KINH PHÁP CÚ THÍ DỤ
Dịch từ Phạn văn: Pháp sư Pháp Cự và Pháp sư Pháp Lập ở Thế Kỷ 4
Dịch sang Tiếng Việt: Tại gia Bồ-tát giới Thanh tín nam Nguyên Thuận

 

 QUYỂN 2

PHẨM 16: SỐ NGHÌN

Vào thời Đức Phật giáo hóa chúng sanh ở thành Phong Đức, bấy giờ có một vị Bhikṣu lớn tuổi tên là Tiểu Lộ, vừa mới xuất gia và bẩm tánh ám độn. Khi ấy Đức Phật sai 500 vị Ứng Chân mỗi ngày thay phiên chỉ dạy ông ấy. Thế nhưng suốt ba năm ròng mà thầy cũng không nhớ một bài kệ. Bốn chúng đệ tử khắp cả nước đều biết ngài tối dạ.

Với lòng từ mẫn thương cảm, Đức Phật liền gọi ông ấy đến trước và truyền dạy cho một bài kệ:

“Nhiếp ý gìn giữ lời
Thân cũng chớ vi phạm
Hành giả tu như thế
Sẽ vượt khỏi thế gian”

Bấy giờ Bhikṣu Tiểu Lộ hết sức cảm động trước ân đức từ bi của Phật, ngài rất vui mừng, tâm khai mở, và miệng đọc tụng bài kệ chẳng ngớt.

Phật bảo ngài rằng:

“Ông nay đến già mới thuộc được một bài kệ mà ai cũng biết. Đó không có gì kỳ lạ hết. Ta nay sẽ thuyết giảng ý nghĩa của nó cho ông. Hãy nhất tâm lắng nghe!”

Bhikṣu Tiểu Lộ vâng lời lắng nghe.

Đức Phật liền dạy:

“Thân có ba nghiệp, ngữ có bốn nghiệp, và ý có ba nghiệp. Ông hãy quán sát sự sanh diệt của chúng. Hữu tình luân chuyển không ngừng ở năm đường trong ba cõi, do chúng mà sanh lên trời, do chúng mà đọa đường ác, và do chúng mà đắc Đạo tự nhiên của tịch diệt.”

Sau đó Đức Phật lại phân biệt và thuyết giảng vô lượng diệu Pháp. Bấy giờ Bhikṣu Tiểu Lộ hoát nhiên được tâm khai ý giải và liền đắc Đạo Ứng Chân.

Vào thời ấy có một tinh xá dành riêng cho 500 vị Bhikṣuṇī. Mỗi ngày Đức Phật sai một vị Bhikṣu tới đó để thuyết giảng Kinh Pháp.

Khi nghe rằng ngày mai tới lượt của Bhikṣu Tiểu Lộ sẽ đến, các vị Bhikṣuṇī đều cười nhạo và nói rằng:

“Ngày mai khi ông ta đến, chúng ta hãy cùng nhau đọc ngược bài kệ để khiến ông ta xấu hổ mà chẳng thể thốt ra một lời.”

Hôm sau khi Bhikṣu Tiểu Lộ đi đến, hết thảy các vị Bhikṣuṇī lớn nhỏ đều ra ngoài đảnh lễ, rồi nhìn nhau mà cười. Khi Bhikṣu Tiểu Lộ đã ngồi xuống, thọ trai và rửa tay xong, họ thỉnh ngài thuyết Pháp.

Bấy giờ Bhikṣu Tiểu Lộ liền bước lên tòa cao và kể ra điều xấu hổ của mình rằng:

“Tôi kém đức tài mọn, xuất gia chưa lâu, bản tánh lại ngu độn và sở học chẳng nhiều. Tôi chỉ biết ý nghĩa thô thiển của một bài kệ, nay xin nói ra. Kính mong các vị hãy yên tĩnh lắng nghe.”

Khi ấy các vị Bhikṣuṇī trẻ tuổi muốn đọc ngược bài kệ nhưng miệng chẳng thể mở. Họ kinh sợ tự trách và cúi đầu sám hối. Bhikṣu Tiểu Lộ liền như lời Phật dạy, phân biệt rành rẽ nghiệp của thân ngữ ý, tội phước tạo bởi thân tâm, thăng thiên đắc Đạo, ngưng thần đoạn tưởng, và Pháp nhập định.

Khi nghe lời dạy của ngài, lập tức các vị Bhikṣuṇī vô cùng kinh ngạc, nhất tâm hoan hỷ, và đều đắc Đạo Ứng Chân.

Một ngày nọ, vua Thắng Quân thỉnh Phật và chư Tăng đến chánh điện để thọ trai. Lúc ấy Đức Phật muốn hiện uy thần của Bhikṣu Tiểu Lộ nên đưa bát cho ngài cầm và bảo đi ở phía sau.

Khi ấy có một kẻ gác cổng nhận ra Bhikṣu Tiểu Lộ nên chặn lại không cho vào và nói rằng:

“Ông là một Đạo Nhân mà cả một bài kệ cũng chẳng hiểu thì làm sao đáng tiếp thọ cúng dường? Tôi là kẻ phàm tục mà còn biết kệ, hà huống là một Đạo Nhân. Cúng dường cho người chẳng có trí tuệ như ông chỉ là vô ích. Cho nên không cần ông phải vào.”

Thế nên Bhikṣu Tiểu Lộ đành phải đứng ngoài cổng. Khi Phật đã ngồi ở chánh điện và rửa tay xong, Bhikṣu Tiểu Lộ liền từ xa duỗi cánh tay ra để đưa bát cho Phật. Nhà vua cùng quần thần, phu nhân, thái tử và bốn chúng đệ tử trong chúng hội chỉ thấy cánh tay tiến vào mà chẳng thấy người đâu cả.

Họ kinh ngạc và hỏi Phật rằng:

“Đây là cánh tay của ai vậy, thưa Thế Tôn?”

Đức Phật bảo:

“Đó là cánh tay của Bhikṣu Tiểu Lộ. Cách đây mấy hôm, ông ấy đã đắc Đạo. Vừa rồi Ta sai ông ấy cầm bát. Bởi người gác cổng không cho vào nên ông ấy đã duỗi cánh tay ra để đưa bát cho Ta vậy.”

Khi ấy Bhikṣu Tiểu Lộ liền được mời vào và uy thần của ngài lúc đó còn gấp bội hơn bình thường.

Nhà vua bạch Phật rằng:

“Con nghe bản tánh của Bhikṣu Tiểu Lộ ngu độn, đến một bài kệ cũng chẳng biết, vậy nhờ duyên gì mà đắc Đạo?”

Phật bảo nhà vua rằng:

“Muốn đắc Đạo thì không bắt buộc phải học cho nhiều, mà chủ yếu là thực hành. Bhikṣu Tiểu Lộ đã liễu giải ý nghĩa của một bài kệ, nhất tâm tư duy, thân ngữ ý tịch tĩnh và thanh tịnh như vàng báu cõi trời. Có người tuy học rất nhiều nhưng chẳng thông hiểu và cũng chẳng tu hành, lãng phí tâm tư như thế thử hỏi có ích gì?”

Lúc bấy giờ Thế Tôn liền nói kệ rằng:

“Dù tụng cả ngàn kệ
Chẳng hiểu có ích gì?
Đâu bằng hiểu một câu
Nghe rồi ý tịch nhiên

Dù tụng cả ngàn kệ
Chẳng hiểu có ích gì?
Đâu bằng chỉ một câu
Nghe rồi liễu thoát khổ

Dù tụng nhiều Kinh điển
Chẳng hiểu có ích gì?
Thông suốt chỉ một câu
Tu hành sẽ đắc Đạo”

Khi Phật nói kệ xong, 300 vị Bhikṣu đắc Đạo Ứng Chân. Nhà vua cùng quần thần, phu nhân và thái tử, không ai là chẳng hoan hỷ.


Thuở xưa Đức Phật thuyết Pháp cho hàng trời người ở thành Phong Đức.

Bấy giờ trong thành Phong Đức có một Phạm Chí trưởng giả giàu sang vô cùng, tên là Thùy Dữ. Gia tài của ông ta nhiều không thể tính xuể. Theo pháp của Phạm Chí, ông cần lập một lễ đàn lớn để tiếng tăm hiển hách, và dùng hết tài sản để làm một lễ hội bố thí rộng lớn. Ông cúng dường hơn 5.000 Phạm Chí suốt năm năm, nào là cung cấp y phục, giường nệm, thuốc thang, trân bảo quý hiếm, đồ vật cúng tế, và mọi thứ yêu quý nhất.

Các Phạm Chí suốt năm năm ròng cũng vì Trưởng giả Thùy Dữ mà thiết lập muôn sự cúng tế đến khắp chư thiên, tứ sơn ngũ nhạc, các vị thần linh của tinh tú và nhật nguyệt. Họ chú nguyện cho trưởng giả suốt ngày đêm sẽ hưởng thọ phước báo.

Vào một ngày cuối cùng của năm năm, ông tổ chức một ngày bố thí cực đại. Như pháp của trưởng giả, ông cho chuẩn bị những chén vàng đựng đầy những hạt lúa bạc, những chén bạc đựng đầy những hạt lúa vàng, voi ngựa xe cộ, nô tỳ tài vật, y phục và trang sức làm bằng bảy báu, lọng che, giày dép, áo da nai, tích trượng, giường nệm, chậu và lọ dùng để tắm rửa, ghế ngồi, chiếu lót. Hết thảy muôn loại tài vật đều dùng hết vào việc bố thí.

Ở ngày hôm đó, tất cả đều đến dự đại hội. Quỷ thần, quốc vương, đại thần, Phạm Chí, và những người thuộc dòng dõi đại tánh thảy đến ngồi trong đại hội. Quan cảnh rất đông đúc, náo nhiệt, và ai ai cũng vui vẻ.

Phật từ xa thấy như thế nên mới than tiếc rằng:

“Ông đại tánh Phạm Chí này sao ngu si thế? Sự bố thí rất lớn nhưng phước báo lại quá kém cỏi. Đây ví như gieo trồng bố thí trong lửa thì làm sao được phước báo? Nếu Ta không giáo hóa, ông ấy vĩnh viễn sẽ lìa xa Chánh Pháp.”

Bấy giờ Thế Tôn đứng dậy, chỉnh y phục, rồi từ dưới đất vọt ra và phóng ánh sáng lớn chiếu khắp chúng hội. Tất cả kẻ lớn người nhỏ đều kinh ngạc chưa từng có, kinh hoàng khiếp vía và chẳng biết là vị thần nào. Lúc ấy Trưởng giả Thùy Dữ cùng các đại chúng cúi đầu sát đất và đảnh lễ Đức Phật.

Khi thấy mọi người đều có lòng cung kính, và nhân bởi sự chí thành của họ nên Phật liền nói kệ rằng:

“Mỗi tháng tới miếu đền
Suốt đời không thôi nghỉ
Đâu bằng trong thoáng chốc
Nhất tâm niệm Chánh Pháp
Một niệm phước của Đạo
Hơn kẻ thờ trọn đời

Dù trọn cả trăm năm
Phụng thờ miếu thần lửa
Chẳng bằng trong khoảnh khắc
Cúng dường Phật Pháp Tăng
Phước đức một lần tu
Hơn kẻ thờ trăm năm”

Bấy giờ Thế Tôn bảo Trưởng giả Thùy Dữ rằng:

“Bố thí có bốn sự. Những gì là bốn?”

1. bố thí nhiều mà phước báo lại ít
2. bố thí ít mà phước báo lại nhiều
3. bố thí nhiều mà phước báo cũng nhiều
4. bố thí ít mà phước báo cũng ít

Bố thí nhiều mà phước báo lại ít là gì? Đó là những kẻ ngu si sát sanh để cúng tế trời, uống rượu ca vũ và làm hao tổn tài sản. Việc ấy chẳng có chút phước đức hay trí tuệ vậy.

Bố thí ít mà phước báo cũng ít là gì? Đó là những kẻ với lòng xấu ác và keo kiệt mà bố thí cho đạo sĩ phàm tục. Do cả hai đều ngu si nên chẳng có phước.

Bố thí ít mà phước báo lại nhiều là gì? Đó là những người với lòng từ mà có thể cúng dường các vị xuất gia vì Đạo. Sau khi ăn xong, họ tinh tấn tu học. Sự bố thí này tuy ít nhưng phước lại rất lớn.

Bố thí nhiều mà phước báo cũng nhiều là gì? Đó là nếu có người hiền lương nào giác ngộ thế gian là vô thường. Rồi họ hảo tâm xuất tài, xây chùa dựng tháp và tinh xá viên lâm để cúng dường Tam Bảo. Lại cúng dường chư Tăng y phục, giày dép, giường nệm và thức ăn. Phước đức này như năm con sông lớn đổ vào biển cả. Phước báo chảy mãi như thế và đời đời chẳng đoạn tuyệt. Đó gọi là bố thí nhiều mà phước báo cũng nhiều.

Ví như đất đai của nhà nông. Có chỗ thì đất màu mỡ và có chỗ thì đất cằn cỗi. Do đó sự thu hoạch cũng chẳng giống nhau.”

Khi thấy sự biến hóa của Phật ở giữa chúng hội và lại nghe được Pháp âm, Trưởng giả Thùy Dữ sanh tâm đại hoan hỷ. Chư thiên, dân chúng, và quỷ thần đều đắc Quả Nhập Lưu. 5.000 Phạm Chí đều trở thành Đạo Nhân và đắc Đạo Ứng Chân. Gia chủ Thùy Dữ cùng toàn thể lớn nhỏ trong nhà xin thọ Năm Giới và cũng đều thấy dấu Đạo. Quốc vương và quần thần đều thọ Ba Quy Y, xin làm Thanh Tín Sĩ, và cũng được Pháp nhãn thanh tịnh.


Vào thời Đức Phật giáo hóa chúng sanh ở Tinh xá Kỳ Viên gần thành Phong Đức, bấy giờ trong thành Vương Xá có một kẻ hung bạo ngu si, bất hiếu với cha mẹ, khinh miệt người lương thiện, và bất kính người lớn tuổi.

Do đó cửa nhà suy sụp và luôn chẳng được như ý. Thế nên anh ta nảy ý nghĩ thờ lửa để cầu phước báo. Pháp thờ lửa là đợi khi mặt trời sắp lặn, rồi đốt một đống lửa lớn. Sau đó người ấy quỳ xuống và hướng về ngọn lửa mà lễ lạy. Thậm chí lễ lạy như thế cho đến nửa đêm và cho tới khi lửa tắt mới ngừng. Anh ta thờ lửa như vậy suốt ba năm ròng mà chẳng được phước gì.

Thế là anh ta chuyển sang thờ mặt trời và mặt trăng. Pháp thờ mặt trời và mặt trăng là đợi khi mặt trời xuất hiện ở ban ngày rồi hướng về đó lễ lạy, hoặc đợi khi mặt trăng tỏ sáng ở ban đêm rồi hướng về đó lễ lạy. Anh ta lễ lạy như thế suốt ba năm ròng, không chút ngừng nghỉ, mà cũng chẳng được phước gì.

Vì vậy anh ta lại chuyển sang thờ trời. Anh ta thắp hương quỳ lạy, dâng lên các đồ vật thơm ngon, hương hoa, rượu thịt, heo dê, và bê con. Anh ta làm như thế cho đến khi gia cảnh nghèo nàn mà cũng chẳng được phước gì. Anh ta phải chịu muôn vàn khổ sở, thân thể tiều tụy, và mắc bệnh nặng đến nỗi không thể ra khỏi cửa.

Một ngày kia, anh ta nghe ở thành Phong Đức có một vị thánh được chư thiên cung kính, gọi là Đức Phật. Anh ta muốn đến phụng sự và hy vọng được phước báo. Và thế là anh ta liền đến chỗ của Phật. Lúc vừa đến cổng của tinh xá, anh ta nhìn thấy quang minh và tướng hảo chói lòa của Thế Tôn, dung nhan kỳ dị như mặt trăng ở giữa các vì sao.

Anh ta vui mừng hớn hở khi trông thấy Phật, rồi cúi đầu đảnh lễ, chắp tay và thưa với Phật rằng:

“Con xưa nay ngu muội và chẳng biết Tam Bảo. Suốt chín năm miệt mài thờ lửa, thờ nhật nguyệt và chư thiên thần mà chẳng hề có chút phước. Nay nhan sắc tiều tụy, khí lực suy yếu, bốn đại bất hòa, và cái chết chực chờ. Con nghe Thế Tôn là bậc thầy của trời người nên từ xa cố đến xin quy y. Cuối mong Thế Tôn rủ lòng thương xót để cho con được phước lành.”

Đức Phật bảo:

“Việc thờ bái của ông lúc trước đều là tà kiến, lễ bái yêu tinh quỷ quái. Dù có cúng tế cao như núi thì tội cũng sẽ sâu như sông như biển mà thôi. Phàm là việc sát sanh để cầu phước thì là cách xa phước báo vậy. Giả sử có trải qua trăm kiếp để khổ nhọc giết heo dê khắp thiên hạ, rồi mang đi cúng tế, thì tội chỉ nặng như núi Diệu Cao mà phước nhỏ như hạt cải cũng chẳng có. Chỉ tự mình hao tài phí sức, há chẳng phải mê muội lắm sao?

Lại nữa, ông làm người mà còn bất hiếu với cha mẹ, khinh miệt người lương thiện, và bất kính người lớn tuổi. Kiêu căng ngã mạn, ba độc bốc cháy phừng phừng, và tội sát sanh ngày càng sâu, thì làm sao được phước đây?

Nếu ông có thể thay đổi tâm tánh, kính lễ bậc hiền minh, lễ độ uy nghi, cung phụng bậc trưởng thượng, bỏ ác làm lành, và tu dưỡng phẩm đức, thì bốn phước sẽ ngày ngày càng tăng và đời đời chẳng gặp hoạn nạn. Những gì là bốn?

1. nhan sắc đoan chánh
2. khí lực cường thịnh
3. an ổn không bệnh
4. thọ mạng tăng trưởng và không bao giờ bị chết oan

Nếu ông có thể thực hành như thế mà chẳng lười biếng thì cũng có thể đắc Đạo.”

Lúc bấy giờ Thế Tôn liền nói kệ rằng:

“Cầu phước cúng tế thần
Hãy xem phước về sau
Bốn phần chưa được một
Đâu bằng lễ hiền nhân

Ai khéo làm việc lành
Thường kính bậc trưởng lão
Bốn phước tự nhiên tăng
Sắc, lực, thọ, an vui”

Khi nghe những bài kệ này của Phật, người ấy hoan hỷ tín giải, cúi đầu đảnh lễ, và lại thưa với Phật rằng:

“Con bị nghiệp tội cấu uế chồng chất và che lấp suốt chín năm. Nay nhờ ơn từ bi hóa độ của Phật nên mới được tỏ ngộ. Kính mong Thế Tôn cho phép con được xuất gia để trở thành Đạo Nhân.”

Đức Phật bảo:

“Thiện lai, Bhikṣu!”

Lúc đó, tóc trên đầu của ngài tự rụng và liền trở thành Đạo Nhân. Sau đó, ngài quán sát hơi thở ra vào và liền đắc Đạo Ứng Chân.



KINH PHÁP CÚ THÍ DỤ