KINH PHÁP CÚ THÍ DỤ
Dịch từ Phạn văn: Pháp sư Pháp Cự và Pháp sư Pháp Lập ở Thế Kỷ 4
Dịch sang Tiếng Việt: Tại gia Bồ-tát giới Thanh tín nam Nguyên Thuận

 

 QUYỂN 3

PHẨM 19: GIÀ SUY

Thuở xưa Đức Phật ở tại vườn Cấp Cô Độc, trong Rừng cây Chiến Thắng gần thành Phong Đức. Sau khi thọ trai, Ngài thuyết Pháp cam lộ cho hàng trời người, vua chúa, quan thần, nhân dân, và bốn chúng đệ tử.

Bấy giờ có bảy vị trưởng lão thuộc dòng dõi Phạm Chí từ phương xa đến chỗ của Phật.

Họ cúi đầu đảnh lễ sát đất, chắp tay và thưa với Phật rằng:

“Thưa Thế Tôn! Chúng con là những người từ phương xa. Khi nghe được uy đức hóa độ chúng sanh của Phật, chúng con đã từ lâu muốn đến quy y. Nhưng do nhiều chướng duyên nên mãi tới hôm nay mới đến được và tận mắt chiêm ngưỡng Tôn nhan. Chúng con muốn làm đệ tử của Ngài và tu hành để diệt trừ mọi khổ ách.”

Đức Phật liền thu nhận họ để làm Đạo Nhân, và bảo bảy người họ cùng trú trong một căn phòng. Thế nhưng bảy người đó, tuy chí nguyện muốn đắc Đạo và dù đã thấy Thế Tôn, nhưng chẳng tư duy vô thường, mà chỉ cùng ngồi trong phòng để bàn chuyện thế tục và cười đùa lớn tiếng. Họ chẳng biết mạng sống mỗi ngày giảm dần và cái chết chẳng hẹn một ai. Họ chỉ cùng nhau đùa giỡn và tâm ý mê muội trong ba cõi. Với trí tuệ của Ba Minh, Phật biết thọ mạng của họ sắp hết.

Bởi thế mà Phật khởi lòng thương xót, rồi đi đến căn phòng của họ và bảo rằng:

“Các ông vì Đạo nên muốn cầu vượt khỏi thế gian. Thế nhưng sao lại cười nói inh ỏi? Tất cả chúng sanh lấy năm việc này để cậy nương. Những gì là năm?

1. cậy nương tuổi trẻ
2. cậy nương đoan chánh
3. cậy nương sức mạnh
4. cậy nương giàu sang
5. cậy nương quý tánh

Bảy người các ông đây cười đùa lớn tiếng, thì lấy gì để cậy nương?

Lúc bấy giờ Thế Tôn liền nói kệ rằng:

“Có gì mà vui sướng?
Thế gian luôn bốc cháy
Xấu ác chốn tối tăm
Chẳng bằng cầu định tuệ

Hãy quán thân thể này
Chớ cậy cho là an
Vọng tưởng tất sanh bệnh
Phải biết thân chẳng thật

Lúc già nhan sắc tàn
Bệnh tật không tươi sáng
Da nhăn cơ bắp teo
Cái chết sắp cận kề

Khi chết thức ra đi
Như người lìa bỏ xe
Thịt rã xương rải rác
Thân này làm sao hộ?”

Khi bảy vị Bhikṣu nghe Phật nói kệ thì vọng niệm đình chỉ, tâm ý khai mở, và liền đắc Đạo Ứng Chân ở trước Phật.

Thuở xưa Đức Phật thuyết Pháp cho hàng trời người và các quốc vương ở Tinh xá Kỳ Viên gần thành Phong Đức.

Đương thời có một thôn làng với khoảng hơn 500 gia đình thuộc dòng dõi Phạm Chí. Trong đó có 500 Phạm Chí trẻ tuổi và họ tu theo pháp Phạm Chí. Với bản tánh kiêu mạn, bất kính người lớn tuổi, cao ngạo tự đại, và họ cho đó là lẽ thường.

Có một hôm, 500 Phạm Chí bỗng nhiên bàn luận với nhau rằng:

“Đạo nhân Gautama tự xưng là Phật, có trí tuệ vô ngại của Ba Minh, và chẳng ai dám luận nghị. Chúng ta hãy thỉnh Ngài đến luận nghị, và vặn hỏi muôn việc để biết hư thực thế nào?”

Và thế là, họ liền chuẩn bị những phẩm vật cúng dường và nghênh thỉnh Đức Phật đến. Bấy giờ Phật cùng các đệ tử đi vào trong thôn của các Phạm Chí. Tiếp đến Đức Phật ngồi xuống và lấy nước rửa tay. Khi đã ăn xong, Ngài rửa tay sạch sẽ.

Đương lúc ấy có đôi vợ chồng Phạm Chí lớn tuổi và họ cùng đi xin ăn ở trong thôn này. Phật biết họ vốn là những người giàu sang vô cùng và ông lão từng làm quan lớn.

Nhân đó Phật liền hỏi các Phạm Chí trẻ tuổi rằng:

“Các người có biết ông lão thuộc dòng dõi Phạm Chí đó chăng?”

Mọi người đều đáp rằng:

“Dạ biết!”

Đức Phật lại hỏi rằng:

“Có biết ông ta từng là người như thế nào không?”

Đáp rằng:

“Dạ thưa, ông ta vốn từng là một vị đại thần và có tài bảo vô số.”

[Đức Phật lại hỏi rằng:]

“Nhưng nay sao lại đi xin ăn thế kia?”

Mọi người đều đáp rằng:

“Dạ thưa, do ăn xài phung phí nên mới chịu bần cùng như thế.”

Phật bảo các Phạm Chí:

“Trên đời có bốn việc mà mọi người chẳng dễ làm. Nếu ai có thể thực hành, thì họ sẽ được phước và không bị nghèo khổ. Những gì là bốn?

1. tuổi trẻ tráng kiện mà biết khiêm nhường và không kiêu mạn
2. tuổi già mà biết tinh tấn và không dâm dật
3. có tiền tài trân bảo mà luôn nhớ bố thí
4. tìm thầy học hỏi, lắng nghe và thọ trì Chánh Pháp

Đây cũng giống như ông lão kia. Do chẳng thực hành bốn việc đó, cho rằng mọi thứ thường còn, không biết việc thành bại và một mai đều ly tan, nên ông ta giống như con cò trắng già canh giữ cái ao khôvĩnh viễn chẳng được gì.

Lúc bấy giờ Thế Tôn liền nói kệ rằng:

“Ngày đêm lười kiêu mạn
Đã già còn dâm dật
Có tiền không bố thí
Chẳng vâng lời Phật dạy
Bị bốn việc đó che
Tự mình hại chính mình

Thoáng chốc cái già đến
Hình sắc suy biến tàn
Thiếu thời tâm như ý
Tuổi già nạn bủa vây

Đã chẳng tu tịnh hạnh
Lại còn không tích của
Lúc già như cò trắng
Ôm giữ cái ao khô

Đã chẳng giữ giới luật
Lại còn không tích của
Già suy khí lực kiệt
Thử hỏi có ích gì?

Già như lá mùa thu
Thân tàn làm sao quản?
Bệnh tật bỗng kéo đến
Sau nuối tiếc ích gì?”

Phật bảo các Phạm Chí:

“Trên đời có bốn thời điểm mà nếu biết tu hành thì sẽ được phước, thoát khỏi sanh tử và thoát miễn khổ ách. Những gì là bốn?

1. lúc tuổi trẻ có sức khỏe dồi dào
2. lúc phú quý có nhiều tài bảo
3. lúc gặp Tam Bảo và siêng gieo trồng phước điền
4. lúc bình thường suy tư vạn vật đều vô thường và hoại diệt

Những ai tu hành bốn việc này, mọi sở nguyện tất đều thành tựu và nhất định sẽ thấy dấu Đạo.”

Lúc bấy giờ Thế Tôn lại nói kệ rằng:

“Mạng sống ngày đêm giảm
Hãy mau gắng nỗ lực
Thế gian là vô thường
Chớ mê, đọa tối tăm

Hãy thắp ngọn đèn tâm
Tu học cầu trí tuệ
Lìa cấu chớ nhiễm ô
Cầm đuốc soi đường đi”

Khi nói lời ấy xong, Đức Phật phóng đại quang minh và chiếu sáng rực rỡ đất trời. Bấy giờ khắp lông trên thân của 500 Phạm Chí trẻ tuổi đều dựng đứng và nhân đó tâm ý được khai mở.

Họ đồng thời đứng dậy và đảnh lễ với trán chạm sát chân của Phật, rồi thưa với Phật rằng:

“Chúng con xin Quy Y Phật và xin làm đệ tử của Thế Tôn.”

Đức Phật bảo:

“Thiện lai, Bhikṣu!”

Lập tức, họ liền trở thành Đạo Nhân và đắc Đạo Ứng Chân. Bấy giờ, tất cả người lớn kẻ nhỏ ở trong thôn đều thấy dấu Đạo và không ai là chẳng hoan hỷ.



KINH PHÁP CÚ THÍ DỤ