Want create site? Find Free WordPress Themes and plugins.

KINH ĐẠI PHƯƠNG QUẢNG PHẬT HOA NGHIÊM

Hán dịch: Đời Đông Tấn, Tam tạng Pháp sư Phật-đà-bạt-đà-la, người nước Thiên Trúc.
Việt dịch: Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh

 

Phẩm 21: MƯỜI HỒI HƯỚNG CỦA BỒ-TÁT KIM CANG TRÀNG

Bấy giờ, nhờ vào thần lực của Phật, Bồ-tát Kim Cang Tràng nhập vào Tam-muội Chánh thọ minh trí của Bồ-tát. Sau khi vào định, khắp mười phương các thế giới ở ngoài xa vượt hơn số cõi nhiều, như bụi nhỏ của trăm vạn cõi Phật, đều thấy có các Đức Như Lai ứng hiện và cùng có hiệu là Kim Cang Tràng.

Chư Phật ấy bảo Bồ-tát Kim Cang Tràng:

–Lành thay, lành thay! Này Phật tử! Ông rất giỏi, nên đã nhập vào Tam-muội Chánh thọ minh trí của Bồ-tát như vậy.

Này thiện nam! Chư Phật trong các thế giới khắp mười phương nhiều như bụi trong trăm vạn cõi Phật đều như thần lực của ông vậy mới có thể nhập vào Tam-muội này. Lại nhờ bản nguyện của Phật Lô-xá-na, nhờ năng lực uy thần, nhờ trí tuệ thanh tịnh của ông, nhờ sức căn lành của các Bồ-tát, muốn khiến cho Bồ-tát được thanh tịnh không sợ hãi, được biện tài vô ngại, vào địa vị vô ngại trí, vào tâm quảng đại Nhất thiết trí của chư Phật, đầy đủ các căn lành vô tận, mỹ mãn pháp Bạch tịnh vô ngại, vào toàn diệu pháp giới, hiển hiện tất cả thần lực biến hóa của Phật, trí tuệ nhớ đến tận quá khứ không gián đoạn, phân biệt tất cả căn lành của chư Phật, bằng vô lượng pháp môn thuyết giảng giáo pháp. Nghe, ghi nhận, hiểu rõ vô lượng pháp; trình bày đầy đủ cả mười hồi hướng, giữ gìn các căn lành của tất cả Bồ-tát, đứng vững trong pháp xuất thế gian, làm cho Nhất thiết trí không bị đoạn tuyệt. Phát ra đại nguyện, đi vào nghĩa chân thật, biết rõ pháp giới, làm cho tất cả Bồ-tát đều hoan hỷ, tu tập các căn lành đồng với chư Phật, hộ trì tánh của tất cả Như Lai.

Thiện nam tử! Ông hãy nương theo thần lực của Phật mà diễn thuyết pháp này, hãy an trú trong nhà của Phật, phát triển các công đức xuất thế gian, nhập vào hào quang Đà-la-ni, vào pháp không diệt độ của chư Phật, chiếu khắp các pháp giới, tích tập pháp Bạch tịnh lìa ác, trú ở hào quang của pháp không chướng ngại.

Bấy giờ, chư Phật liền ban cho Bồ-tát Kim Cang Tràng vô lượng trí tuệ, phương tiện hoàn hảo, phân biệt văn tự ý nghĩa thông suốt không còn bị trở ngại, sáng suốt về pháp không còn chướng ngại, thân đồng nhất của tất cả Như Lai, vô lượng âm thanh vi diệu, không thể nghĩ bàn Tam-muội phương tiện của các Bồ-tát, tâm bình đẳng hồi hướng đến căn lành trí tuệ, quán sát tất cả pháp sinh ra vô lượng phương tiện, biện tài thuyết pháp không gián đoạn ở khắp mọi nơi. Tại sao? Nhờ năng lực căn lành của Tam-muội ấy.

Khi ấy, chư Phật đều đưa tay phải xoa lên đầu Bồ-tát Kim Cang Tràng. Sau khi được chư Phật xoa đầu, Bồ-tát này xuất định, bảo với các Bồ-tát:

–Này các Phật tử! Đây là đại nguyện không thể nghĩ bàn của Đại Bồ-tát, cứu hộ được tất cả chúng sinh. Đại Bồ-tát lập nguyện này rồi, tu học pháp hồi hướng của chư Phật ba đời.

Này Phật tử! Pháp hồi hướng của Đại Bồ-tát là gì?

Hồi hướng của Đại Bồ-tát có mười loại mà chư Phật cả ba đời đều giảng dạy. Đó là các hồi hướng:

  1. Cứu hộ tất cả chúng sinh nhưng lìa tướng chúng sinh.
  2. Không hoại.
  3. Đồng như tất cả chư Phật.
  4. Đến tất cả nơi chốn.
  5. Kho công đức vô tận.
  6. Tùy thuận căn lành bình đẳng.
  7. Tùy thuận quán khắp tất cả chúng sinh.
  8. Như tướng.
  9. Giải thoát không trói không mở.
  10. Pháp giới vô lượng.

Phật tử! Đây là mười hồi hướng của Đại Bồ-tát, được cả chư

Phật trong ba đời diễn thuyết.

Này Phật tử! Hồi hướng cứu hộ tất cả chúng sinh nhưng xa lìa tướng chúng sinh là gì?

Đại Bồ-tát này thi hành Bố thí ba-la-mật, thanh tịnh Trì giới ba-la-mật, tu tập Nhẫn nhục ba-la-mật, thực hành Tinh tấn ba-lamật, nhập Thiền định ba-la-mật, phân biệt Trí tuệ ba-la-mật. Tu hành nhiều về Từ, Bi, Hỷ, Xả, tu vô lượng các căn lành như vậy, đều vì lợi ích tất cả chúng sinh, làm cho rốt ráo thanh tịnh. Đem căn lành đã tu tập này khiến cho tất cả chúng sinh đều trừ diệt vô lượng các khổ não của địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, Diêm-la vương…

Bồ-tát lại suy nghĩ: “Ta đem căn lành này hồi hướng làm nhà cho tất cả chúng sinh khiến được diệt trừ khổ não; làm sự cứu hộ cho tất cả chúng sinh khiến được giải thoát khỏi phiền não; làm chỗ quy y cho tất cả chúng sinh khiến cho xa lìa sợ hãi; làm chỗ đi đến cho tất cả chúng sinh khiến đến địa vị Nhất thiết trí; làm nơi an ổn cho tất cả chúng sinh để được chỗ hoàn toàn an ổn; làm ánh sáng lớn cho tất cả chúng sinh khiến diệt bóng tối được ánh sáng trí tuệ; làm ngọn đuốc cho tất cả chúng sinh khiến diệt bóng tối vô minh; làm ngọn đèn cho tất cả chúng sinh khiến ở trong ánh sáng hoàn toàn trong suốt, làm người hướng dẫn cho tất cả chúng sinh khiến đi vào pháp phương tiện; làm quan giữ báu vật cho tất cả chúng sinh khiến được thân trí tuệ thanh tịnh vô ngại.”

Này Phật tử! Đại Bồ-tát đem vô lượng căn lành hồi hướng như vậy khiến tất cả chúng sinh đều đạt đến Nhất thiết trí.

Này Phật tử! Đối với kẻ oán người thân, Đại Bồ-tát này đều đem các căn lành hồi hướng tất cả không có sai khác. Tại sao? Vì Đại Bồ-tát thể nhập quán sát bình đẳng không có oán và thân, thường dùng mắt từ ái nhìn các chúng sinh. Nếu chúng sinh nào có tâm ác, oán nghịch với Bồ-tát thì Bồ-tát vẫn làm Thiện tri thức cho tất cả chúng sinh, phân biệt giảng giải các pháp sâu xa vi diệu. Ví như đối với biển lớn, tất cả chất độc không thể phá hoại được. Bồ-tát cũng như vậy, tất cả các loại ấu trĩ ngu si, không trí tuệ, chẳng biết báo ân, sân hận, cao ngạo, phá giới, mù tối, với vô lượng lầm lỗi xấu xa nhưng cũng không thể làm động đạo tâm của Bồ-tát.

Như mặt trời mọc lên chiếu khắp nơi, không phải vì người mù mà ẩn không hiện, cũng không vì thành Càn-thát-bà bốn phía có bụi mù, vì A-tu-la che lại, vì bóng cây Diêm-phù, các núi khác ngăn che, các loại như vậy với vô lượng sự ngăn che mà mặt trời lại ẩn đi không xuất hiện. Đại Bồ-tát cũng như vậy, luôn luôn chánh niệm chẳng hề tán loạn, ổn định sâu rộng tâm chẳng lo buồn, chánh ý tư duy chỉ muốn đạt đến rốt ráo bằng trí tuệ công đức, hào quang pháp thanh tịnh chiếu sáng khắp thế gian, hiển bày nghĩa chân thật, tu hành tất cả các pháp môn trí tuệ, tu các căn lành vì chúng sinh.

Tất cả chúng sinh có vô lượng ác nhưng Đại Bồ-tát không vì chúng sinh ác mà thù hận bỏ rơi không tu hành hồi hướng cho chúng sinh; không vì những chúng sinh khó giáo hóa mà từ bỏ căn lành không thực hành hồi hướng. Tuy gặp chúng sinh tà kiến sân hận nhưng đối với đại trang nghiêm, tâm Bồ-tát không thay đổi, không bỏ đại nguyện cứu độ chúng sinh. Nếu thấy chúng sinh ác trược, không tín tâm, không biết báo ân, nhưng Bồ-tát vẫn tu tập giác ngộ không hề bỏ phế. Nếu cùng làm việc với kẻ ngu si ấu trĩ nhưng tâm Bồ-tát không khó chịu phiền não. Tại sao? Ta như mặt trời trí tuệ tròn đầy sáng rực, xuất hiện trên thế giới để thanh tịnh giáo hóa tất cả chúng sinh.

Đại Bồ-tát không vì một chúng sinh mà phát tâm cầu Vô thượng Chánh giác. Đem căn lành hồi hướng không vì nghiêm tịnh cho một cõi Phật, không vì tin vào một Đức Phật, không vì thấy một Đức Phật, không vì pháp của một Đức Phật, không vì viên mãn một nguyện. Đại Bồ-tát vì muốn cứu hộ hết tất cả chúng sinh nên đem căn lành hồi hướng, làm nghiêm tịnh đầy đủ cho tất cả cõi Phật, tin tất cả Phật, thấy tất cả Phật, cung kính cúng dường tất cả Phật, nghe chánh pháp của tất cả Phật thuyết giảng, viên mãn tất cả đại nguyện, đem căn lành hồi hướng đến Vô thượng Bồ-đề.

Đại Bồ-tát lại suy nghĩ: “Điều quý báu của sự phát tâm Bồ-đề là năng lực cảnh giới của Như Lai, rộng lớn bình đẳng không có biếng nhác, trong vô lượng kiếp tu tập pháp khó đắc đồng với chư Phật. Đại Bồ-tát quán các căn lành như vậy thì tín tâm thanh tịnh, nuôi lớn đại Bi, đem các căn lành hồi hướng cho tất cả chúng sinh bằng tâm sâu xa chư không chỉ bằng lời nói. Đối với chúng sinh, Bồtát phát tâm hoan hỷ, tâm minh tịnh, tâm nhu nhuyến, tâm Từ bi, tâm yêu mến, tâm bảo hộ, tâm lợi ích, tâm an lạc, tâm tối thắng, mà đem các căn lành hồi hướng cho tất cả.”

Khi Đại Bồ-tát đem các căn lành để hồi hướng, lại suy nghĩ: “Những công đức hồi hướng nếu ta có, làm cho tất cả chúng sinh được cảnh giới thanh tịnh, được sống thanh tịnh, đầy đủ công đức. Trong thế gian không ai có thể phá hoại được, không thể cùng tận, thường được tôn trọng nhưng tâm không lẫn loạn, phân biệt rõ hết tất cả các cảnh giới, tư duy về chư Phật, nghiệp thân, miệng, ý được trang nghiêm đầy đủ.”

Bồ-tát suy nghĩ: “Đem công đức hồi hướng căn lành này khiến cho các chúng sinh thường được gặp chư Phật, được tín tâm không hư hoại ở nơi Đức Phật ấy. Ở nơi Đức Phật ấy được nghe chánh pháp, xa lìa các nghi hoặc, ghi nhớ không quên và tu hành đúng theo đó. Đối với Đức Như Lai được tâm nhu hòa, nghiệp thân miệng được thanh tịnh, tâm thường an trú nơi căn lành thắng diệu, xa lìa sự bần cùng, đầy đủ bảy Thánh tài, tu học tất cả pháp mà chư Phật đã học, đắc các căn lành, thành tựu giải thoát bình đẳng tịnh diệu, Nhất thiết chủng trí. Đối với tất cả chúng sinh, Bồ-tát bằng mắt từ ái, thân thể thanh tịnh, tướng tốt trang nghiêm, biện luận bằng trí tuệ đầy đủ công đức, chế phục các căn, thành tựu mười Lực, phát khởi các thiện tâm ổn định sáng suốt không bị nhiễm trước, làm cho tất cả chúng sinh được đầy đủ an lạc của Phật, được vô lượng sự an trú ở nơi Phật trú.”

Đại Bồ-tát này suy nghĩ: “Tất cả chúng sinh tạo ra vô lượng các nghiệp bất thiện, do nghiệp ấy mà chịu vô lượng khổ não, không gặp được Như Lai, không nghe chánh pháp, không biết Tăng thanh tịnh. Những chúng sinh này có đủ cả các tội lỗi ác nghiệp, phải chịu vô lượng, vô biên khổ sở. Đối với ba đường ác này, ta nên chịu khổ thay để họ được giải thoát. Ta nên chịu thay vô lượng khổ não, không vì khổ não mà tâm ta thoái lui, sợ hãi biếng nhác, bỏ rơi chúng sinh. Tại sao? Vì chúng sinh, ta gánh gánh nặng, làm viên mãn nguyện bình đẳng, độ chúng sinh thoát khỏi sinh, già, bệnh, chết, sầu buồn khổ não vô lượng các nạn, tất cả tà kiến bị luân hồi trong sinh tử, mất các thiện pháp vì ngu si vô trí, ta phải độ hết để họ thoát các khổ này. Chúng sinh thường bị lưới dục ái trói chặt, vô minh che phủ, đắm nhiễm vào hữu ái, bị chúng sai khiến nên không được tự do, bị nhốt trong ngục khổ, tùy theo các nghiệp ma, nghi ngờ đối với chư Phật, không được đạo xuất thế, không thấy nơi an ổn, thường dong ruổi trong đồng hoang sinh tử, chịu vô lượng khổ.”

Đại Bồ-tát thấy các chúng sinh ấy bị chìm trong bùn sinh tử chịu nhiều khổ sở, nên phát tâm đại Bi, làm lợi ích chúng sinh khiến cho được lợi ích hoàn toàn, thoát khỏi khổ nạn. Đem căn lành để hồi hướng, đem đại hồi hướng để hồi hướng, như các Bồ-tát trong ba đời đã hồi hướng, hồi hướng như chư Phật đã dạy trong kinh Đại hồi hướng, làm cho tất cả chúng sinh đều được thanh tịnh, đầy đủ căn lành, viên mãn Nhất thiết trí.

Bồ-tát lại suy nghĩ: “Ta phải làm cho tất cả chúng sinh được vô thượng trí vương, chỗ ở an ổn, chứ ta không vì tự độ. Ta chỉ vì muốn chúng sinh thoát ra khỏi vực sâu sinh tử, được tâm Nhất thiết trí, đưa chúng sinh ra khỏi đường hẻm hiểm ác, vượt qua dòng sinh tử, thoát vô lượng khổ, khiến cho chúng sinh đều thoát khỏi đám cháy sinh tử. Vì tất cả chúng sinh trong tất cả địa ngục ở các cõi, ta chịu vô lượng khổ, quyết không bỏ rơi họ. Ngay trong từng cõi ác, đến tận đời vị lai, ta sẽ thay chúng sinh chịu vô lượng khổ. Tại sao? Thà riêng ta chịu khổ này, không để chúng sinh chịu các khổ sở. Ta sẽ đem thân chịu thay cho tất cả chúng sinh trong đường ác để cho họ được giải thoát.”

Đại Bồ-tát lại suy nghĩ: “Ta sẽ vì tất cả chúng sinh, nói lên lời chân thật rằng: Xa lìa tâm gây hại, không từ bỏ chúng sinh. Tại sao? Nhờ chúng sinh, ta phát tâm Bồ-đề, độ thoát tất cả, không cầu sự tôn quý, không cầu năm dục, không cầu các sự an lạc của thế gian mà hành đạo Bồ-tát. Vì sao? Vì năm dục là pháp thế gian, thuộc cảnh giới ma, hành động của kẻ ngu, bị chư Phật quở trách. Nó sinh ra tất cả khổ não, địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, Diêm-la vương. Tức giận tranh cãi kiện tụng nhau cũng đều do năm dục. Chứa giữ năm dục thì xa lìa chư Phật, chướng ngại việc sinh thiện, huống chi đạo Vô thượng!”

Bồ-tát thấy rõ năm dục có những vô số sự lỗi lầm như vậy, nên không dùng năm dục để tu hạnh Bồ-tát. Bồ-tát chỉ muốn làm lợi ích an ổn cho chúng sinh, nên phát tâm Bồ-đề cầu đạo Vô thượng, khiến cho tất cả chúng sinh được tất cả lợi, đủ các đại nguyện, đoạn tuyệt mồi câu phiền não của tất cả chúng sinh, xa lìa vô lượng khổ.

Đại Bồ-tát lại suy nghĩ: “Ta nên đem các căn lành hồi hướng để tất cả chúng sinh được các sự an lạc như cứu cánh, lợi ích, bất cộng, tịch tĩnh, vô nhiễm, vô động, vô lượng, không chết, không chuyển động, bất diệt, Nhất thiết trí. Ta nên làm vị thầy Điều ngự cho tất cả chúng sinh, làm vị quan chủ kho tàng, đuốc sáng lớn để chỉ bày đường nẻo an lạc ổn, khiến lìa các nạn, thông suốt tất cả pháp. Ta nên làm cho họ hiểu nghĩa sâu xa. Ta nên làm thuyền Nhất thiết trí vượt qua biển sinh tử. Ta sẽ làm cho chúng sinh biết vô lượng căn lành hồi hướng. Ta sẽ chỉ bày bờ kia cho chúng sinh.”

Dùng vô lượng căn lành hồi hướng này, Đại Bồ-tát cứu độ vô lượng chúng sinh vượt biển sinh tử, khiến cho các Như Lai đều hoan hỷ, được Nhất thiết trí, lìa bỏ chúng ma, xa ác tri thức, thân cận Bồtát Thiện tri thức, thành tựu nghiệp thanh tịnh, diệt hết các ác, đầy đủ vô lượng nguyện hạnh và tất cả căn lành của Bồ-tát.

Đại Bồ-tát hồi hướng bằng các căn lành rồi, lại suy nghĩ: “Không cần phải có từng mặt trời mọc lên cho từng chúng sinh trong bốn thiên hạ, mà chỉ cần một mặt trời mọc thì có thể chiếu sáng khắp cả thiên hạ. Lại nữa, các chúng sinh không cần nhờ vào ánh sáng tự thân mà biết ngày và đêm, đi lại quan sát, tạo ra các nghiệp, mà đều nhờ vào mặt trời xuất hiện chiếu sáng khắp bốn thiên hạ, không có việc gì của tất cả chúng sinh là không nhờ vào.”

Đại Bồ-tát cũng như vậy, tu các căn lành hồi hướng vì tất cả chúng sinh mà suy nghĩ các chúng sinh ấy không có ánh sáng trí tuệ, tự không chiếu sáng mình thì làm sao chiếu người khác. Chỉ riêng mình ta với tôn chỉ độc lập chẳng có bạn đường, tu các căn lành hồi hướng muốn để độ thoát tất cả chúng sinh, chiếu sáng tất cả chúng sinh, phân biệt tất cả chúng sinh, thông hiểu tất cả chúng sinh, khiến cho tất cả chúng sinh đi vào pháp sâu xa; bảo hộ tất cả chúng sinh, vỗ về tất cả chúng sinh, diệt trừ tất cả nghi ngờ cho tất cả chúng sinh.

Đại Bồ-tát lại suy nghĩ: “Ta nên tu học như mặt trời chiếu sáng tất cả mà không cầu báo ân. Không vì chúng sinh ác mà bỏ đại trang nghiêm, cũng không vì một chúng sinh ác mà bỏ rơi tất cả, không độ thoát cho họ. Ta chỉ siêng năng tu tập các căn lành hồi hướng, muốn khiến cho chúng sinh được tất cả an lạc, đem ít căn lành hồi hướng rộng lớn. Nếu các căn lành không thể lợi ích cho tất cả chúng sinh thì ta quyết không đem căn lành hồi hướng. Vì các căn lành đều làm cho chúng sinh phát tâm nên hồi hướng, khiến cho chúng sinh không chấp trước các pháp nên hồi hướng, vì tánh chúng sinh hồi hướng nhưng không có chỗ đến.”

Bồ-tát hồi hướng như vậy, cũng không chấp trước, cũng không giữ lấy tánh, an trú các căn lành, hồi hướng không thật tướng, nghiệp báo hư vọng đều không thực có, cũng không có sự chấp trước, không chấp thủ tướng năm uẩn mà hồi hướng, không hoại tướng năm uẩn mà hồi hướng, không chấp thủ nghiệp hư vọng mà hồi hướng. Không mong cầu quả báo, không khởi lên nhân duyên hư vọng, không sinh, không khởi, không trú, không trú tướng kiên cố, không trú pháp hư vọng, không phân biệt thế giới, không trú vào điên đảo do tâm, do tưởng hay do thấy, không chấp vào đường ngôn ngữ. Chỉ muốn cho chúng sinh hiểu pháp chân thật mà hồi hướng, quan sát tất cả chúng sinh bình đẳng mà hồi hướng, ấn pháp giới ấn các căn lành mà hồi hướng; lìa dục bình đẳng với các pháp, quán sát căn lành mà hồi hướng; hiểu rõ tất cả pháp, lìa xa điên đảo, đắc các căn lành, bằng pháp không hai quán sát pháp giới mà hồi hướng.

Hồi hướng ấy không sinh các pháp, không diệt các pháp. Đem các căn lành hồi hướng ấy tu hành thanh tịnh các pháp đối trị để hồi hướng, quán các căn lành đều hồi hướng pháp xuất thế gian, đối với căn lành ấy không chấp có hai tướng. Nhất thiết trí chẳng phải là nghiệp này cũng không rời nghiệp để hồi hướng. Quán sát Nhất thiết trí không phải là nghiệp mà cũng chẳng lìa nghiệp để đắc Nhất thiết trí. Do nghiệp theo nguyện và trí chiếu sáng thanh tịnh nên quả báo cũng chiếu sáng thanh tịnh. Quả báo chiếu sáng thanh tịnh nên Nhất thiết trí cũng chiếu sáng thanh tịnh, xả ly tất cả loạn động, tầm tứ, kiêu mạn, phóng dật. Tùy theo trí phương tiện đem các căn lành để hồi hướng, khiến cho tất cả chúng sinh đều được giải thoát cứu cánh chân thật. Không chấp trước pháp tánh hay vô lượng, vô biên căn lành để hồi hướng.

Các pháp không nghiệp báo mà sinh ra nghiệp báo. Bằng các căn lành hồi hướng như vậy, Đại Bồ-tát xa lìa hẳn tất cả các ác, được Phật khen ngợi.

Này Phật tử! Đây là hồi hướng thứ nhất, cứu hộ tất cả chúng sinh nhưng lìa tướng chúng sinh của Đại Bồ-tát.

Bấy giờ, nương theo thần lực của Phật, Bồ-tát Kim Cang Tràng nhìn khắp mười phương và tất cả đại chúng, quán sát pháp giới, vào sâu ý vị của ý nghĩa danh tự, đem đại Bi che khắp tất cả chúng sinh, hộ trì chủng tộc của chư Phật trong ba đời không gián đoạn, đi vào kho công đức của tất cả Phật, sinh ra Pháp thân thanh tịnh của chư Phật, phân biệt hoàn toàn tâm của chúng sinh, tất cả căn lành đã trồng trong thời quá khứ, biết đúng lúc, đầy đủ Pháp thân, thị hiện đầy đủ sắc thân thanh tịnh, nói kệ rằng:

Tu hành trải qua vô số kiếp
Thường vì lợi ích khắp chúng sinh
Tinh tấn kiên cường chí không ngại
Thường cầu công đức của chư Phật.
Tâm ý thanh tịnh lìa sân hận
Cung kính cúng dường Đấng Điều Ngự
Hiểu rõ các pháp, cứu chúng sinh
Ai trọn vẹn vào kho hồi hướng.
Đầy đủ sức dũng mãnh tinh tấn
Trí lực chiếu sáng rất thanh tịnh
Tâm nhẫn kiên cố không lay động
Thường hay cứu hộ khắp chúng sinh.
Tâm an trú nơi không gì bằng
Phấn khởi hoan hỷ, ý thanh tịnh
Sức nhẫn Bồ-tát như mặt đất
Làm lợi ích khắp cho chúng sinh.
Không dùng khổ hạnh để cầu lạc
Bằng đại Từ bi làm nhiều hạnh
Thường cứu hộ khắp các chúng sinh
Người ấy mau vào địa vô ngại.
Tất cả thế giới khắp mười phương
Chúng sinh trong ấy được cứu hộ
Thường vì chúng sinh, tâm an trú
Tu học vô lượng các hồi hướng.
Bằng tâm hoan hỷ, hành bố thí
Hộ trì đầy đủ giới thanh tịnh
Tâm kiên cố dũng mãnh tinh tấn
Trí tuệ thanh tịnh khéo hồi hướng.
Tâm ấy rộng lớn không thể lường
Nhẫn lực kiên cường thường hồi hướng
Tịnh tu tất cả các thiền định
Trí tuệ sâu xa khó nghĩ bàn.
Trong các thế giới khắp mười phương
Tu tập đầy đủ hạnh thanh tịnh
Trí tuệ hồi hướng các công đức
Đem tất cả lợi lạc chúng sinh.
Người ấy tích tập các nghiệp thiện
Vô lượng, vô biên không thể đếm
Muốn cho chúng sinh tu tập hết
Đạt được trí sâu khó nghĩ bàn.
Khắp vì tất cả chúng sinh nên
Ở trong địa ngục vô lượng kiếp
Tâm Bồ-tát thường không biếng nhác
Quyết định đem công đức hồi hướng,
Không cầu thanh sắc các hương vị
Cũng không hy vọng tất cả xúc
Chỉ cầu trí vô thượng tối thắng
Độ thoát tất cả các chúng sinh.
Trí Bồ-tát tịnh như hư không
Thi hành vô lượng hạnh Đại sĩ
Hành động tối thắng theo tịnh nghiệp
Vô lượng tiếng khen, thường tu hành.
Bồ-tát du hành các thế giới
Thường làm an ổn các chúng sinh
Làm cho tất cả đều hoan hỷ
Tu hạnh Bồ-tát không nhàm chán,
Diệt trừ tất cả tâm cấu uế
Tư duy tu tập trí vô thượng
Không cầu an lạc cho riêng mình
Thường muốn lợi ích khắp chúng sinh.
Bồ-tát hồi hướng đến bờ kia
Trừ diệt vô lượng tâm uế độc
Tu tập đầy đủ các công đức
Thanh tịnh của cả ba đời Phật.
Bồ-tát chưa từng nhiễm trước sắc
Thọ, tưởng, hành, thức cũng như vậy
Không trú vào Tam-muội nào cả
Có các công đức đều hồi hướng,
Các loại chúng sinh, Phật biết đến
Đều bảo hộ hết, không để sót
Độ thoát tận cùng các chúng sinh
Là hạnh thù thắng của Bồ-tát.
Tất cả tâm Bồ-tát an trú
Khai ngộ rộng lớn không thể nêu
Lìa si, chánh niệm, hộ trì căn
Nghiệp thân, miệng, ý thường an tịnh,
Tất cả các pháp trong và ngoài
Cũng đều hư vọng, chẳng chân thật
Như gió giữa trời, không chướng ngại
Tâm hành Bồ-tát cũng như vậy.
Thân nghiệp hành động thường thanh tịnh
Làm cho chư Phật đều hoan hỷ
Lời nói chân thật của Tối Thắng
Ý thường hướng về các Như Lai.
Mười phương vô lượng các thế giới
Đều đến gặp các Bậc Tối Thắng
Nơi ấy, chiêm ngưỡng Đấng Đại Bi
Đều cung kính cúng dường tất cả.
Tâm thường xa lìa tất cả ác
Ở giữa đại chúng không sợ sệt
Tâm thường trú ở đạo của Phật
Nó là ao mát của ba cõi,
Phân tích rõ ràng tất cả pháp
Thông hiểu đầy đủ có và không
Luôn luôn hướng đến chân pháp tánh
Thể nhập Tam-muội Thắng vô tránh.
Tu tập hạnh kiên cố Bồ-tát
Tất cả chúng sinh chẳng hoại được
Học thông hiểu rõ nghĩa sâu xa
Với pháp ba đời, không chấp trước,
Hồi hướng tất cả đến bờ kia
Khiến khắp chúng sinh đều thanh tịnh
Xa lìa tất cả các nhiễm trước
Hành động Bồ-tát không lệ thuộc,
Đối với ngôn ngữ các chúng sinh
Bồ-tát thông suốt bằng trí tuệ
Bàn luận lưu loát không nhiễm ái
Tâm luôn an trú nơi tự tại.
Bồ-tát hành hồi hướng như vậy
Kho công đức vô lượng tâm thiện
Làm cho các thế giới mười phương
Tất cả Như Lai đều hoan hỷ.

Này Phật tử! Hồi hướng bất hoại thứ hai của Đại Bồ-tát là gì?

Vị Bồ-tát này có lòng tin không thay đổi với các Đức Như Lai trong ba đời. Tất cả chư Phật đều hoan hỷ. Đối với các Bồ-tát dù cho chỉ là vị mới phát tâm cầu căn lành của Bồ-tát và Nhất thiết trí cũng có lòng tin không thay đổi. Đối với tất cả pháp của Phật, bằng trực tâm hướng thẳng đến, được lòng tin không thay đổi. Đối với lời dạy của chư Phật được lòng tin không đổi. Giữ gìn tất cả pháp của Như Lai, được lòng tin không đổi. Bằng mắt thương yêu nhìn khắp tất cả, đem căn lành hồi hướng, làm cho chúng sinh ấy được lợi hoàn hảo và lòng tin không đổi.

Đối với căn lành bạch tịnh được lòng tin không hoại. Tại sao? Vị Đại Bồ-tát này tu tập tất cả các căn lành, đối với tất cả Bồ-tát hồi hướng được lòng tin không hư hoại, trước tâm giải thoát được mỹ mãn.

Đối với các Pháp sư của tất cả Bồ-tát, được lòng tin không hư hoại, tưởng đầy đủ như là Như Lai.

Đối với thần lực tự tại của Như Lai được lòng tin không hư hoại, tin chắc chắn vào sự không thể nghĩ bàn của chư Phật.

Đối với tất cả phương tiện của Bồ-tát được lòng tin không hư hoại, nắm vững vô lượng, vô số các loại cảnh giới của nghiệp.

Này Phật tử! Đại Bồ-tát an trú vào lòng tin không thể hoại như vậy, đối với chư Phật, Bồ-tát, Thanh văn, Duyên giác, chánh giáo của Phật, tất cả chúng sinh với vô lượng cảnh giới như vậy mà trồng các căn lành, phân biệt các căn lành, nuôi dưỡng tâm Bồ-đề, tu tập đại Từ sinh ra các căn lành, tu nhiều đại Bi bình đẳng quán sát, học pháp Phật học, tùy thuận chư Phật, nắm giữ tất cả căn lành thanh tịnh, vào sâu nghĩa thật, tích tập kho công đức, thực hành đại bố thí, tu các công đức, bình đẳng quán sát cả ba đời.

Đại Bồ-tát với các căn lành công đức như vậy, hồi hướng Nhất thiết trí, thường thấy chư Phật, thân cận Thiện tri thức, thường gặp gỡ vô lượng Bồ-tát. Niệm Nhất thiết trí tâm không tán loạn, ghi nhận lời Phật dạy, phát tâm hộ pháp, giáo hóa thành thục tất cả chúng sinh. Tâm không xa lìa hồi hướng xuất thế gian, cúng dường bảo hộ tất cả Pháp sư, hiểu rõ các pháp, tu tập viên mãn tất cả đại nguyện.

Đại Bồ-tát tinh cầu tu tập vô lượng căn lành như vậy, tích tập phát triển các căn lành, chánh niệm tư duy quán sát các nghĩa chân thật của cảnh giới, cung kính cúng dường, đầy đủ uy nghi, căn lành hồi hướng.

Sau khi đem căn lành hồi hướng rồi, Đại Bồ-tát suy nghĩ: “Những y báo do căn lành này hồi hướng khiến cho ta khi tu tập hạnh Bồ-tát, trong từng niệm thấy tất cả Phật, làm cho chư Phật ấy đều rất hoan hỷ.”

Đối với Đức Như Lai Ứng Cúng Chánh Đẳng Giác thì cúng dường đúng pháp. Dùng vô số các vật như vật báu, hoa, hương, hương xoa, vòng hoa, y phục, lọng, tràng phan, phướn, trang sức, vật trang nghiêm, sự cung cấp, hương bột, tin thích, kính nhớ, tịnh tín, hương kiên cố, thức ăn thượng hạng, cung kính, lễ bái, chỗ ngồi bằng tất cả quý báu, tòa ngồi bằng tất cả hoa, tòa ngồi bằng tất cả hương, tòa ngồi bằng tất cả vòng hoa, tòa ngồi bằng tất cả vòng hoa, tòa ngồi bằng tất cả Chiên-đàn thanh tịnh, tòa ngồi bằng tất cả y phục, tòa ngồi bằng tất cả Kim cang, tòa ngồi bằng tất cả Ma-ni báu, tòa ngồi bằng tất cả lụa báu, tòa ngồi bằng tất cả màu sắc báu, tất cả luân báu, tất cả luân hoa, tất cả luân hương, tất cả luân vòng hoa đẹp, tất cả luân y báu, tất cả luân báu trang nghiêm, tất cả luân bằng lụa báu được dựng lên, tất cả luân báu Đa-la cao vút, tất cả luân lan can, tất cả lưới luân báu che giăng ở trên, tất cả cung điện báu đẹp, trang hoàng đặc biệt hơn cả của chư Thiên.

Có vô số các cung điện như cung điện bằng tất cả hoa, hương, vòng hoa báu, Chiên-đàn, kho tàng Chiên-đàn cứng rắn, kho tàng hương thơm cứng rắn, Kim cang, Ma-ni báu đều xinh đẹp đặc biệt hơn cả chư Thiên.

Có vô số các loại cây như cây bằng tạp bảo, các loại hương, các vải báu, âm nhạc hay, âm thanh hay, báu không chán, phướn lụa báu rũ xuống, báu trang nghiêm. Tất cả hoa, tất cả vòng hoa, tất cả hương thơm, tất cả hương thoa, tất cả lọng, tất cả phướn, tất cả tràng phan, có vô số những cây báu đẹp như vậy, trang nghiêm đặc biệt trang hoàng vô số các cung điện.

Có vô số sự trang nghiêm cho lan can, cửa sổ báu, lầu đài báu, trướng bên trong, hình bán nguyệt, lầu đài, trướng báu.

Có vô số lưới báu trắng giăng ở trên, đốt vô số hương thơm bất tận, vô số vải báu trải trên đất. Bằng vô số dụng cụ trang nghiêm ấy trang hoàng các cung điện hơn cả Thiên cung.

Đem vô số sự cúng dường thượng hạng như vậy trong vô lượng, vô số không thể nêu bày, không thể nêu bày hết kiếp để điều phục các căn, chí tâm cúng dường tất cả Như Lai. Sau khi các bậc Tối thắng ấy Niết-bàn, cúng dường Xá-lợi, muốn làm cho tất cả chúng sinh đều được hoan hỷ. Nhiếp thủ tất cả căn lành của chúng sinh, làm cho tất cả chúng sinh xa lìa vô lượng khổ, phát tâm Bồ-đề, khiến cho tất cả chúng sinh tự trang nghiêm bằng sự trang nghiêm vĩ đại, vô lượng sự trang nghiêm vượt qua tất cả cảnh giới của chúng sinh. Chỉ bày Phật pháp thật khó gặp được, viên mãn vô số năng lực của các Như Lai, tín tâm thanh tịnh cúng dường bậc Đạo Sư, thọ trì gìn giữ tất cả Phật pháp.

Cúng dường chư Phật trong hiện tại như vậy, sau khi Niết-bàn lại cúng dường xá-lợi, trong vô lượng kiếp kể ra vật cúng dường cũng không thể cùng tận. Chư Phật thành tựu vô lượng công đức, giáo hóa độ thoát tất cả chúng sinh, ta thường cúng dường các Như Lai ấy mà tâm không thoái lui, không dừng nghỉ, chưa từng biếng nhác, không có phiền não cũng không chấp trước, chẳng có tâm tưởng đến. Đối với các pháp ta không bị nhiễm trước, cũng không lệ thuộc, không mê mờ với căn lành, cũng không chấp trước.

Dùng ấn thật pháp ấn vào pháp môn tu tập, sinh ra tất cả pháp, trú ở chỗ Phật ở, quán tánh vô sinh. Dùng ấn pháp giới ấn vào sự phát tâm, thọ trì hồi hướng thanh tịnh của Như Lai, quán sát bình đẳng về pháp tánh để hồi hướng, thể nhập phương tiện vô hành để sinh ra các hành. Tâm xả tất cả hồi hướng, vô lượng phương tiện hồi hướng, lìa tất cả hữu hồi hướng, an trú vào lìa tướng, phương tiện tu tập các pháp môn căn lành hồi hướng.

Bồ-tát từ khi bắt đầu phát tâm tu tập tất cả các căn lành tốt đẹp đều đem hồi hướng tất cả. Vì căn lành này không bị phá hoại ở trong sinh tử, cầu Nhất thiết trí mà tâm không thoái chuyển, ở trong tất cả hữu mà tịch định không loạn, độ thoát tất cả chúng sinh mà không chấp vào sinh tử. Chứng đắc trí vô ngại, tu hạnh Bồ-tát, mà căn lành ấy không thể cùng tận, không bị các pháp thế gian làm hư hoại, đầy đủ các Ba-la-mật thanh tịnh, đạt tận cùng năng lực của Nhất thiết trí.

Đại Bồ-tát lìa bỏ si ám thành tựu tâm Bồ-đề như vậy, chiếu sáng tất cả, phát triển pháp Bạch tịnh, căn lành hồi hướng đầy đủ các hạnh, trực tâm thanh tịnh quán sát bình đẳng. Vào sâu các pháp biết nghiệp như huyễn, nghiệp báo như ánh chớp, các hành như biến hóa, nhân duyên sinh pháp như tiếng vọng, hạnh Bồ-tát như hình bóng. Không chấp trước vào sự phát sinh mắt pháp, hành động không đối tượng làm, tánh tịch diệt. Vào pháp hữu vi hay vô vi, đối với tất cả pháp đều thông đạt không hai, hiểu rõ tánh như thật. Phân biệt tất cả hành tướng của Bồ-tát, không chấp trước các tướng, biết hoàn toàn các phương tiện để đồng sự với người khác, không bỏ các pháp thiện bạch tịnh, xa lìa tất cả các chướng ngại, không chướng ngại không chấp trước, thường được chư Phật hộ niệm, xa lìa ngu si.

Đại Bồ-tát như vậy thành tựu căn lành sinh ra thiện pháp, không phá hoại nghiệp báo, thấy rõ sự chân thật, hiểu rõ hồi hướng. Bằng sức phương tiện sinh ra nghiệp báo, cùng tận pháp tánh, đến bờ kia, hiểu rõ các pháp, hồi hướng đại trí, căn lành các nghiệp, tâm ấy thanh tịnh, thi hành việc không sự thi hành.

Đại Bồ-tát hồi hướng căn lành như vậy, muốn độ thoát tất cả chúng sinh, không gián đoạn hạt giống giác ngộ, diệt trừ các nghiệp báo ác. Hồi hướng tất cả chúng sinh, đắc vô lượng trí thành Nhất thiết trí, lìa cảnh giới thế gian, diệt các phiền não, thanh tịnh rốt ráo thành tựu trí tuệ. Vào phương tiện sâu xa, xả bỏ sinh tử, thành tựu vô lượng căn lành của chư Phật, phá tan nghiệp ma, được ấn pháp bình đẳng để ấn định các nghiệp, tùy thuận Nhất thiết trí giác ngộ vô thượng.

Đại Bồ-tát thực hành hồi hướng bằng căn lành như vậy, căn lành sáng tỏ chiếu sáng tất cả, thành tựu đầy đủ thừa Nhất thiết trí.

Này Phật tử! Đây là hồi hướng bất hoại thứ hai của Đại Bồ-tát.

Đại Bồ-tát an trú trong hồi hướng này thì được gặp vô lượng, vô số chư Phật, chắc chắn được vô lượng diệu pháp thanh tịnh. Đối với khắp chúng sinh, được tâm bình đẳng, không còn ngu si, vào tất cả pháp, được thần lực tự tại của Như Lai, thu phục các ma diệt các nghiệp ma, đầy đủ tâm Bồ-đề sinh quý, được trí vô ngại, giác ngộ không do người khác. Đối với tất cả pháp, thấy ý nghĩa chân thật; đối với tất cả cõi Phật đều có thể thọ trì phân biệt tướng trạng của nó, trí tuệ đầy đủ chiếu khắp chúng sinh.

Đại Bồ-tát đem sức hồi hướng bất hoại này bao gồm tất cả căn lành để hồi hướng.

Bấy giờ, nương theo uy thần của Phật, Bồ-tát Kim Cang Tràng nhìn khắp mười phương, nói kệ rằng:

Đã tu vô lượng, vô số nghiệp
Bằng pháp chân thật không hư hoại
Làm cho chư Phật đều hoan hỷ
Đây là hồi hướng của bậc Trí.
Sự cúng dường Phật, khó nghĩ bàn
Bố thí, trì giới, giữ các căn
Vị ấy hồi hướng vì tất cả
Thanh tịnh vô lượng cho chúng sinh,
Tất cả các hoa hương thượng hạng
Vô lượng, vô số các vải báu
Các loại trang nghiêm và lọng báu
Cúng dường tất cả các Như Lai.
Vô số các vật cúng dường này
Trong vô số kiếp khó nghĩ bàn
Cung kính cúng dường Thầy Điều Ngự
Tâm thường hoan hỷ mãi không thôi,
Chuyên tâm chiêm ngưỡng Đấng Tối Thắng
Là đèn sáng rực giữa thế gian
Hiện tại chư Phật khắp mười phương
Đều hiện rõ ràng ở trước mắt.
Vô số kiếp không thể nghĩ bàn
Tu hành bố thí không nhàm chán
Vô số kiếp không thể nghĩ bàn
Tu các căn lành cũng không chán,
Phân biệt biết rõ các tâm tưởng
Quán sát như thật không hư vọng
Biết rõ hoàn toàn các căn tánh
Thường làm lợi ích các chúng sinh.
Tâm rất hoan hỷ không hạn lượng
Tín tâm thanh tịnh và cung kính
Trú thế vô lượng, vô biên kiếp
Để làm lợi ích cứu chúng sinh.
Sau khi chư Phật diệt độ rồi
Cúng dường xá-lợi không nhàm chán
Dùng vô lượng các loại báu đẹp
Xây dựng hằng hà sa tháp miếu,
Làm ra vô số các tôn tượng
Trang hoàng bằng kho vàng báu đẹp
Cao lớn nguy nga như núi chúa
Số nhiều vô lượng không nghĩ bàn,
Các công đức do tu học tích tập
Tốt đẹp bền vững không thể hoại
Bồ-tát biết rõ pháp hồi hướng
Phân biệt chẳng có cũng chẳng không.
Nếu ai tu hồi hướng như vậy
Công đức vô lượng không cùng tận
Trí tuệ thắng diệu quán các pháp
Đều hiểu các pháp không chỗ sinh,
Phương tiện tu tập khiến tâm tịnh
Đồng với tất cả Đức Như Lai
Bằng các phương tiện không cùng tận
Hồi hướng vô tận Như Lai tạng.
Phát khởi tâm Bồ-đề vô thượng
Không lệ thuộc tất cả thế gian
Đến khắp các thế giới mười phương
Tâm luôn tự tại giữa các chúng,
Phương tiện dẫn dắt tâm chúng sinh
Làm cho giác ngộ trở thành Phật
Tâm bình đẳng quán sát chúng sinh
Tìm cầu thật có không thể được.
Tất cả các pháp cũng như vậy
Biết rõ tánh nó không thật có
Hồi hướng mắt thanh tịnh không chấp
Xa lìa tất cả khổ thế gian,
Muốn làm các hữu đều thanh tịnh
Tâm không chấp lấy các tướng pháp
Phân biệt sở hữu, không sở hữu
Làm cho tâm tịnh rất hoan hỷ,
Không chấp trước vào một cõi Phật
Biết rõ các cõi Phật vô thường
Không chấp vào các pháp hữu vi
Cũng không nhiễm trước tự tánh pháp,
Phương tiện hồi hướng Nhất thiết trí
Tự trang nghiêm bằng trí vô thượng
Làm cho chư Phật đều hoan hỷ
Đó là hồi hướng của Bồ-tát.
Bồ-tát nhất tâm niệm chư Phật
Phương tiện thiện xảo trí vô thượng
Như các Như Lai, Vô Sở Trước
Khiến con được các công đức này,
Thường muốn cứu hộ các chúng sinh
Xa lìa vô lượng các nghiệp ác
Thường làm lợi ích tâm chúng sinh
Bằng tâm lợi ích không hư dối,
Dù ở nơi nào cũng hộ pháp
Thị hiện Niết-bàn mà chẳng diệt
Tất cả Như Lai không hai pháp
Nguyện con hồi hướng cũng như vậy.
Trong các cõi, khắp các thế giới
Không bị lệ thuộc pháp hữu vi
Bồ-tát vượt qua các ngôn ngữ
Cũng không chấp trước, chẳng ngôn ngữ,
Tất cả các Như Lai mười phương
Đều giữ vững tất cả các pháp
Thọ sinh nhưng lìa tất cả cõi
Thật chứng tận cùng chỗ lìa sinh,
Dùng một trang nghiêm, trang hoàng khắp
Cũng không phân biệt các pháp này
Thông hiểu thế gian đều hư vọng
Tất cả các hành không thật có.

*********

Này Phật tử! Hồi hướng thứ ba của Đại Bồ-tát đối với tất cả chư Phật là gì?

Đại Bồ-tát này tùy thuận học theo sự hồi hướng của chư Phật trong ba đời. Khi tu Bồ-tát hạnh, Bồ-tát này thấy các sắc tốt xấu thì tâm vẫn thanh tịnh không ưa ghét, hoan hỷ vui mừng với tâm vô hại. Xa lìa phiền não được tâm chánh trực, thân ý nhu nhuyến, các căn thanh tịnh.

Khi Bồ-tát này được an lạc như vậy, hồi hướng đến chư Phật bằng ý nghĩ: “Tất cả chư Phật tuy có sự an lạc tịnh diệu vô thượng, nhưng vẫn nguyện chư Phật được đầy đủ sự an lạc nơi cư trú, đầy đủ không thể kể hết an lạc của Tam-muội của Phật, thành tựu đầy đủ vô lượng an lạc của đại Bi, thành tựu đầy đủ không thể kể hết an lạc giải thoát của Phật, có đầy đủ an lạc thần túc tự tại của chư Phật, đầy đủ an lạc tối diệu tôn trọng vô thượng. Che khắp các Như Lai, làm cho đầy đủ vô lượng sức an lạc của chư Phật, xa lìa tất cả lạc của cảm giác, an lạc không thay đổi với vô thượng tịnh trụ, đầy đủ pháp môn vô ngại, tâm thường tịch trụ không tán loạn, hạnh không hai của Phật, an lạc không thể hư hoại.”

Đại Bồ-tát đem căn lành như vậy hồi hướng đến chư Phật rồi, lại hồi hướng cho tất cả Bồ-tát, làm mãn nguyện người chưa mãn nguyện, làm thanh tịnh trực tâm của người chưa thanh tịnh trực tâm, làm viên mãn các Ba-la-mật của người chưa viên mãn, an trú vào tâm giác ngộ như Kim cang. Đối với Nhất thiết trí không bị thoái chuyển, không bỏ đại trang nghiêm, giữ gìn cửa giác ngộ và các căn lành, làm cho tất cả chúng sinh xa lìa phóng dật, phát tâm giác ngộ, viên mãn ý nguyện, an trú vào chỗ ở của các Bồ-tát, được các căn sáng suốt của Bồ-tát, tu tập các căn lành, chứng Nhất thiết trí.

Đại Bồ-tát như vậy đem các căn lành hồi hướng đến các Bồ-tát rồi lại tiếp tục hồi hướng như: Hồi hướng đến tất cả chúng sinh; hồi hướng cho tất cả chúng sinh gặp Phật nghe thuyết pháp, cung kính thân cận Tăng; hồi hướng tất cả được chuyên tâm đầy đủ niệm Phật; hồi hướng niệm đầy đủ về Pháp tịnh diệu, hồi hướng niệm Tăng với sự cung kính tôn trọng; hồi hướng thấy Phật chưa từng xa lìa; hồi hướng thanh tịnh các tâm thanh tịnh, hồi hướng phân biệt các pháp Như Lai, hồi hướng thành tựu vô lượng công đức; hồi hướng thanh tịnh các căn lành thần thông; hồi hướng diệt tất cả sự nghi ngờ như Phật; hồi hướng khai hóa căn lành tất cả chúng sinh, Thanh văn, Duyên giác, Đại Bồ-tát.

Đối với tất cả chúng sinh cũng như vậy, làm cho tất cả chúng sinh vĩnh viễn xa lìa các khổ nạn trong tất cả cõi ác như địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, chỗ Diêm-la vương.

Đại Bồ-tát làm cho tất cả chúng sinh ấy đều phát tâm Vô thượng Bồ-đề, nuôi dưỡng tâm Vô thượng Bồ-đề, nhất tâm chuyên cầu Nhất thiết trí, từ bỏ việc phỉ báng chánh pháp chư Phật, thường ưa thích đầy đủ địa vị Nhất thiết trí, làm cho tất cả chúng sinh rốt ráo thanh tịnh được Nhất thiết trí. Sự tu hành căn lành của các Đại Bồtát dùng các đại nguyện giữ gìn thi hành các hạnh, tích tụ các tích tụ, nuôi dưỡng các nuôi dưỡng, làm cho viên mãn rộng lớn đầy đủ. Nếu khi Bồ-tát ở tại gia, sống chung với vợ con, nhưng chưa bao giờ xa lìa tâm cầu giác ngộ. Chánh niệm tư duy cảnh giới Nhất thiết trí, tự độ độ người, trực tâm bình đẳng, phương tiện thị hiện vợ con, quyến thuộc.

Bồ-tát bằng trí tuệ với phương tiện thiện xảo nên đều thành tựu giải thoát hoàn toàn. Tuy sống chung với quyến thuộc mà tâm không lệ thuộc. Vì nguyện đại Bi nên sống ở tại gia, vì đại Bi nên tùy thuận vợ con, không bị chướng ngại trong khi thực hành đạo Bồ-tát.

Đại Bồ-tát khi ở tại gia, nên đem căn lành bằng tâm Nhất thiết trí như vầy mà hồi hướng. Đó là mặc y phục, dùng thức ăn uống, dùng thuốc thang, đi, đứng, nằm, ngồi với nghiệp thân, miệng, ý đều hoàn toàn thanh tịnh, chế ngự các căn đều luôn ổn định, tắm rửa thân thể, bước đi thong thả định tĩnh. Xoay người nhìn lại, giở chân hạ chân, ngủ hay thức đều không mất uy nghi, hộ trì trọn vẹn các căn chưa bao giờ tán loạn. Bằng các hành động cử chỉ như vậy, Đại Bồ-tát chưa bao giờ xa lìa tâm Nhất thiết trí đem căn lành hồi hướng, làm lợi ích an lạc tất cả chúng sinh. Vô lượng các nguyện đều được thành tựu, gìn giữ vô lượng căn lành rộng lớn, tu tập căn lành cứu hộ tất cả, trừ diệt tất cả phóng dật kiêu mạn, nhất tâm chánh niệm Nhất thiết chủng trí. Muốn giác ngộ tất cả Bồ-đề của chư Phật, xả bỏ phiền não và những pháp thuận theo phiền não, tu tập tất cả sự học vấn của Bồ-tát. Đối với đạo Nhất thiết trí không bị chướng ngại, thích tu tập trí tuệ và các căn lành, thường ưa ái ngữ, tăng trưởng căn lành, khiến cho tất cả chúng sinh xa lìa khổ não, không lệ thuộc hành động của mình, nhất tâm thọ trì giáo pháp chư Phật. Đây là Đại Bồ-tát ở tại gia với quyến thuộc mà giữ gìn căn lành, nhất tâm hồi hướng Vô thượng Bồ-đề.

Đại Bồ-tát lại suy nghĩ: “Cho đến đối với con chó nhỏ hay các súc sinh khác ta cũng khiến chúng tu tập đầy đủ hạnh không phóng dật, thoát khỏi cảnh giới súc sinh, được nhiều an lạc, hoàn toàn giải thoát, vượt qua hẳn biển khổ, khổ thọ, khổ ấm, khổ giác, các khổ tăng thượng, khổ hạnh, khổ tạng, khổ căn, nhà khổ. Đối với tất cả vô lượng, vô biên sự khổ như vậy, Đại Bồ-tát muốn trừ diệt hết cho tất cả chúng sinh, đem căn lành thanh tịnh hồi hướng Vô thượng Bồ-đề. Dạy bảo tất cả chúng sinh hồi hướng đến cảnh giới như vậy, chánh niệm tư duy các căn lành ấy và lấy làm hàng đầu.”

Đó là hồi hướng Nhất thiết chủng trí, phát tâm Bồ-đề, giữ gìn tâm Bồ-đề, xa lìa sinh tử, tu tập căn lành, ra khỏi vực sinh tử, được an lạc vô ngại của các Như Lai, tu tập theo tâm Từ của Như Lai bao trùm khắp mười phương, đại Bi lợi ích tất cả chúng sinh, làm cho tất cả được an lạc thanh tịnh, giữ gìn tất cả các căn lành thù thắng, làm cho tất cả chúng sinh đều hoàn thành Phật pháp, lìa xa tất cả cảnh giới của ma, đi vào cảnh giới sâu xa của Như Lai, cứu vớt tất cả thế gian, đầy đủ tất cả căn lành của Như Lai, trú trong pháp bình đẳng của ba đời chư Phật.

Các Đại Bồ-tát đang làm những căn lành và sẽ làm những căn lành đều đem hồi hướng.

Bồ-tát lại suy nghĩ: “Như sự tu hành của các Bồ-tát trong Bồtát trong quá khứ, đã cung kính cúng dường tất cả chư Phật, độ thoát chúng sinh, cứu hộ tất cả, tu tập các căn lành, hồi hướng đến giác ngộ mà không chấp trước. Không y vào sắc, không dính mắc vào thọ, không điên đảo tưởng, không tạo tác hành, không nắm giữ thức, xa lìa sáu nhập, không trú nơi pháp thế gian, vui thích pháp xuất thế. Biết pháp như không, rốt ráo đạt đến bờ bên kia chẳng còn cảnh giới. Chiếu rõ các pháp không sinh không diệt, không có tướng chân thật, không sự nhiễm trước, không còn hư vọng đối với tất cả các pháp. Không chỗ quy hướng, không sự phá hoại, an trú thật tế, không có tự tánh, xa lìa các tánh. Trong một niệm hiểu rõ tất cả pháp, lấy vô tánh làm tánh, thường ưa thích thực hành căn lành toàn diện, đầy đủ công đức viên mãn của Như Lai, đều hiển hiện tất cả. Như tất cả căn lành hồi hướng của các Đức Như Lai trong quá khứ, con cũng như vậy, ưa thích pháp như vậy, phát tâm như vậy, tu tập các pháp không trái với các pháp tướng. Những pháp khởi lên cũng như huyễn hóa, ánh chớp, trăng trong nước, bóng trong gương. Các pháp do nhân duyên hòa hợp giả giữ gìn, đều phân biệt rõ từ nhân duyên sinh, chỉ có địa vị Như Lai là nơi rốt ráo.”

Đại Bồ-tát theo như vậy mà học sự học hồi hướng của chư Phật quá khứ, đối với hiện tại và vị lai cũng như vậy.

Đại Bồ-tát học sự học hồi hướng căn lành của chư Phật ba đời rồi, lại suy nghĩ: “Như chư Phật ấy biết vì sự hồi hướng của các Bồtát, ta cũng hồi hướng như vậy.”

Đó là các hồi hướng đệ nhất, thắng, tối thắng, thượng, vô thượng, vô đẳng, vô đẳng đẳng, vô tỷ, vô đối, tôn, diệu, bình đẳng, chánh trực, đại công đức, đại nguyện, minh tịnh, thiện, thanh tịnh, lìa ác, không tùy theo ác.

Như vậy, các Đại Bồ-tát đem các căn lành hồi hướng rồi, thành tựu thân, miệng, ý thanh tịnh tốt đẹp. Tất cả hành động đều thanh tịnh, trụ ở chỗ của Bồ-tát ở, xa lìa chỗ ở ác, tu tập căn lành, xa lìa nghiệp ác của thân, miệng, ý. Tâm không lựa chọn, tu Nhất thiết trí, trú ở chỗ vô lượng, thể nhập tất cả pháp hoàn toàn tự tại. Tu tập pháp xuất thế, không bị nhiễm trước pháp thế gian, phân biệt liễu tri vô lượng các nghiệp, thành tựu phương tiện thiện xảo hồi hướng các pháp, tâm không lệ thuộc.

Này Phật tử! Đây là pháp hồi hướng thứ ba như chư Phật của Đại Bồ-tát. Bồ-tát an trú vào hồi hướng này rồi, đi sâu vào tất cả nghiệp của Như Lai, đạt đến các công đức thắng diệu của các Như Lai, đi vào cảnh giới trí tuệ thanh tịnh sâu xa, không xa lìa tất cả việc làm của các Bồ-tát, phân biệt hoàn toàn phương tiện thiện xảo, vào sâu pháp giới bằng phương tiện thiện xảo, tuần tự thành tựu căn lành của Bồ-tát, thể nhập tất cả tánh của chư Như Lai. Bằng phương tiện thiện xảo phân biệt rõ biết vô lượng, vô biên tất cả các pháp. Tuy thị hiện sống trong thế giới nhưng đối với các thế giới tâm không chấp trước.

Này Phật tử! Đây là hồi hướng như chư Phật của Đại Bồ-tát.

Bấy giờ, nương theo thần lực của Phật, Bồ-tát Kim Cang Tràng nhìn khắp mười phương, nói kệ:

Tất cả vị Đại Bồ-tát ấy
Tu pháp hồi hướng Phật quá khứ
Cũng học vị lai và hiện tại
Sự hành của vô lượng Đạo Sư.
Tất cả các hỷ lạc vi diệu
Được chư Phật Như Lai khen ngợi
Thành tựu mắt pháp sáng, thanh tịnh
Hồi hướng tất cả các Đạo Sư.
An lạc thân căn của Bồ-tát
Và mắt, tai, mũi, lưỡi các căn
Vô lượng an lạc rất thượng diệu
Hồi hướng đến các Đấng Tối Thắng.
Các căn lành trong khắp thế gian
Sự thành tựu của các Như Lai
Bao gồm tất cả không dư sót
Tùy hỷ hồi hướng lợi chúng sinh.
Bồ-tát tùy hỷ không hạn lượng
Và cũng hồi hướng tất cả chúng
Hỷ lạc Đấng Sư Tử trong đời
Nguyện cho chúng sinh đều đầy đủ.
Tri kiến của chư Phật Như Lai
An lạc, thanh tịnh của chúng sinh
Muốn cho chúng sinh đều được cả
An lạc bật đèn sáng giữa đời,
Các an lạc Bồ-tát có được
Hồi hướng chư Phật vì chúng sinh
Muốn cho chúng sinh thường an ổn
Hồi hướng cho họ, không chấp trước.
Khi Bồ-tát tu hồi hướng này
Phát khởi vô lượng tâm đại Bi
Như đức hồi hướng mà Phật biết
Khiến ta được thành đạo đầy đủ,
Như tri kiến các Đấng Tối Thắng
Diêụ lạc của thừa Nhất thiết trí
Các hạnh của ta ở giữa đời
Vô lượng an lạc của Bồ-tát.
Các loại hỷ lạc trong các cõi
Hỷ lạc do điều phục các căn
Cũng đều hồi hướng cho chúng sinh
Nguyện tất cả thành Trí vô thượng,
Thân, miệng, ý tịnh lìa các ác
Phương tiện thiện xảo tâm bình đẳng
Đem hồi hướng hết cho chúng sinh
Khiến họ đều thành Trí vô thượng.
Bồ-tát tu tập các nghiệp thiện
Chứa nhóm vô lượng công đức tịnh
Tùy thuận Như Lai sinh nhà Phật
Tịch nhiên, không loạn, hồi hướng đến,
Trong vô lượng cõi khắp mười phương
Bảo hộ tất cả các chúng sinh
Vô lượng căn lành đều hồi hướng
Khiến khắp chúng sinh đều an lạc.
Không cầu an lạc cho tự thân
Muốn cho tất cả đều an lạc
Xa lìa tất cả tâm hư vọng
Hiểu hết các pháp không, vô ngã,
Các Đức Tối Thắng khắp mười phương
Và các Phật tử của Phật ấy
Đem các công đức mà hồi hướng
Mau được rốt ráo đạo Vô thượng.
Tất cả chúng sinh khắp thế gian
Bằng tâm bình đẳng bảo hộ hết
Đem hết tịnh nghiệp đã làm được
Khiến chúng sinh ấy mau thành Phật.
Vô lượng, vô biên nguyện thanh tịnh
Được Bậc Tối Thắng đã giảng dạy
Đều thanh tịnh cả, lìa các cấu
Khiến khắp Phật tử đều viên mãn.
Tất cả công đức đều hồi hướng
Làm cho các cõi Phật mười phương
Trang nghiêm xinh đẹp và thanh tịnh
Bồ-tát học hồi hướng như vậy.
Tâm không so sánh về hai pháp
Vì giác ngộ rõ pháp không hai
Các pháp không hai, chẳng không hai
Không còn vọng tưởng là Phật tử.
Đối với tất cả tưởng thế gian
Hoàn toàn vượt qua hết tất cả
Cũng không hoại tưởng hay chẳng tưởng
Quyết định rõ hết tưởng chúng sinh.
Các Bồ-tát ấy, thân trụ rồi
Thì ý thanh tịnh không cấu uế
Miệng cũng thanh tịnh không tán loạn
Nên biết ý tịnh, không chấp trước,
Nhất tâm chánh niệm Phật quá khứ
Rõ biết các Đạo sư tương lai
Hiện tại, Thiên Nhân Tôn mười phương
Bồ-tát học hết pháp Phật ấy.
Vô lượng Đấng Tối Thắng ba đời
Trí tuệ sáng suốt không chướng ngại
Tu hành vô lượng cầu giác ngộ
Hồi hướng lợi ích cho thế gian,
Tuệ thù thắng, tuệ rộng lớn ấy
Tuệ bốn Đế, tuệ lìa điên đảo
Chân tuệ bình đẳng, tuệ thanh tịnh
Tuệ tối thượng đều hồi hướng cả.

Này Phật tử! Pháp hồi hướng đến tất cả chỗ thứ tư của Đại Bồ-tát là gì?

Khi tu tập tất cả căn lành, Bồ-tát này đem căn lành ấy hồi hướng như thế này: “Nguyện đem năng lực công đức của căn lành này đến tất cả mọi nơi, cũng như thật tế không nơi nào chẳng đến. Đến tất cả thế gian, hữu tình, chúng sinh, cõi, pháp, hư không, ba đời, pháp hữu vi và vô vi, ngôn ngữ, âm thanh. Căn lành này của tôi cũng như vậy, đi đến chỗ tất cả các Đức Như Lai, cúng dường tất cả chư Phật ba đời, viên mãn các nguyện của chư Phật quá khứ, trang nghiêm đầy đủ chư Phật tương lai, hiện tại trang nghiêm chư Phật và vô lượng đại chúng trong thế giới nhiều như pháp giới hư không, đều cúng dường đến các vị ấy cũng như chư Thiên. Ngay trong một niệm, đều sung mãn cả vô lượng, vô biên tất cả thế giới bằng pháp hồi hướng với căn lành vô ngại, trí tuệ công đức rộng lớn.”

Đại Bồ-tát lại suy nghĩ: “Đem tất cả các thế giới căn lành này

bằng hư không pháp giới. Tánh thế giới do các nghiệp phát sinh, các thế giới không thể nêu bày hết khắp mười phương, không thể nêu bày cõi Phật. Các loại thế giới với cảnh giới chư Phật, thế giới không bằng nhau, thế giới lật úp lại, thế giới cúi xuống, thế giới di chuyển. Trong tất cả thế giới khác, chư Phật hiện tại hiển hiện vô lượng thần lực tự tại.”

Lại có Bồ-tát hiểu rõ hư không pháp giới đồng tất cả các pháp, vì các chúng sinh, trong tất cả thế giới, hiện làm Như Lai xuất hiện ra đời, thị hiện đạt đến trí Nhất thiết xứ, vô lượng, vô biên sự tự tại thọ sinh. Pháp thân ở khắp, không hoại pháp giới, bình đẳng vào khắp kho tàng thân phận, không sinh không diệt, hiện cho tất cả. Bằng phương tiện thiện xảo xuất hiện trong thế gian, phát khởi từ pháp tánh chân thật, kiên cố không bị xoay chuyển, được bảo trì không chướng ngại, sinh ra từ công đức vô ngại của chư Phật.

Đại Bồ-tát đối với các Như Lai Ứng Cúng Chánh Đẳng Giác, trồng các căn lành, dùng các loại hoa, các loại hương thơm, vòng hoa, lọng, phướn, tràng phan, trân bảo, đèn sáng, đem các vật cúng dường tốt đẹp ấy cúng dường tôn tượng và các tháp miếu. Đem tất cả các căn lành này mà hồi hướng; đem nhất tâm, tâm không loạn, tâm không động, tâm tôn trọng, tâm lìa sâu, tâm vô trú, tâm vô trước, tâm vô chúng sinh, tâm không gây hại, tâm tịch tĩnh mà hồi hướng.

Bồ-tát lại suy nghĩ: “Chư Phật cả ba đời trong tất cả kiếp đồng với pháp giới hư không, đầy đủ tướng tốt để tự trang nghiêm, đem sự trang nghiêm của pháp giới đẹp mà tự trang nghiêm. Hội chúng của chư Phật ấy đầy khắp tất cả các thế giới như hư không pháp giới, tùy thời xuất hiện ở thế gian, rất đúng lúc. Ta đem căn lành này mà hồi hướng cúng dường đến chư Phật.” Đem vô lượng lọng thơm, vô lượng phước thơm, vô lượng tràng phan thơm, vô lượng cung điện thơm, vô lượng lưới thơm, vô lượng tượng thơm, vô lượng ánh sáng thơm, vô lượng lửa thơm, vô lượng mây thơm, vô lượng tòa ngồi thơm, vô lượng bánh xe thơm, vô lượng chỗ ở thơm, vô lượng thế giới thơm, vô lượng núi chúa Tu-di thơm, vô lượng biển thơm, vô lượng sông thơm, vô lượng cây thơm, vô lượng vải thơm, vô lượng hoa sen thơm, đem vô lượng, vô số các vật trang nghiêm thơm ấy để cúng dường. Đem vô lượng lọng hoa như nói ở trên, cho đến vô lượng, vô số các hoa trang nghiêm để cúng dường; đem lọng hương xoa không thể nêu bày hết cho đến hương xoa trang nghiêm không thể nêu bày hết để cúng dường; đem lọng hương bột không thể nêu bày hết cho đến hương bột trang nghiêm không thể nêu bày hết để cúng dường; đem vô số lọng vải đẹp cho đến vô số vải đẹp trang nghiêm để cúng dường; đem vô biên lọng báu cho đến vô biên các báu trang nghiêm để cúng dường; đem vô lượng lọng đèn sáng cho đến vô lượng các đèn trang nghiêm để cúng dường; đem lọng đẹp trang nghiêm không thể nêu bày hết cho đến vật dụng trang nghiêm không thể nêu bày hết để cúng dường. Đem lọng báu Ma-ni, phước báu Ma-ni, tràng phan báu Ma-ni, trướng báu Ma-ni, lưới báu Ma-ni, vòng hoa báu Ma-ni, ánh sáng báu Ma-ni, lửa báu Ma-ni, mây báu Ma-ni, tòa ngồi báu Ma-ni, bánh xe báu Ma-ni, cung điện báu Ma-ni, thế giới báu Ma-ni, núi chúa Tudi báu Ma-ni, biển báu Ma-ni, sông báu Ma-ni, cây báu Ma-ni, vải báu Ma-ni, hoa sen báu Ma-ni, các vật trang nghiêm bằng báu Ma-ni không thể nêu bày hết như vậy đem cúng dường.

Trong từng mỗi cảnh giới đều có vô số lan can, sự trang nghiêm, cung điện, lầu đài, lầu đài liên kết nhau, hình bán nguyệt. Trang nghiêm trướng che bên trong, cửa sổ báu vật trong sáng, bảo vật xinh đẹp làm thanh tịnh khắp cả thế giới không sót nơi nào cả. Tự trang nghiêm như vậy, làm cho tất cả chúng sinh thoát khỏi sinh tử, thành tựu địa vị mười Lực của Như Lai, đối với các pháp được ánh sáng pháp vô ngại. Giáo hóa chúng sinh đem tất cả căn lành hồi hướng; giáo hóa chúng sinh với tâm vô lượng bao trùm các cõi Phật nhiều như hư không pháp giới, đến khắp mọi nơi, sinh ra vô lượng căn lành cả ba đời, khiến cho tất cả chúng sinh đều gặp được vô lượng chư Phật, an trú trong tất cả căn lành, thành tựu Đại thừa, không chấp trước các pháp, đầy đủ các căn lành, rốt ráo được vô lượng hạnh. Vào khắp vô lượng, vô biên tất cả pháp giới đem căn lành hồi hướng, thể nhập thần lực tự tại của tất cả Như Lai, khiến cho tất cả chúng sinh nhờ nơi căn lành này được Nhất thiết trí, thành vô thượng đạo.

Cũng như vô ngã không rời các pháp, các căn lành của ta cũng như vậy, biết hết tất cả chư Phật để cung kính cúng dường; biết hết tất cả các pháp vì xa lìa các chướng ngại; biết hết tất cả Bồ-tát vì tận cùng tất cả đều đồng căn lành nhau; biết hết tất cả các hạnh Bồ-tát vì viên mãn các nguyện; biết hết tất cả ánh sáng pháp của Bồ-tát vì quyết định không còn trở ngại; biết hết thần lực tự tại của tất cả chư Phật để thành tựu tất cả căn lành; biết hết tất cả không sợ hãi của Phật lực để phát tâm vô lượng viên mãn tất cả; biết hết tất cả Tammuội, biện tài, môn Đà-la-ni của Bồ-tát, hiểu rõ thế gian không có hai pháp; biết hết tất cả phương tiện thiện xảo của chư Phật, thị hiện đại thần lực của Như Lai; biết hết sự đản sinh, đắc đạo, chuyển pháp luân, thị hiện Niết-bàn của chư Phật cả ba đời nên phát sinh sự cúng dường giáo hóa chúng sinh; biết hết tất cả thế giới để trang nghiêm cõi Phật vô thượng; biết hết tất cả kiếp không gián đoạn tất cả hạnh Bồ-tát; biết hết tất cả các cảnh giới nên thị hiện thọ sinh; biết hết tất cả chúng sinh với đầy đủ hạnh Bồ-tát của Phổ Hiền; biết hết tất cả chúng sinh để thanh tịnh các phiền não; biết hết tất cả các căn của chúng sinh để giáo hóa vô lượng; biết hết tất cả các dục của chúng sinh để thanh tịnh các phiền não; biết hết tất cả chúng sinh để hiểu rõ chúng sinh như biến hóa; biết hết cả tánh Như Lai để thọ trì giữ gìn tất cả Phật pháp.

Đại Bồ-tát đem căn lành hồi hướng như vậy, biết rõ không thật có, không nhận lấy quả báo hư vọng của nghiệp, không giữ lấy nghiệp hư vọng trong quả báo. Lìa các hư vọng, đi vào pháp giới sâu xa, tâm thường an trú căn lành thắng diệu, xa lìa tâm tán loạn, tu tập các pháp thiện, không thấy có pháp nào mà tự nó thành tựu được, sự làm và hoại đều không nắm bắt được, biết tất cả pháp đều không tự tại, hiểu rõ pháp giới không có người thấy, không có người biết.

Đại Bồ-tát như vậy là viên mãn hoàn toàn, hiểu rõ các pháp, hiểu rõ về nhân duyên của tất cả các pháp, thấy tất cả Pháp thân, muốn lìa thực tế bình đẳng quan sát các pháp. Hiểu rõ thế gian cũng như huyễn hóa, thấu đạt chúng sinh đều là một pháp, phân biệt không có hai, không bỏ các nghiệp cảnh giới phương tiện. Từ cảnh giới hữu vi vượt lên cảnh giới vô vi nhưng không phá hoại tánh hữu vi; từ cảnh giới vô vi đi vào cảnh giới hữu vi mà không phá hoại cảnh giới vô vi.

Như vậy, Đại Bồ-tát ưa thích quan sát tướng tịnh diệt của các pháp, sinh ra tất cả căn lành thanh tịnh, đều hồi hướng đến cứu hộ chúng sinh, tinh cần tu tập lìa pháp ngu si. Hiểu rõ sâu xa tất cả biển pháp, đem tất cả căn lành đồng với hư không, đầy đủ công đức kiên cố vô thượng, được mắt pháp sáng sạch xa lìa si tối, biết hoàn toàn về phương tiện để hồi hướng công đức.

Đại Bồ-tát bằng căn lành hồi hướng như vậy, khiến tất cả chúng sinh làm thanh tịnh tất cả cõi, được tự tại của Phật, giáo hóa chúng sinh được các Phật pháp, ruộng phước tối thượng của tất cả thế gian. Làm người hướng dẫn lấy vật báu của các chúng sinh, làm cho mặt trời sáng xuất hiện cho tất cả thế gian. Mỗi một căn lành đều đầy cả pháp giới, căn lành hồi hướng cứu hộ chúng sinh, khiến cho tất cả chúng sinh đều thành tựu công đức thanh tịnh.

Đại Bồ-tát hồi hướng với căn lành như vậy, gìn giữ thọ trì tánh của các Như Lai, giáo hóa thành thục các tánh chúng sinh, làm nghiêm tịnh tánh của tất cả cõi Phật, không phá hoại tánh của nghiệp, phân biệt pháp tánh, quán sát bình đẳng về tướng không hai, đi khắp các tánh của mười phương, giảng thuyết về tánh lìa dục, đầy đủ tánh giải thoát, chiếu khắp tánh các căn.

Này Phật tử! Đây là pháp hồi hướng đến tất cả nơi chốn thứ tư của Đại Bồ-tát.

Đại Bồ-tát an trú ở hồi hướng này, có thể đem tất cả căn lành hồi hướng. Được thân nghiệp đến tất cả nơi chốn, hiện ra ở khắp pháp giới. Được khẩu nghiệp đến tất cả nơi chốn, có âm thanh vi diệu vang khắp tất cả thế giới khắp mười phương. Được ý nghiệp đến tất cả nơi chốn, có thể thọ trì tất cả pháp mà Phật đã thuyết giảng. Được thần túc đến tất cả nơi chốn có thể tùy thuận hoàn toàn theo các hành động của thế gian. Được pháp đến tất cả nơi chốn, tùy thuận tất cả các pháp. Được tùy thuận pháp Đà-la-ni biện tài đến tất cả nơi chốn, khiến cho tất cả chúng sinh đều hoan hỷ. Được tùy thuận vào pháp giới đến tất cả nơi chốn, có thể làm cho một lỗ chân lông dung chứa tất cả pháp giới. Được thân đến khắp cả nơi chốn, làm cho tất cả thân chúng sinh nhập vào một thân chúng sinh. Được kiếp đến khắp cả nơi chốn, trong tất cả các kiếp luôn được gặp chư Phật. Được sát-na đến khắp cả nơi chốn, trong một sátna hiện tất cả Phật ra đời.

Này Phật tử! Đại Bồ-tát được căn lành hồi hướng đến tất cả chỗ thì có thể đem tất cả căn lành để hồi hướng.

Bấy giờ, nương theo thần lực của Phật, Bồ-tát Kim Cang Tràng nhìn khắp mười phương, nói kệ rằng:

Tất cả trong ngoài khắp thế giới
Bồ-tát Đại sĩ không chấp trước
Không bỏ việc lợi ích chúng sinh
Là Bậc Trí Thắng giữa loài người.
Không chấp trước tất cả thế giới
Không chấp mười phương là bền vững
Không chấp chúng sinh, thọ mạng, tướng
Cũng không chấp thủ các thế gian.
Trong thế giới khắp cả mười phương
Nắm rõ hết tất cả chúng sinh
Quán sát hữu, vô được tự tại
Hồi hướng trọn vẹn đến khắp chốn.
Nắm rõ pháp hữu vi, vô vi
Tâm không vọng chấp các thế gian
Các pháp thế gian không sai khác
Đèn chiếu sáng đời, giác ngộ rõ.
Tất cả hạnh nghiệp của chúng sinh
Thượng, trung và hạ không đồng nhau
Các nghiệp trí tuệ đều hồi hướng
Tất cả Như Lai khắp mười phương.
Bồ-tát hồi hướng đến bờ kia
Thành tựu việc học theo Như Lai
Phân biệt trí vi diệu sâu xa
Đầy đủ pháp thù thắng đặc biệt,
Căn lành thanh tịnh đều hồi hướng
Thường làm lợi ích cho chúng sinh
Làm cho chúng sinh khắp mười phương
Thành đèn sáng vô thượng soi đời,
Chưa từng hư vọng chấp chúng sinh
Cũng không vọng tưởng đến các pháp
Không nhiễm, không chấp các thế gian
Cũng không từ bỏ các chúng sinh.
Bồ-tát thường vui pháp tịch diệt
Tùy thuận được đến cảnh tịch diệt
Cũng không từ bỏ cõi chúng sinh
Được những trí vi diệu như vậy,
Không khởi các nghiệp tưởng hư vọng
Cũng không chấp trước các quả báo
Tất cả thế gian tùy duyên khởi
Không rời nhân duyên mà thấy pháp.
Cảnh giới như vậy tùy thuận đến
Xa lìa tất cả tưởng hư vọng
Bậc Thầy Điều Ngự khắp chúng sinh
Hiểu đầy đủ hồi hướng như vậy.

Này Phật tử! Pháp hồi hướng kho công đức vô tận thứ năm của Đại Bồ-tát là gì?

Đại Bồ-tát này tu căn lành sám hối, lìa tất cả nghiệp chướng.

Đối với căn lành của ba đời chư Phật và căn lành của chúng sinh trong ba đời cũng đều tùy hỷ.

Đối với các căn lành phát sinh do tôn trọng cung kính lễ bái cúng dường các Đức Như Lai, căn lành do khuyến thỉnh chư Phật, nghe Phật thuyết pháp, thì thọ trì ghi nhớ tu hành đúng lời dạy đi vào cảnh giới không thể nghĩ bàn. Căn lành vô tận của chư Phật ba đời, căn lành tu tập của tất cả Bồ-tát, căn lành vô thượng khi chư Phật ba đời giác ngộ.

Đối với các căn lành này, Đại Bồ-tát đều tùy hỷ; tùy hỷ rồi, an trú vào căn lành ấy. Chư Phật ba đời chuyển pháp luân thanh tịnh, độ vô lượng chúng sinh.

Đối với những căn lành mà chúng sinh đạt được ấy, Đại Bồ-tát cũng đều tùy hỷ chư Phật ba đời từ khi mới phát tâm tu Bồ-tát hạnh cho đến khi thành Phật rồi thị hiện Niết-bàn, đối với những căn lành đạt được trong thời gian đó, Bồ-tát cũng đều tùy hỷ.

Sau khi các Như Lai đó nhập Niết-bàn, những căn lành do thọ trì giữ gìn chánh pháp của chư Phật cho đến khi diệt hết; những căn lành do niệm đến cảnh giới của Phật, căn lành do tu tập theo cảnh giới của mình, cho đến căn lành của cảnh giới giác ngộ vô thượng, Đại Bồ-tát cũng đem các căn lành này hồi hướng tất cả.

Đại Bồ-tát suy nghĩ: “Đối với những căn lành này, nếu ta tu, học, tích tập, mở bày, tùy hỷ, đầy đủ, thành tựu, sự thực hành, sự đạt được, ghi nhớ đúng, thọ trì, kiên cố không hoại.”

Những căn lành này được phát sinh từ vô lượng hạnh ở các thế giới trang nghiêm của Phật tận các kiếp từ quá khứ, được Phật biết rõ, Bồ-tát hiểu rõ, tùy chúng sinh mà phát khởi theo những ý muốn thanh tịnh, được Như Lai giữ gìn, Như Lai ra đời thành tựu những nghiệp thanh tịnh, sự phát khởi những nghiệp thanh tịnh của Bồ-tát Phổ Hiền. Các thế giới ấy, nếu có chúng sinh thành đạo Vô thượng, thì ta sẽ hiện năng lực tự tại, vì tất cả Đức Như Lai Ứng Cúng Chánh Đẳng Giác tương lai ấy mà trang nghiêm các cõi Phật đồng với pháp giới, đồng với vô lượng, vô biên hư không pháp giới. Trong tất cả thế giới đến tận kiếp vị lai có tất cả chư Phật, các Đức Như Lai ấy thành tựu trí tuệ, ta sẽ thanh tịnh cõi Phật, trang nghiêm bằng các loại báu, tất cả đều tốt đẹp không nhàm chán. Trang nghiêm bằng hương thơm thượng hạng, trang nghiêm bằng các mưa hoa, trang nghiêm bằng các loại mây vải, trang nghiêm bằng tất cả kho công đức, trang nghiêm bằng trí tuệ của tất cả Như Lai, trang nghiêm tất cả cõi Phật, trang nghiêm không thể nêu bày hết, trang nghiêm bằng không thể nghĩ bàn các công đức, trang nghiêm bằng uy thần thanh tịnh của Như Lai Ứng Cúng Chánh Đẳng Giác, trang nghiêm các cõi Phật của tất cả chư Phật trong vị lai. Tất cả thế gian không thể thấy được, chỉ có mắt thanh tịnh của Bồ-tát mới thấy được.

Đại Bồ-tát tu tập căn lành thù thắng này, thể nhập tất cả pháp thanh tịnh, thọ trì tất cả pháp thanh tịnh cũng như biến hóa, thực hành tất cả các nghiệp thanh tịnh của Bồ-tát. Nhập vào Tam-muội tự tại không thể nghĩ bàn của Bồ-tát, ánh sáng trí tuệ của Phật chiếu sáng khắp thế gian. Như chư Phật vị lai làm nghiêm tịnh cõi Phật, chư Phật hiện tại làm nghiêm tịnh thế giới cũng như vậy. Nhiều loại trang nghiêm, đầy đủ thanh tịnh, đầy đủ công đức che khắp. Vô lượng sắc đẹp, hương thơm không thể nghĩ bàn, vô lượng các loại báu, vô lượng cây báu, vô số sự trang nghiêm, vô số cung điện, vô số âm thanh vi diệu, tùy theo Thiện tri thức mà hiển hiện vô cùng. Tất cả các loại trang nghiêm như hương, vòng hoa, hoa, hương bột, vật báu, vải đẹp, phướn, tràng phan, lụa năm màu sắc, lan can báu, vô số lưới báu trắng giăng ở trên, vô số dòng nước, vô số mưa mây, âm thanh vi diệu vang ra khắp nơi. Đem vô lượng, vô số các vật trang nghiêm như vậy để trang nghiêm vô lượng, vô biên không thể nghĩ bàn thế giới của chư Phật.

Trong các thế giới ấy, hoặc có cõi Phật trang nghiêm, cõi Phật thanh tịnh, cõi Phật bình đẳng, cõi Phật hoàn hảo, cõi Phật công đức, cõi Phật thù thắng, cõi Phật an lạc, cõi Phật không hoại, cõi Phật vô tận, cõi Phật có vô lượng công đức không cùng tận, cõi Phật không thoái chuyển, cõi Phật không sợ hãi, cõi Phật ánh sáng, cõi Phật an lạc, cõi Phật không nhàm chán, cõi Phật chiếu khắp, cõi Phật chiếu sáng, cõi Phật vuông vức, cõi Phật đệ nhất, cõi Phật thắng, cõi Phật tối thắng, cõi Phật vi diệu, cõi Phật không gì sánh, cõi Phật không gì bằng, cõi Phật cao thượng, cõi Phật vô thượng, cõi Phật không gì bằng.

Đối với tất cả cõi Phật trang nghiêm như vậy của chư Phật trong ba đời, Đại Bồ-tát đem căn lành đều hồi hướng tất cả, làm cho tất cả cõi Phật đều thanh tịnh trang nghiêm. Như sự trang nghiêm trong một thế giới, cả trong ba đời tất cả cõi Phật cũng đều trang nghiêm đầy đủ như vậy, thanh tịnh khắp nơi, thanh tịnh tích tụ, cũng phát sinh đầy đủ sự trang nghiêm, giữ gìn sự trang nghiêm luôn luôn đầy đủ. Như trong một thế giới, vô lượng, vô biên thế giới đồng như pháp giới hư không đều được trang nghiêm bằng sự trang nghiêm của các cõi Phật trong ba đời. Công đức của cõi Phật, sự nhìn không chán của cõi Phật, vô lượng của cõi Phật, rộng lớn của cõi Phật, vô số của cõi Phật, không thể nghĩ bàn của cõi Phật, không gì hơn của cõi Phật, không thể khen ra hết của cõi Phật, sự vô biên của cõi Phật đều đầy đủ tất cả.

Đại Bồ-tát lại hồi hướng bằng cách tu hành theo tất cả cõi Phật như vậy, làm cho đều được sung mãn. Các Bồ-tát này đầy đủ tất cả công đức thanh tịnh, thành tựu trí tuệ, phân biệt hoàn toàn tất cả thế giới và chúng sinh giới. Vào pháp giới sâu xa, xả bỏ ngu si nhập vào thế giới không tịch. Thành tựu niệm Phật, niệm Pháp không nghĩ bàn, niệm Tăng thanh tịnh, thành tựu niệm Xả. Mặt trời pháp tròn đầy, ánh sáng trí tuệ chiếu khắp. Trí tuệ sâu xa vô ngại, sinh ta từ pháp tịch diệt vô sở hữu, sinh ra vô lượng Phật pháp thanh tịnh. Thành tựu căn lành thù thắng vi diệu, căn lành thanh tịnh, căn lành tối thắng, căn lành tăng thượng. Thành lập tâm giác ngộ vô thượng, tùy thuận hoàn toàn vào năng lực Như Lai, tâm quyết chí cầu Nhất thiết chủng trí. Sạch các nghiệp ma, rõ tánh chúng sinh, biết sự không tịch của pháp, xả ly điên đảo, trừ diệt ngu si. Tu các căn lành, viên mãn đại nguyện, thành tựu vô lượng, vô biên công đức như vậy.

Bồ-tát có đầy trong các cõi ấy đều sinh ra từ vô lượng pháp môn, an trú ở tất cả công đức như vậy. Thành tựu căn lành thù thắng không gì sánh bằng, thường làm Phật sự. Bằng phương tiện thiện xảo được ánh sáng giác ngộ, đầy đủ trí tuệ của pháp giới không ngăn ngại. Một thân ở đầy tất cả pháp giới, hiện năng lực tự tại, thành tựu cảnh giới đại trí Nhất thiết trí. Bằng phương tiện thiện xảo sinh ra trí tuệ, phân biệt vô lượng pháp giới. Đến khắp các cõi mà không lệ thuộc, tâm tịnh như hư không, phân biệt được hết tất cả pháp giới. Đối với Tam-muội Chánh thọ không thể nghĩ bàn của các Bồ-tát thì có thể nhập và xuất bằng phương tiện thiện xảo, đạt đến Nhất thiết trí, trú ở các cõi Phật, khéo biết rõ ràng thần thông của Phật, có thể phân biệt vô số các pháp sâu xa vi diệu mà không khiếp sợ. Tùy thuận căn lành chư Phật ba đời, chiếu khắp pháp giới của tất cả Như Lai, thọ trì được hết tất cả chánh pháp của chư Phật giảng dạy. Có thể trình bày không thể nghĩ bàn âm thanh thanh tịnh, có thể phân biệt rõ vô số ngôn ngữ văn pháp, đắc đạo Vô thượng, địa vị tự tại của Phật. Có thể ở khắp tất cả thế giới mà không bị chướng ngại. Bao gồm tất cả các pháp không tranh cãi, tâm không hư vọng, không bị nhiễm trước, tu tập tâm giác ngộ rộng lớn, trí tuệ, hiểu rõ tùy lúc ứng hóa bằng nhiều phương pháp, hiểu rõ nghĩa chân thật diễn thuyết đầy đủ, thành tựu vô lượng công đức như vậy.

Các Đại Bồ-tát trang nghiêm thế giới ở khắp pháp giới bằng các loại trang nghiêm. Thuận theo chỗ ở, tu tập hoàn hảo thuần tịnh không tạp, thanh tịnh khắp cả điềm nhiên yên tịch. Ở một chỗ nhỏ nhất của cõi Phật có vô lượng Bồ-tát, có vô số Bồ-tát, không thể nghĩ bàn Bồ-tát, không thể kể hết Bồ-tát, không thể lường hết Bồtát, không thể tính Bồ-tát, không thể tận cùng Bồ-tát, không giới hạn Bồ-tát, không thể nêu bày hết Bồ-tát, không thể nêu bày, không thể nêu bày hết Bồ-tát. Như một chỗ nhỏ trong một cõi Phật với vô số Đại Bồ-tát như vậy, thì khắp tất cả thế giới nhiều như hư không pháp giới có đầy các Đại Bồ-tát như vậy.

Đại Bồ-tát dùng các căn lành phương tiện hồi hướng. Hồi hướng đến tất cả cõi Phật, tất cả Đại Bồ-tát, tất cả Như Lai, tất cả Vô thượng Bồ-đề, tất cả đại nguyện, tất cả đạo xuất ly, tất cả chúng sinh tịnh, tất cả thế giới thường thấy Như Lai. Như Lai thọ mạng vô lượng, chuyển pháp luân không thoái đồng với pháp giới.

Đại Bồ-tát dùng căn lành hồi hướng như vậy, khiến tất cả cõi Phật thanh tịnh, khiến tất cả chúng sinh giới thanh tịnh, khiến tất cả Bồ-tát thanh tịnh, khiến tất cả chư Phật ở khắp thế giới, khiến Pháp thân thanh tịnh của Như Lai ở khắp tất cả các cõi Phật.

Đại Bồ-tát đem những hồi hướng không gì sánh bằng như vậy hướng đến Nhất thiết trí, tâm tịnh như hư không, bất động như mặt đất, nhập vào hồi hướng không thể nghĩ bàn, quán sát tất cả nghiệp báo đều là tịch diệt, vô tận công đức hồi hướng, bình đẳng tùy thuận tất cả pháp giới.

Đại Bồ-tát thực hành hồi hướng như vậy rồi, không vọng tưởng chấp thủ ngã và ngã sở; không vọng tưởng chấp thủ ngã và các Phật pháp; không vọng tưởng chấp thủ cõi Phật và sự thanh tịnh của cõi Phật; không vọng tưởng chấp thủ chúng sinh và giáo hóa chúng sinh; không vọng tưởng chấp thủ nghiệp và nghiệp báo; không chấp trước ý nghiệp và quả báo của nghiệp; không phá hoại nhân quả; không chấp thủ pháp có, không phá hoại pháp có; sinh tử chẳng tạp loạn, Niết-bàn chẳng tịch tĩnh. Cảnh giới của Như Lai thì không do người làm, không pháp nào cao thượng bằng.

Đại Bồ-tát phát khởi các căn lành như vậy, quyết định hồi hướng, thành thục đầy đủ. Quán bình đẳng về các tướng, nắm rõ các cảnh giới phân biệt đo lường, lìa các hư vọng mà không có sự chấp trước.

Đại Bồ-tát bằng căn lành hồi hướng như vậy rồi, được căn lành vô tận, thường niệm tất cả chư Phật trong ba đời, được tất cả căn lành vô tận. Độ vô lượng Bồ-tát đắc vô tận căn lành; làm thanh tịnh các cõi Phật được vô tận căn lành; thanh tịnh cảnh giới chúng sinh được vô tận căn lành; vào pháp giới sâu xa được vô tận căn lành; tu tập tâm vô lượng thanh tịnh như hư không được vô tận căn lành; hiểu rõ các cảnh giới của tất cả chư Phật được vô tận căn lành; tu tập tất cả tịnh nghiệp của Bồ-tát được vô tận căn lành; thông đạt ba đời được vô tận căn lành. Đem những căn lành như vậy mà hồi hướng thì có thể độ thoát hết tất cả chúng sinh. Nhập vào cảnh giới chúng sinh mà không thấy chúng sinh nên hồi hướng. Hiểu rõ tất cả pháp không thấy có thọ mạng nên hồi hướng. Biết sự chân thật của các pháp không có tự tại nên hồi hướng. Tất cả các pháp không có phước giàla nên hồi hướng. Quán sát tất cả pháp xa lìa các tức giận tranh cãi nên hồi hướng. Tất cả các pháp từ nhân duyên sinh không có cố định nên hồi hướng. Biết sự chân thật của các pháp không bị chấp trước nên hồi hướng. Không đắm nhiễm tất cả cảnh giới của Phật nên hồi hướng. Không chấp thủ tướng kiên cố của hạnh Bồ-tát nên hồi hướng. Phân biệt liễu tri tất cả cảnh giới là không, chẳng thật có, nên hồi hướng.

Đại Bồ-tát hồi hướng như vậy, mắt chẳng bao giờ thấy cõi Phật

bất tịnh, cũng không thấy chúng sinh có tướng khác nhau. Hành pháp nhưng không thấy pháp, đi vào trí không chỗ vào, hiểu rõ tất cả cũng như hư không. Đối với thân Như Lai được tất cả pháp, thành tựu viên mãn vô lượng các năng lực công đức, đầy đủ căn lành đến tất cả chỗ làm an lạc cho chúng sinh. Ngay trong từng ý niệm, Đại Bồ-tát này đạt được không thể nêu bày, không thể nêu bày hết địa vị mười học, đầy đủ tất cả các căn lành thanh tịnh, có thể bảo hộ tất cả chúng sinh.

Đại Bồ-tát ấy thành tựu kho báu công đức như ý, đến đâu cũng làm nghiêm tịnh tất cả cõi Phật ở đó, khiến cho không thể nêu bày, không thể nêu bày hết chúng sinh an trú và giữ gìn các năng lực công đức.

Đại Bồ-tát khi hồi hướng như vậy, bằng uy lực của hồi hướng này, tất cả hành động không gì sánh bằng, tất cả thế gian không thể phá hoại, uy trấn các ma làm cho khuất phục tất cả. Thành tựu đầy đủ công đức bất thoái, vô lượng đại nguyện đều được thành tựu, tâm rộng lớn như Nhất thiết trí. Ngay trong một niệm có thể đến khắp tất cả cõi Phật, được vô lượng trí học, liễu tri tất cả cảnh giới của chư Phật, luôn thọ trì tất cả pháp của Phật, có vô lượng, vô biên đại trí tuệ. Năng lực của Bồ-tát mới phát tâm Bồ-đề rộng lớn như hư không các pháp giới.

Này Phật tử! Đây là pháp hồi hướng thứ năm, kho tàng công đức vô tận của Đại Bồ-tát.

Đại Bồ-tát an trú vào hồi hướng kho tàng công đức vô tận này rồi, lại có mười kho tàng công đức vô tận.

Đó là:

  1. Kho tàng công đức vô tận thường gặp chư Phật, một lỗ chân lông, thấy được vô lượng, vô số chư Phật.
  2. Nhập vào kho tàng công đức pháp vô tận. Bằng trí tuệ Như Lai, quán bình đẳng tất cả pháp tức là một pháp.
  3. Thọ trì chánh niệm kho tàng công đức vô tận, nghe tất cả chánh pháp của Phật dạy, đều ghi nhớ không quên.
  4. Được kho tàng công đức tuệ vô tận, đối với kinh pháp của tất cả Như Lai giảng dạy, có thể tuần tự hiểu câu nghĩa.
  5. Kho tàng công đức cảnh giới vô tận, có thể phân biệt tất cả cảnh giới của pháp.
  6. Kho tàng công đức nguyện vô tận của Phật, trí tuệ như hư không, khắp tất cả các pháp ba đời.
  7. Kho tàng công đức của công đức vô tận, đầy khắp tất cả các chúng sinh, ý vẫn không cùng tận.
  8. Kho tàng công đức trí tuệ vô tận, trừ diệt tất cả ngu si ám chướng của tất cả chúng sinh.
  9. Kho tàng công đức biện tài vô tận, khiến cho tất cả chúng sinh đều hiểu rõ tất cả Phật pháp là bình đẳng không có hai.
  10. Kho tàng công đức vô tận của mười Lực, bốn Sự không sợ, tu tập đầy đủ hạnh của Bồ-tát, nhận lấy địa vị Pháp vương, được Nhất thiết trí.

Này Phật tử! Đây gọi là Đại Bồ-tát được mười kho công đức vô tận. Đem kho công đức vô tận này đều hồi hướng đến tất cả công đức.

Bấy giờ, Bồ-tát Kim Cang Tràng nhìn khắp mười phương, nói kệ rằng:

Bồ-tát thành tựu sức trực tâm
Được tự tại đối với các pháp
Tùy hỷ những công đức đạt được
Hồi hướng bằng phương tiện vô ngại.
Các Bậc Tối Thắng cả ba đời
Nghiêm tịnh cõi Phật và thế gian
Đầy đủ các công đức thù thắng
Hồi hướng cõi tịnh đều như vậy.
Tất cả pháp tối thắng ba đời
Bồ-tát đều phân biệt đúng đắn
Tâm tịnh giữ gìn tất cả pháp
Như vậy, trang nghiêm các cõi Phật.
Cùng tận vô lượng kiếp ba đời
Khen công đức của một cõi Phật
Các kiếp ba đời có thể hết
Công đức cõi Phật vô cùng tận.
Như vậy, tất cả các cõi Phật
Các Bậc Tối Thắng đều nghiêm tịnh
Bồ-tát nghiêm tịnh tất cả cõi
Cũng như tất cả Bậc Đạo Sư,
Chân Phật tử ấy, tâm thanh tịnh
Đều hóa sinh từ pháp Như Lai
Bằng các công đức tâm trang nghiêm
Đầy khắp tất cả các cõi Phật.
Các Bồ-tát ấy đều đầy đủ
Vô lượng các tướng trang nghiêm thân
Tất cả biện tài đều thông suốt
Không chỉ cùng tận như biển lớn,
Quán sát cảnh giới, tâm bình đẳng
An trú nơi tất cả Tam-muội
Thành tựu tâm thanh tịnh vô cùng
Ánh sáng chiếu khắp cõi mười phương,
Như vậy không sót cõi Phật nào
Các Bồ-tát này đều có khắp
Chưa từng nghĩ đến thừa Thanh văn
Và cũng chẳng cầu đạo Duyên giác.
Bồ-tát với tâm thanh tịnh ấy
Căn lành hồi hướng các chúng sinh
Khiến khắp chúng sinh thành Chánh giác
Đầy đủ pháp chư Phật ba đời,
Tất cả ma vương khắp mười phương
Uy đức Bồ-tát thu phục hết
Dũng mãnh vững vàng, ma chẳng hoại
Quyết định tu hành pháp cứu cánh.
Bồ-tát đầy đủ các nguyện lực
Hồi hướng công đức không chướng ngại
Vào sâu kho công đức vô tận
Quả báo ba đời không cùng tận.
Quán sát hoàn toàn tất cả pháp
Liễu tri tánh nó không tự tại
Đã phân biệt rõ không, vô ngã
Thế nên không chấp thủ nghiệp báo.
Không có sắc pháp và vô sắc
Cũng không có tưởng, chẳng không tưởng
Cũng không có pháp và vô pháp
Tất cả các pháp không thật có,
Cũng không chẳng có hay chẳng không
Cũng chẳng nhân hay chẳng không nhân
Đối với tất cả các duyên ấy
Tâm Bồ-tát hiểu, không nhiễm trước,
Tất cả ngôn ngữ của chúng sinh
Đều hiểu rõ nhưng không chấp trước
Biết rõ pháp xây dựng thế gian
Xác định các pháp không có ngã,
Bình đẳng quan sát các chúng sinh
Hiểu rõ các pháp không hai tướng
Quán sát ba đời không sai khác
Các nghiệp cõi Phật cũng như vậy.
Bồ-tát biết hồi hướng như thế
Tùy theo hành động sinh công đức
Biết rõ tánh chân thật chư Phật
Hiểu rõ diệu pháp của chư Phật.
Bồ-tát hồi hướng tịnh như vậy
Tâm phân biệt rõ, khéo tư duy
Liễu tri tự tánh đều vô tánh
Đối với các pháp, không lệ thuộc.
Bao gồm tất cả các cảnh giới
Hồi hướng đến tất cả chúng sinh
Trừ diệt tất cả ngu si ám
Giác ngộ như như tánh chân thật.
Đối với tất cả kiến hư vọng
Bồ-tát diệt hết chẳng còn gì
Xa lìa các phiền não thế gian
Đạt đến nơi hoàn toàn mát mẻ,
Không hoại tất cả các pháp tánh
Hiểu rõ chân thật không sự sinh
Thông hiểu các pháp như âm vang
Đối với tất cả không chấp trước.
Liễu tri chúng sinh cả ba đời
Đều từ nhân duyên mà sinh ra
Hiểu hết các phiền não tập khí
Không hoại tánh chân thật các pháp,
Hiểu rõ tánh nghiệp chẳng phải nghiệp
Cho nên không hoại các tánh nghiệp
Và cũng chẳng hoại quả báo nghiệp
Tuyên dương tán thán pháp Duyên khởi.
Sự sinh chúng sinh chẳng có sinh
Cũng chẳng lưu chuyển trong sinh tử
Không chấp chúng sinh nói chúng sinh
Chỉ khéo tùy thuận với thế gian.

*********

Này Phật tử! Thế nào là hồi hướng thứ sáu, tùy thuận tất cả căn lành kiên cố của Đại Bồ-tát?

Đại Bồ-tát này, nếu khi làm vua thì được đất nước cường thịnh bình an, giàu có, vui vẻ, chiến thắng kẻ địch, trị nước bằng chánh đạo đúng pháp, công lao trùm cả thiên hạ, đạo đức khắp mười phương, các nước đều quy thuận không dám trái lệnh, không cần dùng binh khí mà tự nhiên thái bình, giúp đỡ chúng sinh bằng bốn pháp Nhiếp, là bậc Thánh vương chuyển luân đầy đủ bảy báu.

Đại Bồ-tát này sống an ổn với công đức quyền lực ấy, quyến thuộc hòa thuận không thể bị phá hoại, uy dũng tuấn tú nhất, nhìn không chán, không có các điều ác, đầy đủ công đức. Tướng mạo xinh đẹp khôi ngô đặc biệt, thân thể cân đối các chi tiết đều hoàn hảo, tươi thắm sạch sáng, ai thấy đều hoan hỷ. Sức khỏe mạnh mẽ, không thể bị phá hoại, thân thể cường tráng như vua trời Na-la-diên. Lìa các nghiệp chướng, được nghiệp thanh tịnh, tu hành đầy đủ, bố thí tất cả. Như bố thí thức ăn uống với các mùi vị thơm ngon, xe cộ, y phục, các vòng hoa đẹp, hương thơm, hương xoa, chỗ ngồi, chỗ nằm, chỗ ở, nhà ở đèn sáng, thuốc thang, vật dụng quý báu, xe báu sang trọng, voi ngựa chúa quý báu, tòa ngồi quý báu, lọng, phướn, tràng phan, các loại quý báu, vật dụng xinh đẹp, mão trời thanh tịnh, minh châu trong búi tóc. Nếu thấy kẻ tù phạm bị các khổ sở thì sinh tâm đại Bi, bỏ ra các kho tàng, vợ con quyến thuộc, đem thân vào ngục để cứu khổ chúng sinh. Thấy người tù bị đưa đến chỗ chết thì lấy mạng sống của mình thay thế cho họ. Nếu có người xin ngọc sáng trong búi tóc trên đỉnh đầu, xin da, mắt, tai, mũi, răng, đầu, tay, chân, thì liền lấy máu trong thân ra, tủy, thịt, tim, ruột, thận, gan, phổi, chi tiết của thân thể, xương, dạ dày, da mỏng, ngón tay, ngón chân, thịt nối giữa các ngón, móng tay để cho. Vì cầu chánh pháp mà nhảy thân vào hầm lửa; vì cầu pháp mà toàn thân phải chịu vô số điều khổ; vì pháp khó được gặp vậy.

Vị ấy có thể từ bỏ tất cả làng xóm, thành phố lớn nhỏ, đất nước, bốn biển hay cả mặt đất, quốc gia sung túc, nhân dân phồn thịnh, vườn rừng, ao hồ, cây cối sum suê với vô số sự xinh đẹp, thiên hạ thái bình không có oán địch, ngôi vua đầy quyền lực, từ bỏ tất cả các nghiệp ác giết hại, để ban khắp tất cả sự không sợ hãi. Nếu thấy có người giết hại thú vật và loài người làm cho tàn khuyết thì phát tâm Từ bi mà cứu giúp cho. Bằng âm thanh to lớn bảo khắp mọi người để họ nghe danh hiệu Phật. Hoặc cho cả mặt đất xây dựng điện thờ Phật, phòng chư Tăng để làm ruộng phước cho Thánh chúng Bồ-tát. Hoặc xây dựng tôn miếu đáp ứng cho tất cả. Hoặc cho người phục vụ cung cấp đến tất cả ruộng phúc như Tam bảo, Cha mẹ, Thiện tri thức. Hoặc đem thân bố thí cho tất cả người phục vụ, hoặc đem tự thân bảo hộ chư Phật, hoặc đem tự thân cho hết tất cả chúng sinh. Thường đem thân mình phụng sự chư Phật; bố thí cả đất nước và kinh đô cùng thành phố lớn xinh đẹp.

Lại đem cho nữ báu, người phục vụ, thân thuộc, vợ con, trai gái. Hoặc bố thí nhà cửa, với khu vườn chơi xinh đẹp nhiều hình thức; hoặc tổ chức vô số hội bố thí cho đại chúng, xa lìa các ác, làm tịnh cho chúng sinh, bỏ hết tất cả dụng cụ sinh hoạt, không còn luyến tiếc, không cầu quả báo, xả bỏ tất cả. Nếu có chúng sinh, loài người hay phi nhân, bần tiện hay phú quý, hoặc thiện hay ác, các loại ruộng phước, ở các nơi xa gần đều đi đến. Hoặc có người tự đến cầu xin, hoặc không có người đến cầu xin, Bồ-tát ấy đều cho tất cả không có tham tiếc.

Vị ấy suy nghĩ: “Phải giữ gìn tùy thuận tất cả căn lành kiên cố hồi hướng; giữ gìn trọn vẹn sắc tùy thuận tất cả căn lành kiên cố hồi hướng; giữ gìn trọn vẹn thọ, tưởng, hành, thức tùy thuận tất cả căn lành kiên cố hồi hướng; giữ gìn quốc độ tùy thuận tất cả căn lành hồi hướng; giữ gìn người tài giỏi tùy thuận tất cả căn lành kiên cố hồi hướng; giữ gìn quyến thuộc tùy thuận tất cả căn lành hồi hướng; giữ gìn tài lợi tùy thuận tất cả căn lành hồi hướng, giữ gìn tất cả bố thí tùy thuận tất cả căn lành hồi hướng.”

Đại Bồ-tát hồi hướng với các căn lành như vậy rồi, suy nghĩ: “Sự thực hành bố thí của ta vì giải thoát chứ không tham lam, chấp trước, ô nhiễm. Tâm ta ngay thẳng chân thật không bị tham tiếc. Nguyện đem công lực công đức bố thí này, khiến cho tất cả chúng sinh được trí tuệ lớn, tâm không chướng ngại. Biết và thấy thức ăn không bị tham đắm, chỉ nhận lấy pháp thực xa lìa vật thực. Trí tuệ viên mãn, giữ gìn căn lành, Pháp thân, Trí thân thanh tịnh đi khắp, vì hóa độ chúng sinh nên thị hiện ăn vật thực.”

Khi bố thí thức ăn uống, Đại Bồ-tát hồi hướng như vầy:

–Nhờ căn lành này khiến cho tất cả chúng sinh được uống nước cam lộ pháp, thành Bồ-tát đạo, trừ diệt khát ái, thường ưa Đại thừa, lìa năm ái dục, được pháp ái thanh tịnh, nhu hòa của Pháp thân, Tam-muội chế ngự tâm chưa từng tán loạn, vào biển trí tuệ, nổi mây pháp lớn, mưa pháp cam lộ.

Đây là căn lành hồi hướng của Đại Bồ-tát khi bố thí thức uống.

Đại Bồ-tát bố thí các vị như là cay, chua, mặn, nhạt, ngọt, đắng. Bằng vô lượng thức ăn thơm ngon, ăn không chán, làm cho bốn đại chủng được điều hòa an lạc, bồi bổ cả thân thể, sức lực cường tráng, phát tâm hoan hỷ, các căn sạch sáng, duy trì nội thân, nuôi dưỡng điều hòa, da dẻ tươi nhuận, tất cả các độc hại không phá hoại được, tiêu diệt các bệnh, được pháp không bệnh hoạn.

Khi Đại Bồ-tát bố thí vô lượng, vô số các vị ngon như vậy, hồi hướng như vầy:

–Đem căn lành khiến cho tất cả chúng sinh được tướng của vị thượng hạng, cam lộ mỹ mãn; khiến cho tất cả chúng sinh tâm được an trú ở vị của pháp với trí tuệ sâu xa, biết tất cả nghiệp của các vị; khiến cho tất cả chúng sinh đều được vô lượng pháp vị sâu xa vi diệu, trí hiểu pháp giới, an trú ở thật tế, đến thành của pháp; làm cho tất cả chúng sinh được mây pháp làm mưa khắp cả pháp giới; làm cho điều phục thành thục tất cả chúng sinh khiến cho tất cả đều được vị thắng trí, pháp ái vô thượng, thân tâm nhu hòa; khiến tất cả chúng sinh được tướng của vị thượng hạng, không chấp trước vào các vị, tu tập tất cả các nguyện của Phật pháp; khiến cho tất cả chúng sinh được hòa hợp hoàn toàn cùng được một pháp vị, sinh ra các pháp Phật, pháp không hai; khiến tất cả chúng sinh được vị vô ngại, đối với thừa Nhất thiết trí được không thoái chuyển; khiến cho tất cả chúng sinh được tất cả pháp vị không tạp của Phật, có thể phân biệt hoàn toàn các căn; làm cho tất cả chúng sinh được pháp vị sung mãn, an trú đầy đủ ở Phật pháp không ngại.

Đây là căn lành hồi hướng khi Đại Bồ-tát bố thí các vị, khiến cho tất cả chúng sinh đều được đầy đủ thân trí tuệ vô ngại.

Khi Đại Bồ-tát bố thí xe cộ, hồi hướng như vầy:

–Đem căn lành này, khiến tất cả chúng sinh cỡi xe Nhất thiết trí; đầy đủ xe lớn, xe không bị hư hoại, xe thắng, xe cao thượng, xe rất nhanh, xe rất mạnh, xe thành tựu công đức, xe ra khỏi thế gian, xe sinh ra vô lượng các Bồ-tát, viên mãn các công đức.

Đây là căn lành hồi hướng của Đại Bồ-tát khi bố thí xe cộ.

Khi Đại Bồ-tát bố thí y phục, hồi hướng như vầy:

–Đem căn lành này khiến tất cả chúng sinh được pháp phục xấu hổ e sợ để che thân, không còn hình dáng xấu xí; được xinh đẹp khôi ngô, dung nhan tươi thắm, thân thể mềm mại; được hỷ lạc bậc thượng về thân, lạc của chư Phật, được vô lượng Pháp thân ứng với tất cả, trí Nhất thiết chủng thanh tịnh tối thượng.

Đây là căn lành hồi hướng của Bồ-tát khi bố thí y phục.

Khi Đại Bồ-tát bố thí các loại hoa, hoa thơm tươi đẹp, hoa nhiều màu sắc, hoa rất vừa ý, hoa tuyệt mỹ, hoa thích không chán, hoa trong các mùa, hoa trời, hoa người, hoa mọi người yêu thích, hoa thơm vô cùng. Với các loại hoa như vậy, Đại Bồ-tát đem cúng dường hết đến chư Phật trong hiện tại khắp mười phương. Sau khi Phật diệt độ thì cúng dường tháp miếu, người bố thí pháp, Tỳ-kheo Tăng bảo, tất cả Bồ-tát, các Thiện tri thức, Thanh văn, Duyên giác, cha mẹ thân tộc, cho đến tự thân đem cho những người bần tiện.

Khi Đại Bồ-tát bố thí hoa, hồi hướng như vầy:

–Đem căn lành này khiến cho tất cả chúng sinh được hoa chánh định của chư Phật, nở rộ thanh tịnh, các hoa diệu pháp từ tâm sinh ra; khiến cho tất cả chúng sinh nhìn không chán, được pháp ái của Phật; khiến cho tất cả chúng sinh không bao giờ bị tán loạn, đầy đủ tất cả hạnh nghiệp thanh tịnh; khiến tất cả chúng sinh thường nhớ đến Thiện tri thức, tâm không thay đổi; khiến tất cả chúng sinh viên mãn đại nguyện, quyết định dự vào bậc vua trí vô thượng; khiến tất cả chúng sinh sinh mặt trời trí tuệ, xua tan tất cả tối tăm ngu si; khiến tất cả chúng sinh như trăng tròn sáng, trăng giác ngộ lớn dần, nở hoa công đức; khiến tất cả chúng sinh vào biển báu lớn gặp Thiện tri thức, đầy đủ thành tựu tất cả căn lành.

Đây là Đại Bồ-tát đem căn lành hồi hướng khi bố thí hoa, khiến cho tất cả chúng sinh đều được diệu trí thanh tịnh vô ngại.

Đại Bồ-tát khi bố thí vòng hoa, hồi hướng như vầy:

–Đem căn lành này khiến tất cả chúng sinh được mọi người thích ngắm, thấy đều hoan hỷ, liền thân thiện ngay, thấy đều yêu mến, thấy thì rời phiền não, đều được thấy chư Phật, được Nhất thiết tịnh trí.

Đây là căn lành hồi hướng của Bồ-tát khi bố thí vòng hoa.

Đại Bồ-tát khi bố thí hương thơm, hồi hướng thế này:

–Đem căn lành này khiến cho tất cả chúng sinh đầy đủ hương giới. Được giới không hư hoại, giới không tạp nhạp, giới lìa cấu bẩn, giới lìa nghi, giới lìa trói buộc, giới mát mẻ, giới không phạm, giới vô lượng, giới vô thượng, giới lìa thế gian, giới rốt ráo đến bờ kia của Bồ-tát; khiến cho các chúng sinh thành tựu đầy đủ thân giới của Phật.

Đây là Đại Bồ-tát hồi hướng căn lành khi bố thí hương thơm, khiến cho tất cả chúng sinh thành tựu đầy đủ thân giới vô ngại.

Khi Đại Bồ-tát bố thí hương xoa, hồi hướng như vầy:

–Nguyện đem căn lành này khiến tất cả chúng sinh có hương bố thí tỏa khắp, từ bỏ tất cả sở hữu; khiến tất cả chúng sinh được hương giới thanh tịnh của Phật; khiến cho chúng sinh được hương nhẫn nhục tỏa khắp, xa lìa tâm độc hại; khiến cho tất cả chúng sinh được hương thơm tinh tấn tỏa ra khắp nơi, siêng tu tập Đại thừa bằng thệ nguyện trang nghiêm; khiến tất cả chúng sinh được hương định tỏa khắp, đầy đủ Tam-muội hiện tiền của chư Phật, khiến cho tất cả chúng sinh được hương tuệ tỏa khắp, trong một niệm được trí vương vô thượng; khiến tất cả chúng sinh được hương pháp tỏa khắp thành tựu pháp không sợ vô thượng, khiến cho tất cả chúng sinh được hương đức tỏa khắp, thành tựu tất cả trí tuệ công đức; khiến cho tất cả chúng sinh được diệu hương Bồ-đề vô thượng tỏa khắp, được mười Lực của Phật đạt đến bờ kia; khiến cho tất cả chúng sinh được hương pháp Bạch tịnh tỏa khắp, đoạn trừ tất cả pháp bất thiện.

Đây là Đại Bồ-tát hồi hướng căn lành khi bố thí hương xoa.

Đại Bồ-tát khi bố thí chỗ ngồi nằm, hồi hướng thế này:

–Nguyện đem căn lành này, khiến cho tất cả chúng sinh được chỗ ngồi báu cõi trời, ở nơi giường tuệ; khiến cho tất cả chúng sinh được tòa báu của Hiền thánh, bỏ ý phàm phu, tu tập tâm giác ngộ; khiến cho tất cả chúng sinh được tòa an lạc, lìa khổ sinh tử; khiến cho tất cả chúng sinh được chỗ ngồi tối thượng, thấy thần lực tự tại của các Như Lai; khiến cho tất cả chúng sinh được chỗ ngồi bình đẳng, tâm chiếu khắp tất cả các pháp; khiến cho tất cả chúng sinh được chỗ ngồi tối thắng, được nghiệp vô thượng, xa lìa thế gian; khiến cho tất cả chúng sinh được chỗ ngồi an ổn, thân chứng tất cả các pháp sâu xa; khiến cho tất cả chúng sinh được chỗ ngồi thanh tịnh, tu tập cảnh giới tịnh trí của Như Lai; khiến cho tất cả chúng sinh được chỗ ngồi ổn định, được Thiện tri thức luôn giúp đỡ; khiến cho tất cả chúng sinh được tòa Sư tử, được đầy đủ chỗ ngồi không sợ của Như Lai.

Đó là căn lành hồi hướng khi bố thí chỗ ngồi của Đại Bồ-tát, khiến tất cả chúng sinh tu tập niệm tuệ chế ngự các căn.

Khi Đại Bồ-tát bố thí chỗ ở, hồi hướng như thế này:

–Nguyện đem căn lành này, khiến tất cả chúng sinh đều được cõi Phật nghiêm tịnh của Như Lai, tu tập công đức trang nghiêm cõi Phật, an trú vào cảnh giới Tam-muội sâu xa. Đối với chỗ ở ấy không bị lệ thuộc, phân biệt hoàn toàn tất cả chỗ ở, xa lìa chỗ ở theo thế gian, ở vào chỗ ở của Phật, nắm rõ tất cả chỗ ở của chư Phật, đạo lớn rốt ráo, ở nơi hoàn toàn an lạc, tu tập vô lượng căn lành thanh tịnh, chưa từng rời bỏ chỗ ở vô thượng của Phật.

Đây là căn lành hồi hướng khi bố thí chỗ ở của Đại Bồ-tát, khiến tất cả chúng sinh an lạc lợi ích cứu hộ tất cả.

Khi bố thí phòng ở và nhà, Đại Bồ-tát hồi hướng như vầy:

–Nguyện đem căn lành này khiến cho tất cả chúng sinh được lợi ích an lạc do chánh niệm tư duy; khiến cho tất cả chúng sinh nương tựa vào Như Lai, vào bậc Đại trí, Thiện tri thức, bậc Tôn trọng, thiện hạnh, đại Từ, đại Bi, nương vào sáu pháp Ba-la-mật, vô lượng tâm Bồ-đề, nương vào tất cả đạo Bồ-tát để sống.

Đây là căn lành hồi hướng khi bố thí phòng và nhà ở của Đại Bồ-tát, khiến cho chúng sinh thành tựu đầy đủ trí tuệ thanh tịnh, công đức các thần thông.

Khi bố thí đèn sáng như: đèn bơ, đèn dầu, đèn báu, đèn ma-ni, đèn sơn vẽ, đèn lửa, đèn hương trầm thủy, đèn hương chiên-đàn, đèn tất cả các loại hương thơm nhất, đèn với vô số màu sắc rực rỡ. Khi đem vô số đèn sáng như vậy bố thí, Bồ-tát hồi hướng thế này:

–Nguyện bằng căn lành này, làm lợi ích cho tất cả chúng sinh, bảo hộ tất cả chúng sinh, khiến cho tất cả chúng sinh được vô lượng ánh sáng chiếu ra tất cả pháp của Như Lai.

Được hào quang sáng trong chiếu ra tất cả sắc đẹp, được hào quang xa lìa ngu si, biết rõ ràng bất luận cảnh giới chúng sinh nào.

Được hào quang vô lượng, hào quang thanh tịnh của Pháp thân chiếu khắp tất cả.

Được quang minh chiếu khắp, được không thoái chuyển đối với Phật pháp, được quang minh của Phật chiếu đến vô lượng cõi Phật, được quang minh vô ngại bằng một quang minh chiếu sáng khắp cả pháp giới, được quang minh vô lượng chiếu khắp tất cả các cõi Phật không gián đoạn.

Được phướn chúa quang minh, đèn phướn tuệ quang chiếu khắp thế gian; được hào quang vô lượng màu sắc, phóng hào quang tự tại chiếu sáng tất cả cõi.

Đây là căn lành hồi hướng của Đại Bồ-tát khi bố thí đèn sáng

đều làm lợi ích tất cả chúng sinh, làm an lạc cho tất cả chúng sinh.

Theo tất cả căn lành, tùy thuận thuận theo tất cả chúng sinh, căn lành bảo hộ tất cả chúng sinh, căn lành thí khắp cho khắp chúng sinh, căn lành từ mẫn thương tưởng đến chúng sinh, căn lành che khắp che mát tất cả chúng sinh, căn lành bố thí mỹ mãn cho chúng sinh. Vào khắp tất cả cảnh giới căn lành, căn lành bình đẳng bình đẳng với chúng sinh, căn lành trí tuệ phân biệt tất cả.

Đây là căn lành hồi hướng của Đại Bồ-tát khi bố thí đèn sáng, khiến cho tất cả chúng sinh được hồi hướng không ngại, an trú vào tất cả căn lành thanh tịnh sáng suốt.

Khi bố thí thuốc thang, Đại Bồ-tát hồi hướng thế này:

–Nguyện bằng căn lành này, khiến cho các chúng sinh xa lìa các chướng ngại, các bệnh về thân. Được Pháp thân thanh tịnh của Như Lai; được như tánh của thuốc trừ diệt tất cả bệnh bất thiện của chúng sinh; được vị thuốc A-dà-đà đứng vững trong địa vị bất thoái của Bồ-tát; được thuốc của Như Lai nhổ hết tất cả gai độc phiền não; được gần Hiền thánh trừ sạch phiền não được hạnh thanh tịnh; được ý như vua thuốc chưa từng nhàm chán tất cả thiện pháp; thành tựu đầy đủ cây thuốc bất hoại đối trị tất cả bệnh bất thiện, trừ sạch gai bệnh; được tất cả hào quang trí tuệ; được hiểu hết các pháp đối trị của thế gian, tùy theo căn cơ chúng sinh mà trị các bệnh.

Đại Bồ-tát đem căn lành bố thí thuốc hồi hướng như vậy rồi, nhờ căn lành này khiến cho tất cả chúng sinh xa lìa các bệnh, an ổn không bệnh hoạn, thanh tịnh đầy đủ, được pháp không bệnh của Như Lai; khiến tất cả chúng sinh nhổ cây gai bệnh, được thân vô tận, núi kim cang cũng không thể phá hoại, vững chắc đầy đủ tất cả các năng lực. Được thuốc pháp vô thượng của chư Phật, được thần lực của Phật với Pháp thân tự tại.

Đây là căn lành hồi hướng khi bố thí thuốc của Đại Bồ-tát.

Đại Bồ-tát bố thí tất cả các vật dụng như bồn bằng vàng ròng đựng các loại báu; bồn bằng bạc trắng đựng đầy các loại báu; bồn bằng lưu ly đựng đầy các vật báu; bồn bằng pha lê đựng đầy các loại báu vật xinh đẹp; bồn bằng xa cừ đựng đầy ngọc báu đỏ; bồn bằng mã não đựng đầy các báu bằng dạ quang san hô; bồn bằng ngọc đựng đầy các thức ăn thơm ngon; bồn chiên-đàn đựng đầy các loại vải báu; bồn bằng kim cang đựng đầy các loại hương thơm. Vô lượng, vô số các loại bồn báu đẹp như vậy đựng đầy vô lượng, vô số báu đẹp, dâng lên chư Phật, vì tin ruộng phước của Phật vốn không thể nghĩ bàn. Hoặc dâng lên Bồ-tát phát tâm Bồ-đề vì tin các Thiện tri thức rất là khó gặp. Hoặc dâng chúng Tăng để phát triển Phật pháp. Hoặc dâng cúng bậc hoàn hảo như Thanh văn, Duyên giác, vì yêu mến Thánh pháp. Hoặc dâng Cha mẹ vì tôn trọng, hoặc dâng Sư trưởng vì công đức dạy bảo tu tập đúng pháp. Cho đến bố thí những hạng thấp nhất là vì đại Từ bi, vì mắt yêu thương, vì tâm bình đẳng nhìn chúng sinh. Không bỏ tất cả Bồ-tát cả ba đời đang làm viên mãn các Ba-la-mật, một hướng chuyên cầu Vô thượng Bồ-đề; xả bỏ tất cả sở hữu trong và ngoài nhưng không bỏ tất cả các loại chúng sinh, không chấp trước vào ruộng phước và tài vật.

Đại Bồ-tát đem vô lượng dụng cụ quý báu như vậy đựng đầy vô số châu báu, khi bố thí hồi hướng thế này:

–Nguyện đem các căn lành này khiến tất cả chúng sinh được bồn chứa đựng rộng lớn, thành tựu niệm căn rộng lớn như hư không, tất cả kinh sách thế gian và xuất thế gian đều thọ trì hết không bị quên mất.

Khiến tất cả chúng sinh thành bồn chứa thanh tịnh thu nhận tất cả pháp sâu xa của Phật.

Khiến tất cả chúng sinh thành vật đựng bằng báu vô thượng, có thể tiếp nhận tất cả pháp của chư Phật trong ba đời.

Khiến chúng sinh thành vật đựng pháp bảo thù thắng của Như Lai, có thể nhận và giữ hết pháp không hư hoại của chư Phật ba đời.

Khiến chúng sinh thành vật đựng báu đẹp, nhận lấy tâm giác ngộ vô cực.

Khiến chúng sinh thành vật đựng tất cả công đức, rất thích vô lượng trí thanh tịnh của Như Lai.

Khiến chúng sinh thành vật đựng pháp bên trong của Nhất thiết trí, đạt đến tận Nhất thiết trí giải thoát vô ngại của Như Lai.

Khiến chúng sinh thành vật đựng tất cả hạnh Bồ-tát đến hết

kiếp trong vị lai, để tất cả chúng sinh an trú kiên cố trong năng lực Nhất thiết trí.

Khiến chúng sinh thành pháp khí thắng diệu của chư Phật ba đời, thọ trì tất cả Phạm âm thuyết pháp của chư Phật.

Khiến chúng sinh thành vật đựng được bên trong, tự thân chứa đựng tất cả quyến thuộc của chư Phật trong tất cả thế giới hư không giới, pháp giới, cầu thỉnh chư Phật chuyển pháp luân và thọ trì tất cả.

Đây là căn lành hồi hướng của Bồ-tát khi bố thí vật đựng pháp, khiến tất cả chúng sinh thành các pháp khí, chứa đựng tất cả nguyện hạnh của Bồ-tát Phổ Hiền.

Đại Bồ-tát đem vô lượng xe báu sang trọng xinh đẹp dâng lên các bậc ruộng phước như chư Phật, Bồ-tát, hoặc chúng Thiện tri thức của Như Lai là Thanh văn và Duyên giác. Các loại chúng sinh từ phương khác đến, hoặc nương theo danh tiếng của Bồ-tát mà đến; hoặc nhờ nhân duyên của Bồ-tát mà đến; hoặc nghe Bồ-tát phát nguyện bố thí mà đến, hoặc do tâm nguyện của Bồ-tát thỉnh mà đến.

Đại Bồ-tát hoặc bố thí các loại trang nghiêm, xe vàng báu đẹp, lưới linh vàng giăng ở trên rung động khua nhau phát ra âm thanh hòa nhã, rũ các chuỗi ngọc đẹp với nhiều cách trang hoàng.

Hoặc bố thí các loại xe báu lưu ly, trang hoàng với vô số trân châu đẹp.

Hoặc cho các loại xe báu đẹp trang hoàng với bạc trắng, ở trên có giăng lưới bằng bạc trắng.

Hoặc bố thí xe báu ngựa thần, vô lượng vật báu để trang hoàng.

Hoặc bố thí xe báu voi lớn, trang hoàng bằng vô lượng ức vật báu, giăng tất cả các loại lưới báu ở trên.

Hoặc bố thí xe thơm chiên-đàn, trang hoàng bằng vô số bánh xe báu, có đặt tòa Sư tử ở trên, trăm ngàn cô gái đẹp phục vụ bên trong, đầy đủ tướng mạo xinh đẹp hoàn hảo, các lọng hoa đẹp che ở trên, có mười vạn tráng sĩ kéo đi.

Hoặc bố thí xe báu bằng pha lê, trang hoàng bằng vô lượng báu

vật màu sắc đẹp đẽ, chở vô số các cô gái đẹp nghiêm trang, che ở trên bằng những tấm trướng báu, trang hoàng chung quanh bằng tràng phan, phướn lụa báu.

Hoặc bố thí xe mã não quý báu, trang trí bằng những vật báu, xông bằng các loại hương thơm, thoa các dầu thơm, rải các hoa đẹp, trăm ngàn cô gái đẹp cầm chuỗi bằng vàng, bằng thẳng vững vàng chạy nhanh như gió.

Hoặc bố thí các loại xe thơm kiên cố, có trải các loại vải báu mềm mại, giăng ở trên bằng các loại lưới báu, xông bằng các loại hương thơm thanh tịnh; hương ấy đặc biệt làm vừa ý người, bay tỏa ngược gió người nghe không chán, có các vị Thiên tử ở trước kéo đi.

Hoặc bố thí tất cả các loại xe báu, trang trí bằng các màu sắc rực rỡ, có các lưới báu giăng che ở trên, các tua báu bao quanh rũ xuống, trải bằng vải báu và rải hương bột, được các nam nữ khả ái khiêng đi.

Khi Đại Bồ-tát đem các loại xe báu như vậy dâng lên chư Phật, hồi hướng như vầy:

–Nguyện đem căn lành này, khiến tất cả chúng sinh đều mong cầu phước điền vô thượng, cúng dường chư Phật bằng lòng tin sâu xa, có vô lượng quả báo.

Khiến tất cả chúng sinh đối với chư Phật không còn tâm keo kiệt, đầy đủ sự bố thí lớn không có tiếc rẻ.

Khiến tất cả chúng sinh đối với chư Phật tu tạo ruộng phước vô thượng, xa lìa nguyện Nhị thừa, được Nhất thiết chủng trí giải thoát vô ngại của chư Như Lai.

Khiến tất cả chúng sinh đối với chư Phật trồng căn lành vô tận, được vô lượng công đức trí tuệ của Phật.

Khiến tất cả chúng sinh gom giữ trí tuệ sâu xa, đầy đủ trí vương vô thượng thanh tịnh.

Khiến tất cả chúng sinh được cư trú tự tại, được thần lực vô ngại, đến tất cả chỗ của Như Lai.

Khiến tất cả chúng sinh thông hiểu hết Đại thừa, được vô lượng trí tuệ, an trú bất động.

Khiến cho tất cả chúng sinh thành tựu đầy đủ ruộng phước đệ nhất, đều có thể đạt được địa vị Nhất thiết trí.

Khiến tất cả chúng sinh đối với tất cả Phật không có tâm oán hận, trồng các gốc thiện, ưa thích cầu Nhất thiết trí.

Khiến tất cả chúng sinh dùng ít phương tiện mà đến được tất cả cõi Phật trang nghiêm, chỉ trong một niệm vào sâu trong pháp giới không có mệt nhọc.

Khiến tất cả chúng sinh nhập vào các thần thông của Bồ-tát như là hư không, có thể đi đến khắp tất cả cõi Phật.

Khiến tất cả chúng sinh được thân vô song, có thể đi đến các thế giới khắp mười phương mà không mệt nhọc.

Khiến tất cả chúng sinh được thân to lớn, đi lại tùy ý.

Khiến tất cả chúng sinh được tất cả thần lực của Phật, trang nghiêm đến tận bờ kia, chỉ trong một niệm hiển hiện thần lực tự tại của Như Lai khắp cả hư không.

Khiến tất cả chúng sinh tu tập hạnh an ổn, tùy thuận tất cả các hạnh Bồ-tát.

Khiến tất cả chúng sinh đi nhanh không ngại đạt đến trí tuệ bờ kia của Đấng Mười Lực.

Khiến tất cả chúng sinh chuyển năng lực Ba-la-mật của tất cả thế giới, đi vào tất cả pháp giới không hoại.

Khiến tất cả chúng sinh được hạnh Phổ Hiền, đến bờ bên kia, được trí Nhất thiết chủng không thoái chuyển.

Khiến chúng sinh đi bằng xe trí tuệ vô song, tùy thuận tu hành tất cả pháp giới, thấy tánh chân thật.

Đây là căn lành hồi hướng của Đại Bồ-tát khi dâng các loại xe báu đến chư Phật hiện tại và xá-lợi cùng tháp miếu của Phật sau khi diệt độ, khiến chúng sinh đạt đến hoàn toàn xe Đại thừa vô ngại của chư Phật.

Khi Đại Bồ-tát dâng cúng xe thanh tịnh đến các Bồ-tát và Thiện tri thức, hồi hướng như vầy:

–Nguyện đem căn lành này khiến tất cả chúng sinh không quên việc biết ân và báo ân các Bồ-tát và Thiện tri thức.

Khiến tất cả chúng sinh đồng là Thiện tri thức, bao gồm các căn lành như nhau.

Khiến chúng sinh thân cận tôn trọng cung kính cúng dường các Thiện tri thức, xả bỏ tất cả để phục vụ Thiện tri thức.

Khiến tất cả chúng sinh được tâm chánh trực, theo Thiện tri thức chẳng bao giờ xa lìa.

Khiến tất cả chúng sinh thường được gặp Thiện tri thức, không trái lời dạy.

Khiến các chúng sinh được Thiện tri thức bảo bọc, tu tập đại Từ xa lìa các điều ác.

Khiến tất cả chúng sinh thuận theo Thiện tri thức, nghe chánh pháp của Phật đều thọ trì hết.

Khiến các chúng sinh đồng với Thiện tri thức vì căn lành, nghiệp báo, hạnh nguyện Bồ-tát, rốt ráo thanh tịnh, bình đẳng, viên mãn.

Khiến các chúng sinh sinh ra chánh pháp, biết hoàn toàn các cảnh giới Tam-muội, trí tuệ đầy đủ, thần thông tự tại.

Khiến tất cả chúng sinh xa lìa các cõi, thọ trì tất cả pháp, đạt đến tận bờ kia.

Khiến tất cả chúng sinh đi xe Đại thừa, đạt đến tận cùng Nhất thiết chủng trí, trong thời gian giữa không có biếng nhác.

Khiến cho tất cả chúng sinh đi xe trí tuệ, đến nơi an ổn không có hư hại.

Khiến tất cả chúng sinh biết hạnh chân thật, xa lìa ngu si, nghe và giữ tất cả chánh pháp của Phật. Khiến cho tất cả chúng sinh được chư Phật bảo hộ, được trí không ngại thông suốt các pháp.

Khiến các chúng sinh được thần túc bất tử, thông suốt vô ngại.

Khiến tất cả chúng sinh đi lại tự tại giáo hóa chúng sinh thành Đại thừa.

Khiến tất cả chúng sinh hành động không vô ích, đều được đạt đến xe trí tuệ cứu cánh.

Khiến tất cả chúng sinh được xe vô ngại, dùng trí vô ngại đến tất cả nơi.

Đây là căn lành hồi hướng khi dâng các loại xe đến Thiện tri thức của Đại Bồ-tát, khiến cho các chúng sinh đầy đủ công đức không khác gì chư Phật và Bồ-tát, làm cho tất cả Hiền thánh đều vừa ý.

Khi Đại Bồ-tát dâng cúng các loại xe báu đến các Như Lai, học đầy đủ về các tâm bố thí, tuệ phân biệt, công đức tịnh, tùy thuận bố thí, khó gặp Tăng bảo, rất tin Tăng bảo, giữ gìn chánh pháp, an trú chánh trực, có thể tổ chức đại hội bố thí vĩ đại, sinh ra vô lượng, vô biên công đức, đối với chánh pháp của Phật có lòng tin thanh tịnh không thể bị phá hoại.

Khi Đại Bồ-tát đem các loại xe để cúng dường đến Tăng bảo, hồi hướng như vầy:

–Nguyện đem căn lành này khiến tất cả chúng sinh hướng đến Phật pháp, giữ gìn chánh giáo.

Khiến tất cả chúng sinh chuyên tâm nội quán, trừ diệt pháp sai lệch, thành tựu địa vị bậc Thánh.

Khiến tất cả chúng sinh được địa vị Hiền thánh, đem pháp của Như Lai tuần tự dạy nhau.

Khiến tất cả chúng sinh được cả thế gian tôn trọng, lời nói được tôn dùng.

Khiến tất cả chúng sinh vào tất cả pháp.

Khiến tất cả chúng sinh phân biệt hoàn toàn pháp giới không hai.

Khiến tất cả chúng sinh được các báu vây quanh, xuất sinh từ cảnh giới trí tuệ của Như Lai.

Khiến tất cả chúng sinh trú vào pháp lìa cấu, đều trừ diệt được trần cấu phiền não.

Khiến tất cả chúng sinh sinh ra từ vô thượng Tăng bảo, lìa pháp phàm phu được địa vị Thánh tăng.

Khiến tất cả chúng sinh đầy đủ pháp Thánh, tu tập trí vô ngại.

Khiến tất cả chúng sinh làm chủ của đại chúng, trí tuệ trang nghiêm, không nhiễm thế gian.

Khiến tất cả chúng sinh dùng phương tiện thiện xảo chuyển pháp luân trí tuệ.

Khiến tất cả chúng sinh được thần lực trong một niệm, có thể đi đến khắp không thể nêu bày, không thể nêu bày hết thế giới.

Khiến tất cả chúng sinh đi bằng thân hư không trong tất cả thế gian với trí tuệ vô ngại.

Khiến tất cả chúng sinh được đến tất cả đại chúng của Như Lai nhiều như hư không pháp giới.

Khiến tất cả chúng sinh được thân nhẹ nhàng với trí tuệ thắng diệu, có thể đi đến hết thế giới các cõi Phật.

Khiến tất cả chúng sinh được thần túc vô ngại, hiện thân ở tất cả cõi.

Khiến tất cả chúng sinh được thần túc đại tự tại đến bờ kia, không rời một chỗ ngồi mà hiện ra ở khắp tất cả các thế giới.

Khiến tất cả chúng sinh được Pháp thân thanh tịnh, không bị lệ thuộc trong các thế giới, sinh ra thần lực đi nhanh như điện.

Khiến tất cả chúng sinh hiện ra các cảnh giới thần thông không thể nghĩ bàn, có thể tùy thuận hoàn toàn để giáo hóa tất cả chúng sinh đúng theo căn cơ của họ.

Khiến tất cả chúng sinh được thần thông vi diệu, trong một niệm đi khắp các thế giới đi khắp mười phương, trong một niệm vượt qua tất cả pháp giới không bị chướng ngại.

Đây là sự hồi hướng căn lành của Đại Bồ-tát khi dâng cúng các loại xe đến đại chúng của Như Lai, khiến tất cả chúng sinh đều được đi bằng xe trí tuệ vô thượng thanh tịnh, chuyển trí luân pháp luân vô ngại trong tất cả thế giới.

Lại nữa, khi Đại Bồ-tát dâng cúng các loại xe đến Thanh văn, Duyên giác thì phát tâm cung kính, tâm tôn trọng, tâm ruộng phước, tâm biển cung kính, tâm sinh ra trí tuệ công đức, tâm tin vững vào công đức của Như Lai, tâm tu tập vô lượng ức na-do-tha căn lành thanh tịnh, tâm tu tập hạnh thanh tịnh của Bồ-tát trong số kiếp chẳng thể nêu bày hết, tâm giải thoát tất cả sự trói buộc của ma, tâm phá tan tất cả chúng ma quân. Trí tuệ sáng suốt không thể lường được, phân biệt hoàn toàn tất cả các pháp, khiến tất cả chúng sinh đều thành ruộng phước đáng tin cậy đệ nhất, đầy đủ Bố thí ba-la-mật vô thượng.

Khiến tất cả chúng sinh không nói lời vô ích, thích ở nơi yên tịnh, tâm không tạp loạn.

Khiến tất cả chúng sinh thành ruộng phước đệ nhất tối thắng thanh tịnh, tu tập công đức bảo hộ chúng sinh.

Khiến tất cả chúng sinh thành ao nước trí tuệ, làm cho chúng sinh được vô số kết quả hoàn hảo.

Khiến tất cả chúng sinh đến cảnh giới vô ngại, ruộng phước tối thắng, thanh tịnh hoàn toàn.

Khiến tất cả chúng sinh tâm trí ở Tam-muội vô tránh, hiểu rõ tất cả tánh của các pháp là vô tánh.

Khiến tất cả chúng sinh nuôi dưỡng đầy đủ vô lượng công đức, thường gặp ruộng phước tối thắng đệ nhất.

Khiến tất cả chúng sinh thị hiện vô lượng thần lực tự tại, tùy thuận giữ lấy ruộng phước thanh tịnh.

Khiến tất cả chúng sinh thành tựu ruộng phước vô tận công đức, có thể cho tất cả kết quả mười Lực.

Khiến tất cả chúng sinh thành ruộng phước chân thật, đầy đủ vô tận kho tàng công đức, đạt đến Nhất thiết trí.

Khiến tất cả chúng sinh diệt trừ các pháp ác, nghe chánh pháp của Phật, thọ trì cả văn tự và ý nghĩa.

Khiến tất cả chúng sinh đều được nghe pháp của Phật, hiểu rõ điều được nghe, không mất điều thiện.

Khiến tất cả chúng sinh nghe Phật thuyết pháp đạt đến bờ kia, tùy thuận chúng sinh mà thuyết giảng những Phật pháp đã được nghe.

Khiến tất cả chúng sinh thường ưa thích giáo pháp của Như Lai giảng dạy, trừ diệt tất cả chín mươi sáu tà kiến của ngoại đạo.

Khiến tất cả chúng sinh thường được gặp bậc Hiền thánh, phát triển tất cả căn lành tối thắng.

Khiến tất cả chúng sinh muốn nghe về bậc đầy đủ trí tuệ và giới hạnh và thường được chiêm ngưỡng, cùng sống chung mãi nơi an lạc.

Khiến tất cả chúng sinh nghe rồi không mất, hiểu âm thanh

như trống vang, thấy Phật xuất thế.

Khiến tất cả chúng sinh phân biệt hoàn toàn về lời dạy của Phật và có thể giữ gìn Phật pháp.

Khiến tất cả chúng sinh tâm thường hướng đến việc nghe và giữ gìn Phật pháp, làm cho chánh pháp của Như Lai được phổ biến rực rỡ.

Khiến tất cả chúng sinh tin hiểu sâu xa về tất cả công đức của chánh pháp của Phật, làm cho Phật hoan hỷ, hiểu rõ Chân đế, bỏ hết trong và ngoài, bố thí hoàn toàn.

Đây là căn lành hồi hướng của Đại Bồ-tát khi dâng cúng các loại xe đến Thanh văn và Duyên giác, khiến tất cả chúng sinh được trí vô thượng, các thần thông thanh tịnh, tinh cần tu tập không có biếng nhác, đạt đến trí lực không sợ hãi của Phật.

Đại Bồ-tát từ các phương khác đến, tất cả bậc ruộng phước hoặc nương theo danh tiếng Bồ-tát mà đến, hoặc có nhân duyên với Bồ-tát mà đến, hoặc nghe bản nguyện của Bồ-tát mà đến, hoặc do tâm nguyện của Bồ-tát thỉnh đến. Đối với các vị ấy, Bồ-tát đều hoan hỷ bố thí không có nhàm chán.

Bấy giờ, đối với những vị đi đến đó, Bồ-tát phát tâm sám hối và nói: “Các vị biết cho, lẽ ra tôi phải đến gặp các vị để lễ bái và cúng dường các thứ, chứ không để các vị lại vì tôi mà đến từ xa.”

Tức thì, Bồ-tát kính lễ sám hối, nói lời hòa nhã an ủi, làm cho những vị chịu khó từ xa đến được không mệt mỏi, ở chỗ an ổn và cung cấp theo nhu cầu.

Hoặc cho xe báu Ma-ni, có chở cô gái quý báu đệ nhất trong cõi Diêm-phù-đề.

Hoặc bố thí xe vàng có chở cô gái quý báu nhất trong nước của mình.

Hoặc bố thí xe báu bằng lưu ly trong sáng có chở hậu phi.

Hoặc bố thí xe vui vẻ có chở đồng nữ xinh đẹp như Thiên nữ.

Hoặc bố thí vô lượng, vô số xe báu xinh đẹp có chở cô gái quý báu với trang sức xinh đẹp.

Hoặc bố thí xe chiên-đàn thơm của Bồ-tát sử dụng.

Hoặc bố thí xe báu bằng pha lê, có chở cô gái quý báu nhan sắc tuyệt đẹp không ai bằng, dáng điệu đàng hoàng, đi đứng thong thả, trang sức bằng chuỗi ngọc báu thần châu, ưa thích tu theo pháp thiện.

Hoặc bố thí xe báu bằng mã não, có chở thái tử.

Hoặc bố thí xe thơm tuyệt hảo, có chở nam nữ.

Hoặc bố thí các loại xe báu trang nghiêm, có chở những bà con thân ái không thể chia lìa. Đại Bồ-tát đem các loại xe báu như vậy mà bố thí tùy theo yêu cầu của người dùng, làm thỏa mãn ý muốn của họ, hoan hỷ vô cùng.

Khi Đại Bồ-tát bố thí các loại xe, hồi hướng như thế này:

–Nguyện đem căn lành này khiến cho tất cả chúng sinh đi xe Đại thừa không thoái lui, đến dưới gốc cây giác ngộ không thể nghĩ bàn.

Khiến tất cả chúng sinh cỡi xe đại trí tuệ, đến tận đời vị lai, tu tập tất cả các pháp mà Bồ-tát thực hành.

Khiến tất cả chúng sinh đi xe vô sở hữu, tâm không chấp trước đối với tất cả pháp, xả bỏ hư vọng, tu tập đầy đủ đạo Nhất thiết trí.

Khiến tất cả chúng sinh đều đi xe tịch tĩnh lìa phiền não, bằng thần lực vô ngại đi đến các cõi Phật.

Khiến tất cả chúng sinh quyết định ở yên trong xe Nhất thiết trí, thường tự vui vẻ bằng pháp lạc chư Phật.

Khiến tất cả chúng sinh đi xe thanh tịnh của các Bồ-tát đi, đi vào mười đường của Bồ-tát, thích tu tất cả Tam-muội của Bồ-tát.

Khiến tất cả chúng sinh đi xe bốn bánh, bánh xe chánh quốc độ, bánh xe chánh sĩ, bánh xe công đức căn bản, bánh xe nguyện bình đẳng, tịnh hạnh của Bồ-tát nhờ đây mà đầy đủ.

Khiến tất cả chúng sinh đi xe pháp sáng rực, đi khắp mười phương tu tập trí lực của Phật.

Khiến tất cả chúng sinh đi xe Phật pháp đến bờ kia của tất cả các pháp.

Khiến tất cả chúng sinh đi bằng xe pháp không thể nghĩ bàn

của tất cả công đức căn lành, chỉ đường an ổn cho tất cả chúng sinh khắp mười phương.

Khiến tất cả chúng sinh đi bằng xe bố thí tất cả, đoạn trừ cấu uế keo kiệt.

Khiến tất cả chúng sinh đi xe Trì giới ba-la-mật thanh tịnh, đầy đủ tất cả tịnh giới đồng với vô lượng, vô biên pháp giới.

Khiến tất cả chúng sinh đi xe Nhẫn nhục ba-la-mật, trừ tâm sâu hận, không sinh não hại với tất cả chúng sinh.

Khiến tất cả chúng sinh đi xe Tinh tấn ba-la-mật không thoái chuyển, đủ hạnh Bồ-tát đến tận đạo tràng.

Khiến tất cả chúng sinh đi xe Thiền định ba-la-mật, mau đến đạo tràng.

Khiến tất cả chúng sinh đi xe Trí tuệ ba-la-mật, hóa thân khắp cả pháp giới và cảnh giới của Phật.

Khiến tất cả chúng sinh đi xe Pháp vương, thành tựu thí vô úy, Nhất thiết trí, pháp vi diệu.

Khiến tất cả chúng sinh đi xe nguyện trí tuệ không chấp trước đến tất cả các phương, nhưng đối với chân pháp tánh không có sự vào.

Khiến tất cả chúng sinh đi bằng xe pháp của chư Phật, thị hiện sinh đến tất cả các cõi mà không hủy hoại pháp Đại thừa.

Khiến tất cả chúng sinh đi xe Nhất thiết trí, đầy đủ đại nguyện bình đẳng của Bồ-tát mà không mệt mỏi.

Đây là căn lành hồi hướng của Đại Bồ-tát bố thí các loại xe cho khắp chúng sinh được vô lượng phước điền bằng tâm hoan hỷ, khiến tất cả chúng sinh đều được đầy đủ vô lượng chủng trí, đi bằng xe đầy đủ viên mãn trí tuệ.

Đại Bồ-tát bố thí voi báu đầy đủ bảy chi, đủ cả sáu chỗ nổi lên, sáu ngà như tuyết, miệng sạch như hoa, thân thể cân đối, lông màu trắng sáng, trang sức sang trọng, thân thể xinh đẹp, lưới báu đẹp phủ trên thân, các loại châu báu trang sức trên đầu, màu sắc sáng rực, uy nghi hòa nhã, chỉ trong nháy mắt vượt qua ngàn dặm, chạy nhanh mạnh mẽ không có mệt mỏi.

Đại Bồ-tát bố thí ngựa báu có thân thể đặc biệt, màu lông sáng sạch, đầy đủ tướng ngựa, như ngựa báu cõi trời, thân thể trang điểm với vô lượng trân bảo, thần châu minh nguyệt làm ánh sáng, linh vàng lưới báu che ở trên, đi không vội vã mà nhanh như gió, đi xa không mệt, người cõi an ổn, đi khắp bốn phương vẫn theo ý chủ, đem xe báu này cho theo nhu cầu. Hoặc cho ruộng phước, hoặc hiến bậc tôn trọng, hoặc cho người quen biết, hoặc dâng cha mẹ, hoặc cung cấp cho người nghèo. Ai cần thì đều được cung cấp, bố thí với tâm rộng lớn không có luyến tiếc, tâm thường hoan hỷ không có hối hận, bố thí lớn bằng đại Bi, chuyên tâm cầu công đức của Bồ-tát. Chỗ ở tối thắng trực tâm thanh tịnh, hồi hướng căn lành bằng tâm như vậy.

Khiến tất cả chúng sinh đều thành tựu được báu loài người, sinh công đức của Bồ-tát, trang nghiêm Đại thừa.

Khiến tất cả chúng sinh đi xe thiện pháp, đi đến được tất cả Phật pháp.

Khiến tất cả chúng sinh thường thích Đại thừa, được xe có năng lực trí tuệ của Phật hào quang chiếu khắp.

Khiến tất cả chúng sinh đi xe Đại thừa dũng mãnh, viên mãn các nguyện.

Khiến tất cả chúng sinh đầy đủ xe bình đẳng Ba-la-mật, thành tựu đầy đủ tất cả căn lành, khiến tất cả chúng sinh thành tựu xe báu, sinh ra báu trí vô thượng của Phật pháp.

Khiến tất cả chúng sinh phân biệt trang nghiêm của Bồ-tát, được xe báu này ra khỏi ba cõi, đều nở ra các hoa Tam-muội của các Bồ-tát.

Khiến tất cả chúng sinh trong vô lượng a-tăng-kỳ kiếp tu tập thanh tịnh hạnh của Bồ-tát, đi bằng xe vô lượng, mau hiểu các pháp.

Khiến tất cả chúng sinh bố thí xe báu Đại thừa bằng phương tiện hoàn hảo, đầy đủ địa vị Bồ-tát.

Khiến tất cả chúng sinh được xe Đại thừa rất cao rộng an ổn, có thể vận tải tất cả chúng sinh đến đạo Vô thượng.

Đây là sự hồi hướng căn lành về bố thí voi ngựa báu trong vô lượng a-tăng-kỳ na-do-tha kiếp của Đại Bồ-tát, khiến tất cả chúng sinh đi xe trí vô ngại, được đến nơi xe báu cứu cánh của Như Lai.

Đại Bồ-tát bố thí các tòa để ngồi hoặc cho tòa Sư tử của bậc Thánh vương, chân bằng lưu ly, tấm trải mềm mại xinh đẹp ở trên dệt bằng tơ vàng ròng, ướp bằng tất cả hương thơm hảo hạng, dựng các loại phướn báu rất đẹp, trang hoàng bằng vô số vật báu, lưới báu trắng sạch giăng ở trên, lưới gắn linh vàng khua động phát ra âm thanh rất hay. Có trăm ngàn vạn ức na-do-tha hình tượng quý báu bao quanh.

Tòa ngồi này được trang hoàng xinh đẹp, cao rộng, sạch sẽ.

Vô lượng a-tăng-kỳ chúng sinh nhìn không chán. Đây là chỗ ngồi của Bậc Đại Vương tự tại, công lao bao trùm cả thiên hạ. Vị ấy ngồi ở tòa này trị nước bằng chánh pháp, không ai dám trái lệnh. Thân vị ấy trang sức bằng các loại báu đẹp trong sáng như mặt trời, trong mát như mặt trăng. Trang trí bằng những vì sao như báu rất quý trong biển, phướn kiên cố ở biển, thanh tịnh sáng rực, mão bằng lụa báu màu hoàng kim Diêm-phù-đàn đội trên đầu, bằng tất cả pháp của vua Quán Đảnh đại lực trong cõi Diêm-phù rưới nước trên đầu. Vua ấy đầy đủ năng lực công đức, chủ của đại Từ bi, chiến thắng kẻ địch, không ai trái lệnh cả.

Đại Bồ-tát làm vô lượng, vô số vị Chuyển luân vương như vậy, được pháp tự tại. Khi trị nước, đem tòa ngồi được trang trí bằng các loại vật báu như vậy, dâng đến Bậc Chánh Giác, Thiện tri thức và Hiền thánh Tăng, nghe pháp hoan hỷ. Dâng lên Pháp sư, cúng dường cha mẹ, các bậc đáng tôn trọng, Thanh văn, Duyên giác, tất cả Bồtát, cho đến người mới phát tâm Đại thừa, đến tất cả tháp miếu thờ chư Phật. Hoặc cho những kẻ bần cùng thấp hèn, cung cấp tất cả những gì theo họ yêu cầu.

Khi bố thí tòa ngồi, Bồ-tát hồi hướng như vầy:

–Nguyện đem căn lành này khiến cho tất cả chúng sinh được tòa Bồ-đề, tự nhiên giác ngộ chánh pháp của chư Phật.

Khiến tất cả chúng sinh được tòa tự tại, thành tựu đầy đủ đối với pháp tự tại, các núi Kim cang cũng không phá hoại được, thu phục được tất cả ma quân.

Khiến tất cả chúng sinh được tòa Sư tử tự tại của Phật, tất cả chúng sinh ưa nhìn không chán.

Khiến tất cả chúng sinh được không thể nêu bày, không thể nêu bày hết tòa thanh tịnh trang nghiêm đẹp đẽ, thành tựu pháp tự tại hóa độ khắp chúng sinh.

Khiến tất cả chúng sinh được tòa thù thắng, ba loại thế gian không thể phá hoại, căn lành rộng lớn và vật dụng căn lành đều được thanh tịnh.

Khiến tất cả chúng sinh được tòa cao rộng, bao trùm không thể nêu bày, không thể nêu bày hết thế giới, chư Phật Như Lai trong vô số kiếp khen ngợi cũng không hết.

Khiến tất cả chúng sinh ngồi ở tòa đại trí, một thân lớn khắp tất cả pháp giới.

Khiến tất cả chúng sinh được tòa trang nghiêm không thể nghĩ bàn, tùy theo bản nguyện theo lời thỉnh của chúng sinh mà giảng thuyết diệu pháp.

Khiến tất cả chúng sinh đều được ngồi ở pháp tòa tịnh diệu, trong các thế giới nhiều không thể nêu bày hết, hiển hiện thần lực tự tại của Như Lai.

Khiến tất cả chúng sinh ngồi ở tất cả tòa báu, tất cả tòa thơm, tất cả tòa hoa, tất cả tòa vải quý, tất cả tòa vòng hoa, tất cả tòa ma-ni báu, tòa lưu ly trong sáng không thể nghĩ bàn. Vô lượng không thể nêu bày hết tòa thế giới, tòa trang nghiêm thanh tịnh tất cả chúng sinh, tòa lìa tranh luận. Ngồi trên tòa này thì giác ngộ Nhất thiết chủng trí của Như Lai, thị hiện cảnh giới công đức của chư Phật.

Đây là căn lành hồi hướng của Bồ-tát khi bố thí các loại tòa ngồi, khiến tất cả chúng sinh được tòa giác ngộ không lệ thuộc, tự nhiên giác ngộ tất cả Phật pháp.

*********

Đại Bồ-tát bố thí các loại lọng, như lọng tôn trọng người, trang hoàng bằng các loại báu đẹp, là lọng số một trong vô lượng, vô biên các lọng xinh đẹp. Cán bằng các loại báu, che phủ bằng lưới vàng, các dây chuỗi ngọc báu rũ xuống xung quanh, treo các linh báu, đính ngọc lưu ly trong suốt, chúng khua động nhau phát ra âm thanh hòa nhã, lưới báu trắng sạch đan với nhau. Trăm ngàn lưới báu thanh tịnh giăng che ở trên, trang hoàng bằng vô lượng trăm vạn ức các báu và vô lượng na-do-tha chiên-đàn trầm thủy tỏa hương thơm ngát, với các loại vàng ròng thanh tịnh xinh đẹp. Có vô lượng a-tăng-kỳ nado-tha các lọng như vậy. Bằng tâm lìa ác, tâm quảng đại, tâm buông xả, Bồ-tát làm việc bố thí. Hoặc dâng cúng chư Phật hiện tại, cúng dường tháp miếu thờ Phật sau khi Ngài Niết-bàn. Vì để cầu pháp, Bồ-tát dâng cúng Bồ-tát các Thiện tri thức, Pháp sư, Cha mẹ, chúng Tăng. Hoặc dâng cúng tất cả Phật pháp; hoặc dâng cúng các bậc ruộng phước, sư trưởng, bậc đáng tôn trọng, người mới phát tâm Bồ-tát, tất cả người nghèo khổ cùng cực, cung cấp đầy đủ theo yêu cầu người xin.

Đại Bồ-tát khi bố thí dù lọng, hồi hướng thế này:

–Nguyện đem căn lành này khiến tất cả chúng sinh được căn lành che chở, được tất cả chư Phật hộ trì, được công đức của trí tuệ che chở, trừ diệt tất cả cấu bẩn phiền não của thế gian.

Khiến tất cả chúng sinh che mát bằng pháp thanh tịnh, trừ diệt tất cả trần lao nhiệt não.

Khiến tất cả chúng sinh được kho trí tuệ bên trong của Như Lai. Khiến tất cả chúng sinh thích quan sát không chán.

Khiến tất cả chúng sinh tự che mát bằng pháp trắng tịch tĩnh, đều được đạt đến Phật pháp không hoại.

Khiến tất cả chúng sinh được thiện che thân, đạt đến Pháp thân thanh tịnh của Như Lai.

Khiến tất cả chúng sinh đều trở thành Bậc Trí Tuệ Mười Lực, che chở khắp thế gian.

Khiến tất cả chúng sinh được trí tuệ theo sự ưa thích, đều được vượt qua tất cả thế gian, sáng suốt thanh tịnh không bị nhiễm trước.

Khiến tất cả chúng sinh được lọng Ứng cúng, thành ruộng phước thù thắng, nhận cúng của chúng sinh.

Khiến tất cả chúng sinh được lọng tối thượng, tự nhiên giác ngộ lọng trí vô thượng.

Đây là căn lành hồi hướng của Đại Bồ-tát khi bố thí lọng, khiến tất cả chúng sinh thọ trì lọng tự tại của pháp.

Dùng một lọng công đức che khắp tất cả thế giới nhiều như tất cả pháp giới hư không giới, thị hiện thần lực tự tại của chư Phật. Dùng một lọng công đức trang nghiêm pháp giới cúng dường chư Phật. Dùng lọng phướn, tràng phan đẹp che khắp tất cả cõi Phật đều được trang hoàng bằng lọng báu, khiến tất cả chúng sinh đều mong cầu Vô thượng Bồ-đề.

Dùng lọng vô thượng che khắp chúng sinh, khiến tất cả chúng sinh đem không thể nêu bày, không thể nêu bày hết tất cả các lọng báu trang nghiêm xinh đẹp cúng dường một Đức Phật, cúng dường tất cả chư Phật cũng như vậy.

Khiến tất cả chúng sinh tự nhiên giác ngộ được lọng công đức tối chánh giác cao rộng vi diệu, che khắp chư Phật.

Khiến tất cả chúng sinh đem các loại lọng báu đem cúng dường chư Phật trong tất cả thế giới bằng cả pháp giới hư không giới.

Khiến tất cả chúng sinh đem các loại lọng báu Ma-ni, trang hoàng bằng các chuỗi anh lạc treo rũ chung quanh, tất cả lọng thơm thượng hạng, trang hoàng bằng các loại báu sáng đẹp, rất cao lớn, có lưới báu trắng sạch giăng ở trên, có lưới linh báu vây chung quanh, tự nhiên phát ra các âm thanh vi diệu. Bằng vô lượng, vô số các loại lọng báu như vậy đem cúng dường chư Phật, khiến tất cả chúng sinh được lọng trí vô ngại, che khắp tất cả chư Phật khắp mười phương.

Khiến tất cả chúng sinh được lọng trí tối thắng, che khắp chúng sinh.

Khiến tất cả chúng sinh được lọng báu trang nghiêm bằng công đức của Phật, che khắp chúng sinh.

Khiến tất cả chúng sinh đều được đầy đủ đại nguyện thanh tịnh, công đức của chư Phật.

Khiến tất cả chúng sinh được tâm quý báu thanh tịnh không thể nghĩ bàn.

Khiến tất cả chúng sinh đầy đủ trí tự tại của các pháp.

Khiến tất cả chúng sinh đem các căn lành che khắp chúng sinh.

Khiến tất cả chúng sinh được lọng trí vô thượng, che khắp chúng sinh.

Khiến tất cả chúng sinh được lọng mười Lực, che khắp chúng sinh.

Khiến tất cả chúng sinh dùng một cõi Phật có thể che phủ tất cả pháp giới.

Khiến tất cả chúng sinh được tự tại với tất cả các pháp.

Khiến tất cả chúng sinh được tâm tự tại.

Khiến tất cả chúng sinh trí tuệ rộng lớn đứng đầu.

Khiến tất cả chúng sinh dùng vô lượng công đức che phủ hết tất cả chúng sinh.

Khiến tất cả chúng sinh dùng các công đức che phủ tâm mình.

Khiến tất cả chúng sinh dùng tâm bình đẳng che phủ tất cả.

Khiến tất cả chúng sinh dùng đại trí tuệ che phủ tất cả.

Khiến tất cả chúng sinh đủ đại hồi hướng.

Khiến tất cả chúng sinh đầy đủ tâm chánh trực thanh tịnh.

Khiến tất cả chúng sinh ý căn thanh tịnh.

Đây là căn lành hồi hướng của Đại Bồ-tát bố thí các loại lọng, khiến tất cả chúng sinh đều được thành tựu hồi hướng tối đại, che chở bảo hộ tất cả chúng sinh.

Đại Bồ-tát bố thí các loại tràng phan thanh tịnh, cán bằng vô lượng tạp bảo, các loại lụa báu làm tấm phướn rũ xuống, các tấm lụa đẹp rũ xuống xung quanh, lưới báu trắng sạch giăng ở trên, trang trí bằng báu linh vàng, gió nhẹ làm khua động phát ra âm thanh hòa nhã. Có vô lượng, vô số na-do-tha các loại tràng phan đẹp kèm theo, trang trí bằng các dải lụa báu đẹp, hình tượng báu bán nguyệt, vàng Diêm-phù-đàn sáng như ánh mặt trời, phướn báu trang hoàng khắp cả mặt đất. Tùy nghiệp báo ưa thích của tất cả thế giới mà trang hoàng phướn ấy, đứng vững trong các cõi Như Lai nhiều cả pháp giới hư không giới.

Tùy theo sở thích của các thế giới, Bồ-tát bố thí các phướn đẹp, khiến họ phát tâm chánh trực Bồ-đề. Hoặc dâng tất cả chư Phật trong hiện tại, hoặc dâng cho tháp miếu, hoặc dâng cho Pháp bảo, Tăng bảo, Thiện tri thức, Bồ-tát, Thanh văn, Duyên giác, đại chúng, cá nhân, người nghèo, cho đầy đủ tất cả những người đến xin.

Đại Bồ-tát khi bố thí tràng phan, hồi hướng thế này:

–Nguyện đem căn lành này, khiến tất cả chúng sinh xây dựng tất cả căn lành, tràng phan công đức không thể bị hư hoại.

Khiến tất cả chúng sinh dựng lên tất cả tràng phan tự tại của các pháp, giữ gìn chánh pháp.

Khiến tất cả chúng sinh hộ trì chánh pháp bảo, giữ gìn pháp sâu xa của chư Phật và Bồ-tát.

Khiến tất cả chúng sinh dựng lên tràng phan báu công đức cao hiển, đốt đèn trí tuệ chiếu khắp chúng sinh.

Khiến tất cả chúng sinh thành tựu tràng phan không bị hư hoại, thu phục tất cả nghiệp ác của các ma.

Khiến tất cả chúng sinh đều dựng lên tràng phan năng lực trí tuệ, không bị các ma phá hoại được.

Khiến tất cả chúng sinh được tràng phan đại trí tuệ Na-la-diên thù thắng, phá gãy tất cả tràng phan của thế gian.

Khiến tất cả chúng sinh dựng lên phướn mặt trời viên mãn, ánh sáng trí tuệ đầy khắp tất cả thế giới chư Phật; dựng lên không thể nêu bày hết tràng phan thắng diệu, cúng dường tất cả chư Phật khắp mười phương.

Khiến tất cả chúng sinh được phướn Như Lai, phá gãy tất cả phướn tà kiến của ngoại đạo.

Đây là căn lành hồi hướng khi Đại Bồ-tát bố thí tràng phan, khiến tất cả chúng sinh dựng lên phướn Bồ-tát hạnh cao rộng, dựng lên phướn hạnh tự tại của tất cả Bồ-tát, được đạo thanh tịnh.

Khi Đại Bồ-tát mở kho báu, làm việc bố thí, hồi hướng thế này:

–Nguyện đem căn lành này khiến khiến tất cả chúng sinh thường gặp Phật bảo, không còn ngu si, tu hành chánh niệm.

Khiến tất cả chúng sinh được gặp Pháp bảo, chiếu sáng hộ trì tất cả Pháp tạng của Phật.

Khiến tất cả chúng sinh hộ trì Tăng bảo, lìa keo kiệt, làm việc bố thí được thỏa mãn theo ý muốn.

Khiến tất cả chúng sinh sinh báu tâm Nhất thiết trí, đối với tâm giác ngộ thanh tịnh không thoái chuyển.

Khiến tất cả chúng sinh có báu trí tuệ rộng lớn, xa lìa ngu si, đạt đến tận cùng Phật pháp.

Khiến tất cả chúng sinh sinh các báu công đức của Bồ-tát, diễn thuyết vô lượng diệu bảo trí tuệ.

Khiến tất cả chúng sinh khen ngợi báu của vô lượng công đức, tu tập trí mười Lực, đạt đến báu Chánh giác.

Khiến tất cả chúng sinh được mười sáu trí báu Tam-muội chánh thọ, đạt đến báu trí tuệ rộng lớn.

Khiến tất cả chúng sinh thành tựu báu ruộng phước số một, giác ngộ báu trí vô thượng của Như Lai.

Khiến tất cả chúng sinh thành tựu báu tăng thượng, kho biện tài vô tận để diễn thuyết pháp bảo.

Đây là căn lành hồi hướng của Đại Bồ-tát khi bố thí các loại báu, khiến tất cả chúng sinh đầy đủ rốt ráo trí báu vô thượng, được mắt báu thanh tịnh vô ngại.

Đại Bồ-tát lại đem vật dụng xinh đẹp cho các chúng sinh. Đó là tất cả vật trang nghiêm nơi thân, nơi tay chân, vật trang điểm làm cho thân thanh tịnh, vật trang điểm xinh đẹp không chán, vật trang sức bằng các loại quý giá. Với tất cả vô số các loại vật báu xinh đẹp như vậy đem bố thí và hồi hướng tất cả căn lành ấy, khiến tất cả chúng sinh thân thể sạch sẽ xinh đẹp, bình đẳng nhìn tất cả chúng sinh xem như con một, vượt khỏi thế gian, được trí tuệ của Phật, thu phục tất cả chúng sinh làm cho ưa thích pháp sâu xa, an trú trong tất cả Phật pháp.

Khiến tất cả chúng sinh trang hoàng cho trời, người bằng trí tuệ thanh tịnh.

Khiến tất cả chúng sinh thân trang điểm bằng cửa tướng công đức, đầy đủ thanh tịnh.

Khiến tất cả chúng sinh thân tướng xinh đẹp trang điểm bằng sự xinh đẹp của trăm phước.

Khiến tất cả chúng sinh thân đầy đủ các tướng đẹp.

Khiến tất cả chúng sinh có đủ ngôn từ đẹp đẽ, đầy đủ kho biện tài vô tận.

Khiến tất cả chúng sinh dùng các công đức trang điểm âm thanh, đầy đủ sự vi diệu thanh tịnh của Phạm âm.

Khiến tất cả chúng sinh đều mong cầu sự trang nghiêm của Phật pháp, hoan hỷ nghe và tiếp nhận pháp của chư Phật.

Khiến tất cả chúng sinh tự trang hoàng bằng tâm trang nghiêm, dùng Tam-muội niệm Phật thấy khắp chư Phật.

Khiến tất cả chúng sinh dùng sự trang nghiêm của các Đà-la-ni để tự trang nghiêm, được ánh sáng của Phật pháp để thấy rõ Phật pháp.

Khiến tất cả chúng sinh trang nghiêm tâm mình bằng trí bình đẳng, dùng trí Như Lai trang nghiêm Pháp thân.

Đây là căn lành hồi hướng của Đại Bồ-tát khi bố thí các vật xinh đẹp, khiến tất cả chúng sinh đối với công đức trí tuệ của vô lượng Phật pháp được trang nghiêm đầy đủ, khiến tất cả chúng sinh từ bỏ tất cả kiêu mạn, phóng túng.

Đại Bồ-tát làm Đại vương Quán đảnh, uy lực tự tại, bố thí viên minh châu ở búi tóc trong mão Thiên quan. Bố thí tất cả, giúp đỡ chúng sinh, phát triển tâm bố thí, dùng bố thí để xông ướp tâm, hướng đến bố thí tăng thượng, dùng bố thí tu trí tuệ, bố thí xả căn, bố thí tu giác ngộ rộng lớn.

Đại Bồ-tát hồi hướng căn lành khi bố thí viên minh châu trong búi tóc, hồi hướng thế này:

–Nguyện đem căn lành này, khiến tất cả chúng sinh nhận lãnh ngôi vị Pháp vương Quán đảnh Nhất thiết trí.

Khiến tất cả chúng sinh được đầy đủ tướng đảnh, được đảnh thắng trí, đến bờ bên kia.

Khiến tất cả chúng sinh được báu thắng trí, đạt đến tất cả đảnh công đức.

Khiến tất cả chúng sinh đều được an trú trong đảnh báu trí tuệ, được tất cả chúng sinh đảnh lễ.

Khiến tất cả chúng sinh đều được đội mão Thiên quan trí tuệ, được tự tại đối với tất cả các pháp.

Khiến tất cả chúng sinh dùng ngọc sáng trí tuệ buộc trên đảnh mình, tất cả thế gian không ai thấy được đảnh.

Khiến tất cả chúng sinh đều được cung kính đảnh lễ, đầy đủ đảnh tuệ chiếu sáng Phật pháp.

Khiến tất cả chúng sinh thành tựu mão mười lực để đội trên đảnh mình, kho biển trí tuệ đầy đủ thanh tịnh.

Khiến tất cả chúng sinh đứng vững ở bậc đế vương lớn nhất trên mặt đất, phá các đảnh ma, thành Chánh giác Tối thượng, đầy đủ rốt ráo mười Lực của Như Lai.

Khiến tất cả chúng sinh thành bậc vua Thắng đảnh, được đảnh Nhất thiết trí với ánh sáng tối thắng.

Đây là căn lành hồi hướng của Đại Bồ-tát khi xả bỏ ngọc sáng trong mão Thiên quan, khiến tất cả chúng sinh có thắng ma-ni trí tuệ thanh tịnh.

Đại Bồ-tát thấy chúng sinh trong lao ngục, chịu các khổ sở, bị trói bị đánh, nhốt nơi tối tăm, gông cùm xiềng xích tra khảo chảy máu, đói khát không chịu nổi, trần truồng gầy ốm, tóc xõa che cả thân, chịu rất nhiều đau khổ, không ai cứu được.

Đại Bồ-tát thấy các chúng sinh đau khổ như thế rồi, nên bỏ ra tài sản quý báu, vợ con, thân thuộc, hoặc chính thân mình để cứu khổ cho chúng sinh trong địa ngục ấy. Như Đại Bồ-tát đại Bi, vua Thiện Nhãn.

Đại Bồ-tát cứu chúng sinh ra khỏi ngục ấy rồi, cung cấp theo nhu cầu của họ được an ổn. Trước tiên làm cho họ hoan hỷ; sau đó thuyết pháp, làm cho họ đều được đứng vững ở căn lành không phóng dật, tâm không còn thoái chuyển đối với pháp của Bậc Chánh Giác. Khi cứu người trong ngục, Đại Bồ-tát hồi hướng thế này:

–Nguyện đem căn lành này, khiến cho tất cả chúng sinh thoát khỏi dây trói của ái.

Khiến tất cả chúng sinh cắt đứt dòng sinh tử, qua đến bờ trí tuệ.

Khiến tất cả chúng sinh diệt trừ si ám, được trí thanh tịnh sáng suốt, nhổ các gốc kết sử, xa lìa trần cấu.

Khiến tất cả chúng sinh cắt đứt dây trói ba cõi, được Nhất thiết trí.

Khiến tất cả chúng sinh diệt hẳn kiết lậu, xa lìa đất phiền não, được trí vô ngại, được đạt đến bờ giác ngộ.

Khiến tất cả chúng sinh xa lìa sự trói buộc của ái và mạn, rốt ráo thành tựu trí tuệ lìa ái và mạn.

Khiến tất cả chúng sinh thoát các dây trói dục, lìa hẳn tất cả tham dục của thế gian, ở trong thế gian mà không bị nhiễm.

Khiến tất cả chúng sinh được thân tâm thanh tịnh, thường được chư Phật hộ trì.

Khiến tất cả chúng sinh được tâm không chấp trước không trói buộc, rộng lớn như pháp giới, cùng tận như hư không.

Khiến tất cả chúng sinh được thần túc của Bồ-tát, đi khắp các cõi, giáo hóa chúng sinh, lìa bỏ thế gian trú vào Đại thừa.

Đây là căn lành hồi hướng của Đại Bồ-tát khi cứu khổ cho chúng sinh, khiến tất cả chúng sinh đạt đến địa vị trí tuệ của Như Lai.

Đại Bồ-tát thấy tù nhân bị đưa đến chỗ chết, thân thể bị trói, tâm ý rất đau khổ, mạng sống chỉ còn rất ngắn, mọi người vây quanh, sẽ bị mất tất cả vật yêu thích ở cõi Diêm-phù-đề, xa lìa hẳn người thân ái, dần dần đi đến chỗ chết. Hoặc bị xỏ vào cây treo trên giá cao, hoặc bị dao đâm, hoặc bị lửa đốt, hoặc bị trói, tưới dầu vào rồi châm lửa đốt cháy, chịu vô lượng các sự khổ như vậy. Thấy như vậy rồi, Bồ-tát tự xả bỏ thân mạng để cứu các khổ nạn ấy. Chẳng hạn như Bồ-tát Trì Lai, Bồ-tát Thắng Tấn Vương… Các Đại Bồ-tát tự đem thân mình chịu các khổ sở để cứu chúng sinh. Các vị ấy nói: “Ta nên đem thân thế mạng cho họ. Giả như chịu đau khổ hơn vô số lần như thế, ta cũng chịu cả, quyết đem thân thế mạng cho họ để họ được giải thoát.”

Hoặc Bồ-tát suy nghĩ: “Nếu thấy khổ như vậy mà ta không chịu thay cho họ là mất lợi lớn. Tại sao? Vì chúng sinh, vì cứu giúp chúng sinh mà ta phát tâm Bồ-đề Nhất thiết trí, thế nên cần phải xả thân để thế mạng cho họ.”

Khi Đại Bồ-tát cứu khổ cho chúng sinh, hồi hướng như vầy:

–Nguyện đem căn lành này khiến tất cả chúng sinh được thân mạng vô tận, xa lìa hẳn khổ não buồn rầu nóng bức dữ dội.

Khiến tất cả chúng sinh nương tựa theo cửa Phật, được thọ ký giác ngộ, có đầy đủ năng lực Nhất thiết trí.

Khiến tất cả chúng sinh chặn đứng sợ hãi, thoát khỏi các đường ác.

Khiến tất cả chúng sinh được tất cả mạng, vĩnh viễn đi vào cảnh giới trí tuệ bất tử.

Khiến tất cả chúng sinh xa lìa quân thù, thường được Phật và Thiện tri thức bảo vệ.

Khiến tất cả chúng sinh từ bỏ dao gậy, tu hành tịnh nghiệp.

Khiến tất cả chúng sinh xa lìa khủng bố, ngồi dưới cây Bồ-đề, thu phục ma quân.

Khiến tất cả chúng sinh không còn sợ hãi với đại chúng, đối

với trong pháp vô thượng, được không sợ sệt, rống lên tiếng rống sư tử.

Khiến tất cả chúng sinh được nghiệp thanh tịnh, được hạnh trí tuệ của sư tử không chướng ngại.

Khiến tất cả chúng sinh đến chỗ không sợ hãi, cứu hộ tất cả chúng sinh khổ não.

Đây là căn lành hồi hướng của Đại Bồ-tát khi xả thân cứu những người tử tù kia, khiến tất cả chúng sinh lìa khổ sinh tử, đạt đến an lạc giác ngộ.

Đại Bồ-tát thấy chúng sinh đến xin cả da đầu tóc và minh châu trong búi tóc, thì bấy giờ Bồ-tát đều hoan hỷ đem cho, như các vị Đại Bồ-tát Châu La Bảo Vương, Thắng Thú… Khi có người đến xin da, đầu, tóc và minh châu trong búi tóc thì Bồ-tát chánh niệm tư duy không nghĩ đến hành động khác, lìa các thế gian, hướng về tịch tĩnh, thanh tịnh chánh niệm về Nhất thiết trí, tu tâm chánh trực. Khi ấy, Bồ-tát tay cầm dao bén cắt da, đầu và cả minh châu trong búi tóc, quỳ gối phải xuống đất, cung kính chắp tay, chánh niệm đến hành động của Bồ-tát và chư Phật ba đời, rất hoan hỷ, trực tâm thanh tịnh, tất cả Phật pháp đầy cả ý căn, tâm không chấp về khổ, vì khổ chỉ là pháp sinh diệt, là pháp vô thường.

Suy nghĩ thế rồi, Bồ-tát diệt hết các khổ, hoan hỷ bố thí, đem căn lành hồi hướng, khiến tất cả chúng sinh được tướng đảnh không thấy, thành tựu tháp che trùm tôn quý của Bồ-tát.

Khiến tất cả chúng sinh được tóc xanh biếc, tóc kim cang, tóc mềm mại, trừ diệt hết tất cả các khổ phiền não.

Khiến tất cả chúng sinh được tóc không rối, tóc sáng sạch.

Khiến tất cả chúng sinh tóc xoay về bên phải.

Khiến tất cả chúng sinh được tóc như tóc của Phật, diệt trừ tất cả các tập khí phiền não.

Khiến tất cả chúng sinh có tóc phát ánh sáng lớn chiếu ra mười lực.

Khiến tất cả chúng sinh được tóc không rối thanh tịnh của Phật.

Khiến tất cả chúng sinh được tóc như tháp Bậc Ứng Cúng trừ diệt tâm ác, thấy tóc Như Lai.

Khiến tất cả chúng sinh tóc lìa các trần cấu, được tóc không dính bẩn của Như Lai.

Đây là căn lành hồi hướng của Đại Bồ-tát khi bố thí búi tóc và minh châu trong đó, khiến tất cả chúng sinh đều được đạt đến tất cả Đà-la-ni, các môn Tam-muội, Nhất thiết chủng trí và mười Lực của Phật.

Đại Bồ-tát khi bố thí mắt, như vô lượng các Đại Bồ-tát là Bồtát Hoan Hỷ, Bồ-tát Mãn Nguyệt Vương… Khi bố thí mắt, Bồ-tát tu tập về bố thí tâm của mắt, tu tập tuệ về tâm của mắt, được tâm của mắt Phật pháp, hướng đến tâm đạo Vô thượng, đạt đến các tâm thông suốt, chuyên cầu tâm trí tuệ. Như Bồ-tát cả ba đời, Bồ-tát này tu tâm bố thí, bằng mắt Từ bi nhìn người đến xin mắt, bằng tín tâm bất hoại đem mắt cho họ. Nhờ đó sinh ra mắt giác ngộ, tăng trưởng tâm Đại thừa giác ngộ, đại Từ, đại Bi điều khiển các căn.

Đại Bồ-tát tu tâm như vậy, đem mắt bố thí, thường ưa bố thí, kiến lập chánh pháp, xả bỏ khoái lạc và phóng dật của thế gian, nhàm chán năm dục, ưa thích tâm giác ngộ. Tùy theo sự mong cầu của họ, đều làm cho mãn nguyện, nuôi dưỡng bố thí bình đẳng không hai. Tùy theo mong cầu, đều cho đầy đủ căn lành hồi hướng, khiến tất cả chúng sinh mắt được mở sáng, làm mắt sáng cho đời.

Khiến tất cả chúng sinh được mắt vô ngại, mở rộng kho trí tuệ.

Khiến tất cả chúng sinh được mắt thịt thanh tịnh, tất cả thế gian không sao phá hoại được.

Khiến tất cả chúng sinh được mắt trời thanh tịnh, thấy hết chúng sinh chết đây sinh kia.

Khiến tất cả chúng sinh được mắt pháp thanh tịnh, có thể tùy thuận vào cảnh giới của Như Lai.

Khiến tất cả chúng sinh được mắt tuệ thanh tịnh, phân biệt biết rõ tất cả thế gian.

Khiến tất cả chúng sinh được mắt Phật thanh tịnh, có thể giác ngộ hết tất cả các pháp.

Khiến tất cả chúng sinh được mắt thanh tịnh, nhìn khắp suốt hết các cảnh giới không bị chướng ngại.

Khiến tất cả chúng sinh trừ diệt si ám được mắt thanh tịnh, rõ cảnh giới chúng sinh là không, không thật có.

Khiến tất cả chúng sinh được mắt không chướng ngại, nhìn đến nơi thù thắng mười Lực của Phật.

Đây là căn lành hồi hướng của Đại Bồ-tát khi bố thí mắt, khiến tất cả chúng sinh được mắt Nhất thiết trí.

Đại Bồ-tát khi bố thí tai, cũng như khi Bồ-tát Thắng Vương, Bồ-tát Thắng Vô Oán Bố Thí Tai, tu hạnh Bồ-tát, sinh vào nhà Như Lai, tu tập sự bố thí mà chư Phật đã làm, chánh niệm tất cả tịnh hạnh của Bồ-tát. Tùy thuận giác ngộ của chư Phật, sinh ra các căn thanh tịnh, công đức trí tuệ, quán sát thế gian không có bền vững, khiến tất cả chúng sinh thường thấy tất cả chư Phật Bồ-tát, không bị ô nhiễm vào tự thân, tùy thuận chánh niệm tất cả Phật pháp.

Đại Bồ-tát khi bố thí tai, tự tâm tịch tĩnh chế ngự các căn, đưa chúng sinh qua nơi đồng hoang hiểm nạn, sinh ra công đức đèn trí tuệ, thành tựu biển Bố thí ba-la-mật, tâm bố thí thành tựu viên mãn, biết nghĩa biết pháp, biết rõ các đạo, được trí tuệ hạnh, tự tại đối với pháp, đem thân không kiên cố đổi lấy thân kiên cố.

Đại Bồ-tát khi bố thí tai, hồi hướng như vầy:

–Nguyện đem căn lành này khiến tất cả chúng sinh được tai vô ngại, được nghe khắp vô lượng pháp âm, thông suốt vô ngại.

Khiến tất cả chúng sinh được tai vô ngại, phân biệt biết hết vô lượng âm thanh.

Khiến tất cả chúng sinh được tai không đối đãi, được tai thanh tịnh của Phật.

Khiến tất cả chúng sinh được tai thanh tịnh, hiểu rõ nhĩ căn là không, không thật có.

Khiến tất cả chúng sinh được tai rộng lớn, đều được tịch tĩnh thức không có sự phát sinh.

Khiến tất cả chúng sinh được tai lớn như pháp giới, có thể nghe và ghi nhận trọn vẹn tất cả Phật pháp.

Khiến tất cả chúng sinh được tai không chấp trước, có thể phân biệt Phật pháp không trở ngại.

Khiến tất cả chúng sinh được tai không hư hoại, tất cả tà luận không gây hại được.

Khiến tất cả chúng sinh được tai bao trùm, rộng lớn thanh tịnh.

Khiến tất cả chúng sinh được tai trời và tai Phật.

Đây là căn lành hồi hướng của Đại Bồ-tát khi bố thí tai khiến tất cả chúng sinh được tai thanh tịnh.

Khi Đại Bồ-tát bố thí mũi thanh tịnh, hồi hướng thế này:

–Nguyện đem căn lành này, khiến tất cả chúng sinh được tướng mũi như Như Lai, được tướng mũi hoàn hảo, được mũi khả ái, được mũi thanh tịnh, mũi tùy thuận, mũi cao đẹp, mũi thu phục kẻ oán, mũi Như Lai.

Khiến tất cả chúng sinh mặt đoan chánh, được tất cả pháp môn, được vô ngại môn, thiện hiện môn, vô yểu môn, thanh tịnh môn, ly ác môn, mặt tròn đầy của các Như Lai, tất cả môn, thiện lạc vô lượng môn.

Đây là căn lành hồi hướng của Bồ-tát khi bố thí mũi, khiến tất cả chúng sinh hoàn toàn được vào trong pháp của chư Phật; khiến tất cả chúng sinh gìn giữ chánh pháp của chư Phật mười phương, khiến tất cả chúng sinh phân biệt hiểu rõ diệu pháp của chư Phật; khiến tất cả chúng sinh đối với Phật pháp đạt đến bờ kia; khiến tất cả chúng sinh thường gặp chư Phật; khiến tất cả chúng sinh được vô lượng pháp môn của chư Như Lai; khiến tất cả chúng sinh thanh tịnh hoàn toàn; khiến tất cả chúng sinh được ánh sáng pháp của Phật chiếu sáng các pháp; khiến tất cả chúng sinh được thân kiên cố không thể hư hoại như Phật.

Đây là căn lành hồi hướng của Đại Bồ-tát khi bố thí mũi.

Khi Đại Bồ-tát ở vào địa vị Đại vương Tự Tại, thường đem răng bố thí chúng sinh, như các Bồ-tát Hoa Xỉ Vương, Bồ-tát Lục Nha Bạch Tượng Vương. Khi bố thí răng, Bồ-tát được tâm khó có được như hoa Ưu-đàm, tâm bố thí thanh tịnh, tâm bố thí vô tận, tâm bố thí không cấu uế, tâm bố thí không lệ thuộc, tâm bố thí vô lượng, tâm điều phục xả bỏ các căn, tâm bố thí tất cả, tâm tất cả trí nguyện, tâm an ổn chúng sinh, tâm thành tựu bố thí, tâm bố thí to lớn, tâm bố thí vượt hơn. Răng là bộ phận cần thiết nhất cho thân, quý trọng nhất của ta, được mọi người bảo vệ giữ lấy, mà vẫn có thể đem cho người đến xin.

Đại Bồ-tát an trú pháp này, khi xả bỏ răng, hồi hướng thế này:

–Nguyện đem căn lành này, khiến tất cả chúng sinh được răng bén trắng sạch, thành tháp tối thắng, được trời, người cúng dường.

Khiến tất cả chúng sinh được tướng răng đều khít như răng Phật.

Khiến tất cả chúng sinh tu hành điều phục tâm, tiến tới các Bala-mật của Bồ-tát.

Khiến tất cả chúng sinh miệng răng thanh tịnh, hiển hiện trắng sạch.

Khiến tất cả chúng sinh nghĩ đến trang nghiêm miệng, thành tựu tướng răng, lộ ra sáng sạch.

Khiến tất cả chúng sinh đủ bốn mươi cái răng, thường tỏa ra vô lượng hương thơm thanh tịnh.

Khiến tất cả chúng sinh được răng xếp xoay tròn đẹp như màu hoa, điều phục được tâm.

Khiến tất cả chúng sinh được răng thanh tịnh, có thể phóng ra vô số ức ngàn hào quang, viên mãn trong sáng chiếu khắp mười phương.

Khiến tất cả chúng sinh được răng nhai nghiền, cơm vào miệng từng hạt đều nát nhừ, không lệ thuộc mùi vị, là ruộng phước bậc thượng.

Khiến tất cả chúng sinh được răng tốt đẹp, chiếu ra vô số hào quang màu sắc, thọ ký được Bồ-đề.

Đây là căn lành hồi hướng của Đại Bồ-tát khi bố thí răng, khiến tất cả chúng sinh được sự nghiêm tịnh vô cùng, trí tuệ rõ các pháp.

Nếu có người đến xin lưỡi, Đại Bồ-tát nói với họ bằng lời nhu hòa, dễ mến, từ mẫn, an ủi. Như các Bồ-tát Thiện Khẩu Vương, Bồtát Bất Thoái Chuyển và vô lượng các Bồ-tát khác. Khi sinh vào vô số đời sống các đường, có người đến xin lưỡi, trước tiên Bồ-tát đặt họ ngồi ở tòa Sư tử. Khi cho họ lưỡi, Bồ-tát với tâm hoan hỷ, không thay đổi, không giận hờn, vĩ đại, sinh vào nhà Phật, xây dựng nhà Bồ-tát, không cấu uế, dũng mãnh tinh tấn, không lệ thuộc thân mình, không oán thù, chân phải quỳ xuống đất, đưa lưỡi ra ngoài nói bằng lời nhu hòa, dễ mến, từ ái với người xin lưỡi: “Ông hãy lấy lưỡi của tôi, sử dụng theo ý muốn của người.”

Khi bố thí lưỡi, Đại Bồ-tát hồi hướng thế này:

–Nguyện đem căn lành này, khiến tất cả chúng sinh được tướng lưỡi rộng dài, phát ra đầy đủ tất cả các loại âm thanh.

Khiến tất cả chúng sinh được tướng lưỡi che mặt, lời nói không hai, luôn luôn thành thật.

Khiến tất cả chúng sinh lưỡi có thể che khắp cả cõi Phật, hiện ra thần lực tự tại của chư Phật.

Khiến tất cả chúng sinh được lưỡi mềm mỏng, nói rõ được tất cả vị ngon thượng hạng thanh tịnh.

Khiến tất cả chúng sinh được lưỡi chánh ngữ, nói ra lời gì tất cả đều hoan hỷ, không còn nghi ngờ.

Khiến tất cả chúng sinh được lưỡi sáng sạch, có thể phóng ra không thể nêu bày hết trăm vạn ức na-do-tha hào quang.

Khiến tất cả chúng sinh được lời nói quyết định, phân biệt hoàn toàn vô tận Pháp tạng.

Khiến tất cả chúng sinh được lưỡi thanh tịnh thù thắng, nói thông suốt các âm thanh, giáo hóa tận cùng.

Khiến tất cả chúng sinh được trí tuệ về âm thanh, có thể tùy thuận thể nhập cả biển âm thanh.

Khiến tất cả chúng sinh có thể diễn thuyết hoàn hảo tất cả các pháp, từ nơi ngôn ngữ sinh ra trí tuệ đến bờ kia.

Đây là căn lành hồi hướng của Đại Bồ-tát khi bố thí lưỡi, khiến tất cả chúng sinh được trí vô ngại, viên mãn các nguyện.

Khi có người đến xin đầu, các Đại Bồ-tát như Vô Thượng Trí, Bồ-tát Ca-diếp Vương…, thì các vị ấy lúc bố thí đầu, muốn có đầu tất cả trí tuệ vi diệu, đầu đầy đủ tất cả pháp không ngại, đầu thấy được địa vị thắng diệu, đầu có trí tuệ thù thắng được tất cả chúng sinh đều yêu mến. Muốn đầu đầy đủ kho chánh pháp trí tuệ mà tất cả chúng sinh đều không thể thấy được; muốn được vua đại trí tuệ đầy đủ mười lực; muốn được đầu có quyền lực đầy đủ tất cả các pháp mà tất cả thế gian không thể phá hoại được.

Đại Bồ-tát trú vào pháp này, thì học tất cả các pháp mà Phật đã học, tin sâu các pháp phát triển các căn lành. Khi có người đến xin, Bồ-tát trong lòng rất thỏa mãn, nên làm cho họ rất vui mừng. Bằng tâm thanh tịnh, Bồ-tát bố thí cho họ, yêu mến Phật pháp, được sáng suốt thanh tịnh, an trú trong Bồ-đề, tâm không thoái lui, thường làm việc xả lớn, các căn an lạc, phát triển diệu pháp, bằng tâm thiện chánh trực nên bố thí rộng lớn.

Khi Đại Bồ-tát bố thí đầu, hồi hướng thế này:

–Nguyện đem căn lành này, khiến tất cả chúng sinh được đầu như Như Lai. Tất cả thế gian không thể thấy đỉnh, ở bất kỳ nơi nào cũng không bị phá hoại, cao lên trên tất cả các thế giới. Tướng đầu tròn đầy, tóc xoay tròn xinh đẹp, tất cả thế gian đều thán phục, được tướng đầu như Phật trang nghiêm đặc biệt.

Khiến tất cả chúng sinh được đầu trí tuệ, đầu tối thắng, đầu thanh tịnh, đầu đầy đủ trí tuệ.

Đây là căn lành hồi hướng của Bồ-tát khi bố thí đầu, khiến tất cả chúng sinh đầy đủ thắng pháp, mau được đầu đạt trí tuệ vô thượng.

Đại Bồ-tát bố thí tay chân cho chúng sinh, như Bồ-tát Dũng Mãnh Vương, Bồ-tát Vô Úy… vô số các Bồ-tát ấy trong các đời sống ở các đường, bố thí tay chân, tu tập tay tín tâm, thường hành chánh pháp lợi ích chúng sinh, uy nghi đàng hoàng, tay quý báu, không chấp vào tay bố thí. Hành động của Bồ-tát là chân thật không hư ảo, tâm bố thí rộng lớn, xây dựng căn lành, xa lìa sân tham, đủ hạnh của Bồ-tát, có lòng tin không thay đổi đối với Như Lai, trừ diệt đường ác, thành tựu Bồ-đề.

Khi Bồ-tát bố thí tay chân, đem vô lượng, vô biên tâm rộng lớn, mở Pháp môn thanh tịnh, vào biển Phật pháp, thấy tất cả Phật, thành tựu tay bố thí, thỏa mãn ý chúng sinh, thọ trì được tất cả các nguyện giác ngộ của Nhất thiết chủng trí. Tu tâm thanh tịnh, xa lìa sự trói buộc của phiền não, đắc Trí thân, Pháp thân, không đoạn không hoại, không bị tiêu diệt, không bị tất cả nghiệp ma làm khuynh động, thân cận Thiện tri thức, tu tập sự đem ra bố thí của tất cả Bồ-tát.

Trong cảnh giới Nhất thiết trí, khi Đại Bồ-tát bố thí tay và chân, hồi hướng thế này:

–Nguyện đem căn lành này khiến tất cả chúng sinh được tay báu đầy đủ năng lực thần thông. Sau khi thành tựu tay báu rồi, đều kính trọng nhau, sinh tâm xem nhau là ruộng phước, đem các loại báu cúng dường lẫn nhau. Lại dùng các báu xinh đẹp, cúng dường tất cả Phật, nổi mây báu đẹp, che khắp các cõi Phật, khiến tất cả chúng sinh tu tập Từ bi không gây hại nhau. Đến các cõi Phật, vẫn an nhiên không sợ hãi, dùng ít phương tiện đạt đến thần thông. Dùng tay báu, tay thơm, tay y phục, tay lọng, tay vòng hoa, tay hoa, tay hương bột, tay vật xinh đẹp, tay vô số hoa, tay vô số hương thơm, tay hiện khắp, bằng năng lực thần thông đến các cõi Phật, cúng dường chư Phật. Có thể dùng một tay rờ chạm đến tất cả các thế giới; có thể dùng một tay với quyền lực thần thông nắm giữ tất cả chúng sinh, tướng tay thành tựu phóng ra vô lượng hào quang; có thể dùng một tay che khắp các chúng sinh, được tướng tay đẹp có màng lưới của Phật.

Đây là tay đại hồi hướng che khắp chúng sinh của Đại Bồ-tát, khiến tất cả chúng sinh sinh ra vô lượng biển công đức, được tâm nhẫn nhục. Thấy ai đến cầu xin, Bồ-tát đều rất hoan hỷ, chiêm ngưỡng không chán, vào sâu ở biển pháp, đạt được các căn lành như là chư biển pháp, đạt được các căn lành như là chư Phật.

Đây là căn lành hồi hướng của Đại Bồ-tát khi bố thí tay chân.

Đại Bồ-tát phá thân, lấy máu để bố thí chúng sinh, như Bồ-tát Pháp Thủ, Bồ-tát Hỷ Tâm Vương. Vô số các Đại Bồ-tát trong vô số đời sống trong các cõi, phá thân lấy máu để bố thí cho người đến xin. Bố thí bằng tâm Nhất thiết trí, Bồ-đề hoan hỷ, thích tu Bồ-tát hạnh, không kể khổ đau, không hiềm khích người đến cầu xin. Hướng đến tất cả Bồ-tát, nuôi dường tất cả Bồ-tát, phát triển thiện tâm của Bồ-tát, bằng tâm không thoái chuyển, không dừng nghĩ, không tiếc thân mạng.

Khi Đại Bồ-tát phá thân lấy máu, hồi hướng thế này:

–Nguyện đem căn lành này khiến tất cả chúng sinh, đầy đủ Pháp thân và Trí thân của Bồ-tát, thành tựu thân Kim cang kiên cố.

Khiến tất cả chúng sinh được thân vô tận thanh tịnh không hư hoại.

Khiến tất cả chúng sinh được thân ứng hóa hiện khắp tất cả thế giới khắp mười phương.

Khiến tất cả chúng sinh được thân khả ái sáng suốt trong sạch không bị hư hoại.

Khiến tất cả chúng sinh được sinh thân của pháp giới, không bị nhiễm trước thân Như Lai.

Khiến tất cả chúng sinh được thân báu quang minh không bị phá hoại.

Khiến tất cả chúng sinh được thân Trí tạng được tự tại đối với pháp bất tử.

Khiến tất cả chúng sinh được thân biển báu, tất cả chúng sinh thấy được đến có lợi ích.

Khiến tất cả chúng sinh được thân như hư không đối với các thế gian không bị lệ thuộc.

Đây là căn lành của Đại Bồ-tát khi phá thân lấy máu để bố thí rồi hồi hướng bằng tâm Đại thừa, tâm thanh tịnh, tâm vĩ đại, tâm hoan hỷ, tâm rất hoan hỷ, tâm không chán, tâm an lạc, tâm không uế trược căn lành hồi hướng.

Khi Đại Bồ-tát thấy có người đến xin tủy, thịt, thì hoan hỷ dùng lời nhu hòa bảo với người xin: “Hãy tùy ý lấy dùng thịt trên thân ta.” Như Bồ-tát Nhiêu Ích, Bồ-tát Nhất Thiết Trí Vương, cùng vô số các Đại Bồ-tát trong vô lượng đời sống trong các đường chúng sinh, khi bỏ tủy thịt, Bồ-tát này tâm rất hoan hỷ. Tâm bố thí sâu xa, không thể lường được; tâm được tu tập của tất cả Bồ-tát; tâm căn lành vi diệu của vô thượng Đại thừa; tâm thù thắng chánh trực xả ly trần cấu; tâm bố thí vô tận cho người đến mong cầu; tâm xả bỏ được sự yêu mến thân mình; tâm của sự che chở một hướng chuyên cầu vô lượng căn lành, báu công đức vi diệu; tâm tu hành không chán bỏ của Bồ-tát; tâm bố thí vĩ đại; tâm lìa nghi ngờ; tâm không hối tiếc về vật đem cho người đến xin; tâm phân biệt bố thí không cầu quả báo; tâm bình đẳng bố thí không chọn lựa.

Khi Đại Bồ-tát bố thí tủy và thịt, đối với chư Phật, sinh tâm tôn kính như cha, khiến tất cả chúng sinh an trú thanh tịnh nghiêm tịnh ở tất cả cõi Phật trong các thế giới ở hiện tại. Hiển hiện đại Bi cứu độ chúng sinh, hiển hiện giác ngộ, bằng mười Lực thấy rõ ba đời; hiển hiện Bồ-tát đầy đủ căn lành; hiển hiện không sợ hãi rống lên tiếng đại sư tử; hiển hiện ba đời trí tuệ bình đẳng; hiển hiện tất cả thế gian tận đến đời tương lai tu tập nguyện của Bồ-tát; hiển hiện không lo buồn tu tập vô số các hạnh của Bồ-tát.

Đại Bồ-tát khi bố thí tủy và thịt thì hồi hướng thế này:

–Nguyện đem căn lành này khiến tất cả chúng sinh được thân Kim cang tạng không thể hư hoại.

Khiến tất cả chúng sinh được Pháp thân như ý trang nghiêm thanh tịnh như Phật.

Khiến tất cả chúng sinh được thân trăm phước đức, tự trang nghiêm bằng ba mươi hai tướng đẹp.

Khiến tất cả chúng sinh được tám mươi vẻ đẹp kèm theo, đầy đủ mười Lực không bị phá hoại.

Khiến tất cả chúng sinh mau được diệu thân thường trú của Như Lai, không thể đo lường được.

Khiến tất cả chúng sinh được thân tối thắng, tất cả ma quân không thể phá hoại.

Khiến tất cả chúng sinh được một thân đồng như Phật ba đời.

Khiến tất cả chúng sinh thân vô ngại thanh tịnh vi diệu khắp cả hư không giới.

Khiến tất cả chúng sinh được thân Bồ-tát tạng, có thể dung chứa tất cả chúng sinh.

Đây là căn lành hồi hướng của Đại Bồ-tát khi bố thí tủy thịt bằng tâm cảnh giới Nhất thiết trí, khiến tất cả chúng sinh được vô lượng Pháp thân thường trú của chư Phật.

Đại Bồ-tát thấy có chúng sinh đến xin tim, thì như các Bồ-tát Vô Ưu Yếm, Bồ-tát Bất Động Vương, cùng vô số các Đại Bồ-tát như vậy, khi thấy có người đến xin tim thì Bồ-tát này liền hoan hỷ đem cho, bằng tâm bố thí học không dừng nghỉ, tâm bố thí tất cả không tận, tâm đại Bố thí ba-la-mật, tâm đạt đến bờ kia của Bố thí ba-lamật, tâm bố thí học tất cả hạnh của Bồ-tát, tâm được vô tận đối với tất cả sự bố thí, tâm tu tập tất cả đại bố thí, tâm bố thí kiến lập tất cả Bồ-tát, tâm bố thí chánh niệm chư Phật trong hiện tại, tâm bố thí làm thỏa mãn người đến xin.

Khi Đại Bồ-tát bố thí tim, bố thí bằng tâm thanh tịnh, bằng tâm độ thoát chúng sinh, bằng tâm cảnh giới giải thoát của mười lực, bằng tâm viên mãn đại nguyện, bằng tâm tu tập hạnh Bồ-tát, bằng tâm Nhất thiết trí, bằng tâm không bỏ bản nguyện. Đem căn lành này hồi hướng đến chúng sinh, khiến tất cả chúng sinh được tâm Kim cang tạng, tất cả núi Kim cang Thiết vi không thể phá hoại được. Được tâm Kim cang trang nghiêm, tâm xa lìa khủng bố, tâm không gì thắng được, tâm tất cả thế gian không thể cùng tận, tâm dũng mãnh thắng tràng Trí tuệ tạng, tâm phướn cao thắng đại Na-la-diên, tâm biển lớn chúng sinh không thể cùng tận, tâm tạng Na-la-diên không thể bị phá hoại, tâm có thể phá tan các chúng ma và nghiệp ma quân, tâm uy vũ dũng mãnh bậc Đại trượng phu, tâm không sợ hãi, tâm thệ nguyện vĩ đại trang nghiêm thù thắng kiên cố, tâm tối thắng sinh ra Bồ-tát, tâm Bồ-đề trang nghiêm đầy đủ các Phật pháp, tâm Chánh giác Nhất thiết trí ngồi tòa đạo tràng thành tựu chánh pháp của tất cả Như Lai, tâm xa lìa các ngu si, tâm đầy đủ mười Lực.

Đây là Đại Bồ-tát bố thí tâm hồi hướng căn lành này cho chúng sinh, khiến tất cả chúng sinh đầy đủ tâm mười Lực không bị lệ thuộc.

Khi Đại Bồ-tát thấy có người đến xin ruột, thận, gan, phổi, thì như Bồ-tát Nan Thắng, Bồ-tát Diệt Ác Tự Tại Vương, cùng vô lượng các Đại Bồ-tát khác, Bồ-tát này thấy có người đến xin ruột, thận, gan, phổi thì rất hoan hỷ, bằng mắt từ ái nhìn, sinh từ ái giác ngộ.

Tùy theo ý muốn của họ mà làm cho thỏa mãn, hoan hỷ đem cho, tâm không hối tiếc nửa chừng, chánh niệm quán sát: “Đem thân không kiên cố này để đổi lấy thân kiên cố, thân ô uế này của ta chỉ là thức ăn của các loài thú như cọp sói chồn chó. Thân này vô thường là vật đáng vứt bỏ.”

Quán sát như vậy rồi, Đại Bồ-tát kính tâm nhìn người đến xin và suy nghĩ: “Nếu ta không cho thì không được sự kiên cố ở trong không kiên cố, được thường trong vô thường, tịnh trong bất tịnh. Đại Bồ-tát chánh niệm như vậy thì mở bày được trực tâm thanh tịnh, rõ được pháp chân thật. Đối với người đến xin, ta phải xem mình là Thiện tri thức để giáo hóa họ, ta phải lấy sự kiên cố ở trong không kiên cố.”

Nghĩ như thế rồi, Đại Bồ-tát đem căn lành này hồi hướng cho chúng sinh, khiến tất cả chúng sinh được thân chứa trí tuệ có thể thọ trì tất cả nguyện.

Khiến tất cả chúng sinh được thân thanh tịnh mà người nhìn không chán, phóng ra hào quang thơm đẹp lâu bền chiếu khắp mười phương.

Khiến tất cả chúng sinh đạt được tướng bụng không lộ ra của Như Lai, thân thể cân đối, tứ chi đầy đủ.

Khiến tất cả chúng sinh được thức ăn pháp vị nuôi dưỡng thân trí tuệ, đầy đủ pháp ái của Phật, nhu hòa tỏa khắp.

Khiến tất cả chúng sinh được thân vô tận an trú Pháp thân.

Khiến tất cả chúng sinh được thân chứa Tổng trì thanh tịnh bên trong, hiểu biết hoàn toàn chiếu soi các pháp.

Khiến tất cả chúng sinh được thân thanh tịnh, trong ngoài đều tịnh.

Khiến tất cả chúng sinh được trí của Như Lai tu tập về thân, mưa cam lộ khắp bằng mưa trí tuệ.

Khiến tất cả chúng sinh đều được nội thân thanh tịnh, tịch tĩnh ngoài thân, làm cờ vua trí tuệ cho chúng sinh, chiếu sáng tất cả.

Đây là Đại Bồ-tát bố thí ruột, thận, gan, phổi rồi đem căn lành này hồi hướng cho chúng sinh, khiến tất cả chúng sinh đều được thân thanh tịnh cả trong lẫn ngoài, an trú bền vững ở trí không chướng ngại.

Đại Bồ-tát thấy có người đến xin chi phần các xương cốt thì cũng như Bồ-tát Pháp Tạng, Bồ-tát Dạ Quang, cùng vô số các Đại Bồ-tát khác, Bồ-tát này bố thí các chi phần xương cốt. Thấy người đến xin, Bồ-tát liền phát tâm hoan hỷ, tâm minh tịnh, tâm tịch tĩnh, tâm từ, tâm an lạc, tâm không chấp trước, tâm thanh tịnh, tâm mãn nguyện đối với người đến xin.

Đại Bồ-tát đem hết căn lành bố thí chi tiết như hóa thân, xa lìa hẳn thân máu thịt xương cốt của thế gian, khiến tất cả chúng sinh được thân Năng lực kim cang không thể bị phá hoại, không ai thắng được.

Khiến tất cả chúng sinh được năng lực Nhất thiết trí, đầy đủ Pháp thân, sinh ra từ pháp giới không trói buộc lệ thuộc.

Khiến tất cả chúng sinh được thân trí lực, các căn kiên cố không thể phá hoại.

Khiến tất cả chúng sinh được thân pháp lực có trí lực tự tại đến bờ bên kia.

Khiến tất cả chúng sinh được thân kiên cố không bị tan hoại.

Khiến tất cả chúng sinh được thân ứng hóa, có thể giáo hóa thành thục chúng sinh.

Khiến tất cả chúng sinh được xông ướp bằng trí, đủ chi tiết Nala-diên để trang nghiêm.

Khiến tất cả chúng sinh được thân kiên cố phát triển mãi không đoạn tuyệt, rốt ráo xa lìa tất cả mệt nhọc.

Khiến tất cả chúng sinh được thân có năng lực, có đầy đủ dũng mãnh tinh tấn.

Khiến tất cả chúng sinh được Pháp thân thanh tịnh, có thể phân biệt hết tất cả chúng sinh, vào trong vô lượng cảnh giới thần trí tuệ.

Khiến tất cả chúng sinh được thân năng lực công đức trừ diệt các điều ác, đem lợi ích cho người gặp.

Khiến tất cả chúng sinh được thân vô ngại, đạt đến rốt ráo trí không nhiễm trước.

Khiến tất cả chúng sinh được thân thuộc của Phật nuôi dưỡng, được tất cả chư Phật bảo hộ.

Khiến tất cả chúng sinh được thân lợi ích tất cả chúng sinh, có thể đi vào trong các cảnh giới.

Khiến tất cả chúng sinh được Ứng thân viên mãn, làm cho chúng sinh khắp mười phương đều thấy mặt, không trái với Phật pháp, thanh tịnh chiếu sáng thường hiển hiện.

Khiến tất cả chúng sinh được đầy đủ thân tinh tấn, tu tập rốt ráo trí tuệ Đại thừa.

Khiến tất cả chúng sinh từ bỏ thân ngã mạn, tự đại, phóng dật, được thân thanh tịnh, trí tuệ, đứng vững không bị chuyển động.

Khiến tất cả chúng sinh được thân trì giới kiên cố, thành tựu nghiệp Nhất thiết trí của Đại thừa.

Khiến tất cả chúng sinh được thân sinh trong nhà Phật, xa lìa hẳn thân ô uế sinh tử của thế gian.

Đây là căn lành hồi hướng của Bồ-tát khi bố thí chi tiết các xương cốt, khiến tất cả chúng sinh đều thanh tịnh, được Nhất thiết trí.

Đại Bồ-tát thấy người cầm dao bén đến xin da dày mỏng thì nhìn họ bằng mắt từ ái, hoan hỷ cung kính, trải tòa cho họ ngồi và suy nghĩ: “Ruộng phước khó gặp, mà đang đến đây làm mãn nguyện của ta, quyết định giúp ta đạt đến Nhất thiết chủng trí.” Bồ-tát nói: “Hãy lấy da trên thân ta và tùy ý sử dụng.” Như các Bồ-tát Thanh Tịnh Tạng, Bồ-tát Kim Cang Hiếp Lộc Vương, cùng vô số các vị Đại Bồ-tát khác, Bồ-tát này khi bố thí da dày mỏng của mình cho người đến xin thì hồi hướng thế này:

–Nguyện đem căn lành này khiến tất cả chúng sinh được tướng da mỏng của Như Lai, có màu vàng ròng thanh tịnh.

Khiến tất cả chúng sinh được da mỏng không hư hoại, kiên cố như kim cang.

Khiến tất cả chúng sinh được da màu hoàng kim như kho vàng Diêm-phù-đàn.

Khiến tất cả chúng sinh được da vô số màu, hiện ra ở màu sắc nào cũng làm cho thanh tịnh.

Khiến tất cả chúng sinh được da sáng sạch không dính bụi dơ, như ưa thích tịnh sắc của Sa-môn, Như Lai.

Khiến tất cả chúng sinh được da có màu sắc đẹp nhất, tự nhiên thanh tịnh.

Khiến tất cả chúng sinh mau được da màu thanh tịnh của Như Lai, trang điểm bằng tướng tốt xinh đẹp.

Khiến tất cả chúng sinh được da sáng sạch, phóng ánh lớn chiếu khắp tất cả.

Khiến tất cả chúng sinh được da có màng lưới sáng, vô số quang minh viên mãn đầy đủ chiếu khắp các thế giới.

Khiến tất cả chúng sinh được da trơn nhuận, màu sắc thanh tịnh.

Đây là căn lành hồi hướng của Đại Bồ-tát khi bố thí da dày mỏng ở thân mình, khiến tất cả chúng sinh mau được Bồ-đề tối thắng vô thượng, đều được đầy đủ công đức của Như Lai.

*********

Đại Bồ-tát này khi thấy có người đến xin móng tay, móng chân, thì cũng như Bồ-tát Kiên Cố Tinh Tấn, Bồ-tát Diêm-phù-đề Tự Tại Vương Kim Quang, cùng vô số các Đại Bồ-tát khác, khi bố thí móng tay chân, tâm Bồ-tát rất hoan hỷ, sắc diện bình tĩnh, nương vào Đại thừa để bố thí. Bố thí không cầu năm dục, không cầu tiếng khen, xây dựng Bố thí ba-la-mật. Tâm bố thí vĩ đại, xa lìa keo kiệt cấu bẩn, xa lìa ganh tỵ, tùy thuận theo Phật.

Đem sự bố thí móng tay chân này gom hết căn lành hồi hướng cho chúng sinh, khiến tất cả chúng sinh được tướng ngón tay khít nhau, thon tròn thẳng.

Khiến tất cả chúng sinh được tướng ngón tay có móng màu đồng đỏ khít nhau, thanh tịnh.

Khiến tất cả chúng sinh được tướng ngón tay Bậc Đại Nhân, nắm giữ toàn bộ tất cả các pháp.

Khiến tất cả chúng sinh được tướng đẹp ngón tay kèm theo của Bậc Mười Lực.

Khiến tất cả chúng sinh được tướng ngón tay thon đẹp đan khít nhau.

Khiến tất cả chúng sinh đầu các ngón tay chân có tướng bánh xe xinh đẹp, đốt ngón tay tròn bằng phẳng, các vằn chỉ rõ ràng.

Khiến tất cả chúng sinh được màu sắc ngón tay hồng như hoa sen, được quả báo như Đức Mười Lực với tướng tốt trang nghiêm.

Khiến tất cả chúng sinh được ngón tay sáng rực chiếu ra màng lưới hào quang, chiếu đến các thế giới khắp mười phương.

Khiến tất cả chúng sinh được ngón tay tịnh diệu trang nghiêm, đầy đủ với các tướng tốt.

Đây là căn lành bố thí ngón tay của Đại Bồ-tát, đem hồi hướng cho chúng sinh, khiến tất cả chúng sinh tâm được thanh tịnh.

Lại nữa, khi Đại Bồ-tát thỉnh cầu pháp, có người nói:

–Nếu cho tôi móng tay của người thì tôi sẽ cho pháp.

Bồ-tát đáp:

–Nếu cho tôi pháp thì quý vị tùy ý lấy dùng.

Như các Bồ-tát Cầu Pháp Vương, Bồ-tát Vô Tận, cùng vô số các vị Đại Bồ-tát khác, Bồ-tát này vì cầu pháp, muốn khiến cho tất cả chúng sinh được đầy đủ chánh pháp, nên đem căn lành này hồi hướng đến chúng sinh, khiến tất cả chúng sinh được tướng móng tay của Như Lai có màu đồng đỏ.

Khiến tất cả chúng sinh được móng tay trơn láng.

Khiến tất cả chúng sinh được móng tay sáng thanh tịnh đầy đủ của Phật.

Khiến tất cả chúng sinh được móng tay đầy đủ Nhất thiết trí của Bậc Đại Nhân.

Khiến tất cả chúng sinh được móng tay không gì sánh bằng, không bị lệ thuộc với tất cả thế gian.

Khiến tất cả chúng sinh được móng tay nghiêm đẹp, chiếu khắp các chúng sinh.

Khiến tất cả chúng sinh được móng tay nhỏ đẹp, khít khao sạch sẽ, không bị hư rách.

Khiến tất cả chúng sinh được đầy đủ phương tiện tướng tốt đại trí thanh tịnh của Phật.

Khiến tất cả chúng sinh được móng tay hoàn hảo, quả báo do nghiệp thanh tịnh của Bồ-tát.

Khiến tất cả chúng sinh được móng tay phương tiện hoàn hảo của Nhất thiết trí, chiếu ra vô lượng ánh sáng có màu sắc xinh đẹp.

Đây là Đại Bồ-tát bố thí thịt móng tay, đem căn lành này hồi hướng cho chúng sinh, khiến tất cả chúng sinh được móng tay Nhất thiết trí, trang nghiêm đầy đủ Pháp thân của Như Lai, đều được viên mãn năng lực không chướng ngại. Đại Bồ-tát cầu pháp, vì pháp khó được.

Khi người bố thí pháp nói:

–Nếu có thể nhảy vào hố lửa sâu bảy nhẫn thì ta sẽ cho ông pháp.

Nghe như vậy, Bồ-tát rất hoan hỷ, suy nghĩ: “Vì cầu pháp, ta còn phải chịu vô lượng khổ trong các đường ác địa ngục A-tỳ, huống chi vào trong hố lửa nhỏ xíu ở cõi người này để được nghe pháp. Lạ thay chánh pháp! Thật là dễ được, thoát khỏi vô lượng khổ sở ở địa ngục, đi vào hố lửa nhỏ để được nghe pháp. Người hãy nói pháp, ta nhảy vào hố lửa.”

Như các Bồ-tát Cầu Thiện Pháp Vương, Kim Cang Tư Duy, Bồ-tát này vì pháp mà hoan hỷ vào lửa, đem căn lành này hồi hướng cho chúng sinh, khiến tất cả chúng sinh được nơi Phật an trú bằng pháp Nhất thiết trí; đối với đạo Vô thượng thì kiên cố không thoái chuyển.

Khiến tất cả chúng sinh đều diệt trừ hết hố lửa cõi ác, nhận được an lạc của Như Lai.

Khiến tất cả chúng sinh được tâm không sợ, xa lìa các khủng bố.

Khiến tất cả chúng sinh thường ưa cầu pháp, đều được hoan hỷ trang nghiêm bằng Phật pháp.

Khiến tất cả chúng sinh xa lìa các đường ác, đều dập tắt hết lửa mạnh ba độc.

Khiến tất cả chúng sinh đều được hỷ lạc, thành tựu diệu lạc tối thắng của Như Lai.

Khiến tất cả chúng sinh được tâm Bồ-tát, đều diệt trừ hết lửa tham, sân, si.

Khiến tất cả chúng sinh đều được các hỷ lạc Tam-muội của các Bồ-tát, thấy khắp chư Phật, tâm rất hoan hỷ.

Khiến tất cả chúng sinh thường nghe chánh pháp, tận cùng

Phật đạo, chưa từng quên mất.

Khiến tất cả chúng sinh đều được hỷ lạc các thần thông tự tại của Bồ-tát, đầy đủ rốt ráo trí Nhất thiết chủng.

Đây là Đại Bồ-tát vì cầu pháp mà nhảy vào lửa, đem căn lành hồi hướng cho chúng sinh, khiến tất cả chúng sinh đầy đủ lửa trí tuệ, xa lìa tất cả các nghiệp bất thiện.

Đại Bồ-tát vì cầu pháp nên toàn thân chịu hết tất cả các khổ. Vì chánh pháp, vì giảng thuyết chánh pháp, nên Bồ-tát này xây dựng đạo Bồ-tát, mở vô thượng giác ngộ, đầy đủ trí vô thượng, tu tập mười Lực, phát triển tâm Nhất thiết trí, được trí vô ngại, khiến tất cả chúng sinh được thanh tịnh. Đi vào cảnh giới của tất cả Bồ-tát, giữ gìn Bồ-đề của Phật, Đại thừa. Cũng như các Bồ-tát Cầu Chánh Pháp, Dũng Kiện Vương và vô lượng các Đại Bồ-tát khác vì cầu pháp nên Bồ-tát này chịu vô số cực khổ.

Lại nữa, đối với những kẻ phỉ báng chánh pháp, kẻ cực kỳ độc ác, kẻ có nghiệp chướng ác, kẻ giữ lấy nghiệp ma, vì chánh pháp nên Bồ-tát chịu vô số khổ sở thế cho những kẻ ác ấy.

Đại Bồ-tát vì cầu pháp, chịu khổ cho các chúng sinh, đem căn lành này hồi hướng đến chúng sinh, khiến tất cả chúng sinh xa lìa tất cả khổ được an lạc lợi ích.

Khiến tất cả chúng sinh diệt khổ ấm, được lạc sáng rực.

Khiến tất cả chúng sinh thoát khỏi ngục khổ, đầy đủ rốt ráo hành động trí tuệ.

Khiến tất cả chúng sinh gặp đường an ổn xa lìa nẻo khổ não.

Khiến tất cả chúng sinh được pháp ái lạc xung mãn đầy đủ, diệt hết hoàn toàn tất cả các khổ.

Khiến tất cả chúng sinh phát tâm đại Bi, muốn vượt qua hết tất cả biển khổ.

Khiến tất cả chúng sinh được tịch lạc không thể so sánh, tự thân xa lìa hẳn tất cả khổ thọ.

Khiến tất cả chúng sinh được tất cả thắng lạc, đầy đủ tận cùng lạc không chướng ngại của Phật.

Đây là Đại Bồ-tát, vì cầu pháp nên chịu tất cả các khổ. Đem

căn lành này hồi hướng cứu hộ chúng sinh, khiến tất cả chúng sinh an trú trong giải thoát vô ngại của Nhất thiết trí.

Đại Bồ-tát vì cầu pháp, vì pháp khó được, có thể xả bỏ cả quốc độ, bốn biển, cả mặt đất, các thành phố làng xóm lớn nhỏ, đất nước giàu vui, nhân dân phồn thịnh, vườn rừng ao tắm, hoa trái sum suê, cùng vô số sự giàu đẹp như vậy. Thiên hạ thái bình không có chiến tranh, kho báu vàng bạc, vợ con quyến thuộc, đều xả bỏ hết. Ở trong không kiên cố để cầu pháp kiên cố, vì lợi ích cho tất cả chúng sinh, khiến tất cả chúng sinh được đạo Nhất thiết trí giải thoát thanh tịnh không ngại của Phật. Cũng như các Bồ-tát Đại Thế Diệu Đức, Bồ-tát Thắng Thế Vương, cùng vô số các Đại Bồ-tát khác, Bồ-tát này vì cầu chánh pháp dù chỉ đối với một câu, một nghĩa, mà vẫn năm vóc sát đất, cung kính nhận lấy, chánh niệm đến sự chuyên cần cầu chánh pháp của chư Phật ba đời. Đối với chánh pháp, tâm luôn vui thích, tu tập các nguyện, cầu pháp ly tham, từ bỏ pháp quyền lực của Đế vương thế gian, ưa thích cầu thắng pháp tự tại của Vô thượng Pháp vương. Không nhớ đến, không lệ thuộc vào tất cả thế gian. Dùng pháp xa lìa thế gian để nuôi dưỡng tâm mình; xa lìa tất cả lời nói ác của thế gian, đứng vững yên tịnh nơi chỗ của chư Phật.

Đại Bồ-tát vì cầu chánh pháp, nên đem cho tất cả quốc độ đất đai khắp bốn thiện hạ. Đem hết căn lành hồi hướng cho chúng sinh, khiến tất cả chúng sinh xả bỏ tất cả của cải trong ngoài.

Khiến tất cả chúng sinh có thể xả bỏ tất cả mà không hối hận nửa chừng.

Khiến tất cả chúng sinh không tiếc thân mạng và vật dụng, thường cầu chánh pháp.

Khiến tất cả chúng sinh đều được lợi ích của pháp, trừ diệt tất cả nghi ngờ cho vô lượng chúng sinh.

Khiến tất cả chúng sinh thường ưa thích chánh pháp, được yêu thích về pháp đối với các Phật pháp.

Khiến tất cả chúng sinh từ bỏ thân mạng, tự tại trong thế gian, thích cầu Phật pháp với tâm vĩ đại tu tập giác ngộ vô thượng.

Khiến tất cả chúng sinh cung kính tôn trọng chánh pháp của

chư Phật, có thể bỏ thân mạng để đạt được chánh pháp.

Khiến tất cả chúng sinh hộ trì Phật pháp, tu tập pháp kho được nghe của Như Lai.

Khiến tất cả chúng sinh đều được giác ngộ của chư Phật chiếu soi, hoàn tất hạnh Bồ-tát, tự giác ngộ không nhờ người khác.

Khiến tất cả chúng sinh được tự tại đối với các Phật pháp, nhổ mũi nhọn si mê, tâm thường thanh tịnh.

Đây là Đại Bồ-tát vì cầu pháp khó có được nên bố thí cả quốc độ, đem căn lành hồi hướng, khiến tất cả chúng sinh đầy đủ tri kiến.

Lại nữa, Đại Bồ-tát khi hành pháp tự tại, dạy bảo sự từ bỏ tất cả sự giết hại các loài hai chân, bốn chân ở các thành phố, xóm làng trong cõi Diêm-phù-đề. Ban khắp bằng tâm không sợ hãi, xa lìa thù oán, tu hạnh Bồ-tát để trị nước, diệt trừ tất cả khổ nạn cho chúng sinh, phát khởi tâm báu an ổn cho tất cả chúng sinh. Tâm báu thắng diệu hoàn toàn chánh trực, tự đầy đủ ba loại giới pháp, cũng khiến cho chúng sinh đầy đủ ba loại giới.

Đại Bồ-tát đem căn lành do không giết hại… của năm giới hồi hướng cho chúng sinh, khiến tất cả chúng sinh được trí tuệ trường thọ, đầy đủ tâm Bồ-đề, mạng sống vô tận.

Khiến tất cả chúng sinh được sống vô cùng, cung kính cúng dường tất cả chư Phật.

Khiến tất cả chúng sinh tu tập đầy đủ, xa lìa già chết, tất cả các nạn không làm hại mạng sống.

Khiến tất cả chúng sinh mau đạt được vô lượng thân xa lìa bệnh khổ, mạng sống được tồn tại theo ý muốn.

Khiến tất cả chúng sinh được mạng sống vô tận đến tận kiếp tương lai, tu tập đầy đủ các hạnh của Bồ-tát, thu phục hóa độ tất cả chúng sinh.

Khiến tất cả chúng sinh được cửa mạng sống thanh tịnh, căn lành của mười lực đều đi vào cả.

Khiến tất cả chúng sinh căn lành đầy đủ, sống lâu vô cùng, hoàn mãn các nguyện.

Khiến tất cả chúng sinh đều được gặp Phật, tu vô số căn lành trường thọ.

Khiến tất cả chúng sinh học những điều cần học ở nhà Như Lai, thành tựu đầy đủ mạng sống vô tận, được tâm hoan hỷ trong pháp bậc Thánh.

Khiến tất cả chúng sinh được mạng căn không già, bệnh, chết, tinh tấn vô tận, trú ở trí của Phật.

Đây là Đại Bồ-tát đem căn lành giữ năm giới như từ bỏ sát sinh…, đối với tất cả chúng sinh để hồi hướng cho chúng sinh, khiến tất cả chúng sinh an trú vào ba loại tịnh giới của Như Lai, đầy đủ hoàn toàn trí tuệ mười Lực.

Nếu Đại Bồ-tát thấy chúng sinh tàn hại bất nhân, dù người hay thú, hủy hoại hình thể đàn ông, làm cho thân tàn khuyết, chịu các khổ sở. Thấy khổ ấy rồi, Bồ-tát phát sinh đại Từ bi mà cứu độ họ, làm cho họ có đầy đủ trân bảo quý giá ưa thích.

Đại Bồ-tát bảo người ác rằng:

–Vì lợi gì mà ông tạo ra nghiệp ác? Tôi sẽ cung cấp đầy đủ theo sự cần dùng của ông. Gây hại cho họ để mình được an vui thì thật trái lẽ. Các hành động ác và pháp bất thiện này, tất cả các Như Lai đều không khen ngợi.

Đại Bồ-tát cần phải xả bỏ tất cả sở hữu, khiến các chúng sinh kia không làm nghiệp ác, lại còn nói pháp vi diệu cho họ. Đó là các pháp tịch tĩnh, nuôi dưỡng tịnh hạnh diệt trừ bất thiện, tu tập Từ bi không gây hại cho chúng sinh.

Khi được nghe lời pháp này, người ác kia liền từ bỏ hành động ác, tu tập theo nghiệp thanh tịnh.

Đại Bồ-tát đem căn lành Từ bi cứu giúp để hồi hướng cho chúng sinh, khiến tất cả chúng sinh được tướng âm tàng Đại nhân của Phật.

Khiến tất cả chúng sinh đầy đủ hình thể đàn ông, được ý chí nam tử, phạm hạnh thanh tịnh.

Khiến tất cả chúng sinh được thân không dục của đàn ông, nương vào trí vô ngại, hoàn toàn không thoái lui.

Khiến tất cả chúng sinh được thân bậc Đại nhân, lìa hẳn tâm dục, không còn ô nhiễm.

Khiến tất cả chúng sinh đều được thành tựu pháp của nam tử, đầy đủ trí tuệ, được chư Phật khen ngợi.

Khiến tất cả chúng sinh được năng lực bậc Đại nhân, thành tựu đầy đủ căn lành mười Lực.

Khiến tất cả chúng sinh thường được có thân hình nam giới, an trú vững chắc trong pháp chưa từng có.

Khiến tất cả chúng sinh đối với năm dục không bị lệ thuộc, tâm được giải thoát, nhàm chán ba cõi, tu tập hạnh Bồ-tát.

Khiến tất cả chúng sinh đều được thành tựu bậc Nhất thiết trí, được tất cả mọi người tin theo và nhận sự giáo hóa.

Khiến tất cả chúng sinh được thành tựu trí sâu xa trượng phu của Bồ-tát, đạt đến tất cả cảnh giới giác ngộ của Đại thừa.

Đây là Đại Bồ-tát cứu người hủy hoại thân hình, đem căn lành này hồi hướng cho chúng sinh, khiến tất cả chúng sinh đều cứu hộ tất cả thiện nam, sinh vào nhà Hiền thánh, đầy đủ trí tuệ, tu tập thực hành thắng trí của người nam, hiển hiện đầy đủ bảy cảnh giới của đàn ông, đầy đủ chánh pháp trượng phu vô thượng, thường hóa độ tất cả chúng sinh. Bồ-tát đem căn lành này hồi hướng, khiến tất cả chúng sinh được thắng pháp trượng phu thanh tịnh của Phật.

Lại nữa, Đại Bồ-tát, nếu thấy có Như Lai ra đời, liền bằng âm thanh lớn nói đến tất cả: “Như Lai đã ra đời! Như Lai đã ra đời!” Khiến tất cả chúng sinh được nghe tiếng của Phật, được nghe âm thanh của Phật rồi thì từ bỏ tự đại, kiêu mạn, phóng dật, được gặp chư Phật, an trú kiên cố vào Tam-muội niệm Phật, tu tập theo cảnh giới của Phật chưa từng quên mất, cung kính cúng dường tất cả chư Phật, thường muốn gặp Phật. Vì trăm ngàn kiếp thật khó được gặp, Bồ-tát bảo cho khắp chúng sinh biết khó được gặp Phật.

Chúng sinh nghe rồi, thường muốn gặp tất cả chư Phật, rất hoan hỷ, cung kính cúng dường, tôn trọng khen ngợi. Từ nơi Như Lai, họ được nghe danh hiệu Phật, trồng các căn lành với vô lượng Đức Phật, tu tập tăng trưởng. Vô số chúng sinh nhờ vào Như Lai đều được thuần thục. Các chúng sinh ấy, đối với Bồ-tát xem như là Thiện tri thức. Nhờ vào Bồ-tát, các chúng sinh ấy đều được đầy đủ Phật pháp. Các chúng sinh ấy, trong vô lượng kiếp, tu tập các căn lành, làm các Phật sự.

Đại Bồ-tát đem căn lành khen Phật, hồi hướng đến chúng sinh, khiến tất cả chúng sinh thường gặp chư Phật, sinh vào đúng lúc nhận lời Phật giáo hóa, được Phật hoan hỷ.

Khiến tất cả chúng sinh thường ưa gặp Phật, chẳng bao giờ quên.

Khiến tất cả chúng sinh tu tập trí tuệ, giữ gìn tất cả Pháp tạng của Phật.

Khiến tất cả chúng sinh không xa lìa Phật pháp, trong vô lượng kiếp, tu hạnh Bồ-tát, thường nghe chánh pháp.

Khiến tất cả chúng sinh luôn luôn chánh niệm, giữ được tất cả trí tuệ của Như Lai.

Khiến tất cả chúng sinh không nghĩ đến nghiệp khác, chỉ chánh niệm chư Phật, tu tập mười Lực.

Khiến tất cả chúng sinh ở phương nào cũng thấy tất cả Phật khắp hư không giới, đều được yết kiến tất cả Như Lai.

Khiến tất cả chúng sinh được thân tự tại của Phật, chứng thành Phật ở khắp các thế giới.

Khiến tất cả chúng sinh được nghe chánh pháp của Phật từ Thiện tri thức, được tín tâm không thay đổi đối với Như Lai.

Khiến tất cả chúng sinh khen ngợi Phật ra đời đều có lợi ích lớn, giáo hóa chúng sinh khiến cho đều thanh tịnh.

Đây là Đại Bồ-tát khen Phật ra đời, đem căn lành này hồi hướng cho khắp chúng sinh, khiến tất cả chúng sinh đều được gặp chư Phật, nhận sự giáo hóa; đối với đạo Vô thượng, tất cả Phật pháp đều rốt ráo thanh tịnh.

Lại nữa, Đại Bồ-tát bố thí cả mặt đất, hoặc bố thí cho Phật, xây dựng đền chùa; hoặc bố thí cho Bồ-tát và Thiện tri thức, sử dụng tùy ý; hoặc bố thí cho Thánh tăng xây dựng phòng nhà; hoặc dâng lên cha mẹ, xây cất nhà cửa; hoặc cho người khác như Thanh văn, Duyên giác, tất cả các bậc ruộng phước, hay những người đến xin; hoặc cho đến bốn chúng tùy ý sử dụng, làm cho họ không thiếu thốn; hoặc dâng lên Như Lai, xây dựng tháp miếu. Bằng các sự bố thí như vậy, làm cho người xin tùy ý sử dụng, xa lìa oán thù và tất cả sợ hãi.

Đại Bồ-tát đem căn lành do bố thí cả mặt đất, hồi hướng đến chúng sinh, khiến tất cả chúng sinh được Nhất thiết trí, được quả vị Phật thanh tịnh, rốt ráo đạt đến bờ kia như hạnh của Bồ-tát Phổ Hiền.

Khiến tất cả chúng sinh được Đà-la-ni như mặt đất, chánh niệm lìa si, thọ trì tất cả diệu pháp của chư Phật.

Khiến tất cả chúng sinh giữ gìn hộ trì tất cả Phật pháp.

Khiến tất cả chúng sinh được tâm bình đẳng như mặt đất; đối với chúng sinh, thanh tịnh chánh trực không sinh niệm ác.

Khiến tất cả chúng sinh giữ gìn chủng tánh của Phật, không đoạn tuyệt hạt giống giác ngộ, tuần tự thành lập các căn lành của tất cả Bồ-tát.

Khiến tất cả chúng sinh làm nơi nương tựa an ổn cho tất cả chúng sinh, làm cho họ được thuần thục thành tựu thanh tịnh.

Khiến tất cả chúng sinh cùng các Như Lai làm lợi ích cho chúng sinh, đứng vững trong năng lực của Phật.

Khiến tất cả chúng sinh đều được tất cả chúng sinh yêu mến, đứng vững ở nơi được yêu mến của chư Phật.

Khiến tất cả chúng sinh ở ổn định trong các lực, pháp không sợ của các Như Lai.

Khiến tất cả chúng sinh được địa vị Nhất thiết trí, đối với Phật pháp được tự tại rốt ráo.

Đây là căn lành hồi hướng của Đại Bồ-tát bố thí mặt đất, khiến tất cả chúng sinh đều đạt được đạo quả thanh tịnh của Như Lai.

Lại nữa, khi Đại Bồ-tát bố thí người sai khiến, hoặc dâng lên chư Phật, Bồ-tát, các Thiện tri thức, vì muốn phát triển pháp của Như Lai. Hoặc dâng lên Tăng bảo, hoặc cung cấp cho cha mẹ, các bậc ruộng phước tôn trọng; hoặc cung cấp cho người bệnh để cứu sống mạng họ. Tất cả người nghèo khổ, những người đến xin đều được chu cấp. Hoặc dâng vào tháp miếu, cung cấp việc quét dọn. Có người nào ghi chép kinh Phật, Bồ-tát vì hộ pháp đem vô số tịnh nhân, người phục vụ cung cấp để họ sai khiến. Những người được sai khiến này đều thông minh hiểu rõ trí tuệ, nhu hòa, thuần thục, siêng năng làm việc không có biếng nhác. Bằng tâm chánh trực, tâm lợi ích, tâm an lạc, tâm từ, tâm xa lìa thù oán, bằng những tâm này, phục vụ cho người ghi chép.

Tùy theo những phong tục địa phương, tài năng, kỹ thuật của người kia yêu cầu, Đại Bồ-tát đem những người phục vụ có khả năng ấy để cung cấp cho họ. Những người phục vụ ấy đều do tịnh nghiệp của Bồ-tát mà phát sinh, khiến người phục vụ làm vừa ý người kia. Đại Bồ-tát đem căn lành bố thí người sai khiến, hồi hướng đến chúng sinh, khiến tất cả chúng sinh được tâm thuần thục, cúng dường chư Phật, tu tập các căn lành.

Khiến tất cả chúng sinh tùy thuận cung cấp tất cả chư Phật, được nghe và thọ trì hết lời Phật dạy.

Khiến tất cả chúng sinh tùy ý tự tại gặp các Như Lai, thường tu chánh niệm, không còn tâm ác.

Khiến tất cả chúng sinh kế thừa dòng họ Phật, thuận theo Như Lai giữ hết các căn lành.

Khiến tất cả chúng sinh dâng đến chư Phật luôn luôn đúng lúc, được gặp chư Phật có kết quả tốt.

Khiến tất cả chúng sinh gom hết diệu nghĩa của chư Phật, ngôn từ thanh tịnh, đi lại không sợ sệt.

Khiến tất cả chúng sinh được thấy chư Phật, chiêm ngưỡng không chán, đối với chư Như Lai, không tiếc thân mạng.

Khiến tất cả chúng sinh được thấy chư Phật, tâm không nhiễm trước, không còn lệ thuộc thế gian.

Khiến tất cả chúng sinh y chỉ với chư Phật, xa lìa tất cả điều lành của thế gian.

Khiến tất cả chúng sinh tùy thuận con đường giác ngộ, nhất hướng mong cầu Vô thượng Bồ-đề.

Đây là căn lành hồi hướng của Đại Bồ-tát bố thí người phục vụ, khiến tất cả chúng sinh xa lìa cấu nhiễm, được tịnh địa của Phật, được Pháp thân tự tại không ngại của Như Lai.

Đại Bồ-tát khi đem thân bố thí làm người hầu hạ, bằng tâm khiêm tốn từ bỏ kiêu mạn, tâm phục vụ, tâm như mặt đất, tâm chịu tất cả khổ, tâm cung cấp cho tất cả không mệt mỏi, tâm không biếng nhác, tâm cho các căn lành đến những chúng sinh nghèo hèn được tất cả tôn quý giàu vui, tâm cung kính cúng dường đến những kẻ trẻ thơ ngu si nhỏ bé, tâm kiên cố trú vào pháp môn tối thắng, chánh niệm tu tập tất cả căn lành.

Đại Bồ-tát đem căn lành bố thí thân để hồi hướng, khiến tất cả chúng sinh không thiếu người phục vụ, tu hạnh Bồ-tát, tâm không thoái chuyển, chưa từng trái với nghĩa đúng của Bồ-tát. Nhất tâm chuyên cầu đạo của Bồ-tát, thông đạt chánh pháp bình đẳng của Bồtát, được dự vào chủng tánh của Như Lai, tu tập pháp chân thật, tăng trưởng hạnh Bồ-tát, khiến các thế gian được Phật pháp thanh tịnh, thâm tâm giải thoát, đạt đến Bồ-đề.

Khiến tất cả chúng sinh tăng trưởng căn lành vĩ đại thanh tịnh.

Khiến tất cả chúng sinh hướng về đại công đức, đạt đến Nhất thiết trí.

Đại Bồ-tát lại suy nghĩ: Nguyện đem thân cung cấp được các căn lành, khiến tất cả chúng sinh đủ khả năng phục vụ chư Phật, tâm ý nhu hòa, thường nghe chánh pháp, thọ trì pháp, giữ gìn pháp, không quên pháp, không phá hoại pháp, không chọn lựa pháp, không lìa pháp, khéo điều phục pháp, điều phục hoàn toàn pháp khó điều phục, điều phục pháp tịch diệt.

Khiến chúng sinh ấy, tùy thuận hoàn toàn với chư Phật; đem công đức tùy thuận khiến tất cả chúng sinh làm tháp đệ nhất, có thể nhận hết sự cúng dường của chúng sinh.

Khiến tất cả chúng sinh làm ruộng phước đệ nhất, tự nhiên giác ngộ Vô thượng Bồ-đề.

Khiến tất cả chúng sinh làm ruộng phước tối thắng, làm lợi ích cho khắp chúng sinh.

Khiến tất cả chúng sinh đều làm ra kho tàng công đức thù thắng, đều được cùng tận nguồn gốc căn lành.

Khiến tất cả chúng sinh làm ruộng phước tịnh diệu, được sinh ra quả báo vô cùng.

Khiến tất cả chúng sinh được đạo giải thoát, đều vượt ra khỏi tất cả thế gian.

Khiến tất cả chúng sinh làm vị Điều ngự đệ nhất, tùy theo đối tượng mà chỉ dẫn cho họ.

Khiến tất cả chúng sinh được Đà-la-ni tối thắng, thọ trì tất cả pháp của Như Lai.

Khiến tất cả chúng sinh đạt đến vô lượng pháp giới tối thắng, đầy đủ chánh đạo vô ngại như hư không.

Đây là căn lành hồi hướng của Đại Bồ-tát khi bố thí thân mình, khiến tất cả chúng sinh mau được thân Trí tuệ Ứng cúng của Như Lai.

Đại Bồ-tát đều được yêu thích về pháp bằng tâm hoan hỷ thanh tịnh, có thể bằng thân mình che chở chư Phật, thường hoan hỷ tu tập pháp bảo vô thượng. Đối với chư Phật xem như cha mẹ, muốn đạt đến tận cùng đạo pháp vô ngại, thành tựu vô số na-do-tha trí tuệ quý báu, các môn căn lành, chánh niệm không quên vô lượng pháp môn của các Như Lai. Có thể bằng Phạm âm vi diệu của Như Lai mưa khắp tất cả bằng các trận mưa pháp của chư Phật. Mây pháp của Như Lai che khắp tất cả, mà không sợ hãi. Có thể giảng rõ về quả vị của bậc Nhất thiết trí, đạt đến rốt ráo thừa Nhất thiết trí, đem vô lượng, vô biên pháp lớn thành tựu các căn.

Đại Bồ-tát ở nơi chư Phật, nghe pháp sâu xa, ở nơi hoan hỷ vô cùng, tu tập chánh đạo. Tự mình trừ diệt tất cả nghi hoặc, lại làm cho chúng sinh hoan hỷ vô cùng, phá hết lưới nghi, viên mãn các công đức, đầy đủ căn lành. Tu tập tất cả Pháp môn, thực hành tất cả đại nguyện, lợi ích cho chúng sinh an trú bất động vào trí Kim cang tạng, chánh tâm chuyên cầu Bồ-đề vô thượng. Nghiêm tịnh được tất cả cõi Phật, cung kính thân cận vô số Như Lai.

Đại Bồ-tát an trú trong pháp này, tự thân che chở tất cả chư Phật. Đem căn lành này hồi hướng đến chúng sinh, khiến tất cả chúng sinh được đầy đủ thân thể xinh đẹp, có thể che khắp tất cả chư Phật.

Khiến tất cả chúng sinh nương theo Như Lai, thường gặp chư Phật, chẳng bao giờ xa lìa.

Khiến tất cả chúng sinh được thân tối thắng, đầy đủ tất cả công đức trí tuệ.

Khiến tất cả chúng sinh tu hành phạm hạnh lìa hữu, làm cho chư Phật đều hoan hỷ.

Khiến tất cả chúng sinh được thân không ngã sở, tâm không còn lệ thuộc vào ngã hay ngã sở.

Khiến tất cả chúng sinh có thể phân thân đến tất cả cõi, mà không có đến hay rời khỏi các thế giới.

Khiến tất cả chúng sinh được thân tự tại, xa lìa ngã và ngã sở, tự do đi khắp.

Khiến tất cả chúng sinh sinh ra thân Phật, ở trong nhà Như Lai với thân vô thượng.

Khiến tất cả chúng sinh được thân có năng lực của pháp, an tọa nơi pháp tòa, thành tựu năng lực nhẫn, tâm không thể hoại.

Khiến tất cả chúng sinh được thân không thể gì so sánh, đầy đủ Pháp thân thanh tịnh của Như Lai.

Khiến tất cả chúng sinh được thân công đức xuất thế gian, được xuất sinh trong pháp giới không.

Đây là Đại Bồ-tát đem thân che chỗ chư Phật, gom hết căn lành ấy hồi hướng cho chúng sinh, khiến tất cả chúng sinh thành tựu công đức thắng diệu của chư Phật ba đời.

Khi Đại Bồ-tát đem thân bố thí cho tất cả chúng sinh, nghĩ như thế này:

Khiến tất cả chúng sinh thành tựu căn lành.

Khiến tất cả chúng sinh thường nhớ căn lành, khiến tất cả chúng sinh thường làm đèn sáng

Khiến tất cả chúng sinh được sống an lạc.

Khiến tất cả chúng sinh được bụng chứa pháp, có thể dung nạp tất cả chúng sinh.

Khiến tất cả chúng sinh làm ánh sáng cho thế gian, diệt trừ các sự tối tăm.

Khiến tất cả chúng sinh làm được tất cả nhân duyên cho căn lành, làm Thiện tri thức cho nhau để thành tựu, mở bày chánh đạo, được an lạc vô thượng.

Khiến tất cả chúng sinh làm mặt trời trong sáng.

Đại Bồ-tát đem thân bố thí cho các chúng sinh, gom hết căn lành hồi hướng cho chúng sinh, khiến tất cả chúng sinh đạt được đạo quả trí tuệ của chư Phật.

Khiến tất cả chúng sinh tùy thuận chánh đạo, đều đạt đến Vô thượng Bồ-đề.

Khiến tất cả chúng sinh thường ở trong hội của chư Phật, được nhận sự giáo hóa.

Khiến tất cả chúng sinh đầy đủ uy nghi, thành tựu uy nghi thanh tịnh của chư Phật.

Khiến tất cả chúng sinh đều được Niết-bàn, hiểu rõ nghĩa của pháp.

Khiến tất cả chúng sinh đều được thắng pháp, mà không nhàm chán, thường gặp thắng pháp, sinh vào nhà Như Lai.

Khiến tất cả chúng sinh từ bỏ hy vọng của thế gian, đạt được hy vọng chân thật của Như Lai.

Khiến tất cả chúng sinh ngồi dưới cây Bồ-đề, sinh ra vô lượng căn lành thanh tịnh.

Khiến tất cả chúng sinh phá tan tất cả oán địch phiền não, phát sinh tâm bất hại.

Khiến tất cả chúng sinh được pháp vô úy, đều hộ trì hết tất cả Phật pháp.

Đây là Đại Bồ-tát bố thí tự thân, đem căn lành hồi hướng khiến tất cả chúng sinh lợi ích an lạc, được pháp vô thượng.

Đại Bồ-tát đem thân mình dâng lên chư Phật, tâm xem như cha mẹ. Đối với chư Phật, phát sinh thâm tâm thanh tịnh. Đem tâm minh tịnh này thọ trì Bồ-đề, được các Phật pháp, xả bỏ pháp thế gian, sinh vào nhà Như Lai, tùy thuận chư Phật, bảo hộ chánh pháp, xa lìa tất cả cảnh giới các ma, tu tập cảnh giới của Phật, tự đem thân mình trở thành pháp khí của tất cả chư Phật.

Đại Bồ-tát tu tập pháp như thế này, tự thân cung cấp đến tất cả chư Phật, đem hết căn lành này hồi hướng cho chúng sinh, khiến tất cả chúng sinh an trú trong tâm tịnh, tự trang điểm bằng tất cả báu trí tuệ.

Khiến tất cả chúng sinh được giáo hóa và đồng sự với tất cả chúng sinh, xa lìa tất cả các nghiệp bất thiện.

Khiến tất cả chúng sinh được quyến thuộc đoàn kết, cùng nhau gìn giữ chánh pháp của chư Phật.

Khiến tất cả chúng sinh đều làm đệ tử thanh tịnh của Như Lai, thành tựu quả vị của Bồ-tát Quán đảnh.

Khiến tất cả chúng sinh được chư Phật hộ trì, xa lìa bạn bè xấu ác.

Khiến tất cả chúng sinh tùy thuận chư Phật, tu tập pháp hành tối thắng trong quả vị của Bồ-tát.

Khiến tất cả chúng sinh vào cảnh giới của Phật, đều được thọ ký Nhất thiết trí.

Khiến tất cả chúng sinh đồng với Như Lai, được tự tại đối với tất cả Phật pháp.

Khiến tất cả chúng sinh đều được chư Phật bảo hộ, tu hành nghiệp không chấp trước.

Khiến tất cả chúng sinh đều làm người thị giả số một của chư Phật, đầy đủ trí tuệ, làm vừa ý chư Phật.

Đây là Đại Bồ-tát đem thân phụng sự chư Phật.

Đem căn lành này hồi hướng đến Vô thượng Bồ-đề, hồi hướng cứu hộ hết tất cả chúng sinh, hồi hướng cứu hộ tất cả chúng sinh, hồi hướng cho chúng sinh thoát khỏi ba cõi, hồi hướng cho tự tâm đều được thanh tịnh, hồi hướng đến vô lượng quảng đại Bồ-đề, hồi hướng đến trí tuệ chiếu sáng của chư Phật, hồi hướng đến thân mình được theo chư Phật, hồi hướng đến thọ trì tất cả Phật pháp, hồi hướng mong cầu tất cả Phật pháp, hồi hướng đến căn lành đồng đẳng với các Như Lai trong ba đời, hồi hướng đến tâm trong mát được tất cả Phật pháp.

Khi Đại Bồ-tát bố thí quốc độ, vứt bỏ tâm ý uy quyền của Đế vương thế gian, không còn bị trói bị lệ thuộc, không cầu quyền uy, xa lìa nghiệp ác, đối với khắp chúng sinh, phát sinh tâm lợi ích an lạc. Đại Bồ-tát đem căn lành do bố thí quốc độ hồi hướng, khiến tất cả chúng sinh xa lìa ngu si, biết rõ nghiệp báo.

Khiến tất cả chúng sinh không ưa pháp thế gian.

Khiến tất cả chúng sinh không tham đắm vào những nơi sinh sống ở khắp thế gian.

Khiến tất cả chúng sinh không giữ lấy tướng kiên cố của thế gian.

Khiến tất cả chúng sinh tâm không nhiễm trước vào pháp ngã và ngã sở.

Khiến tất cả chúng sinh tâm không quên hạnh Bồ-tát.

Khiến tất cả chúng sinh chưa từng rời bỏ các Thiện tri thức.

Khiến tất cả chúng sinh đều thọ trì tất cả hạnh nguyện của Bồtát.

Khiến tất cả chúng sinh làm cho tất cả Thiện tri thức đều được hoan hỷ.

Đại Bồ-tát bố thí đất nước, đem căn lành hồi hướng, khiến tất cả chúng sinh được chỗ của Pháp vương; đối với pháp tự tại được đến bờ kia.

Khiến tất cả chúng sinh được pháp của Pháp vương, thu phục tất cả vua oán địch kết sử.

Khiến tất cả chúng sinh cùng với Pháp vương đồng khen ngợi Phật pháp trí tuệ của Như Lai.

Khiến tất cả chúng sinh ở trong nhà Pháp vương thuộc cảnh giới của Phật, có thể tự tại chuyển pháp luân vô thượng.

Khiến tất cả chúng sinh sinh ra phương tiện thiện diệu của Như Lai, được pháp tự tại, hộ trì Phật pháp, vĩnh viễn không đoạn tuyệt.

Khiến tất cả chúng sinh hộ trì vô lượng chánh pháp của Pháp vương, đều được trở thành Bồ-tát vĩ đại.

Khiến tất cả chúng sinh trong pháp giới thanh tịnh, được làm

Pháp vương thường sinh ra ở đời liên tục không gián đoạn.

Khiến tất cả chúng sinh làm bậc vua Trí tuệ trong các thế giới, thu phục thành thục tất cả chúng sinh.

Khiến tất cả chúng sinh khắp vì chúng sinh trong thế giới nhiều như pháp giới hư không giới, làm bậc chúa bố thí pháp, kiến lập Đại thừa trong tất cả chúng sinh giới.

Khiến tất cả chúng sinh được pháp của Pháp vương, đồng với căn lành của chư Phật ba đời. Đây là Đại Bồ-tát bố thí Vương vị, đem căn lành hồi hướng, khiến tất cả chúng sinh đều được đạt đến chỗ an ổn hoàn toàn.

Đại Bồ-tát thấy có người đến xin đại thành xinh đẹp của kinh đô, liền đem cho bằng tâm hoan hỷ, tâm không loạn, tâm chuyên nhất mong cầu Bồ-đề, tâm vô số nguyện, tâm đại Từ, tâm đại Bi, tâm trong mát. Bố thí vì lợi ích cho tất cả chúng sinh, bố thí vì đứng vững trong Đại thừa, bố thí vì tâm bình đẳng của Phật pháp. Bố thí bằng tâm thực hành pháp thiện, tâm muốn Nhất thiết trí vương, ý muốn cầu Pháp vương tự tại. Bố thí bằng tâm muốn trí tuệ tăng thượng, tâm muốn tất cả công đức thanh tịnh, tâm kiên cố quảng đại. Bố thí vì nuôi dưỡng tất cả căn lành, xa lìa tất cả sự khủng bố của các ma, vì đầy đủ trí Phật, an trú trong năng lực tâm của Bồtát, đạt đến tất cả các cảnh giới tu hành và đại nguyện của Bồ-tát bằng Nhất thiết trí.

Đại Bồ-tát bố thí đại thành xinh đẹp của kinh đô, gom hết căn lành hồi hướng, khiến tất cả chúng sinh làm tịnh tất cả cõi dâng lên cho Đức Phật ở.

Khiến tất cả chúng sinh thường ở chỗ A-lan-nhã, an trú trong tịch tĩnh.

Khiến tất cả chúng sinh không lệ thuộc tất cả quốc độ, kinh đô, làng xóm và các thành lớn nhỏ, hoàn toàn ly dục, được tịch tĩnh tối thượng.

Khiến tất cả chúng sinh tâm không thân cận tất cả thế gian, xa lìa hoàn toàn ngôn ngữ thế gian, được tâm lìa dục, bố thí các sở hữu, không có hối hận, không lệ thuộc gia nghiệp, được tâm trong sạch ngay thẳng.

Khiến tất cả chúng sinh xả bỏ tất cả không còn bị trói buộc, bố thí hoàn toàn được thành tựu.

Khiến tất cả chúng sinh không lệ thuộc vào chỗ ở, xả bỏ các khổ, trừ diệt tất cả lo âu khủng bố.

Khiến tất cả chúng sinh lấy tất cả thế giới làm cõi tịnh độ và dâng lên chư Phật.

Đây là Đại Bồ-tát bố thí kinh đô, thành lớn xinh đẹp, đem căn lành hồi hướng, khiến tất cả chúng sinh nghiêm tịnh chỗ Phật ở.

Đại Bồ-tát bố thí nữ báu có thị nữ hầu hạ đầy đủ kỹ thuật, tài năng khéo léo, rất giỏi nói đùa, đầy đủ uy nghi, phục vụ kính thuận, cảm động lòng người; đầy đủ tất cả các công đức thế gian, xinh đẹp mỹ lệ làm động cả trời, người; tiếng nói hòa nhã không có thô bạo, phục vụ chủ rất đúng lễ, không làm phật ý, dung mạo tuyệt đẹp, nhìn không chán.

Trăm ngàn cô gái cùng phục vụ nữ báu ấy đều do quả báo nghiệp thanh tịnh của Bồ-tát hóa hiện, đem ra bố thí bằng tâm không chấp trước, tâm xa lìa dối trá, tâm không bị các dục trói buộc, tâm không lệ thuộc tất cả các sắc, tâm không tham dục lạc, lìa tầm tứ về dục, đối với hình sắc của nữ báu không sinh tưởng.

Đại Bồ-tát bố thí nữ báu có thị nữ hầu hạ, đem căn lành hồi hướng đến tất cả chúng sinh được thoát ly sinh tử; hồi hướng được hỷ lạc của chư Phật; hồi hướng được kiên cố trong không kiên cố; hồi hướng đến tâm không bị phá hoại của trí Kim cang giới; hồi hướng đến đại chúng viên mãn của Như Lai; hồi hướng đến giữ vững sự chân thật kiên cố; hồi hướng đến tâm Bồ-đề vô thượng; hồi hướng đến trí tuệ phân biệt các pháp; hồi hướng đến sinh ra tất cả căn lành; hồi hướng đến không trái với lời dạy của Phật ba đời.

Đại Bồ-tát trú ở pháp này, sinh vào nhà Như Lai, sinh ra đạo Nhất thiết trí, đi sâu vào tất cả trí nghiệp của Bồ-tát, xả ly tất cả trần cấu của thế gian, được thu phục bằng công đức thật tâm, viên mãn ruộng phước vô thượng, giảng thuyết diệu pháp, giúp đỡ chúng sinh, khiến tất cả chúng sinh đều được thanh tịnh, tu tập giữ gìn tất cả căn lành.

Đại Bồ-tát bố thí nữ báu quyến thuộc, đem hết căn lành hồi hướng cho chúng sinh, khiến tất cả chúng sinh mau được vô lượng Tam-muội quyến thuộc, lại được Tam-muội bất hoại của Bồ-tát.

Khiến tất cả chúng sinh đều được vào Tam-muội trang nghiêm của chư Phật, thường muốn chiêm ngưỡng Phật.

Khiến tất cả chúng sinh đều tu hành Tam-muội chẳng thể nghĩ bàn tự tại du hý của Bồ-tát, an trú vào Tam-muội vô lượng tự tại.

Khiến tất cả chúng sinh vào Tam-muội như thật, không hư hoại tâm mình.

Khiến tất cả chúng sinh đều được Tam-muội sâu xa của Bồ-tát, đối với tất cả Tam-muội đều được tự tại.

Khiến tất cả chúng sinh đều được thành tựu các quyến thuộc của Tam-muội, tâm được giải thoát.

Khiến tất cả chúng sinh phân biệt hoàn toàn các loại Tammuội, có thể nhận lấy chính xác tướng các Tam-muội.

Khiến tất cả chúng sinh được Tam-muội thắng trí, tu tập tất cả các môn Tam-muội.

Khiến tất cả chúng sinh được Tam-muội vô ngại, có thể quyết định nhập vào chánh thọ bất hoại.

Khiến tất cả chúng sinh được Tam-muội không chấp trước, tâm thường nhớ thực hành Tam-muội không hai.

Khiến tất cả chúng sinh được quyến thuộc thanh tịnh, quyến thuộc của Bồ-tát không bị chia lìa.

Khiến tất cả chúng sinh đều phát tâm Bồ-đề thanh tịnh, đầy đủ Phật pháp.

Khiến tất cả chúng sinh đầy đủ thanh tịnh năng lực Nhất thiết trí, được trí vô thượng.

Khiến tất cả chúng sinh được quyến thuộc tùy thuận, đều cùng với chúng sinh hòa thuận sống chung.

Khiến tất cả chúng sinh đều được đầy đủ công đức Nhất thiết trí, thành tựu tất cả căn lành thắng diệu.

Khiến tất cả chúng sinh được quyến thuộc chân thật, thành tựu Pháp thân thanh tịnh của Như Lai.

Khiến tất cả chúng sinh thành tựu tài biện luận không bị hạn chế vướng mắc, giảng thuyết tạng pháp vô tận của Phật pháp.

Khiến tất cả chúng sinh đều là Thiện tri thức, làm cho tất cả mọi người đều thành tựu tất cả căn lành thắng diệu.

Khiến tất cả chúng sinh viên mãn tịnh nghiệp, thành tựu tất cả các nghiệp thanh tịnh.

Khiến tất cả chúng sinh đầy đủ pháp môn tịnh diệu của chư Phật, bằng các pháp thanh tịnh trang hoàng thế gian.

Đây là căn lành hồi hướng của Đại Bồ-tát khi bố thí nữ báu quyến thuộc.

Lại nữa, khi Đại Bồ-tát bố thí vợ, thiếp, con trai, con gái, thì cũng như Thái tử Tu-đạt-noa, Bồ-tát Hiện Trang Nghiêm Vương, cùng vô số các vị Đại Bồ-tát khác, thảy đều nương vào xe Nhất thiết trí để thực hành tất cả sự bố thí. Thành tựu đầy đủ Bố thí bala-mật, nghiêm tịnh đạo bố thí của Bồ-tát, nuôi dưỡng tâm bố thí thanh tịnh không hối tiếc, nhập vào tâm Nhất thiết trí báu bố thí, khiến tất cả chúng sinh đều được thanh tịnh, đủ tâm chánh trực. Đầy đủ tâm chánh trực thanh tịnh rồi, thì tất cả Bồ-đề đều được viên mãn, tâm chí thường mong cầu tịnh đạo của Bồ-tát, thọ trì nguyện môn Bồ-đề của chư Phật, tu tập tất cả tâm của nhà Như Lai.

Đại Bồ-tát như vậy thành tựu ý lực, cầu chỗ ở của Như Lai, tự biết thân mình lệ thuộc tất cả không được tự tại, tùy họ sai khiến, nên đối với khắp chúng sinh, thực hành tất cả pháp bố thí. Làm thỏa mãn cho người chưa thỏa mãn, bảo hộ cho an ổn tất cả chúng sinh. Muốn thân mình làm tháp đẹp nhất thế gian, Bồ-tát làm cho chúng sinh đều được hoan hỷ.

Muốn làm cho tất cả đều đủ tâm bình đẳng, muốn làm ao nước mát cho cả thế gian, muốn làm người thí chủ lớn lấy trí tuệ làm đầu, tu tập hạnh Bồ-tát tu hành đúng lời dạy, thành tựu Nhất thiết trí chúng trí, trang nghiêm bằng đại nguyện, thường muốn chuyên cầu ruộng phước trí tuệ, làm cho các chúng sinh nuôi dưỡng căn lành, xây dựng cho thân mình tôn sùng chánh pháp, làm ngọn đèn sáng trí tuệ cho tất cả, chánh niệm về tâm bố thí tất cả của Bồtát, tất cả chư Phật luôn luôn hiện hữu.

Đại Bồ-tát đem tất cả căn lành bố thí vợ, con trai, con gái bằng tâm giải thoát, không bị trói buộc, hồi hướng cho chúng sinh, khiến cho tất cả chúng sinh, hiện ra vô lượng thân biến hóa; ở tất cả các thế giới khắp mười phương, chuyển pháp luân không thoái, đưa tất cả chúng sinh vào đạo Vô thượng.

Khiến tất cả chúng sinh không tham đắm thân mình, đầy đủ các nguyện, đều đến các thế giới của chư Phật khắp mười phương.

Khiến tất cả chúng sinh xa lìa tâm yêu ghét, đoạn tuyệt kết sử yêu, hận.

Khiến tất cả chúng sinh là chân Phật tử, đi vào nhà Như Lai.

Khiến tất cả chúng sinh đối với tất cả chư Phật sinh tâm xem như mình không thể bị phá hoại.

Khiến tất cả chúng sinh thường làm con Phật, sinh ra từ pháp.

Khiến tất cả chúng sinh được hy vọng chân chánh, thành tựu Nhất thiết trí.

Khiến tất cả chúng sinh tu tập căn lành rốt ráo, đầy đủ giác ngộ vô thượng.

Khiến tất cả chúng sinh thành tựu giải thoát giác ngộ của chư Phật, bố thí pháp vô thượng.

Khiến tất cả chúng sinh được tâm vô sinh, không phá hoại nhân duyên.

Khiến tất cả chúng sinh ngồi dưới cây Bồ-đề đắc quả Chánh giác, thành đạo Vô thượng, hóa sinh vô số nam nữ đúng pháp.

Đây là căn lành hồi hướng của Đại Bồ-tát khi bố thí vợ, thiếp, con trai và con gái, khiến tất cả chúng sinh được giải thoát không chấp trước, được trí tuệ vô ngại.

Thấy có người đến xin nhà, Đại Bồ-tát đem nhà sang trọng có trang hoàng các vật dụng xinh đẹp ra bố thí, tu tập uy nghi; không lệ thuộc nhà, xa lìa cư gia và tất cả tham luyến, nhàm chán gia nghiệp và dụng cụ sinh hoạt. Đối với những vật báu xinh đẹp trong nhà, Bồtát không có tham tiếc, không bị lệ thuộc; đối với dụng cụ trong nhà không trói buộc tâm. Bồ-tát hiểu rõ rất nhanh pháp bị thay đổi, tiêu diệt, nên xuất gia cầu đạo, đạt đến Phật đạo, trú trong chỗ Bồ-tát, tâm nghiêm trang Phật pháp. Bồ-tát có thể bỏ tất cả, mà nửa chừng không hối hận, thường được chư Phật khen ngợi. Đối với dụng cụ sinh hoạt và tất cả chỗ ở Bồ-tát không bị lệ thuộc, thấy người đến xin thì hoan hỷ vô cùng, quyết định cho ngay.

Đại Bồ-tát đem hết căn lành bố thí nhà như vậy, hồi hướng cho chúng sinh, khiến tất cả chúng sinh xả bỏ vợ con, thường vui xuất gia.

Khiến tất cả chúng sinh tin nhà chẳng phải nhà, bỏ nhà cầu đạo, ở trong Phật pháp, tịnh tu phạm hạnh.

Khiến tất cả chúng sinh ưa thích bố thí tất cả, không hối tiếc, không còn tham lam.

Khiến tất cả chúng sinh xa lìa hẳn việc nhà, ít muốn biết đủ, không cất chứa gì cả.

Khiến tất cả chúng sinh không còn thích nhà thế tục, thường thích nhà của Phật.

Khiến tất cả chúng sinh đều xa lìa hẳn nhà chướng ngại, dẹp hết tất cả những đường chướng ngại.

Khiến tất cả chúng sinh không ái nhiễm thân thuộc gia đình, tuy ở tại gia mà không lệ thuộc.

Khiến tất cả chúng sinh giáo hóa tất cả, tuy sống tại gia mà thuyết giảng bằng trí Chánh giác.

Khiến tất cả chúng sinh tuy thị hiện tại gia, nhưng đối với chỗ Phật ở, thường tùy thuận trí tuệ của Như Lai.

Khiến tất cả chúng sinh dù ở tại gia vẫn hoan hỷ với các chúng sinh, ở chỗ Phật ở.

Đây là Đại Bồ-tát đem căn lành bố thí nhà hồi hướng cho các chúng sinh, khiến các chúng sinh đều hành các hạnh của Bồ-tát, viên mãn các nguyện, trí tuệ tự tại.

Khi Đại Bồ-tát bố thí vườn rừng xinh đẹp để vui chơi thì suy nghĩ: “Vì tất cả chúng sinh, ta nên làm rừng pháp rất khả ái, hiện ra những nơi hỷ lạc, khiến cho chúng sinh được vô lượng sự hoan hỷ. Vì tất cả chúng sinh, ta sẽ mở cửa pháp thanh tịnh vượt khỏi ba cõi. Ta sẽ cho chúng sinh Vô thượng Bồ-đề, viên mãn các nguyện, sẽ làm từ phụ cho khắp chúng sinh, bằng trí tuệ quan sát cả ba cõi. Ta sẽ cho tất cả chúng sinh những dụng cụ sinh hoạt để họ không thiếu thốn. Ta sẽ làm từ mẫu cho tất cả chúng sinh, sinh ra căn lành làm viên mãn các nguyện. Bằng tâm không nhàm chán, Đại Bồ-tát hồi hướng các căn lành; hồi hướng xa lìa tất cả ác của chúng sinh; hồi hướng cho chúng sinh được chánh tâm an ổn; hồi hướng không cầu báo ân; hồi hướng không cầu lợi dưỡng của chúng sinh; hồi hướng không cầu khen ngợi; hồi hướng trừ diệt vô lượng khổ não của tất cả chúng sinh; hồi hướng cho tâm chúng sinh được thanh tịnh cũng như hư không; hồi hướng tất cả căn lành làm đầu, quán sát sự chân thật của tất cả các pháp; hồi hướng tất cả chúng sinh tự trang hoàng bằng sự đại trang nghiêm, vĩnh viễn xa lìa khổ ấm; hồi hướng đối với nguyện của Đại thừa không nhàm chán, xa lìa tà kiến, tu hành đầy đủ Bồ-tát hạnh và các đại nguyện.

Đại Bồ-tát đem hết căn lành do bố thí vườn rừng vui chơi xinh đẹp cho các chúng sinh, khiến tất cả chúng sinh được căn lành hơn nữa, cuối cùng đạt được tâm vườn rừng Vô thượng Bồ-đề.

Khiến tất cả chúng sinh được pháp bất động, thấy hết các pháp, đều được hoan hỷ.

Khiến tất cả chúng sinh thường vui ở rừng pháp, đạt đến vườn hỷ lạc của cõi Phật.

Khiến tất cả chúng sinh được tâm tịnh diệu, thường thấy rừng đại thần túc của Như Lai.

Khiến tất cả chúng sinh đều thích sự vui chơi tự tại của Như Lai, trí tuệ tự tại đến khắp mười phương.

Khiến tất cả chúng sinh tu tập pháp vui vẻ đến các cõi Phật, thưa hỏi và tiếp nhận sự giáo hóa.

Khiến tất cả chúng sinh thích sự vui vẻ của Bồ-tát, tận đời vị lai, tu Bồ-tát hạnh, tâm không nhàm chán, an trú giải thoát.

Khiến tất cả chúng sinh thấy tất cả Phật đầy cả pháp giới, mến thích vườn rừng thanh tịnh tâm lớn của Phật.

Khiến tất cả chúng sinh đến các cõi Phật, tâm rất hoan hỷ, cúng dường chư Phật.

Khiến tất cả chúng sinh thích tâm lìa dục, thanh tịnh trang nghiêm tất cả cõi Phật.

Đây là Đại Bồ-tát bố thí vườn rừng xinh đẹp vui vẻ, đem căn lành này hồi hướng, khiến tất cả chúng sinh du ngoạn trong tất cả vườn rừng của chư Phật, thấy tất cả chư Phật.

*********

Lại nữa, Bồ-tát tổ chức vô số ức na-do-tha a-tăng-kỳ hội bố thí cho đại chúng, thanh tịnh lìa ác, được chư Phật khen ngợi. Thanh tịnh khắp cho chúng sinh, xa lìa hẳn cái ác. Thanh tịnh ba đường ác, sinh ra Nhất thiết trí. Vô số cảnh giới đều được thanh tịnh, vô lượng trăm ngàn na-do-tha vật bố thí đều rất xinh đẹp, đều đem cho cả.

Đại Bồ-tát đem hết căn lành do bố thí ở đại hội này, hồi hướng đến khắp chúng sinh, khiến cho tất cả chúng sinh đều được tâm Vô thượng Bồ-đề, thực hành vô số sự bố thí đều được thanh tịnh.

Khiến cho tất cả chúng sinh đều đạt đến vô lượng, vô biên đạo thanh tịnh.

Khiến cho tất cả chúng sinh thực hành tâm Từ vô lượng, cứu hộ được tất cả chúng sinh.

Khiến cho tất cả chúng sinh đều thuận theo chánh pháp của Như Lai ba đời, làm cho chư Phật hoan hỷ.

Khiến cho tất cả chúng sinh ở nơi chư Phật, tu hành bố thí, tâm không hối tiếc.

Khiến cho tất cả chúng sinh đều được phát triển tín căn thắng diệu, liên tục không gián đoạn, tu hành tăng thêm vô lượng bố thí.

Khiến cho tất cả chúng sinh được tâm Đại thừa, đều thành tựu hội bố thí Đại thừa.

Khiến cho tất cả chúng sinh thành tựu hội bố thí tốt đẹp to lớn, bố thí rốt ráo, bố thí trọn vẹn, bố thí hơn hết, bố thí tùy ước nguyện, bố thí đệ nhất, bố thí bậc thượng, bố thí vô thượng, bố thí không gì

bằng, bố thí xuất thế gian, bố thí được tất cả chư Phật khen ngợi.

Khiến cho tất cả chúng sinh thành thí chủ đệ nhất, cứu thoát chúng sinh khỏi các đường ác, đưa vào đường trí thanh tịnh không ngại; tu hành căn lành chân thật bằng nguyện bình đẳng, được trí tuệ của Như Lai không gì sánh bằng.

Khiến cho tất cả chúng sinh an trú vào các thiền định tịch tĩnh bằng trí tuệ, đi theo đường bất tử, đạt đến tất cả trí tuệ sáng suốt, dũng mãnh tinh tấn, đầy đủ các địa, trang nghiêm Phật pháp, đạt đến bờ kia vĩnh viễn không thoái lui.

Khiến cho tất cả chúng sinh được dự hội Đại thừa không thoái chuyển, cung cấp cho chúng sinh không ngừng nghỉ, đạt đến Nhất thiết trí vô thượng.

Khiến cho tất cả chúng sinh trồng các căn lành, đều đến bờ kia với vô lượng công đức.

Khiến cho tất cả chúng sinh được chư Phật khen ngợi, làm vị đại thí chủ cho tất cả, công đức đầy đủ khắp cả pháp giới, chiếu khắp mười phương, bố thí sự hỷ lạc vô thượng.

Khiến cho tất cả chúng sinh làm vị đại thí chủ bình đẳng với tất cả, đem hết căn lành bảo hộ hết chúng sinh.

Khiến cho tất cả chúng sinh làm thí chủ hơn hết, xây dựng tạo lập cho tất cả ở nơi xe vô thượng.

Khiến cho tất cả chúng sinh làm vị thí chủ đúng lúc, làm được đại hội đúng lúc không có chẳng đúng lúc.

Khiến cho tất cả chúng sinh làm vị thí chủ hoàn thiện, là bậc Đại nhân bố thí pháp đến bờ kia.

Khiến cho tất cả chúng sinh làm thí chủ nghiêm tịnh, đến chỗ Nhất thiết trí của chư Phật.

Khiến cho tất cả chúng sinh làm vị thí chủ thanh tịnh tất cả, phát sinh tích tụ công đức đồng với pháp giới.

Khiến cho tất cả chúng sinh làm vị thí chủ vượt hơn tất cả, viên mãn đại nguyện độ thoát chúng sinh, an trú ở năng lực về xứ và phi xứ của Như Lai.

Đây là Đại Bồ-tát đem căn lành bố thí lớn hồi hướng cho chúng sinh, khiến cho tất cả chúng sinh tu hành tâm Xả vô thượng. Bố thí rốt ráo như Phật, thành tựu bố thí hoàn hảo, bố thí không thể hoại, bố thí theo pháp của chư Phật, bố thí bằng mắt từ ái, bố thí cứu chúng sinh, bố thí Nhất thiết trí, bố thí thấy chư Phật, bố thí đầy đủ uy nghi, bố thí đầy đủ công đức theo hành động của Bồ-tát, bằng trí tuệ của Phật.

Lại nữa, Bồ-tát đem cho tất cả tài sản sinh sống, không tham luyến, không cầu quả báo, không có mong cầu về giàu vui của thế gian, trừ diệt ngu si, hiểu sâu về pháp, làm lợi ích an ổn cho tất cả chúng sinh. Bằng tâm chân thật hiểu tất cả pháp, các vật xinh đẹp, tài sản sinh hoạt. Đem các loại sang đẹp tài sản sinh sống trong vô số cảnh giới làm lợi ích cho chúng sinh, bố thí rốt ráo, bố thí tất cả, bố thí trong ngoài, phát triển tâm ngay thẳng, khiến cho tất cả chúng sinh đầy đủ tâm báu công đức, làm lợi ích hoàn toàn cho vô lượng chúng sinh.

Khiến cho tất cả chúng sinh thành tựu tâm báu, khiến cho tất cả chúng sinh được căn lành thanh tịnh như chư Phật cả ba đời, đầy đủ Nhất thiết trí.

Đại Bồ-tát đem hết những căn lành do bố thí vật dụng sinh hoạt hồi hướng cho chúng sinh, khiến cho tất cả chúng sinh được thanh tịnh thuần thục.

Khiến cho tất cả chúng sinh đều làm nghiêm tịnh tất cả cõi Phật, trừ diệt phiền não.

Khiến cho tất cả chúng sinh bằng tâm thanh tịnh liên tục không gián đoạn, trong một niệm biết khắp cả pháp giới.

Khiến cho tất cả chúng sinh được trí tuệ khắp cả hư không pháp giới.

Khiến cho tất cả chúng sinh được Nhất thiết trí hiểu rõ ba cõi, trong tất cả mọi lúc chuyển pháp luân không lùi.

Khiến cho tất cả chúng sinh đều thị hiện Nhất thiết chủng trí, dùng phương tiện thiện xảo làm lợi ích cho chúng sinh.

Khiến cho tất cả chúng sinh đều ngộ đạo của tất cả Như Lai đến tận cùng đời vị lai trong tất cả cõi, thuyết giảng lời Phật chưa từng nghỉ ngơi.

Khiến cho tất cả chúng sinh trong vô lượng kiếp tu hạnh Bồ-tát không mệt mỏi.

Khiến cho tất cả chúng sinh trong tất cả thế giới tịnh hay bất tịnh, nhỏ, trung bình, lớn, hẹp, rộng, ngửa ra hay úp xuống…, đều làm cho tất cả chúng sinh liên tục không gián đoạn, đều làm tất cả Phật sự của cả ba đời, giáo hóa chúng sinh, xây dựng Nhất thiết trí.

Đại Bồ-tát này làm như vậy trong vô số a-tăng-kỳ kiếp để lợi ích cho chúng sinh, khiến Phật pháp không đoạn tuyệt. Bằng tâm đại Bi cứu hộ chúng sinh, tu tập đại Từ đủ hạnh Bồ-tát, thành lập tất cả luận của các Như Lai, khiến cho tất cả chúng sinh đều không đoạn căn lành của chư Phật, làm mãn nguyện người đến cầu xin mà không nhàm chán. Bố thí tất cả mà không hối hận, xả bỏ tất cả vật dụng sinh hoạt. Dù ở đâu đến cũng đều hoan hỷ với họ, xem chúng sinh như con một của mình, thấy người đến xin thì rất hoan hỷ mà suy nghĩ: “Đây là Thiện tri thức của ta.”

Bấy giờ, Bồ-tát phát triển tâm đại Bi, tâm hoan hỷ, tâm không thể hoại, tâm bố thí vĩ đại. Đại Bồ-tát thấy người đến xin tùy theo yêu cầu của họ đều cung cấp cho tất cả, làm vừa ý không để bị thiếu thốn; làm cho hoan hỷ, không còn nghèo khổ; đầy đủ giàu có an vui. Họ đồng thanh khen sự tốt đẹp, khen đức độ của

Bồ-tát rồi trở về.

Bấy giờ, Bồ-tát rất hoan hỷ mà trong trăm ngàn vô số kiếp hưởng thọ hỷ lạc của Đế Thích cũng không bằng. Sự hưởng thọ hỷ lạc của vua trời Tu-dạ-ma, trời Đâu-suất-đà, trời Hóa tự tại, trời Tha hóa tự tại trong trăm ngàn vô số kiếp cũng không bằng. Sự hỷ lạc của Phạm Thiên vương, cho đến hỷ lạc thiền định trong vô lượng, vô biên a-tăng-kỳ kiếp của Tịnh cư thiên cũng không bằng. Sự hỷ lạc của vua Chuyển luân trong vô lượng, vô số a-tăng-kỳ kiếp không thể nêu bày hết cũng không bằng.

Đại Bồ-tát với đại Hỷ vô lượng như vậy, tín tâm phát triển, trực tâm thanh tịnh, các căn nhu hòa, tâm định vượt lên rộng lớn, sinh tâm Bồ-đề, vững chắc không lùi.

Đại Bồ-tát đem căn lành hồi hướng, khiến tất cả chúng sinh lìa tâm độc hại.

Khiến tất cả chúng sinh an ổn hỷ lạc.

Khiến tất cả chúng sinh được nghĩa chân thật.

Khiến tất cả chúng sinh đều được Bồ-đề vô thượng thanh tịnh.

Khiến tất cả chúng sinh đều được bình đẳng.

Khiến tất cả chúng sinh được tâm hiền thiện.

Khiến tất cả chúng sinh tâm Đại thừa của Bồ-tát Phổ Hiền tu tập.

Khiến tất cả chúng sinh giác ngộ thừa mười Lực.

Khi Đại Bồ-tát đem căn lành này hồi hướng, đối với nghiệp thân miệng ý không bị lệ thuộc, được giải thoát mà hồi hướng, chứ không tưởng về chúng sinh mà hồi hướng. Không tưởng mạng sống, không tưởng người, không tưởng về ngã, không tưởng đàn ông, không tưởng thiếu niên, không tưởng người truyền cho, không tưởng người tạo ra, không tưởng người nhận lấy, không tưởng có, không tưởng không, không tưởng đời này hay đời sau, không tưởng chết ở đây sinh ở kia, không tưởng có thường, không tưởng vô thường, chẳng tưởng ba cõi, chẳng tưởng không ba cõi, chẳng tưởng, chẳng không tưởng.

Bồ-tát hồi hướng bằng tâm không bị trói buộc, không nghiệp, không nghiệp báo, không hư vọng, không chân thật, không tư tưởng, không tư tưởng đến quả báo, không tâm, không không tâm.

Khi Đại Bồ-tát hồi hướng như vậy, không lệ thuộc ở trong, ở ngoài, duyên hay cảnh giới; nhân, nhân hòa hợp; pháp hay phi pháp; tư duy hay kết quả tư duy; sắc hay tập khởi của sắc, diệt tận của sắc; thọ tưởng hành thức hay tập khởi của thọ tưởng hành thức, diệt tận của thọ tưởng hành thức.

Đại Bồ-tát, nếu đối với những pháp này, tâm không bị lệ thuộc thì không bị trói buộc nơi sắc hay sự tập khởi của sắc, nơi sự diệt tận của sắc; không bị trói buộc nơi thọ, tưởng, hành, thức hay sự tập khởi của thọ, tưởng, hành, thức, sự diệt tận của thọ, tưởng, hành, thức. Nếu Bồ-tát đối với pháp này mà không bị trói buộc thì đối với các pháp cũng không có sự tháo gỡ ra. Tại sao? Vì tất cả pháp không sinh không diệt, không có tự tánh, không một không hai, không nhiều không ít, không có số lượng, không phải không có số lượng, không thiện không ác, không sâu không cạn, không tĩnh không loạn, không dính vào không rời ra, không pháp cũng không phi pháp, không tánh không phi tánh, không có không không.

Bồ-tát thấy như vậy, pháp là phi pháp, nên đoạn tuyệt đường ngôn ngữ. Thấy phi pháp là pháp, nên không từ bỏ tất cả nghiệp, tu tập đầy đủ hạnh Bồ-tát, không thoái lui đối với Nhất thiết trí. Hiểu biết các duyên của nghiệp như mộng như tiếng vang, như bóng trong gương, tất cả pháp như huyễn. Nhưng Bồ-tát cũng không làm trái với nghiệp báo của nhân duyên, đi vào nghiệp sâu xa, hiểu biết pháp chân thật, không hành động, không tạo tác, cũng không trái với hành động đưa đến đạo.

Đại Bồ-tát đem tất cả căn lành hồi hướng như vậy đến Nhất thiết chủng trí, đi khắp mười phương giáo hóa chúng sinh.

Hồi hướng nghĩa là gì? Tức là vượt qua hết sinh tử thế gian, đến bờ kia nên gọi là hồi hướng. Vượt qua các ấm đến bờ kia nên gọi là hồi hướng. Vượt qua đường ngôn ngữ đến bờ kia nên gọi là hồi hướng. Vượt qua tướng chúng sinh đến bờ kia nên gọi là hồi hướng. Vượt qua thân kiến đến bờ kia nên gọi là hồi hướng. Vượt qua không kiên cố đến bờ kia nên gọi là hồi hướng. Vượt qua các hành đến bờ kia nên gọi là hồi hướng. Vượt qua các hữu đến bờ kia nên gọi là hồi hướng. Vượt qua các thủ đến bờ kia nên gọi là hồi hướng. Vượt qua các pháp thế gian đến bờ kia nên gọi là hồi hướng.

Đại Bồ-tát có thể đem căn lành hồi hướng như vậy thì đã tùy thuận tất cả chư Phật, tất cả Pháp, trí tuệ, Bồ-đề, nghĩa, hồi hướng, hạnh, chân thật, thanh tịnh.

Đại Bồ-tát hồi hướng như vậy rồi, khiến tất cả chúng sinh được pháp Như Lai, được chư Phật hoan hỷ, gặp tất cả Đức Phật, hiểu rõ tất cả pháp. Đối với tất cả pháp không trái lại, không bị sai lầm, có thể phân biệt rõ hết tất cả Phật pháp. Không bỏ chánh pháp, không trái ngược với nhân duyên, các pháp trong ngoài; đầy đủ năng lực của pháp, không có gián đoạn.

Này Phật tử! Đây là căn lành hồi hướng thứ sáu, tùy thuận tất cả kiên cố của Đại Bồ-tát.

Đại Bồ-tát trú ở hồi hướng này, được vô số chư Phật đều hộ trì, được pháp kiên cố, tu tập Nhất thiết trí, hiểu đúng với nghĩa, hiểu tất cả pháp. Tùy thuận tánh pháp, được tất cả pháp, tùy thuận căn lành kiên cố, tùy thuận mỹ mãn các nguyện. Được thuận theo pháp kiên cố thì tất cả Kim cang cũng không thể phá hoại được, được tùy thuận nguyện kiên cố thì được tự tại trong các pháp.

Bấy giờ, nương theo uy thần của Phật, Bồ-tát Kim Cang Tràng nhìn khắp mười phương, nhìn khắp các đại chúng, nhìn cả pháp giới, hiểu rõ ý nghĩa từng câu, từng chữ của các pháp tu tập vô lượng tâm. Bằng đại Bi che khắp tất cả chúng sinh, giác ngộ pháp của nhà Như Lai cả ba đời, nhập vào công đức của tất cả chư Phật, đạt đến thân tự tại của chư Phật, phân biệt tất cả tâm của chúng sinh, tùy theo căn lành đã trồng, giáo hóa đúng lúc, tùy thuận Pháp thân, hiện ra sắc thân, nên nói kệ rằng:

Các Đại vương trong khắp thế gian
Bồ-tát hiện thân làm vua ấy
Ở ngôi vua chúa, nhà tôn quý
Cũng đều giáo hóa khắp chúng sinh.
Tâm Bồ-tát nhu hòa thanh tịnh
Quyền lực tự tại giữa các chúng
Thường dùng chánh pháp trị thiên hạ
Phương tiện tùy thuận vui thế gian.
Bồ-tát làm nhà vua thanh tịnh
Thường chuyển pháp luân đúng thời cơ
Xa lìa các ác trị quốc gia
Mười phương chúng sinh đều phục tùng,
Tướng mạo Bồ-tát đầy công đức
Đầy đủ trí tuệ rất sâu xa
Đứng vững kiên cố không lùi bước
Thu phục được tất cả chúng ma,
Thường giữ đầy đủ giới thanh tịnh
Quyết định an trú sức nhẫn nhục
Trừ diệt tất cả độc sân hận
Thường xuyên tu tập pháp tối thắng,
Bồ-tát hành các pháp bố thí
Thức ăn, vòng hoa, xe, y phục
Hương thơm, nhà ở, đèn chiếu sáng
Bố thí như vậy không cùng tận.
Bồ-tát bố thí lợi chúng sinh
Thường xuyên mở rộng tâm quảng đại
Tâm ý thanh tịnh rất hoan hỷ
Dâng Bậc Tôn Thắng, cho thế gian,
Bồ-tát đều xả bỏ vô số
Tất cả tài vật trong và ngoài
Khi làm bố thí thường hoan hỷ
Trong tâm chưa từng có hối tiếc.
Bồ-tát có thể cho đầu mắt
Tay chân, da thịt và xương tủy
Tất cả thân thể đều cho hết
Trong tâm chưa từng có hối hận.
Khi Bồ-tát làm vị Đại vương
Hoàng tộc tôn quý trên mọi người
Đại Bi đem lưỡi cho chúng sinh
Đau đớn vô cùng không hối hận,
Bồ-tát đem căn lành cho lưỡi
Hồi hướng đến tất cả chúng sinh
Khiến cho các loại chúng sinh ấy
Thành tựu đầy đủ lưỡi rộng dài.
Bồ-tát hoan hỷ cho vợ con
Trong tâm chưa từng có hối hận
Rồi lại hoan hỷ cho đất nước
Và cũng cho thân không hối tiếc,
Người mong cầu gì, cho tất cả
Đem cho đúng lúc không ghét, hận
Tất cả sở hữu đều cho hết
Làm mãn nguyện hết người đến xin.
Vì pháp, xả bỏ vô số thân
Tu các khổ hạnh, cầu Bồ-đề
Lại vì chúng sinh chịu các khổ
Cầu trí Vô thượng không thoái chuyển,
Nhờ nghe và nhận chánh pháp Phật
Đem thân bố thí không mệt mỏi
Nội tâm hoan hỷ vô số lượng
Vì cứu hộ tất cả chúng sinh.
Bồ-tát được gặp chư Phật rồi
Tâm từ cung kính dâng cúng dường
Đầy đủ cả hoan hỷ, lợi ích
Đồng thời nghe, nhận các pháp Phật,
Hồi hướng đến tất cả chúng sinh
Làm cho thế gian đều an lạc
Có thể cứu hộ tất cả chúng
Làm cho hoàn toàn được giải thoát.
Bồ-tát đầy đủ các quyến thuộc
Thân thể xinh đẹp, thuận lời dạy
Trang sức bằng các vật tuyệt đẹp
Thông minh, hiền thiện và trí tuệ,
Vì lợi ích nên bố thí cả
Tâm ý chưa từng có tiếc rẻ
Không mong cầu vật dụng thế gian
Làm lợi chúng sinh, cầu giác ngộ.
Tu tập đầy đủ công đức tịnh
Thực hành vô lượng các thắng nghiệp
Hồi hướng đến khắp các chúng sinh
Cũng không chấp thủ tướng của nghiệp,
Bồ-tát từ bỏ ngôi vua lớn
Kinh đô rực rỡ, các thành phố
Các vật trong ngoài của cung điện
Công viên, vườn hoa, các suối hồ,
Trong vô số lượng trăm ngàn kiếp
Đem tâm vô thượng để bố thí
Khai thị cho đời đến bờ kia
Tùy thuận giáo hóa các chúng sinh.
Bồ-tát thấy có người đến xin
Đều từ các thế giới khác đến
Tùy nhu cầu, làm họ thỏa mãn
Bồ-tát hoan hỷ cả thân tâm.
Bồ-tát hồi hướng công đức thí
Ba đời tất cả các Như Lai
Bồ-tát đều học đến bờ kia
Cảnh giới của Đạo Sư vô thượng.
Bồ-tát quan sát tất cả pháp
Ai là người cứu thoát chúng sinh
Ai được cứu thoát đến nơi nào?
Hiểu “Không”, nhưng không bỏ tâm thí.
Bồ-tát hồi hướng đến trí tuệ
Bồ-tát hồi hướng cầu chánh pháp
Bồ-tát hồi hướng nghĩa sâu xa
Đối với các pháp không chấp trước,
Tâm không phân biệt tất cả nghiệp
Không lệ thuộc với các nghiệp báo
Hiểu rõ giác ngộ do duyên khởi
Chân tánh của pháp không bị hoại,
Hiểu rõ thân ta, không đắm nhiễm
Tâm ý tịch diệt không lệ thuộc
Trí tuệ hiểu rõ không tánh nghiệp
Hiểu hết nhân duyên chẳng không nghiệp,
Không chấp sai lầm pháp quá khứ
Cũng không chấp thủ pháp tương lai
Thông hiểu tiện tại chẳng thật có
Quán sát ba đời đều vắng lặng.
Bồ-tát quán sắc đến bờ kia
Thọ, tưởng, hành, thức cũng như vậy
Vượt qua tất cả, đến bờ kia
Tâm ý thuận hòa thường thanh tịnh,
Quán sát năm ấm, mười tám giới
Phân biệt các nhập và thân ta
Từ các pháp này, cầu Bồ-đề
Cũng đều không tịch, chẳng thể đắc.
Không chấp tướng các pháp thường trú
Cũng không chấp nhận tướng đoạn diệt
Tất cả các pháp chẳng có, không
Do nghiệp nhân duyên hòa hợp sinh,
Không có chúng sinh được Bồ-đề
Tất cả các pháp đều tịch diệt
Tâm không tham đắm các cõi
Phật Hiểu rõ ba đời không thật có.
Ai hiểu rõ chánh pháp như vậy
Thì như tất cả Bậc Tối Thắng
Tuy có tìm cầu, không có đắc
Chứng đắc của Bồ-tát không hư,
Nên trong các duyên cầu của pháp
Không trái với các đường nhân duyên
Phân biệt giảng thuyết về các nghiệp
Muốn cho chúng sinh đều thanh tịnh.
Đây là sự tu của Bậc trí
Lời dạy của tất cả chư Phật
Tùy thuận tư duy hiểu nghĩa đúng
Tự nhiên giác ngộ đạo Vô thượng.
Các pháp không sinh cũng chẳng diệt
Cũng không có đến, chẳng có đi
Không có chết đây mà sinh kia
Hiểu rõ tất cả pháp Phật dạy,
Thông suốt tánh chân thật các pháp
Trong tánh của pháp, không chấp trước
Xa lìa tưởng hư vọng các pháp
Người ấy được thấy trí chư Phật.
Hiểu rõ phân biệt cảnh giới Pháp
Cảnh giới chúng sinh, cảnh giới Phật
Tất cả các pháp cả ba đời
Đều hiểu rõ tận cùng rốt ráo,
Pháp chư Phật ba đời giác ngộ
Đều được nghe hết và thọ trì
Các pháp được thuyết trong ba đời
Tất cả pháp ấy, chẳng phải pháp,
Tùy thuận tu hành tất cả pháp
Cũng không hư hoại các tướng pháp
Bồ-tát hồi hướng các chúng sinh
Khiến họ mau được Nhất thiết trí.

Này Phật tử! Thế nào là hồi hướng thứ bảy, tâm bình đẳng tùy thuận tất cả chúng sinh của Đại Bồ-tát?

Này Phật tử! Đại Bồ-tát này phát triển các loại căn lành bậc hạ, bậc trung, bậc thượng, căn lành vô lượng, rộng lớn, khác nhau, không thể đo lường, không thể nghĩ bàn, vô số, vô biên; căn lành cảnh giới của Phật, cảnh giới của Pháp, cảnh giới của tăng, cảnh giới Thiện tri thức, cảnh giới tất cả chúng sinh, cảnh giới phương tiện, cảnh giới tu tập vi diệu, cảnh giới bên trong, cảnh giới bên ngoài, cảnh giới công đức khác nhau vô cùng, cảnh giới tu tập bố thí tất cả, cảnh giới giới thanh tịnh, cảnh giới nhẫn nhục; căn lành nội tâm chuyên nhất hướng về xả bỏ tất cả của Bồ-tát; căn lành cảnh giới tinh tấn không thoái chuyển, cảnh giới vào các loại thiền định, cảnh giới trí tuệ tu hành các quả vị, cảnh giới của tâm phân biệt tất cả tâm chúng sinh, tích tập vô lượng công đức thanh tịnh, cảnh giới tu tập chánh niệm về nghiệp của Bồ-tát, cảnh giới bao trùm tất cả chúng sinh.

Đại Bồ-tát thực hành vô lượng các loại căn lành này, tu tập rốt ráo, tích tập phát triển, diễn giải rộng rãi rồi, thì có khả năng trú ở năng lực nhẫn, đóng cửa các nẻo ác. Các căn thuần thục, đầy đủ uy nghi, xa lìa hẳn điên đảo, quyết định thẳng tiến. Có thể làm pháp khí cho tất cả chư Phật, làm ruộng phước vô thượng cho tất cả chúng sinh. Thường được chư Phật hộ trì, sinh ra và phát triển tất cả căn lành thanh tịnh của chư Phật, tùy thuận viên mãn đại nguyện của Như Lai, rất ưa thích hành động của Phật. Tâm được tự tại, đồng đẳng với các Như Lai trong ba đời. Cúng dường hết tất cả chư Phật đạt đến tất cả năng lực của các Như Lai, được tất cả chư Phật khen ngợi. Không cầu sinh Thiên, không tham lợi dưỡng, không chấp trước vào pháp hữu vi.

Đem tất cả căn lành hồi hướng, vì tất cả chúng sinh mà làm kho công đức, đầy đủ các đạo, che khắp tất cả, đưa chúng sinh ra khỏi sinh tử, dạy bảo tu tập tất cả căn lành, hồi hướng tất cả cảnh giới không gián đoạn. Mở cửa giác ngộ Nhất thiết trí, dựng ngọn cờ pháp, nghiêm tịnh đạo lớn, dạy khắp chúng sinh lìa bỏ tất cả trần cấu của thế gian. Bằng công đức tâm bố thí, sinh vào nhà Như Lai, đầy đủ viên mãn công đức thanh tịnh, ruộng phước vô thượng, không chấp trước chúng sinh, không y vào thế gian, khiến tất cả chúng sinh đều thanh tịnh, tu tập giữ lấy tất cả căn lành.

Đại Bồ-tát bằng tâm Bồ-đề thanh tịnh lìa cáu bẩn, giữ gìn căn lành, suy nghĩ: “Tâm Bồ-đề này phát sinh căn lành, tâm Bồ-đề tư duy căn lành, tâm Bồ-đề đắc được căn lành, tâm Bồ-đề hy vọng căn lành, tâm Bồ-đề một hướng đến căn lành, thương mến tất cả chúng sinh, nắm giữ cảnh giới của Nhất thiết chủng trí, đạt đến cảnh giới mười Lực, tích tập cảnh giới mười Lực, căn lành không hoại pháp giới, căn lành không thoái chuyển.”

Đại Bồ-tát lại suy nghĩ: “Căn lành thế này tất có quả báo, ta nên hành Bồ-tát đạo đến tận đời vị lai, không bỏ chúng sinh. Ta nên tu hành đại xả, hồi hướng đến tất cả chúng sinh không chừa ai cả, khiến cho vô số thế giới được đầy cả báu, y phục; khiến vô số thế giới có đầy đủ hương thơm; khiến vô số thế giới có đầy đủ vật xinh đẹp; khiến vô số thế giới có đầy cả báu Ma-ni; khiến vô số thế giới được đầy cả báu Ma-ni quý nhất; khiến vô số thế giới có đầy cả nhiều loại hoa tuyệt đẹp; khiến vô số thế giới có mùi vị đầy khắp; khiến vô số thế giới có vàng bạc đầy khắp; khiến vô số thế giới có giường trời đầy khắp với tấm trải bằng các báu xinh đẹp; khiến vô số thế giới có mão Thiên quan báu đẹp đầy khắp. Nếu có một người thường đến xin đến tận cùng đời tương lai, thì họ được cho những vật báu này chưa lúc nào ngừng. Như đối với một chúng sinh, đối với tất cả chúng sinh cũng như vậy.”

Khi Đại Bồ-tát bố thí, bằng các tâm bình đẳng, không thiên vị, không cầu danh, không cầu phiền não, không hối tiếc, chuyên cầu Nhất thiết trí, thanh tịnh đạo, chuyên nhất bố thí, thương tưởng đến, thuần thục, an trú Nhất thiết trí.

Đại Bồ-tát đem căn lành hồi hướng như vậy, tận đến các kiếp đời vị lai luôn luôn thực hành bố thí.

Lại nữa, Đại Bồ-tát đem căn lành như vậy hồi hướng đến tất cả chúng sinh không sót ai cả: “Ta sẽ đem voi báu đầy cả vô số thế giới, đủ cả bảy chi, sáu vùng thịt đầy đủ; dựng cờ báu lớn bằng vàng rực rỡ, phủ lưới báu trắng ở trên, trang hoàng bằng tất cả vật quý báu rồi đem bố thí. Ta sẽ đem ngựa báu thanh tịnh, mã vương Bà-la đầy cả vô số thế giới, dùng vô số vật báu đẹp dành cho ngựa để trang điểm nó rồi đem bố thí. Vô số thế giới đầy cả nữ báu, với đủ các loại đồ vui chơi, đem ra bố thí. Vô số thế giới đầy cả nam nữ đem ra bố thí. Vô số thế giới có thân ta đầy khắp đem ra bố thí. Vô số thế giới có đầy cả đầu của thân ta, bằng tâm không phóng dật, đem ra bố thí. Vô số thế giới có đầy cả mắt của thân ta đem ra bố thí. Vô số thế giới có đầy cả thân ta kham chịu khổ sở, phá xương chảy tủy, đem ra bố thí. Vô số thế giới có đầy cả chỗ ngồi của bậc Đại vương đem ra bố thí. Vô số thế giới có đầy cả người phục vụ sai khiến đều đem ra bố thí. Tu tập tất cả tâm bố thí bình đẳng. Trong một thế giới đến tận kiếp vị lai tu tập hạnh Bồ-tát vì một chúng sinh; trong tất cả thế giới tận cùng kiếp vị lai tu hạnh Bồ-tát vì một chúng sinh hay vì tất cả chúng sinh cũng như vậy. Đầy đủ đại Bi, xa lìa các điều ác, nghĩ đến khắp cả, khiến ta bố thí rốt ráo không thoái lui. Khi thực hành bố thí ta không sinh một ý niệm buồn rầu hối tiếc.”

Đại Bồ-tát lại suy nghĩ: “Ta làm vô số việc bố thí như vậy, bằng tâm không chấp trước, tâm không trói buộc, tâm giải thoát, tâm vĩ đại, tâm sâu xa, tâm bảo hộ, tâm không yêu ghét, tâm lìa tuổi thọ, tâm thuần thục hoàn toàn, tâm không loạn, tâm không hại, an trú tâm Nhất thiết trí, tâm tuệ quang chiếu khắp tất cả các pháp, tâm nhập vào Nhất thiết trí.”

Đại Bồ-tát đem căn lành này hồi hướng không gián đoạn, khiến tất cả chúng sinh đấy đủ cả tài sản quý báu.

Khiến tất cả chúng sinh đầy đủ kho tàng đại công đức vô tận.

Khiến tất cả chúng sinh được hỷ lạc an ổn.

Khiến tất cả chúng sinh phát triển nghiệp Đại thừa của Bồ-tát.

Khiến tất cả chúng sinh đầy đủ pháp sâu xa.

Khiến tất cả chúng sinh được xe Nhất thiết trí không thoái lui.

Khiến tất cả chúng sinh gặp tất cả Phật.

Khiến tất cả chúng sinh đối với chúng sinh không có sự phân biệt.

Khiến tất cả chúng sinh đều được tâm bình đẳng thanh tịnh, khiến tất cả chúng sinh xa lìa các chỗ nạn, được Nhất thiết trí.

Khiến tất cả chúng sinh làm lợi ích an lạc vô lượng chúng sinh.

Khiến tất cả chúng sinh có tâm bình đẳng đối với tất cả.

Khiến tất cả chúng sinh được tâm nhu hòa bố thí.

Khiến tất cả chúng sinh giữ gìn các tâm bố thí chân thật.

Khiến tất cả chúng sinh không mất tâm bố thí.

Khiến tất cả chúng sinh đầy đủ tâm bố thí diệt hẳn bần cùng.

Khiến tất cả chúng sinh gom hết các tài bảo đẹp trong thế gian, không bị thiếu thốn.

Khiến tất cả chúng sinh thi hành vô lượng bố thí.

Khiến tất cả chúng sinh làm tất cả việc bố thí.

Khiến tất cả chúng sinh tận đến đời tương lai làm việc bố thí, tâm không thoái lui.

Khiến tất cả chúng sinh đem cho tất cả mà không hối tiếc.

Khiến tất cả chúng sinh tùy thuận làm việc bố thí để lợi ích cho chúng sinh.

Khiến tất cả chúng sinh làm việc bố thí cao rộng.

Khiến tất cả chúng sinh làm các việc bố thí xinh đẹp.

Khiến tất cả chúng sinh làm việc bố thí không chấp trước.

Khiến tất cả chúng sinh bố thí bình đẳng.

Khiến tất cả chúng sinh làm việc bố thí như Đại lực kim cang.

Khiến tất cả chúng sinh làm việc bố thí như ánh sáng mặt trời.

Khiến tất cả chúng sinh được trí của Như Lai.

Khiến tất cả chúng sinh căn lành quyến thuộc đầy đủ không thiếu.

Khiến tất cả chúng sinh căn lành trí tuệ đều có trong hiện tại.

Khiến tất cả chúng sinh được tâm chánh trực không thể bị phá hoại.

Khiến tất cả chúng sinh thành tựu đầy đủ căn lành thanh tịnh.

Khiến tất cả chúng sinh có trí tuệ giác ngộ được phiền não thùy miên.

Khiến tất cả chúng sinh trừ hết nghi ngờ.

Khiến tất cả chúng sinh được trí bình đẳng, công đức thanh tịnh.

Khiến tất cả chúng sinh công đức hoàn bị không thể phá hoại.

Khiến tất cả chúng sinh đầy đủ Tam-muội bất động thanh tịnh

Khiến tất cả chúng sinh đầy đủ Nhất thiết trí không thể phá hoại.

Khiến tất cả chúng sinh đầy đủ vô lượng chánh hạnh tự tại thanh tịnh của Bồ-tát.

Khiến tất cả chúng sinh tu tập căn lành thanh tịnh không chấp trước.

Khiến tất cả chúng sinh tịnh tu chánh niệm chư Phật ba đời.

Khiến tất cả chúng sinh sinh ra căn lành thanh tịnh thắng diệu.

Khiến tất cả chúng sinh trừ diệt tất cả các ma, nghiệp ma làm chướng ngại đạo pháp.

Khiến tất cả chúng sinh đều thi hành vô lượng công đức, sinh các Tam-muội thanh tịnh đầy đủ.

Khiến tất cả chúng sinh thường niệm chư Phật chưa từng quên mất.

Khiến tất cả chúng sinh thường gặp chư Phật đều sinh hoan hỷ, chưa bao giờ xa lìa.

Khiến tất cả chúng sinh mở cửa pháp thanh tịnh, sinh ra căn lành, đầy đủ các pháp Bạch tịnh bình đẳng.

Khiến tất cả chúng sinh đều được vô lượng tâm bình đẳng chánh trực.

Khiến tất cả chúng sinh thành tựu tâm bố thí bình đẳng thanh tịnh.

Khiến tất cả chúng sinh đầy đủ Trì giới ba-la-mật của chư Phật, bình đẳng thanh tịnh.

Khiến tất cả chúng sinh đầy đủ đại Tinh tấn ba-la-mật, chưa từng biếng nhác.

Khiến tất cả chúng sinh được đại Nhẫn nhục ba-la-mật.

Khiến tất cả chúng sinh được vô lượng Thiền trí tuệ, phân biệt đầy đủ các Thông.

Khiến tất cả chúng sinh đối với các pháp được lìa thân Bát-nhã ba-la-mật, bình đẳng đầy đủ.

Khiến tất cả chúng sinh được pháp giới thanh tịnh đầy đủ mỹ mãn.

Khiến tất cả chúng sinh đầy đủ các căn lành thông suốt tinh diệu.

Khiến tất cả chúng sinh tu hành bình đẳng, đủ các pháp thiện.

Khiến tất cả chúng sinh hoàn toàn vượt qua cảnh giới của chư Phật.

Khiến tất cả chúng sinh được nghiệp thân, miệng, ý bình dẳng thanh tịnh.

Khiến tất cả chúng sinh được quả báo các nghiệp bình đẳng thanh tịnh.

Khiến tất cả chúng sinh đều được các pháp bình đẳng thanh tịnh.

Khiến tất cả chúng sinh đều được thật nghĩa bình đẳng thanh tịnh của các pháp.

Khiến tất cả chúng sinh đều được các diệu hạnh thù thắng thanh tịnh.

Khiến tất cả chúng sinh được các nguyện thanh tịnh của Bồ-

tát.

Khiến tất cả chúng sinh đều được trí công đức thanh tịnh bình đẳng.

Khiến tất cả chúng sinh đem căn lành hồi hướng xe Nhất thiết trí bình đẳng đầy đủ.

Khiến tất cả chúng sinh hiển hiện tất cả cõi Phật thanh tịnh bình đẳng đầy đủ.

Khiến tất cả chúng sinh được gặp chư Phật, trừ diệt tất cả phiền não.

Khiến tất cả chúng sinh đủ các tướng tốt công đức trang nghiêm bình đẳng đầy đủ.

Khiến tất cả chúng sinh được tám loại âm thanh, trăm ngàn tiếng nói hay để trang nghiêm, Phạm âm vô lượng công đức thanh tịnh của Như Lai đều đầy đủ.

Khiến tất cả chúng sinh trang nghiêm bằng mười Lực, thành tựu tâm bình đẳng vô ngại.

Khiến tất cả chúng sinh được ánh sáng pháp vô tận của chư Phật, vô lượng các biện tài đều đầy đủ bình đẳng.

Khiến tất cả chúng sinh rống lên tiếng đại sư tử, uy hùng trong loài người, không sợ hãi tối thượng.

Khiến tất cả chúng sinh được Nhất thiết trí chuyển bánh xe không thoái lui.

Khiến tất cả chúng sinh sinh ra các pháp bình đẳng đầy đủ.

Khiến tất cả chúng sinh căn lành thanh tịnh đáp ứng đúng lúc, bình đẳng đầy đủ.

Khiến tất cả chúng sinh thành tựu pháp của Bậc Thầy Điều Ngự thanh tịnh, bình đẳng đầy đủ.

Khiến tất cả chúng sinh đối với thuần nhất trang nghiêm, vô lượng trang nghiêm, đại trang nghiêm, chư Phật trang nghiêm đều được bình đẳng đầy đủ.

Khiến tất cả chúng sinh quán sát ba đời phân biệt bình đẳng.

Khiến tất cả chúng sinh đến gặp chư Phật, nghe pháp thọ trì,

hiểu rõ bình đẳng, phân biệt đầy đủ.

Khiến tất cả chúng sinh được tàm quý và trí tuệ đồng đẳng với chư Phật.

Khiến tất cả chúng sinh được trí bình đẳng, quán sát các pháp.

Khiến tất cả chúng sinh được quả báo của nghiệp bất động, xa lìa các chướng ngại, bình đẳng đầy đủ.

Khiến tất cả chúng sinh được trí tuệ sâu xa, biết phân biệt hết căn tánh của chúng sinh, bình đẳng đầy đủ.

Khiến tất cả chúng sinh được trí tuệ bình đẳng vô phân biệt, đều được đồng nhất thanh tịnh đầy đủ.

Khiến tất cả chúng sinh tùy thuận căn lành không nhàm chán, bình đẳng phân biệt, đều được đầy đủ.

Khiến tất cả chúng sinh được tự tại bằng đại thần túc, thần lực của Bồ-tát bình đẳng đầy đủ.

Khiến tất cả chúng sinh đều được kho trí tuệ công đức vô tận của chư Phật, công đức rốt ráo đều đồng như nhau.

Khiến tất cả chúng sinh đối với các pháp được lìa hư vọng, tùy thuận bình đẳng, thể nhập tất cả pháp, hiểu biết tâm Bồ-đề.

Khiến tất cả chúng sinh làm ruộng phước thù thắng, bình đẳng đầy đủ.

Khiến tất cả chúng sinh kiên cố không bị phá hoại, bình đẳng đầy đủ.

Khiến tất cả chúng sinh thấy pháp chân thật không thể bị phá hoại, bình đẳng đầy đủ.

Khiến tất cả chúng sinh được tâm tối thắng, tư duy chánh quán bình đẳng đầy đủ.

Khiến tất cả chúng sinh không còn bị khủng bố, đi vào pháp sâu xa, đến bờ kia.

Khiến tất cả chúng sinh phóng ánh sáng lớn, chiếu khắp mười phương, độ hết tất cả.

Khiến tất cả chúng sinh đều được tinh tấn không thoái lui của tất cả Bồ-tát, đồng hành đồng nguyện bình đẳng đầy đủ.

Khiến tất cả chúng sinh nói ra một lời, bình đẳng đầy đủ.

Khiến tất cả chúng sinh đối với trực tâm của Bồ-tát được bình đẳng đầy đủ.

Khiến tất cả chúng sinh đều được thấy các Thiện tri thức, tâm rất hoan hỷ.

Khiến tất cả chúng sinh đều được đầy đủ các hạnh của Bồ-tát, giáo hóa chúng sinh, chưa từng nghỉ ngơi, bình đẳng đầy đủ.

Khiến tất cả chúng sinh được biện tài thông suốt, hiểu rõ các âm thanh, bình đẳng đầy đủ.

Khiến tất cả chúng sinh có thể bằng một tâm biết tất cả tâm, tất cả căn lành đều bình đẳng đầy đủ.

Khiến tất cả chúng sinh tu tập các căn lành mà không thoái chuyển.

Khiến tất cả chúng sinh đặt chúng sinh ở yên trong trí thanh tịnh.

Khiến tất cả chúng sinh được Pháp thân thanh tịnh của công đức bình đẳng và Nhất thiết trí.

Khiến tất cả chúng sinh xả bỏ hết ngu si, quán sát căn lành, bình đẳng đầy đủ.

Khiến tất cả chúng sinh được Nhất thiết trí, thành Đẳng chánh giác, bình đẳng đầy đủ.

Khiến tất cả chúng sinh thoát các cõi ác, đi ra bằng một đường Nhất thiết trí bình đẳng đầy đủ.

Khiến tất cả chúng sinh được một chúng thanh tịnh, làm cho tất cả đại chúng đều thanh tịnh, trang hoàng bằng trí tuệ bình đẳng.

Khiến tất cả chúng sinh từ một cõi Phật, thấy được tất cả các cõi của Như Lai, bình đẳng đầy đủ.

Khiến tất cả chúng sinh dùng trang nghiêm tất cả, trang nghiêm không thể nêu bày hết, trang nghiêm không thể lường, trang nghiêm vô tận, để trang nghiêm tất cả cõi Phật bình đẳng đầy đủ.

Khiến tất cả chúng sinh phân biệt hiểu rõ vô lượng các pháp, thấy nghĩa sâu xa bình đẳng đầy đủ.

Khiến tất cả chúng sinh được hạnh các Thánh, tự tại của chư Phật, bình đẳng đầy đủ.

Khiến tất cả chúng sinh chẳng phải một, chẳng khác, các năng lực thần thông bình đẳng đầy đủ.

Khiến tất cả chúng sinh tùy thuận căn lành, được chư Phật rưới nước cam lộ trên đầu.

Khiến tất cả chúng sinh thân trí thanh tịnh bình đẳng đầy đủ.

Như vậy, Đại Bồ-tát lân mẫn lợi ích cho chúng sinh. Bằng đại Bi thương mến chúng sinh, khiến tất cả chúng sinh đều được thanh tịnh, xa lìa keo kiệt, ganh ghét, đầy đủ vô lượng, vô biên công đức diệu thiện, thường ưa thích thắng pháp. Xa lìa sân uế trược và các chướng ngại, tâm ý nhu hòa, lìa si mê được chánh trực, không còn tà kiến sai lầm, hành động vững chắc không bị hư hoại. Được tâm bình đẳng không thoái chuyển, được thành tất cả năng lực pháp Bạch tịnh, không tin không mất, hiểu rõ hồi hướng, tu tập công đức, giáo hóa chúng sinh. Trừ diệt tất cả các nghiệp bất thiện, chuyên cần tu tập, dạy bảo tất cả tu tập đầy đủ các căn lành khó làm, chịu đủ khổ sở cho các chúng sinh, mắt tuệ thanh tịnh, xem khắp căn lành. Hồi hướng căn lành do tu tập theo bậc Thánh bằng trí tuệ đến khắp chúng sinh, khiến tất cả chúng sinh an trú trong công đức vi diệu thanh tịnh, xa lìa phiền não nóng bức. Thành tựu căn lành hồi hướng của tâm bình đẳng, khiến tất cả chúng sinh được Nhất thiết trí, tu tập hồi hướng bao gồm hết căn lành của chúng sinh, bình đẳng đầy đủ. Thành tựu đầy đủ tâm bình đẳng hồi hướng. Đem vô lượng căn lành như vậy, hồi hướng đến chúng sinh, khiến tất cả chúng sinh thường được an ổn, khiến tất cả chúng sinh thường được thanh tịnh; khiến tất cả chúng sinh thường được an lạc; khiến tất cả chúng sinh được cứu cánh giải thoát; khiến tất cả chúng sinh được cứu cánh bình đẳng; khiến tất cả chúng sinh được thần lực tự tại, khiến tất cả chúng sinh an trú trong pháp Bạch tịnh; khiến tất cả chúng sinh được mắt không chướng ngại; khiến tất cả chúng sinh chế ngự các căn; khiến tất cả chúng sinh đầy đủ mười Lực, giáo hóa chúng sinh.

Khi Đại Bồ-tát tu hành hồi hướng như vậy, không chấp trước vào nghiệp để hồi hướng, không chấp trước vào quả báo để hồi hướng, không chấp trước vào thân để hồi hướng, không chấp trước vào lợi dưỡng để hồi hướng, không chấp trước vào các lợi ích để hồi hướng, không chấp trước vào các phương để hồi hướng, không chấp trước vào chúng sinh để hồi hướng, cũng không rời chúng sinh để hồi hướng, không chấp trước vào tất cả để hồi hướng, không chấp trước vào pháp để hồi hướng.

Khi Đại Bồ-tát hồi hướng như vậy, suy nghĩ: “Ta phải khiến tất cả chúng sinh đầy đủ trí Phật, được tâm thanh tịnh, trí tuệ phân biệt nội tâm tịch tĩnh, ngoại duyên không loạn, được sinh trong nhà chư Phật ba đời.”

Đại Bồ-tát tu hành hồi hướng như vậy, thắng hết tất cả, không ai phá hoại được, tất cả chúng sinh cùng nhau khen ngợi cũng không cùng tận. Thi hành tất cả các hạnh Bồ-tát, bằng ít phương tiện đến khắp các cõi, gặp hết chư Phật không bị chướng ngại. Lại gặp tất cả các Bồ-tát ở các cõi, tu tập các hạnh, đều được tất cả phương tiện thiện xảo. Phân biệt tất cả pháp Đà-la-ni, diễn thuyết diệu pháp, giáo hóa chúng sinh, tận đời vị lai chưa từng gián đoạn. Liên tiếp trong từng sát-na, thọ sinh trong không thể nêu bày, không thể nêu bày hết các cõi Phật nhanh như ánh điện. Trong từng sát-na, có thể làm nghiêm tịnh không thể nêu bày, không thể nêu bày hết các thế giới của Phật. Tu hành nghiêm tịnh cõi Phật bằng trí tuệ mà không nhàm chán, khiến không thể nêu bày, không thể nêu bày hết chúng sinh được thanh tịnh thành tựu bình đẳng đầy đủ, tùy theo căn lành của mình mà đầy đủ cả các Ba-la-mật. Giúp đỡ chúng sinh, diệt trừ cấu uế thành tựu tịnh nghiệp, được tai thanh tịnh vô ngại, được nghe và thọ trì pháp luân của chư Phật chuyển trong không thể nêu bày hết vô số thế giới. Đối với chư Phật ấy không có ý tưởng là ở quá xa, luôn luôn được nghe chánh pháp không gián đoạn dù trong chốc lát. An trú trong không sở hữu, không lệ thuộc, không nhiễm ô, không chấp trước, không tạo tác. Thần lực Bồ-tát kiên cố không hoại, trong từng sát-na ở khắp không thể nêu bày hết tất cả cõi Phật, tùy theo đối tượng mà hiện thân thích ứng, tu Bồ-tát hạnh, cùng thuận theo bạn pháp không chống trái nhau.

Khi Đại Bồ-tát tu Bồ-tát hạnh, thành tựu vô lượng, vô biên công đức thanh tịnh như vậy còn không thể nêu bày hết, huống chi khi thành Vô thượng Bồ-đề, được Đẳng chánh giác?

Đó là Bồ-tát bình đẳng thanh tịnh tất cả cõi Phật, bình đẳng thanh tịnh tất cả chúng sinh, bình đẳng thanh tịnh tất cả thân, bình đẳng thanh tịnh tất cả căn, bình đẳng thanh tịnh tất cả nghiệp báo, bình đẳng thanh tịnh tất cả quyến thuộc, bình đẳng thanh tịnh đầy đủ các hành động, bình đẳng thanh tịnh phương tiện đi vào tất cả pháp, bình đẳng thanh tịnh đầy đủ các nguyện hồi hướng của tất cả Như Lai, bình đẳng thanh tịnh thị hiện tất cả cảnh giới của chư Phật một cách tự tại.

Đại Bồ-tát dùng căn lành như vậy hồi hướng rồi, được tất cả pháp môn công đức thanh tịnh, trang hoàng bằng các công đức. Đại Bồ-tát thực hiện hồi hướng như vậy, không mâu thuẫn với tất cả cõi; cõi không mâu thuẫn với chúng sinh. Cõi không mâu thuẫn với nghiệp của chúng sinh; nghiệp của chúng sinh không trái với cõi. Tư duy không trái ngược với tâm; tâm không trái ngược với tư duy. Tư duy không trái ngược với cảnh giới của tâm; cảnh giới của tâm không trái với tư duy. Nghiệp duyên không trái ngược với quả báo; quả báo không trái với nghiệp duyên. Nghiệp không trái với đường đi của nghiệp, đường đi của nghiệp không trái với nghiệp. Pháp không trái với tướng, tướng không trái với pháp. Pháp sinh ra không trái với tánh; tánh không trái với pháp sinh. Bình đẳng của cõi không trái với bình đẳng của chúng sinh; bình đẳng của chúng sinh không trái với bình đẳng của cõi. Bình đẳng của tất cả chúng sinh không trái với bình đẳng của tất cả pháp; bình đẳng của tất cả pháp không trái với bình đẳng của tất cả chúng sinh. Bình đẳng xa lìa biên giới của dục không trái với bình đẳng an trú của tất cả chúng sinh; bình đẳng an trú của tất cả chúng sinh không trái với bình đẳng xa lìa biên giới của dục. Quá khứ không trái với vị lai; vị lai không trái với quá khứ. Quá khứ không trái với vị lai hiện tại; vị lai hiện tại không trái với quá khứ. Bình đẳng của thế gian không trái với bình đẳng của Phật; bình đẳng của Phật không trái với bình đẳng của thế gian. Hạnh của Bồ-tát không trái với Nhất thiết trí; Nhất thiết trí không trái với hạnh Bồ-tát.

Đại Bồ-tát tu hành hồi hướng như vậy, được nghiệp bình đẳng, được quả báo bình đẳng, được thân bình đẳng, được đạo bình đẳng, được nguyện bình đẳng, được tâm tất cả tâm chúng sinh bình đẳng, được tất cả cõi bình đẳng, được tất cả hạnh bình đẳng, được tất cả trí bình đẳng, được bình đẳng của chư Phật ba đời, được gặp tất cả chư Phật và các Bồ-tát, được tất cả căn lành, được viên mãn tất cả nguyện, được thành tựu tất cả chúng sinh, được phân biệt hoàn toàn tất cả các nghiệp, được gặp tất cả các Thiện tri thức làm cho họ đều hoan hỷ, được đại chúng thanh tịnh, được hoàn toàn chánh pháp của chư Phật, được hồi hướng hoàn toàn đến tất cả pháp Bạch tịnh.

Này Phật tử! Đó là hồi hướng thứ bảy: Tâm bình đẳng tùy thuận tất cả chúng sinh của Đại Bồ-tát.

Đại Bồ-tát thành tựu hồi hướng này rồi, thì có thể thu phục tất cả kẻ địch, có thể nhổ sạch tất cả gai nhọn dục, được đạo Vô sinh, đến chỗ không hai. Được chúa công đức tự tại vô lượng, cứu hộ chúng sinh. Thần túc vô ngại, đến các cõi Phật, thường vui tịch tĩnh. Đối với tất cả thân đều được tự tại, sinh ra được đại hạnh của Bồ-tát. Đối với các hạnh nguyện được trí tự tại, phân biệt biết rõ tất cả các pháp, có thể sinh đến tất cả cõi Phật. Được tai vô ngại, nghe âm thanh của tất cả các cõi. Được mắt tuệ thanh tịnh, thấy tất cả Phật. Tu tập các căn lành, chưa từng nghỉ ngơi, thành tựu đầy đủ tất cả các pháp.

Đại Bồ-tát bằng tâm bình đẳng này tùy thuận tất cả chúng sinh mà hồi hướng đến các căn lành.

Bấy giờ, nương theo thần lực của Phật, Bồ-tát Kim Cang Tràng nhìn khắp mười phương, nói kệ rằng:

Bồ-tát tu tập các công đức
Rất vi diệu thanh tịnh sâu xa
Công đức làm được tuy nhỏ bé
Đều đem hồi hướng, lớn vô cùng.
Tất cả vật dụng của Bồ-tát
Quý báu đặc biệt, quý vô giá
Voi ngựa báu chúa, các xe cộ
Các loại vải báu và trân bảo,
Tự thân, đầu mắt và tay chân
Phá xương lấy tủy, cắt bắp thịt
Đầy khắp cả vô lượng thế giới
Đều đem cho hết không luyến tiếc.
Trải qua vô lượng, vô số kiếp
Bố thí tất cả không thoái lui
Đem công đức này, hồi hướng khắp
Cứu hộ cho vô lượng chúng sinh,
Bố tát lợi ích tất cả chúng
Công đức thanh tịnh bằng diệu nguyện
An lạc chúng sinh cả ba cõi
Khiến cho đều được chứng Bồ-đề.
Bồ-tát bình đẳng phát đại nguyện
Tùy thuận tu tập nghiệp thanh tịnh
Khiến tất cả chúng được bình đẳng
Trong các nguyện ấy, không chấp trước,
Với khắp thế gian, không thù hận
Đều tùy thuận thực hành các nguyện
Hồi hướng tất cả đến chúng sinh
Không trái với tất cả Hiền thánh.
Tất cả mặt trời tuệ trong đời
Đều sinh ra từ bố thí, tịnh giới
Cần tu tinh tấn không biếng nhác
Đối với các nguyện, không thoái chuyển.
Bồ-tát hồi hướng đến bờ kia
Mở cửa pháp vi diệu thanh tịnh
Được thắng trí của Lưỡng Túc Tôn
Phân biệt thật nghĩa đến bờ kia,
Phạm âm Bồ-tát đều nói hết
Đầy đủ trí vi diệu bất động
Hiểu đúng chánh pháp không chướng ngại
Bồ-tát không chấp trước vào đó.
Tâm Bồ-tát không phân hai pháp
Và cũng không theo pháp không hai
Vượt trên pháp hai và không hai
Giác ngộ đường ngôn ngữ chúng sinh,
Giác ngộ bình đẳng trong thế gian
Các tâm, âm thanh, tất cả nghiệp
Tất cả chúng sinh như huyễn hóa
Chuyển biến theo nhân duyên, nghiệp báo,
Tất cả tạo tác của thế gian
Vô số loại âm thanh mười phương
Đều từ nghiệp duyên mà phát ra
Nên diệt nghiệp ấy không còn gì.
Bồ-tát quan sát tất cả chúng
Nghiệp thân miệng ý đều bình đẳng
Khiến cho chúng sinh đều bình dẳng
Như tất cả Bậc không gì bằng,
Bồ-tát đem thiện nghiệp hồi hướng
Khiến sắc chúng sinh đều thanh tịnh
Đầy đủ tất cả các công đức
Đồng như Bậc Điều Ngự Vô Thượng.
Bậc Tối Thắng nhất giữa chúng sinh
Pháp thân đầy đủ các công đức
Biển lớn công đức đều hồi hướng
Lợi ích an lạc các chúng sinh.
Công đức do tôi tu hành được
Làm cho chúng sinh đều thanh tịnh
Chư Phật thanh tịnh không gì bằng
Khiến cho thế gian cũng như vậy,
Căn lành bình đẳng đều hồi hướng
Khiến tất cả chúng biết thật nghĩa
Đủ trí tuệ vi diệu, công đức
Đồng như tất cả các Như Lai.
Bồ-tát quan sát tất cả pháp
Thế gian chỉ là không, tịch diệt
Các sự tạo tác, không tác giả
Nhưng không phá hoại các nghiệp báo,
Đối với tịnh, loạn, không có hai
Quán sát đúng bằng tâm bình đẳng
Bồ-tát hiểu đúng về thế gian
Xa lìa tất cả các hư vọng.
Những Phật tử chân thật như vậy
Đều hóa sinh từ pháp Như Lai
Vô lượng công đức đều hồi hướng
Tất cả nghi hoặc đều chẳng còn.

*********

Này Phật tử! Pháp hồi hướng Như tướng thứ tám của Đại Bồtát như thế nào?

Này Phật tử! Đại Bồ-tát này thành tựu trí tuệ về niệm, an trú bất động; chánh niệm lìa si, trực tâm bất động. Thành tựu vững chắc về nghiệp không thể hoại, không thoái chuyển đối với cảnh giới trí tuệ. Được xe Đại thừa với tâm dũng mãnh không sợ hãi. Tu tập các căn lành vô tận, chứa nhóm các căn lành thắng diệu; tu tập pháp Bạch tịnh, tăng trưởng đại Bi, được báu chánh trực. Thường nhớ đến pháp Bạch tịnh của tất cả chư Phật, tâm hồi hướng không thoái chuyển, mong cầu phương tiện thiên xảo của đạo Bồ-tát, sinh ra căn lành vững chắc thanh tịnh, chánh niệm tu tập công đức trí tuệ. Làm Bậc Thầy Điều Ngự, sinh ra đầy đủ tất cả căn lành, dùng phương tiện trí tuệ hồi hướng đến chúng sinh. Mắt tuệ thanh tịnh có thể quan sát tất cả căn lành, trưởng dưỡng vô số các loại căn lành, phân biệt căn lành các cảnh giới: Căn lành đầy đủ, căn lành thanh tịnh, căn lành một hướng, căn lành tu tập, căn lành thực hành, căn lành tư duy, căn lành thuyết giảng bình đẳng.

Đại Bồ-tát với căn lành như vậy, có các loại môn, các loại cảnh giới, các loại tướng, các loại sự, các loại phân biệt, vô lượng hạnh, vô số cách nói năng, sinh ra vô lượng sự hiểu biết về tu hành, các loại căn lành trang nghiêm, đều có thể giữ vững các thừa của mười Lực.

Đại Bồ-tát tu tập các loại căn lành như vậy, quán tất cả không hai. Bằng cảnh giới Nhất thiết trí, Đại Bồ-tát đem các căn lành ấy hồi hướng, vì muốn làm cho viên mãn thân vô ngại để tu hạnh Bồtát; muốn làm cho nghiệp miệng được thanh tịnh vô ngại, tu hạnh Bồ-tát; muốn cho đầy đủ nghiệp ý vô ngại, an trú trong Đại thừa, đầy đủ tâm vô ngại, làm cho hạnh Bồ-tát đều được thanh tịnh. Được vô lượng tâm bố thí lớn đến khắp tất cả chúng sinh; được pháp tự tại, tâm chiếu tất cả pháp, chỉ dạy cho thế gian, được tâm tối thắng không thể hoại; được Nhất thiết chủng trí thanh tịnh. Phát tâm Bồđề, chiếu sáng tất cả, chánh niệm đến tất cả chư Phật trong ba đời. Được đầy đủ Tam-muội niệm Phật, đầy đủ tâm chánh trực lìa hại, xa lìa oán địch, giúp đỡ chúng sinh, làm đầy đủ tất cả mà không dừng nghỉ. Được đứng vững trong trí tuệ của mười Lực; được Tam-muội sâu xa, có thể đi đến khắp các thế giới, nhưng không bị nhiễm ô, ở khắp tất cả cõi mà không nhàm chán, hòa đồng chúng sinh chẳng bao giờ dừng nghỉ. Sinh ra vô lượng phương tiện thắng trí, thành tựu đầy đủ trí tuệ không thể nghĩ bàn của tất cả Bồ-tát, đắc tuệ lìa si, phân biệt hết tất cả thế giới. Ngay trong một niệm có thể nghiêm tịnh tất cả cõi Phật. Đối với các thần thông trí tuệ đều được tự tại, hiểu rõ tướng chân thật của tất cả pháp, hiện ra sự nghiêm tịnh tất cả thế gian. Hiện tất cả cõi trong một cõi, đạt đến trí không hoại, bảo trì tất cả cõi, trang hoàng bằng các vật dụng xinh đẹp của Bồ-tát. Hiện ra tất cả đều để giáo hóa vô lượng chúng sinh, một thế giới Phật rộng lớn như pháp giới. Tất cả các thế giới cũng như vậy, được trí tuệ rốt ráo, đến tất cả cõi, bảo hộ tất cả.

Đại Bồ-tát đem căn lành này hồi hướng đến cõi Phật, khiến chúng sinh được sung mãn sự hồi hướng, phân biệt thọ trì bằng trí tuệ; như vì tự thân mà hồi hướng cho chúng sinh cũng như vậy.

Khiến tất cả chúng sinh xa lìa hẳn địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, nơi Diêm-la vương.

Khiến tất cả chúng sinh, diệt trừ hết tất cả nghiệp chướng ngại.

Khiến tất cả chúng sinh được các tâm bình đẳng với trí tuệ.

Khiến kẻ oán thù sinh tâm Từ, ưa thích trí tuệ thanh tịnh.

Khiến tất cả chúng sinh luôn luôn có đầy đủ trí tuệ chiếu khắp tất cả.

Khiến tất cả chúng sinh đủ trí chân thật, tâm Bồ-đề chánh trực lìa cấu uế, đầy đủ vô lượng trí tuệ.

Khiến tất cả chúng sinh ở nơi cảnh giới hoàn thiện an ổn bình đẳng.

Đại Bồ-tát hồi hướng như vậy, tu tập căn lành và tất cả nguyện như trận mưa lớn, làm cho tất cả chúng sinh đều được thanh tịnh.

Khiến cho tất cả chúng sinh làm ruộng phước công đức.

Khiến tất cả chúng sinh giữ gìn thọ trì kho tàng giác ngộ.

Khiến tất cả chúng sinh lìa các chướng ngại ở yên trong pháp giới thanh tịnh vô ngại.

Khiến tất cả chúng sinh đầy đủ các trí tuệ thần thông vô ngại.

Khiến tất cả chúng sinh được thân tự tại, đi khắp mười phương, ứng hiện theo trường hợp.

Khiến tất cả chúng sinh bảo hộ tất cả làm cho thanh tịnh.

Khiến tất cả chúng sinh xa lìa tâm sân hận chướng ngại, đạt đến thành tựu Nhất thiết chủng trí.

Lại nữa, Đại Bồ-tát nếu thấy quốc độ đáng ưa thích với vườn rừng hoa quả, hoặc thấy y phục thượng hạng, hương thơm rất vừa ý, tài vật trân bảo, các vật xinh đẹp. Hoặc thấy nhà cửa thôn xóm rất xinh đẹp, thành phố kinh đô; hoặc thấy vua chúa đáng mến phục có quyền thế; hoặc thấy nơi vắng vẻ rất vừa ý. Thấy như vậy rồi, Đại Bồ-tát tu tập phương tiện thiện xảo, sinh ra vô lượng công đức tịnh diệu, mong cầu thật nghĩa. Vì chúng sinh nên Bồ-tát sống không phóng dật, tu tập hoàn toàn tất cả căn lành. Cũng như biển lớn không thể đo lường được, Bồ-tát đầy đủ căn lành không thể cùng tận. Tất cả công đức đều đầy đủ, cũng không phân biệt các loại căn lành. Bằng phương tiện xảo hồi hướng thanh tịnh, hiện ra vô số các hạnh của căn lành, thường nhớ tất cả chẳng bao giờ quên cảnh giới của chúng sinh. Bằng căn lành như thật, căn lành bình đẳng, Đại Bồ-tát đem căn lành như vậy mà hồi hướng, khiến tất cả chúng sinh có chí nguyện mong được gặp chư Phật, đúng như pháp không chấp thủ lấy pháp tánh; vô số chúng sinh bình đẳng thanh tịnh cũng như vậy.

Khiến tất cả chúng sinh đều được làm thị giả đáng được yêu mến theo ý muốn của chư Phật.

Khiến tất cả cõi Phật trừ diệt phiền não được thanh tịnh khả ái.

Khiến tất cả chúng sinh đều được thấy nghe vô lượng Phật pháp, tâm thường ưa thích, thường thích giữ gìn các hạnh Bồ-tát, luôn nhìn Thiện tri thức bằng mắt yêu mến.

Khiến tất cả chúng sinh gặp pháp đáng ưa thích.

Khiến tất cả chúng sinh thích giữ gìn chánh pháp.

Khiến tất cả chúng sinh đối với Phật pháp được sáng suốt vừa ý.

Khiến tất cả Bồ-tát đều đạt được tâm bố thí lớn rất an lạc, đối với các pháp được an lạc không lo sợ, phân biệt diễn nói cho chúng sinh. Được Tam-muội an lạc các Đà-la-ni của Bồ-tát, được tất cả trí tuệ thọ ký của Bồ-tát, được tất cả sự tự tại thị hiện rất đáng yêu mến của Bồ-tát. Đầy đủ sự thuyết pháp viên mãn của chư Phật, được phương tiện vừa ý phân biệt thuyết pháp, được đại Bi vừa ý phát tâm Bồ-tát, các căn thoải mái, được nhà của các Như Lai rất đáng ưa thích, giáo hóa chúng sinh tâm không ngừng nghỉ, được kho tàng pháp vô tận rất vừa ý của Bồ-tát. Trong vô số kiếp ở trong từng thế giới giáo hóa chúng sinh. Ngay ở Phật hiện tại, được phương tiện thiện xảo rất thích ý, được phương tiện sâu xa vi diệu rất thích ý không bị chướng ngại, xa lìa hẳn ngu si, đầy đủ tất cả các pháp lìa dục, bình đẳng vừa ý, diệt các chướng ngại. Xác định hiểu rõ pháp giới không hai, đầy đủ các pháp an vui, lìa hẳn dục vào chỗ chân thật. Được pháp viên mãn khả lạc không tranh cãi của Bồ-tát, đầy đủ Nhất thiết chủng trí của tâm kho tàng Kim cang rất vừa ý, dũng mãnh tinh tấn thanh tịnh mỹ mãn. Đầy đủ các căn lành thanh tịnh vừa ý, phá dẹp kẻ oán, diệt pháp chướng đạo. Đầy đủ Nhất thiết trí giác ngộ vô thượng vừa ý, luôn luôn hiện hữu lợi ích chúng sinh.

Đại Bồ-tát nuôi dưỡng căn lành như vậy, được ánh sáng của trí

tuệ thanh tịnh, thường được Thiện tri thức giúp đỡ, được mặt trời tuệ của Như Lai chiếu sáng tâm trí, diệt trừ tối tăm ngu si, tịnh tu chánh pháp, vào các trí tuệ, tu học hoàn toàn các bậc trí tuệ, phân biệt rõ pháp giới, hồi hướng hoàn toàn tất cả các căn lành, các biển căn lành của tất cả Bồ-tát đến tận đáy, thành tựu trí tuệ, đi sâu vào một cách vững chắc, hiểu rõ căn lành, thông hiểu các độ.

Đại Bồ-tát hồi hướng với căn lành như vậy không chấp trước thế giới, không chấp trước chúng sinh giới. Tâm không lệ thuộc, tịch nhiên bất loạn, chánh niệm các pháp, đầy đủ trí tuệ không cần phải chọn lựa của chư Phật. Không trái với môn chánh hồi hướng của tất cả chư Phật trong ba đời; không trái tất cả chánh pháp bình đẳng; không hoại tướng của Phật. Quán khắp cả ba đời, hiểu rõ chúng sinh là không, chẳng có sự dừng trú. Thuận theo đạo Như Lai, chiếu khắp các pháp, giải nghĩa chân thật tuần tự tiến đến các quả vị, như thật phân biệt tất cà các pháp. Trí tuệ bao trùm, đầy đủ vững chắc, chưa từng quên mất tu hành chánh nghiệp; thường ưa tịch tĩnh, hướng thẳng đến ly sinh. Hiểu rõ tất cả pháp cũng như huyễn hóa, xác định tất cả pháp không có tự thể. Đại Bồ-tát quán sát tất cả sự vật và các hành động, đối với sự diễn tả của ngôn ngữ không bị chấp trước, vì tất cả các pháp đều từ duyên sinh. Quán pháp sâu xa, sinh thật trí hồi hướng. Quán sát tịch diệt tất cả pháp đều trong một pháp quán, không trái với các tướng khác nhau của các pháp. Đem sự hiểu rõ ấy hồi hướng. Tu tập đạo Bồ-tát đem căn lành hồi hướng; bảo hộ chúng sinh, nuôi dưỡng Bồ-tát ba đời đem tất cả hồi hướng.

Như vậy, Đại Bồ-tát đem căn lành tâm không sợ hãi mà hồi hướng. Bằng tất cả Phật pháp, đem căn lành tâm vô lượng mà hồi hướng. Tất cả chúng sinh đều thanh tịnh, đem căn lành của tâm vô ngã, vô ngã sở mà hồi hướng. Không bị đắm nhiễm với các thế giới khắp mười phương, đem căn lành của tâm trọn vẹn mà hồi hướng.

Đối với các thế giới của tất cả cảnh giới không bị đắm nhiễm, hành động lìa pháp thế gian, đem căn lành này hồi hướng. Được pháp xuất thế gian không chấp trước vào chúng sinh, đem căn lành này hồi hướng. Thấy các đạo thù thắng, đem căn lành này hồi hướng. Lìa pháp hư vọng, sinh pháp chân thật, đem căn lành này hồi hướng. Theo đúng pháp môn đến tất cả đạo, đem vô lượng, vô biên căn lành hồi hướng.

Đối với căn lành như như cũng như vậy, hồi hướng đến chúng sinh hiểu rõ các pháp.

Đối với căn lành tánh như cũng như vậy, hồi hướng đến tự tánh tất cả pháp là không có tự tánh.

Đối với căn lành tướng như cũng như vậy, hồi hướng vô tướng của tất cả pháp là tướng chân thật.

Đối với căn lành pháp như cũng như vậy, hồi hướng đến Phật pháp không thoái chuyển.

Đối với căn lành hành như cũng như vậy, hồi hướng đến tất cả hạnh của Như Lai.

Đối với cảnh giới như của căn lành cũng như vậy, hồi hướng đến cảnh giới viên mãn của chư Phật ba đời.

Đối với căn lành an lập như cũng như vậy, hồi hướng an lập tất cả chúng sinh.

Đối với căn lành tùy thuận như thì cũng như vậy, hồi hướng đến tận kiếp vị lai tùy thuận không gián đoạn.

Đối với căn lành như lượng như thì cũng như vậy, hồi hướng đến chúng sinh, tâm đồng với hư không.

Đối với căn lành sung mãn như cũng như vậy, hồi hướng đến một niệm đầy khắp cả pháp giới.

Đối với căn lành trụ ở đời lâu dài như cũng như vậy, hồi hướng đến xa lìa sự trú của tất cả thế gian mà trú ở chỗ cứu cánh.

Đối với căn lành không sinh như cũng như vậy, hồi hướng đến bất sinh đầy đủ tất cả Phật pháp.

Đối với căn lành kiên cố như cũng như vậy, hồi hướng đến phá tan tất cả phiền não.

Đối với căn lành không hoại như cũng như vậy, hồi hướng đến tất cả chúng sinh không thể phá hoại.

Đối với căn lành minh như cũng như vậy, hồi hướng đến chiếu sáng khắp tất cả.

Đối với căn lành tất cả các chỗ như cũng như vậy, hồi hướng đến đạo đến tất cả chỗ.

Đối với căn lành tất cả thời gian như cũng như vậy, hồi hướng đến tùy thuận tất cả thời gian.

Đối với căn lành tất cả như cũng như vậy, hồi hướng đến tất cả chúng sinh tùy thuận thanh tịnh.

Đối với căn lành tất cả bình đẳng như cũng như vậy, hồi hướng đến tất cả hành động đều bình đẳng.

Đối với căn lành tất cả Pháp nhãn như cũng như vậy, hồi hướng đến tất cả chúng sinh đều được Pháp nhãn.

Đối với căn lành không mỏi mệt như cũng như vậy, hồi hướng đến hành tất cả đạo Bồ-tát không mỏi mệt.

Đối với căn lành thậm thâm như cũng như vậy, hồi hướng đến tất cả pháp thâm sâu nhất.

Đối với căn lành không có sở hữu như cũng như vậy, hồi hướng đến biết tất cả không có sở hữu.

Đối với căn lành không xuất hiện như cũng như vậy, hồi hướng đến tất cả không có sự hiển hiện.

Đối với căn lành lìa màng che mắt như cũng như vậy, hồi hướng đến mắt sáng không có màng che được thanh tịnh.

Đối với căn lành không gì so sánh như cũng như vậy, hồi hướng đến hạnh Bồ-tát không gì so sánh được.

Đối với căn lành tịch tĩnh như cũng như vậy, hồi hướng đến tất cả thường vui thanh tịnh.

Đối với căn lành không nguồn cội như cũng như vậy, hồi hướng đến pháp hoàn toàn không nguồn cội.

Đối với căn lành vô lượng, vô biên như cũng như vậy, hồi hướng đến vô lượng, vô biên chúng sinh đều thanh tịnh.

Đối với căn lành không chấp trước như cũng như vậy, hồi hướng đến hoàn toàn không chấp trước.

Đối với căn lành vô ngại như cũng như vậy, hồi hướng đến diệt trừ tất cả chướng ngại.

Đối với căn lành chẳng phải pháp hữu vi của thế gian như cũng

như vậy, hồi hướng đến xa lìa tất cả pháp hữu vi của thế gian.

Đối với căn lành không bị trói buộc như cũng như vậy, hồi hướng đến không bị trói buộc vào tất cả sinh tử.

Đối với căn lành vô hành như cũng như vậy, hồi hướng đến xa lìa tất cả các nghiệp.

Đối với căn lành trú như cũng như vậy, hồi hướng đến tất cả trú vào chỗ trú của như.

Đối với căn lành tất cả pháp thành như cũng như vậy, hồi hướng đến sự học của chúng sinh thành tựu.

Đối với căn lành tất cả pháp bình đẳng như cũng như vậy, hồi hướng đến tất cả đầy đủ hạnh bình đẳng.

Đối với căn lành tất cả pháp không xả bỏ như cũng như vậy, hồi hướng đến không bỏ rơi tất cả chúng sinh cho đến đời vị lai.

Đối với căn lành tất cả pháp không tận như cũng như vậy, hồi hướng đến tất cả chúng sinh vô tận.

Đối với căn lành không trái tất cả pháp như cũng như vậy, hồi hướng đến tất cả chúng sinh không trái chư Phật ba đời.

Đối với căn lành bao gồm tất cả pháp như cũng như vậy, hồi hướng đến tất cả chúng sinh đều có đầy đủ không thiếu tất cả căn lành.

Đối với căn lành tất cả pháp đồng như cũng như vậy, hồi hướng đến đồng với chư Phật ba đời.

Đối với căn lành tất cả pháp không xa lìa như cũng như vậy, hồi hướng đến bao gồm thế gian và lìa thế gian.

Đối với căn lành không thể hoại như cũng như vậy, hồi hướng đến tất cả chúng sinh không thể bị phá hoại.

Đối với căn lành không sân giận như cũng như vậy, hồi hướng đến tất cả chúng sinh không bị tất cả nghiệp ma làm lay động.

Đối với căn lành không trược như cũng như vậy, hồi hướng đến tất cả hạnh Bồ-tát không có cấu trược.

Đối với căn lành bất loạn như cũng như vậy, hồi hướng đến tất cả chúng sinh xa lìa các loạn của bụi trần.

Đối với căn lành không thể tận như cũng như vậy, hồi hướng đến sự không cùng tận của pháp thế gian.

Đối với căn lành Bồ-đề như cũng như vậy, hồi hướng đến giác ngộ tất cả các pháp.

Đối với căn lành không mất như cũng như vậy, hồi hướng đến tất cả chúng sinh không mất đạo tâm.

Đối với căn lành chiếu sáng như cũng như vậy, hồi hướng đến tất cả chúng sinh đều dùng ánh sáng đại trí tuệ chiếu sáng tất cả.

Đối với căn lành không thể nêu bày cũng như vậy, hồi hướng đến tất cả trí tuệ không thể nêu bày được.

Đối với căn lành giữ gìn tất cả chúng sinh như cũng như vậy, hồi hướng đến giữ gìn tất cả hạnh Bồ-tát.

Đối với căn lành tùy thuận tất cả ngôn ngữ như cũng như vậy, hồi hướng đến tất cả trí tuệ vô ngôn ngữ.

Đối với căn lành xa lìa tất cả các loại pháp như cũng như vậy, hồi hướng đến hiện ra tất cả cõi Phật và các Đức Như Lai thành tựu Chánh giác, hiện ra vô lượng thần lực tự tại.

Đối với căn lành lìa hư vọng như cũng như vậy, hồi hướng đến thế gian đều lìa hư vọng.

Đối với căn lành tất cả thân đến khắp nơi như cũng như vậy, hồi hướng đến không sinh nhưng với phương tiện thiện xảo thị hiện thọ sinh.

Đối với căn lành không chẳng có như cũng như vậy, hồi hướng đến thần lực tự tại của chư Phật ba đời và tất cả cõi đều hiện ra trong thân.

Đối với căn lành ban đêm như cũng như vậy, hồi hướng đến trong tất cả đêm, làm các Phật sự được ánh sáng vô thượng.

Đối với căn lành ban ngày như cũng như vậy, hồi hướng đến tất cả chúng sinh vào ban ngày đều được giác ngộ thấy thần lực tự tại của các Như Lai, trú ở pháp luân không thoái lui, được thanh tịnh lìa si.

Đối với căn lành nửa tháng và một tháng như cũng như vậy, hồi hướng đến tất cả chúng sinh bằng phương tiện thiện xảo trú vào tất cả thời gian, trong một niệm có thể phân biệt tất cả thời tiết.

Đối với căn lành niên tuế như cũng như vậy, hồi hướng đến nhận lấy các kiếp khác nhau, nghiêm tịnh các căn, hiểu rõ các căn.

Đối với căn lành tất cả kiếp thành hoại như cũng như vậy, hồi hướng đến trú ở tất cả kiếp thanh tịnh vô nhiễm; tất cả chúng sinh thanh tịnh thu phục chúng sinh.

Đối với căn lành vị lai như cũng như vậy, hồi hướng đến tâm đến tất cả đời vị lai, tu tập diệu hạnh thanh tịnh của Bồ-tát, đều làm viên mãn vô lượng đại nguyện.

Đối với căn lành thế gian như cũng như vậy, hồi hướng đến tất cả chúng sinh ngay trong một niệm thấy tất cả Phật, cho đến chưa từng bao giờ xa lìa chư Phật.

Đối với căn lành đạo đến tất cả chỗ như cũng như vậy, hồi hướng đến tất cả chúng sinh được đạo không hư hoại, vượt khỏi ba cõi.

Đối với căn lành hữu vô như cũng như vậy, hồi hướng đến tất cả các hữu đều thanh tịnh, biết rõ không có sở hữu.

Đối với căn lành tịnh như cũng như vậy, hồi hướng đến tất cả hạnh thanh tịnh của Bồ-tát sinh ra vật dụng của Vô thượng Bồ-đề. Đối với căn lành minh tịnh như cũng như vậy, hồi hướng đến được tất cả Tam-muội của Bồ-tát với tâm sáng suốt thanh tịnh. Đối với căn lành lìa cấu như cũng như vậy, hồi hướng đến lìa tất cả cấu, tâm tịnh viên mãn. Đối với căn lành vô ngã sở như cũng như vậy, hồi hướng đến bao gồm tâm thanh tịnh vô ngã, vô ngã sở đầy khắp cả các cõi Phật khắp mười phương.

Đối với căn lành bình đẳng như cũng như vậy, hồi hướng đến vô tận Nhất thiết trí xa lìa hẳn si ái, chiếu sáng tất cả.

Đối với căn lành vô số như cũng như vậy, hồi hướng đến thừa và lực của Nhất thiết trí trú ở phương tiện thiện xảo, đem mưa pháp trùm khắp tất cả các thế giới.

Đối với căn lành bình đẳng trú như cũng như vậy, hồi hướng đến tất cả chúng sinh đủ Bồ-tát hạnh trú ở Nhất thiết trí.

Đối với căn lành phân biệt tất cả chúng sinh giới như cũng như vậy, hồi hướng đến tất cả căn lành đều hiện hữu, đầy đủ trí vô ngại.

Đối với căn lành tất cả ngôn ngữ của chúng sinh như cũng như vậy, hồi hướng đến hiểu rõ tất cả ngôn ngữ, ngữ pháp.

Đối với căn lành không lìa tất cả chúng sinh như cũng như vậy, hồi hướng đến bao gồm tất cả chúng sinh, đầy đủ căn lành, xa lìa phiền não.

Đối với căn lành quảng như cũng như vậy, hồi hướng đến thọ trì pháp của chư Phật ba đời giảng dạy và tu tập hạnh lìa si của Bồtát.

Đối với căn lành không ngừng nghỉ như cũng như vậy, hồi hướng đến tất cả kiếp tu hạnh Bồ-tát chưa từng nghỉ ngơi, đưa chúng sinh vào Đại thừa.

Đối với căn lành tất cả pháp Đệ nhất như cũng như vậy, hồi hướng đến mở cửa pháp thanh tịnh, niệm thanh tịnh không ngại, bao gồm tất cả pháp.

Đối với căn lành vô lượng khen ngợi như cũng như vậy, hồi hướng đến vô lượng sự tán thán về trí tuệ thực hành của Bồ-tát.

Đối với căn lành xa lìa nóng bức như cũng như vậy, hồi hướng đến xa lìa pháp nóng bức, trừ diệt nóng bức cho chúng sinh, khiến cho được thanh tịnh.

Đối với căn lành bất động như cũng như vậy, hồi hướng đến an trú bất động đầy đủ nguyện hạnh của Bồ-tát Phổ Hiền.

Đối với căn lành cảnh giới chư Phật như cũng như vậy, hồi hướng đến chúng sinh đầy đủ cảnh giới trí tuệ, trừ diệt tất cả cảnh giới phiền não.

Đối với căn lành không thể hoại như cũng như vậy, hồi hướng đến không bị tất cả nghiệp ma phá hoại mà còn thu phục các chúng ngoại đạo.

Đối với căn lành chẳng thể tu, chẳng thể không tu, hồi hướng đến xa lìa tất cả sự hư vọng về tu hay không tu và đoạn trừ tất cả hư vọng.

Đối với căn lành bất thoái như cũng như vậy, hồi hướng đến thường gặp tất cả chư Phật, chẳng bao giờ bỏ giữa chừng, tu tập tâm trang nghiêm của Bồ-tát.

Đối với căn lành tất cả ngôn ngữ như cũng như vậy, hồi hướng đến phân biệt tất cả ngôn ngữ.

Đối với căn lành không chấp trước vào tất cả các pháp cũng như vậy, hồi hướng đến tất cả chúng sinh đều không bị chấp trước, khiến tất cả chúng sinh thực hành hạnh của Phổ Hiền.

Đối với căn lành tất cả địa cũng như vậy, hồi hướng đến tất cả chúng sinh được trang nghiêm của Phổ Hiền, quả vị tùy thuận theo trí tuệ.

Đối với căn lành không thể đoạn như cũng như vậy, hồi hướng đến đối với các pháp được không sợ hãi, không gián đoạn, thông thạo tất cả ngôn ngữ để diễn thuyết rộng rãi.

Đối với căn lành vô lậu như cũng như vậy, hồi hướng đến tất cả chúng sinh đều được đầy đủ tâm Bồ-đề của căn lành vô lậu, đạt đến pháp trí, phân biệt rõ ràng.

Đối với căn lành không có pháp giác, không có pháp diệt như cũng như vậy, hồi hướng đến giác ngộ tất cả các pháp, trong một sátna đều có mặt khắp vô lượng pháp giới.

Đối với căn lành quá khứ chẳng đồng nhau, vị lai chẳng như cũ, hiện tại chẳng khác như cũng như vậy, hối hướng đến phát sinh tâm Bồ-đề mới mẻ, nguyện trừ diệt sinh tử, thanh tịnh cho chúng sinh.

Đối với căn lành không nắm giữ hư vọng trong ba đời cũng như vậy, hồi hướng đến quá khứ vị lai đều được thanh tịnh, hiện tại trong từng sát-na chứng thành Chánh giác.

Đối với căn lành tất cả chư Phật Bồ-tát đầy đủ như cũng như vậy, hồi hướng đến tất cả chúng sinh đầy đủ Phật trí, đại nguyện, phương tiện.

Đối với căn lành thường thanh tịnh không nhiễm ô cũng như vậy, hồi hướng đến tất cả chúng sinh đều hết phiền não, Nhất thiết chủng trí thanh tịnh hoàn toàn.

Khi Đại Bồ-tát hồi hướng như vậy đến bình đẳng khắp tất cả cõi Phật, thanh tịnh tất cả thế giới; khắp tất cả thế gian, chuyển pháp luân thanh tịnh không thể bị phá hoại; khắp tất cả Bồ-tát, sinh ra tất cả trí, nguyện; quán khắp chư Phật không hai; quán khắp các pháp không phá hoại tự tánh; quán khắp ba đời về hiểu phương tiện trí tuệ và các ngôn ngữ; đem tất cả căn lành do thực hành Bồ-tát hạnh đều đem hồi hướng khắp cả, biết tất cả thời gian, tùy thời tu tập, không bỏ Phật sự ấy. Đối với tất cả nghiệp báo đều bình đẳng, không lệ thuộc thế gian, sinh ra căn lành lìa thế gian, thần lực tự tại đồng với chư Phật, tùy thuận thế gian làm các Phật sự.

Này Phật tử! Đây gọi là hồi hướng Như tướng thứ tám của Đại Bồ-tát.

Đại Bồ-tát an trú trong hồi hướng này, được vô lượng, vô biên pháp môn thanh tịnh, là Bậc Uy Hùng trong loài người; được không sợ hãi, rống lên tiếng rống sư tử, thành tựu cho vô lượng, vô số Bồtát, trong bất cứ lúc nào cũng không dừng nghỉ; được vô lượng, vô biên thân hoàn hảo của Phật, một thân ở khắp cả thế giới; được vô lượng, vô số âm thanh hoàn hảo của chư Phật, nói ra một âm thanh thì tất cả chúng sinh đều được nghe; được đầy đủ vô lượng, vô biên năng lực của Phật, trong một lỗ chân lông, đặt vào tất cả thế giới; được vô lượng, vô biên đầy đủ thần lực tự tại, đặt tất cả chúng sinh trong một hạt bụi; được vô lượng, vô biên giải thoát của chư Phật, trong một thân chúng sinh hiện ra tất cả cõi Phật, với tất cả Như Lai thành Đẳng chánh giác; được vô lượng, vô biên đầy đủ năng lực phương tiện Tam-muội chánh thọ của chư Phật, trong một Tam-muội đều có thể sinh ra tất cả Tam-muội; được vô lượng, vô biên đầy đủ tài biện luận của tất cả chư Phật, nói ra một câu pháp đến tận đời vị lai cũng không cùng tận, giải quyết tất cả sự nghi ngờ cho chúng sinh; được vô lượng, vô biên pháp vượt hơn chúng sinh của tất cả chư Phật, thị hiện cho tất cả chúng sinh về Nhất thiết trí, mười Lực, Đẳng chánh giác.

Này Phật tử! Đây chính là Đại Bồ-tát dùng tất cả căn lành tùy thuận Như tướng mà hồi hướng.

Bấy giờ, nương theo thần lực của Phật, Bồ-tát Kim Cang Tràng nhìn khắp mười phương, nói kệ rằng:

Tâm Bồ-tát an trú
Lìa si, thường chánh niệm
Nhẫn nhục lìa não hại
Tu tập vô lượng đức,
Tâm không còn thù hận
Chánh trực, thường thanh tịnh
Các nghiệp trang sức đời
Đều phân biệt rõ hết.
Bồ-tát tư duy nghiệp
Các loại nhiều vô cùng
Nghiệp nào lợi chúng sinh
Thì tu tập thi hành,
Khéo thuận theo thế gian
Làm tất cả hoan hỷ
Tùy theo nghiệp chúng sinh
Mà Bồ-tát giáo hóa.
Xa lìa hẳn sân, si
Biết pháp và biết nghĩa
Đứng trong đất Điều Ngự
Lợi ích tất cả chúng,
Giác ngộ các pháp thiện
Vô số không thể đếm
Đều phân biệt biết rõ
Hồi hướng lợi chúng sinh.
Bằng phương tiện sâu xa
Với đầy đủ trí tuệ
Diệt trừ các phiền não
Hồi hướng Như Như thiện,
Đến khắp cả các cõi
An trú pháp như thật
Hồi hướng nghiệp như vậy
Đều khiến không chấp trước.
Vui thích đạo giải thoát
Tu tập pháp chân như
Vô tánh, vô sở hữu
Bậc Minh đức hồi hướng,
Ngày đêm và nửa tháng
Một tháng, năm, nhiều kiếp
Tất cả đều là Như
Công đức cũng như vậy.
Như thế gian, các cõi
Chúng sinh, tất cả pháp
Các cõi, các cảnh giới
Đều hồi hướng tất cả.
Như Như tánh chân thật
Tư duy tánh như vậy
Các công đức hồi hướng
Đều thuận với chân như.
Như Như tánh như vậy
Các pháp không thật có
Như Như lìa tự tánh
Nghiệp bậc trí hồi hướng,
Như các tướng như thật
Chúng sinh cũng như vậy
Như như tự tánh thật
Các nghiệp cũng như vậy.
Như như không thể lường
Tất cả nghiệp như thế
Không trói cũng không mở
Các nghiệp đều thanh tịnh,
Chân Phật tử như vậy
An định, không lay động
Thành tựu sức trí tuệ
Vào tạng phương tiện Phật,
Giác ngộ pháp vua pháp
Không trói cũng không mở
Không ngại, không chuyển tâm
Và không đối tượng chuyển,
Pháp thâu gom các nghiệp
Tùy thuận tướng chúng sinh
Thâm nhập tướng chân thật
Tướng cũng chẳng phải tướng,
Như thế, khó nghĩ bàn
Nghĩ bàn không cùng tận
Thâm nhập khó nghĩ bàn
Nghĩ chẳng nghĩ tịch diệt,
Pháp tư duy như vậy
Phân biệt tất cả nghiệp
Trừ diệt các phiền não
Gọi là vua Công đức.
Quả báo của Bồ-tát
Ấn bằng trí vô tận
Pháp tận, tánh vô tận
Vô tận, phương tiện diệt,
Tâm không ở trong ngoài
Tâm cũng không thật có
Vọng chấp nên có pháp
Không chấp thì tịch diệt.
Phật tử biết như vậy
Pháp không, không tự tánh
Các pháp không tự tại
Phật giác ngộ vô ngã,
Các Như như, chúng sinh
Giác pháp tánh như vậy
Thấy ấy không nghĩ bàn
Trí vô tướng không sai,
Tu tập sâu như vậy
Một hướng cầu Bồ-đề
Chí nguyện không thoái lui
Lợi ích cho chúng sinh.
Bồ-tát bỏ thân này
Không chết, chẳng hư vọng
Hiểu rõ tâm như hóa
Giáo hóa khắp các chúng,
Quán sát thuận chánh niệm
Nghiệp báo của thế gian
Bồ-tát đều cứu giúp
Khắp tất cả ba cõi.
Liễu tri các tưởng, hành
Đều là pháp hư vọng
Bồ-tát biết chẳng thật
Nhưng không hoại pháp tánh,
Hồi hướng được như vậy
Bằng căn lành trí tuệ
Lân mẫn khắp chúng sinh
Khiến vào sâu phương tiện.

Này Phật tử! Pháp hồi hướng thứ chín, tâm giải thoát không trói buộc, không lệ thuộc của Đại Bồ-tát là gì?

Đại Bồ-tát này đối với tất cả căn lành không sinh tâm xem thường. Tâm không xem thường xuất khỏi sinh tử; tâm không xem thường bao gồm căn lành; tâm không xem thường chuyên cầu tất cả thiện tất cả căn lành; tâm không xem thường sám hối; tâm không xem thường tùy hỷ căn lành; tâm không xem thường sự lễ bái chư Phật ở phương khác; tâm không xem thường việc cung kính chắp tay, tâm không xem thường việc tôn trọng lễ bái tháp miếu; tâm không xem thường khuyến thỉnh chư Phật ở phương khác chuyển pháp luân.

Đại Bồ-tát thường hoan hỷ tiếp nhận giữ gìn các căn lành ấy, giữ vững không làm hư hoại các căn lành. An trú vào căn lành ấy, tư duy căn lành ấy, phát triển căn lành ấy, không chấp trước căn lành ấy, đủ tâm chánh trực nơi căn lành ấy. Không kén chọn các căn lành, tùy thuận theo căn lành của cảnh giới chư Phật ấy, mà được căn lành ấy nên có năng lực tự tại.

Đại Bồ-tát với tâm giải thoát không trói buộc, đem hồi hướng hoàn toàn đến nghiệp thân, miệng, ý của Bồ-tát Phổ Hiền.

Với tâm giải thoát không trói buộc, tu tập dũng mãnh tinh tấn của Bồ-tát Phổ Hiền.

Với tâm giải thoát không trói buộc, đầy đủ môn Đà-la-ni bằng âm thanh vô ngại của Bồ-tát Phổ Hiền vang khắp mười phương.

Với tâm giải thoát không trói buộc, đầy đủ như Bồ-tát Phổ Hiền, được thấy tất cả Đà-la-ni của chư Phật.

Với tâm giải thoát không trói buộc, đầy đủ âm thanh, vi diệu Đà-la-ni của Phổ Hiền, phân biệt tất cả âm thanh có thể diễn thuyết vô lượng mưa pháp.

Với tâm không trói buộc, được giữ lấy Đà-la-ni của Phổ Hiền đã hành trong tất cả kiếp, trong tất cả thế giới, tu tập đầy đủ tất cả các hạnh Bồ-tát.

Với tâm không trói buộc, đối với tất cả thân của chúng sinh, đến tận đời tương lai, thị hiện tất cả thần lực tự tại của Bồ-tát Phổ Hiền; như đối với một thân chúng sinh thì với tất cả thân chúng sinh cũng như vậy.

Với tâm không trói buộc, được tất cả thần lực tự tại của Bồ-tát Phổ Hiền, hiện ra trong chúng Bồ-tát của chư Phật trong hiện tại, tu tập hạnh Bồ-tát, với tâm giải thoát không trói buộc, được tất cả pháp môn của Phổ Hiền trong vô lượng, vô số kiếp, thị hiện vô tận tự tại của chư Phật, có khả năng độ thoát tất cả chúng sinh.

Với tâm giải thoát không trói buộc, được các pháp môn tự tại của Phổ Hiền, trong vô lượng, vô số kiếp, thị hiện tự tại vô tận của chư Phật, độ thoát tất cả chúng sinh.

Với tâm giải thoát không trói buộc, được tự tại của Phổ Hiền, trong từng sát-na, khiến vô lượng chúng sinh an trú trong mười Lực, tâm không mệt mỏi.

Với tâm giải thoát không trói buộc, được tự tại của Bồ-tát Phổ Hiền, đối với thân của tất cả chúng sinh đều được thấy tự tại của chư Phật, tu tập hạnh Phổ Hiền.

Với tâm giải thoát không trói buộc, được tự tại của Phổ Hiền, trong một lời nói, có thể phân biệt tất cả âm thanh ngôn ngữ của chúng sinh, giáo hóa tất cả chúng sinh, an trú trong quả vị Nhất thiết trí.

Với tâm giải thoát không trói buộc, được tự tại của Phổ Hiền, trong một thân chúng sinh có thể tiếp nhận tất cả chúng sinh, họ đều cho là đạt đến thân Phật.

Với tâm giải thoát không trói buộc, được tự tại của Phổ Hiền, trong một đóa hoa, làm cho tất cả thế giới nghiêm tịnh đều được đứng vững trong ấy.

Đại Bồ-tát lại suy nghĩ: “Ta đem căn lành của tâm giải thoát không bị trói buộc sinh ra âm thanh vi diệu của Phổ Hiền, vang đến các cõi khắp mười phương pháp giới, đối tượng nào cũng được nghe cả.”

Đem căn lành của tâm giải thoát không bị trói buộc của Phổ Hiền như là Phổ Hiền trong từng sát-na thấy đến vô lượng, vô biên chư Phật quá khứ của các thế giới, được nghe thuyết pháp và không quên, để trang hoàng nhà của Phật.

Đem căn lành của tâm giải thoát không bị trói buộc của Phổ Hiền như Phổ Hiền, đến tận kiếp vị lai, trong tất cả thế giới, diễn thuyết các pháp đều được rốt ráo.

Đem căn lành của tâm giải thoát không bị trói buộc của Phổ Hiền trong tất cả thế giới để thành Đẳng chánh giác xuất hiện nơi đời.

Đem căn lành của tâm giải thoát không bị trói buộc của Phổ Hiền có thể bằng một ánh sáng chiếu khắp tất cả các thế giới nhiều như hư không, để tu tập theo hạnh của Bồ-tát Phổ Hiền.

Đem căn lành của tâm giải thoát không bị trói buộc của Phổ Hiền, được vô lượng, vô biên trí tuệ, đều có thể tùy thuận thần thông ở các địa, để thành tựu hạnh của Bồ-tát Phổ Hiền.

Đem căn lành của tâm giải thoát không bị trói buộc của Phổ Hiền đạt được trí tuệ rốt ráo của Như Lai, trong tất cả kiếp, nói về trí của Như Lai, các kiếp có thể hết nhưng trí không cùng tận, làm đầy đủ hạnh của Bồ-tát Phổ Hiền.

Đem căn lành của tâm giải thoát không bị trói buộc của Phổ Hiền tu tập thân, miệng, ý theo hạnh của tất cả Bồ-tát và Như Lai khắp cả pháp giới, không biếng nhác như Phổ Hiền.

Đem căn lành của tâm giải thoát không bị trói buộc của Phổ

Hiền được tất cả vô thượng giác ngộ của chư Phật, thân vật chất không trái với Pháp thân, ngôn từ đầy đủ thanh tịnh không thể bị phá hoại, có cả kho tàng biện luận vô tận, giáo hóa tất cả chúng sinh đầy đủ nguyện Phổ Hiền.

Đem căn lành của tâm giải thoát không bị trói buộc của Phổ Hiền vào từng Pháp môn, chiếu sáng vô lượng không thể nghĩ bàn các thế giới; trong tất cả pháp môn, tận đến nguồn gốc, tu tập hạnh của Bồ-tát Phổ Hiền, đạt đến quả vị cứu cánh Nhất thiết trí.

Đem căn lành của tâm giải thoát không bị trói buộc của Phổ Hiền trong từng cảnh giới, đều bằng Nhất thiết chủng trí, phân biệt liễu tri bằng Nhất thiết chủng trí, cũng không cùng tận đạt đến bờ kia trang nghiêm của Bồ-tát Phổ Hiền, tu hạnh Bồ-tát, thành tựu đầy đủ vua phương tiện.

Đem căn lành của tâm giải thoát không bị trói buộc của Phổ Hiền từ đời này đến tận đời vị lai, đầy đủ hạnh của Bồ-tát Phổ Hiền và Nhất thiết chủng trí của Pháp Vương, xa lìa ngu si.

Đem căn lành của tâm giải thoát không bị trói buộc của Phổ Hiền được pháp minh vô ngại, chiếu sáng tất cả các hạnh của Bồ-tát, để thường tu tập chánh nghiệp đầy đủ phương tiện tự tại của Phổ Hiền.

Đem căn lành của tâm giải thoát không bị trói buộc của Phổ Hiền được vô lượng phương tiện, không thể nghĩ bàn phương tiện, phương tiện của Bồ-tát, phương tiện của Nhất thiết trí, phương tiện giáo hóa Bồ-tát, phương tiện chuyển vô lượng pháp luân; không thể nêu bày hết thời gian phương tiện, phương tiện các cách thuyết pháp, phương tiện không sợ, không biên giới, phương tiện thuyết trọn vẹn tất cả pháp, được tất cả các trí phương tiện tùy thuận ấy, để tu tập hạnh của Bồ-tát Phổ Hiền.

Đem căn lành của tâm giải thoát không bị trói buộc của Phổ Hiền đầy đủ thân nghiệp, khiến tất cả chúng sinh đều được hoan hỷ, được căn lành thanh tịnh không thoái chuyển của Bồ-tát, để an trú hoàn toàn vào các nghiệp của Phổ Hiền.

Đem căn lành của tâm giải thoát không bị trói buộc của Phổ Hiền được trí thanh tịnh, phân biệt được tất cả ngôn ngữ của chúng sinh, tất cả khẩu nghiệp được thanh tịnh trang nghiêm, ngôn từ vi diệu, lời nói không ai bằng, để tu tập thọ trì hạnh của Phổ Hiền.

Đem căn lành của tâm giải thoát không bị trói buộc của Phổ Hiền phân biệt rõ hết tất cả cõi Phật, tất cả chúng sinh, tất cả các pháp, tất cả trang nghiêm; tâm ấy thanh tịnh sinh ra tất cả Pháp tạng của Như Lai, Nhất thiết trí rốt ráo, để thuận theo hoàn toàn sự tu hành của Bồ-tát Phổ Hiền.

Đem căn lành của tâm giải thoát không bị trói buộc của Phổ Hiền bằng trực tâm thanh tịnh, được Pháp thân vô ngại của tất cả chư Phật, đầy đủ giải thoát, tu tập pháp Như Lai, bao gồm công đức của Phật, ở trong cảnh giới của Phật, trí tuệ lớn chiếu sáng khắp, tu tập hạnh thanh tịnh của Bồ-tát; tùy thuộc phương tiện, phân biệt rõ tất cả Tạng pháp, sinh ra vô lượng sự tự tại của Đại thừa, có thể chỉ dạy cho vô lượng, vô số tất cả chúng sinh về đạo lớn vô thượng, để đầy đủ hạnh nguyện hồi hướng của Bồ-tát Phổ Hiền.

Đem căn lành của tâm giải thoát không bị trói buộc của Phổ Hiền, được căn tánh thông minh, chế ngự hoàn toàn căn tánh, đối với căn tự tại của tất cả pháp, căn không cùng tận, tu tập tất cả căn lành, tất cả căn bình đẳng của cảnh giới Phật, thọ ký căn đại tinh tấn không còn thoái chuyển cho tất cả Bồ-tát, phân biệt tất cả căn Kim cang giới của Phật pháp, tất cả căn Kim cang diệm do trí tuệ chiếu sáng của Như Lai, phân biệt tất cả căn lực tự tại của tất cả căn, khiến tất cả chúng sinh an trú vào căn Nhất thiết trí, căn vô lượng, căn viên mãn tất cả, căn thanh tịnh vô ngại, căn các nguyện tu tập bình đẳng.

Đem căn lành của tâm giải thoát không bị trói buộc của Phổ Hiền được tất cả thần lực của Bồ-tát, có được thần lực của vô lượng thân, thần lực của cảnh giới vô lượng trí tuệ; không rời một chỗ mà có thể hiện thần lực ở tất cả các cõi Phật, thần lực tự tại không ngăn ngại, không hạn chế của Bồ-tát, thần lực tự tại thị hiện có thể đem tất cả cõi Phật để vào một chỗ, thần lực tự tại một thân đầy khắp tất cả cõi Phật, thần lực tự tại giải thoát vô ngại của Bồ-tát, thần lực tự tại bằng ít phương tiện trong một niệm, thần lực tự tại y vào không sở hữu, dùng một sợi lông cột hết vô lượng thế giới và đem đi khắp các cõi Phật nhiều như pháp giới, chỉ bày cho chúng sinh khiến cho được thần lực tự tại của môn trí tuệ cứu cánh vi diệu, tu tập hạnh của Bồ-tát Phổ Hiền.

Đem căn lành của tâm giải thoát không bị trói buộc của Phổ Hiền, ngay trong thời gian một ý niệm có thể đi đến vô lượng cõi Phật; ngay trong một thân, có thể dung chứa vô lượng cõi Phật, đạt đến trí tuệ vi diệu sâu xa, phân biệt được tất cả thế giới của chư Phật, được tâm vô sinh, đi vào các pháp môn của Bồ-tát Phổ Hiền, sinh ra hạnh Bồ-tát.

Đem căn lành của tâm giải thoát không bị trói buộc của Phổ Hiền sinh vào nhà Như Lai, tu hạnh Bồ-tát, đầy đủ vô lượng, vô số không thể nghĩ bàn pháp, vô lượng đại nguyện đều được thành tựu; phân biệt tất cả pháp giới và pháp giới ba đời mà không biếng nhác; tùy thuận các hạnh của Bồ-tát Phổ Hiền, đạt đến cảnh giới trí tuệ rốt ráo. Đem căn lành của tâm giải thoát không bị trói buộc sinh ra âm thanh vi diệu của Phổ Hiền, trong một lỗ chân lông phân biệt vô lượng, vô số cõi Phật, đều dung chứa hết tất cả pháp giới cùng tận không giới; như từ một lỗ chân lông có chứa cả pháp giới hư không giới, thì tất cả lỗ chân lông cũng như vậy; bằng pháp môn thanh tịnh của Bồ-tát Phổ Hiền, mở mắt trí tuệ.

Đem căn lành của tâm giải thoát không bị trói buộc của Phổ Hiền, có thể đem vô lượng, vô số a-tăng-kỳ kiếp vào trong thời gian bằng một ý niệm, có thể các ý niệm của tất cả chúng sinh làm thành một niệm, những phương tiện này đều do thâm tâm cứu cánh của Bồ-tát Phổ Hiền.

Đem căn lành của tâm giải thoát không bị trói buộc của Phổ Hiền, ngay trong một thân có thể dung chứa vô lượng các thân, như một thân thì đối với tất cả thân cũng như vậy; đầy đủ hồi hướng của Bồ-tát Phổ Hiền.

Đem căn lành của tâm giải thoát không bị trói buộc của Phổ Hiền nhập vào trong tất cả cảnh giới của chư Phật, thường thấy chư Phật với Pháp thân thanh tịnh đồng với hư không giới, tướng đẹp trang nghiêm, thần lực tự tại, tiếng Phạm âm vi diệu, giảng thuyết đầy đủ chánh pháp vô ngại, nghe Phật pháp ấy đều thọ trì hết; đối với thân Phật ấy rõ biết là không thật có, đều được vô lượng đại nguyện của Bồ-tát Phổ Hiền, xa lìa hẳn tà kiến điên đảo vọng tưởng của chúng sinh.

Đem căn lành của tâm giải thoát không bị trói buộc của Phổ Hiền vào trong tất cả thế giới, vào trong thế giới lật ngược, vào thế giới cúi xuống, ngay trong một ý niệm có thể đến các thế giới khắp mười phương, phân biệt các thế giới như lưới Nhân-đà-la, phân biệt tất cả pháp giới bình đẳng, khiến cho tất cả các thế giới khác nhau trở thành một hình dáng; vô lượng các thế giới khác nhau bằng vô lượng phương tiện vào trong pháp giới sâu xa, đều như hư không, mà cũng không hoại tánh của thế giới, tu tập hạnh Phổ Hiền, trú ở quả vị Bồ-tát.

Đem căn lành của tâm giải thoát không bị trói buộc của Phổ Hiền có thể phân biệt tất cả các tưởng như là chúng sinh, pháp, cõi Phật, phương hướng, Phật, thế gian, nghiệp, hành, giải thoát, căn, thời gian, thọ trì, phiền não, thanh tịnh, thành thục, thấy chư Phật, chuyển pháp luân, nghe pháp hiểu được, điều phục, các phương tiện sinh ra, các loại đất, nhập vào Bồ-tát, tu tập công đức của Bồ-tát, Tam-muội của Bồ-tát, xuất Tam-muội của Bồ-tát, cảnh giới của Bồtát, kiếp thành hoại, ánh sáng, bóng tối, ngày, đêm, thay đổi của thời gian nửa tháng, một tháng, năm, quá khứ, tương lai, ngồi, đứng, thức, ngủ…; tất cả các loại tưởng như vậy, ngay trong thời gian như một ý niệm đều rõ biết hết bằng tâm không hư vọng, đều xa lìa các tưởng, tâm không lệ thuộc, xa lìa chường ngại, có tất cả trí tuệ Như Lai, đủ tất cả Phật pháp, nuôi dưỡng căn lành.

Đem tất cả thân Phật xông ướp thân mình, thường được chư Phật bảo hộ; đối với pháp Bạch tịnh chưa từng thoái lui, tu học đầy đủ pháp của Bậc Chánh Giác, đạt đến bờ kia, tu hành theo hạnh Phổ hiền của chư Phật, đầy đủ các nguyện, được Như Lai thọ ký; ngay trong một niệm được vào địa vị phương tiện, an trú đầy đủ vào trí tuệ cứu cánh bằng căn lành.

Đem căn lành của tâm giải thoát không bị trói buộc của Phổ Hiền, đem từng tâm quán sát vô lượng tâm, lìa các hư vọng không còn lệ thuộc, tâm chẳng phải một, hành động cũng khác, tướng nghiệp không giống nhau, khiến cho tất cả chúng sinh dũng mãnh tinh tấn sinh ra vật báu trí tuệ của Bồ-tát Phổ Hiền, cũng như Phổ Hiền.

Đem căn lành của tâm giải thoát không bị trói buộc của Phổ Hiền, ngay tại một chỗ có thể phân biệt vô lượng các chỗ, với một chỗ thì tất cả chỗ khác cũng vậy, đều quyết định biết đầy đủ về trí tuệ đại nguyện báu của Bồ-tát Phổ Hiền.

*********

Do căn lành của tâm giải thoát không trói, không buộc này mà Bồ-tát đối với một nghiệp phân biệt biết được vô lượng những nghiệp đủ chủng loại duyên tạo. Một nghiệp như thế thì tất cả những nghiệp cũng như vậy mà tu tập trí địa của hành nghiệp Bồtát Phổ Hiền.

Do căn lành của tâm giải thoát không trói, không buộc mà Bồtát ở trong một pháp, phân biệt biết hết tất cả các pháp; ở trong các pháp cũng biết một pháp. Phân biệt các pháp mà chẳng sai trái chẳng chấp trước.

Do căn lành của tâm giải thoát không trói, không buộc này mà ở trong một lời nói, Bồ-tát phân biệt biết hết vô lượng tiếng nói giống như âm hưởng của tiếng vang. Trong một lời nói mà như thế thì tất cả ngữ ngôn cũng như vậy. Đối với tiếng nói đó không bị lệ thuộc, trụ ở hạnh Bồ-tát, trí tuệ thành tựu, chứng được tai thanh tịnh vô ngại của Bồ-tát Phổ Hiền.

Do căn lành của tâm giải thoát không trói, không buộc này mà ở trong mỗi một pháp, Bồ-tát đều có thể diễn nói các pháp nhiều chẳng thể nói chẳng thể nói; nuôi lớn căn lành chẳng thể nghĩ bàn; ứng thời nói pháp tất cả thời giải thoát; quyết định biết rõ các căn của chúng sinh để theo đối tượng ấy nghe âm thanh của Phật. Một diệu âm của Đức Phật làm vui vô lượng chúng sinh. Chỗ một Đức Như Lai, đại chúng Bồ-tát có đầy pháp giới. Bồ-tát biết rõ rốt ráo tất cả các hạnh, trụ ở đất Phổ Hiền, ở trong từng niệm từng niệm, đúng như lời nói mà vào pháp, nuôi lớn chẳng thể nói thâm diệu trí tuệ, đến tận kiếp vị lai; ở tất cả chỗ Phật trong tất cả thế giới đều có thể tu tập hạnh như hư không, dũng mãnh như Phổ Hiền; tu tập đại trí tuệ, đầy đủ tất cả hạnh, an trụ đất Phổ Hiền.

Do căn lành của tâm giải thoát không trói, không buộc mà ở trong mỗi một căn, Bồ-tát đều biết rõ vô lượng các căn, chẳng thể tánh ý, chẳng nghĩ bàn cảnh giới, tu các căn của Phổ Hiền hạnh pháp môn.

Do căn lành của tâm giải thoát không trói, không buộc này mà Bồ-tát đủ hạnh Bồ-tát, sinh diệu trí chân thật, biết sắc vi tế, biết thân vi tế, biết cõi vi tế, biết kiếp vi tế, biết thế gian vi tế, biết phương vi tế, biết thời vi tế, biết số pháp vi tế, biết nghiệp vi tế, biết báo vi tế, biết thanh tịnh vi tế…

Tất cả sự vi tế như vậy… ở trong một niệm đều biết rõ hết. Thuận theo hạnh của Bồ-tát Phổ Hiền, thành tựu trí tuệ chân thật Phổ Hiền thì lìa khỏi tâm khủng bố, lìa khỏi tâm ngu si, lìa khỏi tâm tán, lìa khỏi tâm loạn; được tâm điều phục các căn, tâm duy nhất, tâm chính thọ, tâm giỏi phân biệt các pháp, tâm giỏi an trụ trí tuệ, tâm hành hạnh Phổ Hiền, thuận theo hồi hướng của Phổ Hiền Bồ-tát.

Do căn lành của tâm giải thoát không trói, không buộc này mà Bồ-tát biết cõi chúng sinh vi tế, biết cái chết vi tế của chúng sinh, biết cái sống vi tế của chúng sinh, biết chỗ vi tế của chúng sinh, biết tánh vi tế của chúng sinh, biết chủng loại vi tế của chúng sinh, biết cõi vi tế của chúng sinh, biết hành vi tế của chúng sinh, biết thủ vi tế của chúng sinh, biết cảnh giới vi tế của chúng sinh…

Tất cả những vi tế như vậy, ở trong một niệm, Bồ-tát đều có thể biết hết, tu hạnh Phổ Hiền mà không lười mệt.

Do căn lành của tâm giải thoát không trói, không buộc này mà Bồ-tát phân biệt biết hết sự phát ý ban đầu của Bồ-tát như là: Tất cả các hạnh vi tế của Bồ-tát, Xứ vi tế của Bồ-tát, Tự tại vi tế của Bồtát. Du hành vô lượng cõi Phật vi tế của Bồ-tát, Ánh sáng pháp vi tế của Bồ-tát, Tịnh nhãn vi tế của Bồ-tát, Bồ-tát đầy đủ thâm tâm vi tế, Bồ-tát đi đến với đại chúng Như Lai vi tế, các Đà-la-ni trí môn vi tế của Bồ-tát. Vô lượng, vô biên đất vô sở úy, tất cả các biện tài phương tiện diễn thuyết vi tế của Bồ-tát; vô lượng, vô biên tướng Tam-muội vi tế của Bồ-tát, Bồ-tát thấy tất cả Tam-muội của Phật vi tế; Bồ-tát trang nghiêm Tam-muội vi tế, Tam-muội trí tuệ vi tế của pháp giới Bồ-tát; trí tuệ Tam-muội tự tại vi tế của Bồ-tát, Tam-muội trí tuệ vi tế của Bồ-tát.

Bồ-tát thọ trì đến tận vị lai tế trí tuệ Tam-muội vi tế, trí tuệ thắng diệu của Bồ-tát, phân biệt tất cả Tam-muội vi tế của Bồ-tát. Vô lượng, vô biên tất cả Bồ-tát sinh ra Tam-muội, Bồ-tát phân biệt biết rõ vi tế, Bồ-tát sinh ra Tam-muội đi đến tất cả những chỗ của Như Lai vi tế, tu tập tất cả Tam-muội vô ngại thậm thâm, rốt ráo Nhất thiết chủng trí, được phương tiện địa, tất cả thông địa, phân biệt thật nghĩa địa. Trí ly si của Bồ-tát tu tập vô lượng những hạnh vi tế của Phổ Hiền.

Do căn lành của tâm không trói, không buộc giải thoát này mà ở trong một niệm, Bồ-tát biết hết tất cả trụ vi tế của Bồ-tát, biết hết địa vi tế của Bồ-tát, chủng loại hạnh vi tế của Bồ-tát. Bồtát sinh ra hồi hướng vi tế, Bồ-tát được tất cả những Phật tạng vi tế, Bồ-tát phân biệt trí tuệ vi tế, Bồ-tát đại nguyện thần lực tự tại vi tế, diễn thuyết Bồ-tát Tam-muội vi tế, Bồ-tát thần lực phương tiện vi tế, Bồ-tát ấn vi tế, Bồ-tát Nhất sinh bổ xứ vi tế, Bồ-tát sinh Đâusuất thiên vi tế, Bồ-tát xử Thiên cung vi tế, Bồ-tát nghiêm tịnh cõi Phật vi tế, Bồ-tát quan sát nhân trung vi tế, Bồ-tát phóng ánh sáng lớn vi tế, Bồ-tát liễu đạt gia pháp vi tế, Bồ-tát quyến thuộc pháp vi tế, Bồ-tát tất cả thế giới thọ sinh pháp vi tế, Bồ-tát một thân thọ hiện tất cả thân qua đời vi tế, Bồ-tát thâm nhập thai mẹ vi tế, Bồtát ở thai mẹ vi tế, Bồ-tát ở trong thai hiển hiện tự tại thần lực cho đại chúng khắp pháp giới vi tế, Bồ-tát tại mẫu thai hiển hiện tất cả tự tại của Phật vi tế, Bồ-tát với sinh pháp vi tế, Bồ-tát du hành bảy bước vô úy trí vi tế, Bồ-tát hiện tại vương cung phương tiện pháp vi

tế, Bồ-tát xuất gia cầu đạo điều phục chư căn tu pháp vi tế, Bồ-tát ngồi dưới cây Bồ-đề nơi đạo tràng pháp vi tế, Bồ-tát thu phục ma thành Tối chánh giác pháp vi tế.

Như Lai ngồi yên nơi đạo tràng phóng quang minh vi tế, hiện khắp mười phương tất cả thế giới vi tế, hiển hiện vô lượng, vô biên tự tại thần lực của Như Lai vi tế, đại Bát-niết-bàn sư tử hống của Như Lai vi tế, Như Lai giáo hóa tất cả chúng sinh chưa từng có lỗi vi tế. Biết Bồ-đề tâm Kim cang của Như Lai vi tế, hiển hiện Như Lai trụ trì tất cả thế giới vi tế, ở tất cả thế giới đến tận kiếp vị lai thi hành Phật sự mà không ngưng nghỉ vi tế, rốt ráo thọ trì tất cả pháp giới vi tế, ngang bằng hư không giới tất cả thế giới vì hóa độ chúng sinh nên khắp nơi hiện thân Phật xuất hiện ở đời vi tế, tất cả thân Như Lai hiện vô lượng thân vi tế, quá khứ vị lai hiện tại tất cả chư Phật trí tuệ quyến thuộc vi tế…

Tất cả công đức như vậy, ta sẽ biết đầy đủ hết, rốt ráo được đến bờ kia, thanh tịnh thị hiện cho tất cả chúng sinh. Ở trong mỗi niệm trí tuệ đầy khắp, được bất thoái chuyển, tu hạnh Bồ-tát, đầy đủ công đức hồi hướng của Bồ-tát Phổ Hiền, thọ trì tất cả sở hành của tất cả Như Lai và Bồ-tát. Chẳng rời khỏi các cửa trí tuệ của Bồ-tát, tất cả phương tiện đều thanh tịnh, có thể yên ổn cho tất cả chúng sinh; tu hạnh Bồ-tát, đầy đủ công đức các địa Bồ-tát, được cửa hồi hướng Kim Cang Tràng, sinh ra các công đức tạng của vô lượng thế giới, thường được sự hộ niệm của chư Phật, vào cửa pháp thâm tịnh của các Bồ-tát, diễn nói tất cả các pháp vi diệu, không điều gì sai trái, có thể xót thương hết tất cả chúng sinh. Ở trong mỗi niệm, rốt ráo rõ biết các địa vi công đức tạng nghĩ bàn được và chẳng nghĩ bàn được. Ở trong chẳng nghĩ bàn sinh ra nghĩ bàn, bày các pháp môn, lìa đường ngôn ngữ, được địa vị trí tuệ. Tất cả Bồtát đều đồng đẳng hết, đến tận bến bờ vị lai, tu hạnh Bồ-tát chưa từng ngưng nghỉ, đủ hạnh Phổ Hiền, xa lìa tất cả vọng tưởng thế gian và đường ngữ ngôn, thọ trì đầy đủ đại nguyện tự tại, tu hạnh Bồ-tát chưa từng đoạn tuyệt.

Do căn lành của tâm không trói, không buộc giải thoát này mà Bồ-tát vào tất cả tánh chúng sinh trí vi tế, phân biệt tánh chúng sinh trí vi tế, diễn nói đầy đủ tánh chúng sinh trí vi tế, nhiễm trước tánh chúng sinh trí vi tế, tánh bất động của chúng sinh trí vi tế, tánh động của chúng sinh trí vi tế, vô lượng, vô biên đường đến tánh chúng sinh trí vi tế, chẳng thể nghĩ bàn chủng loại hạnh tánh chúng sinh trí vi tế, tánh chúng sinh vô lượng phiền não trí vi tế, tánh chúng sinh vô lượng thanh tịnh trí vi tế.

Tất cả cảnh giới tánh chúng sinh trí vi tế như vậy…, ở trong một niệm Bồ-tát đều biết rõ như thật, điều phục yên ổn tất cả chúng sinh, đúng như ứng nói pháp mà chẳng mất thời cơ. Bồ-tát thường chuyển pháp luân giáo hóa chúng sinh, nói các pháp môn, tu Bồ-tát đạo, trí tuệ đầy đủ, hóa thân không lường, làm yên ổn cho chúng sinh, đều khiến cho vui mừng. Mặt trời trí tuệ chiếu khắp, thâm nhập Bồ-đề, lòng được trí giác ngộ của Bồ-tát, an trụ cảnh giới trí của Bồ-tát, tu tập trí Đại thừa, rốt ráo hạnh Phổ Hiền.

Do căn lành của tâm không trói, không buộc giải thoát này mà Bồ-tát có thể phân biệt biết hết hư không giới trong pháp giới…, tất cả thế giới, trí vi tế, tiểu thế giới trí vi tế, trung thế giới trí vi tế, thế giới bất tịnh trí vi tế, thế giới thanh tịnh trí vi tế, thế giới vô tỷ trí vi tế, tạp thế giới trí vi tế, thế giới rộng trí vi tế, thế giới hẹp trí vi tế, thế giới vô ngại trang nghiêm trí vi tế. Tất cả thế giới chư Phật ra đời thị hiện tất cả trí vi tế, diễn nói tất cả thế giới trí vi tế, một thân tràn đầy tất cả thế giới trí vi tế, phóng ra ánh sáng không lường soi tất cả thế giới trí vi tế, tất cả chư Phật trong tất cả thế giới hiển hiện thần lực tự tại trí vi tế, chư Phật hiện tại trong tất cả thế giới được đại chúng vây quanh trí vi tế, tất cả pháp giới tạo tác một cõi Phật trí vi tế, tất cả thế giới như mộng trí vi tế, tất cả thế giới như chớp trí vi tế…

Tất cả thế giới trí vi tế như vậy…, Bồ-tát đều phân biệt biết, rốt ráo liễu đạt các hạnh Bồ-tát đều như huyễn cả, rốt ráo hạnh Phổ Hiền Bồ-tát với trí tự tại, được minh quán của Bồ-tát Phổ Hiền, hành tất cả hạnh Bồ-tát không có ngưng nghỉ, lìa hết điên đảo, thấy tất cả Phật và tự tại của Phật, được thân vô ngại, trí vô sở y. Các pháp căn lành không bị nhiễm trước, hành động trong tâm đều không sở hữu, lìa bỏ tướng kiên cố các phương, nghiêm tịnh tưởng hành động Bồtát mà chưa từng thủ lấy tưởng Nhất thiết trí, chẳng chấp trước trí tuệ trang nghiêm Tam-muội của chúng sinh, thuận theo tất cả pháp giới, ở tất cả thế giới tu hạnh Bồ-tát.

Do căn lành của tâm không trói, không buộc giải thoát này mà Bồ-tát thâm nhập vô lượng pháp giới trí vi tế, diễn nói tất cả pháp giới trí vi tế, rộng độ pháp giới trí vi tế, phân biệt chẳng thể nghĩ bàn pháp giới trí vi tế, phân biệt tất cả pháp giới trí vi tế, ở trong một niệm tràn đầy tất cả pháp giới trí vi tế, bình đẳng quán tất cả pháp giới trí vi tế, cảnh giới tất cả pháp giới bằng trí vô sở hữu vi tế, quan sát tất cả pháp giới bằng trí vô ngại vi tế, giải tất cả pháp giới bằng trí bất sinh vi tế, thân ghi tất cả pháp giới bằng trí tự tại vi tế…

Tất cả pháp giới trí vi tế như vậy…, Bồ-tát đều rốt ráo hết, thành tựu hạnh Phổ Hiền, thọ trì trí tuệ, được pháp tự tại, khiến cho chúng sinh vui mừng. Chẳng bỏ nghĩa thân, chẳng thấy Pháp thân, sinh ra trí bình đẳng vô ngại, được hạnh vô ngại. Chẳng chấp trước các pháp, lìa tất cả hữu, chân thật không nhiễm, thuận theo thế gian hành pháp ngôn ngữ, thường ưa tịch tĩnh chẳng bỏ thật nghĩa, trí tuệ thanh tịnh diệt trừ hư vọng, tất cả sở hữu đều chẳng phải kiên cố, giác ngộ không lường tất cả pháp giới. Tất cả thế gian bình đẳng chẳng hai, không chỗ y chỉ, được vào cửa hạnh Bồ-tát Phổ Hiền, rốt ráo thành tựu trí tuệ bình đẳng.

Do căn lành của tâm không trói, không buộc giải thoát này, Bồ-tát có thể phân biệt hết tất cả các kiếp trí vi tế. Vô lượng kiếp tức là một niệm với trí vi tế, một niệm tức là vô lượng kiếp với trí vi tế. A-tăng-kỳ kiếp tức là một kiếp với trí vi tế, một kiếp tức là atăng-kỳ kiếp với trí vi tế. Trường kiếp tức là đoản kiếp với trí vi tế, đoản kiếp tức là trường kiếp với trí vi tế. Vào kiếp có Phật, kiếp không Phật với trí vi tế; tính biết tất cả kiếp không còn với trí vi tế; nói tất cả kiếp, phi kiếp với trí vi tế; trong một niệm hiểu tất cả các kiếp quá khứ, vị lai, hiện tại tế không còn sót với trí vi tế…

Tất cả các kiếp như vậy…, trong một niệm dùng trí Như Lai, Bồ-tát biết được tâm vua của tất cả Bồ-tát hạnh viên mãn; biết được tâm hành đạo rốt ráo của Bồ-tát Phổ Hiền; biết được tất cả tâm lìa hư vọng; biết được tâm chẳng thoái đại nguyện; biết được tâm thị hiện trong lưới vô lượng, vô biên thế giới, tất cả các Đức Như Lai tràn đầy khắp; biết được tâm nghe trì các căn lành của Phật, hạnh của Bồ-tát; biết được tâm, ban cho chúng sinh đại vô úy; biết được tâm trong tất cả kiếp thị hiện các Đức Phật ra đời; biết được tâm trong mỗi một thế giới, đến tận vị lai tế hành đạo Bồ-tát không ngưng nghỉ; biết được tâm trong tất cả thế giới thân nghiệp Như Lai sung mãn thân Bồ-tát.

Do căn lành của tâm không trói, không buộc giải thoát này mà Bồ-tát biết vô lượng thậm thâm pháp trí vi tế, thắng pháp trí vi tế, tạp pháp trí vi tế, trang nghiêm pháp trí vi tế, rộng nói tất cả pháp trí vi tế. Tất cả pháp tức là một pháp trí vi tế, phi pháp vào tất cả pháp cũng chẳng trái pháp trí vi tế, vào tất cả Phật pháp phương tiện không còn vị trí vi tế…

Tất cả các pháp vi tế như vậy, Bồ-tát dùng trí vô ngại đều có thể rõ biết cả, được tâm tất cả hạnh đồng một hạnh, được tâm rốt ráo vô lượng, vô biên vô ngại. Bồ-tát dùng Nhất thiết trí sung mãn các căn, tất cả Phật trí, chính niệm phương tiện đều hiện tiền hết. Thành tựu công đức rộng lớn của chư Phật tràn đầy thế giới, vào khắp tất cả thân Như Lai, thị hiện tất cả thân nghiệp Bồ-tát, phát ra âm thanh vi diệu khắp cùng thế giới, tất cả chỗ Phật. Bồ-tát được sức uy thần ý nghiệp trí tuệ, sinh ra vô lượng phân biệt phương tiện Nhất thiết chủng trí, tu hạnh Phổ Hiền, được trí chẳng thoái chuyển.

Do căn lành của tâm không trói, không buộc giải thoát này mà Bồ-tát sinh ra tất cả cõi Phật vô dư trí vi tế; sinh ra tất cả thông trí tuệ của chúng sinh vô dư trí vi tế; sinh ra nghiệp báo các pháp vô dư trí vi tế; sinh tâm tất cả chúng sinh vô dư trí vi tế; sinh ra tùy thời thuyết pháp vô dư trí vi tế; sinh ra phân biệt tất cả pháp giới vô dư trí vi tế; sinh ra hư không giới ngang bằng ba đời trí tuệ vô dư trí vi tế; sinh ra tất cả ngữ ngôn đạo pháp vô dư trí vi tế; sinh ra các pháp của tất cả thế giới vô dư trí vi tế, sinh ra pháp lìa thế gian hành vô dư trí vi tế… Tất cả sinh ra trí vi tế như vậy, tất cả đạo Như Lai, tất cả đạo Bồ-tát, tất cả đạo chúng sinh sinh ra trí vi tế. Tu hạnh Bồ-tát, an trụ hạnh Phổ Hiền, theo nghĩa theo vị đều biết đúng như thật, như mộng, như chớp, như huyễn, như tiếng vang, như hóa, tịch diệt. Tất cả pháp giới không có chân thật, không chỗ nhiễm trước, sinh ra trí tuệ bình đẳng của các đức Phật đều rốt ráo; tu hạnh Phổ Hiền, sinh ra trí vi tế.

Đại Bồ-tát như dùng căn lành của tâm không trói, không buộc giải thoát này đều hồi hướng hết, chẳng chấp thủ thế gian và pháp thế gian; chẳng chấp thủ Bồ-đề và Bồ-tát; chẳng chấp thủ hạnh Bồ-tát và đường ra sinh tử; chẳng chấp thủ tất cả Phật và Phật pháp; chẳng chấp thủ chúng sinh điều phục và chúng sinh chẳng điều phục, chẳng chấp căn lành và hồi hướng; chẳng chấp thủ tự mình và người khác; chẳng chấp thủ vật thí và người nhận; chẳng chấp thủ hạnh Bồ-tát và Bồ-đề; chẳng chấp thủ pháp và người hiểu pháp.

Đại Bồ-tát hồi hướng căn lành của tâm không trói, không buộc giải thoát như vậy thì thân không trói, không buộc giải thoát, miệng không trói, không buộc giải thoát, nghiệp không trói, không buộc giải thoát, báo không trói, không buộc giải thoát, thế gian không trói, không buộc giải thoát, cõi Phật không trói, không buộc giải thoát, chúng sinh không trói, không buộc giải thoát, pháp không trói, không buộc giải thoát, trí không trói, không buộc giải thoát.

Đại Bồ-tát hồi hướng như vậy thì cùng với chư Phật, tất cả Bồtát ba đời hồi hướng đồng đẳng; thành tựu hồi hướng an trụ với các Đức Phật và tất cả Bồ-tát ba đời.

Ở nơi các Đức Phật, tất cả Bồ-tát hồi hướng được sự không thoái chuyển, thuận theo lời dạy của tất cả Đức Phật quá khứ, đầy đủ lời dạy của tất cả Phật vị lai, được lời dạy bảo của tất cả Phật hiện tại. Đầy đủ chánh pháp bình đẳng của chư Phật quá khứ; thành tựu chánh pháp bình đẳng của chư Phật vị lai; hướng về tất cả chư Phật quá khứ, cùng trụ ở cảnh giới tất cả chư Phật vị lai, cùng ngang bằng với tất cả chư Phật hiện tại; cùng căn lành với chư Phật ba đời, cùng với chư Phật ba đời cùng một cảnh giới, chẳng trái với chư Phật ba đời.

Này Phật tử! Đó là pháp hồi hướng thứ chín, căn lành giải thoát không trói, không buộc của Đại Bồ-tát.

Đại Bồ-tát an trụ ở căn lành này thì tất cả căn lành hồi hướng, tất cả núi Kim cang chẳng thể hoại được, thù thắng đệ nhất đối với tất cả chúng sinh. Tất cả chúng ma chẳng thể pháp hoại được, có thể tiêu diệt hết tà nghiệp của chúng ma. Hiện khắp tất cả thế giới, hành Bồ-tát hạnh, dùng phương tiện khéo rộng vì chúng sinh nói các Phật pháp, lìa bỏ ngu si, thuận theo tất cả trí tuệ Phật pháp.

Đại Bồ-tát theo chỗ sinh sống, đi, đứng, ngồi, nằm…, tất cả thường được quyến thuộc chẳng hoại, được niệm thanh tịnh, có thể nghe trì hết tất cả các pháp của Như Lai ba đời, đến tận kiếp vị lai tế hành Bồ-tát hạnh chưa từng ngưng nghỉ mà không nhiễm trước, được hạnh Phổ Hiền, các nguyện thỏa mãn, được Nhất thiết trí, thi hành Phật sự đều được vô lượng tự tại của các Đức Phật và Bồ-tát.

Lúc bấy giờ, Bồ-tát Kim Cang Tràng nhờ vào thần lực của Đức Phật, quan sát khắp mười phương, dùng kệ khen rằng:

Bồ-tát chưa từng có khinh mạn
Đấng Vô Tỷ tất cả các phương
Theo nghiệp vốn đã tu công đức
Cũng chẳng sinh khinh mạn trong lòng
Đã tu tất cả các công đức
Chẳng vì bản thân, vì người khác
Dùng tâm giải thoát không trói buộc
Hồi hướng lợi ích khắp chúng sinh
Nguyện lìa tất cả sự tự cao
Cũng lại bỏ kiêu mạn trong lòng
Đối với Tối Thắng khởi thân nghiệp
Khuyến thỉnh nói pháp bằng nhiều cách
Đã làm vô lượng các công đức
Lợi ích tất cả loài chúng sinh
An trụ tâm giải thoát không trói
Hồi hướng tất cả các Thế Tôn
Thế gian vô lượng loại quần sinh
Các kỹ thuật, phương tiện vô số
Việc thắng diệu thậm thâm vi tế
Đều phân biệt, biết rõ tất cả
Các loại thân có ở thế gian
Đều do nghiệp thân tạo ra cả
Giác ngộ vô lượng nghiệp sinh tử
Chứng được môn trí tuệ không thoái
Mười phương tất cả vô lượng cõi
Thế giới vi tế, đẹp, hay cúi
Bồ-tát thâm nhập cửa trí tuệ
Biết rõ trong từng lỗ chân lông
Tâm vô lượng tất cả chúng sinh
Người sáng biết rõ chỉ một tâm
Bồ-tát giác ngộ cửa trí tuệ
Chẳng bỏ, thêm lớn các nghiệp lành
Tất cả chúng sinh, đủ loại căn
Thượng trung hạ phẩm đều chẳng đồng
Có các công đức rất thậm thâm
Bồ-tát theo tánh biết rõ thông
Tất cả chúng sinh đủ thứ nghiệp
Tướng phẩm sai biệt thượng, hạ, trung
Bồ-tát vào sâu Như Lai lực
Đều phân biệt đầy đủ biết rõ
Chẳng thể nghĩ bàn kiếp không lường
Đều hay rõ biết là một niệm
Các nghiệp hoạt động khắp mười phương
Bồ-tát giác ngộ thanh tịnh biết
Đều biết thông khắp cả ba đời
Phân biệt tướng ấy đều chẳng đồng
Mà cũng chẳng trái tướng bình đẳng
Tức là hạnh Bồ-tát lìa si
Tất cả chúng sinh, nghiệp không lường
Ái, mạng, các kết lại chẳng đồng
Biệt tướng Bồ-tát phân biệt biết
Quán vô tướng cũng chẳng buông bỏ
Các Như Lai mười phương thế giới
Thị hiện dầy đủ đại tự tại
Khó thấy, khó được, khó nghĩ bàn
Bồ-tát đều hay phân biệt hết
Đại Đạo Sư Đâu-suất-đà thiên
Nhân Sư Tử tối thắng vô tỷ
Công đức rất sâu rộng sạch trong
Thấy tánh ấy tất cả như thật
Ở thai mẹ, thị hiện giáng trần
Vô lượng tự tại đại thần biến
Thành Phật, Niết-bàn, Chuyển pháp luân
Tất cả thế gian không thể chuyển
Sư tử trong người khi mới sinh
Tất cả các thắng đều phụng kính
Vua trời, Đế Thích, Phạm Thiên vương
Những người có trí đều hầu kính
Mười phương tất cả không có còn
Vô lượng, vô số các thế giới
Không đầu, không cuối, không trung gian
Thị hiện vô lượng sức tự tại
Đạo Sư loài người đã đản sinh
Hướng đều các phương đi bảy bước
Quan sát tất cả loài chúng sinh
Pháp môn vô ngại giác tất cả
Thấy chúng sinh đắm chìm năm dục
Bậc Nhân Sư Tử hiện mỉm cười
Chúng sinh mù tối bị ngu si
Ta sẽ độ thoát khổ ba cõi
Đại Sư Tử rống lên diệu âm
Ta là Đấng Thế Gian bậc nhất
Hiển hiện đèn trí tuệ sáng ngời
Mãi diệt tối ngu si sinh tử
Sư Tử loài người xuất thế gian
Phóng ánh sáng lớn không có lượng
Phá tan tất cả các đường ác
Diệt rốt ráo chúng khổ không lường
Hoặc lúc thị hiện ở cung điện
Hoặc hiện bỏ nhà đi học đạo
Sư Tử trong người hiện tự tại
Lợi ích cho tất cả chúng sinh
Bồ-tát lúc mới ngồi đạo tràng
Những đại địa, sáu thứ chấn động
Phóng khắp ánh sáng lớn không lường
Soi khắp chúng sinh ở năm đường
Chấn động tất cả cung điện ma
Khai phát tâm chúng sinh mười phương
Ai từng kết duyên với Bồ-tát
Đều giác ngộ hết nghĩa chân thật
Vô lượng thừa trong một sợi lông
Mười phương tất cả các cõi Phật
Đường chúng sinh, thừa không có lường
Xuất hiện Tối thắng đại thần biến
Phương tiện như vậy tùy thuận giác
Diễn nói đúng pháp như Phật dạy
Cả những điều Như Lai chẳng nói
Cũng giải rõ phân biệt biết thông
Diệt trừ tất cả mọi ma oán
Che khắp tất cả ba ngàn cõi
Vào sâu tất cả cửa vô ngại
Phá tan tất cả các cõi ma
Như Lai hoặc tại các cõi Phật
Hoặc thị hiện ở những Thiên cung
Hoặc lại hiện thân điện Phạm cung
Bồ-tát đều thấy không ngại ngăn
Chuyển bánh xe pháp diệu thanh tịnh
Pháp thân Như Lai không biên giới
Ở hết ba đời tất cả kiếp
Tối thắng diễn nói không tận cùng
Tòa Sư tử vô thượng chư Phật
Đều có khắp hết cõi mười phương
Trang nghiêm bằng đủ loại diệu tướng
Phật ngồi tòa ấy khó nghĩ bàn.
Phật tử chân chánh đều vây quanh
Tràn đầy pháp giới không có thiếu
Nói hạnh Bồ-tát không bờ cõi
Đạo giải thoát thuận theo Thế Tôn
Người trí hay dùng một phương tiện
Gồm các Phật pháp không còn thiếu.
Đủ thứ pháp trang nghiêm tối thắng
Ở hết thảy pháp giới đầy tràn
Diệu tự tại vô lượng vô thượng
Thị hiện tất cả các loại thân
Hoặc hiện thân chúng sinh các nẻo
Hoặc hiện chúng thể nữ vây quanh
Thị hiện hạnh xuất gia học đạo
Muốn khiến chúng sinh lợi các căn
Cho đến thị hiện Bát-niết-bàn
Phân bổ xá-lợi, tháp dựng lên
Đủ thứ hạnh không lường như vậy
Phật diễn nói chỗ trụ Thế Tôn
Tất cả các công đức Như Lai
Biết cùng rốt ráo đến bờ kia
Đủ thứ hạnh không lường như vậy
Ở tất cả các kiếp không ngừng nghỉ
Cũng chưa từng sinh lòng lo lắng
Bồ-tát đều khéo hồi hướng luôn
Tất cả sức tự tại của Phật
Và các công đức Phật không lường
Bồ-tát thuận theo đều biết rõ
Thuyết giảng vì tất cả chúng sinh
Tất cả các Pháp vương như vậy
Tùy thời các cảnh giới không lường
Ở trong một niệm đều giác ngộ
Mà hạnh Bồ-tát chẳng bỏ quên
Tất cả pháp thậm thâm tối thắng
Và đường chánh pháp cõi Thế Tôn
Thuận theo giác ngộ hạnh thù thắng
Đến bờ kia, hồi hướng tận cùng
Có số, không số tất cả kiếp
Trong một niệm, Bồ-tát hiểu rõ
Tu tập đầy đủ hạnh Bồ-tát
Với thắng đạo đó chẳng thoái chuyển
Mười phương không lường tất cả cõi
Hoặc dơ bẩn hoặc đẹp, sạch trong
Và tất cả Như Lai ở đó
Bồ-tát đều phân biệt biết rõ
Ở trong một niệm đều sáng tỏ
Vô lượng kiếp chẳng thể nghĩ bàn
Rõ biết kiếp ba đời như vậy
Rốt ráo hạnh đầy đủ an trụ
Tâm sở hành vào sâu liễu đạt
Tất cả pháp, phương tiện khéo hành
Tất cả cõi Phật, hạnh Bồ-tát
Đều hay phân biệt biết rõ ràng
Sinh ra trí tuệ không có lượng
Sinh ra các pháp và chúng sinh
Sinh ra sức Bồ-đề tự tại
Tất cả đều không có bờ biên
Vào sâu tất cả không còn nữa
Tất cả diệu pháp phân biệt rành
Phân biệt biết hết tướng dị đồng
Tu hạnh Bồ-tát đủ, mênh mông
Mười phương tất cả các cõi Phật
Đó có vô số chúng không lường
Từng người ở đó khác tâm tánh
Bồ-tát đều phân biệt biết rành
Tất cả các Như Lai quá khứ
Vị lai, hiện tại Thầy dẫn đường
Nếu hay biết hồi hướng như vậy
Thì ngang bằng cùng Phật ba đời
Nếu hay biết hồi hướng như vậy
Thì cùng Thắng công đức ngang bằng
Thì cùng Tối thắng bằng trí tuệ
Thì hạnh ngang bằng với Tối thắng
Tất cả thế gian không thể hoại
Các sở học thì đều thành đạt
Thuận theo tất cả các Tối thắng
Có thể quan sát khắp thế gian
Sở hạnh Bồ-tát chẳng thể lượng
Công đức đều đầy đủ không lường
Hạnh Như Lai an trụ kiên cố
Sức tự tại phân biệt đầy đủ.

Này Phật tử! Pháp hồi hướng khắp vô lượng pháp giới thứ mười của Đại Bồ-tát là gì?

Này Phật tử! Đại Bồ-tát này có dải lụa ly cấu buộc ở đỉnh, được thọ ký là Pháp sư, có thể bố thí Pháp rộng rãi, thành đại Từ bi, an lập chúng sinh ở tâm Bồ-đề, lợi ích chúng sinh chưa từng ngưng nghỉ. Bồ-tát dùng căn Bồ-đề nuôi lớn căn lành. Vì tất cả chúng sinh mà làm Điều Ngự Sư, bày cho chúng sinh đạo Nhất thiết trí; vì tất cả chúng sinh làm mặt trời Pháp tạng, ánh sáng tịnh căn lành soi khắp tất cả. Tâm bình đẳng quan sát khắp tất cả chúng sinh, muốn khiến cho chúng sinh thường hành căn lành chưa từng ngưng nghỉ, thêm lớn trí tuệ thanh tịnh vi diệu, chẳng bỏ tất cả căn lành đạo nghiệp. Vì tất cả chúng sinh làm Thầy dẫn đường đại trí tuệ, thu nhặt báu, mở bày tất cả chính đạo yên ổn, lấy tất cả chúng sinh làm đầu các pháp tu hành, khiến cho tất cả chúng sinh được Thiện tri thức chân chính chẳng thể hoại, nuôi lớn căn lành.

Đại Bồ-tát hành pháp thí… tất cả pháp lành giữ lấy tâm Nhất thiết trí, rốt ráo chánh lực, đến với bờ kia, tu hành kiên cố khó hoại tâm Bồ-đề, thường ưa đại nguyện, tu tập Bồ-đề, nương theo Thiện tri thức, lìa khỏi lòng dối trá, chuyên cầu Bồ-đề, phân biệt không lường tất cả cảnh giới môn. Đại Bồ-tát đối với căn lành hồi hướng rộng lớn đó mà không hạn ngại…, cho đến một câu một vị của lời thuyết pháp của đức Phật, hoặc nghe, hoặc trì, hoặc nói.

Dùng căn lành này hồi hướng như vậy, Bồ-tát một lòng chánh niệm các Bồ-tát ba đời trong thế giới của vô lượng hư không giới…, hành Bồ-tát hạnh, dùng căn lành này hồi hướng thì khiến cho tất cả các Đức Phật thường thủ hộ niệm; ở một thế giới đến tận kiếp vị lai vì một chúng sinh tu hạnh Bồ-tát. Như Lai vì một chúng sinh tu hạnh Bồ-tát thì vì tất cả chúng sinh cũng như vậy. Vì tất cả chúng sinh dùng đại trang nghiêm để tự trang nghiêm, Bồ-tát chẳng sinh ý tưởng lìa khỏi Thiện tri thức Phật. Bồ-tát được tư tưởng đó nên thường thấy tất cả các Đức Phật hiện tại, cho đến sau này chưa từng xa lìa một đức Phật. Những phạm hạnh đáng khen ngợi của các Đức Phật, Bồ-tát đều đầy đủ hết.

Tu hành phạm hạnh chẳng khuyết, phạm hạnh đầy đủ chẳng phá, phạm hạnh chẳng trược, phạm hạnh vô cấu, phạm hạnh bất thoái, phạm hạnh chẳng hoại, phạm hạnh được chư Phật tán thán, phạm hạnh vô y, phạm hạnh vô sở hữu, phạm hạnh lìa điên đảo thanh tịnh thuận theo ba đời chư Phật và Bồ-tát, phạm hạnh vô ngại vi tế vô thủ, phạm hạnh vô tránh, phạm hạnh vô trạch, phạm hạnh an trụ, phạm hạnh vô tỷ, phạm hạnh bất động, phạm hạnh bất loạn, phạm hạnh vô nhuế…

Như phạm hạnh tất cả đã hành hôm nay tất cả chúng sinh đều an trụ hết ở những phạm hạnh này: Tu tập phạm hạnh đầy đủ, phạm hạnh thanh tịnh, phạm hạnh ly cấu, phạm hạnh minh chiếu, phạm hạnh ly trần, phạm hạnh ly uế, phạm hạnh ly nhiệt, phạm hạnh ly triển, phạm hạnh ly nhất thiết nghi, phạm hạnh ly nhất thiết não hại… được đến bờ bên kia.

Vì sao vậy? Vì Bồ-tát nếu tự chẳng tu phạm hạnh mà khiến người khác tu phạm hạnh thì không có điều đó.

Bồ-tát tự thoái lui phạm hạnh mà khiến cho người khác đầy đủ phạm hạnh thì không có điều đó.

Bồ-tát tự phá phạm hạnh mà khiến cho người khác an lập phạm hạnh thì không có điều đó.

Bồ-tát tự lìa phạm hạnh mà khiến cho người khác lập đạo phạm hạnh thì không có điều đó.

Bồ-tát tự diệt phạm hạnh mà khiến cho người khác tu tập phạm hạnh thì không có điều đó.

Bồ-tát chẳng ưa phạm hạnh mà khiến cho người khác ưa tu phạm hạnh thì không có điều đó.

Bồ-tát chẳng trụ phạm hạnh mà khiến cho người khác an trụ phạm hạnh thì không có điều đó.

Bồ-tát chẳng rốt ráo phạm hạnh mà khiến cho người khác rốt ráo phạm hạnh thì không có điều đó.

Bồ-tát tự xả phạm hạnh mà khiến cho người khác chẳng xả an trụ phạm hạnh thì không có điều đó.

Bồ-tát hoại tan phạm hạnh mà khiến cho người khác giữ lấy phạm hạnh thì không có điều đó.

Vì sao vậy? Vì Đại Bồ-tát đúng như lời nói tu hành, xa lìa điên đảo, lại có thể thuyết giảng rộng rãi pháp lìa điên đảo. Lời nói thật, hành động thật, Bồ-tát tu tập nghiệp thân, miệng, ý thanh tịnh, lìa các nhiễm ô, hành không chỗ ngại, diệt tất cả chướng.

Đại Bồ-tát lòng tự ngay thẳng khiến lòng người khác ngay thẳng. Bồ-tát tu tập nhẫn nhục, dùng các căn lành điều phục tâm ấy. Bồ-tát tự lìa si hối, khiến cho người khác lìa si hối.

Bồ-tát tự được lòng tin hoan hỷ, khiến cho người khác được lòng tin chẳng hoại. Bồ-tát tự hành kiên pháp, khiến cho người khác hành kiên pháp.

Đại Bồ-tát hồi hướng căn lành như vậy.

Lại nữa, Đại Bồ-tát dùng pháp thí các căn lành môn như vậy hồi hướng, thì do căn lành này khiến cho tất cả chúng sinh đều được pháp môn vô tận của các Đức Phật, phân biệt giải nói các pháp môn của Phật; tiêu diệt tất cả tà luận ngoại, đạo khiến cho cạn lời đuối lý.

Bồ-tát được hết pháp hải đã nói của chư Phật ba đời. Ở mỗi một pháp sinh, mỗi một pháp phương tiện, mỗi một pháp ngôn ngữ, mỗi một pháp thi thiết, mỗi một pháp giáo, mỗi một pháp nói, mỗi một pháp môn, mỗi một pháp nhập, mỗi một pháp quyết định, mỗi một pháp trụ…, đều được vô lượng, vô biên Pháp tạng vô tận. Được pháp vô úy, thâm nhập vào bốn Biện tài, rộng vì chúng sinh nói pháp vi diệu đến tận vị lai tế mà không cùng tận. Thành tựu tâm chánh trực, lìa khỏi các điên đảo, phát sinh đạo vô ngại; lời nói không lầm lỗi, chúng sinh nghe pháp đều hoan hỷ cả.

Bồ-tát hiểu rõ tất cả tiếng nói của chúng sinh, được tất cả pháp minh không thoái chuyển. Tất cả chúng sinh hoan hỷ không lường, đều được an trụ ở Nhất thiết chủng trí, đầy đủ pháp biện minh tịnh ly si, nghe trì các pháp, có thể phân biệt hết tất cả thế giới, được vô lượng thân ngang bằng pháp giới. Ở trong một niệm có thể có khắp hết tất cả pháp giới. Âm thanh vi diệu đầy khắp vô lượng, vô biên pháp giới. Thị hiện quyến thuộc tràn đầy pháp giới. Tu tịnh nghiệp của Bồ-tát ngang bằng pháp giới. Được vô lượng sở trụ của Bồ-tát ngang bằng pháp giới. Được vô lượng pháp quyến định ngang bằng pháp giới. Hoặc rốt ráo vô lượng những pháp ngang bằng pháp giới. Trụ vô lượng hạnh của Bồ-tát ngang bằng pháp giới. Hồi hướng vô lượng pháp bên trong của Bồ-tát ngang bằng pháp giới.

Đại Bồ-tát hồi hướng căn lành như vậy, khiến cho tất cả chúng sinh đầy đủ Nhất thiết trí, an trụ Nhất thiết trí.

Lại nữa, Đại Bồ-tát hồi hướng căn lành như vậy thì thấy vô lượng tất cả các Đức Phật ngang bằng pháp giới; điều phục vô lượng chúng sinh ngang bằng pháp giới; nghiêm tịnh vô lượng cõi Phật ngang bằng pháp giới; được vô lượng sở úy ngang bằng pháp giới; được vô lượng biện thâm diệu ngang bằng pháp giới; được vô lượng Đà-la Niết-bàn của tất cả Bồ-tát ngang bằng pháp giới; được vô lượng chẳng thể nghĩ bàn Bồ-tát trụ ngang bằng pháp giới; đầy đủ vô lượng công đức tạng ngang bằng pháp giới, đầy đủ vô lượng căn lành thật nghĩa ngang bằng pháp giới.

Đại Bồ-tát lại có ý niệm: “Do căn lành này mà khiến cho tất cả chúng sinh được hết những pháp đó, đầy đủ thành tựu viên mãn như tất cả không khác. Tất cả hạnh ngang bằng, công đức ngang bằng, trí tuệ ngang bằng, lực ngang bằng, vô úy ngang bằng, tự tại ngang bằng, chánh giác ngang bằng, thuyết pháp ngang bằng.” Đại Bồ-tát hồi hướng căn lành như vậy.

Lại nữa, Đại Bồ-tát hồi hướng căn lành như vậy thì như pháp giới không lường, sinh ra trí tuệ cũng như vậy. Như pháp giới không lường thấy được, chư Phật cũng như vậy. Như pháp giới không lường, đi đến chỗ Đức Phật cũng như vậy. Như pháp giới không lường, sở hạnh của Bồ-tát cũng như vậy. Như pháp giới chẳng thể đoạn, Nhất thiết trí cũng như vậy. Như pháp giới bằng một, được Nhất thiết trí cũng như vậy. Như pháp giới tự nhiên thanh tịnh, khiến tất cả chúng sinh thanh tịnh cũng như vậy. Như pháp giới thuận theo đến hết tất cả, khiến cho tất cả chúng sinh hành theo hạnh Bồ-tát Phổ Hiền cũng như vậy. Như pháp giới trang nghiêm tất cả chúng sinh, khiến cho tất cả chúng sinh được Bồ-tát Phổ Hiền trang nghiêm cũng như vậy. Như pháp giới chẳng thể hoại, khiến cho tất cả chúng sinh được căn lành chẳng hoại như vậy.

Lại nữa, Đại Bồ-tát dùng căn lành này hồi hướng như vậy thì khiến cho chư Phật và Bồ-tát đều hoan hỷ; khiến cho tất cả căn lành đi đến Nhất thiết chủng trí, đến tất cả đạo; khiến cho tất cả chúng sinh thường thấy các Đức Phật.

Lại nữa, Đại Bồ-tát dùng căn lành này hồi hướng như vậy thì thấy tất cả Đức Phật, có thể làm Phật sự nên hồi hướng; thấy tất cả Đức Phật, chẳng đối với Phật sự sinh lòng chấp trước nên hồi hướng; thấy tất cả Đức Phật, đều khiến cho chúng sinh được thanh tịnh khắp nên hồi hướng; thấy tất cả Đức Phật, đều có thể biết rõ nên hồi hướng; thấy tất cả Đức Phật, đều không chấp trước nên hồi hướng; thấy tất cả Đức Phật, đều có thể phân biệt pháp vô ngại nên hồi hướng; thấy tất cả Đức Phật, đủ hạnh Phổ Hiền nên hồi hướng; thấy tất cả Đức Phật, chưa từng thất thời nên hồi hướng; thấy tất cả Đức Phật, sinh ra các lực Bồ-tát không lường nên hồi hướng; thấy tất cả Đức Phật, chẳng quên pháp ấy nên hồi hướng.

Bồ-tát dùng căn lành này như vậy thì hiểu rõ pháp giới vô sinh, hiểu rõ pháp giới vô tánh, pháp giới như như, pháp giới vô y, pháp giới không hư vọng, pháp giới ly tướng, pháp giới tịch tĩnh, pháp giới không xứ sở, vi tế không đi không đến, pháp giới không hoại.

Lại nữa, Đại Bồ-tát dùng căn lành này hồi hướng như vậy, dùng căn lành gom pháp thí này thì khiến cho tất cả chúng sinh thành đại Pháp sư trụ ở vô lượng tự tại của tất cả Phật; khiến cho tất cả chúng sinh làm Pháp sư vô thượng, an lập chúng sinh ở Nhất thiết trí; khiến cho tất cả chúng sinh thành Pháp sư vô hoại, tất cả vấn nạn không thể làm cho tận cùng; khiến cho tất cả chúng sinh làm Pháp sư vô ngại, đầy đủ các pháp vô ngại soi sáng; khiến cho tất cả chúng sinh làm Pháp sư trí tạng, bằng phương tiện vi diệu nói tất cả Phật pháp; khiến cho tất cả chúng sinh thành tựu Pháp sư Như Lai tự tại, có thể khéo léo nói các Như Lai trí; khiến cho tất cả chúng sinh làm Pháp sư tịnh nhãn, rộng nói pháp chân thật chẳng nhờ người khác dạy; khiến cho tất cả chúng sinh làm Pháp sư chính trì Phật pháp, nói đầy đủ pháp, chẳng mất một vị; khiến cho tất cả chúng sinh làm Pháp sư ly tướng, dùng diệu tướng mà tự trang nghiêm, phóng ra vô lượng ánh sáng, rộng nói các pháp; khiến cho tất cả chúng sinh làm Pháp sư thân lớn, một thân tràn đầy vô số cõi Phật, hưng mây đại pháp mưa Phật pháp khắp nơi; khiến cho tất cả chúng sinh làm Pháp sư chẳng mất biển pháp lớn của Phật pháp, tất cả thế gian không người có thể hoại; khiến cho tất cả chúng sinh làm Pháp sư nhật quang đầy đủ viên mãn, phóng ra ánh sáng Phật tuệ có thể chiếu soi hiển hiện tất cả các pháp; khiến cho chúng sinh làm Pháp sư tùy thuận vấn đáp, phương tiện thiện xảo rộng nói các pháp; khiến cho tất cả chúng sinh làm Pháp sư rốt ráo các hạnh đến bờ kia, phương tiện thiện xảo mở ra vô lượng Pháp tạng; khiến cho tất cả chúng sinh làm Pháp sư kiến lập chính pháp, phân biệt diễn nói đạo trí của Như Lai; khiến cho tất cả chúng sinh làm Pháp sư liễu đạt các pháp, khen ngợi công đức chẳng thể cùng tận; khiến cho tất cả chúng sinh làm Pháp sư chẳng hư dối, vào các phương tiện thậm thâm chân diệu; khiến cho tất cả chúng sinh làm Pháp sư giỏi hiểu biết việc ma, có thể hoại tan hết tất cả những ma; khiến cho tất cả chúng sinh làm Pháp sư được chư Phật bảo hộ, chưa từng khởi lên tâm ngã sở; khiến cho tất cả chúng sinh làm Pháp sư yên ổn chánh pháp, được hết tất cả nguyện lực Bồ-tát.

Đại Bồ-tát dùng căn lành này hồi hướng như vậy mà chẳng chọn lựa nghiệp nên hồi hướng; chẳng chọn lựa báo nên hồi hướng; chẳng chọn lựa nguyện nên hồi hướng; chẳng chọn lựa pháp nên hồi hướng; chẳng chọn lựa việc nên hồi hướng; chẳng chọn lựa nhân nên hồi hướng; chẳng chọn lựa thành pháp nên hồi hướng; chẳng chọn lựa danh, vị hay câu nói nên hồi hướng; chẳng chọn lựa hồi hướng nên hồi hướng; chẳng chọn lựa nghĩa nên hồi hướng.

*********

Đại Bồ-tát dùng căn lành này hồi hướng như vậy mà chẳng chấp trước sắc nên hồi hướng; chẳng chấp trước thanh, hương, vị, xúc, pháp, nên hồi hướng; chẳng cầu sinh lên trời nên hồi hướng; chẳng cầu dục lạc nên hồi hướng; chẳng chấp trước cảnh giới dục nên hồi hướng; chẳng cầu quyến thuộc nên hồi hướng; chẳng cầu tự tại nên hồi hướng; chẳng cầu vui sinh tử nên hồi hướng; chẳng chấp trước sinh tử nên hồi hướng; chẳng chấp trước chết ở đây sinh chỗ kia nên hồi hướng; chẳng cầu an vui ở ba cõi nên hồi hướng; chẳng cầu thụ hưởng với dục nên hồi hướng; chẳng cầu sự vui nên hồi hướng; chẳng vì tâm độc hại nên hồi hướng; chẳng phá hoại căn lành nên hồi hướng; chẳng nương theo ba cõi nên hồi hướng; chẳng chấp trước các vị ngọt của thiền Tam-muội chánh thọ giải thoát nên hồi hướng; chẳng cầu trụ Thanh văn, Duyên giác thừa nên hồi hướng.

Bồ-tát chỉ muốn điều phục tất cả chúng sinh, đủ đầy Nhất thiết chủng trí, rốt ráo trí vô ngại nên hồi hướng: muốn khiến cho tất cả căn lành thanh tịnh vô ngại nên hồi hướng; muốn khiến cho tất cả chúng sinh siêu xuất sinh tử được trí Đại thừa nên hồi hướng, muốn đầy đủ tâm Bồ-đề như Kim cang nên hồi hướng; muốn thành tựu rốt ráo pháp bất tử nên hồi hướng. Muốn trang nghiêm vô lượng chủng tánh của chư Phật, thị hiện Nhất thiết trí tự tại nên hồi hướng. Muốn đầy đủ tất cả pháp minh thần lực tự tại của Bồ-tát nên hồi hướng. Muốn ở tất cả cõi Phật bằng pháp giới hư không giới, hành hạnh Phổ

Hiền mà chẳng thoái chuyển, dùng Kim cang Đại trang nghiêm lìa si mà tự trang nghiêm, đứng vững trên đất của Phổ Hiền Bồ-tát nên hồi hướng. Muốn đến tận kiếp vị lai, hành hạnh Phổ Hiền, độ thoát chúng sinh, thị hiện tất cả các hành trang nghiêm của Phật, an trụ không gián đoạn nên hồi hướng.

Đại Bồ-tát như vậy là tâm bình đẳng hồi hướng, tâm bình đẳng pháp hồi hướng, tâm vô lượng với tất cả chúng sinh hồi hướng, tâm không tranh hồi hướng, tâm không thật có hồi hướng, tâm không loạn hồi hướng, tâm vào hết cả ba đời hồi hướng, tâm đối với chủng tánh của chư Phật ba đời hồi hướng, tâm được thần thông bất tử hồi hướng, tâm được Niết-bàn của Như Lai hồi hướng.

Bồ-tát muốn khiến cho tất cả chúng sinh lìa khỏi địa ngục, ngạ quỉ, súc sinh, chỗ vua Diêm-la nên hồi hướng.

Khiến cho tất cả chúng sinh trừ diệt pháp chướng đạo nên hồi hướng; khiến cho tất cả chúng sinh đều đủ căn lành, vui mừng nên hồi hướng. Muốn chẳng mất thời cơ chuyển pháp luân nên hồi hướng. Muốn khiến cho tất cả chúng sinh thành tựu bánh xe mười Lực, đến bờ kia nên hồi hướng. Muốn khiến cho thỏa mãn vô lượng, vô biên pháp nguyện thanh tịnh của Bồ-tát nên hồi hướng. Muốn thành tựu pháp khí của Thiện tri thức, thuận theo tất cả lời dạy của Thiện tri thức, đầy đủ báu của tâm Bồ-đề nên hồi hướng. Muốn khiến cho tất cả trụ ở pháp thậm thâm của Đức Phật, tu tập chân chánh tất cả Phật pháp, đầy đủ ánh sáng trí tuệ vô thượng nên hồi hướng. Muốn khiến cho ánh sáng tuệ vô ngại của tất cả Bồ-tát thường hiện ở trước mặt nên hồi hướng. Muốn khiến cho tất cả được pháp môn sáng suốt nên hồi hướng. Muốn khiến cho tất cả lìa khỏi khủng bố, đủ cửa tâm Bồ-đề không sợ hãi nên hồi hướng. Muốn khiến cho tất cả được chẳng thể nghĩ bàn những môn trí tuệ vững chắc của Bồ-tát nên hồi hướng. Muốn khiến cho tất cả đại Bi, cứu hộ đều được thanh tịnh nên hồi hướng. Muốn khiến cho tất cả cõi Phật đều hoàn toàn trang nghiêm nên hồi hướng. Muốn khiến cho tất cả trừ diệt tất cả mỗi câu của ma nghiệp và xảo thuật của ma nên hồi hướng. Muốn khiến cho tất cả vượt qua tất cả Phật pháp, được tâm rộng lớn Nhất thiết trí nên hồi hướng.

Đại Bồ-tát dùng căn lành này muốn khiến cho chánh niệm thanh tịnh nên hồi hướng. Muốn quyết định nên hồi hướng. Muốn gom lấy tất cả Phật pháp và phân biệt biết rõ nên hồi hướng. Muốn được vô lượng, vô biên trí vô ngại nên hồi hướng. Muốn được tâm chánh trực thanh tịnh nên hồi hướng, khiến cho tất cả chúng sinh tu tập tâm đại Từ nên hồi hướng; tu tập Hoan hỷ nên hồi hướng; tu tập tâm Xả nên hồi hướng; được cả hai là vô ngại giải thoát và an trụ căn lành nên hồi hướng. Muốn phân biệt tất cả pháp duyên khởi nên hồi hướng. Muốn phân biệt pháp duyên khởi, được tâm pháp hóa sinh nên hồi hướng. Muốn được tâm như tràng dũng mãnh nên hồi hướng; muốn được tràng tạng bất hoại nên hồi hướng. Muốn phá hoại tất cả ma nên hồi hướng. Muốn được tâm thanh tịnh tất cả pháp vô ngại nên hồi hướng; hành tất cả hạnh Bồ-tát, được tâm không thoái chuyển nên hồi hướng. Muốn được tâm ưa cầu thắng diệu nên hồi hướng. Muốn được tất cả pháp công đức, trí tự tại ưa cầu Nhất thiết trí nên hồi hướng. Muốn thỏa mãn tất cả nguyện, diệt tất cả ác, thọ ký ly cấu, được tự tại của Phật, vì tất cả chúng sinh chuyển bánh xe pháp bất thoái nên hồi hướng. Muốn khiến cho những pháp thắng diệu của Như Lai, vô lượng ánh sáng mặt trời. Trí tuệ trang nghiêm, ánh sáng đại trí soi khắp tất cả chúng sinh pháp giới nên hồi hướng. Muốn điều phục tất cả chúng sinh đều hoan hỷ thành tựu đại nguyện, đến tận kiếp vị lai tu hành Bồ-tát, diệt các phiền não, ly cấu thanh tịnh, hủy hoại rách nát lưới ái, trừ ngu si tăm tối, đầy đủ pháp ly cấu vô ngại, tu hành hạnh Bồ-tát chẳng thoái chuyển, được Nhất thiết chủng trí nên hồi hướng. Muốn khiến cho tất cả chúng sinh được thân trí tuệ thượng diệu vô ngại, thị hiện các thân Phật không lường nên hồi hướng.

Đại Bồ-tát hồi hướng căn lành như vậy chẳng chấp trước năm dục, chẳng lệ thuộc ba cõi. Vì sao vậy? Vì Đại Bồ-tát dùng căn lành không nhiễm ô hồi hướng; dùng căn lành xa lìa hận hồi hướng; dùng căn lành lìa bỏ ngu si hồi hướng; dùng căn lành chẳng thể phá hồi hướng; dùng căn lành xa lìa kiêu mạn hồi hướng; dùng căn lành trừ diệt dối trá hồi hướng; dùng căn lành chánh trực tâm hồi hướng; dùng căn lành tinh tần tu tập hồi hướng.

Khi Đại Bồ-tát hồi hướng như vậy thì được đại hoan hỷ đối với hạnh Bồ-tát; được hy vọng chân chánh, đi đến đại đạo, đủ chủng tánh của Phật; được trí tuệ của Phật, lìa tất cả ác, hàng phục các ma, có thể thu phục tất cả chúng sinh, khiến cho Thiện tri thức đều vui mừng, nguyện đã tu đều thành tựu viên mãn hết, mời tất cả chúng sinh thiết lập hội đại thí.

Lại nữa, Đại Bồ-tát dùng căn lành pháp thí này mà hồi hướng như vậy thì khiến cho tất cả chúng sinh đều đầy đủ pháp âm thanh tịnh, được âm thanh nhu hòa, được âm thanh hòa nhã, được âm thanh chẳng thể nghĩ bàn, được âm thanh khả ái lạc, được âm thanh sung mãn tất cả cõi Phật, được âm thanh chẳng thể nghĩ bàn công đức trang nghiêm, được âm thanh diệt cống cao tự tại tán loạn, được âm thanh diệu tịnh tràn đầy pháp giới, được âm thanh bao gồm tất cả chúng sinh.

Khiến cho tất cả chúng sinh được âm thanh vô lượng.

Khiến cho tất cả chúng sinh được âm thanh vi diệu thanh tịnh.

Khiến cho tất cả chúng sinh đều được âm thanh trí tự tại vi diệu.

Khiến cho tất cả chúng sinh được âm thanh tất cả trang nghiêm.

Khiến cho tất cả chúng sinh đều được diệu âm mà chúng sinh ưa nghe không chán.

Khiến cho tất cả chúng sinh được âm thanh giải thoát, đều đến bờ kia.

Khiến cho tất cả chúng sinh được âm thanh hoan hỷ.

Khiến cho tất cả chúng sinh được lời nói bằng âm thanh thanh tịnh của Phật.

Khiến cho tất cả chúng sinh được âm thanh như Phật, đủ từ ngữ vi diệu, xa lìa ngu si.

Khiến cho tất cả chúng sinh được các pháp trang nghiêm, Đàla-ni vi diệu, ở mỗi một pháp nói vô lượng hạnh, quyến thuộc vô số tràn đầy pháp giới, có thể nghe và thọ trì hết chẳng thể nghĩ bàn chánh pháp Kim cang, phân biệt nói đầy đủ, có thể dùng vô lượng câu chữ diễn thuyết đầy đủ vô lượng kho tàng pháp, đủ loại pháp tướng trú chỗ không chấp trước được các pháp sáng suốt.

Khiến cho tất cả chúng sinh đạt được Nhất thiết trí bao gồm tất cả pháp, dùng câu chữ đối với nghĩa các pháp được âm thanh tự tại; đối với âm thanh vô ngại đầy đủ tự tại, được đến bờ kia.

Khiến cho tất cả chúng sinh được âm thanh không ưu buồn, được âm thanh không sợ, được âm thanh không nhiễm ô, được âm thanh công đức, được âm thanh khiến cho quyến thuộc hoan hỷ, được âm thanh như pháp, được âm thanh ngôn ngữ về pháp của chư Phật, được âm thanh mau chóng diệt trừ tất cả lưới nghi của chúng sinh, được âm thanh đầy đủ biện tài chẳng gián đoạn, được âm thanh thù thắng giác ngộ chúng sinh.

Lại nữa, Đại Bồ-tát dùng căn lành này hồi hướng như vậy, khiến cho tất cả chúng sinh được Pháp thân thanh tịnh; khiến cho tất cả chúng sinh được công đức tịnh diệu; khiến cho tất cả chúng sinh được đủ các tướng tốt; khiến cho tất cả chúng sinh được nghiệp báo thanh tịnh; khiến cho tất cả chúng sinh được tâm Nhất thiết trí thanh tịnh; khiến cho tất cả chúng sinh được tâm Bồ-đề vô lượng thanh tịnh; khiến cho tất cả chúng sinh được phương tiện thanh tịnh có thể phân biệt hết các căn của chúng sinh; khiến cho tất cả chúng sinh được tánh thanh tịnh; khiến cho tất cả chúng sinh được hạnh vô ngại thanh tịnh, thỏa mãn các nguyện; khiến cho tất cả chúng sinh được trí tuệ chánh niệm thanh tịnh, biện luận thông suốt.

Đại Bồ-tát dùng căn lành này hồi hướng như vậy, khiến cho tất cả chúng sinh được các diệu thân thanh tịnh như là: Thân minh tịnh, thân ly trược, thân rốt ráo tịnh, thân thanh tịnh, thân ly trần, thân ly các loại trần, thân ly cấu bẩn, thân quang minh, thân đáng ưa thích, thân vô ngại.

Dùng những thân như vậy ứng hiện khắp mười phương tất cả thế giới, bày ra tất cả nghiệp, chỉ bày cho chúng sinh chiếu soi khắp tất cả giống. Như hình ảnh trong gương, như trăng dưới nước sạch, khiến cho tất cả chúng sinh đều được thân tịnh diệu như vậy. Chỉ bày cho chúng sinh các hạnh Bồ-tát. Chỉ bày cho chúng sinh các pháp thâm diệu. Chỉ bày cho chúng sinh vô lượng công đức.

Chỉ bày cho chúng sinh chánh đạo chân thật. Chỉ bày cho chúng sinh đầy đủ các pháp. Chỉ bày cho chúng sinh về tất cả đại nguyện, trụ ở một cõi mà chỉ bày Như Lai ra đời ở tất cả thế gian. Chỉ bày tất cả thần lực tự tại của chư Phật. Chỉ bày sự thọ trì chẳng thể nghĩ bàn giải thoát của Bồ-tát. Chỉ bày tất cả nguyện tri của các hạnh Phổ Hiền.

Đại Bồ-tát hồi hướng căn lành như vậy, khiến cho tất cả chúng sinh thành tựu chúng ta thân trí tuệ công đức.

Lại nữa, Bồ-tát dùng căn lành được bao gồm trong Pháp thí này hồi hướng như vậy, khiến cho một thân hiện ra khắp tất cả thế giới, hành hạnh Bồ-tát. Chúng sinh được thấy đều chẳng vô ích mà được tâm Bồ-đề không thoái chuyển.

Khiến cho tất cả chúng sinh thuận theo chân thật, được tâm bất hoại.

Khiến tất cả chúng sinh, ở tất cả thế giới, đến tận kiếp vị lai, hành đạo Bồ-tát mà không chán; đủ lòng đại Từ bi bằng như pháp giới, giáo hóa chúng sinh chưa từng mất thời cơ; phân biệt các căn, nghĩ đến Thiện tri thức, chỉ trong một niệm thấy hết tất cả các Đức Phật hiện tại. Chánh niệm Như Lai, chưa từng rời bỏ, tu các căn lành, không có hư dối, đặt chúng sinh vào Nhất thiết trí. Được hết tất cả bánh xe pháp chẳng thoái chuyển, được hết tất cả ánh sáng pháp của chư Phật, thọ trì tất cả mưa pháp của chư Phật, hành hạnh Bồtát; vào tất cả chúng sinh, vào tất cả cõi, vào tất cả pháp, vào tất cả thế gian, vào tất cả ba đời, vào các nghiệp báo trí của tất cả chúng sinh, vào các thiện xảo phương tiện trí tuệ của tất cả Bồ-tát, vào trí sinh ra tất cả, vào tất cả trí của cảnh giới tịnh của Bồ-tát, vào tất cả cảnh giới trụ trì của Đức Phật, vào tất cả vô lượng, vô biên pháp giới, tu Bồ-tát hạnh, trú ở các quả vị.

Đó là Pháp thí căn lành hồi hướng của Đại Bồ-tát.

Lại nữa, Đại Bồ-tát tu nghiệp căn lành mà hồi hướng như vậy thì khiến cho tất cả cõi Phật đều thanh tịnh. Dùng vô lượng đồ trang nghiêm mà trang nghiêm, khiến cho một cõi Phật rộng lớn như pháp giới. Như một cõi Phật mà như thế thì tất cả cõi Phật cũng như vậy.

Bồ-tát được Chánh giác tối thượng thì ở một cõi Phật đều hiển hiện hết tất cả cõi Phật. Như một cõi Phật mà như thế thì tất cả cõi Phật cũng như vậy. Mỗi một cõi đó dùng những đồ trang nghiêm bằng như pháp giới để trang nghiêm. Có vô lượng a-tăngkỳ những báu trang nghiêm, vô lượng a-tăng-kỳ những tòa báu cao thanh tịnh. Những diệu bảo y được trải lên trên những tòa đó, chúng được trang nghiêm bằng vô lượng a-tăng-kỳ những tướng diệu bảo. Tất cả những chuông báu nhỏ được treo theo những dãi báu thướt tha.

Vô lượng lọng báu che trên những tòa báu ấy. Vô lượng mây báu mưa xuống; tất cả báu tung xuống những hoa báu mà người nhìn xem không chán. Lan can làm bằng vô lượng diệu bảo để trang nghiêm những lầu đài báu vi diệu. Vô lượng chuông báu nhỏ tự nhiên thuyết Thiện sinh diệu pháp của chư Phật. Hoa báu không lường đầy dẫy khắp, cùng các sắc báu vi diệu để trang nghiêm. Cây báu nhiều không lường tràn đầy cõi ấy, sinh ra vô lượng hoa quả báu xinh đẹp. Cung điện được trang nghiêm bằng vô lượng báu đẹp. Lầu thưởng ngoạn bằng báu đẹp cùng khắp các cõi. Lan can làm bằng vô lượng diệu bảo. Trang nghiêm báu lớn, diệu bảo không lường làm lầu đài phụ trợ, tất cả báu sáng trang nghiêm nơi đó… Vô lượng cửa báu, đủ thứ vòng hoa báu để trang sức. Vô lượng hình tượng bán nguyệt trân báu đều dùng các loại báu để trang nghiêm. Vô lượng, vô số chẳng thể nghĩ bàn trân bảo trang nghiêm. Căn lành tịnh nghiệp của chư Phật đã tạo ra vô lượng kho báu trang nghiêm.

Lại dùng các loại báu mà trang nghiêm, chảy ra vô lượng sông báu thanh tịnh, thường tuôn chảy chánh pháp chưa từng đoạn tuyệt. Vô lượng biển pháp khắp cùng cõi ấy, nước chánh pháp sạch tràn đầy sáng trong.

Vô lượng a-tăng-kỳ hoa báu phân-đà-lợi đều sung mãn, tự nhiên diễn ra tiếng hoa chánh pháp.

Vô lượng a-tăng-kỳ núi báu Tu-di trang nghiêm Tu-di trí tuệ đều đầy đủ.

Vô lượng a-tăng-kỳ diệu bảo trang nghiêm, những chuỗi ngọc

báu dùng làm mành buông xuống.

Vô lượng a-tăng-kỳ báu minh tịnh trang nghiêm phóng ra ánh sáng đại tuệ soi khắp pháp giới.

Vô lượng a-tăng-kỳ chuông báu nhỏ trang nghiêm, tự nhiên phát ra âm thanh vi diệu.

Vô lượng a-tăng-kỳ những thềm, đường báu dùng làm trang nghiêm, với báu đẹp của Bồ-tát đều sung mãn.

Vô lượng a-tăng-kỳ lụa ngũ sắc báu trang nghiêm, màu sắc báu thanh tịnh chẳng thể nghĩ bàn, dựng lên vô lượng a-tăng-kỳ phướn báu trang nghiêm, hình tượng bán nguyệt báu để trang sức cõi đó.

Vô lượng a-tăng-kỳ phan báu trang nghiêm, có thể mưa xuống khắp hết vô lượng báu.

Vô lượng a-tăng-kỳ lụa năm màu báu trang nghiêm, khắp cả thế giới trang sức hư không. Trải ra vô lượng a-tăng-kỳ vải báu mềm mại dùng để trang nghiêm.

Vô lượng a-tăng-kỳ dòng xoáy những báu vật để trang nghiêm hiện ra mắt Nhất thiết trí thanh tịnh của Bồ-tát.

Vô lượng a-tăng-kỳ vòng hoa báu trang nghiêm, mỗi một vòng hoa báu có hàng trăm ngàn Bồ-tát dùng làm trang nghiêm.

Vô lượng a-tăng-kỳ những cung điện báu trang nghiêm, có thể trừ diệt hết các chỗ tham ái.

Vô lượng a-tăng-kỳ những báu trang nghiêm Kim cang Ma-ni dùng làm trang sức.

Vô lượng a-tăng-kỳ tạp bảo trang nghiêm hiện ra sắc đẹp thanh tịnh không lường.

Vô lượng a-tăng-kỳ vòng núi Kim cang trang nghiêm, thanh tịnh sáng suốt không chỗ vướng ngại.

Vô lượng a-tăng-kỳ hương thơm trang nghiêm, hương thơm ấy xông tỏa khắp tất cả thế giới, sinh ra vô lượng a-tăng-kỳ những thân biến hóa. Mỗi một hóa thân bằng với pháp giới, đều phóng ra vô lượng a-tăng-kỳ ánh sáng báu đẹp. Mỗi một ánh sáng chiếu khắp pháp giới.

Vô lượng a-tăng-kỳ các loại báu trang nghiêm, trong mỗi một loại báu đủ tất cả báu.

Vô lượng a-tăng-kỳ kho báu trang nghiêm, tự nhiên diễn nói các kho báu pháp.

Vô lượng a-tăng-kỳ cờ báu trang nghiêm, dựng lên cờ tuệ diệu trí của Đức Như Lai.

Vô lượng a-tăng-kỳ báu đặc biệt trang nghiêm, đầy đủ Đại thừa thanh tịnh.

Vô lượng a-tăng-kỳ vườn báu trang nghiêm với sự hỷ lạc trong mát của Tam-muội Bồ-tát.

Vô lượng a-tăng-kỳ những báu đẹp có âm thanh tự nhiên phát ra, trong mỗi một âm thanh phát ra tiếng của Như Lai vang mười phương ai cũng được nghe.

Vô lượng a-tăng-kỳ tượng báu trang nghiêm, mỗi một thân tượng phóng ra vô lượng ánh sáng pháp báu khắp nơi.

Vô lượng a-tăng-kỳ những tướng trang nghiêm, tất cả những tướng và vô tướng đều trang nghiêm.

Vô lượng a-tăng-kỳ uy nghi báu trang nghiêm, người nhìn thấy thì ưa cầu uy nghi của Bồ-tát.

Vô lượng a-tăng-kỳ sự nuôi dưỡng cáu báu trang nghiêm, sinh ra tất cả kho tàng báu đẹp.

Vô lượng a-tăng-kỳ những báu an trụ trang nghiêm, tất cả những báu tự trang sức.

Vô lượng a-tăng-kỳ vải báu trang nghiêm đều che khắp hết, đầy đủ vô lượng Tam-muội của Bồ-tát.

Vô lượng a-tăng-kỳ vải đẹp trang nghiêm, người phát tâm liền được những Đà-la-ni hiện ra tất cả của Bồ-tát.

Vô lượng a-tăng-kỳ báu đài trang nghiêm, có thể phân biệt hết báu nghiệp báo ứng quyết định thanh tịnh.

Vô lượng a-tăng-kỳ báu đẹp tri kiến vô ngại, nếu có người nhìn thấy thì đều được pháp nhãn thanh tịnh đối với các pháp.

Vô lượng a-tăng-kỳ mũ trời báu thành tựu, đầy đủ mũ trời trí tuệ.

Vô lượng a-tăng-kỳ tòa báu trang nghiêm, thành tòa báu sư tử thanh tịnh của Đức Phật, thắp lên vô lượng a-tăng-kỳ đèn báu sáng lọc, đầy đủ đèn trí tuệ sáng suốt đẹp đẽ.

Vô lượng a-tăng-kỳ cây báu Đa-la trang nghiêm, mỗi một cây Đa-la được trang sức bằng những chuỗi ngọc báu.

Vô lượng a-tăng-kỳ những đài mát mẻ báu dùng làm trang nghiêm.

Vô lượng a-tăng-kỳ cây báu trang nghiêm, chim nhiều chẳng thể nghĩ bàn tụ tập ở trên ấy hót lên âm thanh vi diệu.

Vô lượng a-tăng-kỳ hoa do biến hóa quý báu trang nghiêm, trên mỗi một hoa có vô lượng Bồ-tát ngồi kiết già, đi khắp pháp giới.

Vô lượng a-tăng-kỳ quả trái trang nghiêm, đủ đại trí tuệ quả Nhất thiết chủng trí.

Vô lượng a-tăng-kỳ những làng xóm báu trang nghiêm, nhân dân ở đầy nơi đường lớn hẻm nhỏ quý báu.

Vô lượng a-tăng-kỳ kinh đô báu của Đại vương trang nghiêm, những Đại vương dũng mãnh tinh tấn đó mặc áo giáp đồng Đại pháp, đối với đạo Vô thượng bền vững chẳng thoái lui.

Vô lượng a-tăng-kỳ nhà báu trang nghiêm, diệt trừ tất cả phòng nhà tham ái.

Vô lượng a-tăng-kỳ áo báu trang nghiêm, tùy ý nhận dùng không bị tham đắm.

Vô lượng a-tăng-kỳ nhà báu trang nghiêm, bỏ nhà xuất gia, ở trong đó Bồ-tát sung mãn.

Vô lượng a-tăng-kỳ báu không chán trang nghiêm, người nhìn thấy có thể phát sinh vui mừng không lường.

Vô lượng a-tăng-kỳ bánh xe báu trang nghiêm, phóng ra ánh sáng trí tuệ chẳng thể nghĩ bàn, chuyển bánh xe không thoái.

Vô lượng a-tăng-kỳ hàng cây báu đẹp trang nghiêm, dùng báu Nhân-na-ni-la để trang sức.

Vô lượng a-tăng-kỳ đất báu trang nghiêm, hiện ra rõ ràng các báu chẳng thể nghĩ bàn.

Vô lượng a-tăng-kỳ nhạc khí trang nghiêm, phát ra âm thanh tự nhiên vang khắp pháp giới.

Vô lượng a-tăng-kỳ nhạc khí trang nghiêm đến tận vị lai, thường phát ra Pháp âm chưa từng gián đoạn.

Vô lượng a-tăng-kỳ thân báu trang nghiêm tràn đầy cõi ấy, có thể thọ trì hết tất cả Pháp bảo.

Vô lượng a-tăng-kỳ miệng báu thanh tịnh trang nghiêm, đầy đủ tất cả công đức kho báu, phát ra vô lượng a-tăng-kỳ tiếng nói báu thanh tịnh, thường nói vô lượng pháp bảo tịnh diệu.

Vô lượng a-tăng-kỳ tâm báu thanh tịnh trang nghiêm, được báu chân chánh, tất cả trí nguyện đều sung mãn.

Vô lượng a-tăng-kỳ niệm báu thanh tịnh trang nghiêm, trừ diệt ngu si, được bảo vương vô thượng Nhất thiết trí.

Vô lượng a-tăng-kỳ đường báu thanh tịnh trang nghiêm, có thể bao gồm hết tất cả báu chánh pháp của chư Phật.

Vô lượng a-tăng-kỳ tuệ báu Bồ-tát trang nghiêm, quyết định biết hoàn toàn tất cả Phật pháp.

Vô lượng a-tăng-kỳ trí tuệ báu chẳng phóng dật trang nghiêm, báu Nhất thiết trí đều sung mãn.

Vô lượng a-tăng-kỳ mắt báu thanh tịnh trang nghiêm, đối với tất cả báu mười lực không bị chướng ngại.

Vô lượng a-tăng-kỳ tai báu thanh tịnh trang nghiêm, có thể nghe hoàn toàn được tất cả âm thanh vi diệu của pháp giới mà không chướng ngại.

Vô lượng a-tăng-kỳ mũi báu thanh tịnh trang nghiêm, nghe được hương báu thơm mà không chán.

Vô lượng a-tăng-kỳ lưỡi dài rộng thanh tịnh trang nghiêm, giỏi nói tất cả ngữ ngôn các pháp.

Vô lượng a-tăng-kỳ thân báu thanh tịnh trang nghiêm, du hành khắp mười phương mà không ngăn ngại.

Vô lượng a-tăng-kỳ ý báu thanh tịnh trang nghiêm, có thể tu tập hết tất cả đại nguyện của Bồ-tát Phổ Hiền.

Vô lượng a-tăng-kỳ âm thanh báu thanh tịnh trang nghiêm, âm thanh vi diệu đều vang khắp tất cả thế giới.

Vô lượng a-tăng-kỳ nghiệp thân báu trang nghiêm, đầy đủ tất cả nghiệp báu trí tuệ.

Vô lượng a-tăng-kỳ nghiệp miệng báu trang nghiêm, nói khắp vô lượng trí tuệ báu đẹp.

Vô lượng a-tăng-kỳ nghiệp ý báu thanh tịnh trang nghiêm, rốt ráo tất cả trí báu vô ngại.

Đại Bồ-tát lại nghĩ: “Ở tất cả những cõi của Như Lai đó, trong một sợi lông, một phương, một cõi Phật, thành tựu vô lượng, vô số chẳng thể nghĩ bàn trí tuệ thanh tịnh, các vị Đại Bồ-tát đều đầy khắp. Như ở một sợi lông, một phương, một cõi Phật mà như thế, thì đến tận hư không pháp giới…, tất cả sợi lông, tất cả phương, tất cả cõi Phật cũng như vậy.”

Đó là Đại Bồ-tát hồi hướng diệu bảo trang nghiêm đến tất cả cõi Phật. Như báu trang nghiêm tất cả cõi Phật, nói rộng ra, hương trang nghiêm… Cho đến rốt ráo vô lượng thanh tịnh ý nghiệp diệu hương, trí báu vô ngại cũng như vậy. Nói rộng ra, hoa trang nghiêm…, cho đến rốt ráo ý nghiệp tịnh hoa, trí báu vô ngại cũng như vậy. Nói rộng ra, vòng hoa hương xoa, hương bột, vải lọng, cờ, phướn… Cho đến trăm việc trang nghiêm cũng như vậy.

Như vậy, Đại Bồ-tát dùng tất cả căn lành của pháp thí này hồi hướng là vì nuôi lớn căn lành nên hồi hướng; nghiêm tịnh cõi Phật nên hồi hướng; khiến cho tất cả chúng sinh thanh tịnh bình đẳng nên hồi hướng.

Khiến cho tất cả chúng sinh trừ diệt sân hận.

Khiến cho tất cả chúng sinh đầy đủ Phật pháp sâu xa bình đẳng.

Khiến cho tất cả chúng sinh đầy đủ lực công đức thanh tịnh chẳng thể phá hoại bình đẳng.

Khiến cho tất cả chúng sinh đều được trí tuệ vô tận bình đẳng, nói đầy đủ các pháp Phật.

Khiến cho tất cả chúng sinh đều được Phạm âm thanh tịnh bình đẳng.

Khiến cho tất cả chúng sinh đều được mắt thanh tịnh không ngủ bình đẳng, rốt ráo trí vô ngại bằng hư không pháp giới.

Khiến cho tất cả chúng sinh đều được chánh niệm thanh tịnh bình đẳng đến tận kiếp quá khứ.

Khiến cho tất cả chúng sinh đều được trí vô ngại bình đẳng, quyết định biết rõ tất cả các pháp.

Khiến cho tất cả chúng sinh đều được Bồ-đề bình đẳng, khắp cả pháp giới không bị chướng ngại.

Khiến cho tất cả chúng sinh đều được những căn lành tốt đẹp bình đẳng.

Khiến cho tất cả chúng sinh đều được nghiệp thân, miệng, ý bình đẳng, đầy đủ công đức trang nghiêm thanh tịnh.

Khiến cho tất cả chúng sinh đều được tất cả sự tu hành của Bồtát Phổ Hiền bình đẳng.

Khiến cho tất cả chúng sinh đều được cõi Phật thanh tịnh bình đẳng.

Khiến cho tất cả chúng sinh đều được đầy đủ bình đẳng đi sâu vào hạng Nhất thiết trí.

Khiến cho tất cả chúng sinh lìa tất cả ác, đều được căn lành hồi hướng bình đẳng.

Khiến cho tất cả chúng sinh đều được tất cả tri kiến bình đẳng, đều có thể phân biệt được tâm niệm của người khác.

Khiến cho tất cả chúng sinh đều được an trụ ở pháp trắng bình đẳng.

Khiến cho tất cả chúng sinh đều được bình đẳng, ở trong một niệm đầy đủ Nhất thiết trí, rốt ráo đủ đầy Bồ-đề vô thượng.

Khiến cho tất cả chúng sinh thành tựu tất cả đạo hạnh thanh tịnh đầy đủ bình đẳng.

Đại Bồ-tát dùng căn lành này khắp vì tất cả hồi hướng bình đẳng khiến cho tất cả chúng sinh đều được các sức pháp thanh tịnh phân biệt, khắp vì chúng sinh giải nói hồi hướng.

Đại Bồ-tát lại nghĩ: “Dùng căn lành này khiến cho tất cả chúng sinh tu tịnh hạnh Bồ-tát, được biển pháp không lường. Ở mỗi một biển pháp có trí tuệ thanh tịnh ngang bằng với vô lượng pháp giới, soi khắp pháp giới, khiến cho tất cả chúng sinh phân biệt giải nói tất cả cú nghĩa.”

Khiến cho tất cả chúng sinh đều được tất cả Tam-muội pháp minh soi sáng các pháp.

Khiến cho tất cả chúng sinh đều thuận theo đầy đủ biện tài của chư Phật ba đời.

Khiến cho tất cả chúng sinh được thận tự tại của chư Phật ba đời.

Khiến cho tất cả chúng sinh được căn lành vô ngại, phát sinh lòng yêu mến Phật pháp, chẳng lui đại Bi, cứu độ chúng sinh.

Khiến cho tất cả chúng sinh được trí vô ngại, pháp chẳng thể nghĩ bàn, có thể hoan hỷ thanh tịnh tất cả chúng hội.

Khiến cho tất cả chúng sinh ở tất cả cõi Phật, cõi Phật ngửa lên, cõi Phật nhìn xuống, cõi Phật rất nhỏ, cõi Phật rộng lớn, cõi Phật thanh tịnh, cõi Phật uế trược… Ở trong cõi Phật như vậy đều chuyển bánh xe pháp thanh tịnh không thoái.

Khiến cho tất cả chúng sinh ở trong từng niệm từng niệm đều được không sợ hãi, biện tài vô tận, rộng nói Phật pháp chẳng thể cùng tận.

Khiến cho tất cả chúng sinh thường ưa một hướng chuyên cầu Thắng pháp, với tất cả pháp được trí tuệ tự tại.

Khiến cho tất cả chúng sinh đều hoan hỷ, giảng nói tất cả pháp.

Lại nữa, Đại Bồ-tát còn an trụ ở pháp giới vô lượng căn lành hồi hướng; pháp giới vô lượng thân nghiệp hồi hướng; pháp giới vô lượng khẩu nghiệp hồi hướng; pháp giới vô lượng ý nghiệp hồi hướng; pháp giới vô lượng diệu sắc hồi hướng; pháp giới vô lượng diệu thọ tưởng hành thức hồi hướng; pháp giới vô lượng bình đẳng ấm hồi hướng; pháp giới vô lượng bình đẳng giới hồi hướng; pháp giới vô lượng bình đẳng nhập hồi hướng; pháp giới vô lượng nội bình đẳng hồi hướng; pháp giới vô lượng ngoại bình đẳng hồi hướng; pháp giới vô lượng dũng mãnh tinh tấn bình đẳng hồi hướng; pháp giới vô lượng chánh trự tâm bình đẳng hồi hướng; pháp giới vô lượng phương tiện bình đẳng hồi hướng; pháp giới vô lượng tánh bình đẳng hồi hướng; pháp giới vô lượng các căn bình đẳng hồi hướng; pháp giới vô lượng ba đời bình đẳng, hồi hướng; pháp giới vô lượng nghiệp báo bình đẳng, hồi hướng; pháp giới vô lượng lìa các phiền não thanh tịnh bình đẳng, hồi hướng; pháp giới vô lượng tất cả chúng sinh bình đẳng, hồi hướng; pháp giới vô lượng tất cả cõi Phật bình đẳng, hồi hướng; pháp giới vô lượng tất cả các pháp bình đẳng, hồi hướng; pháp giới vô lượng tất cả thế gian bình đẳng, hồi hướng; pháp giới vô lượng tất cả chư Phật và Bồ-tát bình đẳng, hồi hướng; pháp giới vô lượng tất cả Bồ-tát hạnh nguyện bình đẳng, hồi hướng; pháp giới vô lượng tất cả Bồ-tát bình đẳng đạo, hồi hướng; pháp giới vô lượng tất cả Bồ-tát thành tựu tất cả căn lành, hồi hướng; pháp giới vô lượng tất cả các pháp bình đẳng không hai, hồi hướng; pháp giới vô lượng tất cả các quyến thuộc của Như Lai viên mãn bình đẳng, hồi hướng.

Khi Bồ-tát hồi hướng như vậy thì an trụ ở vô lượng thân nghiệp thanh tịnh bằng với pháp giới; an trụ ở vô lượng khẩu nghiệp bằng với pháp giới; an trụ ở vô lượng hạnh nguyện thanh tịnh bằng với pháp giới; an trụ ở vô lượng quyến thuộc thanh tịnh bằng với pháp giới; an trụ ở vô lượng tất cả trí tuệ thanh tịnh của Bồ-tát bằng với pháp giới, rộng nói các pháp; an trụ ở vô lượng thân thanh tịnh bằng với pháp giới, đầy khắp tất cả thế giới pháp giới, được tất cả pháp minh thanh tịnh không sợ, dùng một tiếng nói trừ hết tất cả nghi hoặc của chúng sinh, đều khiến cho họ hoan hỷ, thu phục các căn, đứng vững trong trí vô thượng các lực không sợ, tất cả lực tự tại, vô lượng công đức của Đức Phật, pháp thượng diệu.

Này Phật tử! Đó là pháp hồi hướng bằng với pháp giới, thứ mười của Đại Bồ-tát.

Đại Bồ-tát dùng pháp thí này, tất cả căn lành đều hồi hướng xong, thành tựu vô lượng, vô biên tất cả hạnh nguyện của Bồ-tát Phổ Hiền, có thể nghiêm tịnh hết tất cả cõi Phật của vô lượng, vô biên hư không pháp giới… Thì khiến cho tất cả chúng sinh cũng như vậy.

Chúng sinh thành tựu đầy đủ vô lượng, vô biên trí tuệ, thâm nhập vào tất cả pháp, ở trong từng niệm thị hiện vô lượng, vô số các Đức Phật ra đời ở tất cả thế giới; đều được vô lượng, vô biên tự tại của chư Phật; đều được vô lượng, vô biên tự tại của Như Lai; đều được vô lượng, vô biên tự tại rộng lớn; đều được vô lượng, vô biên tự tại vô ngại; đều được vô lượng, vô biên tự tại không ngăn chặn; đều được vô lượng, vô biên tự tại chẳng thể nghĩ bàn; đều được vô lượng, vô biên tự tại khiến cho tất cả chúng sinh thanh tịnh; đều được vô lượng, vô biên tự tại giữ vững tất cả thế giới; đều được vô lượng, vô biên tự tại tất cả chẳng thể nói; đều được vô lượng, vô biên tự tại tất cả lúc; đều được vô lượng, vô biên tự tại những thần thông trí vô ngại; đều được vô lượng, vô biên tự tại rộng nói các pháp khắp cả pháp giới; đều được vô lượng, vô biên mắt tịnh đầy đủ của Bồ-tát Phổ Hiền; đều được vô lượng, vô biên tai tịnh của Bồ-tát, nghe giữ chánh pháp của chư Phật đã nói, có thể dùng một thân ngồi kiết già tràn đầy tất cả thế giới mười phương mà chẳng chèn ép tất cả chúng sinh; đều được vô lượng, vô biên trí tuệ đầy đủ vào sâu ba đời; đều được vô lượng, vô biên Bồ-đề thanh tịnh, chúng sinh thanh tịnh, cõi Phật thanh tịnh, các pháp thanh tịnh, các nhập thanh tịnh; đều được vô lượng, vô biên trí tuệ thanh tịnh bằng với hư không pháp giới; đều được vô lượng, vô biên trí tuệ thanh tịnh của âm thanh ngôn ngữ của chúng sinh, phóng ánh sáng lớn, soi khắp tất cả thế giới mười phương, sinh ra trí tuệ thanh tịnh của các hạnh Bồ-tát cả ba đời. Ở trong một niệm đều rốt ráo hết trí tuệ thanh tịnh của Như Lai bà đời, khiến cho tất cả chúng sinh đều thanh tịnh thành tựu đầy đủ chánh quán bình đẳng, trí tuệ quyết định, rốt ráo đến bờ kia.

Lúc bấy giờ, do thần lực Đức Phật nên khắp mười phương, mỗi phương trong số thế giới bằng với số vi trần của trăm vạn cõi Phật, chấn động sáu cách.

Do thần lực Đức Phật, pháp như vậy nên mưa xuống mây hoa trời, mưa xuống vòng hoa trời, phấn trời, vải báu trời và trang nghiêm trời, hương trời, ma-ni báu trời, hương trầm thủy trời, hương a-già-lâu trời, hương bà-la-kiều-đà trời, hương kiên cố trời, hương chiên-đàn trời, cờ lọng nhiều màu cõi trời, vô lượng a-tăng-kỳ (thân trời); chẳng thể nghĩ bàn Pháp âm vi diệu, chẳng thể nghĩ bàn âm thanh vi diệu khen ngợi Như Lai của chư Thiên.

Vô lượng a-tăng-kỳ chư Thiên khen ngợi: “Lành thay, mây và mưa!” Vô lượng a-tăng-kỳ na-do-tha chư Thiên cung kính lễ bái; vô lượng a-tăng-kỳ na-do-tha chư Thiên hoan hỷ niệm Phật, tu tập chẳng thể nghĩ bàn công đức chư Phật; vô lượng a-tăng-kỳ chư Thiên phát ra âm thanh vui mừng cúng dường Như Lai; phóng ra vô lượng a-tăng-kỳ ánh sáng rộng lớn hơn cả chư Thiên soi khắp tất cả cõi Phật bằng với hư không pháp giới; hiện ra vô lượng a-tăng-kỳ hóa thân Như Lai uy lực tự tại hơn cả chư Thiên.

Như ở vương cung trời San-đâu-suất-đà, trời Đâu-suất-đà của tất cả bốn thiên hạ ở thế giới này nói pháp như thế thì ở vươn cung trời San-đâu-suất-đà… ở tất cả mười phương thế giới cũng như vậy.

Lúc bấy giờ, do thần lực của Đức Phật nên ở mười phương, mỗi phương vượt qua những thế giới, nhiều bằng số vi trần của trăm vạn cõi Phật đều có số Bồ-tát nhiều bằng vi trần trăm vạn cõi Phật, vân tập lại hết. Những vị Bồ-tát đó đều nói lời này:

–Hay thay, hay thay! Này Phật tử! Ông mới có thể nói được những đại hồi hướng này! Chúng ta đều đồng một danh hiệu của Kim Cang Tràng, ở chỗ Đức Phật Kim Cang Tràng trong thế giới Kim cang quang, đi đến cõi này. Ở các thế giới đó, do thần lực Đức Phật nên cũng đang thuyết giảng pháp này. Đại hội quyến thuộc, câu nghĩa nói pháp đều như nhau hết. Ta nương theo thần lực Đức Phật từ cõi đó đến vì ông mà làm chứng. Như ta đến thế giới này vì ông làm chứng thì trên bảo điện Ma-ni trong vương cung trời San-đâusuất-đà của tất cả bốn thiên hạ ở tất cả mười phương cũng đang nói pháp như thế; người đến vì làm chứng cũng như vậy.

Lúc bấy giờ, Bồ-tát Kim Cang Tràng theo thần lực Đức Phật quan sát mười phương và các quyến thuộc, các ý nghĩa, câu chữ của tất cả pháp giới, tu tập tâm rộng lớn không lường, đại Bi vô lượng che khắp tất cả. Tâm ấy an trụ ở tất cả chủng tánh của chư Phật ba đời, vượt qua rốt ráo hết công đức chư Phật, thành tựu thân báu tự tại của chư Phật, có thể phân biệt hết tâm hạnh hy vọng của tất cả chúng sinh, theo sự gieo trồng căn lành đó biết được lúc nào thuận theo Pháp thân mà thị hiện sắc thân. Quan sát như vậy rồi nói kệ khen rằng:

Bồ-tát thọ pháp
Báu này không lường
Chánh giác tự nhiên
Đại Sư thọ ký
Làm Thầy Điều Ngự
Các pháp soi khắp
Giác ngộ hoàn toàn
Đạo tối Chánh giác
Bồ-tát vì pháp
Điều Ngự Đại Sư
Diễn nói rộng ra
Khó được pháp sâu
Mười phương tất cả
Đại chúng không lường
Nổi mây đại pháp
Rưới khắp mưa pháp
Pháp nhật sáng rực
Soi khắp cõi đời
Nói pháp vi diệu
Lợi ích chúng sinh
Chủ pháp thí này
Rất khó gặp gỡ
Thành tựu đầy đủ
Phương tiện pháp mầu
Dùng trí sáng rực
Chiếu soi tâm ấy
Vì đời không sợ
Rộng nói pháp sâu
Tu tập dài lâu
Bằng tâm biến hóa
Thường hay rộng mở
Các cửa chánh pháp
Thành tựu các môn
Biển pháp tối thắng
Vì khắp thế gian
Đánh trống Cam lồ
Nói đầy đủ về
Diệu pháp khó được
Dùng pháp dưỡng dục
Tất cả công đức
Chánh pháp sạch trong
Là pháp chân chánh
Dạy cho chúng sinh
Tạng pháp rất sâu
Tối thắng truyền cao
Vua pháp quán đảnh
Thành tựu đầy đủ
Tạng thân trí tuệ
Diệu trí vô tướng
Quán chân tướng pháp
Pháp lành Bồ-tát
Mà được an trụ
Pháp thí Bồ-tát
Rất là thù thắng
Tất cả Như Lai
Đều chung khen ngợi
Thuận theo hết thảy
Trời trong các trời
Pháp ấy phát sinh
Tất cả chư Phật
Thanh tịnh Bồ-tát
Pháp thân nhiệm mầu
Đều từ chư Phật
Chân pháp hóa sinh
Đèn pháp minh suốt
Lợi ích chúng sinh
Nói pháp vô lượng
Diệt trừ ưu não
Bồ-tát đem cho
Diệu pháp thanh tịnh
Tư duy tùy thuận
Tất cả căn lành
Thế giới không lường
Công đức đã làm
Trí tuệ thanh tịnh
Đều hồi hướng hết
Tất cả Như Lai
Công đức có được
Khiến chúng sinh được
Thành tựu đầy đủ
Phân biệt hết thảy
Công đức sạch trong
Đạt đến Thế Tôn
Bờ kia trang nghiêm
Tất cả mười phương
Vô số không lường
Các Đức Như Lai
Cõi Phật nghiêm tịnh
Như vậy tất cả
Khắp hết cõi Phật
Trang nghiêm chúng sinh
Chẳng thể nghĩ bàn
Tất cả Thế Tôn
Có các trí tuệ
Đều khiến chúng sinh
Đầy đủ thanh tịnh
Giống như Phổ Hiền
Nghiêm tịnh Bồ-tát
Khiến cho chúng sinh
Cũng đều như vậy
Thành tựu đầy đủ
Vô lượng tự tại
Ở khắp hết thảy
Tất cả thế giới
Mười phương tất cả
Các loại chúng sinh
Thảy đều ở trong
Hạnh thanh tịnh đó
Mười phương vô số
Hành hạnh Bồ-tát
Khiến cả mười phương
Tất cả chúng sinh
Thành tựu rốt ráo
Thắng hạnh vô thượng
Tất cả Phật tử
Tu công đức Phật
Vô lượng, vô biên
Chẳng thể tính hết
Các Phật Như Lai
Phân biệt biết rành
Đều khiến chúng sinh
Thành tựu đầy đủ
Đầy đủ Bồ-tát
Các lực thần thông
Đều giỏi học xong
Tất cả điều học
Du hành mười phương
Tất cả thế giới
Hiện ra không lường
Thần lực tự tại
Bồ-tát ở trong
Chừng một ý niệm
Thấy hết Thế Tôn
Cũng với chúng sinh
Bồ-tát ở trong
Lỗ một chân lông
Thấy hết tất cả
Chánh pháp Thế Tôn
Tất cả chúng sinh
Các hạnh không lường
Tất cả Tối Thắng
Phân biệt biết thông
Lòng thường bình đẳng
Cung kính cúng dường
Tất cả mười phương
Vô lượng chư Phật
Đủ loại mùi hương
Những hoa nhiều báu
Áo báu không lường
Và những cờ, lọng
Đều có khắp trong
Vô lượng pháp giới
Đem dùng cúng dường
Tất cả chư Phật
Bồ-tát ở trong
Lỗ một chân lông
Thấy hết chư Phật
Số chẳng nghĩ bàn
Hay cúng dường khắp
Đèn sáng thế gian
Pháp được nghe ấy
Đều hay thọ trì
Cung kính lễ bái
Năm vóc sát đất
Thân tự quy y
Tất cả Tối Thắng.
Đến tận vị lai
Vô lượng những kiếp
Khen ngợi mười phương
Tất cả Tối Thắng
Chỗ một Thế Tôn
Những đồ cúng dường
Đem cho tất cả
Những loài chúng sinh
Như một chỗ Phật
Những đồ cúng dường
Tất cả chỗ Phật
Cũng lại như trên
Vô biên những kiếp
Tất cả không lường
Bồ-tát cung kính
Các Thầy dẫn đường
Cùng tận, tất cả
Những kiếp không lường
Cung kính cúng dường
Mà không chán đủ
Tất cả chúng sinh
Vô lượng những kiếp
Ở mãi trong ấy
Tu hạnh Bồ-tát
Cung kính cúng dường
Mỗi một Đức Phật
Tận cùng các kiếp
Mà không chán đủ
Các Tối Thắng đó
Suốt cả đại kiếp
Đều không có thể
Nói đến tận cùng
Ở nơi tất cả
Trong các kiếp ấy
Tu hạnh Bồ-tát
Mà không chán nhàm
Có thể giác ngộ
Hoàn toàn pháp giới
Vô biên rộng lớn
Không có ranh giới
Những hoa báu diệu
Đầy tràn trong ấy
Dùng để cúng dường
Chúng sinh như Phật
Những hoa báu đẹp
Sắc hương đầy đủ
Tươi tốt sạch trong
Trang nghiêm vô lượng
Tất cả thế gian
Không gì ví được
Mà đem cúng dường
Tất cả Tối Thắng
Như số chúng sinh
Cõi Phật không lường
Những lọng đẹp báu
Ở đầy bên trong
Đem những lọng đó
Dâng một Thế Tôn
Cúng tất cả Phật
Cũng lại như vậy
Hương xoa thơm ngát
Khác lạ hơn hết
Tất cả thế gian
Không có gì bằng
Dùng hương xoa ấy
Tận kiếp chúng sinh
Cúng dường tất cả
Chư Phật Thế Tôn
Như vậy hương bột
Tạp hoa đủ thứ
Hương xông vi diệu
Áo báu không lường
Vô số báu đẹp
Những đồ trang nghiêm
Đem cúng dường Phật
Mà không chán nhàm
Vô số chúng sinh
Tất cả Thế Tôn
Ở trong một niệm
Đều thành Chánh giác
Dùng vô lượng kệ
Tán thán tuyên dương
Cúng dường cung kính
Đạo Sư trời người
Vô số chúng sinh
Minh trí thế gian
Bồ-tát vô thượng
Cúng dường thù thắng
Vô số chúng sinh
Trong tất cả kiếp
Phật khen công đức
Chẳng thể cùng tận
Như vậy cúng dường
Tất cả chư Phật
Đầy đủ thành tựu
Như Lai tự tại
An trụ Phổ Hiền
Hạnh của Bồ-tát
Đều có thể nhìn
Tất cả chư Phật
Đã làm, chưa làm
Và việc chưa làm
Vô số không lường
Tất cả căn lành
Tu tập theo hạnh
Bồ-tát Phổ Hiền
Chứng các địa vị
Bồ-tát Phổ Hiền
Tất cả cõi thế
Không thiếu chỗ nào
Chư Phật đều biết
Chủng loại chúng sinh.
Đều khiến thành tựu
Minh đạt tuệ thông
Giống như sở đắc
Bồ-tát Phổ Hiền
Như điều Phật nói
Tất cả các hành
Bồ-tát có thể
Tu hành đầy đủ
Đều đem hồi hướng
Tất cả chúng sinh
Đều khiến thành tựu
Hồi hướng vô thượng
Tất cả mười phương
Những cõi chư Phật
Hay giác ngộ hết
Rõ thông nhân ấy
Đều khiến tất cả
Các loại chúng sinh
Đều cùng ngang bằng
Bồ-tát Phổ Hiền
Thành tựu bố thí
Hồi hướng như vậy
Trì giới đầy đủ
Như sức Phổ Hiền
Dũng mãnh tinh tấn
Mà chẳng thoái chuyển
Nhẫn nhục thành tựu
Chẳng thể hư hoại
Giỏi vào các thiền
Chánh thọ thậm thâm
Phân biệt biết rõ
Tất cả Tam-muội
Trí tuệ sạch trong
Thông suốt ba đời
Tất cả thế gian
Đã chẳng thể biết
Các nghiệp miệng, thân
Cùng với nghiệp ý
Âm thanh ngữ ngôn
Đều thanh tịnh hết
Thành tựu hoàn toàn
Các hạnh Bồ-tát
Đều cùng Phổ Hiền
Bồ-tát đồng đẳng
Ví như “Như Như”
Tất cả pháp giới
Lìa bỏ mạn kiêu
Các tâm tán loạn
Diệt hết chướng ngại
Thanh tịnh tất cả
Khiến hết chúng sinh
Cũng lại như vậy
Hồi hướng như trên
Thù diệu tối thắng
Tất cả Thế Tôn
Đã từng diễn nói
Dùng nhiều không lường
Căn lành hồi hướng
Thì thành đầy đủ
Hạnh của Bồ-tát
Hoàn toàn tất cả
Những chân Phật tử
Hành các hạnh này
Pháp hồi hướng sâu
Bao gồm tất cả
Pháp giới nhiệm mầu
An trụ vào sâu
Sức các Thiện Thệ
Nếu có ưa cầu
Hạnh thù thắng ấy
Của Như Lai nói
Rộng lớn sâu xa
Những Phật tử ấy
Đều được trụ yên
Thành tựu đầy đủ
Giống như Phổ Hiền
Tất cả chúng sinh
Còn biết được số
Tất cả ba đời
Lòng còn biết được
Bồ-tát Phổ Hiền
Công đức sâu rộng
Vô lượng, vô biên
Chẳng thể rõ biết
Sợi lông lường được
Hư không mười phương
Bụi tất cả cõi
Số lượng biết rõ
Đại Tiên thù thắng
Phật tử chân chánh
Công đức đạt được
Chẳng thể biết rõ.

Print Friendly, PDF & Email
Did you find apk for android? You can find new Free Android Games and apps.