sinh. Hai thức thứ sáu thức thứ bảy bị vô minh che lấp, do đây chấp làm thật ngã, thật pháp, ý thức thứ sáu dẫn khởi thức trước tạo dẫn mãn nghiệp, chiêu cảm quả báo sinh tử không dừng, cho nên nói nghiệp và tướng sinh. Trói buộc nhau càng chặt, đều do không biết rõ các trần như sắc, v.v… từ tâm vọng hiện, nên năm thức thân chuyển.

Này Đại Tuệ! Năm thức như nhãn… khởi chung năm trần, hoặc do hiểu rõ riêng sắc… các cảnh tướng khác nhau mà ý thức sinh, cho nên phải biết căn thân, trần cảnh tất cả các pháp đều do tự tâm vọng thức của chúng sinh làm nhân quả lẫn nhau mà hiện ra. Cho nên kệ nói: Các pháp đối tàng thức, thức đối pháp cũng thế, làm nhân tướng lẫn nhau, cũng làm quả tướng nhau.

37. Thức thứ tám lìa Như lai tạng thì không có tự thể riêng:

“Nhưng các thức kia chẳng nghĩ rằng, cho đến Tướng không khác nhau, đều có tự cảnh”. Các thức kia đều hiểu rõ tự cảnh, đây là nói rõ thức thứ tám đều có khả năng hiểu rõ cảnh tự phần, không biết chỉ do tự tâm vọng hiện, nghĩa là sắc là cảnh của nhãn thức, cho đến A-lại-da kiến phần là cảnh của thức thứ bảy. Hạt giống căn thân khí giới là cảnh của tàng thức. Nhưng nếu thức thứ tám này lìa Như lai Tạng thì không có tự thể riêng, vì chúng sinh không biết chấp là thức thứ tám. Các Đức Phật đã chứng đắc, nêu thành dụng bốn trí. Nếu mê muội thì thức thứ tám khởi chấp danh hiệu của tàng. Thức thứ bảy được gọi là nhiễm ô. Thức thứ sáu khởi tâm chấp khắp. Năm thức theo tướng căn trần. Nếu hiểu biết thức lại-da thành thể viên cảnh, giữ cửa công đức. Mạt-na là nguồn bình đẳng, một tánh tự tha, ý thức thứ sáu khởi nhiệm mầu quán sát, xoay bánh xe chánh pháp. Năm thức trước khởi công tạo tác, để lại dấu vết ứng hóa, đây là nhất tâm bất động, thức trí tự phân, không chuyển thể kia chỉ chuyển tên kia, không phân biệt lý mà phân biệt sự kia.

38. Các thức xoay vần làm nhân cho nhau:

“Này Đại Tuệ! Người tu hành nhập tam-muội, cho đến gọi là thức diệt”. Đoạn trên nói các thức xoay vần làm nhân cho nhau, đều biết rõ tự cảnh, vọng tưởng nối nhau. Muốn chuyển các thức thành trí dụng, nhưng vì tạng thức căn bản nhỏ nhiệm khó biết, cho nên nêu hai thừa tu tam-muội yếu kém, không biết hạt giống thói quen của các thức nương tạng thức bất diệt, tự cho rằng ta diệt các thức nhập vào tam-muội, mà thật ra thì chưa được. Chỉ hàng phục thức thứ sáu, không chấp trần cảnh kia sẽ bị diệt.

39. Chỉ có Phật biết, người khác không biết:

“Này Đại Tuệ! Hành tướng của tàng thức nhỏ nhiệm như thế, cho đến năng lực của định trí tuệ đều không thể biết”: Ở đây là nói người có khả năngbiết, nghĩa là các thức nương vào hành tướng nhỏ nhiệm của tàng thức, chỉ có Đức Phật mới hiểu rốt ráo bờ mé và Bồ-tát trụ địa mới biết được, còn ngoài ra các Thanh văn, Độc giác và ngoại đạo tu hành dù được trí tuệ tam-muội nhưng đều không thể biết được.

“Chỉ có các hành giả tu hành như thật, cho đến tự tâm thấy được rất dễ hiểu”. Nói biết được, khó biết, cho nên, dùng năng lực trí tuệ hiểu rõ tướng các địa, khéo thông đạt câu nghĩa, là nhân hữu liễu. Đức Phật rộng huân tập gốc lành vô biên, là nhân hữu duyên. Vốn có chánh nhân do đó hiện tiền, tự nhiên thấy rõ vọng tưởng trôi chảy, cho nên nói năng tri.

40. Có chánh nhân nhưng phải nhờ phương tiện nơi hiển lộ:

“Này Đại Tuệ! Những người tu hành ngồi yên nơi núi rừng, cho đến Đại thiện tri thức như thật tu hành”: Nói các bậc tu hành Thượng trung hạ tùy phần lượng của mỗi vị. Phân biệt lưu chú tức là hai thứ sinh trụ diệt ở trên. Các nghĩa khác lời văn có nói, đều nên gần gũi thiện tri thức, như ngài Mã Minh nói: Pháp của các Đức Phật có nhân có duyên, nhân duyên đầy đủ mới được thành tựu. Như tánh lửa trong gỗ, lửa ấy là chánh nhân, nếu không nhờ phương tiện mà tự cháy gỗ thì không có việc đó. Chúng sinh cũng vậy, tuy có năng lực của chánh nhân huân tập, nhưng không gặp các Đức Phật, Bồ-tát, tri thức chỉ dạy lợi ích, từ bi nhiếp hộ làm dyên, mà tự dứt bỏ được phiền não, nhập Niết-bàn thì không có việc đó.

41. Có bốn thứ kệ tụng khác nhau:

“Khi ấy, Đức Thế Tôn muốn lặp lại nghĩa này, nói kệ rằng”: Nói chung kệ tụng có bốn thứ khác nhau, âm Phạm cũng khác, vẫn có tám ý, không dẫn lại đầy đủ nữa, nay ở đây chỉ nói đại lược: 1. Chỉ đủ ba mươi hai chữ thì thành một bài tụng. 2. Phúng tụng; hoặc gọi là trực tụng, nghĩa là dùng kệ nói pháp, không tụng văn xuôi. 3. Ứng tụng: Tụng lại văn văn xuôi, hoặc vì người độn căn mà nói lại, hoặc vì kẻ học đời sau, hoặc vì muốn cho rõ ràng lời nói ở trước. . Tập thi tụng: Nghĩa là dùng ít lời mà thâu tóm nhiều nghĩa, giúp người khác tụng trì. Nay trong kinh này, trong bốn thứ trước, phần thứ hai thứ ba gồm thâu toàn bộ. Nhưng văn văn xuôi và kệ tụng dựa vào nhau, nêu ra có năm cặp: Hữu vô, quảng lược, ly hợp, tiên hậu, ẩn hiển, trong văn sẽ nói rõ.

42. Nói về biển tàng thức:

“Ví như sóng biển cả, là do gió mạnh thổi, cho đến đối hiện cảnh nói năm”: Bài tụng này nói biển hiện thức trước tánh tự thường trụ, bị gió của cảnh giới sáu trần kia thổi làm lay động. Thể của bảy thức hiện thức lấy làm nhân bên ngoài, cảnh giới sáu trần lấy làm ngoại duyên, làm hưng khởi sáu tướng thô nặng, cho nên nói thí như sóng biển cả, đây do gió mạnh thổi, sóng lớn xao động cả biển lớn, không lúc nào dừng, biển tạng thức thường trụ, gió cảnh giới thổi động các sóng thức vọt lên cao mà chuyển sinh. Thế nào gọi là gió cảnh giới? Gió kia tướng trạng như thế nào? Đó là xanh, đỏ, v.v… các thứ hiển sắc, có công năng sanh khởi nhãn thức. Các thứ ngọc quý như kha bối v.v… phát ra các âm thanh hay ho, có công năng sanh khởi nhĩ thức. Các thứ mùi thơm lan tỏa khắp nơi có công năng sanh khởi tỷ thức. Các thứ gỗ thơm, lụa là, thạch mật xúc chạm bao nhiêu tốt đẹp đầy đủ an vui, có công năng sanh khởi thân thức. Các hương vị mặn lạt tùy theo sở thích mà phát ra bao nhiều mùi vị, có công năng sanh khởi hoa thiệt thức hiện tại. Quả vị lai, các thứ pháp trần, tùy theo cảnh giới mà thức kia duyên, có công năng sanh khởi ý thức. Nay trong văn này nêu trần chấp thức phải quán xét kỹ. Thức Mạt-na kia tức là phần vị nhỏ nhiệm của ý thức, không có tự thể riêng. Như vậy sáu trần năng động tâm thể giúp cho tán loạn. Thí như gió mạnh, nên gọi là phong, vì thế nói các màu sắc xanh, đỏ, v.v… Các thứ ngọc quý, sữa đường, muối các mùi vị hoa quả. Bảy thức như vậy cùng với tàng thức là đồng hay khác ư! Chẳng phải đồng chẳng phải khác, lìa hai bên, thí như mặt trời và ánh sáng, nước và sóng, chẳng phải đồng chẳng phải khác. Bảy thức tàng thức nghĩa chẳng phải đồng chẳng phải khác, cũng giống như vậy, cho nên nói mặt trăng mặt trời và ánh sáng, chẳng phải khác, chẳng phải không khác. Bảy thức như ý, v.v… nên biết cũng giống như vậy. Như biển và sóng, tâm cùng hòa hợp sinh. Như vậy bảy thức từ chỗ nào đến nhập vào tạng thức làm số thứ bảy, trôi lăn khởi động không lúc nào dừng. Như vậy, bảy chuyển thức không từ trong đến, không từ ngoài đến, không từ ở giữa đến, chỉ do tàng thức thể biến thành bảy thức, thí như nước biển chuyển động thành sóng, cho nên nói thí như nước biển động, các sóng nổi dậy, tạng thức cũng giống như vậy. Các thứ thức sinh, tâm, ý và ý thức, vì các tướng nên nói. Hiện thức như vậy và bảy chuyển thức, tám thứ tâm thức, chỉ có tướng sinh diệt vô thường hay sao! Cũng có tướng thật tướng thường trụ ư! Tám thức như vậy từ vô thỉ đến nay ba đời bất động, bốn tướng không dời đổi, chân thật thường trú, tự tánh thanh tịnh, công đức đầy đủ, không có hai tướng, cho nên nói tám thức có tướng riêng, không có năng tướng, sở tướng. Thí như sóng biển, cho nên không khác nhau. Các thức tâm như vậy, khác cũng không thể được.

Các thức vốn vắng lặng, vọng trần không tự thể, do bất giác cho nên năm thức trước chuyển khởi, hiện ra trần cảnh. Thức thứ sáu phân biệt khởi hoặc tạo nghiệp thức truyền tống thứ bảy chấp ngã, ngã sở, có công năng chứa nhóm, đồng năng huân tàng thức thứ tám, thọ trì huân tập hạt giống, chứa nhóm không mất, xoay vần làm nhân, trôi lăn không ngừng, cho nên nói tâm có công năng chứa nhóm các nghiệp, ý có công năng rộng chứa nhóm rõ biết, cho nên gọi là Thức, đối hiện cảnh nói có năm, vậy nên biết cảnh lìa tâm, văn lý đều không, tức thức trần giải thích so lường có y theo cuồng tâm không dứt, dứt tức Bồ-đề, các cấu thanh tịnh thì tâm sáng, xưa nay là Phật.

43. Nhắc lại lời hỏi đáp bằng mười tám bài kệ:

“Lúc bấy giờ, Đại Bồ-tát Đại Tuệ dùng kệ hỏi Phật”: Dưới đây là ba phen nhắc lại lời hỏi đáp theo trước mà phát khởi. Gồm mười tám bài kệ, đều có kinh gia sinh khởi. Đây trước xét hỏi về sinh khởi. Đoạn dưới y theo đây.

“Xanh, đỏ, các sắc tượng, chúng sinh hiện các thức, các thứ pháp như sóng, thế nào xin Phật nói”. Đoạn trên nói các trần xanh, đỏ phát sinh, các thức như sóng biển đều chẳng phải một khác. Lại nói tâm chứa nhóm v.v… hành tướng có khác nhau, cho nên có câu hỏi này.

“Lúc ấy, Đức Thế tôn đáp bằng bài kệ: Các sắc tượng xanh, đỏ, sóng mòi đều không có, nói tâm khởi các tướng, khai ngộ các phàm phu”. Ba câu đầu nói sắc tức là không, cho nên không thật có. Câu tiếp nói không tức là sắc, cho nên khởi các tướng. Một câu cuối giải thích câu thứ ba.

“Tướng kia vốn không khởi, tự tâm chấp đắm, lìa năng thủ và sở thủ, đồng với sóng mòi kia”. Bài kệ này hợp pháp nói về các sắc tượng xanh, đỏ, và câu thứ hai nói sóng mòi không thật có.

“Thân tư tài an trụ, do thức chúng sinh hiện, cho nên thấy đây khởi không khác gì với sóng” sắc thân chánh báo. Tư sinh tài vật và nơi chốn an trụ. Bài kệ này nói lại về pháp hiện nói tâm khởi các tướng, tạo nghiệp chiêu cảm quả báo, y báo chánh báo khác nhau, đều do tự tâm chúng sinh vọng hiện.

“Lúc bấy giờ, Bồ-tát Đại Tuệ lại nói kệ hỏi: Tánh biển cả sóng mòi, nổi dậy phân biệt được, tạng thức cũng khởi như thế, vì sao chẳng giác biết”. Đây là y theo pháp dụ mà vặn hỏi.

“Lúc ấy, Đức Thế Tôn dùng kệ đáp: Tàng thức như biển cả, chuyển thức vì sóng mòi. Phàm phu không trí tuệ, thí dụ rộng khai diễn”. Người vào thí dụ biển cả kia nói rộng, giúp kẻ ngu thông hiểu.

“Bấy giờ, Bồ-tát Đại Tuệ lại nói kệ rằng: Thí như mặt trời lên, trên dưới đều được chiếu đèn, thế gian đăng cũng thế, vì ngu nói chân thật”. Đại Tuệ do ở trên nói tâm khởi các tướng, khai ngộ các phàm phu. Tức là Như lai phương tiện không nói thật pháp cho nên hỏi: Như khi mặt trời mọc, bình đẳng soi chiếu muôn vật. Như lai đã xuất thế, vì chúng sinh ngu muội mà nói, bình đẳng nói chân thật. “Đã mở bày các pháp, sao chẳng nói chân thật?” Như lai đã vì chúng sinh mà mở bày các pháp, vì sao không vì những kẻ ngu muội mà nói pháp chân thật!

44. Phật đáp bằng bài kệ:

“Bấy giờ, Đức Thế Tôn đáp rằng bài kệ: Nếu nói chân thật ấy, tâm kia không chân thật, cho đến tâm cảnh giới cũng thế”. Bài kệ này hai câu đầu nói về pháp, nghĩa là không có căn khí thì không thể nghe hiểu thật ra chẳng phải không bình đẳng, kế ba câu nêu ba ví dụ, so sáng với tâm kia không thật. Một câu thứ ba lấy pháp hợp ví dụ, cho nên nói cũng vậy.

“Vì cảnh giới chẳng có, thứ lớp mà chuyển sinh, cho đến không thứ lớp chắc chắn”. Kế một bài kệ rưỡi nói về duyên cảnh bên ngoài nếu không đầy đủ nội thức tức thứ lớp chuyển sinh. Cho nên Thành Duy Thức chép: Nương vào thức căn bản, các thức tùy duyên hiện, hoặc câu hoặc bất câu, như sóng mòi nương nước. Nghĩa là duyên hoặc đồng thời đầy đủ thì đều hiện, như gương hiện hình bóng không có trước sau. Bài kệ này nói về duyên khác nhau, tức thứ lớp chuyển sinh. Do ý thức thứ sáu phân biệt các pháp trần, cho nên nói thức có khả năng hiểu biết. Ý duyên A-lại-da khởi chấp ngã, ngã sở, cho nên nói ý lại ý như thế. Năm thức tùy theo thứ lớp mà hiện trần cảnh, đâu có định thứ lớp.

“Thí như người thợ vẽ, và học trò thợ vẽ, cho đến hòa lẫn thành các hình”. Bài kệ thứ hai nói vẽ sắc vốn không hình, tùy hình tức vẽ tượng, để so sánh đức Như lai vốn không pháp, tùy căn cơ liền nói pháp, đâu được chỉ nói một thứ pháp.

“Nói năng thì biến đổi, chân thật lìa văn tự, cho đến đó là chẳng phải nói”. Ba bài kệ rưỡi này nói về. Như lai ứng theo căn cơ nói có khác nhau. Hai câu trên nêu chung về thuyết ý, năm câu kế là cho rằng đối với hạng lợi căn nói pháp Nhất thừa chân thật. Năm câu kế là đối với các hạng độn căn còn lại nói các pháp như huyễn. Mỗi pháp đều lời văn. Hai câu cuối cho rằng pháp được nói không ứng hợp căn cơ gọi là nói dối, cho nên gọi là phi thuyết.

“Thí như những người bệnh, thầy thuốc tùy bệnh cho thuốc, Như lai vì chúng sinh, tùy tâm ứng lượng nói”. Một bài tụng này lại nói thầy thuốc tùy bệnh mà cho thuốc khác nhau. Để so sánh Như lai ứng lượng nói pháp có khác, cho nên không được như mặt trời soi chiếu muôn vật, để tổng kiết câu hỏi trước.

“Y hỗ giả của đời, chỗ chứng trí thực hành, ngoại đạo chẳng cảnh giới, Thanh văn cũng như vậy”. Y Hổ giả là Như lai.

45. Phải lìa sự chìm nổi của giác quan xấu ác mà chân thật tu hành:

Lại nữa, Đại Bồ-tát Đại Tuệ, cho đến phải thông đạt tướng phân biệt tự tâm hiện”. Năng thủ, sở thủ cũng gọi là năng duyên, sở duyên, tức là hai phần kiến tướng của tâm thức, cho nên Kinh Hoa Nghiêm chép: Nhờ năng lực năng duyên, sở duyên mà các pháp sinh ra. Ý các văn cho rằng muốn biết rõ điều này thì phải xa lìa sự chìm nổi của giác quán xấu ác mà chân thật tu hành.

“Lại nữa, Đại Bồ-tát Đại Tuệ, cho đến phải siêng năng tu học”: Trụ trong tướng mà tâm trí tuệ an trụ, tức đoạn trên nói, thông đạt tướng phân biệt của tự tâm.

“Ba tướng gồm vô tướng ảnh tượng, cho đến đối với ba tướng này phải nên tu hành, không nên xả bỏ”. Nói con lừa què, nghĩa là chưa đạt đến vô công dụng tuệ.

46. Hướng về về Phật địa:

“Này Đại Tuệ! Tướng vô ảnh tượng, cho đến hướng về Phật địa cho nên sinh khởi”. Tướng vô ảnh tượng là trí vô phân biệt lìa hai thứ chấp thủ. Nhưng người Hai thừa ngoại đạo tu tập còn thấp kém, Đức Như lai thường quở trách. Ở đây là trái với chỗ chấp kém ấy, muốn cho họ hồi tâm, bỏ đường tà quy về nẻo chánh, các Đức Phật nguyện giữ gìn. Tướng, là nói các Đức Phật đều phát thệ nguyện thành thục hữu tình, trang nghiêm thanh tịnh cõi Phật. Tự chứng tướng mà Thánh trí hướng về, nghĩa là tướng tự giác Thánh trí của pháp thân Như lai, các văn khác rất dễ hiểu.

“Này Đại Tuệ! Đó gọi là ba tướng Thánh trí bậc thượng, cho đến phải siêng tu học”: Ý nói nhờ ba tướng này đạt đến quả vị Như lai, cho nên khuyên tu học.

47. Bồ-tát Đại Tuệ nương thần lực Phật mà nêu câu hỏi:

“Khi ấy, Bồ-tát Đại Tuệ, cho đến Thánh trí sự tự tánh pháp môn”. Tâm các vị Bồ-tát nghĩ rằng năm pháp, ba tự tánh, tám thức, hai vô ngã đều là pháp môn để bậc Thánh độ chúng sinh. Như lai trên đã nói tám thức rồi, xin vì chúng con nghe chỗ nương khác nhau của một trăm lẻ tám câu. Năm pháp Thánh trí sự, ba tự tánh các pháp môn có ý nghĩ này, cho nên Đại Tuệ nương nhờ thần lực các Đức Phật mà nêu câu hỏi này. Nói Thánh trí sự, tức năm pháp.

48. Thỉnh Phật nói các pháp môn như năm uẩn:

“Tất cả Như lai Ứng chánh đẳng giác, cho đến tầng trời Sắc cứu cánh, thành thân Như lai”. Nói tự tướng, cộng tướng, là nói về khổ đế trong bốn đế. Như trong khổ đế, tất cả các pháp trong ba cõi như y báo, chánh báo, năm uẩn, mười hai xứ, mười tám giới v.v… Mỗi pháp khác nhau gọi là tự tướng. Khổ đế tức gọi cộng tướng, nghĩa là trong bốn môn khổ đế, vô thường là tướng chung của tất cả pháp hữu vi, khổ là tướng chung của tất cả pháp hữu lậu; không và vô ngã đều là tướng chung của tất cả pháp. Lại như năm ấm khác nhau gọi là tự tướng, chung thành thân người gọi là cộng tướng. Mười hai xứ, mười tám giới, v.v… cũng giống như vậy, cho đến tất cả các pháp mỗi pháp lại có tự tướng cộng tướng. Đâu-suất-đà, Hán dịch là Tri túc, cung trời Đâu-suất kia là chỗ ở của Bồ-tát Nhất sinh bổ xứ. Trời Sắc cứu cánh là nơi báo Phật hạnh đã tròn đầy thành Chánh giác. Các văn khác đều có nói, xa lìa thói quen tội lỗi. Nêu bày các đức, thành tựu pháp thân Như lai, để có lợi này cho nên thỉnh Phật nói pháp môn như trên.

49. Các chấp khác nhau của ngoại đạo:

“Phật bảo Này Đại Tuệ! Có một hạng ngoại đạo, cho đến do đây nghĩ là trâu có sừng” dưới đây Như lai y theo sừng trâu, sừng thỏ, phá chấp danh tướng khởi kiến chấp vọng tưởng. Đây là nói chấp đắm của Hai thừa, ngoại đạo. Nghĩa là có một hạng ngoại đạo chấp tất cả các pháp theo nhân duyên diệt, vọng khởi phân biệt tưởng thỏ không có sừng. Lại một loại ngoại đạo khác thấy công năng của bốn đại chủng, khi duyên căn thân trần cảnh chưa tan rã, hình lượng khác nhau, chấp trâu có sừng do không hiểu, chấp dị kiến lẫn nhau, sinh hiểu quyết định.

“Này Đại Tuệ! Kia rơi vào hai chiến chấp chẳng hiểu chỉ do tâm, cho đến tất cả đều do tâm phân biệt mà hiện ra”. Đây là nói nhắc lại bác bỏ kiến chấp của ngoại đạo kia. Văn có tám câu, bốn câu trên là bác bỏ nhân khởi chấp, bốn câu dưới chỉ bày vọng hiện. Cho nên Giàđà nói: Biết các pháp duy tâm, liền xả tướng trần bên ngoài, do đó dứt phân biệt, ngộ chân không bình đẳng. Suy nghĩ rất dễ hiểu.

50. Khuyên nên lìa phân biệt:

“Đại Tuệ nên biết! Sừng thỏ lìa có không, cho đến vì vậy cho nên đối với điều này không nên phân biệt”: Đoạn kinh này, bốn câu trên tổng kiết nên lìa vọng, trở xuống các câu nêu riêng việc bác bỏ kiến chấp. Thế nào là hạ? Là nêu riêng lên sự bác bỏ chấp kia, rơi vào chấp vô. Nói vì sao sừng thỏ lìa hữu vô? Bác bỏ nói rằng làm nhân đối đãi nhau, vì sừng thỏ kia không có, vì sừng trâu là có. Nếu không có sừng trâu, vì sao nhân kia mà nói không ư! Phân tích đoạn dưới, kế là bác bỏ riêng sự chấp kia rơi vào chấp hữu. Nghĩa là nếu chấp trâu có sừng, phân tích sừng trâu đến chỗ rất nhỏ nhiệm làm gì có thật thể mà chấp có ư! Cho nên câu kệ dưới nói: Không có nhân có cho nên vô, là không gì không thành, không có đối đãi, vô cũng như vậy, xoay vần làm nhân cho nhau mà khởi, nói đều không thật. Việc là của Thánh trí thức hành là lìa kiến chấp kia, nghĩa là như thật kiến, đều lìa cả hữu của chấp thường, chấp đoạn cũng lìa các vô của tà kiến chấp đoạn, cho nên kiết thúc khuyên răn nên lìa phân biệt.

51. Bồ-tát Đại Tuệ hỏi về sự đối đãi và Phật đáp:

“Lúc bấy giờ, Đại Bồ-tát Đại Tuệ, cho đến so sánh quán sát đối đãi vọng chấp vô”: Đại Tuệ do ở trên nói sừng thỏ v.v… lìa có không, làm nhân đối đãi lẫn nhau. Phân tích sừng trâu cho đến rất nhỏ nhiệm tìm kiếm không thật có, nhưng vì lìa vọng kiến kia nên lại hỏi Đức Phật rằng: Kia lìa kiến chấp, đã không các tưởng trâu có sừng, sao lại không so sánh quán sát đối đãi đồng với vọng chấp nói là vô.

“Phật dạy: Không nên phân biệt, cho đến không do đối đãi nhau mà nói lên sừng thỏ là vô”. Đức Như lai đáp rằng: Lìa vọng kiến là không có phân biệt khởi tướng quán sát đối đãi để nói là vô. Vì sao? Vì vọng kiến kia dùng vọng tưởng phân biệt làm nhân sinh ra, vì sừng hữu vô mà khởi phân biệt làm sở y. Đã sở y làm nhân, tức vọng chấp có không, nhưng phân biệt và sừng đều không có tánh chắc chắn, lìa khác chẳng khác. Lìa phân biệt là chẳng phải do đối đãi nhau mà sừng trâu vô tánh hiển bày sừng thỏ không có.

52. Nhắc lại để bác bỏ:

“Này Đại Tuệ! Nếu vọng tưởng này khác với sừng thỏ, cho đến chấp có chấp không, cả hai đều chẳng thành”. Dưới đây nhắc lại phá chấp. Nói nếu phân biệt này chắc chắn khác với sừng thỏ, thì chẳng lấy sừng làm nhân. Nếu chắc chắn không khác thì lại do nhân kia mà khởi. Ý nói đều không có tự tánh. Phân tích sừng trâu cho đến rất nhỏ nhiệm, tìm không thật có, khác với có sừng, mà lại nói không có sừng. Phân biệt như vậy chắc chắn không đúng lý. Nghĩa là nếu cho hữu là có, thì không là vô. Hữu đã không có, thì vô là không, cho nên nói cả hai đều có. Ai đối đãi ai, nên biết sừng trâu sừng thỏ cả hai đều vô tánh, mà đối với pháp gì mà nói có nói không ư! Nếu tướng đối đãi không thành đối đãi đối với có, cho nên nói sừng thỏ là không, không nên phân biệt, không phải là chánh nhân. Nghĩa là có và không làm nhân, không và có làm nhân, nhân này không phải chánh nhân. Hai nhân đã không chánh, hai quả có không, lý tự không thành, cho nên phá chung rằng Hữu vô Luận giả chấp có chấp không, cả hai đều không thành.

53. Bác bỏ chấp sừng trâu sừng thỏ:

“Này Đại Tuệ! Lại có ngoại đạo chấp hình trạng sắc v.v… cho đến dị hư không khởi phân biệt”. Trên là phân tích pháp, bác bỏ chấp sừng trâu, sừng thỏ. Đây là dùng pháp thể hợp với sắc không, nghĩa là cái nghe mà chúng sinh chấp khác nhau, cho nên Đức Phật lập bày cách đối trị có khéo vụng khác nhau, cũng là phá sự chuyển chấp. Nói, lại có ngoại đạo chấp hình dáng của sắc là chất, ngại biến đổi, bờ mé hư không rộng lớn vô ngại, mà sinh chấp đắm cho rằng sắc khác không, khởi vọng phân biệt, đây gọi là Như lai trình bày về chấp kia.

“Này Đại Tuệ! Hư không là sắc tùy nhập sắc chủng, cho đến bờ mé sắc không nên biết”. Dưới đây là bác bỏ chấp. Phật dạy Này Đại Tuệ! Không tức là sắc, tùy nhập vào sắc chủng, ngoài sắc chẳng có không, sắc tức là không, làm năng sở lẫn nhau mà dựng lập tánh, chẳng phải sắc diệt không. Sắc không bờ mé nên biết như vậy.

“Này Đại Tuệ! Khi đại chủng sinh thì tự tướng đều khác, chẳng trụ trong hư không, chẳng phải kia chẳng có hư không”. Hợp lại quyền biến nói sắc không chẳng hai. Nghĩa là trước bác bỏ chấp có ngã của ngoại đạo, mà nói có tạo sắc từ đại chủng sinh, tự tướng đều khác, nhưng vì mật hiển tạo sắc tánh tức không, lại không phân biệt sắc mà trụ không, cho nên nói không trụ, chẳng phải chẳng có hư không.

54. Quán trâu có sừng, thỏ không có sừng:

Này Đại Tuệ! Quán trâu có sừng, thỏ không sừng cũng giống như vậy, cho đến đối đãi các vật khác, kia cũng như vậy. Đây lại dẫn hai sừng trâu thỏ kia để hợp với sắc không, quán các pháp vọng thấy khác nhau. Mỗi mỗi đối phá nên biết cũng như vậy. Nhưng kiến chấp của ngoại đạo tuy nhiều, cũng không ra ngoài ác kiến và hai thứ nhân: vô nhân và tà nhân. Nói ác kiến: nghĩa là các đế lý điên đảo suy đoán so lường nhiễm tuệ làm tánh, làm chướng ngại chánh kiến chiêu cảm nghiệp khổ. Người ác kiến chịu nhiều nỗi khổ. Kiến này hành tướng có năm thứ khác nhau: 1. Tát-ca-da kiến: nghĩa là đối với năm thủ uẩn chấp ngã, ngã sở, tất cả kiến chấp nương làm nghiệp. 2. Biên kiến: tức hạng người kia tùy theo chấp đoạn, chấp thường, trong sự chướng ngại thực hành việc ra khỏi làm nghiệp. 3. Tà kiến: chê bai tác dụng thật sự của nhân quả, và chẳng phải bốn chấp và các tà thuyết khác, như tăng thượng duyên gọi nghĩa là biến. . Kiến thủ: nghĩa là đối với các kiến và sở y uẩn, chấp là trên hết, được sự thanh tịnh, tất cả sự tranh chấp sở y làm nghiệp. . Giới cấm thủ: nghĩa là thuận theo các kiến chấp giới cấm và uẩn sở y, chấp là trên hết, được sự thanh tịnh, không lợi ích siêng năng khổ nhọc sở lìa làm nghiệp. Nghĩa của hai thứ nhân, như đoạn dưới sẽ nói.

55. Nên xa lìa dị kiến, vọng tưởng:

Này Đại Tuệ! Ông nên xa lìa dị kiến vọng tưởng sừng thỏ, sừng trâu, cho đến quán sát pháp tu hành của tự tâm. Phật khuyên Bồ-tát nên thường quán sát tướng phân biệt do tâm hiện ra. Đã tự biết rồi, đối với tất cả mọi người xoay vần truyền trao cho nhau, giúp cho mọi người biết bệnh hiểu thuốc, giúp cho mau bình phục tu hành, đến nơi an vui.

“Lúc ấy, Thế Tôn muốn lặp lại nghĩa này nên nói kệ rằng: Tâm sở kiến không có, chỉ nương tâm sinh khởi, cho đến cảnh giới của tự giác”. Năm hàng kệ trên văn nói rất dễ hiểu nên không giải thích nhiều. Đây là y theo ngoại đạo chấp sừng trâu, sừng thỏ quyết định có không và sự khác nhau giữa sắc và không để phá danh, tướng phân biệt trong năm pháp đã xong.

“Bấy giờ, Đại Bồ-tát Đại Tuệ, cho đến dần dần thanh tịnh hay thanh tịnh ngay tức khắc”: Đây là y theo tâm chúng sinh thanh tịnh mà hiện lực. Trong năm pháp theo thứ lớp nói về nghĩa chánh trí, nghĩa là tự giác Thánh trí của người năng tịnh, người sở tịnh thì tự tâm hiện lưu.

56. Dần dần thanh tịnh chứ không phải thanh tịnh ngay:

“Phật dạy Đại Tuệ, dần dần thanh tịnh chứ không phải thanh tịnh ngay tức khắc, cho đến khiến lìa tất cả ác chấp hữu vô”. Đoạn trên nói về bốn tiệm bốn đốn, nghĩa là tự tâm của chúng sinh thanh tịnh hiện lưu. Căn cơ Đại thừa là đốn, căn cơ tiểu thừa là tiệm. Tiệm là nói về quyền thừa, đốn là nói về thật. Quyền để đi đến thật, thật để dẫn dắt quyền. Cho nên bậc Thánh khai ngộ chúng sinh, hoặc đốn hoặc tiệm quyền thật thiên viên không hề không nương vào nhau, ngõ hầu giúp loài hàm thức tùy nghi được nhập vào. Lại nói rằng, Tiệm là y theo người tu hành chưa chứng nhập, là nói chúng sinh tu học thực hành Chỉ được tiệm. Đốn là y theo người tu hành đã chứng nhập.

57. Các pháp không thật có, nhưng chúng sanh chấp đắm cho là thật:

“Lại nữa, Này Đại Tuệ! Phật từ pháp tánh có ra, cho đến chấp cho là thật đều không thật có”. Đây là nói ba thân Phật, lập ra nói pháp, giải thích thành đốn tiệm để nói lên nghĩa. Phật từ pháp tánh lưu xuất, tức là báo thân Phật. Nói tất cả pháp tự tướng, cộng tướng, tự tâm bản thức hiện thói quen nhân tướng và nhân tướng sở chấp của chuyển thức. Lại lệ thuộc lẫn nhau, các việc huyễn đều không có tự tánh. Cho nên luận Khởi Tín chép: Tất cả các pháp đều nhờ vọng tâm vô minh của chúng sinh mà được giữ gìn, như hình bóng trong gương không thật có tự thể, nhưng vì chúng sinh không hiểu biết, chấp đắm cho là thật, vậy không lầm lẫn hay sao!

“Lại nữa, Này Đại Tuệ! Vọng chấp tự tánh, chấp đắm duyên khởi tự tánh khởi”: Ý nói tất cả các pháp tự tướng, cộng tướng v.v… vốn không có tự tánh, nương vào các duyên khác hòa hợp sinh khởi, giống như việc huyễn, tức tánh y tha khởi. Nhưng vì chúng sinh vọng tưởng chấp đắm các thứ cho là thật, tức là vọng chấp tự tánh chấp đắm duyên khởi tự tánh mà khởi.

58. Dẫn việc của nhà ảo thuật:

“Này Đại Tuệ! Thí như nhà ảo thuật dùng khả năng ảo thuật, cho đến bao nhiêu hình sắc khác nhau đều không chân thật”. Nêu ví dụ để hiểu rõ duyên khởi không thật. Như nhà ảo thuật nương cỏ cây, ngói gạch tạo ra các thứ huyễn hóa. Thí như Như lai Tạng tánh, tùy duyên sinh khởi các pháp, cho nên Triệu luận chép: Muôn pháp giả lập không thật, thí như người huyễn hóa, không có gì chẳng phải người huyễn hóa, người huyễn hóa chẳng phải người thật, đều nói về duyên khởi không thật.

59. Hợp với pháp:

“Này Đại Tuệ! Ở đây cũng giống như vậy, cho đến ấy là tánh vọng chấp sinh”, đây là hợp với pháp, nghĩa là trong tánh duyên khởi sinh vọng tưởng tự tánh cũng giống như vậy.

Này Đại Tuệ! Đó gọi là pháp tướng do Phật từ pháp tánh lưu xuất nói. Tổng kiết nói các pháp do nhân duyên sinh, đều như huyễn không thật.

Này Đại Tuệ! Phật pháp tánh lập ra trí tự chứng, sở hành lìa tự tánh tướng của tâm: lập ra cảnh giới mà tự giác Thánh trí chứng đắc, lìa tướng phân biệt tâm lượng tự tánh trần cảnh, gọi là pháp của pháp Phật.

“Này Đại Tuệ! Hóa Phật nói thí, giới, nhẫn, tinh tấn, thiền định và trí tuệ, cho đến siêu vượt hạnh vô sắc”. Hóa Phật tám tướng thị hiện thành đạo, ứng duyên giáo hóa chúng sinh. Nói sáu độ trị sáu tế, lìa năm ấm, mười hai nhập, mười tám giới, giải thoát các thức tướng, tùy nghi lập ra các pháp khác nhau, siêu vượt kiến chấp của ngoại đạo và vượt sở hành vô sắc, nghĩa là ngoại đạo chấp vô sắc cho là Niết-bàn.

60. Nêu riêng pháp sở chứng của Phật để khuyên người tu chứng:

“Lại nữa, Này Đại Tuệ! Phật pháp tánh chẳng bị phan duyên, cho đến phải mau xa lìa”: Phan duyên vọng niệm, pháp vọng sở duyên, vọng nghiệp sở tác. Các nghĩa như trong văn. Đoạn trên đã nói rõ ba thân Phật nói pháp. Kiết thúc này riêng nêu lên pháp sở chứng của Phật pháp để khuyên người tu học. Cho nên Kinh Pháp hoa chép: Tuy nói các đạo kia thật vì nhất thừa. Lại nữa, Này Đại Tuệ! Thanh văn thừa, cho đến chấp đắm, phân biệt tự tánh tướng. Hai là y theo Thánh trí hàng thanh văn đã chứng, để nêu rõ nghĩa chánh trí. Vì ở trên Đức Phật khuyên Bồ-tát tu tự chứng cảnh giới Thánh trí, nhưng hàng Thanh văn cũng có tướng tự chứng cảnh giới Thánh trí, muốn phân biệt khác với Thanh văn, cho nên nói Thanh văn có hai tướng khác nhau, tự chứng Thánh trí ban đầu khác với ngoại đạo kia, cho nên gọi là Thù Thắng.

61. Thanh văn chỉ dứt bỏ phiền não hiện hành, chưa dứt bỏ phiền não thói quen:

“Thế nào là tướng tự chứng Thánh trí thù thắng, cho đến tướng cảnh giới Thánh trí tự chứng”. Nói hàng Thanh văn ở trong ba cõi hữu tình, là nói thấy vô thường, khổ, không, vô ngã, và cảnh giới Bốn đế, chán lìa năm dục, tâm vắng lặng. Đối với uẩn, xứ, giới, hoặc tự mình, hoặc chung với bất hoại tướng, mà chưa đạt được pháp không, chỉ được trí tuệ người không, như thật biết rõ, tâm trụ nhất cảnh, trụ nhất cảnh rồi, liền đạt được các thiền định, tám giải thoát, ba môn tam-muội, tám phần Thánh đạo, bốn quả Sa-môn, mà được ra khỏi sinh tử. Nhưng chỉ dứt bỏ phiền não hiện hành, chưa dứt bỏ phiền não thói quen, chỉ dứt bỏ sinh tử phần đoạn, chưa lìa sinh tử biến dịch, cho nên gọi là tướng Thánh trí cảnh giới tự chứng của thừa Thanh văn .

62. Đối với cảnh giới vui, Bồ-tát không nên tu học:

“Này Đại Tuệ! Đại Bồ-tát cũng được Thánh trí cảnh giới, cho đến không nên tu học”. Nói Bồ-tát sở chứng hiểu rõ tất cả các pháp bản tánh vô sinh, chính thọ vui khác nhau với hàng Thanh văn dứt ấm, giới, nhập, cầu sự an vui Niết-bàn. Bồ-tát cũng chứng đắc cảnh giới Thánh trí này. Dùng bổn nguyện đại bi, không chấp chứng vắng lặng và cái vui tam-muội, cho nên răn dạy các các Bồ-tát, đối với cảnh giới vui không 66 nên tu học.

63. Phân biệt nhận thức giữa Thanh văn và Bồ-tát:

“Này Đại Tuệ! Thế nào là phân biệt chấp đắm tự tánh tướng, cho đến dần dần trụ vào các địa”: Đây nói hàng Thanh văn tuy biết các thứ pháp như hình sắc hiển sắc v.v… của bốn đại kia, chẳng phải như ngoại đạo chấp có tác giả. Nhưng Như lai vì ngăn khác nên quyền thuyết, đối với tự tướng, cộng tướng phân biệt chấp đắm, Bồ-tát đối với kia nên biết chỉ do tự tâm vọng hiện, cho nên phải lìa bỏ, hiểu rõ ngã pháp vốn không, dần dần nhập trí địa, đạt đến cảnh giới Như lai.

64. Bác bỏ chấp đắm của ngoại đạo:

“Lúc bấy giờ, Đại Bồ-tát Đại Tuệ, cho đến tác giả Thường bất tư nghị!”. Ba là bác bỏ chấp đắm của ngoại đạo, hiển bày nghĩa chánh trí, do ở trên Đức Như lai nói đốn là hiển bày trí Thường bất tư nghị. Đại Tuệ nêu lên để bạch Phật, Như lai nói Thường bất tư nghị tức là nghĩa Thánh trí bậc nhất tự chứng trong đây, cảnh chẳng đồng với các ngoại đạo nói tác giả Thường bất tư nghị, nghĩa là ngoại đạo dùng tác giả làm nhân tướng Thường bất từ nghị.

65. Chẳng phải do nhân duyên tác giả mà được thường bất tư nghị:

“Phật bảo Này Đại Tuệ! Chẳng phải các ngoại đạo tác giả, cho đến thường bất tư nghị chẳng thành”. Như lai bảo Đại Tuệ: Chẳng phải các ngoại đạo do nhân duyên tác giả mà được thường bất tư nghị. Đó là do nhân tự tướng không thành, cho nên Kinh Lăng-nghiêm chép: dùng tâm sinh diệt làm gốc tu hành để cầu Phật thừa không sinh không diệt thì không bao giờ có việc ấy.

66. Phật khuyên Bồ-tát phải siêng tu học:

“Này Đại Tuệ! Đệ nhất nghĩa Thường bất tư nghị của ta, cho đến vì vậy Bồ-tát phải siêng năng tu học”. Đây là nói Như lai nêu Thường bất tư nghị trên có nhân, có tướng thành. Năng sở, nhân tướng đều lìa hữu vô, nghĩa là cảnh giới tự chứng Thánh trí chẳng phải cảnh giới nào khác cho nên có tướng Đệ nhất nghĩa. Trí là chánh nhân cho nên chẳng sinh diệt, cho nên có nhân. Năng sở nhân tướng lìa hữu vô cho nên không có tác giả. Thí như hư không Niết-bàn vắng lặng, không tác pháp cho nên Thường bất tư nghị, cho nên ta nói khác với các ngoại đạo có sự tranh luận. Thường bất tư nghị này, là chỗ chứng đắc Thánh trí tự chứng của các Như lai tự, cho nên Phật khuyên Bồ-tát phải siêng tu học.

67. Nói về thường bất tư nghị của ngoại đạo:

“Lại nữa, Này Đại Tuệ! Thường bất tư nghị của ngoại đạo, cho đến chẳng phải nhân lực của tự tướng, cho nên thường: là nói ngoại đạo dùng tướng vô thường biến dị làm Thường bất tư nghị nhân, cho nên nói thường, chẳng phải nhân lực của tướng tự giác thực hành cho nên thường.

“Này Đại Tuệ! Thường bất tư nghị của các ngoại đạo, cho đến Vô thường đã không do đây nói là thường”. Nói ngoại đạo thấy pháp mà thế gian tạo tác có rồi lại không, đều là vô thường, vọng chấp thần ngã là thường, đợi vô thường rồi, so sánh biết là thường. Đức Phật thì trái lại, không do đó nói là thường.

“Này Đại Tuệ! Ngoại đạo dùng nhân tướng như vậy, cho đến không có tự nhân tướng”. Nếu ngoại đạo dùng nhân tướng vô thường như vậy thì thành thường bất tư nghị, nhân tướng này chẳng chân thật cho nên đồng với sừng thỏ. Thường bất tư nghị chỉ là vọng tưởng nói năng vì sao? Vì không có tướng thường của nhân thường.

68. Nói về thường bất tư nghị của Phật:

“Này Đại Tuệ! Thường bất tư nghị của ta, cho đến điều này không nên nói”: Ở trước thì nói Phật trái với ngoại đạo, ở đây thì ngoại đạo trái với Phật, sẽ không biết được tướng tự nhân của thường bất tư nghị, lìa hữu vô, siêu tình thức, mà thường vọng chấp ngoài tướng sở hành của tự chứng Thánh trí, do đó mà Đức Như lai răn không nên nói. Nhưng đạo của ba thừa tốt xấu cao thấp đều khác nhau, đều là nội chứng. Nếu ngoài tâm thấy pháp mặc tình nói lý sâu mầu thì thành ngoại đạo.

69. Nếu thấu đạt sinh tử vốn không thì đối với Niết-bàn cũng chẳng thật có:

“Lại nữa, Này Đại Tuệ! Các Thanh văn sợ sinh tử vọng tưởng khổ mà cầu Niết-bàn, cho đến không thật có”. Bốn câu này y theo kẻ trí, người ngu có sự hiểu biết cao thấp, để nói về chánh trí, không biết sinh tử Niết-bàn có tướng khác nhau, đó là vọng phân biệt về hữu, nghĩa là đối với sinh tử mà nói Niết-bàn, như đối với bệnh nói thuốc. Nếu thấu đạt được sinh tử vốn không thì đối với Niết-bàn cũng không thật có. Cho nên Kinh Tư Ích chép: Các Đức Phật ra đời không vì giúp cho chúng sinh vượt khỏi sinh tử, nhập Niết-bàn, mà chỉ độ hai thứ chấp sinh tử, Niết-bàn mà thôi. Vọng tưởng vô tánh tức là Niết-bàn.

70. Sự mê lầm của phàm phu:

“Vọng chấp đời vị lai các căn cảnh diệt, cho đến chuyển tàng thức sở y thành Đại Niết-bàn”. Do phàm phu không biết sinh tử tức là Niết-bàn, vọng chấp đời vị lai căn cảnh diệt, nghĩ là Niết-bàn, chẳng phải cảnh giới tự giác sở chứng. Cảnh giới trí tuệ mà Như lai sở chứng ấy vì có thức tàng cho nên vọng thấy sinh tử, chuyển thức tàng thì sinh tử tức Niết-bàn. Cho nên đoạn kinh dưới nói: Thức vọng tưởng diệt gọi là Niết-bàn.

“Người ngu si kia nói có ba thừa, cho đến thường sinh tử luân hồi không dứt”. Người ngu cho rằng sinh tử khác Niết-bàn, vì người ngu này nói dứt sinh tử, hướng về Niết-bàn, cho nên nói chủng tánh ba thừa. Người trí nói sáu đường sinh tử này là do tâm lượng vọng tưởng chứ không có cảnh giới, nhưng người ngu kia không biết sinh tử vọng tưởng do các Đức Như lai ba đời nói là cảnh giới do tự tâm hiện. Do chấp tâm ngoài cảnh, chấp tướng sinh tử và Niết-bàn khác nhau cho nên bị trôi lăn trong sinh tử.

71. Tất cả pháp bất sinh:

“Lại nữa, Này Đại Tuệ! Tất cả pháp chẳng sinh, là do các Đức Phật trong quá khứ, hiện tại, vị lai nói ra, cho đến chẳng phải hai cảnh giới phân biệt của người ngu kia”. Nói Như lai ba đời nói ngoài tâm hiện tất cả các pháp bất sinh, vì sao nói tự tâm hiện, chẳng có tánh, cho nên không sinh? Lìa hữu vô, sinh hai thứ kiến chấp cho nên bất sinh! Đây là nói về người trí biết các pháp không sinh khởi chủng tánh Phật, như sừng thỏ sừng ngựa xưa nay bất sinh. Phàm phu không giác ngộ vọng chấp sinh diệt, chỉ nơi sở chứng tự giác của Như lai, tất cả pháp tự thể tánh tướng không sinh, chẳng phải cảnh giới phân biệt hữu vô của người ngu.

72. Phải siêng tu học ý nghĩa tâm này hiện tất cả pháp bất sinh:

“Này Đại Tuệ! Thân và tài của sinh khí thế gian v.v… cho đến ông đối với nghĩa này phải siêng năng tu học”. Nói sắc thân chánh báo và khí giới tư sinh, tất cả các pháp nguồn gốc là hình bóng của thức này, do hai thứ chấp năng, sở biến hiện, vọng tưởng vô tánh, mà các kẻ ngu rơi vào trong kiến chấp phân biệt hữu vô. Cho nên Đức Phật bảo Đại Tuệ, ông đối với ý nghĩa tâm này hiện tất cả các pháp bất sinh, phải siêng năng tu học.

“Lại nữa, Này Đại Tuệ! Có năm thứ chủng tánh, cho đến chủng tánh bất định, vô chủng tánh”. Năm là y theo chủng tánh để xét căn cơ. Nói về nghĩa chánh trí. Do ở đoạn trên sợ khổ sinh tử, ưa cầu Niết-bàn, sinh ra chủng tánh, cho nên kế là nói tướng chủng tánh.

“Này Đại Tuệ! Làm thế nào biết đó là chủng tánh Thanh văn thừa, cho đến đây là chủng tánh Thanh văn thừa. Nếu khi nghe nói ấm, giới, nhập, tự tướng, cộng tướng, thân chứng đắc Niết-bàn”. Biết khổ, dứt tập, chứng diệt, tu đạo, an ổn vui mừng và ưa thích tu tập. Đối với tướng duyên khởi phát ngộ không ưa quán sát, nên biết vì tu thượng pháp, đó gọi là chủng tánh Thanh văn Thừa.

73. Thanh văn dứt hoặc phân biệt:

“Hàng Thanh Văn-thùa tự thấy sở chứng của mình, cho đến cho đến hết sinh tử, được nhập Niết-bàn”. Đây nói rõ ràng Thanh Văn dứt hoặc phân biệt. Các Bồ-tát địa thứ năm, thứ sáu chỉ dứt phiền não hiện hành trong ba cõi, chưa dứt tập sử và sở tri chướng, hàng Thanh văn đã chứng đắc bốn trí rốt ráo giác cho nên hết sinh tử, chứng Niết-bàn giác.

“Này Đại Tuệ! Lại có chúng sinh cầu chứng Niết-bàn, cho đến đây là Niết-bàn”. Nói có chúng sinh vọng chấp giác biết ngã, nhân, chúng sinh, nuôi lớn sĩ phu mỗi mỗi khác nhau, chấp thần ngã là Niếtbàn, lại có ngoại đạo khác chấp rằng trời Tự tại v.v… là tác giả, gọi là Niết-bàn. Hai loại này thuộc về ngoại đạo vô chủng tánh.

74. Ngoại đạo chấp có thần ngã tánh họ không có pháp giải thoát:

“Này Đại Tuệ! Các ngoại đạo kia không có giải thoát, cho đến nên siêng năng tu tập lìa bỏ ác kiến này”. Đây là nói ngoại đạo chấp có thần ngã, tánh họ không có pháp giải thoát Thanh văn chấp tự tướng, cộng tướng, chưa đạt được pháp không, đều không ngoài vọng giác, cho nên khuyên tu tập, chuyển ác kiến kia mà hướng về chủng tánh Như lai.

75. Nói về chủng tánh thừa Duyên giác:

“Đại Tuệ! Làm thế nào để biết đó là chủng tánh Duyên giác, cho đến nên nói cho họ nghe pháp Duyên giác thừa”: Nếu nghe nói các pháp duyên khởi, biết duyên thể không, không hề nhiễm đắm, hoặc khi nghe nói hiện các thứ thân, hoặc hợp nhiều thân thành một thân, hoặc chia một thân thành nhiều thân, cho đến dùng thần ngã biến hóa mà tin nhận không sai trái, vui mừng tu tập, đó gọi là chủng tánh Duyên giác thừa. Nhưng có hai thứ khác nhau: Hễ gặp Phật giảng nói mười hai nhân duyên, nương theo đó tu hành gọi là Duyên giác. Nếu ra đời không gặp Phật, không được gần gũi Phật, chỉ một mình tu hành tự ngộ thì gọi là Độc giác.

76. Nói về chủng tánh thừa Như lai:

“Này Đại Tuệ! Chủng tánh Như lai thừa, cho đến phải biết đây là chủng tánh Như lai thừa”. Pháp tự tánh, vô tự tánh, là pháp bí mật ba tự tánh ba vô tánh. Pháp tự chứng Thánh trí của nội thân, là Phật tự chứng nhất thừa liễu nghĩa, là pháp chân thật không thể suy nghĩ, nói năng. Pháp ngoài các cõi Phật rộng lớn, nghĩa là cõi Tịnh đại bi nguyện trang nghiêm nhiếp hóa chúng sinh. Là Pháp rốt ráo đến địa vị nhất thế trí, hoặc có nghe nói các pháp này, cho nên gọi là chủng tánh Phật thừa.

77. Nói về chủng tánh bất định:

“Này Đại Tuệ! Chủng tánh bất định, cho đến tùy sinh tín giải mà thuận theo tu học”. Đây là nói người chủng tánh bất định khi nghe nói pháp ba thừa, tùy bất cứ một thừa nào trong ba thừa đó mà sinh lòng tín nhập, thuận theo sự tu học mà thành. Tánh kia có thể đời đổi cho nên nói bất định.

“Này Đại Tuệ! Đây là vì người ở Sơ trụ địa mà nói chủng tánh, cho đến Tạo tác lập ra”: Người ở bậc Sơ trụ địa tức chủng tánh bất định. Người ba thừa đều có thể vào được, nói cho họ nghe chủng tánh này, khiến họ tỏ ngộ quyền, hướng thẳng đến thật, siêu nhập đệ bát vô sở hữu thứ tám, thẳng đến Như lai địa, cho nên làm ra sự lập ra này.

“Này Đại Tuệ! Kia trụ tam-muội lạc Thanh văn, cho đến cuối cùng sẽ được thân Như lai”: Ở đây nói về ba thừa năm tánh đồng nhập nhất Phật thừa của Như lai, nghĩa là trước quyền nói ba thừa năm tánh, Hai thừa định tánh, xiển-đề vô tánh, không được thành Phật. Nay rốt ráo nói, tuy có sự khác nhau giữa ba thừa năm tánh, do tâm huân, nên xưa nay chỉ có một Phật thừa. Nêu một bày nhiều, vì vậy cho nên chỉ nói kia trụ tam-muội lạc Thanh văn. Đã tu tập dứt bỏ kiết phiền não, nếu hồi tâm chứng tri thức tánh, thấy pháp vô ngã, cuối cùng đều chứng được thân vô thượng trên hết của Như lai.

78. Đức Phật nói kệ cho rằng các bậc Thánh của bốn quả Thanh văn tâm họ đều mê loạn:

“Khi ấy, Đức Thế Tôn muốn lặp lại nghĩa này nên nói kệ rằng: Quả Dự lưu, Nhất lai, Bất hoàn, A-la-hán, tất cả bậc Thánh này, tâm đều hoặc loạn”: Nói Tiểu thừa sơ tâm, tu bảy phương tiện, đến khi thấy được đế lý, có khả năng thấy đạo dứt bỏ được tám mươi tám sử trong ba cõi, bắt đầu dự vào dòng Thánh, nên gọi là “Dự lưu”, kế là từ đó phát sinh sáu vô ngại đạo, quả này đã dứt bỏ sáu phẩm tư hoặc trong cõi Dục, tu hoặc sở đoạn, chứng giải thoát thứ sáu, ở tầng trời, người còn một lần qua lại, gọi là quả Nhất lai. Sau đó lại phát ba vô ngại đạo, dứt hẳn chín phẩm tư hoặc trong cõi Dục và các phiền não, không còn trở lại thọ sinh ở cõi Dục nên gọi là quả Bất hoàn. Lại ở trong cõi Sắc tu hành, dứt hẳn tất cả phiền não ở hai cõi trên do tu mà dứt, được tận trí, vô sinh trí, không còn thọ thân đời sau, gọi là quả A-la-hán. Như lai phương tiện vì phàm phu sợ khổ sinh tử vọng tưởng, nên nói dứt phiền não trong ba cõi, chứng đắc quả vị khác nhau, nhưng đều không lìa tâm lượng, cho nên nói các bậc Thánh này, tâm họ đều mê loạn.

“Ba thừa Nhất thừa và phi thừa do ta lập, là nói cho kẻ ngu ít trí tuệ, và các Thánh ưa lặng nói”: Phật ứng theo căn cơ mà thiết lập, ba thừa, Nhất thừa đều là quyền. Ba y theo một, một đối ba mà thiết lập. Ba thừa đã không còn thì một cũng chẳng có. Vì người ngu kia, ưa thích sự các bậc Thánh vắng lặng, cho nên nói.

“Pháp môn Đệ nhất nghĩa, xa lìa hai thứ chấp, trụ ở vô cảnh giới, sao dựng lập ba thừa”: Trong pháp môn Đệ nhất nghĩa, là không thật có, sao lại có giáo pháp và có tên các thừa.

“Các thiền và vô lượng, vô sắc tam-ma-đề, cho đến diệt thọ tưởng, chỉ tâm, không thật có”. Các thiền và vô lượng, nghĩa là bốn tịnh lự và bốn tâm vô lượng. Vô sắc tam-ma-đề, tức là bốn không xứ định của cõi Vô sắc. Diệt thọ tưởng, tức định diệt tận của hàng Thanh văn. Như lai nói các pháp như các thiền tam-muội v.v… cũng không có thật, vì tâm lượng vọng tưởng của kẻ ngu nên nói như vậy, cho nên nói chỉ do tâm, không thật có. Như trên nói về chánh trí đã xong.

79. Nói về Nhất xuển-đề:

“Lại nữa, Này Đại Tuệ! Trong đây Nhất-xiển-đề, cho đến vì chúng sinh vô thỉ mà phát nguyện”. Ba câu trên y theo Bồ-tát xiển đề. Biết sinh tử, Niết-bàn không hai để nói về nghĩa như như.

Thế nào là xả bỏ tất cả gốc lành, cho đến vì gốc lành đều dứt nên không được nhập Niết-bàn. Hạng xiển đề này chê bai pháp tạng Đại thừa, và làm ác, nói pháp này chẳng phải trong kinh tạng nói, do dứt bỏ tất cả gốc lành nên không thể nhập Niết-bàn.

“Thế nào là từ chúng sinh vô thỉ phát nguyện, cho đến đây là không có chủng tánh Niết-bàn, là bổn nguyện phương tiện của Bồ-tát”: Muốn dứt trừ sinh tử cho tất cả chúng sinh khiến họ được Niết-bàn thì hễ một chúng sinh chưa chứng nhập thì ta cũng không chứng nhập. Nói hạng nhất-xiển-đề chê bai Bồ-tát tạng cho nên không thể chứng đắc Niết-bàn, Bồ-tát nên biết sinh tử tức Niết-bàn, cũng lại không được Niết-bàn, vì không được Niết-bàn tên đồng, cho nên cũng nói trụ nhấtxiển-đề, đây là tướng của chủng tánh vô Niết-bàn.

80. Bồ-tát biết sinh tử Niết-bàn nên không nhập Niết-bàn:

“Đại Tuệ Bồ-tát bạch Thế Tôn, cho đến vì vậy Bồ-tát, nhất-xiểnđề chẳng vào Niết-bàn”. Nói Nhất-xiển-đề bỏ gốc lành lại nhờ thần lực Như lai nên có khi sinh gốc lành, được Niết-bàn, vì vậy Bồ-tát biết sinh tử tức Niết-bàn, cho nên nói không nhập, như trên là nói về Như Như đã xong.

“Lại nữa, Này Đại Tuệ! Đại Bồ-tát, cho đến duyên khởi tự tánh viên thành tự tánh”: Ở trên tuy phân biệt ba tự tánh thành năm pháp, nhưng chưa biết thế nào là ba tự tánh. Cho nên đoạn dưới đây nói rõ về thể của ba tự tánh. Nói vọng chấp tự tánh, nghĩa là kẻ ngu vọng tưởng chấp đắm. Sở chấp uẩn, giới, nhập v.v… là thật ngã, thật pháp, gọi là chấp tánh vọng. Ở đây có hai thứ: 1. Tự tánh: chấp chung các pháp thật có tự tánh. 2. Khác nhau: chấp riêng thường vô thường v.v… thật có tự thể, hoặc nương vào danh mà vọng chấp nghĩa, hoặc nương vào nghĩa mà vọng chấp danh v.v… Y theo thể không ra ngoài hai thể người và pháp. Y theo chấp không ra ngoài hai chấp danh và nghĩa. Lại nói rằng chúng sinh nhiễm tâm đối với tự tánh y tha khởi, có hai thứ vọng chấp tự tánh: 1. Tùy giác: tức hiện hành chấp. 2. Quán tập thói quen tùy miên: tức chấp hạt giống… Nói duyên khởi tự tánh, nghĩa là y tha các duyên hòa hợp dậy lên, giống như sự huyễn, gọi là Duyên khởi tự tánh, cũng có hai nghĩa: 1. Nương các chân lý khác, như sóng nương nước mà sinh khởi. 2. Nương các vọng duyên khác, như sóng nương gió mà dậy lên. Viên thành tự tánh, nghĩa là vọng tưởng thể vốn không, duyên khởi vô tánh, tức là viên thành, cuối cùng chỉ một chân như, lại không thật có, cho nên Kinh Lăng-nghiêm chép: Vô lậu chân tịnh, tại sao trong đó lại dung nạp các vật, trên đã giải thích chung rồi, đoạn dưới sẽ giải thích riêng.

81. Vọng tưởng vô thể, chỉ từ duyên khởi:

“Này Đại Tuệ! Vọng chấp tự tánh từ tướng sinh, cho đến chủng loại hiển hiện sinh khởi chấp đắm”. Nói vọng tưởng vô thể, chỉ từ duyên khởi sự tướng sinh chấp đắm.

“Này Đại Tuệ! Kia chấp đắm sự tướng, cho đến đó gọi là hai thứ vọng chấp tánh tướng”. Nói chấp tướng này khởi hai thứ vọng tưởng. Đó là các Như lai lập ra giảng nói, nghĩa là pháp trong ngoài sanh ra các tên gọi nam nữ, bình áo, v.v… đó gọi là tướng chấp đắm tướng. Đối với pháp trong ngoài kia chấp đắm tự tướng công tướng, việc này gọi là tướng chấp đắm tướng, tức là hai thứ chấp đắm tự tánh khác nhau.

82. Các pháp từ duyên sinh nên gọi là tánh duyên khởi:

“Này Đại Tuệ! Từ sở y, sở duyên mà sinh khởi ra tánh duyên khởi này”: Là nương theo nhân, nghĩa là các pháp từ duyên sinh nên gọi là tánh duyên khởi. Cho nên nói chẳng hề có một pháp nào không từ nhân duyên sinh.

“Thế nào là viên thành tự tánh, cho đến đó gọi là viên thành tự tánh Như lai Tạng tâm”: Nói viên thành tự tánh không có tự thể riêng, chỉ ở nơi duyên khởi tự tánh, lìa danh tướng sự tướng phân biệt luống dối, tự giác Thánh trí sở chứng Như như. Đây là viên thành tự tánh pháp thân thật thể Như lai Tạng tánh thanh tịnh chân tâm. Vì vậy phải nhờ vào phương tiện như thật, lìa niệm quán sát mới ngộ nhập được, cho nên luận đại thừa nói rằng: tự tánh viên thành thật, nên biết giảng nói bốn pháp thanh tịnh: 1. Tự tánh thanh tịnh, nghĩa là chân như thật tế thắng nghĩa pháp giới. 2. Ly cấu thanh tịnh, nghĩa là xa lìa tất cả chướng ngại nhơ bẩn. 3. Đắc được đạo thanh tịnh này, nghĩa là tất cả các pháp Ba-lamật-đa, Bồ-đề phần. . Sinh cảnh giới thanh tịnh này, nghĩa là dạy bảo chánh pháp tối thượng thừa nhiệm mầu. Bốn pháp như vậy gồm thâu tất cả các pháp thanh tịnh không bỏ sót một pháp nào.

83. Mê thì Niết-bàn thành sanh tử, ngộ thì sinh tử thành Niết-bàn:

Lúc bấy giờ, Đức Thế Tôn muốn lặp lại nghĩa này bèn nói kệ rằng: “Danh tướng phân biệt, hai tự tánh tướng, chánh trí như như, ấy Viên thành thật”: Trước nói về pháp thế gian, xuất thế gian, hoặc nhân hoặc quả nhiễm tịnh khác nhau, không lìa năm pháp, Nhất hạnh kinh này, lại gồm thâu năm pháp thành ba tự tánh, nghĩa là danh tướng phân biệt vọng chấp duyên khởi hai tự tánh, chánh trí như như tức Viên thành thật. Cho nên biết ba tánh không có bờ bến, bất cứ một pháp nào cũng gồm thâu hoàn toàn các pháp còn lại, chân vọng dung nhiếp lẫn nhau, tánh tướng không ngăn ngoại. Từ duyên khởi sinh phân biệt tức là vọng chấp; từ duyên khởi ngộ chân thật, tức là viên thành. Do phân biệt nên một phần thành sinh tử, do chân thật nên một phần thành Niết-bàn, vì hiểu rõ phân biệt tánh không thì sinh tử thành Niết-bàn. Mê chân thật tánh hữu thì Niết-bàn thành sinh tử, đều là một pháp, tùy duyên hiển nghĩa mà thành ba, ba chẳng phải ba mà một tánh viên tròn. Một chẳng phải một mà ba tánh đầy đủ, quyển thư không lỗi, ẩn hiển thường như, chẳng phải một chẳng phải ba, dứt tánh tướng ở nơi thật địa. Vừa ba vừa một, sáng suốt khắp nghĩa thiên, toát yếu chỗ quy thú chẳng gì hơn chỉ này.

84. Tổng kiết khuyên tu học:

“Này Đại Tuệ! Đó gọi là quán sát pháp môn năm pháp tự tánh, cho đến phải siêng năng tu học”. Tổng kiết thành pháp môn năm pháp ba tánh để khuyên tu học.

85. Quán sát hai tướng người và pháp vô ngã:

“Lại nữa, Này Đại Tuệ! Đại Bồ-tát cho đến pháp là tướng vô ngã”: Đã tu học được năm pháp ba tự tánh rồi, lại phải quán sát hai tướng người pháp vô ngã. Người vô ngã, tiếng Phạm là Bổ-đặc-già-la, Hán dịch Sác thủ thú, nghĩa là các loài hữu tình, khởi hoặc tạo nghiệp, tức là năng thủ năm đường ở vị lai gọi là Đường. Tuy là thường khởi hoặc tạo nghiệp, luân hồi năm đường nhưng đều không có chủ tể thật dụng tự tại cho nên nói vô ngã. Kinh dạy: Vô ngã vô tạo vô thọ, nghiệp thiện ác cũng không mất. Pháp vô ngã, nghĩa là thể của Phật pháp tuy giữ gìn tự tánh làm khuôn phép giúp cho người nhìn vào thì biết, cũng không có thắng tánh thực dụng tự tại, nên nói vô ngã. Hai thứ ngã chấp này, hoặc có hữu tình gồm chấp Bổ-đặc-già-la làm ngã, hoặc có hữu tình chấp riêng sắc, thọ, tưởng, hành, thức làm ngã. Cho nên luận Dugià chép: Bổ-đặc-già-la vô ngã, nghĩa là lìa ngoài tất cả hạnh duyên sinh mà có thật ngã riêng thì không thể được. Pháp vô ngã, nghĩa là tất cả các hạnh duyên sinh, tánh chẳng phải thật ngã đó là vô thường. Cho nên kinh dạy: Phải khéo quán sát. Như trên là giải thích sơ lược chung rồi, văn dưới là giải thích rộng riêng.

86. Thế nào là người vô ngã:

“Này Đại Tuệ! Thế nào là tướng người vô ngã? Cho đến đều do tạng tâm hiển hiện”. Thế nào là người vô ngã nghĩa là lìa ngã? Thế nào là lìa ngã? Nghĩa là đối với ấm, giới, nhập… của ngã sở phân biệt quán sát, do vô minh nghiệp ái sinh, đối với các căn như nhãn thức… vọng chấp tự tâm hiện cảnh giới vọng tưởng, đều do tâm tạng vọng tưởng thi thiết lập ra; những thứ ấy đều không có ngã. Đây là y theo ấm, giới, nhập mà nêu bày vô ngã.

“Sát-na nối nhau biến hoại không ngừng, cho đến lăng xăng không yên như vượn khỉ”: Dưới đây là y theo ví dụ nêu năm quán môn để nói về vô ngã. Đây là nêu lên vô thường môn. Ngã có nghĩa là thường, nay đã vô thường cho nên không có ngã. Văn nêu sáu ví dụ. Năm ví dụ trên là huyễn thân, một ví dụ dưới là vọng tâm. Như nước theo dòng, hạt mầm thay đổi, đèn nhờ các duyên, gió thổi không ngừng, mây nổi khởi diệt. Dùng các ví dụ sát-na thay đổi này, thân này cũng giống như vậy, đâu có thường! Lại nữa, vọng tâm lăng xăng, v.v… như vượn khỉ, đã không thể giúp cho thân tâm thường trú, nghĩa của ngã cũng vậy. Ưa chỗ bất tịnh như ruồi lằn, nêu pháp môn bất tịnh để nói về vô ngã ấy, nhưng tất cả thế gian tham ái thân bất tịnh này, thân này chứa đựng ba mươi sáu thứ ô uế, như chỗ ruồi lằn thường đậu. Ngã nghĩa là tịnh, nên biết là vô ngã.

87. Nêu khổ môn để bác bỏ ngã:

“Không biết thỏa mãn như lửa dữ”. Là nêu khổ môn để bác bỏ ngã. Có chỗ nói như gió thổi lửa thì Ngã nghĩa là vui. Nay tham dục không thỏa mãn như lửa dữ trong gió, gặp củi liền cháy, tìm kiếm không được. Bị khổ ép ngặt không có an vui, cho nên biết vô ngã.

“Thói quen luống dối từ vô thỉ cho nên trôi lăn trong các đường không dừng như bánh xe quay nước”. Nêu pháp môn không tự tại để nói về vô ngã, nghĩa là thói quen luống dối từ vô thỉ của nghiệp huân tập, qua lại trong ba cõi, như bánh xe quay nước xoay chuyển không dừng, vì ưa thích nước cho nên tưới nước, nghiệp nhân tức là nghiệp nhân xô đẩy, đâu có thật ngã.

“Các thứ thân sắc, trong mọi cửa chỉ, cho đến cũng như con rối nhờ có sợi dây mà di động”. Đây là nói không môn để bác bỏ ngã, nghĩa là quán sát ấm, giới, nhập các thứ sắc thân, như con rối có sợi dây, huyễn thuật làm thây chết đứng dậy đi, dù nói như thế nhưng thật chẳng phải ngã.

“Nếu khéo biết tướng của nó thì gọi là trí về người vô ngã”: Trên là dùng pháp dụ để vặn hỏi. Khéo biết ấm, giới, nhập đều không có ngã. Như con rối có sợi dây v.v… đó gọi là về trí người không.

88. Nói về pháp vô ngã:

“Này Đại Tuệ! Thế nào là trí về pháp vô ngã? Nghĩa là biết ấm, giới, nhập là vọng chấp tự tánh”: Nói Bồ-tát biết pháp duyên khởi ấm, giới, nhập. Nếu chấp là thật thì đó là tự tánh vọng chấp, xưa nay chẳng thật có. Cho nên Kinh Bảo Tích chép: Rõ sắc không bền chắc như chùm bọt nước, suy nghĩ các thọ v.v… như bọt nước, tưởng như ánh sáng mặt trời soi chiếu, đối với các hành nên quán sát, như người đời khéo huyễn thuật ca múa, sát-na liền hiện các sắc tượng, hiểu rõ thức dụng cũng như vậy. Người trí đối với việc này đều không mong muốn. Đây là bác bỏ phàm chấp phu có năm uẩn. Kinh Đại Bát-nhã chép: Khổ não như chùm bọt nước là tướng uẩn, đức Như lai biết là vô tướng. Kinh Bảo Tích lại chép: Trong ngoài mười hai xứ, ta nói tâm làm chủ, kia lại do nghiệp mà sinh, nghiệp do suy nghĩ mà tồn tại lâu dài, nhãn sắc đều là duyên mà sinh khởi thức, duyên thiếu thì bất sinh, thí như lửa không có củi. Như vậy sinh các pháp, hòa hợp sinh lẫn nhau. Vô tác vô thọ là hiện tác dụng như huyễn. Tất cả các pháp trong ngoài, ta đã biết không huyễn, kẻ ngu chấp điên đảo, phân biệt ngã, ngã sở. Đây là phá phàm phu chấp có mười hai xứ, mười tám giới. Kinh Đại Bát-nhã chép: Sinh trưởng môn là xứ tướng, Như lai giác là vô tướng, nhiều độc hại là giới tướng. Kinh Lăng-nghiêm cũng chép: Căn trần cùng nguồn, buộc mở không hai, thức tánh luống dối, như hoa trong hư không.

“Như ấm, giới xứ lìa ngã ngã sở, cho đến phàm phu phân biệt chẳng phải các Thánh”. Như ấm, giới, nhập, không, vô ngã, ngã sở, chỉ cùng chứa nhóm nghiệp phiền não, như dây tự trói , xoay vần sinh nhau, không thật có tự thể. Tất cả các pháp cũng giống như vậy, lìa tự tướng, cộng tướng, do vọng phân biệt các thứ tướng cảnh. Kẻ ngu như thế chẳng phải các bậc Thánh, giúp cho họ biết ngộ tu, vượt phàm lên Thánh.

89. Vì sao bậc Thánh không khởi vọng tưởng:

“Quán sát tất cả các pháp như thế, cho đến trí về pháp vô ngã”. Nói các bậc Thánh hiền vì sao không khởi vọng tưởng, đó là do dứt tất cả danh tưởng vọng tưởng của tâm, ý, ý thức.

“Chứng đắc trí này rồi, biết không có cảnh giới, cho đến mà ngồi trên đó”. Dưới đây là nói về quán sát pháp vô ngã ngã sở được lợi ích. Nghĩa là thấy pháp vô ngã cho nên được nhập Sơ địa. Quán sát khai giác thứ lớp dần dần tiến đến Thập địa, việc phải làm đã làm xong, có hoa sen báu lớn, trên đó có các báu trang nghiêm, có cung điện báu lớn, tòa sen báu lớn. Bồ-tát tu tam-muội Như huyễn mà thành tựu, ngồi trên đó thọ chức vị Phật.

90. Phật xoa đảnh Bồ-tát trao quả Phật:

“Đồng hàng Phật tử trước sau vây quanh, cho đến được Phật rước nước trên đảnh”. Nói các Bồ-tát này muốn thọ nhận địa vị Phật, Bồ-tát cùng loại là quyến thuộc vây quanh trước sau, tất cả các Đức Phật từ mười phương đến, xoa tay trên đỉnh đầu thọ ký thành Phật. Như khi vua Chuyển luân trao ngôi vị cho thái tử, dùng chung vàng đựng đầy nước bốn biển lớn rưới lên đầu Thái tử, trao địa vị vua Chuyển luân. Thí như các Đức Phật đều dùng tay phải xoa lên đỉnh đầu các vị Bồ-tát trao địa vị Pháp vương.

“Vượt lên địa vị Phật, được pháp tự chứng, cho đến phải riêng tu học”. Vì thấy pháp vô ngã, nương vào đây tăng tiến hành nhân tròn đầy, cho nên vượt địa vị Bồ-tát, được pháp thân Như lai, vì vậy cho nên nói các Bồ-tát phải nên tu học.

“Khi ấy, Bồ-tát Đại Tuệ, cho đến xin nói tướng dựng lập chê bai”. Do ở trên quán hai thứ vô ngã, lìa được hai chấp hữu vô, đoạn thường, cho nên thỉnh tướng dựng lập, chê bai. Chẳng có nói có gọi là lập ra, chẳng phải không nói không gọi là chê bai.

“Giúp con và các Đại Bồ-tát, cho đến Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.” Nếu Đức Như lai nói cho chúng con nghe, giúp chúng con lìa kiến chấp hữu vô, mau chứng đắc Vô thượng Bồ-đề.

“Chứng đắc Bồ-đề rồi, cho đến để không sinh tâm chê bai chánh pháp”. Nói chánh pháp lìa hữu vô, nếu nói hữu vô gọi là chê bai chánh pháp.

91. Phật nhận lời Bồ-tát thỉnh liền nói kệ:

“Phật nhận lời Bồ-tát Đại Tuệ thỉnh rồi liền nói kệ: Thân tư tài an trụ đều chỉ tâm ảnh tượng, cho đến lìa tâm không thật có”. Ý nói các pháp y báo, chánh báo, không biết tự tâm vọng hiện, mà khởi hữu vô, dựng lập chê bai, rơi vào hai kiến chấp.

“Lúc bấy giờ, Đức Thế Tôn muốn nói về nghĩa này, cho đến tánh vô hữu, tánh dựng lập có bốn thứ”. Đây là nêu bốn tên, gọi đó là trong chẳng có tướng, kiến, nhân, tánh, mà ựng lập một cách ngang trái.

“Này Đại Tuệ! Sự chê bai, cho đến đó là tướng dựng lập chê bai”. Kia là pháp dựng lập, quán sát không được mà nói là vô, đó gọi là chê bai.

“Này Đại Tuệ! Thế nào là tướng hữu vô, tướng dựng lập, cho đến đó gọi là tướng hữu vô, tướng dựng lập. Nghĩa là ấm, giới, nhập chẳng có tự tướng, cộng tướng mà vọng chấp đây như vậy, là tự tướng, đây chẳng khác, là cộng tướng. Đây là do lỗi vọng tưởng luống dối các thói quen từ vô thỉ sinh”.

“Thế nào là không có kiến dựng lập kiến? Cho đến đó gọi là không có kiến dựng lập kiến”. Nghĩa đối với ấm, giới, nhập vọng dựng lập ngã, nhân, chúng sinh, cho là năng kiến.

“Thế nào là không có, nhân dựng lập nhân? Cho đến đó gọi là không có nhân, dựng lập nhân”: Ngoại đạo dựng lập thức ban đầu có nhân từ Minh Đế mà sinh. Phật dạy thức ban đầu này không từ Minh Đế nhân sinh, thức ban đầu kia vốn không sinh, sau nhãn, sắc, minh, niệm v.v… làm nhân, như huyễn mà sinh, một niệm không dừng trụ, sinh rồi có, có rồi diệt.

92. Tất cả pháp lìa hữu vô:

“Thế nào là tánh hữu vô, tánh dựng lập? Cho đến đó gọi là tánh hữu vô, tánh dựng lập”: Nói ngoại đối với ba pháp vô vi vô tác mà lập ra tánh hữu. Phật dạy ở đây lìa tánh phi tánh, nói tất cả các pháp lìa hữu vô. Giống như vòng lửa xoay, tóc rũ do dụi mắt mà sinh, như sừng thỏ, sừng ngựa… vốn tự chẳng có.

“Này Đại Tuệ! Dựng lập chê bai, cho đến phải nên quán sát xa lìa kiến chấp này”. Tổng kiết lìa hai thức ác kiến, để khuyên tu học.

“Này Đại Tuệ! Đại Bồ-tát, cho đến tướng năm pháp, ba tự tánh, hai vô ngã”: Phật dạy tám thức, năm pháp, ba tự tánh, hai vô ngã, là muốn giúp cho chúng sinh lìa danh tướng phân biệt, chứng đắc pháp thân Như lai, xoay vần nối nhau thành Phật không dừng.

93. Không trụ trong hai thừa tất cả và Bích-chi-Phật:

“Vì chúng sinh nên hiện các thứ thân, cho đến không trụ trong đạo Thanh văn, Bích-chi-Phật”. Vì lợi ích chúng sinh khiến hạt giống Phật không mất. Tùy theo gốc lành chúng sinh mà hiện bóng các thứ sắc thân, như nương duyên khởi mà sanh vọng chấp, để dụ cho Như lai nương gốc lành chúng sinh mà sinh, như hạt ngọc Ma-ni không có tác tâm mà tùy màu thay đổi, để dụ cho Như lai không tác ý, tùy theo nước tâm gốc lành của chúng sinh lớn hay nhỏ mà thay đổi, cũng như ngọc Ma-ni tùy vật mà biến hiện, để thí dụ Như lai tùy theo gốc lành của chúng sinh hiện chứng cõi Phật, đại chúng nhóm họp trong đó nói pháp. Nói tất cả các pháp như huyễn, như mộng không thật. Bồ-tát đã biết các pháp như huyễn, mà lìa kiến chấp sinh tử đoạn thường v.v… cũng lìa kiến chấp tự tướng, cộng tướng của hai thừa.

“Nghe rồi thành tựu vô lượng trăm ngàn, cho đến xa lìa các kiến chấp hữu vô v.v…”. Nói Bồ-tát đã biết các pháp như huyễn, chứng đắc các địa vô lượng ức tam-muội hiện thành Chánh giác. Lại nói rằng pháp do tự tâm hiện lượng, khiến chúng lìa các chấp chư hữu vô v.v…

“Lúc ấy, Đức Thế Tôn liền nói kệ rằng: Phật tử thường quán sát, thế gian chỉ là tâm, cho đến tất cả đều thành tựu”. Nói quán sát sự sinh tử của thế gian chỉ do tự tâm vọng hiện, như ngọc ma-ni vô tư hiện ra nhiều màu, lìa sự tạo tác thì tất cả thành tựu.

94. Đại Tuệ nêu lên pháp không để thưa hỏi Như lai:

“Khi ấy, Bồ-tát Đại Tuệ, cho đến vô sinh, không hai, vô tự tánh tướng”. Ở trên nói tất cả các pháp như huyễn, như mộng, tức là nói pháp không, cho nên Đại Tuệ nêu lên pháp không này để thưa hỏi Như lai. Lại nói rằng dưới đây nêu không, vô sinh… để nói lên chí thú của bốn môn ở trên. Cái gọi là không là nói năm pháp ở trước chẳng phải thật có. Vô sinh để nói lên tám thức bất sinh. Không hai, là hai thứ ngã đều mất. Lìa tánh tức ba tánh vắng lặng. Cho nên đoạn kinh trên nói: Thấy cảnh giới sở hành của các Đức Như lai, rốt ráo lìa bỏ, năm pháp, ba tự tánh.

“Con và các vị Bồ-tát đã ngộ được tướng này, cho đến đắc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác”. Chúng con giác ngộ rồi, tức lìa vọng tưởng, mà chứng Bồ-đề.

95. Phật hứa trả lời:

Phật dạy: Lắng nghe! Ta sẽ nói cho các ông nghe, cho đến nói không, vô sinh, không hai không tự tánh”. Nói không, là thế gian vọng tưởng chấp đắm tánh cú nghĩa, vì phàm ngu chấp tự tánh các pháp, cho nên ta nói các pháp không, vô sinh, không hai lìa tự tánh tướng.

“Này Đại Tuệ! Lược nói tánh không có bảy thứ: Tướng không, tự tánh không, thành không, vô hành không, Nhất thiết pháp chẳng thể nói không, Đệ nhất nghĩa Thánh trí đại không và bỉ bỉ không”. Các giáo nói về nghĩa không, tự có thêm bớt. Kinh này tuy tóm lược, nghĩa kia không khác nhau.

1/ “Thế nào là Tướng không? Nghĩa là tất cả các pháp… cho đến thế nên nói tất cả các pháp tự tướng là không”. Nói tướng các pháp xoay vần làm nhân duyên cho nhau, chứa nhóm, không có tự thể. Tự tướng và cộng tướng đều bất sinh, cho nên tướng nương vào đâu mà an trụ?

2/ “Thế nào là Tự tánh không? Nghĩa là tất cả pháp tự tánh bất sinh, đó gọi là tự tánh không” tức sinh tánh thể tự tánh bất sinh.

3/ “Thế nào là vô hành không? Nghĩa là các uẩn xưa nay là Niết-

bàn, cho đến đó gọi là vô hành không” tất cả các pháp bản tánh thường diệt, không còn diệt nữa, há có hành ư!

4/ “Thế nào là hành không? Nghĩa là các uẩn do nghiệp và nhân, cho đến đó gọi là hành không”: Nói năm ấm các hành pháp, từ các duyên sinh khởi, không có ngã và ngã sở, pháp hữu vi hành không.

5/  “Thế nào là tất cả pháp không thể nói không, cho đến đó gọi là không thể nói không”: Tất cả pháp từ vọng tưởng sinh ra, không có tự tánh cho nên lìa lời nói.

6/ “Thế nào là Đệ nhất nghĩa Thánh trí đại không, cho đến đó gọi là Đệ nhất nghĩa, Thánh trí đại không”: Nghĩa là khi Như lai đắc tự giác Thánh trí Đệ nhất nghĩa thì tất cả vọng tưởng thói quen kiến chấp lỗi lầm thảy đều xa lìa.

7/ “Thế nào là bỉ bỉ không? Nghĩa là đối với đây không kia, đó gọi là bỉ bỉ không?” Đây gọi là vô không lẫn nhau. Đối với đây không kia, đối với kia không đây nên gọi là bỉ bỉ không. Đối với kia có đây, đối với đây có kia, thì chẳng gọi là không.

96. Nêu ví dụ để hiển bày rõ:

“Thí như nhà Lộc Tử Mẫu không có voi ngựa trâu dê, cho đến chẳng phải không có chúng Tỳ-kheo”: Lộc Tử là tên người, mẹ của Lộc Tử là Ưu-bà-di, Tỳ-xá-khư, rất kính trọng Tam bảo, xây dựng tinh xá cho chúng Tỳ-kheo ở, trong đó không có các súc vật như voi ngựa, vì không có voi ngựa cho nên nói không.

“Này Đại Tuệ! Chẳng phải nói là nhà không có tự tánh của nhà,

cho đến chẳng phải các chỗ khác không có voi ngựa trâu dê”: Nhà và Tỳ-kheo có chẳng gọi là không. Nếu các chỗ khác có voi ngựa cũng chẳng thể nói voi ngựa là không.

“Này Đại Tuệ! Tất cả các pháp tự tướng, cộng tướng, cho đến rất thô trong cái không kia, ông phải xa lìa”. Nói không ấy rất thô, chẳng phải là chân không, cho nên khuyên xa lìa.

97. Giải thích vô sinh:

“Lại nữa, Này Đại Tuệ! Vô sinh, cho đến trừ người sống trong tam-muội đó gọi là vô sinh”. Đây là giải thích vô sinh. Nói y theo nhân duyên phá sinh, cho nên nói không tự sinh, nếu phá sinh nói vô sinh thì chẳng phải vô sinh chân thật, trừ người sống trong tam-muội như huyễn của Địa thứ tám trở lên, đó gọi là vô sinh chân thật.

“Này Đại Tuệ! Vô tự tánh là do vô sinh, cho đến đó gọi là vô tự tánh”. Nói các pháp một niệm không dừng trụ, do dị tánh khởi, nên gọi là vô tự tánh.

98. Thế nào là không hai:

“Thế nào là không hai tướng. Này Đại Tuệ! Như bóng sáng, cho đến đều đối nhau độc lập thì không thành”: Nói thí như bóng sáng dài ngắn, trắng đen, đều do đối đãi mà lập không thật, không được nói hai.

“Này Đại Tuệ! Chẳng phải ngoài sinh tử có Niết-bàn, cho đến vô tự tánh tướng, ông cần nên học”. Nghĩa là nói vọng tưởng tánh không, ngay nơi sinh tử thành Niết-bàn, nếu mê tánh chân thật là có, ngay nơi Niết-bàn thành sinh tử. Nếu sinh tử Niết-bàn không hai thì tất cả các pháp cũng giống như vậy.

99. Ngộ thì sinh tử là huyễn mộng, mê thì các nghiệp sinh tử không hoại:

“Lúc bấy giờ, Đức Thế Tôn muốn lặp lại nghĩa này, nên nói kệ rằng: Ta thường nói pháp không, xa lìa đoạn và thường, sinh tử như huyễn mộng, mà nghiệp kia chẳng hoại”: Ý nói đạo lý chân thật thì sinh tử thật là không, giống như huyễn mộng, chỉ vì không hiểu được huyễn mộng, nên các nghiệp sinh tử không thể tan hoại.

“Hư không và Niết-bàn, Diệt hai cũng như thế, kẻ ngu vọng phân biệt, các Thánh lìa hữu vô”: Là nói ba vô vi ở trên là không, không được đối với Niết-bàn mà nói sinh tử, cũng không được đối với sinh tử mà nói Niết-bàn, kẻ ngu vọng tưởng nên nói là hai, bậc Thánh thể đạt nên lìa hữu vô.

Lúc bấy giờ, Đức Thế Tôn lại bảo Đại Bồ-tát Đại Tuệ rằng, cho đến đều nói nghĩa này”. Nói nghĩa không v.v… vào khắp các kinh, không có một pháp nào chẳng chứa đựng lý này.

100. Hội quyền về thật:

“Này Đại Tuệ! Các kinh điển, cho đến muốn cho nghĩ là nước mà thật không có nước”. Đây gọi là hội quyền về thật. Nhưng trong các kinh hữu không nói không, vô sinh, là do chúng sinh hy vọng chẳng phải một. Cho nên Đức Như lai tùy tâm chúng sinh tạo ra các dị thuyết khác nhau, mà thật do tâm ngộ chứng, chẳng phải do lời nói. Thí như bầy nai quá khát nước, thấy ánh nắng mùa xuân mà tưởng là nước, mê loạn chạy đến tìm, nhưng là kia ánh nắng chứ thật chẳng phải nước.

“Điều mà các kinh nói cũng giống như vậy, cho đến nên thuận theo nghĩa chớ chấp lời nói”: Khuyên y theo thật nghĩa chớ có chấp lời nói.

101. Chúng sanh phiền não cũng có thân Như lai:

“Lúc bấy giờ, Bồ-tát Đại Tuệ lại bạch Phật, cho đến như hạt châu rất quý bỏ trong túi áo dơ”. Kinh Như lai Tạng cũng nói trong tất cả chúng sinh tham sân si phiền não cũng có thân Như lai, thường không bị ô nhiễm, đức tướng đầy đủ như ta không khác.

Ngoại đạo nói ta là tác giả thường còn, cho đến đâu không đồng với ngã của ngoại đạo ư!

Đây là lời hỏi văn Như lai, nếu nói có nghĩa Như lai tàng thì trái với tất cả kinh điển ở trên đều nên nói không, tức đồng với ngoại đạo nói có thần ngã. Nhưng kia chấp ngã có ba nghĩa: 1. Thể thường gọi là tác giả. 2. Tuy ở trong năm ấm mà lìa cầu-na. 3. Trải qua khắp các đường mà thật chẳng sinh diệt. Nay nói nghĩa Tàng đâu chẳng phải đồng với ngã của ngoại đạo!

102. Lời Như lai nói khác với thần ngã của ngoại đạo:

“Phật dạy: Này Đại Tuệ! Ta nói Như lai Tạng, cho đến không nên ở đây khởi chấp đắm ngã”. Ý nói lời Như lai nói khác với thần ngã của ngoại đạo. Ngoại đạo nói ngã như mè, lúa mì, chỉ lập ra định tướng. Phật nói Như lai tàng, hoặc gọi là không, hoặc gọi là thật, cho đến vô nguyện, đây là thể một, ứng theo vật mà có tên khác, không đồng với thần ngã mà ngoại đạo nói, vì kẻ ngu sợ vô ngã đó nên Như lai phương tiện nói cảnh giới không thật có, tạo ra môn Như lai Tạng, khuyên các Bồ-tát không nên đồng chấp ngã như ngoại đạo.

103. Nêu ví dụ để làm rõ nghĩa:

“Này Đại Tuệ! Thí như người thợ gốm đối với một đống đất, cho đến có các tên gọi khác nhau”. Như người thợ gốm đối với một đống đất, tùy theo việc cần làm, phương tiện làm ra các thứ, khí cụ để dụ cho Như lai đối với tất cả pháp đều vô ngã, nên ứng với căn cơ phương tiện hoặc nói Như lai tàng, hoặc nói vô ngã, các tên gọi khác nhau.

104. Muốn lìa vọng kiến phải biết nghĩa Như lai tàng vô ngã:

“Này Đại Tuệ! Ta nói như Như lai tàng, cho đến nên biết nghĩa vô ngã Như lai tàng”. Đây là muốn nói lìa vọng kiến, chứng Vô thượng Bồđề, phải biết nghĩa vô ngã Như lai tàng. Nhưng nói Như lai tàng ấy, gồm có ba nghĩa: 1. Nghĩa ẩn phú, nghĩa là che lấp Như lai cho nên nói tàng. Kinh Lý Thú Bát-nhã chép: Tất cả chúng sinh đều Như lai tàng. Kinh Thắng-man chép: Pháp thân Như lai không lìa phiền não tàng gọi là Như lai tàng. 2. Nghĩa họp nhiếp, nghĩa là pháp thân Như lai gồm nhiếp tất cả thân tướng, cõi nước thần thông đại dụng vô lượng công đức, cũng nghĩa là gồm nhiếp tất cả chúng sinh, đều ở trong Như lai tàng. 3. Nghĩa xuất sinh, pháp thân này đã gồm chứa các đức, biết rõ chứng nhập thì có khả năng sinh ra. Cho nên luận Thập Địa chép: Trí địa năng sinh nhân quả vô lậu, cũng năng sinh thành đạo hạnh trời, người. Ba nghĩa này, trước hết y theo khi mê, sau y theo khi ngộ, trung gian in sâu vào thể. Cho nên Kinh Thắng-man chép: Nếu bị vô lượng phiền não trói buộc mà đối với Như lai tàng không nghi ngờ thì sẽ thoát khỏi sự trói buộc đối với vô lượng kho phiền não , pháp thân cũng không nghi ngờ, chỉ có quả hiển bày dễ tin, nhân ẩn khó nói, người hiểu biết nông cạn có hành động khinh nhân trọng quả, mong các người học tin sâu tâm mình.

105. Phật nói kệ nói về sự nối nhau:

“Lúc ấy, Đức Thế Tôn nói kệ rằng: Sĩ phu uẩn nối nhau, các duyên và cát bụi, thắng, tự tại tác giả, đây chỉ tâm phân biệt”. Ngoại đạo chấp do thần ngã nên làm cho ấm nối nhau, lại chấp cát bụi v.v… làm duyên với pháp, nhân duyên sinh, hoặc chấp tất cả đều do trời Tự tại thù thắng mầu nhiệm làm ra. Đây chỉ là tâm lượng vọng tưởng.

106. Thỉnh Như lai nói về Như:

“Lúc bấy giờ, Đại Bồ-tát Đại Tuệ, cho đến thành đại tu hành”. Vì ở trên nhập ba giải thoát môn mau chứng Bồ-đề. Cho nên Đại Tuệ thỉnh Như lai nói Như. Các vị Đại Bồ-tát thực hành pháp phương tiện vô lậu.

“Phật bảo Này Đại Tuệ! Đại Bồ-tát thành tựu, cho đến được gọi là đại tu hành”. Như lai nói đầy đủ bốn phương tiện có thể thành tựu tu hành đại phương tiện. Ở đây nêu lên bốn tên, đoạn dưới tự giải thích.

107. Quán sát tự tâm hiện:

“Này Đại Tuệ! Thế nào là quán sát tự tâm hiện, cho đến Quán sát tự tâm hiện như vậy”. Ở đây là nói pháp y báo, chánh báo v.v… trong ba cõi, chỉ do tự tâm huân tập tội lỗi thói quen từ vô thỉ, vọng tưởng phân biệt tùy nhập mà hiện ra. Như luận Khởi Tín chép: Vì tất cả các pháp từ tâm khởi lên, vọng niệm mà sinh. Quán sát như vậy gọi là chánh quán.

“Này Đại Tuệ! Thế nào là Đại Bồ-tát lìa kiến chấp sinh trụ diệt? Cho đến chuyển sở y chỉ, được thân ý sinh”: Xa lìa kiến chấp sinh, nghĩa là giai vị mãn công dụng ở Thập địa đã xong, đối với hai thứ sinh, mà lìa được tướng kiến chấp sinh kia, chứng tánh như huyễn, trụ địa thứ tám, hiểu rõ tâm thức v.v… Được thân ý sinh, tức vô công dụng đạo giác pháp tự tánh thân ý sinh.

108. Bồ-tát Đại Tuệ hỏi về thân ý sanh:

“Đại Tuệ bạch Thế Tôn! Vì nhân duyên gì gọi là thân ý sinh?” Vì Bồ-tát Địa thứ tám ở trên đã nói chuyển thức sở y tại sao lại gọi là thân ý sinh! Cho nên hỏi thân ý sinh là nhân duyên gì?

“Phật bảo Này Đại Tuệ! Thân ý sinh… cho đến xa lìa kiến chấp đối với sinh trụ diệt”. Vì ý có ba nghĩa cho nên lấy ý làm ví dụ: 1. Nhanh chóng. 2. Vô ngại. 3. Đến khắp. Dùng để dụ cho Bồ-tát chứng đắc tam-muội Như huyễn hiện thân khắp mười phương để hóa độ chúng sinh cũng có ba nghĩa này. Từ thân ý sinh ấy cũng giống như vậy trở 71 xuống, là dùng pháp hợp với thí dụ rất dễ hiểu.

109. Nói về bốn thứ tu hành:

“Này Đại Tuệ! Vì sao quán pháp bên ngoài là vô tánh, cho đến ông nên như vậy mà siêng năng tu học”: Ở đây là nói về bốn thứ tu hành đúng như thật, thành bốn pháp môn trên, nghĩa là quán tự tâm sở hiện hành, thành tựu pháp môn tất cả pháp không ở trên. Xa lìa sự chấp đắm sinh trụ diệt, thành pháp môn vô sinh trên. Khéo biết ngoài pháp không có tánh hành, thành tựu pháp môn vô tự tánh ở trên. Chuyên cầu tự chứng Thánh trí hành, thành tựu pháp môn không hai ở trên. Đó gọi là Bồ-tát thành tựu bốn pháp, được tu hành đại phương tiện đúng như thật, cho nên khuyên ông phải siêng năng tu học.

110. Nêu tướng nhân duyên để thưa hỏi:

“Khi ấy, Bồ-tát Đại Tuệ lại thỉnh Thế tôn, cho đến không vọng chấp các pháp tiệm sinh và đốn sinh”. Do kiến chấp vọng tưởng ở trên duyên sinh trong ba cõi, cho nên Đại Tuệ nêu tướng nhân duyên để thưa hỏi.

“Phật bảo Này Đại Tuệ! Tất cả pháp nhân duyên sinh, cho đến đó gọi là duyên bên ngoài trước sau chuyển sinh”. Nói đống đất làm nhân, nước gây, v.v… làm duyên mà thành cái bình là quả. Như đất bình nhân quả đã như vậy, nêu các thứ như tơ lụa v.v… chồng lên nhau thành bốn thứ cũng giống như vậy, đều dùng tơ lụa, lát chiếu, giống mầm, tô lạc làm nhân kia, chồng chất lên nhau, mầm mống tô lạc làm quả. Nghĩa duyên rất dễ hiểu, đó gọi là pháp duyên sinh, chắc chắc trước nhân sau quả xoay vần mà sinh. Thân sinh khởi làm nhân, sơ trợ giúp làm duyên.

“Bên trong, nghĩa là vô minh ái nghiệp v.v… cho đến đây chỉ là phân biệt của người ngu”. Nội duyên: Nghĩa là lấy vô minh ái nghiệp v.v… làm nhân duyên, sinh thân ấm giới nhập gọi là quả. Chỉ do kẻ ngu luống dối phân biệt, đều chấp khác nhau. Trong như phẩm Phá nhân duyên Trung luận có nói, rộng nhưng bên ngoài do bên trong biến đổi, gốc ngọn gồm thâu lẫn nhau thành một duyên khởi.

111. Nhân có sáu thứ:

“Này Đại Tuệ! Có sáu thứ Nhân: là nhân Đương hữu, nhân Tương thuộc, Tướng nhân, Tác nhân, nhân Hiển thị, Đãi nhân”. Ở trên nói chung tất cả các pháp nhân duyên trong ngoài đã xong. Dưới đây nói riêng sáu nhân và bốn duyên, đều là pháp mà kẻ ngu tự phân biệt.

1/ “Này Đại Tuệ! nhân Đương hữu là pháp trong ngoài tạo nhân sinh quả”: Nói khi quả sau sinh khởi gọi là đương hữu, tức là hiện tại làm nhân, đời sau được quả, gọi là nhân đương hữu.

2/ “Nhân Tương thuộc, nghĩa là pháp trong ngoài làm sở duyên rồi sinh quả ấm, hạt giống, v.v…”: Nghĩa là phan duyên rồi, pháp bên trong bên ngoài sinh, năng sở nhân quả lại lệ thuộc nhau. Uẩn quả cũng là nhân của hạt giống.

3/ “Tướng nhân, là tạo ra quả sinh nhau, nối nhau”: Nói làm quả tướng lẫn nhau, nối nhau không dứt gọi là tướng nhân. Luận Đối pháp chép: Câu hữu làm quả lẫn nhau, như đại tướng sở tướng, tâm đối với tâm tùy chuyển, nghĩa là tướng hữu vi đối với pháp hữu vi, pháp hữu vi đối với tướng hữu vi. Tâm đối với pháp tùy tâm, pháp tùy tâm đối với tâm, làm quả lẫn nhau, cũng gọi là câu hữu nhân.

4/ “Nhân Năng tác, nghĩa là làm việc tăng thượng mà sinh quả như vua Chuyển luân”: Tất cả pháp hữu vi chỉ trừ tự thể, vì tất cả pháp là nhân năng tác. Vì kia khi sống không bị chướng ngại mà ở, thí như người trong nước, do luân vương kia không bị tổn hại, đều nói rằng: ta nhờ luân vương mà được an vui.

5/ “Nhân Hiển liễu, nghĩa là phân biệt sinh năng hiển cảnh tướng, như ngọn đèn soi chiếu các vật ý nói”.

Nói vọng tưởng sự sinh rồi thì năng hiển cảnh tướng, năng sở nhân quả phát minh lẫn nhau, như ngọn đèn soi chiếu các vật.

6/ “Nhân Quán đãi, nghĩa là khi diệt thì dứt thuộc nhau, không sinh vọng tưởng”. Như dài ngắn, cao thấp làm tướng nhân lẫn nhau. Nhân quả đối đãi cũng như vậy. Nhân diệt quả khởi cho nên nói khi diệt thì dứt thuộc nhau, không chấp pháp vọng tưởng sinh.

112. Bác bỏ chấp sáu thứ nhân duyên sanh:

“Này Đại Tuệ! Kẻ ngu này tự phân biệt… cho đến tìm nhân tướng kia chẳng thật có”. Dưới đây là bác bỏ chấp sáu thứ nhân duyên sinh, do tướng tự tâm vọng tưởng. Nếu nói đốn sinh, thì năng sở nhân quả không khác nhau, làm gì có tướng nhân. Nếu tiệm sinh thì tìm thể tướng kia cũng không thật có, như chẳng sinh con thì làm sao gọi là cha. Nói chẳng sinh con thì không thể gọi là cha, đây là một ví dụ bác bỏ cả hai kiến chấp. Nếu nhân quả đồng thời đốn sinh thì như cha con ngang nhau, cao thấp không phân biệt. Nếu trước nhân sau quả thì cha trước con sau. Nếu con chắc chắn sau cha thì gọi như thế nào, đây là lời vặn hỏi, hai chấp đều mất. Cha dụ cho nhân, con dụ cho quả. Lại nói rằng nếu không có cha thì không thể gọi là con. Phần trước đã diệt phần sau không được thứ lớp gọi tên.

113. Vọng chấp bốn duyên sinh:

“Có những người chấp đắm nói do nhân duyên… cho đến điều vì tướng chấp đắm vọng tưởng”: Ở đây nói vọng chấp bốn duyên sinh, nghĩa là thân có thể khả năng phân biệt quả gọi là nhân duyên, lại nương nhau gọi là duyên sở duyên. Trước sau khai bày dẫn dắt gọi là thứ lớp. Không ngại nghĩa sinh gọi là tăng thượng. Những người chấp đắm cho rằng bốn duyên năng sở sinh pháp thuộc nhau thứ lớp sinh, đều không thật có, chỉ do tâm lượng vọng tưởng chấp đắm tướng. Bốn duyên nghĩa rộng như luận Duy thức nói.

114. Nên lìa tướng nhân duyên hòa hợp:

“Này Đại Tuệ! Thứ lớp và đốn nhanh đều bất sinh… cho đến tiệm đốn sinh kiến chấp”. Ngày xưa Đức Phật phương tiện nói tất cả các pháp đều do nhân duyên sinh, để bác bỏ tự nhiên vô nhân tà nhân của ngoại đạo. Lại nói duyên sinh vô ngã, bác bỏ chấp hữu ngã của ngoại đạo. Như bài kệ dưới nói: Vì ngăn dứt năng tác nên nói nhân duyên hòa hợp, vì ngăn lỗi thường nên nói duyên là vô thường. Nay đây sẽ khiến xả bỏ quyền thừa, thấu đạt duy tâm hiện. Cho nên kiết thúc phá rằng: nên lìa tướng nhân duyên hòa hợp, đốn tiệm sinh kiến chấp, ngăn dứt dị kiến. Trong quyền thật giáo gồm có ba thuyết: 1. Khiến các Bồ-tát biết tất cả các pháp do nhân duyên sinh, khác với kiến chấp của ngoại đạo. 2. Biết từ tâm hiện, xả bỏ kiến chấp Hai thừa. 3. Duy tâm tánh khởi, không đồng với quyền giáo, người học nên biết.

115. Đức Thế tôn nói kệ:

1/ “Lúc bấy giờ, Đức Thế Tôn nói kệ rằng: Tất cả pháp vô sinh, cũng lại không có diệt, đối với các duyên kia, phân biệt tướng sinh diệt”. Do tất cả các các pháp là vô sinh cho nên không thể nói diệt, chỉ đối với các duyên không thật kia mà vọng phân biệt có tướng sinh diệt.

2/ “Chẳng ngăn các duyên hội, như thế diệt lại sinh chỉ vì dứt chấp đắm, vọng tình của phàm ngu”: Ở đây nói Phật không ngăn pháp duyên khởi diệt lại sinh, vì tự tánh của pháp là bất sinh, chỉ vì ngăn dứt vọng tưởng chấp đắm của phàm ngu si hoặc.

3/ “Pháp hữu vô trong duyên, thảy đều không có sinh, thói quen mê chuyển tâm, từ đây ba cõi hiện”. Nói duyên khởi hữu vô tất cả các pháp đều vô sinh. Chỉ do thói quen của tự tâm mê chuyển, cho nên ba cõi hiện ba cõi: nghĩa là dục hữu, sắc hữu, vô sắc hữu. Xưa nay không có sinh, cũng lại không có diệt… cho đến mà nói có sinh diệt”. Nếu lìa bỏ hai chấp tất cả vọng kiến thì biết pháp sở sinh, nhân duyên năng sinh thảy đều vốn không, chẳng lại tìm cầu giúp cho trở thành vô.

116. Bồ-tát Đại Tuệ hỏi về tướng nói năng phân biệt và pháp môn Tâm:

“Lúc bấy giờ, Bồ-tát Đại Tuệ lại bạch Phật… cho đến đối với hai nghĩa mà được thanh tịnh”: Vì ở trên nói chỉ tùy thế tục mà nói có sinh diệt, cho nên Đại Tuệ nêu lên tướng nói năng phân biệt và pháp môn tâm để thưa hỏi.

“Này Đại Tuệ! Có bốn tướng nói năng phân biệt… cho đến đó là bốn thứ”. Bốn tướng nói năng văn nêu rõ rất dễ hiểu. Lại nữa, mộng lời nói, cũng gọi là địa thứ tám Bồ-tát đắc Vô sinh nhẫn giác rồi, duyên Thắng giải hạnh địa cho đến Địa thứ bảy. Trước trải qua cảnh giới không thật, nói các pháp như mộng nên gọi là lời nói trong Mộng.

117. Chỗ phát ra lời nói do đâu sinh lời nói:

“Đại Tuệ lại bạch Thế tôn… cho đến chỗ nào? Cớ gì? Tại sao sinh khởi?”. Hỏi chỗ phát ra lời nói, hỏi do đâu mà sinh lời nói.

Phật bảo Này Đại Tuệ! Do đâu, ngực, cổ, họng, mũi, môi, lưỡi, nướu, răng hòa hợp mà khởi, đây là chỗ các duyên phát ra lời nói.

“Đại Tuệ lại bạch Phật! Lời nói phân biệt, cho đến vì vọng tưởng là nhân khởi lời nói”. Nghĩa là lời nói kia do phân biệt mà sinh.

“Nếu khác thì phân biệt chẳng nên làm nhân… cho đến vì vậy cho nên chẳng phải khác cũng chẳng phải không khác”. Nếu lời nói và phân biệt khác thì phân biệt không hiển rõ nghĩa nói năng cũng lẽ ra không hiển được nghĩa, nhưng lời nói có công năng năng hiển nghĩa cho nên đều bác bỏ.

“Đại Tuệ lại bạch Thế Tôn!… cho đến do nói năng mà được vào, chẳng phải tức là lời này”: Do ở trên nói lời nói năng hiển nghĩa, cho nên Đại Tuệ hỏi là lời nói tức Đệ nhất nghĩa hay sở nói là Đệ nhất nghĩa, và lặp lại nêu Đệ nhất nghĩa tâm pháp trên để thỉnh hỏi. Nhưng Đức Phật đáp rằng: Chẳng phải nói năng cũng chẳng phải điều được nói. Vì sao? Vì Đệ nhất nghĩa là tự chứng Thánh trí tam-muội lạc cảnh, do nói năng mà được vào, chẳng phải tức tức là lời này, vì vậy cho nên nói như ngón tay chỉ mặt trăng, nếu thấy được mặt trăng thì biết rõ ngón tay kia chẳng phải mặt trăng.

118. Ngôn ngữ là vô thường:

“Đệ nhất nghĩa là cảnh tự chứng trong Thánh trí v.v… cho đến đối với Đệ nhất nghĩa không thể hiển bày. Lời nói sinh diệt dao động, đó là vô thường. Từ các duyên sinh tức không có tự thể, làm sao hiển được Đệ nhất nghĩa!

“Đệ nhất nghĩa không có tướng tự tha… cho đến phải xa lìa tướng

lời nói phân biệt”. Nói Đệ nhất nghĩa bặt dứt tướng tự tha. Lời nói liên quan đến tướng hữu cho nên không thể hiển bày. Lại Đệ nhất nghĩa chỉ chứng nhập tự tánh chân tâm, ngoài tâm không có pháp, các pháp bên ngoài đều không có tự tánh, nên nói năng vọng tưởng đâu thể hiển bày, cho nên khuyên lìa lời nói phân biệt, nương Đệ nhất nghĩa.

119. Đức Phật nói kệ:

1/ “Lúc bấy giờ, Đức Thế Tôn muốn lặp lại nghĩa này nên nói kệ rằng: Các pháp không tự tánh, cũng lại không lời nói, nghĩa sâu xa không không, kẻ ngu bị trôi lăn”. Vì các pháp không có tự thể, cũng không có lời nói, kẻ ngu không thấy nói năng không, điều được nói là không, cho nên trôi lăn trong sinh tử.

2/ “Tất cả pháp vô tánh, lìa lời nói phân biệt, các hữu như mộng huyễn, chẳng sinh tử, Niết-bàn”. Nói tất cả pháp và nói năng không thật, như mộng như huyễn. Như mộng huyễn thì đâu có tướng sinh tử Niết-bàn chắc chắn.

3/ “Như vua và Trưởng giả, vì muốn các con vui… cho đến tự chứng pháp thật tế. Bài tụng trên là nêu ví dụ, bài tụng dưới là hợp pháp. Nói nay ta giảng nói tự giác Thánh trí cảnh giới thật tế, không nói điều do lời nói ra.

120. Nói ba pháp để nói về bốn câu:

“Lúc bấy giờ, Bồ-tát Đại Tuệ… cho đến tự chứng Thánh trí cảnh giới sở hành”. Đại Tuệ do ở trên nói Đệ nhất nghĩa đế, tức là tự chứng Thánh trí sở đắc chẳng phải cảnh giới nói năng phân biệt, tức nêu tự chứng Thánh trí sở đắc Đệ nhất nghĩa để thưa hỏi. Nhưng Đệ nhất nghĩa thể lìa bốn câu chấp, một khác, hữu vô, đoạn thường, câu bất câu. Đại Tuệ xin lìa pháp bốn câu. Trong đây nói ba pháp để nói về bốn câu, có mười hai câu, y theo văn có chín, ẩn hiển lẫn nhau có ra. Trong một khác có bốn câu, trong hữu vô có bốn câu, trong thường vô thường có hai câu. Kinh tóm lược đầy đủ như trong luận Tứ tông có nói.

“Xa lìa vọng chấp tự tướng… cho đến tròn đầy đầy đủ tất cả công đức”. Nói chẳng phải chỉ lìa kiến chấp ngoại đạo, mà còn lìa chấp của Hai thừa ấm, giới, nhập, tự tướng, cộng tướng, giúp cho các Bồ-tát và các chúng sinh mau chứng vô thượng chủng trí của Như lai.

121. Nêu ra pháp thể hữu vô:

“Phật dạy Này Đại Tuệ! Lành thay! Lành thay!… cho đến Tất cả tự tánh vô Thường vô thường v.v…”. Ở trên tuy nói lìa hữu vô v.v… nhưng chưa biết thế nào là hữu vô. Nay nêu ra pháp thể hữu vô. Nói phàm phu ngu si, không biết tự tâm lượng vọng huân tập làm nhân biến hiện. Chấp đắm pháp bên ngoài là hữu là vô, khởi chấp bốn câu v.v… đây là hữu chấp thể hữu vô. Mười hai ví dụ dưới, so sánh với các pháp hữu vô, một khác này đều không chân thật phải nên xa lìa. Lời đáp trên nguyện vì con nói lìa các cảnh giới sở hành như một khác, hữu, vô, thường, vô thường, v.v…

122. Phật nêu ví dụ để làm sáng tỏ:

1/ Này Đại Tuệ! Thí như bầy thú bị cơn khát ép ngặt… cho đến rơi vào trong các chấp đắm một khác, v.v…” Nai chạy theo bóng nắng so sánh với người ngu ưa muốn cảnh giới, kẻ phàm phu ngu si cũng giống như vậy. Hợp với bày thú ở trên, từ vô thỉ vọng tưởng luống dối huân tập ba độc đốt tâm. Hợp với ba khát ép ngặt ở trên, ưa cảnh giới sắc, chấp sinh, trụ, diệt, hợp với ánh nắng khi trời sáng ở trên mà tưởng là nước chấp pháp trong ngoài, rơi vào sự chấp đắm một khác, v.v… hợp với mê hoặc rong ruổi vào các đường, không biết chẳng phải nước.

2/ “Này Đại Tuệ! Như thành Càn-thát-bà… cho đến lìa hai pháp tự tánh khởi có tánh phân biệt”. Nói ba lượng là: 1. Hiện lượng. 2. Tỷ lượng. 3. Thánh ngôn lượng. Lượng là nghĩa khuôn mẫu chắc chắn, thí như thăng đấu đong vật đo. Hiện lượng: Hiện là hiển hiện, nghĩa là rõ ràng chứng cảnh, không lệ thuộc danh ngôn, tâm không tính toán đo lường, tự thân đắc pháp thể, lìa vọng tưởng phân biệt, mà chẳng lầm lẫn. Tỷ lượng: Tỷ là so sánh chủng loại, nghĩa là dùng nhân để thí dụ, so sánh chủng loại tính toán đo lường mà biết được, như từ xa thấy khói thì biết có lửa, cách tướng thấy sừng biết chắc là có trâu, dù không đích thân thấy, cũng chẳng phải vọng tưởng. Thánh ngôn lượng: Nghĩa là dùng Thánh giáo Như lai làm chuẩn mực, cho nên người xưa dạy sau khi Phật diệt độ lấy kinh luận làm khuôn phép, lấy tri thức làm kim chỉ nam để ngăn dứt ngoại đạo.

123. Nói về năm phần luận:

Ngũ phần luận: 1. Tông; 2. Nhân; 3. Dụ; . Hợp; . Kiết. Ba thứ tông nhân dụ, cũng gọi ba chi tỷ lượng, dụ hợp chỉ thành, vả lại nluống ngoại đạo vọng chấp. Chấp âm thanh là thường. Trong Thanh Minh lập lượng rằng: Thanh là hữu pháp, định thường là tông, nhân gọi là tánh sở tác, đồng dụ như hư không, nhưng hư không chẳng có tánh sở tác, trong nhân không chuyển dẫn dụ không đồng đều, lập âm thanh là thường bất thành. Nếu âm thanh trong Phật pháp là vô thường, cho nên lập lượng rằng: Âm thanh là hữu pháp, nhất định là vô thường làm tông. Nhân nói tánh sở tác, đồng dụ như bình chậu. Kinh Lăng-nghiêm chép: Âm thanh lẫn lộn lời nói, chỉ nương danh cú vị, chẳng lẽ là thường. Các thứ chấp đắm của ngoại đạo tự cho là hơn người. Nếu không loại bỏ kia để lập lượng so sánh phá trừ, thì do đâu mà phá chấp được, cho nên Ngũ phần luận do Đức Như lai nói, như dùng chêm để lấy chêm, dùng âm thanh dừng âm thanh. Có chỗ nói dẹp bỏ dị chấp của ngoại đạo, định ra giềng mối tông môn cho Phật giáo, giúp cho các chúng sinh ở trong cảnh giới sở chứng của bậc tự giác Thánh trí, lìa các dị kiến hữu vô… Kẻ ngu mê giáo còn chấp có tánh vọng tưởng phân biệt một khác, đoạn thường.

124. Người tu hành nên dứt tâm, ý, thức:

“Này Đại Tuệ! Những người tu hành chuyển tâm, ý, thức… cho đến chấp đắm ngã, nhân, chúng sinh, thọ giả”. Những người tu hành, nên dứt tâm, ý, thức lìa hai tánh năng thủ sở thủ, nhập Như lai địa, đối với có và không chẳng sinh vọng tưởng. Nếu đối với cảnh do tự giác chứng được mà chấp hữu vô thì lại chấp ngã, ngã sở.

“Này Đại Tuệ! Tất cả các pháp tự tướng, cộng tướng… cho đến Tự chứng Thánh trí Thánh trí tam-muội lạc”. Nói vị hóa Phật chỉ thuận theo kẻ ngu chấp vọng khởi, tạo các thứ lời nói. Nói tự tướng, cộng tướng, khiến cho biết không phải thật pháp. Phi phi Phật, là hai bản dịch đời Tống và Ngụy đều gọi Phật pháp.

125. Tà kiến có ba thứ:

“Này Đại Tuệ! Thí như trong nước có bóng cây hiện… cho đến Tất cả phân biệt như câu bất câu v.v…” Như lai kiết khuyên đối với sở chứng nên lìa các ác kiến phân biệt của phàm phu ngoại đạo về sinh diệt một khác, hữu vô, đoạn thường, câu bất câu v.v… ở trên. Tà kiến ở Thiên Trúc đại khái có ba: 1. Ngoại đạo ngoài Phật pháp chấp đắm bốn câu ở trên, và sáu vị giáo chủ ngoại đạo, chín mươi sáu phái ngoại đạo. 2. Ngoại đạo nương gá Phật pháp: Xuất phát từ Độc Tử Phương quảng, tự cho mình là thông minh, đọc kinh sách Phật mà không hiểu rõ chánh kiến, sinh kiến giải khác, thí như trâu uống nước thành sữa, rắn uống nước thành chất độc, các sư đều không chấp nhận, đó là người tà kiến nương gá Phật pháp. 3. Kẻ học Phật pháp thành ngoại đạo, chấp giáo môn của Phật mà sinh phiền não, không được ngộ nhập. Đại luận chép: Nếu không chứng đắc Bát-nhã phương tiện, nhập A-tỳ-đàm thì rơi vào trong , nhập vào không thì rơi vào vô, nhập côn-lặc cũng rơi vào vừa hữu vừa vô. Trung luận chép: Chấp chẳng phải hữu chẳng phải vô gọi là ngu si luận: Điên đảo chấp đắm chánh pháp lại thành người tà kiến, lại nữa bốn môn của Đại thừa đều thành kiến chấp, thật ngữ là luống dối, sinh kiến chấp về ngữ. Niết-bàn là sinh tử, vì khởi tham đắm, thường uống cam lộ, tổn thương tánh mạng chết sớm, mất môn phương tiện, rơi vào tà chấp nên gọi là nội tà kiến. Vậy nên biết pháp không có tướng chắc chắn, hồi chuyển tùy tâm, chấp thì thành quấy, thông đạt thì không lỗi, như pháp bốn câu, thông hay bít đều do người, tại pháp gọi là bốn câu, ngộ nhập gọi là bốn môn, vọng chấp gọi là bốn chấp, hủy gọi là bốnbáng, bốn câu bất động được mất không tánh, một pháp không khác nhau, thăng trầm tự khác, chỉ có sở trọng sở y, lập tri lập giải, chỗ chấp mảy may cũng không quên mất, đều thành ngoại đạo, cho nên tri kiến còn thì là phàm, tình mất tức là Phật.

126. Các ví dụ về ba cõi các pháp:

“Lúc ấy, Đức Thế Tôn lại nói kệ rằng: Các thức uẩn có năm, giống như bóng cây nước, điều thấy như mộng huyễn, không nên vọng phân biệt”. Ba câu tụng trên là ví dụ năm uẩn, không nên vọng khởi phân biệt.

“Ba cõi như dương diệm, mộng huyễn và tóc rũ, quán sát được như vậy, rốt ráo được giải thoát”. Bốn câu này là ví dụ nói ba cõi không thật, cho nên quán sát sẽ chứng quả Bồ-đề.

“Thí như sóng khi nắng, động chuyển tâm mê loạn… cho đến người ngu sinh chấp đắm”. Một bài tụng trước là nêu ví dụ, tiếp câu sau là hợp pháp.

“Trong sinh tử vô thỉ, bị chấp đắm trói buộc”: Tụng chung về ý mười hai dụ, vì bị chấp đắm ngã pháp từ vô thì trói buộc, che lấp.

“Xả lìa tham nhiếp thọ, như nhân chốt tháo chốt”. mười hai ví dụ trên. Như ngược chốt tham muốn bỏ chốt sinh tử.

“Huyễn chú máy hoạt động, mây nổi mộng điện chớp. Quán đời thường như thế, dứt hẳn ba nối nhau”. Lại nữa bài tụng này có năm ví dụ: Quán thế gian như vậy dứt bỏ được ba cõi, không bao giờ còn nối nhau, mây nổi và điện chớp ở trên không có văn.

“Trong đây không thật có, như dương diệm trong không, như vậy biết các pháp, tức là không thể biết”. Nói biết các pháp không có tự thể thì không thể biết.

“Các ấm như tóc rũ, trong đó vọng phân biệt, chỉ thi thiết giả danh, tìm tướng không thật có”. Đây nói các ấm chẳng có, giả danh cũng không, không có tự tánh tướng.

“Như vẽ, tóc rũ, huyễn, mộng thành Càn-thát-bà… cho đến kẻ ngu vọng phân biệt. Bài tụng gồm bảy ví dụ, nói về hữu, vô, một khác, thường, vô thường bốn câu kiến chấp không thật. Ví dụ vẽ văn trên không có.

Gương sáng, nước, mắt trong, Ma-ni diệu bảo châu… cho đến cũng như gái bất dục đây là nói các pháp tuy hiện, đều không có thật. Mắt trong, gái bất dục, văn trên không có.

127. Việc nói pháp của Đức Phật:

“Lại nữa, Này Đại Tuệ! Các Đức Phật nói pháp… cho đến thời cát bụi v.v… mà cùng tương ưng”: Nói các Đức Phật ra đời hễ giảng nói pháp thì lìa bốn câu, dứt trăm phi, lập ra chê bai, phàm tình Thánh lượng đều không thể kịp, người có căn cơ đại chưa ngộ nhập, đều dùng pháp bốn đế, mười hai nhân duyên, chứng diệt tu đạo, giải thoát sinh tử chứng quả cao nhất, không cùng chung tướng với thắng tánh tự nhiên của các ngoại đạo, dù ban đầu chỉ nói nhân duyên Tiểu thừa, cũng đã huyền diệu hơn ngoại đạo.

128. Nêu ví dụ để dụ cho Phật:

“Này Đại Tuệ! Các Đức Phật nói pháp… cho đến giống như người dẫn đầu trong đoàn đi buôn dẫn đường mọi người”. Vì sạch hoặc chướng và trí chướng: cũng như người dẫn đường cả đoàn người buôn, biết đường thông hay bít, gặp nạn hay không, biết chỗ mà nghỉ đêm v.v… và lại khéo phân biệt các thứ vật báu, dụ cho Đức Như lai dẫn dắt chúng sinh dứt bỏ hai chướng, khiến an trụ trong chỗ an ổn của pháp vô tướng, mà lại khéo phân biệt vật báu ở những vị trí khác nhau giữa các thừa. Nói hoặc chướng và trí chướng. Như luận Khởi Tín chép: Sáu tâm nhiễm gọi là phiền não ngăn ngại, làm chướng ngại chân như căn bản trí. Nghĩa vô minh gọi là trí ngại, làm chướng ngại nghiệp trí tự nhiên của thế gian. Nghĩa này như thế nào? Vì nương tâm nhiễm năng kiến năng hiện, vọng chấp cảnh giới trái với tánh bình đẳng, vì tất cả pháp thường vắng lặng, không có khởi tướng, vô minh bất giác trái với pháp, cho nên không thật có, thuận theo thế gian, biết rõ tất cả các cảnh giới. Đây là y theo bổn mạt nương nhau để nói về nghĩa của hai chướng, hoặc y theo hai chấp để nói về hai chướng, như ở sau sẽ dẫn luận Thành Duy Thức để giải thích nghĩa đó.

129. Có bốn thứ thiền:

“Lại nữa, Này Đại Tuệ! Có bốn thứ Thiền… cho đến Phan duyên chân như Thiền, Chư Như lai Thiền”: Vì hai chướng trên làm chướng ngại Thánh đạo, không chứng Bồ-đề, Niết-bàn, hai quả chuyển y của Như lai. Là người học đạo nên tu thiền định, phát sinh trí tuệ vô lậu nhiệm mầu, mới dứt sạch hai thứ chướng kia, cho nên tiếp đến nói bốn thứ thiền cũng gọi là sáu Ba-ba-mật, thì hạnh tu thiền định rất thần diệu, làm phát sinh trí tuệ vô lậu trong tánh, muôn hạnh muôn đức cho đến thần thông, ánh sáng đều từ thiền định phát ra. Cho nên người ba thừa muốn cầu Thánh đạo thì phải tu thiền, đây là nói chung về bốn thứ thiền.

1/ “Này Đại Tuệ! Thế nào là thiền Ngu phu sở hành… cho đến đó gọi là Ngu phu sở hành thiền”. Nói hai thừa quán thông đạt được người vô ngã, thấy rõ tự mình và người, uẩn giới xứ đều là tướng vô thường, khổ, không, vô ngã, bất tịnh, quán sát không bỏ, được Sơ tĩnh lự, dần dần chuyển lên đến vô tưởng, thọ diệt tận tam-muội, nhưng không lìa tướng, đó gọi là Ngu phu sở hành thiền.

2/ “Thế nào là thiền Quán sát nghĩa?… cho đến đó gọi là Quán sát nghĩa thiền”: Nghĩa là thật tướng các pháp, Bồ-tát từ Sơ địa đến Địa thứ bảy quán các pháp của hai thừa, ngoại đạo đều biết là không thật, đối với pháp vô ngã và ý nghĩa các địa tướng, thuận theo chánh quán, nên gọi là thiền Quán sát nghĩa.

3/ “Thế nào là thiền Duyên chân như?… cho đến đó gọi là Duyên chân như thiền”: Thế nào gọi là vọng niệm? Nghĩa là hai thứ vô ngã này là vọng niệm.Vì sao đối trị hai thứ ngã kiến, nói hai thứ vô ngã? Vì sở tri đã không thật, năng tri cũng là vọng, cho nên nói hai thứ vô ngã là vọng niệm luống dối. Nếu biết đúng như thật về bình đẳng, không khởi hai thứ vô ngã vọng niệm, thì đó gọi là thiền duyên chân như, có chỗ gọi là thiền chánh niệm chân như.

“Thế nào là chư Như lai thiền… cho đến đó gọi là chư Như lai thiền”. Nói chứng được Như lai địa tự chứng Thánh trí pháp thân chân thật, thường trụ vắng lặng, giúp cho chúng sinh được ba thứ vui, và được pháp thân trí tuệ của Như lai bất tư nghị sự. Ba thứ vui: là Thiền định lạc, Bồ-đề vui và Niết-bàn lạc, đó gọi là Như lai thiền. Lại nữa, người xưa y theo chỗ nương khác nhau của phàm phu, ngoại đạo, ba thừa, Nhất thừa. Nói chung có năm thứ thiền: Nghĩa là mắc kẹt vào dị chấp, ưa thích cõi trên, nhàm chán cõi dưới mà tu, đó là ngoại đạo thiền; chánh tín nhân quả, cũng ưa thích, nhàm chán mà tu, đó gọi là phàm phu thiền; Ngộ được lý ngã, không, thiên chân mà tu, đây là Tiểu thừa thiền; ngộ ngã, pháp cả hai đều không, hiểu rõ chân lý mà tu, đây gọi Đại thừa thiền. Nếu đốn ngộ tự tâm, xưa nay vắng lặng vốn không phiền não, trí tánh vô lậu vốn tự đầy đủ, tâm đây tức Phật, rốt ráo không khác, nương đây mà tu thì gọi là Tối thượng thừa thiền, cũng gọi Nhất hạnh tam-muội, cũng gọi Chân như tam-muội. Đây là căn bản của tất cả tam-muội, nếu niệm niệm tu tập, thì tự nhiên dần dần được vô lượng trăm ngàn các tam-muội.

130.  Thiền của ngoại đạo Thanh văn, Duyên giác:

“Lúc ấy, Đức Thế Tôn nói kệ rằng: Ngu phu sở hành thiền, quán sát tướng nghĩa thiền, phan duyên chân như thiền, Như lai thanh tịnh thiền”. Bài tụng này là tên bốn thứ thiền. Người tu hành ở trong thiền định quán thấy hình mặt trời, mặt trăng, hoa sen hồng, tướng biển lặng sâu, lửa trong hư không và bức tranh. Đây là nói sự ngoại đạo tu thiền của Hai thừa. Nói ngoại đạo chấp đắm thần ngã, ở trong thiền khi quán hình mặt trời, mặt trăng sáng suốt trong lặng chiếu soi, hoặc thấy hoa sen hồng ở dưới biển sâu. Người hai thừa cho tự tướng, cộng tướng là thật có, nguội thân bặt trí, đồng với hư không, như củi hết lửa tắt cho là rốt ráo Niết-bàn. Chữ họa (bức tranh) sợ là lầm, hai bản khác đều viết là chữ Tận.

“Các thứ tướng như thế, rơi vào pháp ngoại đạo, cũng rơi vào cảnh giới Thanh văn, và Duyên giác”. Như các tướng trên là cảnh giới thiền của ngoại đạo, Thanh văn và Duyên giác.

“Lìa bỏ tất cả kia, trụ trong không thật có”: Câu trên Quán sát nghĩa thiền, từ câu dưới trở xuống là Phan duyên chân như thiền.

“Cho nên nhập vào được, tướng chân thật Như như… cho đến mà sờ đảnh người ấy”. Đây nói nhập Như lai Thanh tịnh thiền.

131. . Xin Như lai nói những pháp gọi là Niết-bàn:

“Lúc bấy giờ, Bồ-tát Đại Tuệ lại bạch Phật… cho đến những pháp gì gọi là Niết-bàn”. Do ngoại đạo ở trên chấp thần ngã là Niết-bàn. Người Hai thừa dùng nguội thân bặt trí như củi hết lửa tắt làm Niết-bàn, cho nên xin Như lai nói những pháp nào gọi là pháp Niết-bàn.

“Phật bảo Này Đại Tuệ! Tất cả thức, tự tánh, thói quen… cho đến tức là cảnh giới các pháp tánh không”. Nói các thức v.v… kiến, tập chuyển biến, gọi là Niết-bàn, nghĩa là vô minh chuyển tức biến thành minh. Như băng tan thành nước, chẳng phải vật khác, không từ nơi khác đến, cho nên gọi là cảnh giới chân thật do các pháp tánh không hiển bày.

“Lại nữa, Này Đại Tuệ! Niết-bàn là… cho đến sở hành của trí tự chứng của tất cả bậc Thánh”. Nói về cảnh giới Niết-bàn mà Như lai chứng, lìa tánh đoạn thường, hữu vô.

“Thế nào là phi thường? Nghĩa là trừ tự tướng, cộng tướng, vọng tưởng cho nên chẳng phải thường”. Thế nào là phi đoạn? Nghĩa là ba đời Như lai được chứng đắc nên chẳng phải đoạn.

“Lại nữa, Này Đại Tuệ! Đại bát Niết-bàn… cho đến là chỗ nương về của người tu hành”. Vì không thọ sinh nối nhau cho nên Niết-bàn bất tử, do chẳng phải pháp hữu vi sinh trụ diệt cho nên Niết-bàn bất hoại.

Vì vô hoại bất tử nên gọi là chỗ nương của người tu hành.

“Lại nữa, Này Đại Tuệ! Niết-bàn chẳng phải xả, chẳng phải đắc, chẳng phải đoạn, chẳng phải thường, chẳng phải một, chẳng phải khác, cho nên gọi là Niết-bàn”. Niết-bàn không có phiền não để xả, cho nên chẳng phải đoạn thường, một khác, chỉ chứng mới tương ưng, đó gọi là Niết-bàn của Như lai”.

132. Niết-bàn của Thanh văn, Duyên giác chưa được tất cả giải thoát:

“Lại nữa, Này Đại Tuệ! Thanh văn, Duyên giác… cho đến những vị kia đối với những thứ ấy nghĩ là Niết-bàn”. Người hai thừa hiểu biết trong ấm, giới, nhập không có Minh Đế Thần ngã, lìa xa nơi ồn ào, phiền não chướng dứt không sinh điên đảo, không khởi sinh tử vọng tưởng đời vị lai, các vị ấy đối với những thứ đó nghĩ là Niết-bàn. Cho nên Kinh Pháp Hoa chép: Chỉ biết sinh tử gọi là giải thoát. Các vị đó thật chưa được tất cả giải thoát.

“Lại nữa, Này Đại Tuệ! Có hai thứ tự tánh tướng… cho đến do bất giác tự tâm hiện cho nên khởi”. Vì ở trên tất cả thức tự tánh thói quen xoay chuyển, gọi là Niết-bàn. Nhưng tự tánh của tất cả thức là pháp phàm phu, cho nên nói phàm phu chấp đắm tự tánh của tất cả thức khởi hai thứ tướng tự tánh. Nghĩa là từ vô thỉ đến nay, vọng tưởng nói năng thói quen không dứt, chấp đắm có nói năng tự tánh tướng, không biết tự tâm sinh khởi các pháp, vọng chấp có tự tướng, cộng tướng, ấm, giới, nhập, tất cả các pháp, cho nên chấp đắm tự tánh tướng của pháp.

133. Phật dùng hai thứ gia trì để che chỡ các Bồ-tát:

“Lại nữa, Này Đại Tuệ! Các Đức Phật có hai thứ gia trì… cho đến tay rưới nước trên đảnh”. Vì ở trên phàm phu chấp đắm khởi lên hai thứ tự tánh tướng. Đức Như lai đối trị hai thứ tự tánh tướng ở trên cho nên dùng hai thứ gia trì che chở các Bồ-tát.

“Này Đại Tuệ! Đại Bồ-tát Sơ địa… cho đến chính là Bồ-tát”. Nói Bồ-tát Sơ địa được thần lực Như lai che chở, được nhập Chiếu Minh Tam-muội của Đại thừa Bồ-tát, nhập rồi tất cả các Đức Phật đều hiện ra trước mặt, ba nghiệp gia trì như Kim cương tạng. Trong hội Hoa Nghiêm khi trụ Sơ địa và thành tựu các tướng công đức của Sơ địa, Bồ-tát cũng gia trì như vậy.

134. Bồ-tát tu dần đến địa Pháp vân:

“Này Đại Tuệ! Đại Bồ-tát này… cho đến được quán đảnh rồi mà được tự tại”. Bồ-tát được gia trì nhập định rồi, trong trăm ngàn kiếp chứa nhóm tất cả các điều lành, dần dần nhập các địa, có khả năng thông đạt tướng năng trị, sở trị đến Pháp Vân địa. Gồm thâu ý nghĩa các địa, sơ lược có hai thứ: 1. Phần quả, quả này không thể nói, chỉ chứng mới tương ưng. 2. Phần nhân, có thể nương vào lời biện luận đối với hạnh giải dứt hoặc chứng chân v.v… cho nên đối với Thập địa này tu mười thắng hạnh, dứt mười thứ chướng, chứng mười chân như, lập ra mười địa. Hạnh có hai thứ: 1. Tướng chung, đối với mỗi địa, tu đầy đủ tất cả các hạnh lành. 2. Tướng riêng, đây lại có hai: a. Thập độ, tuy ở mỗi địa đều tu tập đầy đủ, nhưng riêng tướng địa mỗi lần nói một lần tăng, Sơ địa đàn tăng, Nhị địa giới tăng, cho nên đến mười địa thì trí độ tăng. Lại tu Thập hạnh, ở đây lược nêu, nghĩa là Sơ Hoan hỷ địa tu hạnh nguyện lạc, nói mười đại nguyện, vì ưa thích lợi lạc, dứt bỏ được chướng dị sinh tánh, chứng đầy đủ chân như, chân như này do hai không hiển bày, chẳng pháp nào không có. Chứng được chân như hai không này thì được gọi là Hoan hỷ địa, nghĩa là mới đạt được Thánh tánh, chứng đủ hai không, có thể tự lợi lợi tha, sinh tâm rất vui mừng cho đến địa thứ mười tu hạnh thọ vị, dứt bò chướng chưa tự tại đối với các pháp, liền chứng nghiệp tự tại v.v… Sở y chân như, chân như này ở khắp trong tất cả thần thông, tạo nghiệp tổng trì định môn, đều được tự tại. Chừng rồi liền được gọi là Pháp vân địa, nghĩa là mây đại trí chứa đựng nước các đức, che khắp như hư không thô nặng, đầy đủ sở y pháp thân, nhưng mười địa có ở cả ba thừa, nhất thừa tuy giống nhau ký vị, nhưng nếu y theo ba học thì sơ địa nguyện, nhị địa giới, tam địa định, tứ địa trở lên đều thuộc về tuệ. Nếu y theo viên tu, các hạnh đều tu, gồm có ba đức: 1. Đức Chứng đạo, là chứng trí khế hợp với Như. 2. Đức giáo đạo, tùy đức khác nhau. 3. Đức bất trụ đạo, bất trụ sinh tử Niết-bàn, trong một địa có đầy đủ tất cả công đức các địa, đầu cuối viên dung. Hoặc hoàn toàn khác nhau theo sự tu hành và địa vị mà thềm bực có khác. Hoặc hòan toàn đồng mất, tiến tu mà rơi vào vắng lặng, do đó mỗi địa vị đủ đức, đẳng cấp ngang nhau rõ ràng, lớp lớp luyện mài, bản vị bất động sẽ thọ chức vị Phật, ngồi tòa hoa sen, quyến thuộc vây quanh, các báu anh lạc trang nghiêm thân. Các Đức Phật trong mười phương đều đưa tay sờ trên đảnh đầu Bồ-tát. Thí như vua Chuyển luân Thánh tự tại và trời Đếthích, Thái tử quán đảnh để truyền trao chức vị mà được tự tại.

135. Hợp pháp hết thác chỉ bày:

“Các Bồ-tát này cũng giống như vậy… cho đến khác thì không thể được”: Hợp Pháp kiết thúc chỉ bày, lời văn rất dễ thấy. Nếu không như vậy thì không thể thấy.

“Lại nữa, Này Đại Tuệ! Đại Bồ-tát… cho đến đều do hai thứ thần lực của Như lai”: Hễ trụ thì được thần thông, khéo nói pháp yếu, đều do hai thứ thần lực gia trì mà được.

“Này Đại Tuệ! Nếu Đại Bồ-tát… cho đến có tác dụng rộng lớn như vậy”: Ý nói nếu lìa thần lực gia trì mà nói được pháp ấy thì lẽ ra các phàm phu cũng biện thuyết, được nói ý phàm phu không thể. Huống chi là Phật, dùng đại bi gia trì tất cả các vật vô tình, còn giảng nói pháp âm, huống là có tâm ư! Việc thấy ánh sáng mặt trăng chiếu soi rõ ràng, chỉ có thấy nghe đều được lợi ích.

136. Vì sao thần lực không gia trì nhị địa:

“Bồ-tát Đại Tuệ lại bạch Phật rằng… cho đến và ở trong Thù thắng địa đưa tay quán đảnh”. Đoạn trên Đức Phật dạy như Sơ địa và Thập địa, chưa hiểu rõ thần lực, cho nên Đại Tuệ thưa hỏi vì sao thần lực không gia trì Nhị địa.

“Phật bảo Này Đại Tuệ! Vì muốn xa lìa nghiệp ma phiền não… cho đến Như lai dùng thần lực gia trì các vị Đại Bồ-tát”. Vì lìa hai thứ lỗi nên hàng Sơ địa cần được che chở. Vì được hai thứ lợi ích nên bậc Thập địa cần được che chở, quên mất tâm Bồ-đề tu các gốc lành, đó gọi là nghiệp ma. Như trong kinh Hoa Nghiêm, kinh Đại Tập có nói.

“Này Đại Tuệ! Nếu không như vậy… cho đến Như lai dùng thần lực nhiếp thọ các vị Đại Bồ-tát”. Nói Bồ-tát Sơ địa không được gia trì thì sẽ rơi vào ác kiến của ngoại đạo, và mười cõi của cảnh giới Thanh văn. Địa nào không được che chở thì không thể mau thành Bồ-đề.

137. Phật nói kệ để lặp lại nghĩa trên:

“Lúc ấy, Đức Thế Tôn muốn lặp lại nghĩa này nên nói kệ rằng: Thần lực Đức Thế Tôn, đại nguyện được thanh tịnh, tam-ma-đề quán đảnh, trong Sơ địa Thập địa, Tam-muội và quán đảnh”. Bồ-tát chứa nhóm gốc lành, được bổn nguyện của Như lai che chở, như ngọc Ma-ni vô tư mà ứng hiện, nên nói là thanh tịnh.

“Khi ấy Bồ-tát Đại Tuệ… cho đến nói duyên khởi chẳng phải có nghĩa riêng”. Vì ở trên nói các Đức Phật nói pháp, lấy bốn đế duyên khởi diệt đạo giải thoát làm đầu, chẳng ở tướng chung với ngoại đạo nói thắng tánh tự tại, sự tạo tác tự nhiên, thời gian, cát bụi… cho nên Đại Tuệ nêu ở trên Phật tự nói duyên khởi thưa hỏi Thế tôn. Như Phật nói duyên khởi là do tạo tác khởi, chẳng phải tự thể của tâm sinh khởi. Ngoại đạo cũng nói trời tự tại thù Thắng v.v… sinh ra các pháp. Nay Đức Phật chỉ dùng tên khác để nói về duyên khởi, chẳng có nghĩa khác.

138. Vặn hỏi rằng lời Như lai nói giống như ngoại đạo:

“Thế tôn! Ngoại đạo cũng nói do tác giả… cho đến vốn không mà sinh, sinh rồi lại diệt”: Ở đây vặn hỏi rằng lời Như lai nói giống như ngoại đạo.

“Như Phật nói vô minh duyên hành… cho đến vì thế ngoại đạo nói thắng chẳng phải Như lai”. Nói Như lai nói trong mười hai nhân duyên, vô minh không có nhân, chẳng phải có nhân, lại nói vô minh có cho nên hành có, hành có nên thức có, chẳng phải dần dần thứ lớp đối đãi nhau, nghĩa ấy không thành. Lại, vặn hỏi Như lai nói duyên khởi không như ngoại đạo, cho nên nói ngoại đạo nói thắng, chẳng đồng với Như lai.

139. Lời Như lai nói không giống như ngoại đạo:

“Vì sao ngoại đạo nói nhân… cho đến lại vì đây có nên kia có, cho nên không có nhân”. Vì sao ngoại đạo thắng Như lai! Nghĩa là kia nói hạt cát bụi là nhân của thế tánh v.v… không từ nơi khác duyên sinh, mà sinh được vật khác, nhân thường làm nhân không làm quả, vì vậy cho nên ngoại đạo nói thắng. Như Phật nói quán hành là quả của vô minh, quán thức vừa là nhân, một pháp này vừa là nhân, vừa là quả, nhân duyên rối loạn. Vô minh sinh các hành, các hành sinh già chết, già chết sinh vô minh xoay vần như vậy, thành lỗi vô cùng. Lại vì, đây có cho nên kia có, thì không có nhân chắc chắn, do hai nghĩa này giải thích lời Như lai nói không giống như ngoại đạo.

140. Các pháp chỉ do tâm hiện:

Phật bảo Này Đại Tuệ! Ta hiểu rõ các pháp chỉ do tâm hiện… cho đến chẳng phải lời ta nói”. Nghĩa là hiểu rõ các pháp chẳng phải từ hữu vô sinh, chỉ do tâm hiện, cho nên không nói pháp nhân duyên lỗi lầm. Nếu không biết rõ các pháp như vậy, thấy cảnh ngoài tâm chấp đắm có không, tất cả lời nói đều thành nói suông.

141. Nhân quả của lời nói:

“Bồ-tát Đại Tuệ lại bạch Phật rằng: Bạch Đức Thế Tôn!… cho đến Nếu không có các pháp thì nói năng do đâu mà sinh”: Có danh từ nhân duyên lời nói thì phải có các pháp nhân duyên lời nói. Nếu không có tánh nhân duyên lời nói thì lời nói do đâu mà sinh.

“Này Đại Tuệ! Tuy không có các pháp… cho đến có các pháp thì lý luận sẽ hoại”: Nói tất cả pháp chỉ có lời nói, đều không thật nghĩa, cho nên dẫn lông rùa, rừng thỏ để ví dụ, để nói dù có tự tánh lời nói, cũng không nói tự tánh các pháp.

“Này Đại Tuệ! Chẳng phải tất cả cõi Phật đều có lời nói, lời nói đều là giả an lập”: Đây lại nói rõ tánh lời nói cũng không. Cho nên luận Khởi Tín chép: Vì tất cả lời nói giả danh không thật, chỉ tùy tâm vọng hiện không thật có. Nếu nói năng có tánh thì tất cả cõi nước lẽ ra đều có lời nói.

“Này Đại Tuệ! Hoặc có cõi Phật chỉ nhìn mà hiển bày pháp… cho đến chẳng phải do nói năng mà có các pháp”: Ở trên giải thích chẳng phải tất cả các cõi đều có nói năng để diễn tả pháp, vì vậy cho nên không có lời nói tự tánh.

142. Loài vật không có lời nói:

“Thế giới này sâu bọ, kiến, ong v.v… tuy không có nói năng mà mỗi loài đều làm việc xong xuôi”: Ở trên giải thích nói năng là giả lập không thật. Nói thấy kẻ ngu đây không biết các loài kiến ong, cho nên tạo nói năng để giải rõ pháp tướng. Cho nên kinh trên chép: Có các lời nói, đều do kẻ ngu mong muốn chấp sinh, cũng nói các loài trùng nhỏ nhít không có lời nói, mà mỗi loài đều làm việc xong xuôi.

“Khi ấy, Đức Thế Tôn lại nói kệ rằng: Thỉ hư không sừng thỏ, con của gái bất dục, không mà có lời nói, vọng chấp pháp như thế”. Trên nói ba vật đều không có thể tánh, chỉ có nói năng vọng chấp các pháp, gọi thật tự tánh cũng vậy.

“Đối nhân duyên hòa hợp, kẻ ngu vọng cho là sinh, không thể hiểu như thật, trôi lăn trong ba cõi”.

143. Có Phật hay không Phật, tánh tướng vẫn thường trụ:

“Khi ấy, Bồ-tát Đại Tuệ… cho đến thường thanh đã nói nương vào chỗ nào còn nói?” Vì ở trên Phật dạy lời nói được đều không có tự tánh, cho nên không có pháp nhân duyên, vì thế Đại Tuệ nêu các kinh Phật tự nói mười hai nhân duyên, có Phật không Phật, tánh tướng vẫn thường trụ. Cho nên hỏi nếu âm thanh là thường thì nương vào đâu mà nói.

“Phật dạy Này Đại Tuệ! Nương vào pháp vọng mà nói vì các pháp vọng bậc Thánh cũng hiện nhưng không điên đảo”. Nói tức nói pháp luống dối là thường. Vì người ngu chấp thấy pháp nhân duyên, luống dốichấp cho là thật, khởi kiến chấp sinh diệt. Nói năng Như lai ở đây tức là thường, vì pháp vọng kia các Thánh cũng hiện, nhưng không sinh khởi hữu vô điên đảo.

144. Cảnh là một nhưng thấy có khác nhau:

“Này Đại Tuệ! Thí như dương diệm, vòng lửa xoay tròn, tóc xõa…

cho đến người có trí không phải như thế, chẳng phải không hiện”. Bảy ví dụ này nói cảnh là một mà thấy có khác nhau.

“Này Đại Tuệ! Pháp vọng hiện thì có vô lượng khác nhau… cho đến tất cả người ngu hiểu theo nhiều cách khác nhau”: Kia khi pháp luống dối hiện ra, tuy có vô lượng sự khác nhau, như trăng đáy nước, nhưng chẳng phải vô thường. Vì sao không phải là vô thường, vì nói pháp luống dối lìa hữu vô. Chẳng phải vô thường làm sao lìa chỗ hữu vô mà sinh khởi? Kiến chấp luống dối nghĩa là các thứ cảnh giới của những người ngu là lìa chỗ hữu vô, mà khởi lên các kiến giải luống dối.

145. Bậc Thánh lìa điên đảo:

“Như nước sông Hằng kia có loài thấy có loài không thấy… cho đến các bậc Thánh đối với pháp vọng lìa kiến chấp điên đảo”. Như nước sông Hằng, ngạ quỷ thấy là lửa, vật không phải lửa mà thấy là lửa, tức là thấy các thứ mình ưa thì người không thấy, thí như người ngu chỗ không luống dối thấy luống dối tức là thấy các thứ mà bậc Thánh không thấy. Vì vậy cho nên các bậc Thánh đối với pháp luống dối, đều lìa kiến chấp điên đảo hữu vô.

“Này Đại Tuệ! Pháp vọng là thường… cho đến cho nên thể của pháp vọng kia là thường”: Nói các pháp vọng là chân thường, không có các tướng khác thật có, do kẻ ngu vọng tưởng phân biệt nói có khác.

“Này Đại Tuệ! Vì sao gọi pháp vọng là chân thật… cho đến chẳng phải lời bậc Thánh nói”: Có chút ít phần tưởng nghĩa là sinh tâm động niệm, niệm thì trái với pháp thể, do đó mất chánh niệm, đã mất chánh niệm thì chẳng phải là hý luận của kẻ ngu ư!.

“Này Đại Tuệ! Nếu phân biệt pháp vọng là đảo và chẳng phải đảo… cho đến chủng tánh phàm phu”. Nếu kẻ ngu phân biệt duyên khởi pháp vọng là đảo, chẳng phải đảo thì có hai chủng tánh khác nhau.

“Này Đại Tuệ! Thánh chủng tánh, lại có ba thứ… cho đến chấp đắm tự tướng, cộng tướng”: Kẻ ngu kia quán sát pháp vọng, chấp tự tướng, cộng tướng khởi chủng tánh Thanh văn thừa.

146. Chủng tánh có ba thứ:

“Này Đại Tuệ! Vì sao lại có kẻ ngu… cho đến xa lìa hoặc loạn”: Tức hàng Thanh văn kia quán luống dối chấp đắm pháp tự tướng, cộng tướng, xa lìa chấp đắm, khởi chủng tánh duyên giác thừa.

“Này Đại Tuệ! Vì sao gọi là người trí phân biệt pháp vọng… cho đến không có pháp ngoài”. Người trí quán thật tướng pháp vọng này, hiểu rõ năng kiến sở kiến kia từ tâm hiện khởi, không có ngoài pháp vọng tưởng hữu vô, khởi chủng tánh Phật thừa.

“Này Đại Tuệ! Có những người ngu phân biệt pháp vọng… cho đến đây là thành tựu sinh tử thừa tánh”. Đây giải thích chủng tánh hạng ngu phu thứ hai. Nói người ngu dối với pháp vọng này chấp các sự tánh tướng, quyết định chấp có thật ngã thật pháp, khởi chủng tánh thừa sinh tử.

147.  Sự vật trong pháp vọng chẳng phải tức vật, chẳng phải không vật:

“Này Đại Tuệ! Các sự vật trong pháp vọng kia chẳng phải tức là vật, cũng chẳng phải không là vật”: Ý nói pháp luống dối này lìa hữu lìa vô, đó gọi là ba thừa và chủng tánh phàm phu.

“Này Đại Tuệ! Đối với pháp vọng kia các bậc Thánh trí… cho đến đều lìa tất cả vọng tưởng phân biệt”: Đây là giải thích lại chủng tánh thành Phật thừa, lời văn rất dễ hiểu.

Hỏi rằng: Ở trên nói pháp vọng là thường, do phân biệt vọng tưởng nên chẳng khác nhau, nghĩa là ngay nơi chân như mà kẻ ngu phân biệt gọi là pháp vọng, đây nói tức là thói quen của pháp vọng kia chuyển y, tức vọng này gọi là chân như. Pháp vọng này tức là chân như không còn pháp vọng, do ai luận bàn về tức ấy ư!

Đáp rằng: Như người không biết nước, chỉ băng nói là nước, chỉ nước là băng thì chỉ có tên gọi đâu có hai vật để nói về tức nhau, cũng như một hạt châu để dưới bóng mặt trăng thì sinh nước, hướng về mặt trời thì sinh lửa, không hướng thì không sinh nước lửa, một vật không hề có hai, mà có nước và lửa khác nhau. Pháp môn nhất tâm cũng giống như vậy. Ở phàm phu thì chân như gọi là pháp vọng, ở bậc Thánh thì pháp vọng gọi là chân như. Tình chấp phàm, Thánh hết, chấp chân vọng mất thì đâu còn gì để gọi tên.

148. Như lai là có hay không:

“Đại Bồ-tát Đại Tuệ bạch Phật! Bạch Đức Thế Tôn! Nói pháp vọng là có hay không” Ở trên nêu ba thừa, phàm phu đồng quán pháp vọng, để hỏi Như lai là có hay không.

“Phật dạy: Tướng như huyễn không chấp đắm… cho đến như ngoại đạo nói, tác giả sinh”: Ý nói pháp vọng như huyễn, không thể dùng hữu vô mà chấp đắm, nếu chấp đắm có tánh tướng, tức là chân thật không thể chuyển, thì các duyên khởi pháp vọng, lẽ ra đồng ngoại đạo chấp từ hữu vô sinh ra tất cả pháp.

“Đại Tuệ lại bạch: Nếu pháp vọng đồng như huyễn, thì sẽ làm nhân cho các hoặc khác”: Nếu các pháp vọng đồng như huyễn thì huyễn này lẽ ra làm nhân cho pháp vọng của phàm phu, đời sau sẽ chiêu cảm quả báo khác.

149. Chẳng phải huyễn làm nhân cho vọng hoặc:

“Phật bảo Này Đại Tuệ! Chẳng phải các việc huyễn… cho đến vì các việc huyễn không có phân biệt”. Chẳng phải huyễn làm nhân cho vọng hoặc, do huyễn không thật không khởi lỗi ác và phân biệt. Nếu khởi các lỗi, sinh ra phân biệt thì đó là làm nhân, cho nên chẳng làm nhân cho các vọng khác.

“Này Đại Tuệ! Việc huyễn là từ các minh chú khác… cho đến chẳng phải các bậc Thánh”: Ở đây nói pháp vọng như huyễn, nếu tâm tưởng chấp đắm thì chỉ là kẻ ngu.

“Khi ấy, Đức Thế Tôn lại nói kệ rằng: Thánh chẳng thấy pháp vọng, khoảng giữa cũng không thật, vì vọng tức chân nên trung gian cũng chân thật”: Hai câu trên là nói bậc Thánh biết thể của vọng hoặc là không thật, cho nên không chấp đối với pháp vọng, hai câu dưới nói quán thật tánh của pháp vọng, vọng hoặc tức là chân thật.

150. Các pháp lìa vọng huyễn không còn tương tự:

“Nếu lìa pháp vọng, mà có tướng sinh thì đây cũng là vọng, như mắt bị màng che chưa thanh tịnh, lại nữa, Này Đại Tuệ! Thấy các pháp chẳng phải huyễn… cho đến nên nói tất cả các pháp như huyễn”: Ý nói các pháp vọng lìa huyễn lại không còn tương tự, cho nên nói tất cả pháp như huyễn.

“Đại Tuệ bạch Thế tôn! Vì nương chấp đắm… cho đến đây là chấp đắm tướng điên đảo!”. Lại nói lìa huyễn không còn tương tự, vì chấp đắm các tướng huyễn nói như huyễn ư? Hay vì nương theo đây mà chấp đắm tướng điên đảo nói là như huyễn ư!

“Nếu nương chấp đắm các tướng huyễn… cho đến thấy các thứ sắc tướng chẳng phải vô nhân”. Nếu chấp huyễn tướng cho rằng các pháp đều như huyễn, còn có pháp tức chẳng phải như huyễn, cho nên nói chẳng phải tất cả pháp đều như huyễn, vì sao không như huyễn thấy sắc tướng trời, người, nam nữ chẳng phải vô nhân, cũng chẳng phải do chú thuật mà khởi, cho nên không như huyễn.

151. Tất cả các pháp như huyễn:

“Thế Tôn! Đều không có nhân… cho đến nói tất cả pháp tương tự với huyễn”. Nói đều không có nhân riêng làm cho các sắc tướng khác nhau hiển hiện, có thể nói như huyễn, vì vậy không thể chấp huyễn tướng tương tự, nói tất cả các pháp như huyễn.

“Phật bảo Này Đại Tuệ! Không nương chấp đắm… cho đến không thật, mau biến mất như tia chớp cho nên nói như huyễn”. Chẳng phải tướng huyễn có nhiều thứ, trời, người có nhiều thứ, hai pháp tương tự. Nói tất cả pháp như huyễn, vì tất cả pháp đương thể không thật, liền khởi liền diệt, như tia chớp kia, cho nên nói như huyễn.

“Này Đại Tuệ! Thí như tia chớp lóe lên rồi liền tắt mất… cho đến mà vọng chấp đắm các sắc tướng”. Thí như ánh chớp lóc lên trong khoảng sát-na, lóe lên rồi liền tắt mất, nhanh chóng vô thường, thế gian hiện thấy, hợp với các pháp, nương vọng tưởng tự tâm hiện cũng như vậy. Chẳng thể quán sát không thật chẳng phải hữu mà khởi chấp đắm tự sắc tướng, cộng sắc tướng.

“Khi ấy, Đức Thế Tôn lại nói kệ rằng: Chẳng huyễn, vô tương tự, cũng chẳng có các pháp, chẳng thật, mau như chớp, cho nên nói như huyễn”. Hai câu tụng trên nói chẳng phải huyễn, không có tương tự, cho nên nói tất cả pháp như huyễn, hai câu tụng dưới là là đáp.

152. Lời nói của Phật trước sau có trái nhau không?

“Lúc ấy, Bồ-tát Đại Tuệ lại bạch Phật… cho đến chẳng phải nói trước sau trái nhau”: Đại Tuệ do Đức Phật trước nói tất cả pháp không sinh, nay lại nói không thật, mà như ánh chớp, nói tất cả các pháp như huyễn, cho nên nói lời Thế Tôn nói trước sau tự trái nhau.

“Phật bảo Này Đại Tuệ! Không có trái nhau… cho đến vì bác bỏ ngoại đạo chấp nhân sinh nên ta nói vô tánh vốn không sinh”. Do biết rõ các pháp chỉ tự tâm hiện, thì biết sinh vốn vô sinh. Long Thắng nói: Các pháp không tự sinh, cũng không từ nơi khác sinh, không cộng, không vô nhân, cho nên biết vô sinh, do đây mà quán sát pháp ngoài hữu vô đều vô tự tánh, cho nên vốn bất sinh.

“Này Đại Tuệ! Vì muốn lìa nghĩa nhân sinh của ngoại đạo… cho đến chẳng phải hữu vô sinh nên gọi là vô sinh”. Ngoại đạo chấp tác giả làm nghĩa nhân sinh, nghĩa là từ hữu vô sinh tất cả pháp, nghĩa là có hạt giống, tức tự tại cát bụi v.v… là nhân năng sinh. Vô là vô hạt giống, tức hư không tự nhiên v.v… Sinh, không nói từ tự tâm vọng tưởng sinh, cho nên ta nói tất cả pháp khác với ngoại đạo chấp vô nhân, tà nhân sinh, nên gọi là vô sinh.

153. Sinh tử nối nhau là do nhân duyên bên trong:

“Này Đại Tuệ! Nói các pháp… cho đến vì ngăn dứt kiến chấp có không đoạn diệt”. Phật bảo Này Đại Tuệ! Ta nói các pháp chẳng phải hữu vô sinh, chỉ do tự tâm phân biệt làm duyên, khiến thọ hóa là biết tất cả pháp tuy không có tác giả nhưng nghiệp không mất, cho nên nhiếp thọ hai thứ sinh tử, ngăn dứt tà kiến, đoạn diệt, hý luận kia vì thế Thức luận chép: Sinh tử nối nhau là do nhân duyên bên trong chứ không đợt duyên bên ngoài, cho nên chỉ có thức nhân, nghĩa là hai nghiệp hữu lậu vô lậu, chiêu cảm sinh tử. Duyên nghĩa là phiền não chướng và sở tri chướng, giúp cho sự chiêu cảm sinh tử. Vì sao? Vì sinh tử có hai: 1. Phần đoạn sinh tử, nghĩa là các nghiệp hữu lậu lành, không lành do phiền não chướng trợ duyên thế lực, chiêu cảm quả dị thục thô trong ba cõi, thân mạng ngắn dài tùy năng lực nhân duyên mà có kỳ hạn chắc chắn, cho nên nói phần đoạn sinh tử. 2. Bất tư nghị biến dịch sinh tử, nghĩa là các nghiệp vô lậu có phân biệt do sở tri chướng duyên trợ thế lực, chiêu cảm quả dị thục nhỏ nhiệm thù thắng, do nguyện lực từ bi sửa đổi thân mạng nên kỳ hạn không chắc chắn, cho nên gọi là biến dịch. Diệu dụng khó lường gọi là bất tư nghị. Kinh chép: Vô ngã không tạo không thọ, nghiệp thiện ác cũng không, chẳng lẽ đồng với ác kiến đoạn diệt luận hay sao? Đoạn trên Như lai đã nói ý vô sinh rồi, đoạn dưới văn nói như huyễn à đáp lại nghĩa không trái nhau.

154. Chỗ trụ như thật là vô sở trụ:

“Này Đại Tuệ! Nói các pháp tướng giống như huyễn… cho đến tất cả các pháp chỗ trụ như thật”. Chỗ trụ như thật là vô sở trụ nên gọi là như thật trụ. Đây là chỗ sở chứng của bậc Thánh trí tự giác, vô sư trí, tự nhiên trí, không do người khác mà ngộ được. Nếu có chỗ trụ thì gọi là phi trụ.

“Này Đại Tuệ! Thấy chỗ như thật tất cả pháp ấy thì sẽ thông đạt duy tâm sở hiện”. Từ vô trụ vốn lập tất cả pháp, chăng hiểu chỉ tự tâm ấy đâu thể thấy rõ ư! Vì vậy cho nên đức Như lai nói các pháp không sinh như huyễn chẳng có trái nhau.

155. Các pháp tánh tướng như huyễn nên không có tướng để đắc:

“Khi ấy, Đức Thế Tôn lại nói kệ rằng: Vô tác nên vô sinh, hữu pháp thuộc sinh tử, rõ suốt như huyễn thảy, đối tướng không phân biệt”. Vì tánh vô tác nên nói vô sinh, vì ngăn dứt chấp đoạn cho nên nói nghiệp tánh thuộc sinh tử, quán các pháp tánh tướng như huyễn nên không có tướng để đắc, cho nên xa lìa duyên khởi phân biệt.

“Lại nữa, Này Đại Tuệ! Ta sẽ nói… cho đến lại có khả năng khai ngộ tất cả chúng sinh”: Vì ở trên Như lai vì chúng sinh nên từ bi phương tiện nói các thứ khác nhau muốn cho chúng sinh hiểu rõ nghĩa chân thật trong danh cú, chớ chấp lời nói, cho nên nói danh cú văn thân, bảo các Bồ-tát hãy quán cho thông suốt nghĩa thú của tướng này, thì mau chứng đắc Bồ-đề, lại nhờ đó mà khai giác cho chúng sinh, vậy nên biết pháp này không phải hình tướng lời nói, chẳng phải lìa hình tướng lời nói. Nếu không có lời nói hình tượng nên mê hoặc đảo điên, chấp lời nói mà quên chân, cho nên bậc Thánh lập ra hình tượng giáo hóa, chẳng lẽ luống uổng ư!

156. Danh thân cú thân, văn thân:

“Này Đại Tuệ! Danh thân nghĩa là tùy theo sự việc mà đặt tên… cho đến đó gọi là danh thân, như nương vào các vật làm ra bình chén, rồi đặt tên là bình chén v.v… Nghĩa là một tên hai tên ba tên cho đến nhiều tên năng thuyên tự tánh, gọi là danh thân. Nói cú thân… tức nhân tên mà thành câu, do câu mà hiển nghĩa. Như bình đồng thiết… cú nghĩa đều khác nhau, nghĩa là một câu, hai câu, nhiều câu có công năng giải thích khác nhau. Tên gọi cú thân do ở văn này có khả năng thành danh cú, nghĩa là một chữ, hai chữ, nhiều chữ làm hai chỗ nương gọi là văn thân. Nếu theo bản dịch xưa dịch là vị, chỉ là sở hiển chẳng phải năng hiển. Thân là nghĩa nhiều pháp gom nhóm.

“Lại nữa, Này Đại Tuệ! Cú thân, nghĩa là cú sự rốt ráo… cho đến nghĩa là dài ngắn cao thấp”. Dưới đây là nói lại nghĩa khác. Cú thân, nghĩa là cú sự rốt ráo, là nếu có văn thì sẽ có danh, chưa chắc có cú, nếu có cú thì sẽ có danh và văn, cho nên nói cú sự rốt ráo. Danh thân, nghĩa là các tên gọi đều khác nhau, như từ chữ “A” cho đến chữ “Ha”, như bốn mươi âm chữ A, Ha v.v… đều mới đầu ngắn kế là dài, cao thấp cũng giống như vậy, cho nên tiếp tục nói văn thân, nghĩa là dài ngắn cao thấp, tức âm vận uyển chuyển dài ngắn cao thấp. Vì danh cú phải nương vào văn tự mà lập.

157. Lại nói về danh thân, cú thân, văn thân:

Lại, cú thân như dấu chân… cho đến Tướng danh cú, văn thân này ông phải nên tu học. Các pháp ở thế gian không ngoài năm ấm. Đây lại y theo năm ấm để nói về danh cú văn thân. Cú thân như dấu chân, là như người đời mất voi ngựa tìm được dấu chân, cho nên tam-muội thật tướng cũng nhờ lời nói mà ngộ, gọi là danh thân cú thân. Tướng sắc ấm hiện bày nên dùng dấu vết lời nói. Bốn uẩn: gồm thọ, tưởng, hành, thức. Chẳng có hình tượng cho nên dùng tên mà nói. Nếu chiếu kiến vốn vắng lặng thì đều là thật tướng. Hai thứ do văn hiển rõ nên khuyên tu học. Các bậc Thánh đó mà ngộ nhập, cho nên xả toàn thân để cầu nửa bài kệ.

158. Phật nói kệ về ba thân:

“Lúc ấy, Đức Thế Tôn lại nói kệ rằng: Danh thân và cú thân, và thân chữ khác nhau, phàm ngu thường chấp đắm, như voi mắc lầy sâu”. Đức Như lai muốn dứt tâm bệnh cho chúng sinh, dùng danh cú văn thân phương tiện nói, như dùng độc phá độc. Nếu những người ngu chấp đắm danh cú, không ngộ thật nghĩa thì không hy vọng giải thoát, như voi mắc lầy sâu.

“Lại nữa, Này Đại Tuệ! Trong đời vị lai… cho đến kia liền đáp rằng: Câu hỏi này chẳng đúng”. Vì ở trên nói tướng của danh cú văn thân, giúp cho các Bồ-tát hiểu rõ như thật nghĩa, mau chứng Bồ-đề, mở bày chúng sinh, sợ kẻ ác giác quán đời vị lai dùng bốn câu tà kiến một khác, câu bất câu v.v… để hỏi các người trí, người ấy đáp rằng: Nghĩa mà ta thông đạt là pháp chân thật lìa bốn câu, nay ông hỏi như vậy, đó gọi là hỏi chẳng đúng.

159. Nói về tà trí ác tự giác:

“Nghĩa là sắc và vô thường là khác hay chẳng khác? Cho đến không giải thích”: Ở đây là nói tà trí ác tư giác, nghĩa là lời luống dối so lường không đúng lý mà vặn hỏi. Nghĩa là sắc và vô thường, cho đến trí và trí giả là khác hay không khác. Trí giả nên bảo rằng: Các câu hỏi ấy không thể ký sự, mà Phật gọi là vô ký đáp thẳng, do người ngu kia không có văn tuệ, cho nên không biết hữu vô là tà hay chánh, muốn giúp cho người ấy lìa đoạn thường tà kiến, các điều sợ hãi, nên không giải thích. Luận Câu-xá mười chín chép: Các khế kinh nói mười bốn thứ vô ký, tức là nghĩa ấy, cũng gọi là trực đáp. Sở dĩ không đáp là vì đó là lời vô nghĩa. Biết thì cũng không tránh khỏi sinh tử, không biết thì cũng không chướng ngại Niết-bàn.

“Này Đại Tuệ! Không giải thích… cho đến các thuyết đó gọi là vô ký luận”: Nói không giải thích, là vì muốn cho ngoại đạo phải suy nghĩ lại mà tự hiểu, được lìa khỏi vọng kiến chấp đắm tác giả. Vì ngoại đạo ngay nơi ấm, lìa ấm mà chấp ngã, cho nên nói thân mạng là một hay là khác, v.v… đều là tà luận vô ký.

160. Như lai dùng bốn thứ ký luận để độ sanh:

“Này Đại Tuệ! Ngoại đạo si hoặc nói vô ký luận… cho đến khi ta nói ra vì người căn cơ chưa thuần thục”. Ở đây nói Như lai Ứng chánh đẳng giác, thường dùng bốn thứ ký luận để nói pháp độ sinh. Chỉ ký luận mục đích là ở thời gian riêng, vì chúng sinh căn cơ chưa thuần thục mà đáp thẳng, chẳng phải vì nói cho người căn cơ thuần thục, đó gọi là chỉ ký luận.

“Lại nữa, Này Đại Tuệ! Vì sao tất cả các pháp bất sinh?… cho đến nên ta nói tất cả các pháp thường”. Nói Như lai vì chúng sinh căn cơ thuần thục, mở bày môn phương tiện tướng chân thật, tùy chủng loại kia hoặc nói bất sinh bất diệt, thường, vô thường v.v… Nghĩa là lìa năng tác, sở tác, vô tác, cho nên nói tất cả pháp bất sinh, do chứng trí quán sát pháp tự tướng, cộng tướng không thật có. Nói tất cả pháp không có tự tánh, các pháp vốn không từ đâu đến, đi cũng không đi về đâu, cho nên nói tất cả các pháp không đến đi: Thể của các pháp vốn không, vô tự tánh tướng chẳng thật có, cho nên nói tất cả các pháp không diệt. Tất cả các pháp tướng khởi tức diệt, có tánh vô thường, cho nên nói tất cả các pháp vô thường. Các pháp tướng khởi tức không khởi, vốn vô sinh diệt, cho nên nói tất cả các pháp là thường. Đó nghĩa là Như lai lìa năng thủ, sở thủ không khởi vọng tưởng phân biệt, khéo léo nói pháp.

161. Phật dùng kệ để nói về bốn thứ ký luận:

“Khi ấy, Đức Thế Tôn lại nói kệ rằng: Ký luận có bốn thứ, một bề phản cật vấn, phân biệt và chỉ luận… cho đến tất cả đều vô ký”. Nói bốn thứ nói năng của Như lai: 1. Đáp theo câu hỏi: gọi là nhất tướng, như hỏi tất cả chúng sinh đều sinh tử, nên một bề đáp đều sinh tử. 2. Nói nếu có người hỏi, hỏi vặn lại họ để đáp. 3. Nghĩa là người căn cơ thuần thục hỏi, nên giải thích rộng, cho họ nghe như hỏi tất cả chúng sinh chết rồi lại sinh, nên phải nói rộng, người có phiền não chết rồi lại sinh, người không phiền não chết rồi không còn sinh lại. . Vì chiết phục ngoại đạo nên cần phải gác qua một bên để đáp, như hỏi thân và phiền não, gà con và gà mẹ ai có trước ai có sau, cho nên dừng mà không đáp. Như số luận chấp hữu, thắng luận chấp phi hữu. Nói các ngoại đạo chấp hữu vô, đều không thể ký.

“Khi dùng trí quán sát, thể tánh không thật có, vì lìa các lời nói, nên nói vô tự tánh”: Là nói chánh trí quán sát tự tánh chẳng thật có. Là chung tụng sáu môn như tất cả các pháp không sinh v.v… ở trước sau.

“Khi ấy, Bồ-tát Đại Tuệ lại bạch Phật rằng: Bạch Đức Thế Tôn… cho đến Tu-đà-hoàn thực hành tướng khác nhau”. Đại Tuệ do pháp vọng phân biệt của kẻ ngu ở trên sinh chủng tánh Thanh văn thừa. Nhưng trong pháp Thanh văn có bốn quả khác nhau, cho nên nêu bốn quả khác nhau để thưa hỏi. Hành là nhân hành, bậc Tu-đà-hoàn tu nhân hạnh chính là muốn chứng đến quả A-la-hán, căn cơ lợi độn cho nên có sự khác nhau.

162. Nói về bốn quả Thanh văn:

1/ “Con và các Đại Bồ-tát… cho đến làm lợi ích rộng cho tất cả chúng sinh”. Là nói tướng phương tiện, là tướng phương tiện của bốn quả tu hành. Tu-đà-hoàn, Hán dịch là Dự lưu, nghĩa là từ địa vị phàm phu tu bảy phương tiện, khởi tám nhẫn tám trí, rơi vào ba cõi bốn đế xuống đến tám mươi tám sử phân biệt hoặc, dứt đến tám mươi bảy phẩm gọi là Sơ quả hướng, tám mươi tám phẩm hết gọi là Sơ quả, mới bước vào dòng Thánh, nên gọi là Dự lưu.

2/ Tư-đà-hàm, Hán dịch là Nhất vãng lai, nghĩa là Sơ quả thấy đạo rồi, khởi chín đạo vô giáo, chín đạo giải thoát, dứt chín địa trong ba cõi và chín lần chín tám mươi mốt phẩm tu hoặc, còn chín phẩm tu hoặc trong cõi Dục, gồm bảy lần sinh xuống nhân gian, thân ở Sơ quả, dứt năm phẩm trước của cõi Dục, gọi là Nhị quả hướng, dứt hết sáu phẩm gọi là Nhị quả. Ngay đây qua đời lại phải một lần sinh lên tầng trời, một lần sinh xuống nhân gian, dứt ba phẩm hoặc còn lại nên gọi Nhất vãng lai.

3/ A-na-hàm, Hán dịch là bất lai, nghĩa là thân đã ở Nhị quả, dứt chín phẩm tu hoặc cõi Dục, đến hết tám phẩm gọi là Tam quả hướng, dứt hết chín phẩm gọi là Tam quả, một phen trở lại các tầng trời cõi

Sắc, không thọ sinh trở lại cõi Sắc, nên gọi là Bất lai, người chứng ba quả trên gọi là Hữu học.

4/ A-la-hán, có ba cách dịch: 1. Sát tặc. 2. Vô sinh. 3. Ứng cúng: Nghĩa là thân ở trong ba cõi, dứt bảy mươi hai phẩm hoặc do tu mà dứt trong Địa thứ tám ở hai cõi trên, dứt đến bảy mươi mốt phẩm, gọi là Đệ tứ quả hướng, đoạn hết bảy mươi hai phẩm gọi là địa vị vô học quả thứ tư A-la-hán. Đây chỉ là hết phàm tình, không có Thánh giải riêng, Bồ-tát được phương tiện khéo léo giảng nói cho chúng sinh nghe pháp Thanh văn như vậy, pháp Bồ-tát như vậy, giúp cho họ chứng được người pháp vô ngã, sạch hoặc trí chướng, đối với tướng các địa rốt ráo thông đạt, đạt đến cảnh giới sở chứng của Như lai, được pháp thân pháp tài của Phật, thỉnh Như lai nói bốn quả khác nhau.

“Phật bảo Này Đại Tuệ! Lắng nghe! Lắng nghe! Ta sẽ nói cho ông nghe… cho đến sự khác nhau có ba là hạ, trung, thượng”: Trên hỏi các quả Tu-đà-hoàn, Tu-đà-hoàn hành. Nay đáp rằng, các quả Tu-đàhoàn, ý nói hiển bày lẫn nhau, lợi độn khác nhau, cho nên có ba.

163. Nói về Tu-đà-hoàn và A-la-hán:

“Này Đại Tuệ! Bậc hạ thì ở trong các hữu cho đến bậc thượng tức ngay đời này nhập vào Niết-bàn. Bảy lần sinh trở lại, nghĩa là ở cõi Dục, chín phẩm câu sinh phiền não, gồm bảy lần sinh lại. Sơ phẩm trở lại hai lần sinh, kế ba phẩm đều một lần sinh, kế là nhị phẩm còn một lần sinh, ba phẩm sau cùng một lần sinh: Là nói về quả Tu-đà-hoàn thấp nhất, chưa dứt hoặc cõi Dục cho nên sinh ở tầng trời, người bảy lần mới đắc quả A-la-hán, thí như rắn độc cắn người, đi bảy bước liền chết, vì sao không phải bốn hay sáu! Vì sức mạnh. Vì sao không phải là tám! Vì năng lực chất độc. Lấy thí dụ Tu-đà-hoàn, vì sao không sáu lần sinh? Vì sức mạnh của phiền não, vì sao không tám lần sinh? Vì nghiệp vô lậu thành thục. Người trung căn hoặc ba lần sinh, năm lần sinh mới đắc quả A-la-hán Niết-bàn. Người Thượng căn ngay một lần sinh được quả A-la-hán, gọi là hiện diệt Tu-đà-hoàn, không nói trải qua hai quả trung gian mới đến A-la-hán.

164. Nói về đắc quả A-la-hán:

“Này Đại Tuệ! Ba bậc này dứt ba kiết… cho đến được quả Ala-hán.” Nói Tu-đà-hoàn tuy có lợi căn độn căn khác nhau, nhưng nói chung dứt ba thứ kiết. Nghĩa là đối với năm thủ uẩn chấp ngã, ngã sở, gọi là thân kiến, là một kiết. Đối với các đế lý do dự không quyết định, nghi Phật và ngoại đạo, không biết đâu là chánh, đây là hai kiết. Nghĩa là đối với vọng kiến thuận theo giới cấm phi lý của ngoại đạo, chấp là trên hết, sẽ được thanh tịnh, là kiết thứ ba.

165. Nói về đắc quả Tu-đà-hoàn:

Hỏi: Có khả năng dứt hẳn tất cả phiền não kiến đạo sở đoạn, đắc quả Tu-đà-hoàn, vì sao chỉ nói ba bậc này dứt nguy ba kiết?

Đáp: Vì thuộc về trên hết, nghĩa là ba thứ kiết này làm chướng ngại sự giải thoát rất là trên hết. Vì sao? Vì thân kiến, chấp thủ năm uẩn làm ngã, ngã sở, rất sinh mê đắm, cho nên đối với các nhóm khổ không sinh nhàm chán xa lìa, đối với sự giải thoát cao siêu không phát tâm hướng về; hoặc có hữu tình tuy đã phát tâm hướng về giải thoát nhưng do giới cấm thủ và nghi nên chấp nghiêng về tà đạo. Vì nghi ngờ chánh đạo xuất ly theo tà và xuất ly bất chánh. Lại, ba kiết này, là quên cảnh nhân sở tri, vì mê chấp nhân, mê nhân đối trị, như Kinh Đại Bát-nhã nói dứt ba kiết, gọi là quả dự lưu, mỏng dần tham, sân, si gọi là quả nhất lai, dứt năm phần thuận dưới gọi là quả bất hoàn, dứt năm kiết thuận phần trên thường gọi là quả A-la-hán. Nay tất cả tập pháp đều thành diệt pháp, gọi là Độc giác Bồ-tát. Dứt hẳn tất cả thói quen nối nhau gọi là Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề. Đây đều là y theo Thông giáo nêu riêng chỗ quan trọng. Nói thăng tiến thượng thượng được quả A-la-hán, nghĩa Tu-đà-hoàn đã dứt các phần kiết là chín phẩm, người dứt được các kiết là trí, cũng chia làm chín phẩm. Nếu người mới học trí tuệ yếu kém, gọi là trí hạ hạ, dứt được các kiết thượng thượng. Người có trí tuệ học hiểu đã lâu, gọi là trí thượng thượng, dứt được kiết hạ hạ, được quả A-la-hán Niết-bàn.

166. Nói về xa lìa chấp người vô ngã:

“Này Đại Tuệ! Thân kiến có hai thứ… cho đến chấp người vô ngã liền lìa bỏ”: Luận Duy thức chép: Tham sân si mạn nghi, thân kiến, biện kiến, tà kiến, kiến thủ, giới cấm thủ, trong mười sử phiền não chung riêng này thì sáu thông câu sinh và khởi phân biệt, mặc cho sự suy xét đều được sinh. Hai thủ bốn thứ nghi và tà kiến chỉ phân biệt khởi, phải do bạn ác và năng lực của tà giáo, tự suy xét sâu xa mới được sinh.

Kinh nói thân kiến có hai thứ: là câu sinh và phân biệt, thí như nương duyên khởi tự tánh, các thứ vọng chấp tự tánh chấp đắm sinh, như nương câu sinh mà có phân biệt khởi, nghĩa là nương năm ấm mà khởi vọng tưởng thân kiến, do vọng tưởng kia không thật, nên chẳng có pháp hữu vô, kẻ ngu chấp ngang trái, như trong sóng nắng không có nước, bầy nai bị khát ép ngặt nên nghĩ là có nước, đây là phân biệt vọng tưởng thân kiến. Do không có trí tuệ chấp ngã, ngã sở lâu xa tương ưng. Tu-đà-hoàn quán tuy có năm ấm hợp thành người này, trong đó không có ngã. Nay quán xét kỹ cho nên thấy người vô ngã, tức thời lìa bỏ dứt kiến chấp phân biệt về thân.

167. Dứt bỏ tướng chấp thân:

“Này Đại Tuệ! Câu sinh thân kiến… cho đến tham thì bấtg sinh, đó gọi là tướng thân kiến”: Nói năng quán khắp thân mình và thân người là ngang bằng nhau. Các ấm thọ, tưởng, hành, thức đồng với sắc ấm, có danh không có thể, không có tự tánh tướng. Quán sắc ấm do bốn đại chủng tạo ra, xoay vần nhân nhau mà sinh. Trong bốn đại đã không có chủ tể thì ai có thể nhóm họp để thành sắc?

Sắc ấm hữu chất còn không, huống chi là bốn uẩn như thọ uẩn… không có sắc tướng, chẳng lẽ chẳng phải không ư! Quán sát như vậy thấy rõ hữu vô đều là vọng không thật. Năm ấm không có tự thể, thân kiến liền dứt, hễ người tham ái thì chấp có thân kiến, xả thân kiến thì tham từ đâu sinh? Cho nên Kinh Pháp Hoa chép: Các khổ là nhân, tham dục là gốc. Nếu tham bất sinh, đó gọi là dứt bỏ tướng thân kiến.

168. Dứt tướng nghi:

“Này Đại Tuệ! Tướng nghi là đối với pháp sở chứng khéo thấy tướng… cho đến đó gọi là tướng nghi”. Nghĩa là đối với pháp bốn chân đế sở chứng khéo thấy được tướng kia, quyết định cắt đứt hai thứ vọng tưởng thân kiến thì nghi không do đâu mà khởi, cũng không đối với phàm phu, ngoại đạo, thiên ma mà nghĩ họ là Đại sư, khởi chấp thanh tịnh, đó gọi là dứt tướng nghi.

169. Dứt tướng giới cấm thủ:

“Này Đại Tuệ! Vì sao Tu-đà-hoàn không chấp giới cấm!… cho đến đó gọi là tướng giới cấm thủ”: Nói Tu-đà-hoàn không chấp giới thọ sinh ở đời sau, quán có chỗ sinh thì có các khổ, không monh cầu chỗ thọ sinh an vui. Xét chấp thủ, là những người ngu ở trong ba cõi mong cầu năm thứ dục lạc, tu tập khổ hạnh, siêng năng giữ giới, ngụyện sinh về nơi ấy. Như Nan-đà vì mong cầu nữ sắc mà giữ giới, tức là hạng này. Bậc Tu-đà-hoàn, không chấp đời vị lai thọ sinh chỗ có năm thứ dục lạc, chỉ cầu sở chứng pháp trên hết vô lậu bốn chân đế lý không phân biệt, phương tiện thọ trì tu hạnh chánh giới, đó gọi là dứt tướng giới cấm thủ.

170. Lìa hai thứ tham:

“Này Đại Tuệ! Bậc Tu-đà-hoàn xả bỏ ba kiết… cho đến vì thế xả bỏ việc ấy chẳng phải tham Niết-bàn”: Phàm phu không thể bỏ ba kiết, không thấu đạt người vô ngã. Do chấp thân nên giữ gìn ngã này, tham danh lợi cho là vinh hạnh cái ngã, sân trái với tình cảnh sợ xâm hại, ngã ngu si lầm hiểu phi lý chấp chặt, không biết năm uẩn đều là vô ngã, không có chủ tể, chỉ là sắc tướng hình hài. Tâm vọng tưởng từ vô thỉ đến nay, do năng lực nhân duyên cho nên niệm niệm sinh diệt, nối nhau không cùng, như nước nhiễu từng giọt như ngọn đèn sáng mãi, thân tâm giả hợp dường như một dường như thường, phàm ngu bất giác chấp là ngã, cho nên khởi kiết. Người Tu-đà-hoàn quán sát-năm uẩn vô chủ như trên, vì xả ba kiết nên lìa tham, sân, si. Phàm phu tham đắm năm dục, Thanh văn tham pháp xuất thế nhập Niết-bàn, cho nên nói tham có nhiều thứ; nữ sắc là nặng nhất, cho nên nói riêng vì xả dục triền miên và chứng đắc tam-muội chánh thọ lạc, chưa thể dứt tham Niết-bàn, Bồtát thừa đối với hai thứ tham này đều có khả năng lìa bỏ.

171. Nói về Tu-đà-hoàn:

“Này Đại Tuệ! Thế nào là quả Tư-đà-hàm… cho đến mà nhập Niết-bàn, đó gọi là Tư-đà-hàm”. Không rõ sắc tướng, khởi lên phân biệt sắc. Tư-đà-hàm quán chiếu các thứ sắc tướng từ vọng tưởng sinh, cho nên còn một lần sinh trở lại vào tầng trời, cõi người, khéo tu thiền tịnh trí tuệ, ngã kiến chẳng sinh, hết sạch bờ mé khổ mà chứng đắc Niết-bàn, nên gọi là Tư-đà-hàm.

172. Nói về A-na-hàm:

“Này Đại Tuệ! Thế nào là quả A-na-hàm… cho đến không còn trở lại, đó gọi là A-na-hàm”: A-na-hàm còn gọi là ra khỏi bùn dục. Vì phiền não ở cõi Dục giống như bùn lầy. A-na-hàm đã vượt ra khỏi cõi Dục đều sinh lên cõi Sắc. Quán sát sắc tánh ba đời không thật, chấp phàm phu có chỗ sinh tức là có các khổ tội lỗi. Nếu phiền não thói quen không sinh khởi lìa bỏ các kiết thì không còn thọ sinh lại ở cõi Dục, tức là sinh lên các tầng trời cõi Sắc dứt hết các lậu, do đó gọi là A-nahàm.

173. Nói về A-la-hán:

“Này Đại Tuệ! A-la-hán… cho đến vọng tưởng không còn gọi là A-la-hán”. Nói A-la-hán tu hành Bốn thiền và ba tam-muội, liễu ngộ tám giải thoát, phần chứng mười lực, ba minh, sáu thông đều đã thành tựu, dứt hẳn phiền não phát nghiệp chiêu cảm các khổ vọng tưởng, nên gọi là A-la-hán.

174. Có ba loại A-la-hán:

“Đại Tuệ bạch Phật: Bạch Đức Thế Tôn! Thế Tôn dạy A-la-hán có ba thứ… cho đến kia thị hiện sinh”: Luận Du-già và luận Pháp Hoa nói Thanh văn có bốn hạng: 1. Quyết định chủng tánh cũng gọi là Thú tịch. 2. Tăng Thượng mạn, đây là phàm phu đắc thiền thứ tư, gọi là Ala-hán. 3. Lui sụt rồi lại phát đại tâm Bồ-đề, cũng gọi là chủng tánh bất định. Như trong hội Pháp Hoa, ngài Xá-lợi-phất… được thọ ký Thanh văn, đó là loại này. . Ứng hóa không chân thật, nghĩa là Phật và Bồtát biến hóa thị hiện dắt dẫn Thanh văn thật hướng đến Đại thừa. Kinh này hỏi trừ tăng thượng mạn chỉ có ba thứ, nghĩa là nói như thế nào? Phật bảo Này Đại Tuệ! A-la-hán thú tịnh định tánh nói trên đã dứt bỏ bốn trụ phiền não, vượt khổ sinh tử, chứng được Niết-bàn, chẳng phải những người đã lui sụt rồi trở lại phát tâm đại Bồ-đề. Những người ấy đã từng phát hạnh nguyện rộng lớn khéo léo, thành thục loài hữu tình, được Phật hóa độ, làm trang nghiêm các cõi Phật và quyến thuộc trong chúng hội”, thị hiện làm A-la-hán.

“Đại Tuệ ở trong chỗ luống dối nói pháp bằng mọi cách… cho đến tự tâm hiện ra, chứng được quả tướng”. Nói vì ở chỗ chúng sinh vọng tưởng nói pháp bằng mọi cách, dứt các phiền não, chứng đắc tứ quả, người hành thiền có sự hiểu biết đúng như thật và các thiền tammuội đều là tánh lìa, do tự tâm lượng luống dối mà thấy, chứng đắc quả tướng.

175. Chúng đắc bốn quả không nghĩ là mình chứng đắc bốn quả:

“Này Đại Tuệ! Nếu Tu-đà-hoàn nghĩ rằng… cho đến và các kiết không dứt”. Đây là nói sơ quả dứt kiết, không hề nghĩ rằng, ta dứt bỏ được kiết. Nếu nghĩ thì có hai lỗi, sẽ rơi vào thân kiến và tam kiết v.v… đều không được dứt trừ, so sánh với ba quả còn lại cũng giống như vậy. Cho nên Kinh Kim cương, Phật hỏi Tu Bồ-đề: Tu-đà-hoàn đến A-la-hán, có được nghĩ rằng mình đắc bốn quả như Tu-đà-hoàn v.v… hay không? Tu-bồ-đề đều nói là không. Nếu nghĩ như vậy tức là chấp ngã, nhân, chúng sinh, thọ giả. Tuy nói quyền thừa yếu kém nhưng nếu không lìa vọng niệm thô nặng, cũng không thể dứt bỏ sinh tử phần đoạn.

“Lại nữa, Này Đại Tuệ! Nếu muốn vượt qua vô lượng các thiền… cho đến không lìa tâm”. Ý nói muốn vượt qua các thiền Thanh văn, bốn tâm vô lượng và bốn không định của cõi Vô sắc, v.v… được tam-muội của Như lai thì phải lìa tướng tự tâm vọng tưởng trong ba cõi. Này Đại Tuệ! Cực quả Thanh văn cho, định tưởng, thọ, diệt làm rốt ráo. Nếu cho rằng siêu tâm lượng thì không đúng, vì sao! Vì tâm vọng tưởng chưa dứt .

176. Phật nói kệ để tuyên lại nghĩa trên:

“Lúc ấy, Đức Thế Tôn nói lại bài kệ rằng: Các thiền và vô lượng, vô sắc tam-ma-đề, và các thọ tưởng diệt, do tâm, chẳng thật có”. Các thiền là Bốn thiền. Vô lượng là bốn vô lượng tâm từ bi hỷ xả hóa độ chúng sinh. Vô sắc tam-ma-đề, là bốn vô sắc định thọ tưởng đều vắng lặng, đều duy tâm lượng, kia thảy vô hữu cho nên nói do tâm, chẳng thật có.

177. Nói về bốn quả Thanh văn:

“Quả Dự lưu, Nhất lai, Bất hoàn, A-la-hán, các bậc Thánh như thế, đều nương tâm vọng có”: Kế là nói về bốn quả, cũng không lìa tâm vọng tưởng, cho nên nói các bậc Thánh như thế, đều nương tâm vọng có. Kinh Viên Giác chép: Vì có vọng nghiệp nên vọng thấy trôi lăn, người nhàm chán sự trôi lăn vọng thấy Niết-bàn.

Thiền và thiền sở duyên, dứt hoặc thấy chân đế, đây đều là vọng tưởng, liễu ngộ tức giải thoát. Câu tụng đầu nói về thành pháp sở tu, câu kế nói người có khả năng tu chứng, câu thứ ba năng sở hợp rõ, đều không lìa tâm lượng vọng tưởng. Nếu thật giác ngộ, vì vọng chấp sinh tử nên nói Niết-bàn. Sinh tử bị dứt bỏ đã không thì Niết-bàn là pháp năng trị cũng bỏ, cho nên đắc Bồ-đề thì tất cả giải thoát.

Lại nữa, Này Đại Tuệ! Có hai thứ giác trí… cho đến và thủ phần phân biệt chấp đắm lập ra trí. Vì bài kệ trên nói biết rõ thì giải thoát, nhưng tri giác có mà không giải thoát, cho nên nêu hai thứ giác trí để phân biệt tốt xấu, nghĩa là quán sát biết người vô ngã và pháp vô ngã, là Chánh giác trí, không biết hai thứ người vô ngã pháp vô ngã, vọng tưởng tướng chấp đắm lập ra hữu ngã, hiểu biết như vậy là tà giác trí, không được giải thoát.

178. Như lai dùng nêm tháo nêm:

“Quán sát trí, nghĩa là quán tất cả các pháp… cho đến quán pháp như vậy, ông nên tu hành. Thế nào là chấp tướng phân biệt chấp đắm lập ra trí… cho đến đó là tướng của hai thứ giác trí”: Phàm phu chấp đắm có đại chủng tánh tướng, vọng tưởng phân biệt, dùng tông nhân dụ, pháp ngũ phần luận, thành tựu không thật mà vọng lập ra, đó gọi là tà chánh thứ hai giác trí tướng, Như lai dùng nên tháo nêm, như trước phá chấp của ngoại đạo, cũng nói ba chi tỷ lượng năm phần luận.

“Đại Bồ-tát biết trí tướng này… cho đến ánh sáng chiếu soi cả trăm cõi Phật”. Đại Bồ-tát, đạt vọng tức chân, biết hai thứ giác này, hiểu rõ người và pháp không, ngã cũng không còn, do trí vô tướng lìa niệm. Nhưng hành vị thắng giải của Địa tiền, khéo léo quán sát thì nhập Sơ địa, đắc trăm môn tam-muội như Đại thừa quang minh v.v… Nhờ thắng lực kia thấy cả trăm Đức Phật… cho đến ánh sáng soi chiếu cả trăm thế giới Phật. Cho nên Nhiếp Luận chép: “Khi Bồ-tát nhập Sơ địa, chứng mười trăm minh môn: một là chỉ trong một sát-na chứng một trăm tam-ma-địa, hai là dùng thiên nhãn thanh tịnh thấy trăm cõi Phật, ba là dùng năng lực thần thông, làm rung chuyển trăm thế giới Phật, bốn là có thể đến cả trăm thế giới Phật hóa độ chúng sinh, năm là có khả năng dùng một thân hóa thành trăm thứ thân hình, cho loài hữu tình trông thấy, sáu là có khả năng thành tựu trăm thứ hữu tình được hóa độ, bảy là nếu vì lợi ích thì có khả năng lưu thân trụ ở đời trăm kiếp, tám là có khả năng biết việc trăm kiếp trước sau, chín là dùng trí tuệ nhập bách pháp minh môn, thông suốt tất cả, mười là có thể dùng thân quán trăm loại quyến thuộc, các địa còn lại thì tăng lên gấp bội.

“Khéo biết tướng các thứ địa trên… cho đến cảnh giới tự giác tammuội thắng lạc”. Nói địa Ly cấu thứ hai cho đến Như lai đều thành tựu mười nguyện vô tận trong sơ địa, việc này trong Kinh Hoa nghiêm v.v… các kinh khác cũng có nói.

179. Biết đại chủng tạo sắc là không thật:

“Lại nữa, Này Đại Tuệ! Đại Bồ-tát phải hiểu rõ bốn đại tạo sắc”: Vì ở trên ngoại đạo chấp có bốn đại chủng tánh, tạo ra sắc tướng bốn đại, kế là khuyên Bồ-tát khéo phải hiểu bốn đại tạo sắc là không thật.

“Thế nào là Bồ-tát biết rõ bốn đại chủng v.v… cho đến trụ vào chỗ như thật, thành tựu tướng vô sinh”: Vô sinh, nói chung có hai: 1. Lý vô sinh, tánh viên thành thật vốn bất sinh. 2. Sự vô sinh, tướng duyên sinh tức là vô sinh. Nói trụ chỗ như thật, thành tựu tướng vô sinh, nghĩa là quán ba cõi do tâm hiện, lìa ngã, ngã sở, năng chứng lý sự đều vô sinh.

180. Ngoại đạo có bốn vọng chấp:

“Này Đại Tuệ! Các đại chủng kia vì sao tạo sắc… cho đến Đại chủng tạo sắc sinh”. Đây là nêu ra ngoại đạo. Vọng chấp có bốn đại chủng sinh tạo sắc, nghĩa là kia vọng tưởng chấp có tánh thấm nhuần là thủy đại chủng, sinh ra thủy giới trong ngoài, trong tức máu, mồ hôi, nước dãi, ngoài thì sông suối, biển nguồn. Có tánh nóng cháy thành thục là hỏa đại chủng, sinh trong ngoài cõi lửa, bên trong thì thể bao gồm hơi ấm, bên ngoài đốt cháy muôn vật, có tánh thổi động làm phong đại chủng, sinh ra phong giới trong ngoài, bên trong hơi thở vận động, bên ngoài thì muôn tiếng đều vang, có tánh sắc chất giới hạn là địa đại chủng; sinh ra địa giới trong ngoài. Bên trong tức da thịt, gân cốt, bên ngoài là đồng bằng, gò cao, vọng tưởng chấp có ẩm thấp, ấm động, xa lìa hư không. Do chấp tà đế, không rõ năm ấm, do hư giả chứa nhóm, vốn không có tự tánh. Nói do đại chủng tạo sắc sinh, cho nên ở trên Đức Phật bảo Bồ-tát phải khéo biết rõ.

“Này Đại Tuệ! Vì thức chấp đắm các thứ… cho đến ở trong các đường nối tiếp thọ sinh”. Nói thức, tức vọng thức trong năm ấm ở trên, do mê chân tâm mà thành chấp đắm các thứ nói năng cảnh giới làm thân, khởi nhân, tạo nghiệp thọ sinh, ở trong các cõi nối nhau không dứt. Phải biết thân bên trong, cảnh bên ngoài, bốn đại năm ấm, chỉ tâm lượng vọng tưởng phân biệt biến hiện ra.

181. Tướng đại chủng tạo sắc là do ngoại đạo phân biệt:

“Này Đại Tuệ! Địa v.v… là nhân của tạo sắc đại chủng… cho đến ngoại đạo phân biệt cho rằng chẳng phải pháp do ta nói”: Chẳng phải bốn đại chủng là nhân đại chủng, nghĩa là đều do tâm hiện, cho nên kiết luận rằng: tướng đại chủng tạo sắc này là do ngoại đạo vọng tưởng phân biệt.

“Lại nữa, Này Đại Tuệ! Nay ta sẽ nói thể tướng của năm uẩn…cho đến chẳng phải các bậc Thánh”. Dưới đây lại bác bỏ năm uẩn đều không, chẳng có tự tánh tướng, chẳng phải chỉ có sắc ấm, bốn đại là không thật.

“Các bậc Thánh chỉ nói các thứ sắc tượng như huyễn… cho đến đó gọi là tướng tự tánh của các uẩn”: Nói bậc Thánh tuy thấy năm uẩn, nhưng biết rõ không thật, chỉ là giả lập, lìa khác và không khác, như huyễn như mộng, cho nên Kinh Đạt Bát-nhã chép: Nếu Đại Bồ-tát khi tu hành Bát-nhã ba-la-mật-đa, biết sắc đúng như thật cũng như chùm bọt nước, tánh không bền chắc, như thật biết thọ cũng như bọt nổi, luống dối không trụ, mau sinh mau diệt, như thật biết tưởng giống như sóng nắng, nước không thật có, luống dối khát ái mà nghĩ như vậy: biết về như thật hành giống như cây chuối, tách ra từng bẹ đều không thật có, như thật biết thức giống như việc huyễn, do các duyên hòa hợp giả lập mà có, tướng tuy dường như có mà không thật, cho nên năm uẩn không thật có riêng. Không biết cảnh giới sở chứng của Như lai, mà thấy có pháp uẩn, chấp đắm vọng tưởng phân biệt thường hiện trước mắt, đó gọi là vọng tưởng tướng tự tánh các uẩn.

182. Thật tướng các pháp xưa nay không có tướng khởi:

“Này Đại Tuệ! Vọng tưởng phân biệt như vậy, các ông phải nên lìa bỏ… cho đến giống như quả đất lợi ích cùng khắp cho tất cả chúng sinh”. Pháp vắng lặng, là thật tướng các pháp từ xưa đến nay không có tướng khởi, các nghĩa còn lại lời văn.

“Lại nữa, Này Đại Tuệ! Niết-bàn có bốn thứ”: Ở trên nói giác trí để hiển bày sinh đức tốt xấu. Ở đây nói Niết-bàn để phân rõ đức kia là tà hay chánh, đó gọi là Bồ-đề Niết-bàn hai quả đức chuyển y.

183. Niết-bàn có bốn thứ: “Bốn thứ Niết-bàn là: các pháp tự tánh vô tánh Niết-bàn… cho đến chẳng phải pháp do ta nói”. Ngoại đạo chấp thể tánh các pháp là hữu danh tự tánh, sau đó dứt bỏ gọi là vô danh tự tánh, lấy minh đế làm Niết-bàn, lại chấp có các pháp tướng danh chủng chủng tướng gọi là, sau đó quán là vô danh vô tánh, cho thần ngã là Niết-bàn. Lại chấp chung tánh tướng là hữu danh tự tướng tánh, sau cũng quán là vô danh vô tánh, cho vọng giác là Niết-bàn. Ba thứ trên đây đều xuất xứ từ sự chấp đắm của ngoại đạo, lại dứt bỏ sự trôi lăn trong năm ấm sáu đường, cho người vô ngã là Niết-bàn, đó là Niết-bàn của Hai thừa, vì chấp có năm uẩn nên cũng đồng với ngoại đạo. Vì thế Kinh Lăng-nghiêm chép: Thanh văn, Duyên giác rơi vào định tánh, đều nói trái xa với viên thông, trái thành Niết-bàn.

“Này Đại Tuệ! Điều ta nói, phân biệt sở tri thức diệt gọi là Niếtbàn”. Trước nói chứng cảnh giới tự trí, chuyển tạng thức sở y thành đại Niết-bàn. Lại nói tất cả thức tự tánh thói quen. Tạng thức, ý thức chấp đắm thói quen chuyển rồi, ta và các Đức Phật nói gọi là Niết-bàn. Đây lại nói riêng phân biệt sở tri cảnh giới thức diệt, gọi là Niết-bàn, lìa chung riêng gọi là khác, đều muốn cho thói quen của các thức hiện hành đều diệt. Kế là văn hỏi đáp rất dễ hiểu.

184. Thức phân biệt diệt gọi là Niết-bàn:

“Đại Tuệ bạch Phật! Bạch Đức Thế Tôn! Chẳng dựng tập thức thứ tám hay sao?… cho đến thức thứ bảy được sinh”. Như lai nói vọng tưởng thức diệt gọi là Niết-bàn, Đại Tuệ nghi ngờ khác với lời trước nói, cho nên hỏi sao không kiến tập thức thứ tám! Mà nói riêng thức diệt, chẳng phải bảy thức khác đều diệt. Phải bảo Này Đại Tuệ! Vì ý thức kia chung cho cả ba tánh, khởi hoặc tạo nghiệp, làm duyên với các thức, và duyên cảnh giới, bảy thức còn lại nương đó mà khởi. Nếu ý thức diệt thì các thức còn lại không sinh.

“Này Đại Tuệ! Ý thức phân biệt cảnh giới… cho đến tư lương chuyển theo, không có thể tướng riêng”. Nói khi thức thứ sáu hiểu rõ cảnh khởi chấp đắm, sinh ba thứ thói quen, huân tập thêm lớn thức A-lại-da, do đó Mạt-na ý thứ bảy chấp ngã, ngã sở, thường xét nét so lường, nối nhau chuyển theo không có thể tướng riêng.

“Tạng thức làm nhân làm sở duyên… cho đến tâm chứa nhóm sinh khởi xoay vần làm nhân”. Lại thức căn bản làm nhân, biến khởi căn thân, hạt giống, khí giới làm sở duyên, cho nên nói chấp đắm tự tâm hiện cảnh giới, các tâm chứa nhóm sinh, đó gọi là từ hạt giống khởi hiện. Do hiện sinh chủng, hiện chủng vô tánh giống như bó lau, thay 78 nhau làm nhân, cho nên nói xoay vần làm nhân.

185. Khi thức thứ sáu diệt thì bảy thức còn lại cũng diệt:

“Này Đại Tuệ! Thí như biển và sóng… cho đến vì vậy khi ý thức diệt thì thức thứ bảy cũng diệt” như sóng ngoài biển thay nhau dạt vào bờ, cũng xoay vần sinh nhau, sắc thanh hương vị xúc là tự tâm hiện cảnh giới gió, thổi động các thức niệm niệm khởi diệt, cũng giống như vậy cho nên nói khi ý thức diệt thì thức thứ bảy còn lại cũng diệt.

Lúc ấy, Đức Thế Tôn nói lại bài kệ rằng: “Ta không cho tự tánh, và không cho tướng tác”. Bài tụng trên nói bốn thứ Niết-bàn của ngoại đạo… cho là ngã không do tự tánh tác tướng mà diệt, lấy Minh đế v.v… làm Niết-bàn.

“Phân biệt cảnh thức diệt, như thế nói Niết-bàn”. Câu tụng vọng chấp Niết-bàn thức diệt, đó là Như lai Niết-bàn”.

“Ý thức là nhân tâm, tâm là cảnh giới ý, vì nhân và sở duyên, các thức nương tựa sinh”. Bài tụng trên nói tám thức xoay vần làm nhân lẫn nhau.

“Như dòng nước lớn cạn, thì sóng mòi chẳng nổi. Như vậy, ý thức diệt, các thứ thức không sinh”.

Như dòng nước lớn bị cạn thì không có sóng, để dụ cho ý thức diệt, bảy thức khác cũng không sinh, bài tụng trên thí dụ và hợp pháp.

186. Hỏi đáp về lời Phật nói đâu khác hai thừa ngoại đạo:

Hỏi: Trước nói các ngoại đạo nói chấp cảnh giới thức nối nhau diệt, tức thức nối nhau từ vô thỉ diệt. Lại nói Thanh văn vọng chấp đời vị lai căn cảnh diệt, cho là Niết-bàn. Căn cảnh đã diệt, thức cũng bất sinh. Nay nói ý thức diệt như vậy các thứ thức bất sanh thì đâu có khác gì với hai thừa ngoại đạo?

Đáp: Ngoại đạo chấp khi chết thân hư hoại, sáu thức không chấp cảnh không biết chỉ lìa vọng duyên, cho rằng thức thứ sáu nối nhau diệt, tức thức nối nhau từ vô thỉ diệt, rơi vào chấp đoạn. Hai thừa tuy chấp đời vị lai căn cảnh diệt, sáu thức nối nhau chỉ hiện hành diệt, mà thói quen, hạt giống thật chưa diệt. Đây nghĩa là thức trong thức A-lại-da huân tập các tướng nối nhau bị dứt hẳn thì bảy thức còn lại cũng diệt theo, cho nên khác nhau.

187. Tướng khác nhau chung khi diệt thức vọng tưởng:

“Lại nữa, Này Đại Tuệ! Nay ta sẽ nói… cho đến không còn chấp đắm tướng do vọng chấp tướng”: Ở trên nói thức vọng tưởng phân biệt sở tri diệt gọi là Niết-bàn. Nay là nói tướng chung khác nhau khi diệt thức vọng tưởng, giúp cho các Bồ-tát biết rõ là không thật, vượt các vọng tưởng đạt đến cảnh giới Như lai, biết các kiến chấp của ngoại đạo bất sinh, lìa năng sở phân biệt, đối với duyên khởi không còn vọng chấp.

“Này Đại Tuệ! Thế nào là tướng vọng chấp tự tánh khác nhau!… cho đến đó gọi là tướng vọng chấp tự tánh khác nhau” nêu mười hai tên khác của vọng tưởng phân biệt. Nghĩa như trước đã giải thích.

188.  Mười hai tên gọi khác nhau của phân biệt luống dối:

“Thế nào là Lời nói phân biệt?… cho đến đó gọi là lời nói vọng tưởng”: Vọng chấp các thứ âm thanh chương cú cho là có tánh, gọi là lời nói phân biệt.

Thế nào là sở nói phân biệt?… cho đến đó gọi là sở thuyết phân biệt”: Chấp có năm pháp ba tự tánh, gọi là sở nói phân biệt.

Thế nào là tướng phân biệt?… Đó gọi là tướng phân biệt” Nói chấp đắm có bốn đại tướng, đó gọi là tướng phân biệt.

Thế nào là tài phân biệt?… cho đến đó gọi là tài phân biệt”. Chấp có tài lợi san tham chấp đắm, gọi là tài phân biệt.

Thế nào là tự tánh phân biệt?… cho đến đó gọi là tự tánh phân biệt”: Như chấp có bốn đại tánh: Ý nói tánh đất vững chắc, tánh nước ẩm ướt, tánh gió chuyển động, tánh lửa là nóng, cho đến chân tục, mỗi thứ đều có tự tánh khác nhau, gọi là tự tánh phân biệt.

“Thế nào là nhân phân biệt?… cho đến đó gọi là nhân vọng tưởng”. Nói hoặc nhân hoặc duyên, hữu vô phân biệt nhân sinh nhân, gọi đó là nhân phân biệt.

“Thế nào là kiến phân biệt?… cho đến đó gọi là kiến phân biệt?” Nương vào hữu vô này mà khởi bốn câu chấp, đó gọi là Kiến phân biệt.

“Thế nào là lý phân biệt?… cho đến đó gọi là lý phân biệt”: Trong năm uẩn chấp ngã, ngã sở, nói pháp luống dối, đó gọi là lý phân biệt.

Thế nào là sinh phân biệt?… cho đến đó gọi là sinh phân biệt”. Chấp pháp hữu vô chắc chắn từ duyên sinh, đó gọi là sinh phân biệt.

Thế nào là bất sinh phân biệt?… cho đến đó gọi là bất sinh vọng tưởng”: Chấp các pháp vốn không sinh, thể tánh hữu vô không nhờ duyên khởi. Từ nhân duyên sinh này không nhân không quả, đó gọi là bất sinh phân biệt.

“Thế nào là tương thuộc phân biệt!… cho đến đó gọi là tương thuộc phân biệt”: Chấp các pháp hữu vi đều có nhân quả, thay nhau trói buộc, như kéo vàng thành sợi, vàng nằm trong sợi, sợi tức là vàng, đó gọi là tương thuộc phân biệt.

“Thế nào là phược giải phân biệt?… cho đến đó gọi là phược giải phân biệt”: Chấp có phiền não trói buộc chúng sinh, về sau tu đạo sẽ cởi mở cho chúng sinh. Như có người trước bị trói, sau đó được cởi mở cũng giống như vậy, đó gọi là phược giải phân biệt.

“Này Đại Tuệ! Đó là tướng khác nhau của tánh vọng chấp… cho đến hoặc có hoặc không”: Ý nói kẻ ngu vọng chấp hữu vô mà sinh ra sự phân biệt này.

189. kẻ ngu chấp huyễn là thật:

Này Đại Tuệ! chấp đắm duyên khởi… cho đến phàm ngu phân biệt, thấy khác với huyễn”: Đối với y tha duyên khởi sinh ra các thức vọng tưởng tự tánh, như nương chú thuật mà thấy các việc huyễn, kẻ ngu vọng tưởng thấy khác với huyễn, chấp có các vật thật.

“Này Đại Tuệ! Huyễn và các thứ… cho đến đối với huyễn hữu lẽ ra sinh chấp đắm: Nói chú thuật và các vật lìa một, khác. Nếu các vật khác với chú thuật, thì chú thuật không nên làm nhân cho các vật. Nếu nói các vật và chú thuật là một, thì chú thuật và các vật lẽ ra không khác nhau, nhưng thấy chú thuật khác với các vật, cho nên lìa khác và không khác. Vì vậy Đức Phật bảo Đại Tuệ và các Bồ-tát, như nương ảo thuật sinh ra các vật, lìa một khác hữu vô chớ nên chấp đắm.

190. Phật nói kệ về kẻ ngu vọng tâm bi cảnh giới sanh tử trói buộc:

“Lúc ấy, Đức Thế Tôn muốn nói lại bài kệ rằng: Tâm bị cảnh trói buộc, giác tưởng trí tùy chuyển”: Nói kẻ ngu vọng tâm bị cảnh giới sinh tử trói buộc, vọng tưởng trí tùy theo cảnh giới mà chuyển biến. Giác nghĩa là vọng giác.

“Chỗ trên hết, vô tướng, bình đẳng trí tuệ sinh”: Chỗ vô tướng là Địa thứ tám, chỗ trên hết là địa vị Phật. Nói hai địa trên chứng đắc Niếtbàn và sinh tử bình đẳng.

“Ở vọng chấp là có, ở duyên khởi thì không”. Như sợi dây chấp là rắn, vọng tình cho là có, đối với sợi dây là duyên khởi, tướng không có thật.

“Vọng chấp mê hoặc lấy, duyên khởi lìa phân biệt”: Ý nói vọng chấp hoặc tâm chấp sợi giây là rắn, duyên khởi sợi dây thể thật chẳng có tưởng rắn, một hàng này nêu duyên khởi phá vọng chấp.

“Các thứ chi phần sinh, như huyễn không thành tựu, tuy hiện các thứ tướng, vọng phân biệt thì vô”: Nghĩa là có các thứ danh tướng chi phần sinh, nếu do huyễn khởi thì không thành các thứ, tuy hiện các tướng, nhưng rõ vọng phân biệt thì đều không thật. Luận Duy Thức chép: Y tha khởi tự tánh phân biệt duyên sinh, một hàng này phá duyên khởi.

“Tướng kia tức là lỗi, đều từ tâm phược sinh, vọng chấp không biết rõ, pháp phân biệt duyên khởi”: Duyên kia khởi tướng tức là lỗi, nghĩa là từ tâm trói buộc phiền não mà sinh, người ngu không biết nên phân biệt cho là thật có không.

“Các tánh vọng chấp này, đều là duyên khởi kia”: Ở trên nói Duyên khởi từ tâm vọng chấp trói buộc mà sinh. Ở đây lại nói tánh vọng chấp từ duyên khởi sinh, tức là duyên khởi.

“Vọng tưởng có các thứ, trong duyên khởi phân biệt”: Tánh vọng chấp này có nhiều thức, đối với duyên khởi sinh chấp đắm, vọng tưởng. Cho nên Duy Thức nói: Do các thứ biến kế kia, chấp khắp các thứ vật. Đây là biến kế sở chấp, tự tánh không thật có.

“Thế đế, Đệ nhất nghĩa, thứ ba vô nhân sinh”: Ở đây rõ ràng có thế tục đế, Đệ nhất nghĩa đế, không có thứ ba. Nếu nói đệ tam đế thì đồng với ngoại đạo vô nhân sinh.

“Vọng chấp là thế tục, dứt thì cảnh giới Thánh”: Do vọng chấp duyên mà sinh ra tất cả các pháp sinh tử hữu vô trong ba cõi, tức là thế đế. Nếu hiểu rõ duyên vô tánh vọng tưởng diệt, tức là bậc Thánh cảnh giới sở hành Đệ nhất nghĩa của. Cho nên luận Duy Thức chép: Các pháp tánh lược có hai thứ: 1. Luống dối, nghĩa là vọng kế sở chấp. 2. Chân thật, nghĩa là viên thành thật, lại có hai thứ: 1. Thế tục: là y tha khởi. 2. Thắng nghĩa: là viên thành thật. Cho nên viên thành thật đối với kia thường xa lìa tánh trước, nghĩa là đối với y tha, nếu lìa vọng chấp tức là viên thành thật, cho nên nói: dứt thì cảnh giới Thánh.

“Như người tu quán hạnh, nơi một các thứ hiện, nơi kia không các thứ, tướng vọng chấp như thế”: Thí như người hai thừa ngoại đạo tu quán hạnh. Nếu khi thực hành quán tưởng màu xanh thì trời đất muôn vật đều là màu xanh; màu đỏ vàng trắng… cũng giống như vậy. Vốn chẳng phải chỗ màu xanh, chính do thực hành quán tưởng màu xanh thì là màu xanh, tức là chỗ không phải màu xanh mà thấy màu xanh. Lấy ví dụ phàm phu ngoại đạo, vọng chấp các pháp hữu vô sinh tử, cũng là nơi các pháp không sinh tử mà vọng chấp có. Cho nên nói tướng vọng chấp như thế.

“Như mắt bị các màng che, vọng tưởng thấy chúng sinh, kia vô sắc phi sắc, vì không rõ duyên khởi”: Bất giác duyên khởi chỉ là giả lập, cũng như bất giác thấy tóc xõa, vòng lửa xoay tròn không thật.

“Như vàng lìa bụi nhơ, như nước lìa bùn đục, như hư không chẳng mây, vọng tưởng tịnh cũng thế”: Ở đây nói lìa vọng chấp cấu uế, hiểu rõ duyên khởi màng che, mắt bệnh, tức là viên thành thật thanh tịnh thật tánh, cho nên lấy ba câu trên làm ví dụ.

“Không có tánh vọng chấp, mà có ra duyên khởi, lập ra và chê bai, đều do phân biệt hoại”. Chấp duyên khởi là hữu danh lập ra, chấp vọng tưởng là vô danh chê bai. Nói sinh kiến chấp hữu vô này là do vọng tưởng phân biệt tự bác bỏ chánh kiến.

“Nếu không tánh vọng chấp, mà có duyên khởi… cho đến mà được có duyên khởi”. Hai câu trên là nói nhắc lại chấp, câu kệ kế là nói do vọng tưởng mà sinh duyên khởi, tức là bác bỏ.

“Tướng danh thường theo nhau mà sinh các vọng chấp, vì duyên khởi nương vọng, rốt ráo không thành tựu”: Hai câu trên nói về nhân duyên khởi lại sinh vọng tưởng, hai câu kế lại phá duyên khởi nương vọng tưởng, cũng đồng với vọng chấp không có tự tánh. Biết rõ vọng duyên rốt ráo không thành.

“Bấy giờ hiện thanh tịnh, gọi là Đệ nhất nghĩa”: Nếu dứt được vọng tưởng thì gọi là bậc Thánh Đệ nhất nghĩa đế viên thành thật tánh.

“Vọng chấp có mười hai, duyên khởi có sáu thứ”. Câu tụng trên có mười hai thứ phân biệt, do gió của cảnh giới sáu trần thổi động mà có.

“Tự chứng cảnh chân như, kia không có khác nhau”: Cảnh giới tự chứng sở giác Thánh trí, rõ được vọng duyên kia nên không khác nhau.

“Năm pháp là chân thật, ba tự tánh cũng thế, người tu hành quán đây, không vượt ngoài chân như”. Nói người tu hành, quán năm pháp ba tự tánh thể không có hai tướng, tức là như như.

“Nương vào tướng duyên khởi, vọng chấp các thứ danh, các tướng vọng chấp kia, đều nhân duyên khởi có”: Nói duyên khởi vọng chấp lại sinh ra lẫn nhau, đều không có năng lực không thể tự lập.

“Trí tuệ khéo quán sát, không duyên không vọng chấp, trong chân thật không vật, vì sao khởi phân biệt”. Nói khi bậc Thánh tự giác trí tuệ quán sát thì không có tánh duyên khởi, cũng không vọng chấp tự tánh, tức là chánh trí như như viên thành tự tánh, vì sao kẻ ngu khởi vọng tưởng giác tri để cầu mong điều gì?

“Nếu viên thành là có, thì đây lìa hữu vô, đã là lìa hữu vô, vì sao có hai tánh?” Tánh viên thành thật là chân như hữu, viên thường tịnh diệu lìa vọng hữu vô, vốn không có hai tánh.

“Vọng chấp có hai tánh, hai tánh là vọng lập, phân biệt thấy các thứ, sở hành Thánh thanh tịnh”: Vì vọng chấp cho nên có vọng chấp duyên khởi hai tự tánh, bậc Thánh phương tiện tùy hữu tình mà nói pháp, cũng quyền phương tiện thiết lập, giúp cho biết vọng tưởng các thứ thanh tịnh, đó là sở hành của bậc Thánh.

“Vọng chấp các thứ tướng, trong duyên khởi phân biệt, nếu khác đây phân biệt, thì rơi luận ngoại đạo”: Ở đây nói Phật pháp biết sinh tử, biết pháp duyên khởi sinh tử, từ trong tự tâm vọng tưởng sinh. Nếu chấp các pháp sinh tử hữu vô khác với vọng tưởng từ cát bụi, minh đế, tự tại… sinh thì tức là ngoại đạo luận.

“Vì các vọng nên chấp, vọng chấp đối vọng chấp, lìa bỏ hai chấp này, đó là pháp chân thật”: Các kiến là năm ác kiến, vì thấy cảnh bên ngoài đồng với vọng thức, cho nên sinh vọng tưởng, nói vọng chấp đối vọng chấp, lìa được duyên khởi, vọng chấp hai thứ vọng tưởng, tức là bậc Thánh trí đã chứng pháp chân thật như như.

191. Không nhờ người dạy bảo mà tự mình ngộ nhập:

“Bồ-tát Đại Tuệ lại bạch Phật: Bạch Đức Thế Tôn… cho đến ở trong Phật pháp không từ người mà ngộ. Này Đại Tuệ! Do ở trên nói tự chứng cảnh chân như, biết rõ duyên vọng kia không có khác nhau, cho nên nêu lên năng chứng tự giác Thánh trí, và sở chứng nhất thừa hành tướng để thưa hỏi. Muốn được sự khéo léo này, không nhờ người dạy bảo mà tự mình ngộ nhập.

192. Phật hứa nói lìa chấp vọng tưởng dần nhập vào Phật vị:

“Phật bảo Này Đại Tuệ! Lắng nghe! Lắng nghe! Ta sẽ nói cho ông… cho đến gọi là hành tướng tự giác Thánh trí”: Ở đây nói tự giác Thánh trí chẳng phải dùng lời nói bàn luận được, điều mà bậc tiên Thánh biết biết thương xót dạy bảo loài hữu tình, xoay vần truyền trao cho nhau, nói các pháp vô tánh, chỉ có vọng tưởng phân biệt là tội lỗi, nương lời Thánh dạy nên không vọng tưởng phân biệt, tức là tự chứng nhập. Nhưng vọng tưởng này vốn không có tự thể, nhưng vì từ vô thỉ đến nay huân tập thành tánh, phải nương vào duyên thanh tịnh quán chiếu tự giác, chẳng phải do người khác mà ngộ. Nếu lìa kiến chấp vọng tưởng, thì sẽ dần dần tiến nhập vào Phật vị, tu hành như vậy, cho nên gọi tướng tự giác Thánh trí.

193. Lìa năng thủ sở thủ, như thật an trụ:

“Thế nào gọi là hành tướng Nhất thừa… cho đến Phạm Thiên vương mới có khả năng được”: Nói Nhất thừa là nhất tâm, nghĩa là gồm chứa, chuyên chở. Nếu phan duyên chấp cảnh thì chở vào sáu đường. Nếu vọng tưởng không sinh thì chở đến địa nhất thật. Cho nên Phật bảo

Này Đại Tuệ! Lìa năng thủ, sở thủ, như thật an trụ, cho nên rõ được sinh tử là vọng tức là Niết-bàn chân thật, đốn ngộ nhất tâm thì không còn hướng về, cho nên phàm phu, hai thừa tâm hạnh thấp kém chẳng thể biết được.

“Đại Tuệ bạch Thế tôn!… cho đến mà được giải thoát chẳng phải sở đắc của mình”: Trên nói nhất thừa, ngoại đạo, hai thừa, Phạm Thiên vương v.v… chẳng thể biết được. Tức biết Như lai phương tiện nói ba thừa, cho nên hỏi vì sao nói có ba thừa mà không nói nhất thừa. Phật bảo Này Đại Tuệ! Người Nhất thừa biết tự tánh sinh tử là Niết-bàn, các Thanh văn, Duyên giác không có tự pháp Niết-bàn, cho nên ta nói Nhất thừa vì hàng Thanh văn, Duyên giác chỉ nương vào sự nhàm chán, xa lìa thế gian, điều phục tu hành mà được giải thoát, chẳng thể tự sức mình mà được pháp Niết-bàn, cho nên không nói Nhất thừa.

“Lại nữa, vì họ chưa dứt được trí chướng… cho đến cho nên ta nói ba thừa”. Nếu lỗi trên chưa dứt thì không thể thọ đại pháp cho nên đức Như lai nói ba thừa..

194. Như thật tu hành, công đức đầy đủ cũng được pháp thân tự tại của Như lai:

“Này Đại Tuệ! Những người ấy dứt bỏ được tất cả lỗi lầm thói quen… cho đến được pháp thân tự tại bất tư nghị”. Nói Hai thừa mê đắm cái vui tam-muội, tưởng là Niết-bàn. Nếu dứt được trí chướng kia và thói quen nghiệp, ngộ pháp vô ngã, đạt đến thân biến dịch sinh tử bất tư nghị, lúc ấy mới lìa được sự say mê tam-muội, đối với tam-muội vô lậu được giác ngộ. Khi đã giác ngộ rồi, tự biết an trụ các địa khác, khởi thượng thượng thăng tiến, như thật tu hành, các công đức đầy đủ cũng được pháp thân tự tại của Như lai.

195. Phật nói kệ nên tên các thừa:

“Lúc bấy giờ, Đức Thế Tôn nói lại kệ rằng: Thiên thừa và phạm thừa, Thanh văn, Duyên giác thừa, chư Phật Như lai thừa, ta nói các thừa này”. Bài tụng này nói tên các thừa.

“Cho đến có tâm khởi, các thừa chưa rốt ráo… cho đến ta nói là Nhất thừa”: Nói có tâm động chấp thì có các thừa, tức chẳng phải rốt ráo. Nếu tâm vọng tưởng diệt thì không có các thừa, cũng không có người năng thừa các thừa, vì không có người cho nên cũng không lập ra các thừa, đó gọi là Nhất thừa.

“Vì nhiếp hóa người ngu nói các thừa khác nhau… cho đến Bình đẳng trí giải thoát”: Vì dẫn dắt chúng sinh cho nên nói ba thừa giải thoát, lìa các phiền não là hai thừa giải thoát. Nghĩa là chỉ hết sinh tử phần đoạn gọi là giải thoát, kỳ thật họ chưa được giải thoát tất cả, đại trí thông đạt pháp vô ngã bình đẳng, tức là giải thoát chân thật của Như lai.

196. Nêu các ví dụ:

1- Ví dụ một: “Như khúc gỗ trên biển, thường trôi theo sóng gió… cho đến vẫn bị thói quen buộc”. Nói Thanh văn tuy dứt bỏ phiền não hiện hành, chưa dứt sở tri và vô minh căn bản, thì vẫn bị gió thói quen phiền não, tự tướng, cộng tướng thổi làm kích động tâm, thí như khúc gỗ trên biển theo gió trôi đi, bị rượu tam-muội làm say, trụ trong cõi vô lậu… cho đến nhiều kiếp không giác ngộ. Đắm mê diệt định, an trụ vào người không cho cõi vô lậu là Niết-bàn, chưa đạt đến địa vị Phật rốt ráo, nhưng cũng không lui sụt làm phàm phu, vì được thân tam-muội, tự cho là Phật, cho đến trải qua nhiều kiếp không giác ngộ, chưa đạt đến quả Phật.

2- Ví dụ hai: “Thí như người say rượu, khi tan rượu mới tỉnh, các Thanh văn cũng vậy, sau giác sẽ thành Phật”: Ý nói nếu ở cõi vô lậu mà giác, tự biết mình còn ở trong hóa thành, chưa đến đảo châu báu, lại khởi các thắng hạnh tu tập các công đức, về sau cũng được thân vô thượng của Phật.

 

Print Friendly, PDF & Email
Did you find apk for android? You can find new Free Android Games and apps.