Want create site? Find Free WordPress Themes and plugins.

KINH ĐẠI BÁT NIẾT BÀN

Hán dịch: Căn cứ vào bản dịch của Tam tạng Pháp sư Đàm Vô Sấm, đời Tống. Sa-môn Tuệ Nghiêm, Tuệ Quán và Cư sĩ Tạ Linh Vận sửa lại
Việt dịch: Linh Sơn Pháp Bảo Đạo Tạng Kinh

Phẩm 7: BỐN TƯỚNG

(Quyển 4 – 5)

Đức Phật lại bảo Tôn giả Ca-diếp:

–Này thiện nam! Đại Bồ-tát phân biệt khai thị Đại Bát Niết Bàn có bốn tướng về nghĩa. Những gì là bốn? Một là tự chánh, hai là tha chánh, ba là có thể theo câu hỏi mà đáp, bốn là khéo giải nghĩa nhân duyên. Này Ca-diếp! Sao gọi là Tự chánh? Đó là Phật Như Lai thấy các nhân duyên mà có điều cần nói lên. Ví như vị Tỳ-kheo thấy đám lửa lớn liền nói lên: “Ta thà ôm lấy đám lửa cháy rực đó, nhất định chẳng dám đối với lời thuyết giảng mười hai bộ loại kinh điển và tạng bí mật của Như Lai mà bài báng: “Kinh này là lời nói của ma”. Hoặc nói: “Như Lai, Phật, Pháp, Tăng là vô thường”. Người nói như vậy là tự lừa dối, cũng lừa dối người khác. Thà dùng dao bén tự cắt lưỡi của mình, nhất định chẳng nói: “Như Lai Phật, Pháp, Tăng là vô thường”. Nếu nghe người khác nói cũng chẳng tín thọ. Đối với người nói này nên sinh lòng thương xót. Như Lai, Phật, Pháp, Tăng chẳng thể nghĩ bàn nên thọ trì như vậy. Tự quán thân mình giống như đống lửa. Đó gọi là Tự chánh.

Này Ca-diếp! Sao gọi là Tha chánh? Khi Đức Phật nói pháp, có một người con gái nuôi trẻ con bằng sữa, đi đến chỗ Đức Phật, đảnh lễ dưới chân Ngài, có điều đang nhớ nghĩ, tâm mãi suy tư ngồi về một phía. Bấy giờ, Thế Tôn biết nhưng vẫn hỏi: “Ngươi vì thương con nên cho trẻ ăn nhiều váng sữa mà chẳng biết trù lượng có tiêu hóa được cùng chẳng tiêu hóa được”. Khi ấy, người con gái liền bạch Phật: “Kỳ lạ thay! Thưa Thế Tôn! Ngài có thể biết rõ được điều suy nghĩ trong lòng của con. Nguyện xin Như Lai dạy con ít nhiều. Bạch Thế Tôn! Vào sáng nay, con cho trẻ ăn nhiều váng sữa, sợ chẳng thể tiêu hóa, sẽ bị yểu thọ. Cúi xin Như Lai chỉ dạy cho con”. Phật dạy: “Con của ngươi đã ăn tức thời tiêu hóa, tăng thêm thọ mạng”. Người con gái nghe rồi lòng rất hớn hở, lại thưa: “Như Lai nói chân thật nên con hoan hỷ. Thưa Thế Tôn! Như vậy thì vì muốn điều phục các chúng sinh nên khéo có thể phân biệt nói tiêu hóa hay chẳng tiêu hóa, cũng nói các pháp vô ngã, vô thường. Nếu Phật Thế Tôn trước nói “Thường” thì đồ chúng được giáo hóa sẽ nói rằng, pháp này đồng với pháp ngoại đạo, họ liền bỏ đi”. Phật bảo người con gái: “Nếu con ngươi lớn lên có thể tự đi lại, phàm việc ăn uống có thể tiêu cái khó tiêu mà vẫn cho ăn váng sữa như cũ thì chẳng cung cấp đủ. Đệ tử Thanh văn của Ta cũng như vậy, như đứa con của ngươi, họ chẳng thể tiêu hóa pháp thường trụ này. Nên Ta trước nói khổ, vô thường. Nếu những đệ tử Thanh văn của Ta công đức đã đủ, đủ sức tu tập kinh điển Đại thừa thì Ta sẽ vì họ giảng nói về sáu vị ở kinh này. Những gì là sáu vị? Đó là vị chua của khổ, vị mặn của vô thường, vị đắng của vô ngã, vị ngọt của lạc, vị cay của ngã, vị nhạt của thường. Trong thế gian có ba thứ vị, đó là vô thường, vô ngã, vô lạc. Phiền não là củi, trí tuệ là lửa. Do nhân duyên đó mà thành món ăn Niết-bàn, gọi là thường, lạc, ngã, khiến cho các đệ tử đều ham thích”. Đức Phật lại bảo người con gái: “Ngươi nếu có duyên muốn đến xứ khác nên đuổi đứa con xấu ra khỏi nhà, rồi đem hết kho báu giao cho đứa con tốt”. Người con gái lại bạch Phật: “Thật đúng như lời dạy của Đức Thánh. Kho tàng châu báu chỉ cho đứa con tốt, chẳng nên cho đứa con xấu”. Phật bảo: “Ta cũng như vậy, khi Bátniết-bàn, pháp tạng vô thượng vi mật của Như Lai, Ta chẳng trao cho các đệ tử Thanh văn v.v… như kho báu của ngươi chẳng cho đứa con ác, mà cần phải phó chúc cho các Bồ-tát v.v… như ngươi đem kho báu ủy thác cho đứa con tốt. Vì sao? Vì đệ tử Thanh văn sinh ra tưởng về biến đổi cho rằng Phật Như Lai diệt độ thật. Nhưng Ta thật chẳng diệt độ. Như ngươi trong thời gian đi xa chưa trở về, đứa con xấu của ngươi liền nói rằng ngươi đã chết, mà ngươi thật chẳng chết. Các Bồ-tát nói rằng, Như Lai thường còn chẳng biến đổi như đứa con tốt của ngươi chẳng nói ngươi chết. Do ý nghĩa này nên Ta đem pháp tạng bí mật vô thượng giao phó cho các Bồ-tát. Này thiện nam! Nếu có chúng sinh cho rằng Phật thường trụ chẳng biến dịch thì phải biết nhà này là nhà có Phật”.

Đó gọi là Tha chánh.

Này Ca-diếp! Sao gọi là có thể tùy theo câu hỏi mà trả lời? Nếu có người đến hỏi Phật Thế Tôn: “Tôi phải làm gì để chẳng bỏ tiền của mà được tiếng là người đàn-việt đại thí?”. Phật nói: “Nếu có Sa-môn, Bà-la-môn ít dục, biết đủ, chẳng thọ nhận, chẳng nuôi vật bất tịnh thì nên thí cho người ấy tớ trai, tớ gái, người sai bảo, người tu phạm hạnh thì thí cho nữ sắc, kẻ đoạn dứt rượu thịt thì thí cho rượu thịt, người chẳng ăn quá ngọ thì thí cho bữa ăn quá ngọ, người chẳng dùng hương hoa thì thí cho hương hoa. Người bố thí như vậy thì danh tiếng vang lừng cùng khắp thiên hạ mà chưa từng tổn phí một hào của mình. Đó gọi là có thể tùy theo câu hỏi mà đáp.

Bấy giờ, Bồ-tát Ca-diếp bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Người ăn thịt chẳng nên thí cho thịt. Vì sao? Vì con thấy người chẳng ăn thịt có công đức lớn.

Đức Phật khen Bồ-tát Ca-diếp:

–Hay thay! Hay thay! Nay ông mới có thể giỏi biết ý của Ta. Bồtát hộ pháp cần phải như vậy. Này thiện nam! Từ ngày hôm nay, bắt đầu chẳng cho phép đệ tử Thanh văn ăn thịt. Như khi thọ đàn-việt tín thí thì nên xem thức ăn đó như thịt của con mình.

Bồ-tát Ca-diếp lại bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Tại sao Như Lai chẳng cho ăn thịt?

–Này thiện nam! Người ăn thịt thì dứt mất giống đại từ.

Bồ-tát Ca-diếp lại hỏi:

–Vì sao trước đây Như Lai cho phép Tỳ-kheo ăn ba thứ tịnh nhục?

–Này Bồ-tát Ca-diếp! Ba thứ tịnh nhục đó là tùy theo sự việc mà chế ra.

Bồ-tát Ca-diếp lại bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Do nhân duyên gì mà mười thứ bất tịnh cho đến chín thứ thanh tịnh mà lại chẳng cho phép?

Đức Phật bảo Bồ-tát Ca-diếp:

–Cũng là nhân việc đó mà cấm chế dần, ông phải biết đó tức là thị hiện nghĩa đoạn nhục.

Bồ-tát Ca-diếp lại bạch Phật:

–Tại sao Như Lai khen thịt cá là món ăn ngon?

–Này thiện nam! Ta cũng chẳng nói những gì thuộc về thịt, cá là món ăn ngon, mà Ta nói mía, gạo, đường, tất cả lúa mạch, đường đen, sữa, cao sữa, váng sữa, dầu dùng làm món ăn ngon. Tuy Ta nói nên sắm đủ thứ quần áo, nhưng cái nên sắm phải là đồ hoại sắc, huống chi là tham trước vị thịt cá.

Bồ-tát Ca-diếp lại bạch Phật:

–Như Lai nếu chế chẳng ăn thịt thì năm thứ vị như sữa, bơ, nước cao sữa, váng sữa tươi, váng sữa chín, dầu mè v.v… và các y phục, áo kiều xa gia, ngọc kha, da thuộc, vàng, bạc, chén, bát v.v…, những vật như vậy cũng chẳng nên thọ nhận.

–Này thiện nam! Ông chẳng nên đồng sở kiến với hạng Ni-kiền kia. Như Lai đã chế ra tất cả giới cấm đều có ý khác. Do ý khác nên cho phép ăn ba thứ tịnh nhục, do tưởng khác nên đoạn tuyệt mười thứ thịt, do tưởng khác nên tất cả đều dứt dù cho con vật đã chết. Này Cadiếp! Ta từ hôm nay cấm chế các đệ tử chẳng được ăn tất cả thịt nữa. Này Ca-diếp! Người ăn thịt ấy hoặc đi hoặc đứng hoặc ngồi hoặc nằm, tất cả chúng sinh nghe hơi thịt của chúng đều sinh kinh sợ. Ví như có người gần gũi với sư tử, rồi mọi người thấy người đó có mùi hôi của sư tử cũng sinh kinh sợ.

Này thiện nam! Như người ăn tỏi mùi hôi khó chịu. Người khác nghe hôi nên bỏ đi. Giả sử người thấy từ xa còn chẳng muốn nhìn huống chi là phải đến gần họ. Người ăn thịt cũng như vậy, tất cả chúng sinh nghe hơi thịt của chúng đều sợ hãi phát sinh tư tưởng sợ chết. Những loài có mạng sống đi trong hư không, dưới đất, trong nước đều bỏ chạy hết, đều cho người này là oán địch của mình. Vậy nên Bồ-tát chẳng tập ăn thịt, nhưng vì độ chúng sinh mà thị hiện ăn thịt. Tuy thị hiện ăn thịt nhưng kỳ thật chẳng ăn. Này thiện nam! Như vậy Bồ-tát đối với những món thanh tịnh còn chẳng ăn, huống chi là ăn thịt. Này thiện nam! Sau khi Ta Niết-bàn, vô lượng trăm ngàn các bậc Thánh nhân của bốn quả đều Niết-bàn, sau khi chánh pháp diệt, ở trong đời tượng pháp, sẽ có Tỳ-kheo với dáng vẻ giữ gìn luật mà ít đọc tụng kinh, ham thích ăn uống, trưởng dưỡng thân mình. Thân thể ăn mặc thô bỉ xấu xí, hình dung tiều tụy, không có uy đức, chăn thả trâu dê, gánh vác củi cỏ, tóc râu bờm xờm, móng dài và bén. Họ tuy mặc áo ca-sa nhưng giống như thợ săn, tuy nhìn chăm bước chậm mà như mèo rình chuột. Họ thường xướng lên: “Ta đắc quả A-la-hán” chịu nhiều thứ bệnh, nằm ngủ trên phân bẩn. Bên ngoài họ hiện vẻ hiền thiện mà bên trong ôm lòng tham lam ganh ghét, như Bà-la-môn thọ phép câm v.v… Thật chẳng phải Sa-môn mà hiện hình dáng Sa-môn, tà kiến hừng hực, bài báng chánh pháp. Những người như vậy phá hoại sự chế ra giới luật để chánh hạnh oai nghi, nói quả giải thoát để lìa khỏi pháp bất tịnh của Như Lai và phá hoại giáo lý bí mật thâm diệu. Họ đều tự theo ý nói ngược lại kinh luật: “Như Lai đều cho chúng ta ăn thịt”. Họ tự tạo ra lập luận này mà nói rằng chính là Phật nói rồi cùng tranh cãi, đều tự xưng là Thích tử Sa-môn. Này thiện nam! Bấy giờ, lại có những Samôn gom chứa thóc gạo, nhận lấy thịt cá, tự tay làm ăn, nắm giữ bình dầu, lọng báu, giày da, gần gũi quốc vương, đại thần, trưởng giả, xem tướng tinh tú, siêng học nghề thuốc, nuôi dưỡng nô tỳ, gom chứa vàng, bạc, lưu ly, xa cừ, mã não, pha lê, chân châu, san hô, hổ phách, bích ngọc, kha bối v.v… đủ thứ trái quả. Họ học tập các kỹ nghệ, họa sư, tô trát, soạn sách dạy học, gieo trồng cây cối, cách dùng độc, chú thuật huyễn hóa, hòa hợp các thuốc, tấu xướng kỹ nhạc, hương hoa trang điểm thân, đánh bạc, chơi cờ vây v.v… học các nghề khéo léo. Nếu có vị Tỳ-kheo có thể lìa khỏi các việc ác như vậy thì Ta sẽ nói người này là đệ tử chân chính của Ta.

Bấy giờ, Bồ-tát Ca-diếp lại bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di nương vào người khác mà sống, nếu khi xin ăn mà được thức ăn có lẫn thịt thì làm sao thức ăn xin được hợp với pháp thanh tịnh?

Đức Phật dạy:

–Này Ca-diếp! Phải dùng nước rửa sạch làm cho thịt tách ra rồi mới ăn. Nếu đồ đựng thức ăn bị thịt làm bẩn thì cần làm cho mất mùi vị là dùng được, không có tội. Nếu thấy trong thức ăn có nhiều thịt thì chẳng nên thọ nhận. Tất cả thịt đều chẳng nên ăn, nếu ăn thì bị tội. Nay Ta xướng chế ra pháp đoạn nhục này. Nếu nói rộng thì chẳng thể hết mà thời điểm Niết-bàn đã đến. Vậy nên Ta lược nói thôi. Đó gọi là có thể tùy theo câu hỏi mà đáp.

Này Ca-diếp! Sao gọi là khéo giải nghĩa nhân duyên? Như có bốn bộ chúng đến hỏi Ta: “Thưa Thế Tôn! Ý nghĩa như vậy thì khi Như Lai mới xuất hiện tại sao Ngài chẳng vì vua Ba-tư-nặc nói nghĩa của pháp môn thâm diệu đó? Hoặc khi thì nói sâu, hoặc khi nói cạn. Hoặc gọi là phạm, hoặc gọi là chẳng phạm. Sao gọi là đọa? Sao gọi là luật? Sao gọi là nghĩa của Ba-la-đề-mộc-xoa?

Đức Phật dạy:

–Ba-la-đề-mộc-xoa gọi là tri túc thành tựu oai nghi, không có sự thọ nhận, chất chứa, cũng gọi là sinh sống thanh tịnh. Đọa là gọi bốn đường ác. Lại nữa, đọa là rơi vào địa ngục cho đến chốn A-tỳ. Luận về độ nhanh chóng của việc đọa ấy thì hơn cả mưa rào. Người nghe kinh sợ, kiên trì giới cấm, chẳng phạm oai nghi, tu tập biết đủ, chẳng nhận tất cả vật bất tịnh. Lại nữa, đọa là nuôi lớn địa ngục, súc sinh, ngạ quỷ. Do những nghĩa đó nên gọi là đọa. Ba-la-đề-mộc-xoa là lìa khỏi tà nghiệp bất thiện của thân, miệng, ý. Luật là vào giới oai nghi, nghĩa thiện trong kinh thâm diệu, ngăn chận sự thọ nhận tất cả vật bất tịnh và nhân duyên bất tịnh, cũng ngăn chận bốn tội nặng, mười ba tăng tàn, hai pháp bất định, ba mươi xả đọa, chín mươi đọa, bốn pháp hối quá, pháp chúng học, bảy diệt tránh v.v… Hoặc lại có người phá tất cả giới. Sao gọi là tất cả? Đó là bốn trọng pháp cho đến bảy pháp diệt tránh. Hoặc lại có người bài báng chánh pháp, kinh điển thâm diệu và Nhấtxiển-đề thành tựu đầy đủ hết tất cả tướng, không có nhân duyên. Những người như vậy tự nói rằng ta là người thông minh, trí tuệ lanh lợi, những tội nặng, nhẹ họ đều che giấu hết. Che giấu các ác như con rùa che giấu sáu bộ phận thân thể. Mọi tội lỗi như vậy mãi mãi chẳng hối cải. Do chẳng hối cải nên ngày đêm lớn thêm. Những Tỳ-kheo đó đã phạm mọi tội lỗi mà nhất định chẳng phát lồ, vì vậy khiến cho sự vi phạm lại thêm nhiều hơn. Vậy Như Lai biết việc đó rồi thì dần dần theo thứ lớp mà cấm chế chẳng phải trong một lúc.

Bấy giờ, có thiện nam, thiện nữ bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Như Lai biết việc như vậy lâu rồi, tại sao Ngài chẳng chế trước? Hay là Thế Tôn muốn khiến cho chúng sinh vào ngục A-tỳ? Ví như nhiều người muốn đến phương khác nhưng lạc mất đường chánh đi theo đường tà. Những người đó chẳng biết mình lạc đường nên đều cho là mình đi đúng đường. Họ lại chẳng gặp ai để hỏi đúng sai. Chúng sinh đối với pháp Phật cũng mê lầm như vậy, họ chẳng thấy chánh chân. Như Lai nên vì họ trước giảng nói chánh đạo, bảo cho các Tỳ-kheo biết, đây là phạm giới, đây là trì giới v.v… Như Lai phải chế ra như thế. Vì sao? Vì Như Lai Chánh Giác là người chân thật thấy biết chánh đạo. Chỉ có Như Lai, Đấng Thiên Trung Thiên mới có thể nói công đức tăng thượng của mười thiện và nghĩa vị ấy. Vậy nên con thưa thỉnh Như Lai nên chế giới trước.

Đức Phật dạy:

–Này thiện nam! Nếu nói Như Lai có thể vì chúng sinh giảng nói công đức tăng thượng của mười điều thiện, tức là Như Lai xem các chúng sinh như La-hầu-la. Vậy tại sao nói khó rằng phải chăng Thế Tôn muốn khiến cho chúng sinh vào địa ngục? Ta thấy một người có nhân duyên rơi vào địa ngục A-tỳ mà còn vì người đó trụ ở đời một kiếp hoặc non một kiếp. Ta đối với chúng sinh có lòng đại từ bi thì vì duyên gì phải lừa dối người mà mình tưởng như con, khiến cho họ vào địa ngục? Này thiện nam! Như trong vương quốc có người khâu áo, thấy áo có lỗ thì sau đấy mới vá. Như Lai cũng vậy, thấy các chúng sinh có nhân duyên vào địa ngục A-tỳ thì mới dùng giới thiện vì họ mà ngăn chận. Này thiện nam! Ví như vị Chuyển luân Thánh vương trước vì chúng sinh nói pháp mười điều thiện. Về sau dần dần có người làm ác thì nhà vua liền tùy theo việc để đoạn dứt dần. Đoạn các ác rồi sau đấy nhà vua tự thi hành pháp Thánh vương. Này thiện nam! Ta cũng như vậy, tuy có nói pháp chẳng được chế giới trước, cần phải nhân Tỳkheo hành động phi pháp, dần dần sau đấy tùy theo sự việc mà chế ra. Chúng sinh ưa pháp theo lời dạy tu hành. Những chúng sinh như vậy mới có thể thấy được pháp thân của Như Lai. Như Chuyển luân vương có bánh xe báu chẳng thể nghĩ bàn, Như Lai cũng vậy, chẳng thể nghĩ bàn, hai ngôi báu Pháp, Tăng cũng chẳng thể nghĩ bàn. Người hay nói pháp và người nghe pháp đều chẳng thể nghĩ bàn. Đó gọi là giỏi giải nghĩa nhân duyên. Bồ-tát phân biệt khai thị bốn thứ tướng nghĩa như vậy thì gọi là nghĩa nhân duyên trong Đại Niết-bàn của Đại thừa.

Lại nữa, tự chánh là gọi người được Đại Bát Niết Bàn này. Tha chánh là Ta vì Tỳ-kheo nói rằng, Như Lai thường tồn chẳng biến đổi.

Này Ca-diếp! Theo câu hỏi mà đáp là, nhân điều ông hỏi mới vì Đại Bồ-tát, Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di nói rộng rãi nghĩa vi diệu sâu xa này. Nghĩa nhân duyên là, Thanh văn, Duyên giác chẳng hiểu được nghĩa sâu xa như vậy, chẳng nghe chữ Y do ba chấm mà thành, giải thoát, Niết-bàn, Ma-ha Bát nhã thành tạng bí mật. Ta nay ở đây, xiển dương, phân biệt vì các Thanh văn khai phát mắt tuệ. Giả sử có người nói như vầy: “Bốn việc như vậy sao gọi là một, chẳng phải hư vọng?” thì liền nên gạn hỏi lại là hư không không sở hữu, chẳng lay động, không ngăn ngại đối với bốn việc như vậy có gì sai khác? Điều này há có thể gọi là hư vọng chăng?

–Bạch Thế Tôn! Chẳng phải vậy!

Các câu như vậy tức là một nghĩa, gọi là nghĩa không. Tự chánh, tha chánh, tùy theo câu hỏi mà đáp, giải nghĩa nhân duyên cũng như vậy, tức là Đại Niết-bàn, không có khác.

Đức Phật dạy:

–Này Ca-diếp! Nếu có thiện nam, thiện nữ nào nói như vầy: “Như Lai vô thường thì làm sao biết được là vô thường? Vì như Phật đã nói, diệt các phiền não gọi là Niết-bàn, giống như lửa tắt thì không còn, diệt các phiền não cũng như vậy nên gọi là Niết-bàn, thì sao gọi Như Lai là pháp thường trụ, chẳng biến dịch? Như Phật nói rằng, lìa các hữu thì mới gọi là Niết-bàn, trong Niết-bàn này không có các hữu thì sao gọi Như Lai là pháp thường trụ chẳng biến dịch? Như áo rách hết thì chẳng gọi là vật. Niết-bàn cũng vậy, diệt các phiền não chẳng gọi là vật thì sao gọi Như Lai là pháp thường trụ, chẳng biến dịch? Như Phật nói rằng lìa dục, tịch diệt gọi là Niết-bàn. Như người bị chém đầu thì không có đầu, lìa dục tịch diệt cũng như vậy, rỗng không không sở hữu nên gọi là Niết-bàn, thì sao gọi Như Lai là pháp thường trụ, chẳng biến dịch? Như Phật nói:

Như sắc nóng đỏ
Đập tóe lửa sáng
Tan rồi liền diệt
Không biết ở đâu
Được chánh giải thoát
Cũng lại như trên
Đã vượt dâm dục
Bùn lầy các hữu
Được chỗ không động
Chẳng biết đến đâu.

Thế sao gọi Như Lai là pháp thường trụ, chẳng biến đổi? Này Cadiếp! Nếu có người nêu lên câu hỏi như vậy thì gọi là hỏi tà. Này Cadiếp! Ông cũng chẳng nên nghĩ tưởng là tánh Như Lai chính là diệt tận. Này Ca-diếp! Diệt phiền não thì chẳng gọi là vật. Vì sao? Vì “vĩnh viễn rốt ráo nên gọi là thường”, câu nầy tịch tĩnh không có gì trên, “diệt hết các tướng không còn sót”, câu nầy là trong sáng thường trụ không thoái lui. Vậy nên Niết-bàn gọi là thường trụ. Như Lai cũng vậy, thường trụ không biến đổi. Nói lửa tóe ra là chỉ cho phiền não. Tan rồi liền diệt, không biết ở đâu là nói chư Như Lai phiền não diệt rồi, chẳng ở tại năm đường ác. Vậy Như Lai là pháp thường trụ, không có biến đổi. Lại nữa, này Ca-diếp! Thầy của chư Phật là pháp. Nên Như Lai cung kính cúng dường. Do pháp thường trụ nên chư Phật cũng thường trụ.

Bồ-tát Ca-diếp lại bạch Phật:

–Nếu lửa phiền não tắt thì Như Lai cũng diệt. Vậy thì Như Lai không chỗ thường trụ. Như màu đỏ của sắt tung tóe kia diệt rồi thì không biết đến đâu, phiền não của Như Lai cũng như vậy, diệt rồi không chỗ đến. Lại như sức nóng của thanh sắt kia cùng với màu đỏ diệt rồi thì không có, Như Lai cũng vậy, diệt rồi thì không thường. Diệt lửa phiền não liền vào Niết-bàn, thì phải biết, Như Lai tức là vô thường.

–Này thiện nam! Nói sắt là chỉ các phàm phu. Người phàm phu tuy diệt phiền não, nhưng diệt rồi lại sinh ra nên gọi là vô thường. Như Lai chẳng vậy, diệt rồi chẳng sinh ra nữa, nên gọi là thường.

Ca-diếp lại thưa:

–Như màu đỏ của sắt diệt rồi, đặt sắt trở lại trong lửa thì màu đỏ lại sinh ra. Như Lai nếu vậy nên trở lại sinh ra kết sử. Nếu kết sử sinh trở lại thì tức là vô thường.

Đức Phật dạy:

–Này Ca-diếp! Ông nay chẳng nên nói lời Như Lai là vô thường

như vậy. Vì sao? Vì Như Lai là thường. Này thiện nam! Như cây cháy kia tắt rồi thì có tro, phiền não diệt rồi liền có Niết-bàn. Áo rách, đầu bị chặt, bình bể v.v… những ví dụ đó cũng như vậy. Những vật như vậy đều có danh tự, gọi là áo rách, đầu chặt, bình vỡ. Này Ca-diếp! như sắt nguội rồi có thể làm cho nóng trở lại. Như Lai chẳng vậy, đoạn phiền não rồi thì rốt ráo thanh lương, lửa nóng phiền não lại chẳng sinh ra nữa. Này Ca-diếp! Ông phải biết, vô lượng chúng sinh giống như thanh sắt đó, Ta dùng lửa hừng trí tuệ vô lậu đốt cháy những phiền não kết của chúng sinh đó.

Ca-diếp lại thưa:

–Hay thay! Hay thay! Con nay biết chắc chắn lời Như Lai đã nói chư Phật là thường.

Đức Phật dạy:

–Này Ca-diếp! Ví như vị Thánh vương ở tại hậu cung, hoặc có lúc dạo xem tại hậu viên, lúc đó nhà vua tuy chẳng ở trong các thể nữ nhưng cũng chẳng thể nói rằng vị Thánh vương mạng chung. Này thiện nam! Như Lai cũng vậy, tuy chẳng hiện ở cõi Diêm-phù-đề, vào trong Niết-bàn, nhưng chẳng thể gọi là vô thường. Như Lai ra khỏi vô lượng phiền não, vào đến chỗ Niết-bàn an lạc, dạo vườn hoa giác, vui sướng an lạc.

Ca-diếp lại hỏi:

–Như Phật nói, Ta đã qua khỏi biển lớn phiền não lâu rồi, nếu Phật đã qua biển phiền não thì duyên cớ gì Ngài thu nạp bà Gia-du-đàla, sinh ra La-hầu-la? Do nhân duyên này phải biết, Như Lai chưa qua được biển lớn những kết phiền não. Nguyện xin Như Lai nói về nhân duyên ấy.

Đức Phật dạy:

–Này Ca-diếp! Ông chẳng nên nói, Như Lai qua biển lớn phiền não đã lâu, cớ sao lại thu nạp Gia-du-đà-la, sinh ra La-hầu-la. Do nhân duyên này thì phải biết, Như Lai chưa qua biển lớn các kết phiền não. Này thiện nam! Đại Niết-bàn này có thể kiến lập đại nghĩa. Các ông nay phải chí tâm nghe cho kỹ, Ta vì mọi người nói rộng rãi, chớ sinh ra kinh sợ, nghi hoặc. Nếu có Đại Bồ-tát trụ ở Đại Niết-bàn thì núi báu Tu-di cao rộng như thế đều có thể nắm cho vào ở trong hạt cải. Những chúng sinh nương ở núi Tu-di ấy cũng chẳng bị dồn ép, không biết là có sự vãng lai mà cho là vẫn như cũ không khác. Chỉ người căn cơ thích ứng mới thấy Bồ-tát này đem núi Tu-di nạp vào trong hạt cải, rồi đem để yên lại chỗ cũ. Này thiện nam! Lại có Đại Bồ-tát trụ ở Đại Niết-bàn có thể đem ba ngàn đại thiên thế giới vào trong hạt cải mà chúng sinh ở trong đó cũng không bị dồn ép và không biết là có sự vãng lai cho là như cũ không khác, chỉ người căn cơ thích ứng thì thấy vị Bồ-tát này đem ba ngàn đại thiên thế giới nạp vào trong hạt cải, rồi đem để yên lại chỗ cũ. Này thiện nam! Lại có Đại Bồ-tát trụ ở Đại Niết-bàn có thể đem ba ngàn đại thiên thế giới vào trong một lỗ chân lông cho đến đem để lại chỗ cũ cũng như vậy. Này thiện nam! Lại có Đại Bồ-tát trụ ở Đại Niết-bàn cắt lấy thế giới chư Phật ở ba ngàn đại thiên trong mười phương đặt ở mũi kim khâu như xâu lá táo, rồi ném đi, đặt ở thế giới Phật nơi phương khác mà tất cả chúng sinh ở trong ấy chẳng biết qua lại ở chỗ nào, chỉ có người căn cơ thích ứng mới có thể thấy việc đó cho đến chỗ cũ cũng như vậy. Này thiện nam! Lại có Đại Bồ-tát trụ ở Đại Niết-bàn cắt lấy các thế giới chư Phật của ba ngàn đại thiên trong mười phương đặt vào bàn tay phải như vòng quay của thợ nặn, rồi ném đi, đặt vào thế giới nhiều như vi trần ở phương khác mà không một chúng sinh nào biết là có qua lại, chỉ có người căn cơ thích ứng mới thấy việc đó cho đến chỗ cũ cũng như vậy. Này thiện nam!

Lại có Đại Bồ-tát trụ ở Đại Niết-bàn cắt lấy tất cả thế giới của chư Phật nhiều không lường ở mười phương nạp hết vào thân mình mà chúng sinh trong ấy đều chẳng bị dồn ép, cũng không biết có sự qua lại và trú xứ, chỉ có người căn cơ thích ứng mới có thể thấy việc đó cho đến đem để lại chỗ cũ cũng như vậy. Này thiện nam! Lại có Đại Bồ-tát trụ ở Đại Niết-bàn đem thế giới mười phương nạp vào trong một hạt bụi mà chúng sinh trong ấy không bị dồn ép và cũng không biết có sự qua lại, chỉ có người căn cơ thích ứng mới có thể thấy việc đó cho đến đem để lại chỗ cũ cũng như vậy. Này thiện nam! Đại Bồ-tát này trụ ở Đại Niết-bàn thì có thể thị hiện đủ thứ thần thông biến hóa không lường. Vậy nên gọi là Đại Bát Niết Bàn. Đại Bồ-tát này đã có thể thị hiện vô lượng thần thông biến hóa như vậy mà tất cả chúng sinh không thể đo lường được, thì sao ông nay có thể biết Như Lai quen gần ái dục để sinh ra La-hầu-la?

Này thiện nam! Ta trụ ở Đại Niết-bàn này đã lâu, thị hiện đủ thứ thần thông biến hóa ở ba ngàn đại thiên thế giới, hàng trăm ức mặt trời mặt trăng, hàng trăm ức cõi Diêm-phù-đề nầy, Ta thị hiện đủ thứ như đã nói rộng rãi trong kinh Thủ-lăng-nghiêm. Ta ở ba ngàn đại thiên thế giới, hoặc ở cõi Diêm-phù-đề thị hiện Niết-bàn mà cũng chẳng rốt ráo thủ lấy Niết-bàn. Hoặc ở cõi Diêm-phù-đề thị hiện vào thai mẹ, khiến cho cha mẹ ấy sinh ra tư tưởng là con của mình, nhưng thân này của Ta rốt ráo chẳng từ ái dục hòa hợp mà sinh ra. Đã lâu, từ vô lượng kiếp đến nay, Ta lìa khỏi ái dục. Thân này của Ta hôm nay tức là pháp thân, Ta thuận theo thế gian mà thị hiện vào thai mẹ. Này thiện nam! Tại vườn Lâm-tỳ-ni của cõi Diêm-phù-đề này, Ta thị hiện từ mẹ Ma-da mà sinh ra. Sinh ra rồi Ta liền có thể đi về phía Đông bảy bước và xướng lên: “Ta ở trong hàng trời, người, A-tu-la… là tối tôn, tối thượng”. Cha mẹ, người, trời thấy rồi kinh ngạc vui mừng, cho là hy hữu. Những người này gọi Ta là đứa trẻ con nhưng thân này của Ta từ vô lượng kiếp đến nay đã lìa khỏi pháp đó lâu rồi. Thân như vậy tức là pháp thân, chẳng phải thân do sự thành lập của máu thịt, gân mạch, xương tủy. Ta thuận theo pháp chúng sinh ở thế gian nên thị hiện làm trẻ con, đi bảy bước về phía Nam là thị hiện muốn vì vô lượng chúng sinh làm ruộng phước vô thượng, đi bảy bước về phía Tây là thị hiện sự sinh đã hết, đoạn tuyệt vĩnh viễn già chết, là thân sau cùng, đi bảy bước về phía Bắc là thị hiện đã qua khỏi sinh tử các cõi, đi bảy bước về phía Đông là thị hiện vì chúng sinh mà làm người dẫn đầu, đi bảy bước về bốn góc là thị hiện đoạn diệt đủ thứ phiền não, chủng tánh của bốn ma, thành tựu Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri, đi bảy bước về phía trên là thị hiện chẳng bị sự nhiễm ô của vật bất tịnh giống như hư không, đi bảy bước về phía dưới là thị hiện mưa pháp diệt lửa ở địa ngục, khiến cho chúng sinh kia hưởng thọ niềm vui yên ổn, đối với người hủy hoại giới cấm thì thị hiện làm sương mù mưa đá. Ở cõi Diêm-phù-đề, sinh ra được bảy ngày rồi thì thị hiện cạo tóc. Mọi người đều gọi Ta là đứa trẻ đầu tiên cạo tóc. Tất cả hàng trời, người, Ma vương Ba-tuần, Samôn, Bà-la-môn, không ai có thể thấy tướng đảnh của Ta, huống chi là có người cầm dao đến cạo tóc. Nếu có người cầm dao đến đảnh của Ta thì đó là điều không có. Ta ở trong vô lượng kiếp cạo bỏ râu tóc đã lâu rồi, nhưng vì muốn thuận theo pháp thế gian nên thị hiện cạo tóc. Khi Ta đã sinh ra rồi, cha mẹ đem Ta vào trong đền thờ trời để Ta trình diện với Ma-hê-thủ-la kia. Ma-hê-thủ-la khi thấy Ta liền chắp tay cung kính đứng ở một bên. Ta ở trong vô lượng kiếp lâu xa lìa bỏ pháp vào đền thờ trời như vậy đã lâu rồi. Vì muốn thuận theo pháp thế gian nên Ta thị hiện như vậy. Ta ở cõi Diêm-phù-đề thị hiện xâu lỗ tai mà thật ra tất cả chúng sinh không có ai có thể xâu lỗ tai của Ta. Thuận theo pháp của chúng sinh của thế gian nên Ta thị hiện như vậy. Lại dùng các báu làm vòng đeo tai sư tử để trang điểm tai, nhưng Ta đã ở trong vô lượng kiếp lìa bỏ đồ trang điểm. Vì muốn thuận theo pháp thế gian nên Ta tạo nên sự thị hiện đó. Ta thị hiện vào trường học học tập thư từ, nhưng Ta đã ở trong vô lượng kiếp thành tựu đầy đủ rồi. Quan sát khắp chúng sinh trong ba cõi thì không có ai đủ sức làm thầy Ta. Vì muốn thuận theo pháp thế gian nên Ta thị hiện vào học đường. Vậy nên gọi là Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri; học tập đi voi, cỡi ngựa, đấu vật v.v… đủ thứ kỹ nghệ cũng như vậy. Ở cõi Diêm-phù-đề Ta lại thị hiện làm Thái tử. Chúng sinh thấy Ta làm Thái tử, ở trong năm dục, vui sướng hưởng lạc. Nhưng Ta đã ở trong vô lượng kiếp lìa bỏ thú vui của năm dục như vậy. Vì muốn thuận theo pháp thế gian nên Ta thị hiện tướng như vậy. Thầy tướng xem tướng cho Ta: “Nếu chẳng xuất gia thì sẽ làm Chuyển luân Thánh vương, làm vua cõi Diêm-phù-đề”. Tất cả chúng sinh đều tin lời nói nầy. Nhưng Ta đã ở trong vô lượng kiếp, bỏ ngôi vua Chuyển luân để làm vua Pháp luân. Ở cõi Diêmphù-đề Ta thị hiện lìa vui năm dục thể nữ, thấy cảnh già bệnh chết và Sa-môn, rồi xuất gia tu đạo. Tất cả chúng sinh đều cho là Thái tử Tất Đạt Đa mới bắt đầu xuất gia. Nhưng Ta đã ở trong vô lượng kiếp xuất gia tu đạo. Thuận theo pháp thế gian nên Ta thị hiện như vậy. Ta ở cõi Diêm-phù-đề thị hiện xuất gia, thọ giới cụ túc, tinh cần tu đạo, đạt được quả Tu-đà-hoàn, quả Tư-đà-hàm, quả A-na-hàm, quả A-la-hán. Mọi người đều cho rằng quả A-la-hán đó dễ được chẳng khó, nhưng Ta đã ở trong vô lượng kiếp thành tựu quả A-la-hán. Vì muốn độ thoát các chúng sinh nên Ta ngồi dưới cây Bồ-đề đạo tràng, dùng cỏ làm tòa ngồi, tiêu diệt hàng phục mọi thứ ma. Mọi người đều cho rằng, Ta đầu tiên ở dưới cây Bồ-đề đạo tràng hàng phục mọi thứ ma, nhưng Ta đã ở trong vô lượng kiếp lâu xa hàng phục chúng rồi. Vì muốn hàng phục chúng sinh cương cường nên Ta thị hiện sự biến hóa này. Ta lại thị hiện đại, tiểu tiện, thở ra, hít vào. Mọi người đều cho rằng, Ta thật sự có đại, tiểu tiện, thở ra, hít vào, nhưng thân này của Ta đã được quả báo không có những hoạn nạn đó. Thuận theo thế gian nên Ta thị hiện như vậy. Ta lại thị hiện thọ sự bố thí của con người, nhưng thân này của Ta đều không có đói khát, thuận theo pháp thế gian nên Ta thị hiện như vậy. Ta lại thị hiện đồng với các chúng sinh nên hiện có ngủ nghỉ, nhưng Ta đã ở trong vô lượng kiếp, đầy đủ trí tuệ thâm diệu vô thượng, lìa xa ba cõi, đi đứng oai nghi, đầu, mắt, bụng, lưng, toàn thân, tật bệnh, đau đớn, chống gậy, đền đáp, rửa ráy chân tay, rửa mặt, súc miệng, xỉa răng, tự làm sạch. Mọi người đều cho là Ta có những việc như vậy, nhưng thân này của Ta đều không có những điều này. Tay chân của Ta thanh tịnh giống như hoa sen, mùi thơm tịnh khiết như hương hoa Ưu-bát-la. Tất cả chúng sinh gọi Ta là người, nhưng thật ra Ta chẳng phải người. Ta lại thị hiện nhận áo phấn tảo giặt giũ, may vá, nhưng Ta đã lâu chẳng cần y đó. Mọi người đều gọi La-hầu-la là con của Ta, vua Thâu-đầu-đàn là cha của Ta, phu nhân Ma-da là mẹ của Ta, Ta ở tại thế gian, thọ các diệu lạc rồi bỏ những việc như vậy mà xuất gia học đạo. Mọi người lại nói rằng, vị Thái tử các vua thuộc họ lớn Cù-đàm này xa lìa dục lạc thế gian mà cầu pháp xuất thế gian. Nhưng Ta lìa khỏi ái dục thế gian lâu rồi, những việc như vậy đều là thị hiện. Tất cả chúng sinh đều gọi Ta là người, nhưng Ta quả thật chẳng phải. Này thiện nam! Ta tuy ở trong cõi Diêm-phù-đề này, luôn luôn thị hiện vào Niết-bàn, nhưng thật ra chẳng rốt ráo Niết-bàn mà các chúng sinh đều cho là Như Lai chân thật diệt độ, thật tánh của Như Lai thật chẳng diệt mất vĩnh viễn. Vậy nên ông phải biết đó là pháp thường trụ, pháp chẳng biến dịch. Này thiện nam! Đại Niết-bàn tức là pháp giới của các Đức Phật Như Lai. Ta lại thị hiện trong cõi Diêmphù-đề, rồi xuất hiện ở thế gian. Các chúng sinh đều cho là Ta mới thành Phật, nhưng Ta đã ở trong vô lượng kiếp việc làm đã hoàn thành. Thuận theo pháp thế gian nên Ta lại thị hiện ở cõi Diêm-phù-đề, bắt đầu xuất gia, thành Phật. Ta lại thị hiện ở cõi Diêm-phù-đề, chẳng giữ gìn giới cấm, phạm bốn trọng tội. Mọi người đều thấy và cho là Ta thật sự phạm tội. Nhưng Ta đã ở trong vô lượng kiếp kiên trì giới cấm không có thiếu sót. Ta lại thị hiện ở cõi Diêm-phù-đề làm Nhất-xiểnđề. Mọi người đều thấy Ta là Nhất-xiển-đề, nhưng Ta thật chẳng phải Nhất-xiển-đề. Nhất-xiển-đề thì sao có thể thành tựu Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác được. Ta lại thị hiện ở cõi Diêm-phù-đề, phá hòa hợp Tăng. Chúng sinh đều cho là Ta phá hòa hợp Tăng. Ta xem người, trời không có ai có thể phá hòa hợp Tăng. Ta lại thị hiện ở cõi Diêm-phùđề, hộ trì chánh pháp. Mọi người đều cho Ta là hộ pháp, đều sinh ra kinh ngạc quái lạ. Pháp của chư Phật là vậy chẳng nên kinh ngạc quái lạ. Ta lại thị hiện ở cõi Diêm-phù-đề làm ma Ba-tuần. Mọi người đều cho rằng Ta là ma Ba-tuần. Nhưng lâu rồi, Ta ở trong vô lượng kiếp đã lìa khỏi việc của ma, thanh tịnh vô nhiễm giống như hoa sen. Ta lại thị hiện ở cõi Diêm-phù-đề làm thân nữ thành Phật. Mọi người thấy thế đều nói rằng lạ quá nữ nhân mà có thể thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Như Lai rốt ráo chẳng thọ thân nữ, nhưng vì muốn điều phục vô lượng chúng sinh nên hiện hình thân nữ. Vì thương xót tất cả chúng sinh nên Ta lại thị hiện đủ thứ hình dáng. Ta lại thị hiện ở cõi Diêm-phù-đề sinh ra ở bốn đường, nhưng Ta đoạn tuyệt nhân của các đường ác lâu rồi. Chúng sinh do nghiệp nhân nên đọa vào bốn đường ác, vì độ họ nên Ta sinh ở trong đó. Ta lại thị hiện làm Phạm Thiên vương ở trong cõi Diêm-phù-đề để khiến cho kẻ phụng sự Phạm Thiên an trụ ở chánh pháp. Nhưng Ta thật sự chẳng phải là Phạm Thiên mà các chúng sinh đều cho rằng Ta là Phạm thiên thật. Việc thị hiện hình dáng trời ở khắp các miếu thờ trời cũng như vậy. Ta lại thị hiện vào nhà dâm nữ ở cõi Diêm-phù-đề, nhưng Ta thật không có tư tưởng tham dục, thanh tịnh chẳng bẩn, giống như hoa sen. Vì những chúng sinh tham dâm mê sắc, ở ngã tư đường lớn, Ta tuyên nói diệu pháp, nhưng Ta thật không có tâm dục uế mà mọi người cho là Ta thủ hộ nữ nhân. Ta lại thị vào nhà thanh y ở cõi Diêm-phù-đề, vì muốn khuyến hóa khiến cho họ trụ ở chánh pháp, nhưng Ta thật không có nghiệp ác rơi vào nhà thanh y như vậy. Ta lại thị hiện ở cõi Diêm-phù-đề làm giáo sư khai hóa trẻ mới học khiến trụ ở chánh pháp. Ta lại thị hiện ở cõi Diêm-phù-đề vào các quán rượu, sòng bạc, thị hiện đủ thứ thắng thua, tranh cãi, vì muốn cứu vớt những chúng sinh ở đó mà Ta thật không có nghiệp ác như vậy, nhưng các chúng sinh đều cho rằng Ta tạo tác nghiệp như vậy. Ta lại thị hiện trụ lâu ở bãi tha ma, làm thân chim thứu lớn để độ các loài chim bay mà các chúng sinh đều cho rằng Ta thật sự là thân chim thứu, nhưng lâu rồi Ta lìa khỏi nghiệp đó, vì muốn độ những chim thứu kia nên Ta thị hiện như vậy. Ta lại thị hiện trong cõi Diêm-phù-đề, làm đại trưởng giả, vì muốn an lập vô lượng chúng sinh trụ ở chánh pháp. Ta lại thị hiện làm những vua, đại thần, con vua, phụ tướng, ở trong chúng đó, đều là bậc nhất, vì tu chánh pháp nên ở ngôi vua. Ta lại thị hiện ở trong cõi Diêm-phù-đề, lúc kiếp dịch bệnh khởi lên, có nhiều chúng sinh bị khổ não dịch bệnh, Ta trước thí cho thuốc thang, sau đấy vì họ nói chánh pháp vi diệu, khiến cho họ an trụ vào Bồ-đề vô thượng. Mọi người đều gọi là kiếp bệnh khởi lên. Lại nữa, Ta thị hiện trong cõi Diêm-phù-đề, khi kiếp đói kém khởi lên, rồi tùy sự cần dùng của chúng sinh ấy mà cung cấp thức ăn, thức uống, rồi sau đấy vì họ mà nói chánh pháp vi diệu, khiến cho họ an tru vào Bồ-đề vô thượng. Lại nữa, Ta thị hiện trong cõi Diêm-phù-đề, khi kiếp đao binh khởi lên, liền vì chúng sinh nói pháp khiến cho họ lìa khỏi oán hại, làm cho họ được an trụ vào Bồ-đề vô thượng. Lại nữa, Ta thị hiện vì kẻ chấp thường, nói tưởng về vô thường; kẻ chấp tưởng vui thì vì họ nói về tưởng khổ; kẻ chấp tưởng ngã thì nói tưởng về vô ngã; kẻ chấp tưởng tịnh thì nói tưởng bất tịnh. Nếu có chúng sinh tham đắm ba cõi thì Ta liền vì họ nói pháp, khiến cho họ lìa khỏi chỗ đó. Để độ chúng sinh nên Ta vì họ nói thuốc pháp vi diệu vô thượng. Vì đoạn trừ tất cả cây phiền não nên Ta gieo trồng cây thuốc pháp vô thượng. Vì muốn cứu vớt các ngoại đạo nên Ta diễn nói chánh pháp. Tuy Ta thị hiện làm thầy của chúng sinh mà ngay từ đầu không có tư tưởng làm thầy của chúng sinh. Vì muốn cứu vớt các hạng hạ tiện nên Ta hiện vào trong ấy mà vì họ nói pháp chứ chẳng phải là do nghiệp ác mà thọ nhận thân này. Như Lai Chánh Giác an trụ vào Đại Bát Niết Bàn như thế, vậy nên gọi là thường trụ, không biến đổi. Như cõi Diêm-phù-đề, cõi Phất-vu-đãi ở phương Đông, cõi Cù-da-ni ở phương Tây, cõi Uấtđơn-việt ở phương Bắc cũng như vậy. Như bốn cõi thiên hạ, ba ngàn đại thiên thế giới cũng vậy, hai mươi lăm cõi như trong kinh Thủ-lăngnghiêm đã nói đầy đủ. Do vậy nên gọi là Đại Bát Niết Bàn. Nếu có Đại Bồ-tát an trụ vào Đại Bát Niết Bàn như vậy thì có thể thị hiện thần thông biến hóa như thế mà không sợ hãi. Này Ca-diếp! Do nhân duyên đó ông chẳng nên nói rằng, La-hầu-la là con của Phật. Vì sao? Vì ở trong vô lượng kiếp xa xưa Ta đã lìa khỏi dục hữu. Vậy nên Như Lai gọi là thường trụ không có biến đổi.

Ca-diếp lại nói:

–Thưa Thế Tôn! Sao gọi là thường trụ? Như Phật nói, đèn tắt rồi không có phương sở. Như Lai cũng vậy, đã diệt độ rồi cũng không phương sở.

Đức Phật dạy:

–Này thiện nam! Ông nay chẳng nên nói lời như vậy, là đèn tắt hết rồi không có phương sở, Như Lai cũng vậy, đã diệt độ rồi không có phương sở. Này thiện nam! Ví như khi trai gái thắp đèn, thì bình dầu đèn lớn, nhỏ đều đựng đầy dầu. Tùy theo số dầu có trong ấy mà ánh sáng còn tồn tại. Nếu dầu hết rồi thì ánh sáng cũng hết theo. Ánh sáng ấy diệt là ví dụ cho phiền não diệt trừ. Ánh sáng tuy diệt hết nhưng bình đựng dầu vẫn tồn tại. Như Lai cũng vậy, phiền não tuy diệt nhưng pháp thân luôn tồn tại. Này thiện nam! Ý ông thế nào? Ánh sáng cùng bình dầu đều diệt chăng?

Ca-diếp đáp:

–Bạch Thế Tôn! Không! Tuy chẳng cùng diệt nhưng là vô thường. Nếu đem pháp thân ví cho bình dầu mà bình dầu vô thường thì pháp thân cũng vậy, nên là vô thường.

–Này thiện nam! Ông nay chẳng nên hỏi như vậy. Như thế gian nói đồ chứa thì đối với Như Lai Thế Tôn là pháp khí vô thượng. Khí dụng kia vô thường, chẳng phải Như Lai. Trong tất cả các pháp, Niếtbàn là thường, là thể Như Lai, nên gọi là thường. Lại nữa, này thiện nam! Nói rằng, đèn tắt là nói sự chứng Niết-bàn của A-la-hán. Do diệt tham ái, các phiền não nên ví nó là đèn tắt. A-na-hàm thì gọi là có tham. Do có tham nên chẳng được nói là đồng với đèn tắt. Vậy nên Ta trước đây che tướng mà nói rằng, ví như đèn tắt, chẳng phải nói Đại Niết-bàn đồng với đèn tắt. A-na-hàm chẳng phải luôn luôn đến, lại chẳng trở lại hai mươi lăm hữu, lại chẳng thọ thân xú uế, thân trùng, thân tạp thực, thân độc hại nữa. Đó gọi là A-na-hàm. Nếu lại thọ thân thì gọi là A-na-hàm, chẳng thọ thân thì gọi là A-na-hàm. Có đi, lại thì gọi là A-na-hàm, không đi, lại thì gọi là A-na-hàm.

*********

Bấy giờ, Bồ-tát Ca-diếp bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Như lời của Ngài thì chư Phật Thế Tôn có tạng bí mật, nghĩa này chẳng phải. Vì sao? Vì chư Phật Thế Tôn chỉ có lời bí mật, không có tạng bí mật. Ví như người gỗ máy của nhà huyễn thuật. Mọi người tuy nhìn thấy nó co, duỗi, cúi, ngửa nhưng không biết bên trong điều khiển nó như thế nào. Pháp Phật chẳng phải vậy, mà khiến cho chúng sinh đều được tri kiến thì sao phải nói rằng chư Phật Thế Tôn có tạng bí mật.

Đức Phật khen Ca-diếp:

–Hay thay! Hay thay! Này thiện nam! Đúng như lời ông nói. Như Lai thật không có tạng bí mật. Vì sao? Ví như trăng thu tròn đầy ở trong hư không hiển lộ trong sáng, người không bị lòa mắt đều nhìn thấy. Lời nói của Như Lai cũng như vậy, khai phát hiển lộ thanh tịnh, không bị ngăn che. Người ngu chẳng lý giải được thì cho đó là tạng bí mật. Kẻ trí thấu rõ thông đạt thì chẳng gọi là tạng. Này thiện nam! Ví như có người chứa nhiều vàng bạc đến hàng vô lượng ức. Lòng người ấy keo kiệt tham lam chẳng chịu ban cho, cứu tế kẻ bần cùng. Gom chứa như vậy mới gọi là tạng bí mật. Như Lai chẳng vậy, ở vô biên kiếp, gom chứa vô lượng châu báu diệu pháp mà lòng không tham lam keo kiệt, thường đem ban cho tất cả chúng sinh thì sao gọi Như Lai là tạng bí mật? Này thiện nam! Ví như có người thân căn chẳng đủ, hoặc có một mắt, một tay, một chân, do xấu hổ nên chẳng cho người khác thấy, người không thấy nên gọi là tạng bí mật. Như Lai chẳng vậy, đã có chánh pháp đầy đủ, không khiếm khuyết, khiến cho mọi người nhìn thấy thì sao phải nói là tạng bí mật của Như Lai. Này thiện nam! Ví như người nghèo mắc nợ người khác nhiều của cải, sợ sệt chủ nợ lẫn trốn chẳng muốn xuất hiện nên gọi là tàng. Như Lai không vậy, chẳng nợ thế pháp của tất cả chúng sinh. Tuy nợ chúng sinh pháp xuất thế gian mà cũng chẳng tàng. Vì sao? Vì luôn luôn đối với chúng sinh tưởng như con một, vì họ diễn nói pháp vô thượng. Này thiện nam! Ví như ông trưởng giả có nhiều của báu mà chỉ có một đứa con, lòng rất thương yêu, tình không lìa bỏ, châu báu vốn có của mình đều đem chỉ cho con. Như Lai cũng vậy, nhìn các chúng sinh đồng như con một. Này thiện nam! Như người thế gian do nam căn, nữ căn xấu xí thô bỉ nên dùng quần áo che trùm nên gọi là tàng. Như Lai chẳng vậy, đoạn tuyệt vĩnh viễn căn này. Do không căn nên không có sự che giấu. Này thiện nam! Như Bà-la-môn sở hữu ngữ luận, nhất định không cho Sátlợi, Tỳ-xá, Thủ-đà v.v… nghe. Vì sao? Vì do trong luận này có lỗi xấu. Chánh pháp của Như Lai thì chẳng như vậy, đầu, giữa, cuối đều tốt. Vậy nên chẳng gọi là tạng bí mật. Này thiện nam! Ví như ông trưởng giả chỉ có một đứa con, lòng thương nghĩ nhớ, yêu thương không thôi, đem đến chỗ thầy muốn cho thọ học, sợ chẳng chóng thành liền đem trở về. Do nghĩ yêu thương nên ngày đêm ông ân cần dạy đứa con ấy nửa chữ mà chẳng dạy răn luận Tỳ-già-la. Vì sao? Vì con mình sức còn ấu trĩ chưa kham nổi. Này thiện nam! Giả sử ông trưởng giả dạy nửa chữ rồi thì đứa trẻ đó tức thời rõ biết luận Tỳ-già-la chăng?

–Bạch Thế Tôn! Chẳng biết rõ.

–Như vậy ông trưởng giả đối với đứa con này đã có tạng bí mật chăng?

–Bạch Thế Tôn! Chẳng có. Vì sao? Vì đứa con tuổi còn nhỏ nên chẳng vì nó mà nói. Chứ không phải do bí mật mà tiếc rẻ không thị hiện. Như Lai chẳng vậy thì sao phải gọi là Như Lai giấu bí mật?

Đức Phật dạy:

–Hay thay! Hay thay! Này thiện nam! Đúng như lời nói của ông, nếu có lòng sân giận, ganh ghét, keo kiệt thì mới gọi là tạng. Như Lai không có lòng sân giận, ganh ghét thì sao gọi là tạng? Này thiện nam! Ông đại trưởng giả kia là ví Như Lai, nói con một là ví tất cả chúng sinh. Như Lai bình đẳng xem tất cả chúng sinh giống như con một. Dạy con một tức là dạy đệ tử Thanh văn. Nửa chữ là ví chín bộ loại kinh điển. Luận Tỳ-già-la là ví kinh điển Đại Thừa Phương Đẳng. Vì các Thanh văn không có tuệ lực nên Như Lai vì họ diễn nói bán tự, là chín bộ loại kinh điển mà chẳng vì họ diễn nói luận Tỳ-già-la, Đại Thừa Phương Đẳng. Này thiện nam! Như con ông trưởng giả kia đã lớn lên, đủ sức đọc, học mà nếu chẳng vì nó diễn nói luận Tỳ-già-la thì có thể gọi là tạng. Nếu các Thanh văn có sức đảm nhiệm, có thể thọ luận Tỳgià-la Đại thừa mà Như Lai bí mật, tiếc rẻ chẳng vì họ diễn nói thì có thể nói rằng, Như Lai có tạng bí mật. Như Lai chẳng vậy nên Như Lai không có tạng bí mật. Như ông trưởng giả kia dạy nửa chữ rồi, thứ đến vì con diễn nói luận Tỳ-già-la. Ta cũng như vậy, vì các đệ tử nói về nửa chữ là chín bộ loại kinh điển rồi, thứ đến vì họ diễn nói luận Tỳgià-la, đó là Như Lai thường còn chẳng biến đổi.

Lại nữa, này thiện nam! Ví như tháng mùa hạ, trời nổi mây mù sấm chớp, tuôn xuống mưa lớn, khiến cho những nông phu xuống hạt giống thì thu hoạch được nhiều quả trái. Người không xuống giống thì không có sự thu hoạch, không có sự thu hoạch thì chẳng phải lỗi của Long vương mà Long vương này cũng không có sự giấu giếm. Ta cũng như vậy, tuôn xuống mưa đại pháp là kinh Đại Niết-bàn, nếu có chúng sinh gieo căn lành thì được quả mầm tuệ, không có hạt giống lành thì không có sự thu hoạch, không có sự thu hoạch thì chẳng phải lỗi của Như Lai. Như Lai quả thật không có sự che giấu.

Bồ-tát Ca-diếp lại nói:

–Con nay nhất định biết Như Lai Thế Tôn không có gì bí mật che giấu, như Phật đã nói, luận Tỳ-già-la cho rằng Phật Như Lai thường còn chẳng biến đổi. Nghĩa này chẳng phải như vậy. Vì sao? Vì như Phật xưa đã nói kệ:

Chư Phật cùng Duyên giác
Chúng đệ tử Thanh văn
Còn bỏ thân vô thường
Huống gì kẻ phàm tục?

Nay thì Thế Tôn mới nói thường còn chẳng biến đổi là nghĩa làm sao?

Đức Phật dạy:

–Này thiện nam! Ta vì tất cả đệ tử Thanh văn dạy “nửa chữ” mà nói bài kệ đó. Lại nữa, này thiện nam! Vua Ba-tư-nặc, khi mẹ ông ấy mạng chung, buồn khóc luyến mộ, chẳng thể tự kìm chế, đi đến chỗ của Ta. Ta liền hỏi: “Đại vương vì sao buồn khổ, ảo não mà đến đây?”. Nhà vua nói: “Bạch Thế Tôn! Thái phu nhân của đất nước ngày ấy đã mạng chung. Giả sử có người có thể khiến cho mẹ con sống trở lại như cũ thì con sẽ bỏ ra voi, ngựa, bảy thứ châu báu của đất nước và cả thân mạng để đền ơn người đó”. Ta lại nói: “Này đại vương! Chớ nên sầu não, ưu bi, gào khóc. Tất cả chúng sinh mà thọ mạng hết thì gọi là chết. Các Đức Phật, đệ tử Thanh văn, Duyên giác còn phải xả bỏ thân này, huống lại là phàm phu”. Này thiện nam! Ta vì vua Ba-tư-nặc dạy “nửa chữ” mà nói bài kệ đó. Ta nay vì các đệ tử Thanh văn nói luận Tỳ-già-la, rằng Như Lai thường còn, không có biến dịch. Nếu có người nói, Như Lai vô thường thì sao lưỡi người đó chẳng rơi rụng?

Ca-diếp lại nói:

–Như Đức Phật đã nói:

Không sự chứa gom
Với ăn biết đủ
Như chim bay không
Chẳng thể tìm dấu.

Nghĩa đó thế nào? Bạch Thế Tôn! Ở trong chúng hội này ai được gọi là không có sự tích tụ? Ai được gọi là đối với việc ăn uống mà biết đủ? Ai đi ở trong hư không mà dấu vết chẳng thể tìm thấy? Mà người đi này thì đến phương nào?

Đức Phật dạy:

–Này Ca-diếp! Phàm tích tụ thì gọi là của báu. Này thiện nam! Tích tụ có hai thứ: Một là hữu vi, hai là vô vi. Tích tụ hữu vi tức là hạnh của Thanh văn. Tích tụ vô vi tức là hạnh của Như Lai. Này thiện nam! Tăng cũng có hai chữ: hữu vi và vô vi. Tăng hữu vi gọi là hàng Thanh văn. Tăng Thanh văn thì không có tích tụ những thứ như là nô tỳ, vật phi pháp, kho tàng, lúa gạo, muối đậu xị, mè, các thứ đậu lớn nhỏ. Nếu có người nói rằng, Như Lai cho phép nuôi nô tỳ v.v… những vật như vậy thì lưỡi người đó bị co rụt lại. Những đệ tử Thanh văn của Ta gọi là không tích tụ, cũng được gọi là đối với ăn uống biết đủ. Nếu có tham ăn thì gọi là bất tri túc, không tham ăn thì gọi là tri túc. Dấu tích khó tìm, tức là gần đạo Bồ-đề vô thượng. Ta nói người này tuy đi mà không đến.

Ca-diếp lại nói:

–Nếu tăng hữu vi còn không tích tụ, huống gì là Tăng vô vi. Tăng vô vi tức là Như Lai mà Như Lai thì làm gì có tích tụ. Luận về tích tụ thì gọi là chứa giấu. Vậy nên Như Lai phàm có điều nói lên, không có sự che giấu, hối tiếc thì sao gọi là che giấu. Dấu tích chẳng thể tìm là nói đến Niết-bàn. Trong Niết-bàn không có mặt trời, mặt trăng, các tinh tú, lạnh, nóng, gió, mưa, sinh, già, bệnh, chết, hai mươi lăm hữu, lìa khỏi các ưu khổ và các phiền não. Như vậy trụ xứ của Như Lai Niết-bàn thường còn, chẳng biến dịch. Do nhân duyên đó, Như Lai đến rừng cây Ta-la ở Đại Niết-bàn mà vào Niết-bàn.

Đức Phật bảo:

–Này Ca-diếp! Sở dĩ nói rằng, “Đại” là tánh ấy rộng rãi giống như có người sống lâu không lường nên gọi là đại trượng phu. Người đó nếu có thể an trụ ở chánh pháp thì gọi bậc thắng vượt trong loài người. Như Ta đã nói về tám điều giác ngộ của bậc đại nhân, là một người có hay là nhiều người có. Nếu một người có đủ tám thì là tối thắng. Sở dĩ nói Niết-bàn là vì không có ghẻ lở, ung bướu. Này thiện nam! Ví như có người bị bắn trúng tên độc, chịu nhiều đau khổ, gặp được thầy thuốc giỏi nhổ tên độc ra, thoa thuốc hay, khiến cho người ấy lìa khỏi thống khổ, được hưởng an vui. Vị thầy thuốc này liền du hành vào thành ấp và các xóm làng, tùy theo chỗ có khổ hoạn ghẻ lở, ung bướu, ông liền đến nơi ấy vì mọi người trị liệu mọi khổ đau. Này thiện nam! Như Lai cũng vậy, thành Đẳng Chánh Giác, làm Đại Y Vương, thấy ở cõi Diêm-phù-đề chúng sinh khổ não, trong vô lượng kiếp bị tên độc phiền não dâm, nộ, si, chịu đại thống khổ. Ta vì những kẻ như vậy mà nói pháp dược cam lồ của kinh Đại Thừa, trị liệu nơi này rồi Ta lại đến phương khác, chỗ nào có các tên độc phiền não thì thị hiện làm Phật, vì chúng sinh nơi ấy trị liệu. Vậy nên gọi là Đại Bát Niết Bàn. Đại Bát Niết Bàn gọi là chỗ giải thoát. Tùy chỗ có chúng sinh điều phục mà Như Lai thị hiện ở trong đó. Do ý nghĩa thâm diệu chân thật này nên gọi là Đại Niết-bàn.

Bồ-tát Ca-diếp lại bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Thầy thuốc ở thế gian đều có thể trị liệu bệnh ghẻ lở, ung bướu của tất cả chúng sinh chăng?

–Này thiện nam! Ghẻ lở, ung bướu của thế gian đại loại có hai thứ, một thứ có thể trị, một thứ chẳng thể trị. Phàm thứ có thể trị thì thầy thuốc đều có thể trị, còn thứ chẳng thể trị thì họ chẳng thể trị được.

Ca-diếp lại thưa:

–Như Phật nói thì Như Lai ở cõi Diêm-phù-đề, đã trị liệu chúng sinh xong rồi. Nếu nói trị rồi thì sao những chúng sinh trong cõi ấy lại có người chưa có thể được Niết-bàn? Nếu chưa được hết thì sao Như Lai nói rằng đã trị xong rồi, muốn đến nơi phương khác?

–Này thiện nam! Chúng sinh bên trong cõi Diêm-phù-đề có hai loại, một là loại có niềm tin, hai là loại không có niềm tin. Người có niềm tin thì gọi là có thể trị. Vì sao? Vì nhất định họ được Niết-bàn, không còn ghẻ lở, ung bướu. Vậy nên Ta nói đã trị liệu các chúng sinh ở cõi Diêm-phù-đề rồi. Người không có niềm tin gọi là Nhất-xiển-đề. Nhất-xiển-đề thì gọi là chẳng thể trị, trừ Nhất-xiển-đề ra, còn lại đều trị hết rồi. Vậy nên Niết-bàn gọi là không ghẻ lở ung bướu.

–Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Niết-bàn?

–Này thiện nam! Bàn về Niết-bàn thì có thể gọi là giải thoát.

Ca-diếp lại thưa:

–Cái gọi là giải thoát là sắc, hay chẳng phải là sắc?

Đức Phật dạy:

–Này thiện nam! Hoặc là sắc, hoặc chẳng phải là sắc. Nói chẳng phải là sắc thì tức là giải thoát của Thanh văn, Duyên giác. Nói là sắc thì tức là giải thoát của các Đức Phật Như Lai. Này thiện nam! Vậy nên giải thoát cũng là sắc, cũng chẳng phải là sắc. Như Lai vì các đệ tử Thanh văn nói chẳng phải là sắc.

–Bạch Thế Tôn! Thanh văn, Duyên giác nếu chẳng phải là sắc thì làm sao trụ được?

–Này thiện nam! Như trời Phi tưởng phi phi tưởng cũng là sắc cũng chẳng phải là sắc. Ta cũng nói chẳng phải là sắc. Nếu có người vấn nạn rằng, trời Phi tưởng phi phi tưởng nếu chẳng phải là sắc thì sao trụ, đi, lại, tiến, dừng được. Nghĩa như vậy là cảnh giới của chư Phật, chẳng phải điều hiểu biết của Thanh văn. Giải thoát cũng vậy, cũng sắc, chẳng phải sắc, nói là chẳng phải sắc; cũng tưởng, chẳng phải tưởng, nói là chẳng phải tưởng. Nghĩa như vậy là cảnh giới chư Phật, chẳng phải điều hiểu biết của các Thanh văn. Duyên giác.

Bấy giờ, Bồ-tát Ca-diếp lại bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Nguyện xin Ngài rủ lòng thương xót một lần nữa diễn nói rộng rãi nghĩa giải thoát của hạnh Đại Bát Niết Bàn.

Đức Phật khen Bồ-tát Ca-diếp:

–Hay thay! Hay thay! Này thiện nam! Giải thoát chân thật là lìa khỏi tất cả những trói buộc. Nếu giải thoát chân thật là lìa khỏi các trói buộc thì không có sinh, cũng không hòa hợp. Ví như cha mẹ hòa hợp sinh ra con, chân giải thoát thì chẳng như vậy. Vậy nên giải thoát gọi là chẳng sinh. Này Ca-diếp! Ví như đề hồ, tánh của nó trong sạch, Như Lai cũng vậy, chẳng phải do cha mẹ hòa hợp mà sinh ra nên tánh của Như Lai thanh tịnh. Sở dĩ thị hiện có cha mẹ là vì muốn hóa độ chúng sinh. Chân giải thoát tức là Như Lai, Như Lai và giải thoát không hai, không khác biệt. Ví như tháng mùa xuân xuống các thứ giống, gặp được khí trời ấm nhuận thì liền nảy sinh. Chân giải thoát thì chẳng như vậy. Lại nữa, giải thoát gọi là hư vô, hư vô tức là giải thoát. Giải thoát tức là Như Lai. Như Lai tức là hư vô, chẳng phải chủ thể tạo tác, đối tượng tạo tác. Phàm cái được làm ra thì như là thành quách, lầu gác. Chân giải thoát thì chẳng như vậy, Vậy nên giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, giải thoát tức là pháp vô vi. Ví như người thợ gốm làm rồi lại phá, giải thoát chẳng vậy. Chân giải thoát là chẳng sinh chẳng diệt. Vậy nên giải thoát tức là Như Lai, Như Lai cũng vậy, chẳng sinh, chẳng diệt, chẳng lão, chẳng tử, chẳng phá, chẳng hoại, chẳng phải pháp hữu vi. Do ý nghĩa này nên gọi là Như Lai. Vào Đại Niết-bàn chẳng già, chẳng chết v.v… có những ý nghĩa gì? Lão là gọi sự biến đổi, tóc bạc, mặt nhăn. Tử là thân hoại, mạng chung. Những pháp như vậy không có trong giải thoát. Do không có việc này nên gọi là giải thoát. Như Lai cũng không có tóc bạc, mặt nhăn, là những pháp hữu vi. Vậy nên Như Lai không có già. Không có già thì không có chết. Lại nữa, giải thoát thì gọi là không bệnh. Sở dĩ gọi là bệnh tức là bốn trăm linh bốn bệnh và cả những thứ khác từ bên ngoài đến xâm hại thân thể. Chỗ giải thoát này không có những thứ bệnh đó nên gọi là giải thoát. Không bệnh tật tức là chân giải thoát. Chân giải thoát tức là Như Lai. Như Lai không bệnh nên pháp thân cũng không có bệnh. Như vậy không bệnh tức là Như Lai. Chết là thân hoại, mạng chung. Chỗ giải thoát này không có chết, tức là cam lồ. Cam lồ tức là chân giải thoát. Chân giải thoát tức là Như Lai. Như Lai thành tựu công đức như vậy thì sao nói rằng Như Lai vô thường. Nếu nói Như Lai vô thường thì không có việc đó. Thân kim cương mà sao gọi là vô thường được. Vậy nên Như Lai chẳng gọi là mạng chung. Như Lai thanh tịnh, không có cấu bẩn. Thân Như Lai chẳng phải là thân thai ô uế. Như hoa Phân-đà-lợi, bản tánh hoa ấy thanh tịnh, Như Lai giải thoát cũng như vậy. Như vậy giải thoát tức là Như Lai. Vậy nên Như Lai thanh tịnh vô cấu. Lại nữa, giải thoát thì các ghẻ bướu hữu lậu vĩnh viễn không còn sót lại, Như Lai cũng vậy, không có tất cả các ghẻ bướu hữu lậu. Lại nữa, giải thoát thì không có đấu tranh. Ví như người đói thấy người khác ăn uống thì phát sinh tưởng tham đoạt, giải thoát chẳng vậy. Lại, giải thoát thì gọi là an tịnh. Kẻ phàm phu nói rằng, phàm là an tịnh thì chỉ cho Ma-hê-thủ-la. Nói như vậy tức là hư vọng. An tịnh chân thật là rốt ráo giải thoát. Rốt ráo giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, giải thoát thì gọi là yên ổn. Như ở chỗ nhiều giặc thì gọi là chẳng yên ổn. Chỗ trong sạch công bằng thì mới gọi là yên ổn. Trong giải thoát này không có bố úy nên gọi là yên ổn. Vậy nên yên ổn tức là chân giải thoát. Chân giải thoát tức là Như Lai. Như Lai tức là pháp. Lại, giải thoát thì không có bạn đồng lứa. Có bạn đồng lứa là như các quốc vương có vua bạn ở những nước lân cận. Chân giải thoát thì chẳng như vậy, không có bạn đồng lứa là như Chuyển luân Thánh vương không ai có thể ngang bằng. Giải thoát cũng vậy, không có bạn đồng lứa. Không có bạn đồng lứa tức là chân giải thoát. Chân giải thoát tức là Như Lai Chuyển luân Thánh vương. Vậy nên Như Lai không có bạn đồng lứa. Nếu nói Như Lai có bạn đồng lứa thì không có việc đó. Lại, giải thoát thì gọi là không lo buồn. Có lo buồn thì ví như vị quốc vương sợ nạn nước bên cạnh hùng mạnh mà sinh ra lo buồn. Phàm là giải thoát thì không có việc này. Ví như hủy hoại oán tặc rồi thì không có lo nghĩ, giải thoát cũng vậy, là không có lo sợ. Không lo sợ tức là Như Lai. Lại, giải thoát thì không lo mừng.

Ví như người đàn bà chỉ có một đứa con, đi làm ăn xa bỗng được hung tin, nghe tin đó thì sầu khổ, sau lại nghe con còn sống liền sinh vui mừng. Phàm ở trong giải thoát thì không có việc như vậy. Không lo buồn, không vui mừng tức là chân giải thoát. Chân giải thoát tức là Như Lai. Lại, giải thoát thì không có trần cấu. Ví như những ngày tháng mùa xuân qua rồi, gió nổi lên bụi bặm sa mù. Phàm trong giải thoát thì không có việc như vậy, không bụi bặm sa mù là ví cho chân giải thoát. Chân giải thoát tức là Như Lai. Ví như viên minh châu trong búi tóc của vị Thánh vương không có cấu bẩn. Phàm là tánh giải thoát cũng như vậy, không có cấu bẩn. Không cấu bẩn là ví cho chân giải thoát. Chân giải thoát tức là Như Lai. Như tánh vàng ròng chẳng xen lẫn cát đá thì mới gọi là châu báu. Có người được báu thì cho là có của cải. Phàm tánh giải thoát cũng như vậy, như châu báu đó. Châu báu đó là ví cho chân giải thoát. Chân giải thoát tức là Như Lai. Ví như bình sành bị vỡ thì tiếng lạch cạch, bình báu kim cương thì chẳng như vậy. Phàm là giải thoát thì không tiếng lạch cạch. Bình báu kim cương là ví cho chân giải thoát. Chân giải thoát tức là Như Lai. Vậy nên thân Như Lai chẳng thể hoại. Tiếng bình vỡ lạch cạch ấy giống như hạt thầu dầu đặt vào trong lửa nóng nổ tách tách thành tiếng. Phàm là giải thoát thì không có việc như vậy, như bình báu bằng kim cương thật thì không có tiếng nứt vỡ. Giả sử vô lượng trăm ngàn người đều cùng bắn vào bình báu đó cũng không thể hoại được. Không tiếng bình vỡ dụ cho chân giải thoát. Chân giải thoát tức là Như Lai. Như người nghèo cùng nợ vật của người khác nên bị người khác trói buộc, cùm khóa, đánh phạt, chịu nhiều khổ não. Phàm trong giải thoát không có việc như vậy, không có nợ nần. Giống như ông trưởng giả có nhiều của báu vô lượng vô số ức, thế lực tự tại chẳng mắc nợ người khác. Phàm là giải thoát cũng như vậy, có của cải châu báu pháp nhiều vô lượng, thế lực tự tại, không có nợ nần. Không nợ nần ví cho chân giải thoát. Chân giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, giải thoát gọi là không bức bách, như ngày xuân gần gũi sức nóng, ngày hè ăn vị ngọt, ngày đông tiếp xúc với lạnh giá. Trong chân giải thoát không có những việc không vừa ý như vậy. Không bức bách là ví cho chân giải thoát. Chân giải thoát tức là Như Lai. Không có gì bức bách là ví như có người ăn no thịt cá mà lại uống sữa thì người này cận kề với cái chết chẳng bao lâu. Trong chân giải thoát không có việc như vậy. Người này nếu được thuốc hay cam lồ thì hoạn nạn được tiêu trừ. Chân giải thoát cũng như vậy. Thuốc hay cam lồ là ví cho chân giải thoát. Chân giải thoát tức là Như Lai. Sao gọi là bức bách và chẳng bức bách? Ví như kẻ phàm phu ngã mạn tự cao mà dấy ý niệm này: “Trong tất cả các vật thì vật gì có thể hại ta”. Hắn liền bắt lấy rắn, cọp, trùng độc. Ông nên biết rằng, người này chẳng hết thọ mạng thì cũng chết “bất đắc kỳ tử”. Trong chân giải thoát không có việc như vậy. Chẳng bức bách thì như ngọc thần của vua Chuyển luân có thể hàng phục sâu bọ, chín mươi sáu thứ độc trùng v.v… Nếu có người nghe mùi thơm của ngọc thần này thì các thứ độc đều bị tiêu diệt. Chân giải thoát cũng như vậy, đều xa lìa hết hai mươi lăm thứ hữu. Độc tiêu diệt là ví cho chân giải thoát. Chân giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, chẳng bức bách thì ví như hư không, giải thoát cũng vậy. Hư không đó là dụ cho chân giải thoát. Chân giải thoát tức là Như Lai. Lại, bức bách thì gần với cỏ khô mà thắp đèn thì sẽ cháy bừng lên. Trong chân giải thoát không có việc như vậy. Lại, chẳng bức bách ví như mặt trời, mặt trăng chẳng bức bách chúng sinh. Giải thoát cũng vậy, đối với các chúng sinh không có sự bức bách. Không bức bách là ví cho chân giải thoát. Chân giải thoát tức là Như Lai. Lại, giải thoát gọi là pháp không động, như oán, thân. Trong chân giải thoát không có việc như vậy. Lại, chẳng động thì như vua Chuyển luân mà không có Thánh vương làm thân hữu. Nếu lại có thân hữu thì không có việc ấy. Giải thoát cũng vậy, lại không có thân hữu. Nếu có thân hữu thì không có việc ấy. Vua không có thân hữu đó ví cho chân giải thoát. Chân giải thoát tức là Như Lai. Như Lai tức là pháp. Lại, không động thì ví như áo trắng dễ nhuộm màu. Giải thoát chẳng vậy. Lại, không động thì ví như hoa bà-sư mà muốn khiến cho nó có mùi thối và màu xanh thì không có việc ấy. Giải thoát cũng vậy, muốn khiến cho nó có mùi thối và các sắc thì cũng không có việc ấy. Vậy nên giải thoát tức là Như Lai. Lại, giải thoát thì gọi là hy hữu. Ví như trong nước mọc lên hoa sen thì chẳng phải là hy hữu. Trong lửa mà sinh ra hoa sen thì mới hy hữu. Có người thấy hoa đó liền sinh ra vui mừng. Chân giải thoát cũng như vậy, giải thoát ấy có người thấy thì lòng sinh ra vui mừng. Hy hữu đó là ví cho chân giải thoát. Chân giải thoát tức là Như Lai. Như Lai ấy tức là pháp thân. Lại, hy hữu là ví như đứa trẻ chưa mọc răng, dần dần lớn lên, sau đó răng mới mọc. Giải thoát chẳng vậy, không sinh mà chẳng sinh. Lại, giải thoát thì gọi là hư tịch, không có bất định. Bất định thì như Nhất-xiển-đề phạm bốn trọng cấm, rốt ráo chẳng dời, chẳng thành Phật đạo, không có việc ấy. Vì sao? Vì nếu người này ở trong chánh pháp của Phật mà lòng được niềm tin thanh tịnh thì bấy giờ liền diệt Nhất-xiển-đề. Nếu người đó lại được làm Ưu-bà-tắc thì cũng có thể diệt Nhất-xiển-đề. Người phạm trọng cấm diệt được tội này rồi thì được thành Phật. Vậy nên nếu nói rằng, nhất định chẳng dời, chẳng thành Phật đạo thì không có việc đó. Trong chân giải thoát không có việc diệt tận như vậy. Lại, hư tịch thì rơi vào pháp giới. Như tánh pháp giới tức là chân giải thoát. Chân giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, Nhất-xiển-đề nếu diệt hết thì chẳng được gọi là Nhất-xiển-đề. Sao gọi là Nhất-xiển-đề? Nhất-xiển-đề là đoạn diệt tất cả những căn bản thiện, lòng chẳng vin vào tất cả pháp thiện, thậm chí chẳng sinh một ý niệm thiện. Trong chân giải thoát đều không có việc này. Không có việc này tức là chân giải thoát. Chân giải thoát tức là Như Lai. Lại, giải thoát thì gọi là chẳng thể lường. Ví như đống thóc thì số lượng của nó có thể biết. Chân giải thoát thì chẳng phải vậy. Ví như biển cả thì chẳng thể đo lường. Giải thoát cũng vậy, chẳng thể đo lường. Chẳng thể đo lường tức là chân giải thoát. Chân giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, giải thoát thì gọi là pháp không lường. Như một chúng sinh có nhiều nghiệp báo. Giải thoát cũng vậy, có quả báo không lường. Báo không lường tức là chân giải thoát. Chân giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, giải thoát thì gọi là rộng lớn. Ví như biển cả không có gì ngang bằng. Giải thoát cũng vậy, không có gì có thể ngang bằng. Không gì ngang bằng tức là chân giải thoát. Chân giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, giải thoát gọi là tối thượng. Ví như hư không tối cao không sánh. Giải thoát cũng vậy, tối cao không sánh. Cao không sánh tức là chân giải thoát. Chân giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, giải thoát gọi là không thể vượt qua. Ví như chỗ trú của loài sư tử, tất cả bách thú không thể đi qua. Giải thoát cũng vậy, không có gì có thể vượt qua, Không thể qua tức là chân giải thoát. Chân giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, giải thoát gọi là vô thượng, như phương Bắc là phương trên trong các phương. Giải thoát cũng vậy, là không có gì trên nó. Không có gì trên tức là chân giải thoát. Chân giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, giải thoát gọi là cao tột. Ví như phương Bắc đối với phương Đông là trên cao tột. Giải thoát cũng vậy, không có cái trên nữa. Không có cái trên nữa tức là chân giải thoát. Chân giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, giải thoát gọi là hằng pháp. Ví như trời, người thân hoại mạng chung, đó gọi là hằng, chẳng phải chẳng hằng. Giải thoát cũng vậy, chẳng phải là chẳng hằng. Chẳng phải chẳng hằng tức là chân giải thoát. Chân giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, giải thoát gọi là bền chắc. Như trầm thủy chiên-đàn Khư-đà-la, tánh của nó bền chắc. Giải thoát cũng vậy, tánh ấy thật kiên cố. Tánh thật kiên cố tức là chân giải thoát. Chân giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, giải thoát gọi là bất hư. Ví như tre trúc lau sậy, thể của nó rỗng thưa. Giải thoát chẳng vậy. Ông phải biết, giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, giải thoát thì chẳng thể bẩn. Ví như tường vách chưa được tô sửa thì muỗi mòng ở trên đó dạo chơi. Nếu đã được tô sửa trang trí họa vẽ, điêu khắc thì côn trùng nghe mùi thơm của sơn liền chẳng ở trên đó nữa. Chẳng ở như vậy là dụ cho chân giải thoát. Chân giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, giải thoát gọi là vô biên. Ví như các xóm làng đều có dấu hiệu bờ cõi, giải thoát chẳng vậy. Ví như hư không không có bờ cõi, giải thoát cũng vậy, không có bờ cõi. Như vậy giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, giải thoát gọi là chẳng thể thấy. Ví như dấu chim trong hư không không thể thấy. Như vậy không thấy là dụ cho chân giải thoát. Chân giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, giải thoát là rất sâu xa. Vì sao? Vì là chỗ chẳng thể vào của Thanh văn, Duyên giác. Chẳng thể vào tức là chân giải thoát. Chân giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, sâu xa thì được sự cung kính của các Đức Phật, Bồ-tát. Ví như người con hiếu cung dưỡng cha mẹ được công đức rất sâu xa. Công đức sâu xa là ví cho chân giải thoát. Chân giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, giải thoát là chẳng thể thấy. Ví như có người chẳng tự thấy đỉnh đầu, giải thoát cũng vậy, Thanh văn, Duyên giác chẳng thể thấy được. Chẳng thể thấy tức là chân giải thoát. Chân giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, giải thoát gọi là không nhà cửa. Ví như hư không không có nhà cửa, giải thoát cũng vậy. Nói nhà cửa là dụ cho hai mươi lăm cõi. Không có nhà cửa là dụ cho chân giải thoát. Chân giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, giải thoát gọi là chẳng thể nắm bắt. Như trái cây A-ma-lặc thì con người có thể nắm lấy, giải thoát chẳng vậy, chẳng thể nắm bắt. Chẳng thể nắm bắt tức là chân giải thoát. Chân giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, giải thoát gọi là chẳng thể cầm giữ. Ví như vật huyễn thì chẳng thể cầm giữ, giải thoát cũng vậy, chẳng thể cầm giữ. Chẳng thể cầm giữ tức là chân giải thoát. Chân giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, giải thoát thì không có thân thể. Ví như có người mà thân thể sinh ra ghẻ lở và các ung nhọt, điên cuồng, khô cạn v.v… Trong chân giải thoát không có những bệnh như vậy. Không có những bệnh như vậy là ví cho chân giải thoát. Chân giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, giải thoát gọi là một vị. Như sữa một vị, giải thoát cũng vậy, chỉ có một vị. Như vậy một vị tức là chân giải thoát. Chân giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, giải thoát gọi là thanh tịnh. Như nước không có bùn, lắng đọng trong sạch, giải thoát cũng vậy, lắng đọng trong sạch. Lắng đọng trong sạch tức là chân giải thoát. Chân giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, giải thoát gọi là một vị. Như mưa trong hư không thì một vị trong sạch. Một vị trong sạch là dụ cho chân giải thoát. Chân giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, giải thoát gọi là trừ bỏ. Ví như trăng tròn đầy, không có mây che, giải thoát cũng vậy, không có mây che. Không có mây che tức là chân giải thoát. Chân giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, giải thoát gọi là tịch tĩnh. Ví như có người bị bệnh sốt được chữa khỏi, thân trở nên tịch tĩnh, giải thoát cũng vậy, thân được tịch tĩnh. Thân được tịch tĩnh tức là chân giải thoát. Chân giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, giải thoát tức là bình đẳng. Ví như rắn độc, chuột, sói, ở ruộng hoang đều có tâm giết hại. Giải thoát chẳng vậy, không có tâm giết hại. Không có tâm giết hại tức là cân giải thoát. Chân giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, bình đẳng thì ví như tâm bình đẳng của cha mẹ đối với con cái. Giải thoát cũng vậy, tâm bình đẳng. Tâm bình đẳng tức là chân giải thoát. Chân giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, giải thoát gọi là không chỗ khác. Ví như có người chỉ ở trong nhà cửa thanh tịnh thượng diệu mà lại không có chỗ khác. Giải thoát cũng vậy, không có chỗ khác. Không có chỗ khác tức là chân giải thoát. Chân giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, giải thoát gọi là biết đủ.

Ví như người đói gặp được bữa ăn ngon, ăn không chán, giải thoát chẳng vậy, như ăn cháo sữa, lại không có gì cần. Lại không có gì cần là dụ cho chân giải thoát. Chân giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, giải thoát gọi là cắt đứt. Như người bị trói, cắt dây trói, được thoát, giải thoát cũng vậy, cắt đứt tất cả kết phược của lòng nghi hoặc. Như vậy đoạn nghi tức là chân giải thoát. Chân giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, giải thoát gọi là đến bờ kia. Ví như sông lớn có bờ này, bờ kia. Giải thoát chẳng vậy, tuy không có bờ này mà có bờ kia. Có bờ kia tức là chân giải thoát. Chân giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, giải thoát gọi là mặc nhiên. Ví như biển cả, nước mênh mông cùng khắp, phát ra nhiều âm thanh, giải thoát chẳng vậy. Như vậy giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, giải thoát gọi là mỹ diệu. Ví như mọi thứ thuốc có lẫn vị ha-lê-lặc thì vị thuốc ấy đắng. Giải thoát chẳng vậy, vị nó như cam lồ. Vị như cam lồ là ví cho chân giải thoát. Chân giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, giải thoát thì trừ được các phiền não. Ví như thầy thuốc giỏi hòa hợp các vị thuốc, giỏi trị liệu mọi thứ bệnh. Giải thoát cũng vậy, có thể trừ khử phiền não. Trừ phiền não tức là chân giải thoát. Chân giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, giải thoát gọi là không dồn ép. Ví như nhà nhỏ chẳng dung nạp được nhiều người, giải thoát chẳng vậy, dung nạp được nhiều. Dung nạp được nhiều tức là chân giải thoát. Chân giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, giải thoát gọi là diệt các ái, chẳng xen dâm dục. Ví như nữ nhân nhiều ái dục, giải thoát chẳng vậy. Như vậy giải thoát tức là Như Lai. Như Lai như vậy không có tham dục, sân hận, ngu si, kiêu mạn v.v… Lại nữa, giải thoát gọi là không ái. Ái có hai thứ, một là ngã quỷ ái, hai là pháp ái. Chân giải thoát lìa ngã quỷ ái, thương xót chúng sinh nên có pháp ái. Như vậy pháp ái tức là chân giải thoát. Chân giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, giải thoát là lìa ngã, ngã sở. Như vậy giải thoát tức là Như Lai. Như Lai tức là pháp. Lại nữa, giải thoát tức là diệt tận, lìa khỏi sự tham của các hữu. Như vậy giải thoát tức là Như Lai. Như Lai tức là pháp. Lại nữa, giải thoát tức là cứu giúp, có thể cứu tất cả những người kinh sợ. Như vậy giải thoát tức là Như Lai. Như Lai tức là pháp. Lại nữa, giải thoát tức là chỗ về. Nếu có người quy y nương tựa giải thoát như vậy thì chẳng tìm chỗ khác. Ví như có người nương cậy vào vua thì chẳng cầu chỗ nương cậy khác.

Tuy lại nương vào vua mà vẫn có chuyển động, nương cậy vào giải thoát thì không có chuyển động. Không động chuyển tức là chân giải thoát. Chân giải thoát tức là Như Lai. Như Lai tức là pháp. Lại nữa, giải thoát gọi là nhà cửa. Ví như có người đi ở vùng đồng trống vắng thì có tai nạn nguy hiểm. Giải thoát chẳng vậy, không hiểm nạn. Không hiểm nạn tức là chân giải thoát. Chân giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, giải thoát là không sợ hãi. Như sư tử chúa đối với bách thú chẳng sinh ra sợ hãi. Giải thoát cũng vậy, đối với chúng ma, chẳng sinh sợ hãi. Không sợ hãi tức là chân giải thoát. Chân giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, giải thoát thì không có dồn ép. Ví như đường hiểm trở, thậm chí chẳng đủ hai người cùng đi, giải thoát chẳng vậy. Như vậy giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, giải thoát chẳng bị dồn ép. Ví như có người sợ cọp, rơi xuống giếng, giải thoát chẳng vậy. Như vậy giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, giải thoát chẳng có dồn ép. Ví như trong biển lớn mà bỏ chiếc thuyền nhỏ hư, được chiếc thuyền bền chắc, cỡi qua biển đến chỗ yên ổn, tâm được an lạc. Giải thoát cũng vậy, tâm được an lạc. Được an lạc tức là chân giải thoát. Chân giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, giải thoát là nhổ bật các nhân duyên. Ví như do sữa mà được kem sữa, nhân kem sữa được bơ sữa, nhân bơ sữa được phó mát. Trong chân giải thoát đều không có cái nhân này. Không có nhân này tức là chân giải thoát. Chân giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, giải thoát thì có thể điều phục kiêu mạn. Ví như vị vua lớn xem thường vua nhỏ, giải thoát chẳng vậy. Như vậy giải thoát tức là Như Lai. Như Lai tức là pháp. Lại nữa, giải thoát thì điều phục những buông lung. Gọi buông lung là người có nhiều tham dục, trong chân giải thoát không có danh tự đó. Không danh tự đó tức là chân giải thoát. Chân giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, giải thoát thì có thể trừ khử vô minh. Như kem sữa thượng diệu trừ khử các cặn bẩn mới gọi là phó mát. Giải thoát cũng vậy, trừ khử cặn vô minh, sinh ra chân minh. Như vậy chân minh tức là chân giải thoát. Chân giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, giải thoát gọi là tịch tĩnh thuần nhất không hai. Như con voi trên đồng hoang độc nhất không có bạn bè. Giải thoát cũng vậy, độc nhất không hai. Độc nhất không hai tức là chân giải thoát. Chân giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, giải thoát gọi là bền chắc. Như thân, gốc của tre trúc, lau sậy, lúa mè đều rỗng không mà hạt thì chắc thật. Ngoại trừ Phật Như Lai, kỳ dư người, trời đều chẳng chắc thật. Chân giải thoát thì xa lìa tất cả những hữu lậu v.v… Như vậy giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, giải thoát gọi là có thể hiểu rõ thêm về ngã. Chân giải thoát cũng như vậy. Như vậy giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, giải thoát gọi là bỏ các hữu. Ví như có người ăn rồi mà mửa ra, giải thoát cũng vậy, bỏ hết các hữu. Bỏ các hữu tức là chân giải thoát. Chân giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, giải thoát gọi là quyết định. Như hương thơm của hoa bà-sư không có trong hoa thất diệp, giải thoát cũng vậy. Như vậy giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, giải thoát gọi là thủy đại. Ví như thủy đại hơn các đại khác, có thể thấm nhuần tất cả hạt giống cỏ cây. Giải thoát cũng vậy, có thể thấm nhuần tất cả các loài có sự sống. Như vậy giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, giải thoát gọi là được vào. Như có cửa nẻo thông vào đường đi đến chỗ có vàng thì có thể được vàng. Giải thoát cũng vậy, như cửa nẻo kia tu vô ngã thì được vào trong. Như vậy giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, giải thoát gọi là làm tốt. Ví như đệ tử theo đuổi thầy khéo vâng theo lời dạy bảo thì được gọi là làm tốt, giải thoát cũng vậy. Như vậy giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, giải thoát gọi là pháp xuất thế. Đối với tất cả pháp thì nó ra khỏi và trên hết, như trong mọi vị thì phó mát là hơn hết. Giải thoát cũng vậy. Như vậy giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, giải thoát gọi là chẳng động. Ví như cửa cài then thì gió chẳng thể động. Chân giải thoát cũng như vậy. Như vậy giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, giải thoát gọi là không sóng gió. Như biển cả kia có sóng gió, giải thoát chẳng vậy. Như vậy giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, giải thoát ví như cung điện, giải thoát cũng vậy, phải biết giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, giải thoát gọi là sở dụng. Ví như vàng diêm-phù-đàn có nhiều công dụng, không ai có thể nói vàng đó xấu, giải thoát cũng vậy, không có xấu. Không có xấu tức là chân giải thoát. Chân giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, giải thoát thì bỏ hành động trẻ con. Ví như người lớn bỏ hành vi của đứa trẻ, giải thoát cũng vậy, trừ bỏ năm ấm. Trừ bỏ năm ấm tức là chân giải thoát. Chân giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, giải thoát gọi là cứu cánh. Như kẻ bị trói buộc, rồi từ trói buộc được thoát ra, tắm rửa sạch sẽ, sau đó mới trở về nhà. Giải thoát cũng vậy, rốt ráo thanh tịnh. Rốt ráo thanh tịnh tức là chân giải thoát. Chân giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, giải thoát là niềm vui không tạo tác, vui không tạo tác vì đã rời bỏ tham dục, sân hận, ngu si. Ví như có người uống nhầm thuốc độc, vì trừ độc nên liền ói thuốc ra. Đã ói được thuốc ra thì độc liền trừ khỏi, thân được yên vui. Giải thoát cũng vậy, thổ ra các thứ độc kết phược phiền não thì thân được an lạc, gọi là niềm vui không tạo tác. Niềm vui không tạo tác tức là chân giải thoát. Chân giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, giải thoát gọi là đoạn tuyệt bốn thứ rắn độc phiền não. Đoạn phiền não tức là chân giải thoát. Chân giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, giải thoát gọi là lìa các hữu, diệt tất cả khổ, được tất cả vui, đoạn tuyệt vĩnh viễn tham dục, sân hận, ngu si, nhổ đứt tất cả gốc rễ của phiền não. Nhổ gốc rễ tức là chân giải thoát. Chân giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, giải thoát gọi là đoạn tuyệt tất cả pháp hữu vi, sinh ra tất cả pháp thiện vô lậu, đoạn tuyệt lấp bít các đường, như là ngã, vô ngã, phi ngã, phi vô ngã chỉ đoạn dứt thủ trước, chẳng đoạn dứt ngã kiến. Ngã kiến thì gọi là Phật tánh. Phật tánh tức là chân giải thoát. Chân giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, giải thoát gọi là không chẳng không. Không không thì gọi là không sở hữu, không sở hữu tức là sự giải thoát của hàng ngoại đạo Ni-kiền-tử v.v.. mà thật ra hàng Nikiền-tử này không có giải thoát nên gọi là không không. Chân giải thoát thì chẳng như vậy, cho nên là không chẳng không. Không chẳng không tức là chân giải thoát. Chân giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, giải thoát gọi là không chẳng không. Như cái bình đựng nước, rượu, sữa, kem sữa, bơ sữa, mật v.v… Tuy bình ấy không có nước, rượu, kem sữa, bơ sữa, mật nhưng vẫn được gọi là bình nước, rượu v.v… mà những bình này chẳng thể nói là không và chẳng không. Nếu nói rằng không thì chẳng được có sắc hương vị xúc. Nếu nói rằng chẳng không mà lại không có thật nước, rượu v.v… giải thoát cũng vậy, chẳng thể nói sắc và chẳng phải sắc, chẳng thể nói không và chẳng không. Nếu nói rằng không thì chẳng có được thường, lạc, ngã, tịnh. Nếu nói rằng chẳng không thì ai thọ hưởng cái thường, lạc, ngã, tịnh này. Do cái nghĩa đó nên chẳng thể nói không và chẳng không. Không nghĩa là không có hai mươi lăm cõi và các phiền não, tất cả khổ, tất cả tướng, tất cả hạnh hữu vi. Như bình không có kem sữa thì gọi là không. Chẳng không nghĩa là sắc thiện chân thật, thường, lạc, ngã, tịnh chẳng động, chẳng biến giống như sắc hương vị xúc của cái bình kia nên gọi là chẳng không. Vậy nên, giải thoát ví như cái bình kia. Cái bình kia gặp duyên thì lại tan vỡ. Giải thoát chẳng vậy, chẳng thể bị phá vỡ. Chẳng thể phá hoại tức là chân giải thoát. Chân giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, giải thoát gọi là lìa ái. Ví như có người lòng yêu thích mong ước Thích-đềhoàn-nhân, Đại Phạm Thiên vương, Tự Tại Thiên vương. Giải thoát chẳng vậy, nếu được thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác rồi thì không ái, không nghi. Không ái, không nghi tức là chân giải thoát. Chân giải thoát tức là Như Lai. Nếu nói rằng giải thoát có ái, nghi thì đó là điều không có. Lại nữa, giải thoát là đoạn dứt những tham lam, đoạn dứt tất cả tướng, tất cả trói buộc, tất cả phiền não, tất cả sinh tử, tất cả nhân duyên, tất cả quả báo… Như vậy giải thoát tức là Như Lai. Như Lai tức là Niết-bàn. Tất cả chúng sinh kinh sợ sinh tử, phiền não nên thọ Tam quy. Ví như bầy nai kinh sợ người thợ săn nên đã thoát chạy, nhảy được một nhảy dụ cho một quy. Như vậy ba nhảy thì dụ cho Tam quy. Do ba nhảy nên được thọ hưởng an lạc. Chúng sinh cũng vậy, kinh sợ thợ săn ác bốn ma nên thọ Tam quy y. Nhờ Tam quy y nên chúng sinh được an lạc. Thọ an lạc tức là chân giải thoát. Chân giải thoát tức là Như Lai. Như Lai tức là Niết-bàn. Niết-bàn tức là vô tận. Vô tận tức là Phật tánh. Phật tánh tức là quyết định. Quyết định tức là Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

Bồ-tát Ca-diếp bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Nếu Niết-bàn, Phật tánh, Quyết định, Như Lai là một nghĩa thì sao nói rằng có ba quy y?

Đức Phật dạy:

–Này thiện nam! Tất cả chúng sinh kinh sợ sinh tử nên cầu ba quy y. Nhờ ba quy y nên biết Phật tánh, Quyết định, Niết-bàn. Này thiện nam! Có pháp, danh một mà nghĩa khác; có pháp, danh, nghĩa đều khác. Danh một, nghĩa khác là Phật thường, Pháp thường, Tỳ-kheo Tăng thường, Niết-bàn, hư không cũng đều là thường. Đó gọi là danh một, nghĩa khác. Danh, nghĩa đều khác là: Phật gọi là giác, Pháp gọi là bất giác, Tăng gọi là hòa hợp, Niết-bàn gọi là giải thoát, hư không gọi là phi thiên, cũng gọi là vô ngại. Đó là danh, nghĩa đều khác. Này thiện nam! Ba quy y cũng như vậy, danh nghĩa đều khác. Vậy nên Ta bảo Ma-ha Ba-xà-ba-đề Kiều-đàm-di chớ cúng dường cho Ta, phải cúng dường Tăng. Nếu cúng dường Tăng thì đã gồm cả cúng dường ba quy y. Ma-ha Ba-xà-ba-đề liền hỏi lại Ta: “Trong chúng Tăng không Phật, không Pháp thì sao nói rằng, cúng dường chúng Tăng thì gồm cả cúng dường ba quy y?”. Ta lại bảo: “Bà làm theo lời nói của tôi là cúng dường Phật, vì giải thoát tức là cúng dường Pháp, chúng Tăng thọ hưởng sự cúng dường tức là cúng dường Tăng”. Này thiện nam! Vậy nên trong Tam quy chẳng được chú trọng một quy. Này thiện nam! Như Lai hoặc có khi nói một là ba, có khi nói ba là một. Nghĩa như vậy là cảnh giới của chư Phật, chẳng phải là điều hiểu biết của Thanh văn, Duyên giác.

Ca-diếp lại bạch:

–Như lời nói của Đức Phật thì rốt ráo an lạc gọi là Niết-bàn, ý nghĩa này thế nào? Phàm là Niết-bàn thì xả thân, xả trí. Nếu xả thân, xả trí thì ai sẽ thọ lạc?

Đức Phật dạy:

–Này thiện nam! Ví như có người ăn rồi, buồn nôn muốn ói, đi ra ngoài. Đã nôn ra rồi quay trở lại. Đồng bạn hỏi người đó: “Ông bị bệnh đã bớt chưa mà quay trở lại?”. Đáp: “Đã bớt rồi, thân được yên vui”. Như Lai cũng vậy, rốt ráo xa lìa hai mươi lăm cõi, vĩnh viễn được chỗ Niết-bàn an vui, chẳng thể động chuyển, không có tận diệt, đoạn tuyệt tất cả thọ, gọi là không thọ lạc. Như vậy không thọ lạc gọi là thường lạc. Nếu nói Như Lai có thọ lạc thì đó là điều không có. Vậy nên niềm vui rốt ráo tức là Niết-bàn. Niết-bàn tức là chân giải thoát. Chân giải thoát tức là Như Lai.

Ca-diếp lại nói:

–Chẳng sinh, chẳng diệt là giải thoát sao?

–Đúng vậy! Đúng vậy! Này thiện nam! Chẳng sinh, chẳng diệt tức là giải thoát. Như vậy giải thoát tức là Như Lai.

Ca-diếp lại bạch:

–Nếu chẳng sinh diệt là giải thoát thì tánh hư không cũng không sinh, không diệt nên chính là Như Lai. Như vậy tánh Như Lai tức là giải thoát.

Đức Phật dạy Ca-diếp:

–Này thiện nam! Việc này chẳng vậy!

–Bạch Thế Tôn! Vì sao chẳng vậy?

–Này thiện nam! Như chim ca-lan-già và chim mạng mạng, tiếng hót của chúng thánh thót lẽ nào có thể đồng với tiếng kêu của chim quạ, chim khách chăng?

–Chẳng đồng, thưa Thế Tôn!

Tiếng của chim quạ, chim khách sánh với tiếng của chim mạng mạng v.v… dù cho nhân lên trăm ngàn vạn lần cũng chẳng thể so sánh được.

Ca-diếp lại bạch:

–Chim ca-lan-già v.v… tiếng của chúng vi diệu, thân cũng chẳng đồng thì làm sao Như Lai đem so sánh chúng với chim quạ, chim khách? Không khác gì đem hạt cải so sánh với núi Tu-di. Phật cùng với hư không cũng như vậy. Tiếng kêu của chim ca-lan-già có thể ví cho âm thanh của Phật, chẳng thể đem dụ cho tiếng kêu của chim quạ, chim khách.

Bấy giờ, Đức Phật khen Bồ-tát Ca-diếp:

–Hay thay! Hay thay! Này thiện nam! Ông nay khéo giải thích điều thâm diệu khó giải này. Như Lai có lúc vì nhân duyên nên dẫn hư không kia để ví cho giải thoát. Như vậy giải thoát tức là Như Lai. Chân giải thoát thì tất cả hàng trời, người không thể lấy làm ví dụ, mà hư không này thật ra chẳng phải dụ cho giải thoát ấy được, nhưng vì giáo hóa chúng sinh nên dùng hư không, chẳng phải dụ để làm ví dụ. Ông phải biết, giải thoát tức là Như Lai. Tánh của Như Lai tức là giải thoát. Giải thoát, Như Lai không hai, không khác. Này thiện nam! Chẳng phải dụ là như vật không so sánh được, chẳng thể dẫn dụ được. Nhưng có nhân duyên nên có thể được dẫn dụ, như trong kinh nói, diện mạo đoan chánh như trăng tròn đầy. Voi trắng tươi đẹp thanh khiết giống như núi Tuyết. Trăng tròn đầy chẳng được ví đồng với mặt. Núi Tuyết chẳng được ví là voi trắng. Này thiện nam! Chẳng thể dùng dụ để ví cho chân giải thoát, nhưng vì hóa độ chúng sinh nên làm ra dụ vậy.

Nhờ các thí dụ nên biết các pháp tánh đều cũng như vậy.

Ca-diếp lại bạch:

–Tại sao Như Lai nói hai thuyết?

Đức Phật dạy:

–Này thiện nam! Ví như có người nắm giữ dao, kiếm, do lòng sân hận muốn hại Như Lai. Như Lai vui hòa, sắc diện không sân giận thì người đó có hại được thân Như Lai tạo thành tội nghịch không?

–Thưa Thế Tôn! Chẳng thành! Vì sao? Vì thân giới của Như Lai chẳng thể hoại. Vì sao? Vì không có thân tụ, chỉ có pháp tánh mà tánh của pháp tánh về lý chẳng thể hoại thì người đó làm sao có thể hoại thân Phật. Do tâm ác nên thành tội vô gián. Do nhân duyên dẫn các thí dụ đó nên biết được thật pháp.

Bấy giờ, Đức Phật khen Bồ-tát Ca-diếp:

–Hay thay! Hay thay! Này thiện nam! Điều Ta muốn nói ông nay đã nói. Lại nữa, này thiện nam! Ví như người ác muốn hại mẹ mình, hắn ở ngoài đồng ruộng, bên đống lúa. Người mẹ đem cơm cho hắn. Hắn thấy mẹ rồi liền sinh tâm giết hại, bèn đi mài dao. Người mẹ biết rồi liền trốn vào trong đống lúa. Người ấy cầm dao chạy quanh đống lúa chém vào. Chém vào rồi vui mừng vì tưởng là đã giết chết mẹ rồi. Nhưng mẹ hắn không chết liền chui ra trở về nhà. Ý ông thế nào? Người đó có tạo tội vô gián không?

–Thưa Thế Tôn! Chẳng thể nói dứt khoát được. Vì sao? Vì nếu nói có tội thì mẹ hắn đã bị giết chết, nhưng nếu chưa chết thì làm sao nói là có tội. Nếu nói không tội cũng không được vì đã sinh tư tưởng giết hại, lòng mang vui mừng thì sao nói rằng không. Người này tuy chẳng đầy đủ tội nghịch mà cũng chính là nghịch. Do nhân duyên ấy dẫn các thí dụ đó mà được biết thật pháp.

Đức Phật khen Ca-diếp:

–Hay thay! Hay thay! Này thiện nam! Vì nhân duyên đó mà Ta nói đủ thứ phương tiện thí dụ để ví cho giải thoát. Ta tuy dùng vô lượng vô số dụ mà thật chẳng thể lấy dụ làm so sánh. Hoặc có nhân duyên cũng có thể dùng dụ để nói. Hoặc có nhân duyên chẳng thể dẫn ra thí dụ. Vậy nên giải thoát thành tựu vô lượng công đức như vậy, hướng đến Niết-bàn. Niết-bàn Như Lai cũng có vô lượng công đức như vậy. Do vô lượng công đức thành tựu viên mãn như vậy v.v… nên gọi là Đại Bát Niết Bàn.

Bồ-tát Ca-diếp bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Con nay mới biết được chỗ đến của Như Lai là không có tận. Chỗ đến nếu không tận thì phải biết rằng tinh tấn cũng không tận.

Đức Phật dạy:

–Hay thay! Hay thay! Này thiện nam! Ông nay có thể giỏi hộ trì chánh pháp. Nếu có thiện nam, thiện nữ muốn đoạn trừ những trói buộc phiền não thì phải thực hiện sự hộ trì chánh pháp như vậy.

 

Did you find apk for android? You can find new Free Android Games and apps.