KINH PHÁP CÚ THÍ DỤ
Dịch từ Phạn văn: Pháp sư Pháp Cự và Pháp sư Pháp Lập ở Thế Kỷ 4
Dịch sang Tiếng Việt: Tại gia Bồ-tát giới Thanh tín nam Nguyên Thuận

 

 QUYỂN 1

PHẨM 7: TỪ BI

Thuở xưa có một ngọn núi, cách thành Vương Xá khoảng 500 dặm. Ở trên ngọn núi này có một đại gia đình, gồm có 122 người. Họ sanh ra và lớn lên ở vùng rừng núi, dùng việc săn bắn giết hại để mưu sinh, lấy da thú làm quần áo, ăn thịt thú vật, và chưa từng làm ruộng. Họ phụng sự quỷ thần và chẳng biết Tam Bảo.

Bấy giờ Phật dùng thánh trí quán sát và biết đáng được hóa độ, nên Ngài đi đến chỗ của họ, rồi ngồi dưới một gốc cây. Khi ấy những nam nhân đều đi săn và chỉ có phụ nữ ở lại. Khi thấy tướng hảo quang minh của Phật chiếu sáng khắp đất trời, cây cối và sỏi đá ở trong núi đều biến thành màu vàng, thì kẻ lớn người nhỏ vừa mừng vừa sợ. Họ cho rằng Đức Phật là một vị thần, nên kéo đến lễ bái và trải chiếu thỉnh Phật ngồi. Lúc ấy Đức Phật thuyết giảng nghiệp tội của sát sanh và phước báo của lòng từ cho những bà mẹ. Ngài lại giảng về sự ái ân chỉ có nhất thời và rồi cũng phải biệt ly.

Khi nghe Kinh, những bà mẹ vui mừng và liền ở trước Phật thưa rằng:

“Thưa Thế Tôn! Chúng con sống ở trên núi và ăn thịt thú rừng. Bây giờ chúng con muốn dọn thức ăn để cúng dường Ngài. Xin Ngài hãy nhận cho.”

Phật bảo những bà mẹ rằng:

“Pháp của chư Phật không cho phép ăn thịt. Ta đã ăn trước khi đến đây. Các người không cần phải dọn thức ăn nữa.”

Nhân ấy Đức Phật dạy rằng:

“Con người sống ở đời có thể ăn rất nhiều thứ. Tại sao không ăn những thực phẩm có lợi ích, mà lại giết hại chúng sanh để nuôi sống bản thân, rồi khi chết phải đọa đường ác? Việc đó chỉ tổn hại mà chẳng có lợi ích. Các người hãy ăn ngũ cốc, thương xót chúng sanh và cho đến các loài sâu bọ. Đừng vì ham sống mà đi giết những loài khác để nuôi dưỡng chính mình, bởi tội chướng sẽ không tiêu tan. Nếu ai nhân từ và không giết hại, đời đời họ sẽ không gặp hoạn nạn.”

Lúc bấy giờ Thế Tôn liền nói kệ rằng:

“Lòng từ không giết hại
Thân nghiệp luôn khéo nhiếp
Đó là chốn bất tử
Nơi đến chẳng hoạn nạn

Lòng từ không giết hại
Gìn giữ ngữ ý nghiệp
Đó là chốn bất tử
Nơi đến chẳng hoạn nạn

An tĩnh chắp tay kính
Chẳng hại các chúng sanh
Chẳng gây phiền não sầu
Đó là tu tịnh hạnh

Từ mẫn luôn thương xót
Thanh tịnh như Phật dạy
Biết đủ biết dừng lại
Tất vượt thoát sanh tử”

Vừa lúc Phật nói kệ xong thì những người chồng đi săn cũng trở về. Bởi vợ của họ đang nghe Kinh nên không ra nghênh đón. Những người chồng kinh ngạc về điều quái lạ bất thường này và nghĩ rằng có chuyện gì đã xảy ra. Họ quăng bỏ thịt xuống và vội trở về. Khi đến nơi, họ thấy các cô vợ đều ngồi ở trước Phật và chắp tay nghe Kinh. Họ giận dữ hét lớn và toan muốn giết Phật.

Các cô vợ ngăn cản và nói rằng:

“Đây là một vị thần, chớ khởi lòng ác với Ngài!”

Và thế là, mỗi người họ liền sám hối lỗi lầm và đảnh lễ Phật. Đức Phật thuyết giảng lại về nghiệp tội của sát sanh và phước báo của lòng từ. Khi ấy, tâm ý của những người chồng tỏ ngộ.

Họ quỳ hai gối và thưa với Phật rằng:

“Chúng con sanh ra và lớn lên trong rừng sâu và dùng việc săn bắn giết hại để mưu sinh nên nghiệp tội tích lũy. Chúng con phải làm sao để thoát khỏi tai ương?”

Lúc bấy giờ Thế Tôn liền nói kệ rằng:

“Bước theo hạnh từ bi
Bác ái cứu chúng sanh
Có được mười một lợi
Phước đức luôn tùy thân

Ngủ yên tỉnh giấc an
Chẳng thấy cơn ác mộng
Trời hộ người kính mến
Thuốc độc chiến tranh không
Chẳng gặp nạn nước lửa
Nơi ở được phước lợi
Chết sanh cõi Phạm Thiên
Đây là mười một lợi”

Khi Phật nói kệ xong, nam nữ lớn nhỏ, cả thảy 122 người, vui vẻ tín thọ và đều phụng trì Năm Giới.

Sau đó, Đức Phật bảo vua Ảnh Thắng hãy ban ruộng đất và lương thực cho họ. Do quốc vương dùng lòng nhân từ để rộng dạy nhân dân, nên kể từ đó, đất nước an bình thịnh vượng.

Thuở xưa có một nước lớn ở tại vùng biên giới. Vua của nước này tên là Hòa Mặc. Bởi chưa từng thấy Tam Bảo cùng với sự giáo hóa vi diệu của thánh nhân, vị quốc vương này phụng sự Phạm Chí và yêu tà của ngoại đạo. Toàn dân trong nước đều theo tà pháp, sát sanh cúng tế và cho đó là lẽ thường.

Bấy giờ mẹ của nhà vua lâm bệnh và nằm liệt trên giường. Tuy nhà vua đã sai ngự y đến chữa trị nhưng thuốc thang đều vô hiệu. Nhà vua lại sai người đến các bà đồng cốt để thỉnh cầu. Trải qua nhiều năm nhưng bệnh tình vẫn không thuyên giảm.

Sau đó, nhà vua lại triệu tập 200 Phạm Chí trong nước. Ngài mời họ vào cung, thỉnh ngồi, rồi dọn ẩm thực để cúng dường.

Sau đó nhà vua nói với họ rằng:

“Mẹ của trẫm đã bệnh nặng rất lâu, song vẫn không biết vì sao mà chẳng lành. Các khanh đây đều là những bậc tài trí, thông hiểu tướng số, và tinh tú trong trời đất. Các khanh cứ nói rõ nguyên nhân bệnh tình cho trẫm biết.

Các Phạm Chí tâu rằng:

“Tâu đại vương! Đó là bởi tinh tú đảo lộn, âm dương bất điều. Cho nên mới khiến cho thái hậu bệnh nặng như thế.”

Nhà vua hỏi rằng:

“Vậy trẫm phải làm sao mới khiến thái hậu lành bệnh?”

Các Phạm Chí tâu rằng:

“Tâu đại vương! Tại chỗ đất trống sạch sẽ ở ngoài thành, ngài hãy cử hành lễ tế đàn cho các vị thần nhật nguyệt tinh tú và tứ sơn ngũ nhạc. Trong lễ tế đàn này cần phải có 100 cái đầu của các loài súc vật và phải giết một đứa con nít để tế trời. Đại vương cũng phải tự mình dẫn thái hậu đến nơi đó, hãy quỳ lạy và cầu xin thì sau đó mới lành.”

Nhà vua liền nghe theo lời của các Phạm Chí và sai người chuẩn bị. Họ bắt một đứa con nít và lùa các súc vật đến chỗ tế đàn, nào là voi, ngựa, bò, dê. Trên đường đi, cả người lẫn thú kêu la thảm thiết và làm chấn động trời đất. Chúng từ cổng thành phía đông ra khỏi và bị lùa đến chỗ tế đàn, rồi sẽ bị giết để tế trời.

Khi ấy với lòng đại từ, Thế Tôn muốn rộng độ chúng sanh. Ngài cũng vì thương xót vị quốc vương này đã quá ngu si mê muội. Tại sao chỉ vì muốn cứu một người mà khởi lòng ác, rồi đi giết mạng sống của những chúng sanh khác?

Lúc bấy giờ Thế Tôn dẫn theo đại chúng và đi đến nước kia. Trên đường đến cửa thành phía đông, Đức Phật gặp quốc vương của nước này và các Phạm Chí. Họ đang ra lệnh cho lùa một bầy súc vật với tiếng kêu la thảm thiết từ cổng thành đi ra. Từ nơi xa, nhà vua thấy Đức Phật như mặt trời mọc và như ánh trăng rằm, quang minh tướng hảo chói lòa và chiếu sáng rực rỡ khắp đất trời. Khi nhân dân thấy Phật, không ai là chẳng cung kính. Còn đứa trẻ và các súc vật bị lùa đi cúng tế, chúng đều mong thoát khỏi.

Nhà vua liền tiến về phía trước, rồi xuống xe và bảo kẻ hầu cầm lọng lui ra. Sau đó ngài đảnh lễ Phật, hai gối quỳ, chắp tay và thăm hỏi Thế Tôn. Phật bảo nhà vua hãy an tọa, rồi hỏi nhà vua muốn đi đâu.

Lúc đó nhà vua chắp tay và thưa rằng:

“Thưa đại thánh! Quốc thái phu nhân lâm bệnh đã lâu. Con đã cho mời mọi danh y và cầu xin quỷ thần, song đều chẳng trị lành. Bây giờ con muốn đi cúng tế các vị thần nhật nguyệt tinh tú và tứ sơn ngũ nhạc để ngỏ hầu mẹ sẽ bình phục.”

Phật bảo nhà vua rằng:

“Hãy lắng nghe lời Ta nói.

– Nếu muốn được lúa gạo thì hãy đi trồng trọt.
– Nếu muốn được giàu sang thì hãy làm bố thí.
– Nếu muốn được sống lâu thì hãy tu lòng từ.
– Nếu muốn được trí tuệ thì hãy siêng học tập.

Nếu ai thực hành bốn việc này thì sẽ tùy theo điều làm của họ mà được kết quả. Người phú quý thì không ham thức ăn của kẻ bần tiện. Chư thiên có cung điện bảy báu, y phục và thức ăn tự nhiên hiện ra. Há có lý nào họ lại bỏ thức ăn cam lộ cõi trời mà đến dùng thức ăn thô kệch và dơ bẩn của nhân gian hay sao? Những kẻ dâm loạn, hoặc tin theo tà đạo cúng tế, lấy tà cho là chánh, hoặc sát sanh để sinh sống, thì họ cách xa Đạo thăm thẳm. Chỉ vì muốn cứu một mạng người mà đi giết hại biết bao chúng sanh khác, thử hỏi việc đó sẽ mang lại an lạc chăng?”

Lúc bấy giờ Thế Tôn liền nói kệ rằng:

“Dù ai trọn suốt đời
Phụng thờ khắp thần linh
Voi ngựa mang tế trời
Chẳng bằng hành từ bi”

Lúc nói kệ xong, Phật liền phóng quang minh chiếu sáng khắp đất trời. Các chúng sanh ở ba đường ác và chốn tám nạn, không ai là chẳng hoan hỷ. Tùy theo xứ sở của họ mà ai nấy đều được lợi ích. Khi nghe diệu Pháp và lại thấy quang minh, vua Hòa Mặc vui mừng khôn xiết và liền thấy dấu Đạo. Mẹ của nhà vua do nghe được Pháp nên tình thức của năm căn hòa vui và bệnh cũng tiêu trừ. Khi thấy quang minh tướng hảo của Phật và lại một lần nữa nghe được lời dạy của Ngài, 200 Phạm Chí sanh lòng hổ thẹn, sám hối lỗi lầm, và xin làm đệ tử của Phật. Đức Phật liền thu nhận. Họ đều trở thành Đạo Nhân và ai nấy được như sở nguyện.

Bấy giờ nhà vua cùng các đại thần thỉnh Phật cúng dường đến trọn một tháng. Kể từ đó, do nhà vua dùng Chánh Pháp trị quốc nên đất nước hưng thịnh thái bình.



KINH PHÁP CÚ THÍ DỤ