Want create site? Find Free WordPress Themes and plugins.

PHẬT THUYẾT QUÁN PHẬT TAM MUỘI HẢI KINH

Hán dịch: Đời Đông Tấn, người xứ Thiên Trúc, Tam tạng Pháp sư Phật-đà Bạt-đà-la
Việt dịch: Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh

 

Phẩm 3: QUÁN TƯỚNG

(Tưừ cuối quyển 1 – hết quyển 4)

Đức Phật bảo rằng:

–Thưa Phụ vương! Sao gọi là quán đỉnh đầu của Như Lai? Xương đỉnh Như Lai tròn giống như cái nắm tay. Màu sắc chính của đỉnh là trắng, nhưng nếu da mỏng đi nhìn thấy thành màu hồng, hoặc da dày thì nhìn thấy thành màu Kim cương, mép tóc màu vàng, não màu pha lê có mười bốn mạch máu với những vạch đầy đủ và cũng có mười bốn ánh sáng. Những ánh sáng ấy như mạch máu phân minh rõ ràng. Ở trong những mạch máu của não lại sinh ra các ánh sáng ánh lên xương đầu. Rồi từ xương đầu phát ra cho đến mép tóc có mười bốn màu quanh những sợi tóc. Màu vàng dưới tóc cũng phát ra những ánh sáng hòa vào trong mười bốn màu. Đó gọi là Nhục kế trên đỉnh đầu của Như Lai khi Ngài mới sinh ra trong hoàng cung. Chỉ trên đỉnh ấy thì năm tướng Đại phạm mới sinh ra, mẹ Ma-gia và dì của Phật đều chẳng thấy. Năm tướng Đại phạm ấy hiện bày thì ánh sáng lên đến trời Phạm thế, lại qua vô lượng thế giới ở phương trên, hóa thành cung điện, đền đài, cảnh giới của chư Phật, Bồ-tát trụ Địa thứ mười chẳng thấy được. Hôm nay, Như Lai sẽ vì Phụ vương nói về tướng sinh đỉnh. Nếu có người nghe thì phải suy nghĩ tướng đỉnh thù thắng của Phật. Ánh sáng của tướng ấy, cho đến bụi trần của đại địa ba ngàn cõi cũng chẳng thể nói đủ. Chúng sinh đời sau nếu nghe lời nói này, nghĩ đến tướng mà lòng không hối hận thì như nhìn thấy ánh sáng tướng đỉnh thù thắng của Thế Tôn. Nhắm mắt là được thấy, do sức tưởng của tâm mà thấy rõ ràng như khi nhìn thấy Phật ở đời. Tuy chỉ quán một tướng ấy chẳng được nhiều, nhưng từ một việc khởi lên lại tưởng một việc, tưởng một việc rồi lại tưởng một việc. Thuận, nghịch, quay đi, trở lại trải qua mười sáu lần như vậy tâm tưởng cuối cùng trở nên sáng suốt thông lợi. Sau đó, giữ tâm chánh niệm, tưởng một chỗ như vậy dần dần đưa lưỡi hướng lên vòm miệng, khiến cho lưỡi đứng thẳng, trải qua hai mươi bảy ngày, sau đó thân tâm có thể được yên ổn. Rồi lại giữ tâm chánh niệm trở lại quán đảnh Phật. Phép quán đảnh Phật là trước hết, quán từ lỗ chân lông.

Đức Phật bảo với Phụ vương và A-nan rằng:

–Hãy lắng nghe! Lắng nghe! Suy nghĩ cho kỹ! Hiện nay trên đầu Như Lai có tám muôn bốn ngàn sợi tóc đều mọc xoắn về bên phải, chia đều phân minh, bốn góc rõ ràng. Mỗi một lỗ chân lông lại có năm ánh sáng hòa nhập vào mười bốn ánh sáng màu ở trước. Ngày xưa, ta còn ở hoàng cung, nhũ mẫu gội đầu cho ta. Di mẫu Đại Ái Đạo đi đến chỗ của ta, người biết khi Tất-đạt-đa sinh ra có nhiều điều kỳ lạ đặc biệt nên hỏi ta rằng: “Tóc của con dài bao nhiêu?” Ta làm sao đáp, nay phải đo tóc để biết độ dài của chúng. Người liền bảo ta buông tóc ra, dùng thước đo độ dài được một trượng hai thước năm tấc. Buông xong, tóc xoắn về bên phải trở lại như trước. Lúc sắp nạp phi (cưới vợ) lại gội đầu nữa, di mẫu lại bảo rằng, tóc đo lần trước dài một trượng hai thước năm tấc, nay phải đo lại. Ta liền buông tóc ra đo thì dài một trượng ba thước năm tấc. Lúc ta xuất gia Thiên thần bưng tóc của ta đi, tóc cũng dài một trượng ba thước năm tấc. Hôm nay Phụ vương có muốn xem tướng tóc không?

Phụ vương bạch rằng:

–Thưa vâng! Thưa Đấng Thiên Tôn! Tôi rất muốn thấy tóc Phật!

Đức Như Lai liền đưa tay lên thả tóc của mình ra, tóc dài từ tinh xá Ni-câu-lâu-đà đến cung của phụ vương, tóc Phật như lưu ly xanh biếc, còn quấn quanh thành bảy vòng. Ở trong tóc Phật, đại chúng đều thấy biết bao là ánh sáng màu, chẳng thể tả xiết. Mỗi ánh sáng đó soi khắp tất cả tạo thành màu lưu ly xanh biếc. Trong màu lưu ly có các Đức Phật biến hóa nhiều chẳng thể tính kể. Thị hiện tướng đó rồi, Đức Phật thu ánh sáng và cuốn tóc lại. Tóc xoắn về bên phải uyển chuyển trở lại trụ trên đỉnh Đức Phật, thành nhục kế như cũ. Đức Phật nói:

–Đó gọi là tướng tóc chân thật của Như Lai. Nếu Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di… nào muốn quán tóc Phật thì phải quán sát như vậy, chẳng được quán khác. Nếu quán khác thì gọi là tà quán, gọi là cuồng quán, gọi là thất tâm, gọi là tà kiến, gọi là tâm điên đảo… Giả sử người đó được định, điều này không thể có. Như vậy, thưa Phụ vương! Tướng tóc chân thật của Phật quả thật như vậy. Quán tướng tóc rồi, tiếp theo là quán mép tóc như màu trân châu đỏ uyển chuyển buông xuống, có năm ngàn ánh sáng xen lẫn mà rõ ràng, đều hướng lên trên vây quanh các sợi tóc, rồi từ trên đỉnh đầu phát ra, vòng quanh đỉnh năm vòng như của họa sĩ cõi trời vẽ ra, tròn lẳng, phẳng đều, nhỏ như một sợi tơ. Ở khoảng tơ ấy sinh ra các hóa Phật với các hóa Bồ-tát làm quyến thuộc, chư Thiên, tám bộ chúng, tất cả các hình tượng đều hiện ra bên trong.

Màu sắc như vầng mặt trời chẳng thể thấy đủ hết. Đó gọi là quán mép tóc của Phật. Người quán như vậy gọi là chánh quán, nếu quán khác thì gọi là tà quán.

Đức Phật bảo rằng:

–Thưa Phụ vương! Đây gọi là pháp quán chân thật về mép tóc Như Lai!

Thế nào là quán tướng trán rộng bằng phẳng của Như Lai?

Trong tướng trán rộng bằng phẳng có ba tướng:

Một là tướng lông trắng. Khi Phật mới sinh, vua cùng hoàng hậu đem Thái tử đến chỗ tiên A-tư-đà, ra lệnh xem tướng Thái tử. Tiên nhân vạch lớp lông, đầu tiên thấy ở giữa hai chân mày của Thái tử có sợi lông trắng xoắn lại. Ở bên sợi lông trắng có các vòng ngăn theo sợi lông trắng xoắn lại, thầy tướng kéo thẳng sợi lông ra, thấy sợi lông dài và lớn, liền lấy thước đo xem dài hay ngắn thì thấy đúng năm thước như cái ống bằng lưu ly. Buông tay ra thì lông xoắn lại về bên phải như viên ngọc pha lê, hiển hiện vô lượng trăm ngàn ánh sáng màu. Đó gọi là ánh sáng của tướng Bạch hào khi Bồ-tát mới sinh.

Đến năm lên tám tuổi, di mẫu lại quan sát theo tuổi của Tấtđạt-đa thì thấy lông ở khoảng mày ấy cũng theo năm tháng lớn lên. Nay bà muốn xem thử, liền kéo thẳng sợi lông trắng thì thấy nó ngay thẳng như ống lưu ly trắng. Ở đầu lông ấy phát ra ánh sáng năm màu sắc, rồi trở lại vào trong lỗ chân lông. Di mẫu thương mến vô cùng tận, bảo với mọi người rằng: “Tướng lông của con ta đến như thế này.” Mọi người thấy rồi, lông xoắn lại như trước rất khả ái. Đó gọi là tướng Bạch hào lúc Bồ-tát làm đồng tử.

Thế nào là tướng Bạch hào lúc Bồ-tát cưới vợ?

Cha của Da-du-đà-la cho thầy tướng đến xem tướng Thái tử. Thầy tướng thấy ba mươi hai tướng rõ ràng như bức họa, chỉ đối với tướng Bạch hào thì chẳng rõ. Thầy tướng liền nói rằng: “Thưa Thái tử, mọi tướng khác của ngài đồng với tướng của vua Kim luân, chỉ có tướng Bạch hào tỏa ra vô số ánh sáng này là ngoài tầm hiểu biết của tôi. Nay tôi muốn kéo thẳng ra để xem có thể được không?” Thái tử bảo rằng: “Hãy theo ý muốn của ông.” Bấy giờ, thầy tướng lấy tay kéo sợi lông ra. Lông ấy tuôn ra như sữa trâu chúa bắn vào mắt thầy tướng. Mắt thầy tướng ấy trở nên sáng suốt thanh tịnh, liền thấy ở trong sợi lông có hàng trăm ngàn Thánh vương Chuyển luân với bảy món báu cùng với ngàn đứa con…. Thầy tướng kinh ngạc thưa: “Thưa Thái tử! Tôi kéo sợi lông trắng ra là muốn xem dài ngắn. Chẳng biết vì ý gì mà như sữa trâu chúa lại bắn vào mắt tôi? Đây là sự thấy thật hay là sự thấy trong mộng hay là cuồng loạn! Nay tôi quên hết tướng tốt của Thái tử, tất cả đều hết, chỉ còn thấy trăm ngàn vua Chuyển luân thánh với bảy thứ báu, ngàn đứa con và bốn bộ binh từ bốn phía nổi lên. Lòng tôi vui mừng như Bà-la-môn được niềm vui cõi trời Phạm thế.” Nói rồi buông sợi lông. Nó xoắn về bên phải uyển chuyển trở lại chỗ cũ. Bấy giờ, thầy tướng tên là Lao-độ-bạt-đa, thấy việc này rồi, năm vóc sát đất đảnh lễ Thái tử, thưa rằng: “Mọi tướng của Thái tử chẳng thể thấy đủ hết. Như phép xem tướng của tôi, thấy được cả tướng vua bốn châu thiên hạ một cách nhanh chóng tự tại. Nay tướng của Thái tử như Ma-hê-thủ-la, thần lực tự tại chẳng thể ghi chép thì phải nhận biết ra sao?” Thái tử bảo rằng: “Ta không hiểu điều này! Ông hãy trở về mà tâu lên vua của ông!” Lúc ấy, thầy tướng liền trở về nước của mình, đem việc như trên tâu đầy đủ lên vua. Nhà vua nghe lời đó, nói với người đánh xe cho vua tên là Tượng Đạo đem theo hàng trăm ngàn người, đi đến thành Ca-tỳ-la. Đến cung vua Tịnh Phạn, nhà vua dùng nước rửa tay Thái tử, đem con gái trao lên Ngài, nhân đó làm lễ nói rằng: “Thưa Thái tử! Xin Ngài nhận con gái của tôi, nó có thể trông nom gia đình! Thầy tướng đã thấy tướng lông thượng diệu của Ngài. Tôi nay muốn thấy có thể được không?” Thái tử bảo rằng: “Tùy ý Ngài xem đi!” Bấy giờ, cha của Da-du-đà-la dùng tay kéo thẳng sợi lông trắng của Thái tử, thấy lông ấy như ống pha lê, từng đốt từng đốt như nhau. Ở trong các đốt ấy, thấy có vô lượng Phạm vương, Thích Đề-hoàn Nhân, các Thiên tử cùng với cung điện, nhìn thấy rõ ràng như soi trước gương sáng tự quan sát nét mặt của mình. Thấy rồi rất vui mừng, nhà vua liền buông sợi lông ra, nó xoắn lại về bên phải rồi trở lại trụ ở giữa hai chân mày. Ánh sáng rực rỡ tỏa ra khắp bốn phía, rồi nhập vào trong vòng vách ngăn, chẳng thể nói hết. Đó gọi là tướng Bạch hào khi Bồ-tát cưới vợ.

Đức Phật bảo rằng:

–Thưa Phụ vương! Sau khi Phật vào Niết-bàn, bốn bộ chúng muốn quán tướng Bạch hào của Bồ-tát khi còn thiếu niên và khi cưới vợ thì phải quán tưởng như vậy. Người quán tưởng như thế gọi là Chánh quán, nếu quán khác thì gọi là tà quán.

Đức Phật bảo rằng:

–Thưa Phụ vương! Sao gọi là tướng Bạch hào khi Như Lai xuất gia? Khi tôi muốn xuất gia, phụ vương và di mẫu sai các thể nữ luôn theo hộ vệ, cửa đặt then khóa, mở đóng có tiếng vang như sư tử hống. Ở cửa các cửa sổ đóng kín, treo các chuông nhỏ, khóa vàng móc nối nhau, rồng, quỷ, Dạ-xoa không vào được. Bấy giờ, Tứ Thiên vương ở trong hư không, từ xa phát ra âm thanh rằng: “Thưa Thái tử! Ngày giờ đã đến, Ngài hãy đi học đạo! Tôi nay muốn đến cúng dường Thái tử, nhưng sợ vào cung điện có tiếng động nên không thể vào được.” Khi ấy Thái tử dùng tay kéo thẳng sợi lông ra đến tận chỗ Tứ Thiên vương, màu sắc như lụa năm màu của cõi trời mềm mại đáng yêu. Tứ Thiên vương nhìn thấy lòng rất kính yêu. Do yêu kính nên liền thấy ở trong sợi lông có hóa Bồ-tát ngồi kiết già, hình dạng như Thái tử. Mỗi vị Bồ-tát lại có vô lượng Đại Bồ-tát xung quanh. Khi hiện tướng này thì vô lượng Trời, Rồng, Dạ-xoa… cùng lúc đều được vào cung. Thái tử ra lệnh cho Xa-nặc rằng: “Ngươi đi ra sau chuồng ngựa, thắng con Kiền-trắc lại đây!” Xa-nặc bạch rằng: “Nay trong đất này, nếu khi nhấc chân lên thì đất chấn động tiếng rống lên như tiếng con voi lớn, làm sao đến được?” Bấy giờ, Thái tử lại duỗi sợi lông trắng ra khiến cho Xa-nặc thấy giống như hoa sen, từng cánh từng cánh xếp lớp lên nhau, trắng như tuyết. Xa-nặc thấy rồi, mắt tâm liền mở ra, nhìn thấy nơi những cánh sen có các hóa Bồ-tát ngồi kiết già nhiều giống như bụi trần cũng chẳng thể nói lên số lượng. Những hóa Bồtát đó cũng có lông trắng giữa hai chân mày như Thái tử. Khi ấy, Xa-nặc thấy trong cung, đất như màu pha lê, bên trong thật cứng giống như Kim cương, chân bước nhẹ không có tiếng động, mau chóng đến sau chuồng ngựa, thắng yên vàng vào ngựa dắt đến trước điện. Xa-nặc thưa Thái tử rằng: “Chư Thiên nghiêm chỉnh chắp tay, vòng tay đứng trong hư không, đang đồng thanh khen ngợi công đức xuất gia. Đã đến lúc, Thái tử hãy mau chóng lên ngựa!” Bấy giờ, Thái tử lại duỗi sợi lông trắng ra phỏng theo hình dạng các cô gái khiến cho các thị nữ, thân tâm vui vẻ giống như Tỳ-kheo chứng đệ tam thiền. Lúc ấy sợi lông này uyển chuyển xoắn về bên phải vào trở lại giữa hai chân mày. Chư Thiên lại thấy giữa hai chân mày của Thái tử có trăm ngàn ánh sáng như dòng sông sữa chảy ra khắp nơi. Trong dòng sông sữa có hóa Bồ-tát ngồi trên hoa sen, đều cùng khen ngợi công đức xuất gia. Mỗi vị hóa Bồ-tát trên dòng sông sữa, giữa hai chân mày của chư vị đều tỏa ra ánh sáng như Thái tử.

Đức Phật bảo rằng:

–Thưa Phụ vương, đó gọi là các điềm lành của tướng Bạch hào khi Bồ-tát xuất gia. Nếu sau khi Phật diệt độ, bốn bộ chúng muốn quán tướng Bạch hào lúc Như Lai xuất gia thì phải quán tưởng như thế, nếu quán khác đi thì đó gọi là tà quán.

Đức Phật bảo rằng:

–Thưa Phụ vương, sao gọi là tướng Bạch hào khi Bồ-tát tu khổ hạnh? Khi ta vượt ra khỏi thành hoàng cung rồi, cách thành Dà-gia chẳng xa, đi đến cây A-luân-đà, Thiên tử Cát An cùng trăm ngàn Thiên tử đều nghĩ rằng: “Nếu Bồ-tát ngồi ở đây thì nhất định cần có tọa cụ. Ta nay phải dâng cho Ngài cỏ của cõi trời.” Các Thiên tử liền mang đến cỏ cõi trời thanh tịnh mềm mại tên là Cát Tường. Bồ-tát nhận rồi trải ra đất ngồi. Lúc đó, chư Thiên quan sát kỹ thân tướng khả ái của Bồ-tát lại thấy sợi lông trắng ba tấc xoắn về bên phải uyển chuyển, có trăm ngàn màu sắc tỏa vào các tướng. Khi các Thiên tử quan sát tướng Bạch hào đều nghĩ rằng: “Hôm nay Bồ-tát chỉ nhận cỏ của ta, chẳng nhận cỏ của ngươi.” Tức thời, ở trong sợi lông trắng, có vạn ức Bồ-tát ngồi kiết già, đều lấy số cỏ ấy trải ngồi dưới gốc cây này. Mỗi Thiên tử đều thấy trong lông trắng có tướng như thế. Lúc đó, Thiên tử Cát An khen ngợi rằng: “Hay thay! Đấng Thắng Sĩ tu hạnh đại Từ bi! Nhờ sức từ bi nên được tướng Đại Nhân. Ở trong tướng ấy biến hiện không lường, có thể làm thỏa mãn tất cả các nguyện lành của chư Thiên, làm cho họ không có tranh cãi, khởi tâm Bồ-đề. Đế Thích, Phạm vương và chư Thiên thấy Bồ-tát ngồi dưới cây này đều mang cam lồ đến dâng cúng dường. Lúc đó Bồ-tát vì muốn hàng phục Lục sư ngoại đạo kia nên không nhận các thứ cúng dường đó. Trời khiến cho bên trái, bên phải tự sinh ra mè, gạo nhưng Bồ-tát chẳng ăn. Chư Thiên đều nói rằng: “Vị thiện nam này chẳng ăn nhiều ngày, khí lực mệt mỏi, mạng sống không còn bao lâu thì làm sao có thể thành tựu Bồ-đề được?” Lúc đó Bồ-tát vào Tam-muội Diệt Ý. Cảnh giới của Tam-muội gọi là các căn tịch tĩnh. Chư Thiên kêu khóc, nước mắt rơi xuống như mưa, khuyến thỉnh Bồ-tát phải dậy mà ăn uống. Khi chư Thiên nói lên lời thỉnh này thì tiếng vang khắp tam thiên đại thiên thế giới mà Bồ-tát chẳng hay biết. Có một Thiên tử tên là Duyệt Ý thấy đất mọc cỏ xuyên qua thịt của Bồ-tát lên đến khuỷu tay nên bảo với chư Thiên rằng: “Lạ thay! Đấng nam tử tu khổ hạnh đến vậy! Chẳng ăn đã lâu lắm, tiếng kêu chẳng nghe, cỏ mọc chẳng hay biết!” Vị Thiên tử đó liền lấy tay phải kéo duỗi sợi lông trắng của Bồ-tát, sợi lông ấy thẳng ra, dài đúng một trượng bốn thước năm tấc, như ngọc báu trắng của cõi trời, trong ngoài đều rỗng không. Vị trời thấy bên trong sợi lông có hàng trăm ức ánh sáng. Ánh sáng ấy vi diệu chẳng thể tả xiết. Trong ánh sáng ấy hiện ra các hóa Bồ-tát đều tu khổ hạnh như Bồ-tát này không khác. Bồ-tát chẳng nhỏ mà lông cũng chẳng lớn. Chư Thiên thấy rồi khen chưa từng có, liền thả sợi lông trắng xoắn về bên phải, uyển chuyển cùng với ánh sáng đều trở lại chỗ cũ. Lúc bấy giờ, chư Thiên quan sát kỹ sợi lông trắng, mắt chẳng tạm rời. Họ nhìn thấy trong sợi lông trắng, bên dưới có năm cái ống nhập vào nơi khuôn mặt, rót cam lồ từng giọt từng giọt chẳng dứt, từ trên lưỡi chảy vào đến thân, phơi bày trong suốt như núi lưu ly. Có trăm ngàn vạn ức các Đại Bồ-tát hiện ra ở bên trong thân ấy. Chư Thiên thấy rồi, chắp tay vui mừng cho lời nói trước đây là ngu si, vì nói bậc Đại nhân này, mạng sống chẳng còn bao lâu. Hôm nay thấy tướng đó thì nhất định sẽ thành Phật, rõ ràng không nghi ngờ! Mặt trời tuệ Vô thượng chẳng bao lâu nữa sẽ soi chiếu thế gian! Họ nói lên lời đó rồi đi nhiễu quanh Bồ-tát trăm ngàn vòng, đều trở lại cung điện. Âm thanh này nghe vang đến sáu tầng trời cõi Dục.

Đức Phật bảo rằng:

–Thưa Phụ vương! Sau khi Phật diệt độ, nếu bốn bộ chúng muốn quán tướng Bạch hào khi Như Lai tu khổ hạnh thì phải quán tưởng đúng như vậy, đó gọi là chánh quán, nếu quán khác đi thì gọi là tà quán.

Đức Phật nói:

–Thưa Phụ vương! Thế nào là ánh sáng tướng lông trắng khi điều phục các ma của Bồ-tát?

Ma vương Ba-tuần dùng Thiên nhãn từ xa nhìn vào châu Diêmphù-đề, thấy người con của dòng họ Thích-ca bỏ thành bỏ nước như bỏ đờm dãi, ngồi nơi gốc cây, da bọc lấy xương, thân thể gầy gò như người bị bệnh lâu ngày, chỉ có ánh sáng màu vàng ròng là tỏa chiếu rực rỡ và ánh mắt sáng chói như ánh sao nơi đáy giếng, các đốt xương chống đỡ nhau như hình rồng cuộn khúc… Ba-tuần cười rằng: “Cù-đàm thân thể ốm gầy, xương như cỏ mục, tuy có ánh sáng nhưng mạng sống chẳng còn được bao lâu, không thể nào thành đạo được, ta hãy đến đó để phá hoại!” Nghĩ vậy xong, ma Ba-tuần giận dữ trợn mắt ra lệnh cho các Dạ-xoa tức tốc tập hợp binh chúng: “Bây giờ, ta muốn xuống châu Diêm-phù-đề để chinh phục Cù-đàm!”

Khi ấy, có một người con của ma tên là Tát-đa-la quỳ xuống thưa cha: “Thái tử con vua Tịnh Phạn, khi Người đản sinh, có hàng vạn vị thần hầu hạ, ánh sáng chiếu soi thấu đến cõi trời. Vị này có tâm Từ bi che chở khắp tất cả. Hiện nay, người ngồi nơi gốc cây là vì tất cả chúng sinh, sao cha lại có ý ác nghịch như vậy?” Ma vương tức giận nói: “Ngươi ấu trĩ chẳng biết gì nên mới nói Cù-đàm có đạo đức thù thắng. Cù-đàm thân thể gầy nhom như bộ xương khô, có làm được gì mà lại nói là có lòng Từ bi?” Ma con lại nói: “Thân thể Cùđàm bị ốm gầy là do không ăn uống, nhưng hào quang của Ngài thì như núi kim cương tỏa ra ánh sáng, ngồi điềm nhiên trong sáu năm, tâm không hề dao động, nét mặt của Ngài thì càng tăng sắc diện không sợ hãi. Kính xin Đại vương hãy ở lại Thiên cung, đừng nghĩ đến việc đi đánh nữa!” Ma Ba-tuần nói: “Ngươi hãy im ngay đi! Sao lại phải nói nhiều như vậy?” Khi ấy, có Dạ-xoa chúa tên là Sí-đà liền đến chỗ Ma vương, cúi đầu đảnh lễ sát đất thưa: “Thưa Thiên vương! Ngài ra lệnh điều gì?” Ma Ba-tuần bảo: “Ngươi hãy đem lời ta ra lệnh cho khắp sáu cõi trời, các quỷ vương, tám bộ quỷ thần, các quỷ thần đồng trống và Diêm-la vương của mười tám tầng địa ngục… tất cả đều phải tập trung đến chỗ của Cù-đàm!”

Bấy giờ, các quỷ thần như mây nổi lên từ bốn phía đều tập trung lại, có các quỷ đầu như đầu trâu có bốn mươi tai, trong mỗi tai bắn ra các mũi tên bằng sắt nóng đỏ cao một do-tuần, có mười tám sừng chĩa thẳng lên như ngọn núi, trên núi lại có một con rồng ngậm hòn sắt nung đỏ. Lại có các quỷ giống như con cáo, đầu có mười ngàn mắt, lông mi dài lớn như hình chớp sét, trên đầu có miệng khạc ra lửa dữ, thân mọc nhiều lông giống như cây mọc gươm tua tủa. Lại có các loài quỷ đứng lộn ngược trong hư không, chúng có hai mươi chân, nơi mắt cá chân có một ngàn bánh xe dao, đầu như Thái sơn, trên đầu có năm trăm cây kiếm, đầu luôn luôn nổi lửa. Lại có các quỷ trườn bò uốn khúc bám vào núi Thiết vi. Lại có các quỷ một cổ nhiều đầu, miệng có một ngàn lưỡi mọc ra cây có gai nhọn, trên râu, máu theo các đầu sợi râu tuôn ra như mưa, miệng khạc ra gai nhọn phun phùn phụt, ào ào cỡi hư không mà đến. Quỷ Tỳ-xá-xà phát ra âm thanh lớn rất hung dữ, khí phun ra như mây, mưa ra các hòn sắt nóng, ào ạt bất ngờ kéo đến. Quỷ Cưu-bàn-trà ngồi chồm hổm trên mặt đất, hiện ra hình tướng xấu xí. Quỷ Phú-đơn-na hình tướng đen gầy, đầu đội cái vạc lớn chứa đầy những hòn sắt nóng, tay cầm bánh xe dao, chân trái đạp trên con chó, chân phải giẫm lên con sói, rượt đuổi nhau chạy đến. Các quỷ chúa La-sát, lưng đen như mun, ngực trắng như mặt trăng, mắt như than lửa hừng hực, tóc rối bù rối tung như bụi gai, răng nanh chĩa ra hình dạng như cây kiếm, mười móng tay bén như mũi nhọn, mười móng chân to lớn như mũi kiếm, đầu bị ràng bằng sắt, đua nhau chạy đến. Các Đại tướng quân quỷ thần đồng trống một cổ có sáu đầu, trên ngực có sáu mặt, hai bên đầu gối lông mọc tua tủa như tên bắn, thân cứ hăng lên là bắn tên vào người khác, mắt trợn đỏ rực, máu tuôn chảy ra, cùng với các loài hung tợn nhung chóng kéo đến. Lại có các quỷ, đầu như đầu hổ, có mười hai mắt, mũi như vòi voi, có mười ba mũi, vai bên trái gánh núi, vai bên phải khiêng lửa, tay cầm gươm bén, chân đạp trên sư tử, gầm rống đi đến. Lại có các quỷ, thân hình như mây, sấm chợp nổi lên như đám mây lớn, bên cạnh đám mây có trăm ngàn vạn con rồng, chẳng thấy thân mà chỉ thấy chất độc chúng phun ra từ các phía khắp mười phương, tất cả những việc hung dữ đều nổi lên như mây. Quỷ tử mẫu, các thần tướng và các quỷ con đều cầm một tảng đá vuông vức một dặm, cao lớn, đáng sợ như núi chen nhau chạy đến. Lại có các quỷ co quắp cong đuôi, dùng mũi ngửi đất, mũi phun ra lửa, lửa bùng cháy lên hóa sinh ra các quỷ bưng mặt chạy đến…

Bấy giờ, Ma vương quay lại nhìn Dạ-xoa để ra lệnh cho các quỷ: “Hiện nay, binh lính quỷ đã tập trung đầy đủ, thiện nhân Cùđàm biết đâu cũng có thể biết được phép thuật, ta phải nổi lên bốn bộ binh”. Nghĩ xong, Ba-tuần liền dùng viên ngọc Ma vương biến hóa ra bốn binh chúng, voi, ngựa, xe và bộ binh đông đúc la liệt như rừng, vô cùng đáng sợ từ hư không xuống, đi đến bên gốc cây. Ma vương lại nghĩ: “Binh lính như vầy chắc có lẽ cũng không thể đánh bại Cù-đàm được.” Rồi Ma liền lấy mũ báu đặt xuống đất. Ánh sáng của mũ chiếu thẳng xuống phương dưới, đến điện Diêm-la vương, hóa thành người đứng trên cung điện hô to lên để ra lệnh cho các quỷ: “Diêm-la vương và ngục tốt các ngươi, bánh xe dao, kiếm, kích, xe lửa, lò than… Tất cả đều hãy ném vào Diêm-phù-đề để tiêu diệt Cù-đàm!” Địa ngục A-tỳ rộng lớn tám vạn do-tuần, bảy lớp thành sắt, bên dưới có mười tám ngăn, bốn bên rừng kiếm cũng có mười tám hàng; phương Đông lại có mười tám địa ngục nhỏ xung quanh; phương Nam, phương Tây, phương Bắc đều có mười tám ngăn xung quanh dưới đất tự nhiên có lửa cháy phừng phực, đốt cháy bức thành sắt và tất cả các lưới sắt, tất cả đầu cháy rụi rồi trở lại bị đốt cháy như ban đầu cho đến khi cháy hết mười tám ngăn địa ngục. Chúng sinh nào phạm năm tội đại nghịch, thân ở đầy trong đó và chịu những khổ sở như vậy, kéo dài suốt ngày suốt đêm không hề được nghỉ trong giây lát. Khi kiếp khổ hết, bốn cửa tự mở. Các tội nhân đều thấy tất cả các rừng kiếm bên ngoài cửa phía Đông đều như khu rừng mát mẻ. Họ từ bên dưới lên ngăn ngục thứ hai, từ ngăn ngục thứ hai lên ngăn ngục thứ ba, cứ như vậy đi lên cho đến cửa phía Đông. Lính ngục La-sát cầm chĩa ba bằng sắt nóng đâm vào mắt tội nhân, máu tinh như nước đồng nóng chảy tuôn ra khắp mặt đất, lập tức họ đảo lộn lan tràn khắp trong mười tám ngăn địa ngục, các tội nhân bị bất tỉnh mê man suốt một tiểu kiếp. Khi vừa mới tỉnh lại, họ lại hướng đến cửa phía Nam. Cứ như vậy, bốn cửa bốn phía đều như trước không khác, suốt ngày đêm chịu tội khổ trải qua một đại kiếp. Kiếp đó hết lại liền sinh vào địa ngục nhỏ khác. Các địa ngục khác có hình dạng lớn nhỏ và chịu tội báo nặng nhẹ khác nhau. Loại hình xấu, tốt và tất cả các tội báo sẽ được nói rõ trong phần Tam-muội về lòng Từ.

Khi ấy, các lính ngục ở thành phía Đông có tám ngàn, ba phương kia cũng vậy. Mỗi tên lính ngục đều có đầu tóc như núi mọc ra bánh xe dao và kiếm, kích. Tai như tai lừa, có trăm ngàn cái, trong mỗi tai đều xịt ra khói lửa, môi miệng và răng đều ghê rợn hơn quỷ La-sát trăm ngàn vạn lần; sừng như sừng trâu, trên đầu sừng mọc ra nhiều lưỡi kiếm, năm phía nhìn thấy đều khác nhau; thân thể đỏ đen loang lỗ như chó bị bệnh lác; có bốn trăm cái đuôi, trên mỗi chót đuôi, máu tanh và phân hôi thối tuôn trào ra, thân thể bị các loài trùng mỏ bằng sắt nhọn bu quanh, tay cầm đinh ba bằng sắt, chân đạp trên bánh xe, các mũi nhọn trên bánh xe dao đâm thấu tim, tủy, chúng chạy nhanh như gió, mỗi tên đều cầm đinh ba chĩa thẳng vào hông tội nhân rồi đưa thẳng lên trên. Địa ngục A-tỳ đuổi các tội nhân như bóng theo hình, trong chốc lát liền đến bên đạo thọ. Tất cả tập trung cùng một lúc để nổi lên những việc ác nghịch.

Bấy giờ, Bồ-tát vẫn điềm nhiên bất động, nhập vào lòng Từ với tâm ý thù thắng, Ma vương gầm lên giương oai giễu võ, ra lệnh cho các binh chúng: “Các ngươi hãy nhanh chóng phá hoại Cù-đàm, Rồi lên làm chấn động sấm chớp, mưa xuống các hòn sắt nóng, bánh xe dao và các vũ khí càng tập trung nhiều thêm trong hư không.” Các ma quỷ từ bốn phía đều đồng thời làm như vậy. Các mũi tên lửa của chúng vẫn không đến gần Bồ-tát. Khi ấy, Bồ-tát từ từ đưa cánh tay phải lên, kéo dài sợi lông trắng giữa hai chân mày ra rồi đưa thẳng xuống địa ngục A-tỳ, khiến cho các tội nhân thấy được những dòng nước chảy ra từ trong sợi lông tưới mát trên những đám lửa lớn. Lửa dữ dần dần tắt ngúm, chỉ còn lại hơi khói, làm cho những người đang chịu tội được phần nào giác ngộ, họ tự nhớ lại những nghiệp tội mình đã tạo trong trăm đời, ngàn đời, trăm ngàn vạn đời trước. Các lính ngục cầm đinh ba lớn bằng sắt muốn đâm chĩa vào tội nhân nhưng họ dùng hết sức lực cũng không thể cử động được. Bỗng nhiên, họ nhìn thấy một đinh ba bằng sắt đầu lớn như núi bằng bạc, có hàng ngàn vạn ban thờ, có sư tử trắng nằm cuộn thân làm tòa, trên tòa có hoa sen trắng, trên hoa sen có một vị Bồ-tát rất vi diệu đang nhập trong Thắng ý từ, rất trang nghiêm như núi Tu-di, phóng ra các đinh ba cắm xuống đất, từ chỗ gốc của đinh ba, hiện ra hoa sen bằng bảy báu, tỏa ra ánh sáng màu trắng, chiếu đến các địa ngục và chiếu vào thân các lính ngục, khiến cho Diêm-la vương và các lính ngục đều thành núi bằng bạc, giống như ánh chớp, chỉ được thấy trong thoáng chốc, những người chịu tội báo, sáu căn bất ngờ nổi lên lửa dữ, ở đầu các đốt xương, lửa thiêu đốt làm cho gân và mạch máu đều bị dính chẳng rời nhau. Cùng lúc, họ đều chắp tay hướng về tướng lông trắng, tức thời, tâm ý họ được khai mở, thấy người trong lông trắng giống như mình không khác, đều ngồi trên tòa hoa sen, lấy nước rưới trên đỉnh đầu tội nhân, khiến cho tâm phiền não nóng bức của họ trong phút chốc được mát mẻ, tất cả đều đồng thời nói: “Nam-mô Phật”. Nhờ nhân duyên này, họ không còn bị chịu tội báo và được sinh thẳng vào cõi người, các căn đầy đủ, có tri kiến chân chánh và được xuất gia. Sau khi xuất gia, họ phá bỏ được hai mươi ức kết sử và thành bậc Tu-đà-hoàn.

Ma vương thấy tướng như vậy, tiều tụy áo não nằm mãi nơi giường. Ma có ba người con gái, người lớn tên là Duyệt Bỉ, người thứ tên là Hỷ Tâm và người nhỏ nhất tên là Đa Mị. Khi ấy, ba người con gái đến chỗ Phụ vương, quỳ gối chắp tay kính lễ và thưa: “Thưa Phụ vương! Hôm nay, vì sao Phụ vương buồn rầu tiều tụy như vậy?” Ma vương đáp: “Sa-môn Cù-đàm thệ nguyện sâu nặng, nay đang ngồi nơi gốc cây Bồ-đề, muốn phá hoại dân chúng của ta, cho nên, ta mới buồn rầu như vậy.” Con gái của Ma vương thưa: “Con có thể đến đó để làm cho Cù-đàm tán loạn. Xin Phụ vương đừng buồn rầu nữa”. Nói xong ba người con gái của ma liền trang điểm đẹp đẽ, đội mũ báu nhiều màu, dung nhan kiều diễm đặc biệt hơn hoàng hậu của ma trăm ngàn vạn lần, liếc mắt rất thùy mị, mỹ miều, đeo chuỗi ngọc tỏa ánh sáng rực rỡ chiếu đến khắp sáu tầng trời, đi trên xe báu bay, xe phủ màn báu, treo nhiều hoa cõi trời, nơi các vòng hoa, có nhiều ngọc nữ biến hóa, tay cầm các nhạc cụ, đàn ca lên hàng vạn âm thanh vui vẻ mà người đời ưa thích. Mỗi ngọc nữ biến hóa đều có năm trăm người con gái hầu hạ, dù, cờ, phướn thêu nhiều màu sắc rủ xuống như mây, từ các lỗ chân lông nơi thân tỏa hương thơm ngát, có trăm ngàn màu sắc, đen, vàng sáng rỡ như ánh sáng mặt trời, mọi người rất ưa nhìn.

Ba cô gái từ từ đi đến chỗ của Bồ-tát, đi nhiễu quanh bảy vòng rồi thưa: “Khi Thái tử đản sinh có hàng vạn vị thần hầu hạ, hiến dâng bảy báu, sao Người lại bỏ ngôi vị Thiên tử mà đến gốc cây này. Tôi là Thiên nữ xinh đẹp tuyệt trần, nhan sắc rực rỡ, sáu cõi trời không ai sánh bằng. Nay, tôi xin dâng tấm thân hèn mọn này lên Thái tử, cung cấp mọi thứ cần dùng đầy đủ, hầu hạ dọn dẹp, chúng tôi sẽ khéo léo để Thái tử vừa lòng, chúng tôi xin được theo nương tựa, kính mong Thái tử thương tình thuận nhận. Thái tử ngồi nơi gốc cây, thân thể mệt mỏi, cần phải nghỉ ngơi, ăn uống cam lồ bổ dưỡng…” Nói xong, ba cô gái liền dùng đồ đựng quý báu để hiến dâng món ngon trăm vị cõi trời. Thái tử vẫn mặc nhiên tỉnh lặng, thân tâm không hề lay động. Thái tử tướng lông trắng khiến cho ba cô gái tự thấy máu mủ, đờm dãi bất tịnh trong thân bài bài tiết ra chín lỗ, tất cả gân cốt mạch máu, ruột già, ruột non, bàng quang, mề phân; trong những vật ấy, vận chuyển qua lại sinh ra các loài trùng nhỏ đùa giỡn, chúng chạy vào ruột non, mỗi con đều có bốn miệng, chúng há miệng to ra và hướng lên trên; khi các trùng lớn đùa giỡn, chúng chạy vào ruột già, ra khỏi ruột già, chúng lại vào dạ dày; khi bị phát bệnh lạnh, bên trong dạ dày bị bế tắc, các trùng không vào được, vì thế nên ăn không tiêu; lá lách, thận, gan, phổi, tim, mật, họng; phổi lớn, vách ngăn của gan, ở giữa lại có bốn con trùng như bốn con rắn nằm sát nhau, trên dưới đồng thời mổ ăn các nội tạng, cặn hết thì nước nhựa chảy ra, vào mắt tạo thành nước mắt, vào mũi thành nước mũi, tụ lại trong miệng thành đờm và nước giãi; da dày da mỏng, đốt xương tủy, các mạch máu đều sinh các loài trùng nhỏ như sợi lông bay lên số nhiều không thể kể xiết… Các cô gái ma thấy vậy liền bị nôn mửa, không lúc nào ngừng dứt, lại tự thấy thân mình, bên trái mọc ra đầu rắn, bên phải mọc ra đầu cáo, giữa đầu lại mọc ra đầu chó, trên đầu lại hóa sinh ra thây chết chín màu sắc giống như trong chín phép quán tưởng. Chín phép quán tưởng gồm:

1. Tướng mới chết, hoặc thấy có người chết, thân thể thẳng đờ không còn biết gì, liền nghĩ rằng: “Thân này của ta rồi cũng sẽ như vậy không khác.” Vì thế, gọi là tướng mới chết.

2. Tướng xanh bầm ứ, nghĩa là thấy người chết từ một ngày cho đến bảy ngày, thân thể xanh trương phình ứ lên thành tướng màu đen; tấm thân yêu quý của ta rồi cũng sẽ như vậy không khác. Cho nên gọi là tướng xanh bầm ứ.

3. Tướng máu mủ, hoặc thấy người chết, thân đã thối rữa, máu chảy tràn lan vô cùng gớm guốc, không thể nhìn lâu, tấm thân yêu quý của ta rồi cũng sẽ như vậy. Đó là tướng máu mủ.

4. Tướng nước nhựa màu đỏ thẫm. Nghĩa là thấy người chết, thân thể phình to, nước màu vàng chảy ra thành màu nước nhựa đỏ thẫm, thân thể yêu quý của ta cũng sẽ như vậy. Cho nên gọi là tướng chảy nước nhựa màu đỏ thẫm.

5. Tướng ăn không tiêu, nghĩa là thấy người chết bị chim quạ ăn, bị các loài trùng, chó sói ăn nuốt, bị ruồi nhặng bu sinh giòi, thịt trên thân thể bị chúng ăn hết hoặc chỉ còn một nửa, thân thể yêu quý của ta cũng sẽ như vậy. Đó là tướng ăn không tiêu.

6. Tướng gân cốt như củi bó. Nghĩa là thấy người chết, da thịt đã hết, chỉ còn gân xương liền nhau giống như củi được bó lại, nhờ vậy mà dính liền nhau không rời rã, thân thể yêu quý của ta cũng sẽ như vậy. Đó là tướng gân cốt như củi bó.

7. Tướng xương cốt tan rã, nghĩa là thấy người chết, những sợi gân đã hư hoại, các đốt xương rời ra không ở một chỗ, thân thể yêu quý của ta rồi cũng sẽ như vậy, đó là tướng xương cốt tan rã.

8. Tướng bị thiêu đốt đen xấu, nghĩa là thấy người chết, bị lửa thiêu đốt, cháy nám, co rút trên đất, thật đáng nhờm gớm không thể nhìn lâu; thân thể mà ta yêu quý rồi cũng sẽ như vậy. Đó là tướng bị thiêu đốt cháy đen nhám xấu xí.

9. Tướng xương khô, nghĩa là thấy người chết, hoặc năm mươi năm, hoặc một trăm năm, hai trăm năm, cho đến ba trăm năm, xương biến thành màu trắng, ánh nắng mặt trời chiếu thấu vào trong, lửa trên xương cứ cháy bập bùng; sau khi hỏa thiêu, gió thổi tro xương trở về với đất.

Như trên đã nói sơ lược về chín tướng. Đó là pháp môn quán bất tịnh ban đầu của Bồ-tát khi ngồi nơi gốc cây.

Bấy giờ, ba người con gái của ma, tự thấy mình lưng còng, già nua, tóc bạc, mặt nhăn, môi miệng phều phào, tay chân lụm cụm, mặt mày đen dơ, xấu xí giống như người gần chết, trước ngực lại ôm thây một đứa bé chết, từ trong sáu lỗ trên mặt, chảy ra nhiều mủ, trong mủ lại sinh ra các loài trùng lớn như con giun… Ba cô gái thấy vậy, vô cùng cuống cuồng sợ hãi, gấp gáp bỏ chạy, cúi đầu nhìn xuống thì thấy sáu con rồng sát nhau, rồng phun nước, khạc lửa, tai thổi ra gió mạnh cứng như sắt. Các cô gái lại tự thấy mình hình dáng thô xấu, nhơ uế, rồi cũng sẽ như các con rồng. Ở những chỗ dơ xấu, lại có nhiều loài trùng nhỏ, mỗi con có bốn đầu, hai trên hai dưới, chụp mổ cắn ăn thịt các ma nữ; miệng chúng tiết ra năm chất độc, chất độc có năm mạch lên đến tim và xuống đến cổ họng, từ trong sáu căn lại sinh ra các mạch, gồm chín mươi chín mạch, chảy thẳng vào đầu các loài trùng rồi cùng nhau rưới chất độc vào tim các loài trùng. Các ma nữ này, từ vô số đời đã tạo nhiều hành nghiệp tà vạy.

Lại có các loài trùng như vòng đeo tay, tròn xoe nương giữ vào nhau, có rất nhiều miệng, miệng sinh ra các chất độc, ăn nuốt các căn của các cô gái ma. Các cô gái này từ nhiều đời trước, vì nghiệp tà dâm nên bị thân xấu xí. Các cô gái ma thấy vậy, vô cùng khổ đau như tên bắn vào tim, nên càng lổm ngổm bò đi mau.

Như lạc đà ốm gầy bước đi, khi vừa giở chân lên thì lửa bốc

cháy nơi các khớp xương, lông tóc đen vàng như rừng gai nhọn tự trói buộc quanh thân, các ma nữ than thở kêu la và đến trước Ma vương. Ma vương giận dữ rút kiếm chỉ thẳng vào phía trước. Các Ma nữ thưa: “Phụ vương vô tội vạ, tự nhiên lại chuốc lấy tai ương, Bồtát có hạnh thanh tịnh, rất khó làm dao động giống như đất, vậy thì làm sao chúng con phá hoại được.” Khi các ma nữ nói như vậy, Bồtát lại phóng ánh sáng nơi tướng lông trắng khiến cho các quyến thuộc của ma, thân tâm được an lạc như Tỳ-kheo nhập vào Thiền thứ ba. Các ngạ quỷ thấy nơi tướng lông trắng, trên đầu sợi lông có trăm ngàn vạn ức các Đại Bồ-tát. Các Bồ-tát này cũng đều nhập vào Tam-muội Thắng ý từ tâm, đều dùng tay phải vuốt đầu ngón tay bên trái, nơi đầu ngón tay, sữa tuôn chảy ra rưới tắt lửa dữ, lửa dữ tắt rồi, liền được mát mẻ; các ngạ quỷ tự nhiên được no đủ, thân tâm vui mừng, phát tâm Bồ-đề, nhờ tâm này nên được chấm dứt nỗi khổ ngạ quỷ. Các quỷ ấy tự thấy thân mình giống như bạch ngọc, như núi lưu ly, như núi pha lê, như núi vàng ròng, như núi mã não, các lỗ chân lông nơi thân đều giống như chuỗi trân châu, mắt sáng thanh tịnh như ngọc Minh Nguyệt, các khói lửa nơi thân đều thành như mây nhiều châu báu, dao gậy cầm nơi tay đều thành như đài bằng bảy báu, trong đài bảy báu có trải chiếu ngọc và đặt gối hương thơm, bên trái bên phải tự nhiên có vị Phạm vương biến hóa hiện ra, thấy có các hóa Bồ-tát ngồi nơi hóa đài, mỗi vị đều giảng nói về nghiệp báo của các tội nhân: “Các ngươi do đời trước đã tạo các nghiệp ác nên phải chịu thân hình xấu xí như thế!” Các hóa Bồ-tát nói những lời ấy xong, những quỷ thần ấy, người thì được phát tâm Bồ-đề vô thượng, người thì được gieo trồng nhân duyên Thanh văn, Bích-chi-phật, kẻ thì vào đời vị lai sẽ được sinh lên cõi trời, cõi người ở những nơi an vui, cao quý.

Bấy giờ, bỗng nhiên Ma vương quay về cung điện của mình, tướng lông trắng của Bồ-tát cũng đi theo lên sáu tầng trời. Giữa nơi ấy, vô số Thiên tử và Thiên nữ nhìn thấy trong lông trắng thông suốt trống rỗng và tròn trịa, đẹp đẽ như lá cờ của Phạm vương. Giữa khoảng không ấy, có các hoa sen báu nhiều như số cát trong trăm ngàn vạn sông Hằng. Mỗi hoa sen có vô lượng vô biên lông trắng vi diệu làm thành đài, trên đài có hóa Bồ-tát cũng phóng ra ánh sáng lông trắng đại nhân như vậy. Trên đỉnh đầu của các Bồtát có các hoa sen màu vàng ròng đẹp kỳ diệu, bảy Đức Phật biến hóa tự nói danh hiệu của quý Ngài và giảng nói các kinh điển giống nhau không khác. Lại có các vị trời có căn lành từ lâu đời thấy trong mỗi lỗ chân lông của vị hóa Bồ-tát đều có một Bồ-tát. Trên đỉnh đầu của các Bồ-tát này đều có các hóa Phật như trước không khác. Khi ấy, giữa hai chân mày của các hóa Phật nở ra hoa bằng trăm châu báu rất trang nghiêm, khắp các trời và cõi người đều không có màu sắc nào sánh bằng, hóa hiện ra đài ánh sáng, trên đài lại có hóa Phật như trước không khác. Từ trong lỗ chân lông của các hóa Bồ-tát, biến hóa ra những việc hiếm thấy của tất cả chúng sinh ở khắp mười phương. Dưới chân những người hóa hiện ấy lại có đài ánh sáng, sinh ra các cung điện trời, hơn hẳn cung điện của Phạm vương ở sáu tầng trời cõi Dục, cũng hơn hẳn cung điện Nghiêm thân ở cõi trời Đại phạm, Tướng đỉnh đầu của các Phạm thiên từ giữa vòng bánh xe dưới chân của hóa Bồ-tát sinh ra lông trắng như vậy lên đến các trời Vô sắc, chiếu soi khắp tất cả vô lượng vô biên các cõi trời đều giống như gương sáng bằng ngọc trắng pha lê. Chư Thiên thấy tướng điềm lành thù thắng như vậy rồi, không còn ưa thích niềm vui cõi trời, tất cả đều phát tâm Bồ-đề. Tám vạn bốn ngàn Thiên nữ của Ma vương thấy hình dáng của Ba-tuần giống như thân chó chết, cũng giống như cây khô đen nám, nên chỉ lo chiêm ngưỡng tướng ánh sáng nơi lông trắng của Bồtát, tâm ý an vui không gì tả xiết. Tất cả đều giận Ma vương Ba-tuần về việc làm lúc trước, nói: “Muốn phá hoại người khác chỉ tổ làm tổn thất quân chúng của mình!” Nói như vậy xong, trăm ngàn vô số Thiên tử, Thiên nữ lại phát tâm cầu đạo Bồ-đề vô thượng.

Đức Phật nói:

–Thưa Phụ vương! Tất cả các việc và những tướng thù thắng như vậy chỉ là từ nơi lông trắng giữa hai chân mày của Bồ-tát sinh ra mà thôi, không hề mệt nhọc gì đến các công đức ở các phần thân khác. Sau khi Phật diệt độ, nếu bốn bộ chúng, người nào có thể không tán loạn chỉ trong phút chốc, giữ tâm chánh niệm quán tưởng về tướng lông trắng thu phục các ma của Bồ-tát, thì trừ diệt được các nghiệp chướng xấu ác trong vô số kiếp, cũng điều phục được mười điều ác, các phiền não chướng, ở đời hiện tại, được thấy hình tượng Phật rõ ràng phân minh. Vô số các cảnh giới quán tướng như vậy, không thể nào nói đủ.

Sau khi ta diệt độ, người nào muốn quán tưởng về tướng lông trắng khi điều phục các ma của Như Lai, nên quán như vậy, quán tưởng như vậy gọi là chánh quán, nếu quán khác đi gọi là tà quán.

Thế nào là tướng Đại nhân, tướng người giác ngộ, tướng người không dao động, tướng người giải thoát, tướng người có ánh sáng, tướng người có trí tuệ viên mãn, tướng người đầy đủ các pháp Ba-la-mật, tướng biển các Tam-muội Thủ-lăng-nghiêm,… khi thành Phật của Như Lai?

Đại Bồ-tát xuất ra khỏi Tam-muội Thắng ý từ, nhập vào định Diệt Y, xuất khỏi định Diệt ý rồi lại nhập định Thủ-lăng-nghiêm, xuất khỏi định Thủ-lăng-nghiêm nhập vào Tam-muội Tuệ cự, xuất khỏi Tam-muội Tuệ cự nhập vào Tam-muội Chư pháp tướng, xuất khỏi Tam-muội Chư pháp tướng nhập vào Tam-muội Quang minh tướng, xuất khỏi Tam-muội Quang minh tướng nhập vào Tam-muội Sư tử âm thanh, xuất khỏi Tam-muội Sư tử âm thanh nhập vào Tam-muội Sư tử phấn tấn, xuất khỏi Tam-muội Sư tử phấn tấn nhập vào Tam-muội Hải ý, xuất khỏi Tam-muội Hải ý nhập vào Tam-muội Phổ trí, xuất khỏi Tam-muội Phổ trí nhập vào Tam-muội Đà-la-ni Ấn tướng, xuất khỏi Tam-muội Đà-la-ni ấn tướng nhập vào Tam-muội Phổ hiện sắc thân, xuất khỏi Tam-muội Phổ hiện sắc thân nhập vào Tam-muội Pháp giới tánh, xuất khỏi Tam-muội Pháp giới tánh nhập vào Tam-muội Sư tử hống lực vương, xuất khỏi Tam-muội Sư tử hống lực vương nhập vào Tam-muội Diệt chư ma tướng, xuất khỏi Tam-muội Diệt chư ma tướng nhập vào Tammuội Không tuệ, xuất khỏi Tam-muội Không tuệ nhập vào Tammuội Giải không tướng, xuất khỏi Tam-muội Giải không tướng nhập vào Tam-muội Đại không trí, xuất khỏi Tam-muội Đại không trí nhập vào Tam-muội Biến nhất thiết xứ sắc thân, xuất khỏi Tammuội Biến nhất thiết xứ sắc thân nhập vào Tam-muội Tịch tâm tướng, xuất khỏi Tam-muội Tịch tâm tướng nhập vào Tam-muội Bồ-tát Ma-ha-tát kim cương tướng, xuất khỏi Tam-muội Kim cương tướng nhập vào Tam-muội Kim cương đỉnh, xuất khỏi Tam-muội Kim cương đỉnh nhập vào Tam-muội Nhất thiết hải, xuất khỏi Tammuội Nhất thiết hải nhập vào Tam-muội Nhất thiết Đà-la-ni hải, xuất khỏi Tam-muội Nhất thiết Đà-la-ni hải nhập vào Tam-muội Nhất thiết Phật cảnh giới hải, xuất khỏi Tam-muội Nhất thiết Phật cảnh giới hải nhập vào Tam-muội Nhất thiết chư Phật giải thoát – giải thoát tri kiến hải, xuất khỏi Tam-muội Giải thoát – Giải thoát tri kiến hải, sau đó nhập vào vô lượng pháp môn Tam-muội nhiều như số bụi trần, xuất khỏi biển vô lượng Tam-muội nhập vào Tammuội Tịch ý diệt ý, xuất khỏi Tam-muội Tịch ý diệt ý nhập vào pháp môn Tam-muội Kim cương đại giải thoát.

Bấy giờ, đất nơi đạo tràng đều hóa thành giống như kim cương, trải dài tám mươi dặm màu sắc trắng trong suốt không thể nhìn thấy hết. Khi tướng này hiện ra, ánh sáng nơi tướng lông trắng giữa hai chân mày của Bồ-tát chiếu thẳng đến hướng Đông, dài một trượng sáu thước, hiện ra mười đường cạnh; cô gái dâng sữa tên Di-ca và năm cô bạn, vô số vạn ức trời, rồng, quỷ thần, các Bồtát vào đời hiền kiếp: Di-lặc,…, Bạt-đà-hòa,…, các Đại Bồ-tát đông nhiều như vô lượng, vô biên, vô số bụi trần… đều thấy tướng như vậy. Khi tướng này xuất hiện, Phật ngồi nơi gốc cây Bồ-đề, nhờ năng lực của lông trắng nên nơi gốc cây tự nhiên hóa sinh ra hoa sen báu, trải rộng bốn mươi do-tuần, hoa màu vàng ròng, đài bằng kim cương. Ánh sáng giữa hai chân mày của Phật chiếu đến đài hoa này, ánh sáng ấy chiếu thẳng xuống tận kim cương tế, nơi kim cương tế lại tự nhiên hóa sinh ra hai tòa kim cương va chạm nhau, phát ra âm thanh làm chấn động cả tam thiên đại thiên thế giới, khiến cho đại địa chấn động sáu cách. Trên tòa kim cương thông với hoa sen rồi đến gốc của hoa sen, gốc của hoa sen cũng bằng kim cương. Ba loại kim cương này lại va chạm nhau, đi thẳng xuống đến kim cương tế, rồi lại quay trở lại, cứ như vậy đến mười lần. Ánh sáng của lông trắng vòng quanh mười vòng khiến cho tòa kim cương đang khua bỗng nhiên bất động. Phật ngồi trên tòa này, tiêu trừ ba chướng, thành Đạo Bồ-đề, cảnh giới tâm của Phật không thể diễn nói cùng tận, nếu có giảng nói rõ ràng thì tất cả chúng sinh cho đến Bồ-tát ở Địa thứ mười cũng không thể biết, không thể hiểu được. Vì thế nên trong tướng lông trắng này, không thể diễn nói năng lực của ánh sáng tướng lông trắng, khiến cho cây Bồ-đề cành nhánh cũng bằng kim cương, gốc rễ cũng bằng kim cương, thềm bậc do bảy báu hợp thành, trên thềm sinh ra ánh sáng vòng quanh thân Phật bảy vòng, hóa thành một vòng châu báu. Lá cây màu vàng ròng, hoa màu ngọc trắng, trên hoa có ánh sáng màu trăm ngàn châu báu, các ánh sáng của châu báu cõi trời cũng không thể thí dụ được. Quả cũng màu ngọc trắng, ngọc trắng vi diệu trên cõi trời Dạ-ma cũng không thể sánh bằng. Ánh sáng của quả hóa thành màn lưới ngọc ma-ni phủ khắp trên cây, giữa màn lưới ấy giống như tơ trắng mềm mại rủ xuống và hóa thành chuông báu.

Bốn góc của chuông ấy có đài báu lớn, đài này cao to hơn hẳn vô lượng thế giới ở phương trên, vượt lên các thế giới ấy xong, lại hóa thành các đài báu lớn, các đài này cực cao không thể tả xiết. Cao lớn vi diệu, ví như hợp lại trăm ngàn vạn ức các núi Tu-di. Trên đài có lọng báu lớn toàn bằng kim cương, ánh sáng vi diệu nhiều màu xen lẫn nhau. Bên dưới ánh sáng chiếu xuống biến hóa thành màn báu, phía trong màn báu tuôn xuống các lọng báu nhiều như mây. Trong đám mây các lọng báu ấy lại tuôn xuống mây các cờ phướn. Trong đám mây âm nhạc lại tuôn xuống các đám mây ánh sáng báu. Trong mây các ánh sáng báu tuôn xuống đám mây hương thơm. Trong mây các hương thơm tuôn xuống các tòa Sư tử nhiều như mây. Trong đám mây các tòa Sư tử tuôn xuống mây các vòng hoa. Trong đám mây các vòng hoa tuôn xuống các đám mây âm thanh vi diệu. Trong đám mây các âm thanh vi diệu phát ra mây các bài kệ. Trong mây các bài kệ tuôn ra các phẩm vật cúng dường quý báu nhiều như mây. Các phẩm vật cúng dường nhiều vô số như vậy đều xuất hiện từ trong ánh sáng tướng lông trắng của Phật nơi gốc cây Bồ-đề. Khi ấy, ánh sáng nơi lông trắng chiếu tỏa xuống đất khiến cho đất kim cương bên đạo tràng hóa ra bảy cái ao, trong bảy ao đều có nước, nước có bảy màu phân biệt rõ ràng, mỗi màu có hàng ngàn tia sáng chiếu lên cây Bồ-đề. Bốn bên bờ ao do nhiều châu báu hợp thành. Mỗi bờ do một trăm loại châu báu cùng hợp thành. Mỗi loại châu báu phát ra trăm ức ánh sáng. Cát nơi đáy ao toàn bằng kim cương. Trong nước ao, mọc lên nhiều loại hoa toàn có cánh bằng vàng ròng. Trên cánh hoa có hàng ngàn ánh sáng hóa thành vầng hào quang. Ao có bảy rãnh nước tự phun ra. Trong ao mọc nhiều hoa, cánh hoa chồng xếp lên nhau. Trên tua hoa sen lại phun ra nhiều nước trong suốt như ngọc lưu ly. Hai bên rãnh nước lại mọc lên nhiều bông hoa do tám vạn bốn ngàn loại châu báu trang trí đẹp đẽ. Nước trong rãnh này này luôn luôn phun rưới, khi nước đang phun rưới ánh sáng cũng chuyển động theo và chiếu rọi lên cây Bồ-đề. Trong ánh sáng của cây này, trên mỗi chiếc lá đều có hoa sen báu. Hoa này trải rộng khắp tất cả thế giới. Trên hoa ấy biến hóa hiện ra một đài bằng ngọc trắng đến khắp vô số thế giới khắp mười phương. Ánh sáng nơi tướng lông trắng giữa hai chân mày của Phật phóng ra, hoa sen báu tròn vìn to lớn một do-tuần. Các tướng như vậy lần lượt xuất hiện nhiều hơn cả phương trên, vô lượng vô biên không tính kể. Các thế giới nhiều như bụi trần, hoa hoa liên tiếp nhau, trên mỗi hoa đều có Đức Phật ngồi, thân Phật màu vàng ròng cao lớn một trượng sáu. Đức Phật nào cũng ngồi kiết già trên đài sen, tòa Kim cương và cây Bồ-đề cũng giống như đã nói ở trên không khác. Cho đến mười phương cũng đều như vậy. Trong tướng lông trắng lại xuất hiện hoa sen báu thù thắng hơn hoa sen báu trước gấp trăm vạn lần. Trên hoa có Phật giống như Phật Thích-ca Văn không khác.

Trên đầu mỗi tua râu hoa sen lại có một Đức Phật, thân cũng cao lớn một trượng sáu, đang nhập vào thiền định sâu xa tâm không hề dao động.

Ánh sáng nơi tướng lông trắng chiếu đến vô lượng vô biên trăm ngàn thế giới ở phương Đông, khiến cho các thế giới đều thành màu vàng ròng. Các chúng sinh ở các thế giới ấy thấy ánh sáng xuất hiện từ các lỗ chân lông nơi thân hóa Phật cũng đều như trên, từ đó phóng ra vô lượng trăm ngàn ánh sáng báu. Trong mỗi tia sáng lại có vô lượng trăm ức hóa Phật. Bấy giờ, các Trời, Rồng, Quỷ, Thần, Dạ-xoa, Càn-thát-bà,… đều nhìn thấy ánh sáng ấy vòng quanh Phật một ngàn vòng, chiếu đến các cõi nước khắp mười phương, thấy rõ các cõi nước khắp mười phương, cao thấp lớn nhỏ, tất cả đều thấy rõ ràng giống như soi gương thấy rõ nét mặt của mình. Các đại chúng ấy, tám vạn ức quyến thuộc của Ma vương Batuần, các Quỷ thần, Trời, Rồng, Dạ-xoa… đều thấy lông trắng thẳng dài một trượng rưỡi, hiện rõ ở khắp mười phương, chiếu rọi vào mắt của các đại chúng như vạn ức mặt trời, không thể thấy hết, chỉ ở trong ánh sáng ấy, thấy vô lượng vô số trăm ngàn vạn ức hóa Phật Thích-ca Văn, có lông trắng giữa hai chân mày dài một trượng rưỡi. Trong mỗi sợi lông trắng của mỗi hóa Phật đều phóng ra vô lượng ánh sáng. Trong mỗi tia sáng lại có hóa Phật, mỗi hóa Phật này lại có tướng lông trắng giữa hai chân mày như vậy. Trong mỗi đường vòng ánh sáng nơi tướng lông trắng này lại phóng các ánh sáng lên đến hết vầng trán Phật làm cho trán Phật trở nên rộng lớn bằng phẳng. Mỗi sợi lông trên trán đều lướt lên trên, dưới chân lông có màu ngọc ma-ni cõi trời Phạm rất thích hợp với tâm chúng sinh. Mỗi đầu sợi lông phát ra ánh sáng như màu nước vàng ròng nung chảy, tướng ánh sáng ấy hắt lên trên và nhập vào mép tóc, uyển chuyển rũ xuống hai bên vành tai, sau đó mới phân tán trở lên nhập vào giữa tóc, vòng quanh nhục kế trăm ngàn vòng, rồi phóng ra sau xương cổ, như cánh hoa sen bằng vàng ròng, mặt trời chiếu soi đến liền nở tung ra, giữa những cánh và tua râu hoa sen như tòa đài của Đế Thích, hiện ra những màu sắc ấy lại có vô lượng hóa Phật, mỗi Đức Phật có bảy vị Bồ-tát và chư Thiên theo hầu, tay cầm hoa báu trắng ngần, hoa tỏa ra năm ánh sáng có năm màu khác nhau. Các vị đứng hầu các hóa Phật luôn luôn không rời chỗ.

Đó là ánh sáng nơi tướng lông trắng lúc mới thành Phật của Như Lai. Nhờ ánh sáng nơi tướng lông trắng này mà khi đản sinh, Thái tử có vầng ánh sáng sau quanh cổ. Khi đản sinh trong cung vua, ánh sáng này như mặt trời, không thể nhìn thấy rõ được. Vầng ánh sáng rộng lớn một tầm (‘) (sẽ nói riêng sau).

Khi ấy, tám bộ chúng nhìn thấy ánh sáng nơi tướng lông trắng, mỗi người thấy mỗi khác. Người thì thấy lông trắng giống như chư Phật, người thì thấy lông trắng như các Bồ-tát, có người thì thấy lông trắng giống như cha mẹ của mình, tất cả thế gian đều rất tôn kính, đều được nhìn thấy rõ ràng tướng lông trắng. Thấy rồi, ai ai cũng rất hoan hỷ, người thì phát tâm Bồ-đề vô thượng, người thì phát tâm Thanh văn, Duyên giác. Các quỷ thần thấy tướng lông trắng, tự nhiên phát khởi tâm Từ không còn ác ý.

Đức Phật nói tiếp.

–Thưa Phụ vương! Lông trắng của Như Lai, từ khi mới đản sinh cho đến khi thành Phật, trong khoảng thời gian ấy, những điều nhỏ nhiệm vi tế, Như Lai đều nhìn thấy. Đến khi thành Phật rồi, các tướng ánh sáng nơi lông trắng đều đầy đủ như trong các Kinh, Phật đã giảng nói rõ ràng, ánh sáng nơi tướng lông trắng là cảnh giới hoàn hảo, chỉ có các Bồ-tát ở Địa thứ mười mới thấy được. Vì trước hết giảng nói những việc nhỏ, để ứng hợp với các chúng sinh nên nói việc này là dễ thấy.

Đức Phật nói với vua cha và A-nan:

–Hãy lắng nghe, khéo suy nghĩ và giảng nói lại cho tất cả các đệ tử đời sau đều được hiểu rõ: Sau khi ta diệt độ, nếu các Tỳ-kheo có thưa hỏi: “Bồ-tát thuở xưa tu hành hạnh gì mà có được tướng lông trắng này?” Các ông nên đáp rằng: “Phật có được tướng lông trắng là do từ vô lượng kiếp tu tâm buông bỏ, không bỏn sẻn, không chấp về tướng đã qua, không nghĩ đến tiền tài vật chất, tâm không lệ thuộc, thực hành bố thí, dùng các phép tắc của thân tâm để giữ gìn oai nghi nơi thân, tuân giữ giới cấm như quý hai tròng mắt, tuy vậy, trong tâm luôn luôn rỗng lặng, tịch tĩnh, không hề thấy có sai phạm mà xả bỏ các tùy pháp, tâm an như đất không hề dao động. Giả sử có một người dùng trăm ngàn mũi dao mỗ xẻ thân hình, lại giả sử có người dùng nhiều mũi nhọn đâm chích vào thân, Bồ-tát vẫn không hề có một mảy may tâm sân giận. Giả sử lại có người đầu có một ngàn lưỡi, mỗi lưỡi nói ra hàng ngàn lời mắng nhiếc, nhục mạ, nét mặt Bồ-tát vẫn không hề thay đổi, giống như hoa sen thanh tịnh; tâm không chấp thủ, thân tâm đều không biếng trễ, không mệt mỏi, ý tinh tấn như cứu lửa đang cháy trên đầu, lại như lỗ chân lông nơi thân mọc mụt ung nhọt na-lợi, ngày đêm tinh tấn cầu thầy thuốc chữa trị; tâm không nhiễm ô như ngọc lưu ly trong ngoài đều tinh sạch, giữ thân hộ ý, nhắm mắt chắp tay, ngồi ngay ngắn lưng nhập vào thiền định, tâm như biển cả, rỗng rang không lay động, như núi kim cương, không thể phá hoại trở ngại. Tuy thực hành tâm ý như vậy nhưng không hề lệ thuộc theo thiền định, xả tâm diệt trí, không có đối tượng nào là khinh là trọng, cũng không thấy phép nào là giác quán hay chẳng phải giác quán. Tâm trí luôn mạnh mẽ và thông lợi, bao gồm các phương tiện, không hề thấy có pháp nào lớn pháp nào nhỏ hay có tướng vi tế… Tất cả các pháp nhiều như vậy đều gọi là Ba-la-mật. Lại nhờ công đức vi diệu của ba mươi bảy pháp trợ Bồ-đề, nhờ công đức của mười Lực, bốn Vô sở úy, đại Từ, đại Bi và ba Niệm xứ… mà có được tướng lông trắng này.

Sau khi ta diệt độ, nếu có đệ tử Phật từ bỏ các điều ác, xa lìa ồn náo, ưa thích pháp ít nói năng, không ôm đồm nhiều việc, ngày đêm sáu thời, mỗi thời phân thành nhiều phần nhỏ, trong mỗi phần nhỏ ấy, chỉ trong khoảng chốc lát, niệm về tướng lông trắng của Phật khiến cho tâm thấy rõ ràng, không hề tán loạn sai lầm, luôn luôn rõ ràng đúng đắn, chú tâm không dứt để niệm về tướng lông trắng, có thể thấy được tướng hảo cũng có thể không được thấy…. Những người như vậy tiêu trừ được các tội lỗi sinh tử trong bụi trần các kiếp nhiều như số cát trong chín mươi sáu ức vô số sông Hằng.

Lại nữa, nếu có người chỉ được nghe về tướng lông trắng mà tâm không kinh sợ nghi ngờ, hoan hỷ kính tin, người này cũng tiêu trừ được các tội lỗi sinh tử trong tám mươi ức kiếp. Nếu có Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di phạm bốn tội căn bản, những tội lỗi phi pháp và năm tội đại nghịch, chê bai Đại thừa Phương đẳng… những người như vậy, nếu muốn sám hối, phải ngày đêm sáu thời, thân tâm không biếng trễ, như người đi trong đám cây cỏ rậm, bốn phía đều nổi lửa, gió mạnh thổi đến sắp đốt cháy thân, người này nghĩ: “Nếu lửa đốt cháy ta, thì khi chưa chết mà thân thể tay chân đã lìa tan, ta phải làm thế nào để dập tắt đám lửa này, nếu không có cách nào thì không thể cứu thân được. Nếu ai, là người có trí có nhiều phương cách để cứu mạng ta, ta được cứu sống, thì đối với người ấy, ta đền đáp không hề tiếc nuối gì!” Suy nghĩ như vậy xong, người ấy như núi Thái sơn sạt lở, năm vóc lạy sát đất, nước mắt như mưa chắp tay hướng về Phật, tán thán vô số các đức hạnh của Như Lai. Khen ngợi xong, trì tụng pháp sám hối, đặt niệm truớc mặt, niệm về ánh sáng tướng lông trắng giữa hai chân mày của Phật, một ngày cho đến bảy ngày, bốn tội nặng trước đây liền được giảm nhẹ, đến hai mươi mốt ngày, tướng tội dần dần tiêu diệt. Sau bốn mươi chín ngày, sau khi Yết-ma, việc tội do đại chúng sửa trị. Nếu Tỳkheo phạm các tội lỗi phi pháp mà quán tưởng về ánh sáng tướng lông trắng thì sẽ tối đen không xuất hiện. Lúc ấy, nên vào tháp, quán tưởng về tướng lông trắng giữa hai chân mày của tượng Phật, một ngày cho đến ba ngày, chắp tay chí thành tha thiết, nhất quán tâm tưởng. Sau đó, vào trong chúng Tăng tự nói tội lỗi trước đây của mình. Nhờ đó được tiêu trừ năm loại tội lỗi đã tạo từ trước, niệm về ánh sáng nơi tướng lông trắng của Phật trải qua tám trăm ngày, sau đó mới có pháp Yết-ma khác.

Đức Phật nói:

–Thưa Phụ vương! Như Lai có vô lượng tướng hảo. Trong mỗi tướng ấy lại có tám vạn bốn ngàn tướng hảo nhỏ, các tướng hảo như vậy công đức vẫn không bằng một chút phần công đức của tướng lông trắng. Cho nên hôm nay, vì các chúng sinh xấu ác đời vị lai mà Như Lai giảng nói về pháp quán tưởng ánh sáng trí tuệ lớn của tướng lông trắng tiêu trừ được các điều ác. Nếu có người tà kiến tạo tội ác cực nặng nghe pháp quán này đã đầy đủ các tướng mạo rồi mà sinh tâm sân hận, điều này không thể có. Giả sử có khởi tâm sân giận thì ánh sáng tướng lông trắng cũng sẽ che chở, giúp đỡ. Chỉ vừa nghe được lời nói này cũng sẽ diệt trừ được tội lỗi trong ba kiếp, đời sau, sinh ra ở đâu cũng được gặp Phật. Các cảnh giới vi diệu của phép quán tưởng về ánh sáng tướng lông trắng có vô số trăm ngàn ức loại như vậy, không thể nào nói hết; khi chỉ niệm về tướng lông trắng thì tự nhiên sẽ sinh ra như vậy. Người quán tưởng như vậy gọi là chánh quán, nếu quán tưởng khác đi thì gọi là tà quán.

Thế nào là quán tướng trán rộng lớn bằng phẳng? Có hai vầng ánh sáng, bên ngoài vầng sáng ấy có hình bánh xe với một ngàn nan hoa tạo thành ngọc ma-ni, hình dạng giống như hoa văn ở trời Tỳnữu (Tự tại thiên). Trong hoa văn ấy lại lại phát ra ánh sáng thượng diệu màu vàng ròng, nhập vào lông trắng, vòng quanh lông trắng bảy vòng, rồi hướng lên trên nhập vào trong các lỗ chân lông nơi trán, rồi đến mép tóc, với tướng nhiều màu sắc, ánh sáng uyển chuyển rủ xuống vành tai, lại phân ra, ánh lên nhập vào tóc, vòng quanh tóc bảy vòng. Từ xương cổ, ánh sáng tỏa ra, vòng quanh tướng hoa sen (đã nói trước) bảy vòng tròn, tạo thành bảy đường nét rõ ràng. Mỗi đường nét có bảy màu, mỗi màu có bảy hoa sen, mỗi hoa sen có một Đức Phật ngồi, mỗi Đức Phật có bảy vị Bồ-tát theo hầu cung kính đi nhiễu quanh về bên phải. Ba tướng: Trán rộng bằng phẳng, tướng mép tóc, tướng các lỗ chân lông nơi đầu là như vậy.

Tướng trong não: Trong não cũng có mười bốn tia sáng, hiện ra trong các mạch máu, trong ngoài đều hiển hiện ánh sáng rất khả ái, lại phóng ra các ánh sáng trắng, hồng, tím xen lẫn nhau. Các ánh sáng ấy rất nhỏ nhiệm phát ra nơi xương cổ, cũng vòng quanh ánh sáng trước ba vòng, giữa mỗi vòng ánh sáng có một Đức Phật ngồi, mỗi Đức Phật có hai vị Bồ-tát theo hầu, ánh sáng hiển hiện thù thắng hơn trước gấp nhiều lần.

Thế nào là quán tướng chân mày của Như Lai? Hai chân mày phải trái có hình dạng giống như trăng non, các lông mày mọc dày thưa đúng chỗ theo hình mặt trăng di chuyển, màu tía tươi sáng, đầu mỗi sợi lông đều có màu xanh biếc, màu sắc của ánh sáng ngọc lưu ly cũng không sánh bằng.

Ánh sáng nơi hai chân mày tỏa lướt lên trên và nhập vào những sợi tóc, nhập vào tóc rồi lại ra đến tận ngọn tóc. Ánh sáng ấy lại tỏa lên nơi nhục kế; màu sắc của ong chúa, của chim khổng tước nếu đem so sánh với ánh sáng đó, thì cũng giống như một khối màu tối đen so với ánh sáng của ngọc lưu ly. Ánh sáng lại tỏa xuống và phát ra nơi xương cổ, xoay vòng quanh về bên phải bốn vòng. Trong mỗi đường vòng ánh sáng đều xuất hiện một hóa Phật, mỗi hóa Phật có hai vị Bồ-tát và hai vị Tỳ-kheo đứng hầu hai bên, tất cả bốn vị thị giả này đều đứng trên tua râu của hoa sen, hiện bày ánh sáng khả ái thù thắng hơn trước gấp nhiều lần. Bên dưới chân mày, ba đường mí mắt và trong vành mắt đều có bốn màu xanh, vàng, đỏ, trắng xoay vần, tỏa ra tuyệt đẹp, hướng lên trên và nhập vào xương chân mày, cũng phóng ra ánh sáng nơi đầu những sợi lông mày như pháp ở trước đã nói.

Từ nơi xương sau cổ phóng ra ánh sáng, vòng quanh bốn vòng, có bốn màu phân rõ ràng. Trong màu vàng thì hóa ra thân Phật màu vàng ròng, màu trắng thì hóa ra thân Phật màu bạc, màu xanh thì hóa ra thân Phật màu kim cương, màu đỏ thì hóa ra thân Phật màu xa cừ. Các ánh sáng như vậy hiển hiện vòng quanh về bên phải thù thắng hơn trước gấp nhiều lần.

Thế nào là quán tướng lông mi của Phật?

Lông mi mắt của Như Lai, trên dưới đều có năm trăm sợi lông, mềm mại khả ái như tua râu hoa Ưu-đàm. Trên đầu mỗi sợi lông mi đều phóng ra một tia sáng có màu sắc như pha lê nhập vào các tướng trước, màu sắc ánh sáng ấy vòng quanh đầu một vòng, ánh sáng phát ra nơi xương cổ rồi vòng quanh nơi ánh sáng trước, sinh ra toàn những hoa sen xanh. Trên đài hoa sen có dù lọng màu xanh, có vị Phạm thiên vương cầm dù lọng ấy, khi tướng này hiện ra, mắt Phật màu xanh và trắng, trắng thì hơn cả bạch ngọc trăm vạn ức lần, xanh thì hơn hẳn hoa sen xanh và lưu ly xanh biếc cũng trăm vạn ức lần, trên dưới đều mềm mại như mắt trâu chúa. Bên hai đuôi mắt phóng ra hai tia sáng như hoa sen xanh vô cùng nhỏ nhiệm, vòng quanh đầu tóc một vòng rồi phóng ra nơi sau xương cổ, ánh sáng rọi chiếu lên các hoa làm cho hoa nở tung, sáng đẹp rực rỡ. Các tướng thù thắng như vậy có vô lượng công đức. Đó là tướng mắt của Như Lai.

Nếu có người muốn quán tướng mắt của Như Lai, nên quán tưởng như vậy để diệt trừ các điều ác, nhắm mắt chắp tay, ngồi ngay thẳng để quán tưởng về tướng mắt của Phật, một ngày cho đến bảy ngày, vào đời vị lai sẽ luôn được thấy Phật, không hề bị mù tối, cũng không bị sinh ra ở nơi biên địa, tà kiến và không có Phật pháp. Mắt tuệ luôn luôn được khai mở, không bị ngu si.

Đức Phật nói:

–Thưa Phụ vương! Vì thế cho nên, người có trí muốn trừ bỏ mù tối, nên quán tưởng mắt Phật. Phật có năm loại mắt. Trong pháp quán này, trước hết nói về Nhục nhãn (mắt thịt) hiện bày ánh sáng thanh tịnh, quán tưởng về mắt Phật, tâm được thông lợi, cảnh giới súc sinh không thể nào nói đủ. Quán tưởng kỹ càng về mắt Phật và mắt của hình tượng Phật dù chỉ trong một khoảng thời gian ngắn ngủi thì vào đời vị lai, sinh trong năm đường, mắt luôn được sáng tỏ và thanh tịnh, nhãn căn không bị bệnh, trừ diệt được các tội lỗi sinh tử trong bảy kiếp.

Này A-nan! Hãy bảo các đại chúng, siêng năng quán tưởng về mắt Phật, cẩn thận không nên ngừng bỏ. Người quán tưởng về mắt Phật chắc chắn sẽ đạt được vô lượng công đức vi diệu.

Nếu chỉ chợt nhìn thấy tướng ánh sáng nơi mép tóc, vầng trán rộng, nhục kế, vành mắt, lông mi, lông mày và đường mí mắt của Phật,… trong chốc lát thì tiêu trừ được tội lỗi sinh tử trong sáu mươi kiếp. Vào đời vị lai, sinh ra chắc chắn được gặp Đức Phật Di-lặc, được ánh sáng oai đức của một ngàn Đức Phật ở hiền kiếp gia hộ, tâm như hoa sen không hề đắm nhiễm, không bao giờ bị đọa trong ba đường tám nạn. Nếu ngồi mà không thấy thì nên vào tháp Phật để quán tưởng. Khi vào tháp quán tưởng về các ánh sáng như vậy, chí tâm chắp tay, quỳ gối quán tưởng, một ngày cho đến ba ngày, tâm không hề tán loạn. Sau khi qua đời, được sinh lên cõi trời Đâu-suất, được chiêm ngưỡng thân sắc trang nghiêm của Bồ-tát Di-lặc, thích ứng với sự giáo hóa dẫn dắt. Sau khi được thấy như vậy rồi, thân tâm hoan hỷ vào quả vị Chánh pháp.

Đức Phật nói:

–Thưa Phụ vương! Quán tưởng như vậy gọi là Chánh quán, nếu quán khác đi, gọi là tà quán.

 

Đức Phật bảo rằng:

–Thưa Phụ vương! Sao gọi là quán tai Phật?

Tai Phật có trái tai thòng xuống xoắn lại, sinh ra bảy vòng lông và các tướng. Khi sinh ở cung vua, lần đầu xỏ lỗ tai khiến cho trong, ngoài hai lỗ tai sinh ra hoa. Trong hoa sen này và bảy vòng lông tai phóng ra những ánh sáng có năm trăm tia, mỗi tia có năm trăm màu, mỗi màu hiện ra năm trăm hóa Phật, mỗi hóa Phật có năm Bồ-tát và năm Tỳ-kheo làm thị giả, ánh sáng xoay về bên phải thành năm vòng, trên dưới ngang bằng, ánh soi tai Phật. Tai Phật đẹp như hoa sen báu treo dưới ánh sáng mặt trời. Khi Đức Phật tại thế, tất cả đại chúng đều thấy tướng này. Đó gọi là ánh sáng tướng tai Phật, Đức Phật nói với vua cha: Nếu bốn bộ chúng xa lìa rối rắm ồn ào, chánh niệm suy nghĩ về tướng tai Phật thì những người này sinh ra được nhĩ căn thanh tịnh, không có những nhơ bẩn, tai luôn được nghe mười hai bộ kinh vô thượng nhiệm mầu, nghe rồi tin hiểu, theo đúng lời dạy tu hành, trừ diệt được tội sinh tử trong tám mươi kiếp. Nếu người chẳng thấy thì vào tháp như trước, quán tưởng kỹ tai của tượng Phật từ một ngày đến mười bốn ngày rồi cũng được công đức như đã nói. Vậy nên người trí phải siêng tu tập chánh quán tai Phật, chớ nên phế bỏ. Nếu khi bệnh khổ, tựa nghiêng nằm nghỉ cũng phải quán tưởng tướng tai Phật thanh tịnh. Như vậy quán tưởng tai tượng Phật như sự quán tưởng trước, lòng chẳng biếng trễ thoái lui thì đời sau sinh ra ở đâu cũng thường được cùng với người thọ trì Đà-la-ni làm quyến thuộc, nghe pháp ghi nhớ thọ trì ví như xâu ngọc. Quán như vậy thì gọi là chánh quán, nếu quán khác đi thì gọi là quán.

Sao gọi là quán tướng gò má vuông vức đầy đặn của Như Lai?

Trong sáu vạch trên má của Như Lai, trái phải ngang bằng nhau, có màu ánh sáng vi diệu, sáng đẹp hơn người bình thường gấp nhiều lần. Màu ánh sáng của vàng Diêm-phù-đàn soi khắp khiến cho tướng mặt Đức Phật như màu vàng ròng, ví như hòa hợp trăm ngàn mặt trời mặt trăng. Đó gọi là tướng gò má vuông vức đầy đặn của Như Lai. Sau khi Phật diệt độ, các đệ tử của Phật giữ chánh niệm suy nghĩ, quán tưởng như vậy thì trừ diệt tội sinh tử trong một trăm kiếp, được chiêm ngưỡng các Đức Phật tỏ rõ không nghi ngờ. Người quán như vậy gọi là chánh quán, nếu quán khác đi thì gọi là tà quán.

Sao gọi là tướng Sư tử ngáp của Như Lai?

Khi Phật há miệng thì như miệng của sư tử chúa, vuông vức bằng phẳng. Hai bờ mép của miệng tuông ra hai luồng ánh sáng. Ánh sáng ấy màu vàng, hơn ánh sáng trước trăm ngàn vạn lần, hướng lên trên, nhập vào ánh sáng của tai, vòng quanh tóc. Rồi từ xương sọ phát ra vòng quanh vầng sáng phía trước. Trong mỗi vạch sáng có ba vị Hóa Phật. Mỗi một vị Hóa Phật có hai vị Phạm vương làm thị giả. Đó gọi là tướng Sư tử ngáp của Như Lai. Sau khi Phật diệt độ, bốn bộ chúng đệ tử quán tưởng như vậy thì trừ diệt tội sinh tử trong mười kiếp. Đời sau sinh ra ở đâu, trong miệng luôn luôn có hương thơm hoa Ưu-bát, nói ra điều gì mọi người đều tin nhận, ví như trời Đế Thích được sự kính tin của tất cả ba mươi ba tầng trời. Người quán như vậy gọi là chánh quán, nếu quán khác đi thì gọi là tà quán.

Sao gọi là quán tướng mũi của Như Lai?

Mũi của Như Lai cao dài mà thẳng đứng giữa. Đầu mũi của Như Lai như mỏ của vua chim ưng. Lỗ mũi phóng ra hai luồng ánh sáng chiếu lên, tỏa xuống. Chiếu lên thì lên vào chân mày, tướng Bạch hào và mép tóc. Như vậy đi thẳng vào nhục kế trên đỉnh đầu, như lá cờ bằng vàng, từ xương sọ phóng ra biến thành nhiều bông hoa. Trên hoa đều có những vị thần âm nhạc cõi trời, tay cầm nhạc cụ vào khắp chỗ tất cả các vị Hóa Phật theo ánh sáng nhiễu quanh mười vòng. Xuống thì thẳng đến trong râu mép của Phật, vây quanh râu mép khiến cho rễ râu mép nở hoa như hạt gạo nhỏ, chiếu vào môi, lợi, đến vùng răng, ánh đẹp yết hầu. Xuống đến ngực Phật, thành vừng mây ánh sáng, lộ bày thanh tịnh, không có bụi che khuất, như đồ bằng lưu ly đựng ánh sáng vàng ròng. Đó gọi là tướng mũi thanh tịnh của Như Lai. Sau khi Phật diệt độ, các đệ tử của Phật quán tưởng như vậy thì diệt trừ ác nghiệp rất nặng trong một ngàn kiếp, vào đời vị lai sinh ra ở đâu cũng nghe được mùi thơm thượng diệu, tâm ý tỏ rõ chẳng tham đắm mùi thơm, thường dùng hương thơm của giới làm chuỗi ngọc cho thân mình. Người quán như vậy gọi là chánh quán, nếu quán khác đi thì gọi là tà quán.

Sao gọi là quán râu mép của Như Lai?

Đầu những sợi râu mép phóng ra ba luồng ánh sáng tía, xanh biếc, hồng, thẳng từ mép miệng xoay quanh cổ chiếu lên, ánh sáng tròn vây quanh tạo thành ba luồng, phân rõ ràng. Trong màu sắc trên, mỗi luồng sinh ra một viên ngọc báu. Ánh sáng của viên ngọc ấy có trăm ngàn màu. Dưới ngọc, từng cây từng cây hoa trắng đứng với nhau, đủ ba vòng rồi sau đó ánh sáng trở lại nhập vào trong râu mép. Đó gọi là tướng ánh sáng râu mép của Như Lai. Sau khi Phật diệt độ, người quán tưởng theo phép quán đó thì tiêu trừ được tội sinh tử của ba mươi kiếp. Đời sau sinh ra thì các lỗ chân lông có ánh sáng tự nhiên, lòng chẳng ưa tham đắm niềm vui của gia đình, quyến thuộc, thế gian, thường ưa xuất gia tu hạnh Đầu-đà. Người quán như vậy gọi là chánh quán, nếu quán khác đi thì gọi là tà quán.

Sao gọi là quán tướng môi màu đỏ đẹp như quả Tần-bà của Như Lai?

Ở môi trên môi dưới cùng với lợi răng hòa hợp phát ra ánh sáng. Ánh sáng ấy tròn giống như trăm ngàn xâu trân châu đỏ, từ miệng Phật phát ra, đi vào mũi Phật, rồi từ mũi Phật ra, đi vào Bạch hào. Từ Bạch hào ra, đi vào vùng tóc. Từ vùng tóc ra, đi vào trong vừng sáng tròn, ánh lên làm đẹp các hoa. Bốn mươi cái răng trong miệng sinh ra ánh sáng. Ánh sáng hồng trắng ấy chiếu sáng lẫn nhau, soi đến bốn mươi cái răng khiến cho bốn mươi chân răng tự nhiên bằng đều, trắng như vách pha lê, trên dưới bằng phẳng không so le. Vạch hoa văn hàm răng tỏa ra những luồng ánh sáng cũng màu hồng trắng. Những sắc màu như vậy, khi Phật tại thế ánh chói mắt người. Sau khi Phật diệt độ phải dùng tâm nhãn quan sát để thấy màu này. Các đệ tử của Phật quán tưởng như vậy thì trừ được tội sinh tử của hai ngàn kiếp, đời sau, sinh ra có môi miệng vi diệu, răng không sứt mẻ, được màu sắc tối thượng. Tuy được màu sắc như vậy nhưng lòng chẳng tham đắm. Thường thấy các Đức Phật, Thanh văn, Duyên giác được những vị ấy nói pháp khiến cho lòng chẳng nghi ngờ. Người quán như vậy gọi là chánh quán, nếu quán khác đi thì gọi là tà quán.

Sao gọi là quán tướng lưỡi rộng dài của Như Lai?

Lưỡi của Như Lai chính là quả báo có được của mười pháp Ba-la-mật và mười điều thiện. Dưới lưỡi và hai bên lưỡi có hai viên ngọc báu rót dòng cam lồ làm thấm ướt lên thiệt căn. Chư Thiên, người đời, Bồ-tát trụ Địa thứ mười không ai có tướng lưỡi này, cũng không có vị này. Trên lưỡi có năm vạch như hoa văn của ấn báu. Thượng vị như vậy vào trong hoa văn bảo ấn, rồi rót chảy lên, xuống, nhập vào ống lưu ly. Những khi Phật cười làm lay động lưỡi, do sức của vị này nên lưỡi phát ra năm luồng ánh sáng với năm màu rõ ràng, nhiễu quanh Phật bảy vòng, trở lại nhập vào nơi đỉnh đầu. Khi Phật đưa lưỡi ra thì như cánh hoa sen, lên đến mép tóc, che trùm cả mặt Phật. Bên dưới lưỡi cũng có những mạch máu đủ sắc màu. Như thượng vị rót chảy vào trong mạch nhờ sức của vị ấy nên biến thành những luồng ánh sáng, có mười bốn màu. Hai luồng ánh sáng chiếu lên vô lượng thế giới. Giữa mỗi luồng ánh sáng có một đài ánh sáng, màu sắc của nó vi diệu chẳng thể nêu tên đủ. Mỗi đài ánh sáng có vô số khám thờ Phật. Trong mỗi khám có vô lượng Hóa Phật ngồi kiết già, tất cả đại chúng Thanh văn, Bồ-tát, đều vây quanh. Ánh sáng ấy qua khỏi vô lượng thế giới ở phương trên, hóa thành một vị Phật. Thân Đức Phật cao lớn như núi Tu-di. Những Đức Phật như vậy, nhiều vô lượng đều phát xuất tướng lưỡi cũng lại như vậy. Hai luồng ánh sáng chiếu xuống đến địa ngục A-tỳ thì khiến cho ngục A-tỳ như màu vàng ròng. Nhờ sức lưỡi của Phật nên khiến cho người chịu khổ tạm được ngưng nghỉ, tự nhớ biết việc làm ác từ đời trước. Như vậy xuống qua khỏi thế giới nhiều không lường. Trong mỗi cõi hóa ra một cây hoa báu, lá như lưỡi của Phật. Tướng lưỡi phóng ra ánh sáng. Rồi ánh sáng và ánh sáng soi chiếu nhau biến thành Hóa Phật. Thân của Hóa Phật ấy thuần một màu trắng bạc, thân tướng đầy đủ. Mỗi Hóa Phật phát ra lưỡi dài rộng, trong ánh sáng tướng lưỡi lại có các Hóa Phật. Những Hóa Phật như vậy, số nhiều không lường. Ánh sáng của Hóa Phật tạo thành một núi bạc. Núi ấy cao lớn vô lượng vô biên. Ở vùng núi ấy sinh ra toàn một loài cây bạc ra hoa vàng và trái bạc. Dưới cây đều có hoa sen bạch ngọc. Trên hoa lại có hóa nhân bằng bạch ngọc. Trong rốn người ngọc hóa sinh ra sáu con rồng, miệng rồng màu đen, sắc rồng thuần màu trắng. Số người ngọc hóa ra đó nhiều không lường.

Lại nữa, ánh sáng soi xuống qua vô lượng cõi, thấy cây Bạch ngọc, từ phương dưới tỏa ra đến cõi Ta-bà, rồi lại um tùm vươn lên đến đỉnh của ba cõi với cành nhánh rậm, thưa. Lá của cây ấy có chín mươi tám màu. Mỗi lá cây che khắp ba cõi. Vùng những lá cây ấy lại có rồng, voi, cọp, chó sói, sư tử, trùng độc, thú ác, mèo, chồn, chuột nhắt… không gì chẳng có. Còn cảnh giới khác, người ngồi tự thấy, thấy một luồng ánh sáng chiếu về phương Đông khiến cho đất ở phương Đông đều trở thành màu vàng ròng. Núi sông cây cối, tất cả bị lửa đốt. Ánh sáng của lửa cháy và ánh sáng màu vàng ròng đều chẳng chướng ngại nhau. Ở đầu luồng ánh sáng có các vị hóa Phật. Từng vị Phật, từng vị Phật kế tiếp nhau cho đến vô lượng thế giới ở phương Đông, giống như gié lúa, cành mè không rỗng khuyết. Mỗi vị Phật đều có vô lượng Bồ-tát làm thị giả. Những vị Bồ-tát đó cũng phát ra tướng lưỡi giống như Đức Phật. Ánh sáng không lường của tướng lưỡi như vậy hóa thành đám mây ánh sáng. Ở trong đám mây ánh sáng, có vô lượng vị Hóa Phật ngồi kiết già nhiều như bụi trần. Số ánh sáng như vậy nhiều không lường. Ở đầu mỗi ngọn lửa cháy có năm con quỷ Dạ-xoa, tay cầm kiếm bén, đầu có bốn miệng hút lấy lửa mà chạy. Số quỷ như vậy nhiều không lường, cho đến phương Đông cũng lại như vậy. Một luồng ánh sáng chiếu về phương Nam đến vô lượng thế giới khiến cho thế giới ấy trở thành màu lưu ly. Trên đất lưu ly sinh ra hoa bằng vàng ròng. Trên hoa vàng ròng sinh ra hoa mã não. Trên hoa mã não sinh ra hoa xa cừ. Trên hoa xa cừ sinh ra hoa mai khôi. Trên hoa mai khôi sinh ra hoa hổ phách. Trên hoa hổ phách sinh ra hoa san hô. Trên hoa san hô sinh ra hoa kim tinh. Trên hoa kim tinh sinh ra hoa kim cương. Trên hoa kim cương sinh ra hoa ánh sáng ma-ni. Mỗi cánh hoa ánh sáng ma-ni có trăm, ức hoa báu với vô lượng sắc màu. Mỗi tua hoa có vô lượng Phật Thích-ca Mâu-ni ngồi kiết già với đại chúng Bồ-tát vây quanh. Lúc này, trong lỗ chân lông của thân mình các đại chúng cũng mọc ra hoa này. Trên mỗi hoa hiện ra việc hy hữu như trên đã nói. Các vị Hóa Phật đó phát ra tướng lưỡi rộng dài, thị hiện ánh sáng thù thắng hơn tướng đó gấp trăm ngàn vạn lần. Ở chỗ hoa ấy có tòa báu vi diệu cao lớn đẹp đẽ như giường của Phạm vương. Trên mỗi tòa có một vị Đại Bồ-tát, thân tướng trang nghiêm giống như đức Di-lặc, cũng phát ra tướng lưỡi rộng dài. Ánh sáng của lưỡi ấy tạo thành lưới ngọc ma-ni che các vị hóa Phật và đại chúng. Vùng lưới ngọc ma-ni lại phát ra ánh sáng báu lớn. Luồng ánh sáng báu ấy lại có vô lượng vô biên các vị Hóa Phật. Mỗi vị Hóa Phật đều có vô số vị Tỳ-kheo theo hầu. Các vị Tỳ-kheo ngồi trên hoa sen vàng, thân màu vàng ròng, an nhiên, chắp tay nhập vào định niệm Phật. Các lỗ chân lông nơi thân các vị phóng ra ánh sáng màu vàng ròng. Mỗi ánh sáng này hóa thành một vị Hóa Phật giống như núi vàng, vây quanh Tỳ-kheo. Rồi có hóa Tỳ-kheo cũng vây quanh Đức Phật. Số chúng như vậy đông nhiều chẳng thể nói hết.

Một luồng sáng chiếu đến phương Tây, khiến cho đất phương Tây trở thành màu pha lê. Trên đất pha lê có mây kim cương. Trong mây kim cương có mây ngọc trắng. Trong mây ngọc trắng có mây trân châu đỏ. Trong mây trân châu đỏ có mây trân châu trắng. Trong mây trân châu trắng có mây trân châu tía. Trong mây trân châu tía có mây trân châu xanh lục. Trong mây trân châu xanh lục có mây trân châu hồng. Trong mây trân châu hồng có mây cát vàng Diêm-phù-đàn. Trong mây cát vàng có mây bụi kim cương ma-ni. Trong mây bụi kim cương ma-ni có mây bụi tất cả màu báu. Trong mỗi đám mây như vậy, có năm mươi sáu ức màu sắc vi diệu đẹp đẽ vượt quá tầm nhìn của mắt, chỉ có tâm tịch tĩnh mới thích hợp với cảnh đẹp này. Các tướng như vậy lại có vô lượng Hóa Phật nhiều như bụi trần. Mỗi Hóa Phật có vô lượng đệ tử đông như bụi trần. Các bụi trần chẳng lớn, các Đức Phật chẳng nhỏ, trang nghiêm vi diệu như Phật Thích-ca Văn, cũng phát ra tướng lưỡi.

Một luồng ánh sáng chiếu về phương Bắc khiến cho đất phương Bắc trở thành màu xa cừ. Trên đất xa cừ có tháp kim cương. Mỗi tháp Phật với trăm ngàn tháp đẹp vây quanh, số tháp ấy nhiều không lường. Ngôi tháp nhỏ nhất cao năm mươi ức na-dotha do-tuần. Trong mỗi ngôi tháp lại có trăm ức khám thờ, hang động, nhiều như vi trần. Trong mỗi hang có vô lượng vô biên nước màu sắc báu tự nhiên trào ra. Trên mặt nước đó có hoa sen lớn nở, hiện ra ánh sáng. Khi ánh sáng ấy hiện ra thì tỏa mùi thơm vi diệu hơn mùi thơm của Hải thử ngạn chiên-đàn trăm ngàn vạn lần. Hương thơm đó biến thành ánh sáng vi diệu. Trong những ánh sáng có các vị Hóa Phật với thân sắc vi diệu. Tất cả các vật báu đứng đầu trong các vật được báu sinh ra từ tướng lưỡi. Đồng thời mỗi hang có vô lượng ánh sáng, mỗi ánh sáng có vô lượng Hóa Phật, mỗi Hóa Phật lại phát ra vô lượng ánh sáng nơi tướng lưỡi, cũng trở thành tháp hương thơm, qua khỏi vô lượng thế giới chẳng thể cùng tận ở phương Bắc cũng chỉ sinh ra từ biển Tam-muội niệm Phật.

Một luồng ánh sáng chiếu về phương Đông nam khiến cho đất phương Đông nam thành màu mã não. Trên đất mã não có núi hổ phách. Trên núi hổ phách sinh ra rừng bảy báu. Khu rừng bảy báu có mười suối nước. Nước mười suối có màu sắc báu. Màu sắc của nước phóng ra ánh sáng soi khắp phương Đông nam đến vô lượng thế giới. Chỗ soi rọi của ánh sáng có núi báu lớn. Bên dưới mỗi cây của mỗi vùng núi đều mọc ra hoa Mạn-đà-la, hoa Đại mạn-đàla. Trên đài hoa có một hóa Phật toàn một màu pha lê, trong ngoài trong suốt, chẳng thể gọi tên đầy đủ được. Có ánh sáng nhiều loại châu báu vây quanh thân Phật hàng ngàn vòng. Trong mỗi ánh sáng có vô lượng hóa Phật. Mỗi vị Hóa Phật có vô lượng đại chúng đều là màu lưu ly vây quanh. Mỗi vị Hóa Phật phát ra ánh sáng tướng lưỡi, hóa thành núi báu. Núi báu như vậy lại qua khỏi vô lượng thế giới ở phương Đông nam.

Một luồng ánh sáng chiếu đến vô lượng thế giới ở phương Tây nam khiến cho đất của phương Tây nam toàn một màu san hô. Trên đất san hô sinh ra lầu ngọc bích, ngôi lầu thấp nhất đã cao đến năm mươi ức do-tuần. Lầu có một ức cây trụ. Mỗi cây trụ này có trăm ức màu sắc báu. Mỗi vật báu phóng ra vô số ánh sáng. Mỗi ánh sáng này hóa thành vô lượng ngàn ức cây báu. Dưới mỗi cây báu có sáu suối nước. Nước của suối ấy theo rễ cây chảy vào, rồi theo nhánh cây chảy ra. Khi chảy ra, nước có sáu màu sắc báu. Trong mỗi dòng nước mọc ra một hoa sen. Hoa ấy trắng tinh, trên hoa lại có một vị Hóa Phật trắng. Thân của vị Phật ấy trắng hơn tất cả. Trên màu trắng lại có năm trăm màu ánh sáng vi diệu vây quanh thân Phật. Mỗi ánh sáng hóa ra vô số Đức Phật. Mỗi Hóa Phật có vô số Bồ-tát. Các cây trụ của các lầu đài đều phóng ra ánh sáng. Trong mỗi ánh sáng có vô số vị Hóa Phật. Vị Hóa Phật màu xanh thì kinh hành trên đất san hô. Vị Hóa Phật màu trắng thì kinh hành trên lầu ngọc xanh. Lầu đài, nhà, khám thờ đều có vô số Hóa Phật như vậy, cũng đều phát ra tướng lưỡi, phóng ánh sáng lớn. Ánh sáng vi diệu ấy soi về phương Tây nam vô lượng thế giới, chẳng thể cùng tận.

Một luồng ánh sáng soi đến phương Tây bắc khiến cho phương Tây bắc trở thành đất hổ phách. Trên đất hổ phách sinh ra núi trân châu. Trên núi trân châu có cây san hô, lá ngọc trắng, hoa ma-ni, trái vàng ròng, tua kim tinh. Dưới cây, tự nhiên có con sư tử lớn, thân bằng bảy báu. Trong mắt sư tử phóng ra ánh sáng lớn soi vào đất hổ phách khiến cho đất hổ phách mọc ra một hoa sen lớn. Hoa ấy trải tròn rộng vô lượng vô biên. Trên mỗi hoa có mây ánh sáng màu tía. Trên đám mây ấy có lưới trân châu màu xanh. Vùng lưới trân châu mọc ra hoa sen vàng. Trên hoa sen vàng có một vị Hóa Phật thân màu vàng tía với ánh sáng màu xanh, vàng, đỏ, trắng vây quanh. Trong mỗi ánh sáng có vô số Hóa Phật. Mỗi vị Hóa Phật có vô lượng đại chúng. Các vị hóa Phật đó cũng phát ra tướng lưỡi rộng dài như vậy. Như vậy soi khắp vô lượng thế giới ở phương Tây bắc, ánh sáng tướng lưỡi chẳng thể cùng tận.

Một luồng ánh sáng chiếu sang phương Đông bắc khiến cho đất phương Đông bắc toàn một màu kim cương. Trên đất kim cương mọc ra hoa do bảy báu hợp thành. Trên hoa sinh ra cờ màu vàng Diêmphù-đàn. Trên đầu cờ có hoa, hoa ấy có vô lượng trăm ngàn màu báu, có vô số cánh. Mỗi cánh hoa hóa thành vô lượng trăm ngàn màn báu. Mỗi góc màn báu có cờ bằng bảy báu. Trên mỗi đầu cờ có dù lọng bảy báu. Lọng báu ấy che trên tất cả các thế giới ở đất phương Đông bắc. Mỗi lọng báu có năm lá phướn báu toàn bằng vàng ròng. Mỗi lá phướn có vạn ức vô lượng chuông báu nhỏ. Chuông báu nhỏ phát ra âm thanh vi diệu tán thán danh hiệu Phật, khen ngợi lễ Phật, khen ngợi niệm Phật, khen ngợi sám hối… Phát ra những âm thanh đó rồi, màn báu ấy hạ xuống đất, ánh sáng lớn tuông ra. Ánh sáng ấy vi diệu nhiều vô số ngàn ức. Trong mỗi ánh sáng có vô lượng vị Hóa Phật ngồi kiết già bên trong màn báu mà có thân vọt lên trụ trong hư không. Đông vọt lên Tây lặn mất, Tây vọt lên Đông lặn mất, Nam vọt lên Bắc lặn mất, Bắc vọt lên Nam lặn mất, hai bên vọt lên giữa lặn mất, giữa vọt lên hai bên lặn mất. Hoặc hiện thân lớn đầy trong hư không. Từ lớn lại hiện thân nhỏ như hạt cải. Ở trong hư không đi đứng ngồi nằm, trên thân tuôn ra nước, dưới thân phát ra lửa, dưới thân tuôn ra nước, trên thân phát ra lửa, đi trên đất như trong nước, đi trong nước như trên đất. Trong nước mọc lên hoa sen lớn như bánh xe, trên hoa có vị Phật ngồi kiết già. Hóa Phật nhiều vô lượng vô biên như vậy, đồng thời thấy Phật vọt thân lên hư không làm mười tám pháp biến hóa. Trên lửa sinh ra một ngọn núi Tu-di vàng ròng, các vì sao, mặt trời, mặt trăng, đều bằng bảy báu trang nghiêm, có các rồng, Dạ-xoa và nước biển lớn. Nhiều núi Tu-di như vậy, bên trái bên phải tất cả đều xuất hiện. Số những núi như vậy nhiều không lường, đỉnh núi có Phật cũng phát ra tướng lưỡi có ánh sáng soi khắp vô lượng thế giới ở phương Đông bắc, chẳng thể cùng tận.

Một luồng ánh sáng chiếu từ cung điện Tứ Thiên vương ở cõi Diêm-phù-đề, khiến cho Tứ Thiên vương đều thấy Đức Thế Tôn Thích-ca Mâu-ni, mặt trời của loài người, đang ngồi trên đài bảy báu cùng các đại chúng đi lên cõi trời đó. Chư Thiên nhìn thấy đều phát tâm Bồ-đề. Cho đến tất cả chư Thiên của cõi Vô sắc đều thấy tướng đó rất rõ ràng, lòng không lẫn lộn khiến cho trời Vô sắc chẳng chê bai Niết-bàn và liền phát tâm Bồ-đề.

Một luồng ánh sáng soi xuống các A-tu-la, các Dạ-xoa, các Càn-thát-bà, các Ca-lâu-la, các Khẩn-na-la, các Ma-hầu-la-già, các Rồng, các La-sát, các Phú-đơn-na, các Kim-tỳ-la, các quỷ nuốt tinh khí của người, các Cưu-bàn-trà, các Cát-giá, các quỷ đồng trống, các quỷ đói, các quỷ ăn đồ ói ra, các quỷ ăn nước mũi nước dãi, các quỷ ăn mủ máu, các quỷ ăn phân nước tiểu, các thần núi, các thần cây, các thần nước… Bao nhiêu trăm ngàn các quỷ thần như vậy… thân của họ trong chốc lát trở thành sắc thân của trời thư thái, an vui như vị Tỳ-kheo nhập vào thiền loại ba. Những quỷ đó đều tùy theo nghiệp hành tự phát ba loại tâm Bồ-đề. Các quỷ đói khi gặp ánh sáng của tướng lưỡi thì giống như nước lạnh dập tắt lửa nơi các đốt xương. Lửa đã tắt rồi, nước đồng chảy xuống đất, bị vùi lấp thẳng vào đất. Những quỷ đói đều há miệng kêu lên rằng: “Đói! Đói!”, ở hàng ngàn vạn năm chẳng từng thấy nước. Hôm nay, chúng thấy nước này thì tiêu trừ hết nóng nảy, trở nên mát mẻ. Đó là nhờ năng lực của ai? Trong hư không có tiếng nói rằng: “Hỡi loài quỷ đói ngu si! Có Đức Phật Thế Tôn phóng ra ánh sáng của lưỡi! Ánh sáng ấy chiếu đến các ngươi khiến cho sự khổ sở độc hại của các ngươi đều được ngưng nghỉ. Nói lời nói đó rồi thì trước mỗi một quỷ nhìn thấy một người mẹ hiền từ ngồi trên đài hoa sen, giống như mẹ hiền ôm giữ đứa trẻ con cho uống sữa khiến cho quỷ no đủ. No đủ rồi chúng đều phát tâm Bồ-đề. Đã phát tâm rồi thì mỗi người mẹ hiền hóa thành một Đức Phật. Mỗi Đức Phật cũng phóng ra tướng lưỡi, cứu các quỷ đói. Đức Phật bao gồm lấy tướng lưỡi. Ngàn màu sắc ánh sáng này nhiễu quanh Phật một ngàn vòng. Mỗi ánh sáng có một ngàn Đức Phật nhập vào nơi đỉnh đầu của Phật. Vào rồi, thân Phật trang nghiêm hiển hiện ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp phụ đều minh diệu, khắp thân thể phát ánh sáng chói lòa rực rỡ hơn cả trăm ngàn vô số ức mặt trời.

Đức Phật nói với Phụ vương:

–Nên quán tướng lưỡi và công đức lưỡi của Như Lai… như vậy. Sau khi Phật diệt độ, người nào có lòng niệm Phật thông lợi, quán lưỡi Phật mà cảnh giới tâm và mắt đúng như vừa nói thì người quán tưởng đó tiêu trừ được tội sinh tử của một trăm ức tám muôn bốn ngàn kiếp. Khi bỏ thân, sang đời sau họ sẽ gặp được tám mươi ức Đức Phật. Ở chỗ các Đức Phật, họ đều thấy tướng lưỡi rộng dài của chư Phật phóng ra ánh sáng lớn cũng như vậy. Sau đó, họ được thọ ký đạo Bồ-đề.

Đức Phật bảo A-nan:

–Ông hãy đem lời nói của Phật, đừng cho quên mất, bảo cho các đệ tử, phải chánh thân, chánh ý ngồi ngay thẳng thiền định quán tưởng tướng lưỡi rộng dài thì như ta còn ở đời không khác. Nếu có chúng sinh nghe lời nói này mà lòng chẳng kinh sợ nghi ngờ, chẳng sinh ra bài báng, chẳng phiền não, niệm Phật, siêng năng tinh tấn niệm Phật và cúng dường, cung kính, tôn trọng, ngợi khen, những người như vậy tuy chẳng niệm Phật do tâm thiện mà vẫn tiêu trừ được nghiệp ác rất nặng của hàng trăm kiếp, vào đời vị lai sẽ được gặp Phật Di-lặc… cho đến Phật Lâu-chí, ở chỗ một ngàn Đức Phật nghe Pháp, nhận sự giáo hóa. Họ sẽ được Tammuội Quán Phật như vậy.

Đức Phật nói với vua cha:

–Người quán như vậy gọi là chánh quán, nếu quán khác đi thì gọi là tà quán.

Sao gọi là quán tưởng tướng cổ của Như Lai?

Tướng xương khuyết bồn đầy đặn, tướng chữ Đức ở ức, tướng chữ Vạn ở ngực. Vùng những chữ ấy phát ra ánh sáng tròn. Tướng cổ tròn như ống lưu ly, màu vàng đẹp. Trên yết hầu có tướng nét chấm rõ ràng giống như chữ Y. Trong mỗi nét chấm phóng ra hai luồng ánh sáng. Mỗi luồng ánh sáng ấy nhiễu quanh vừng ánh sáng tròn trước đủ bảy vòng tạo thành những luồng sáng phân biệt rõ ràng. Mỗi luồng sáng có hoa sen báu vi diệu. Trên hoa sen ấy có bảy vị Hóa Phật. Mỗi vị Hóa Phật có bảy vị Bồ-tát làm thị giả. Hai tay của mỗi vị Bồ-tát đều cầm ngọc báu Như ý. Ánh sáng vàng của ngọc ấy đầy đủ màu sắc xanh, vàng, đỏ, trắng và Ma-ni, vây quanh trong những luồng sáng như vậy. Đó gọi là tướng cổ Phật phát ra vầng sáng tròn đầy.

Hoa văn chữ Đức, trong ấn chữ Vạn ở ngực, tướng khuyết bồn đầy đặn, tướng ngọc dưới nách… trong những tướng đó, cứ mỗi tướng thù thắng có năm trăm ánh sáng màu sắc xen lẫn nhau. Những tướng ấy chói sáng đều chẳng trở ngại nhau. Mỗi ánh sáng màu vây quanh ánh sáng cổ đủ năm trăm vòng. Trong mỗi luồng sáng có năm trăm vị Hóa Phật. Mỗi vị Hóa Phật có năm trăm vị Bồ-tát làm thị giả, năm trăm vị Tỳ-kheo, tay cầm phất trần màu trắng đứng hầu hai bên. Ánh sáng của những vị Hóa Phật, ánh sáng của những hóa Bồ-tát, ánh sáng của những hóa Tỳ-kheo đều hiển hiện trong tất cả các luồng ánh sáng. Núi Đại Tu-di, cung Tứ Thiên vương, cung điện chư Thiên, mặt trời, mặt trăng, sao, cung rồng, cung thần, cung A-tu-la, thần mười núi báu, thần nước bốn biển và những Càn-thát-bà sống dưới nước… những điều tôn kính của các Bà-la-môn, chín mươi lăm loại thần tiên ngoại đạo với những người có nhân duyên thân thuộc, cha mẹ trải nhiều đời… những thần như vậy… đều hiển hiện ở trong ánh sáng của Phật.

Lại có trăm ức vô lượng quỷ thần, hình bóng hiện ra vầng ánh sáng vì người cõi Diêm-phù-đề nói về việc hiếu dưỡng cha mẹ. Bóng hóa nhân này khi thấy mọi người đều tự nói rằng: “Ta là cha của ngươi, ta là mẹ của ngươi trong vô lượng đời. Ngươi tên gì đó, ta tên gì đó. Đại chúng như vậy đông nhiều không lường, đều là những việc mà chúng sinh tôn kính. Việc này ở trong ánh sáng tròn của Phật rõ ràng như bức tranh, như soi gương thấy mặt. Những tướng như vậy gọi là vừng sáng tròn vây quanh cổ Phật, bên trên cũng một tầm, xuống dưới cũng một tầm, bên trái cũng một tầm, bên phải cũng một tầm, đủ đầy tám thước. Ở trong vừng sáng tròn tuông ra Hóa Phật. Tất cả sự hiếm thấy của chúng sinh đều hiện ở trong đó rất rõ ràng. Trên vừng sáng tròn có màu vàng rực rỡ như ngọc Ma-ni, trang nghiêm hiển hiện rất ưa nhìn. Vùng Ma-ni rực rỡ ấy hóa sinh ra cây có hoa. Cây ấy màu vàng, trăm ngàn vạn ức vàng Diêm-phù-đàn chẳng sánh bằng. Dưới mỗi cây, có một hoa sen báu. Trên hoa sen có vị Hóa Phật màu vàng ròng có tán che bằng lưu ly bên trên Đức Phật, làm hiển hiện nét mặt của Phật rất trang nghiêm rõ ràng. Số tượng Hóa Phật như vậy nhiều không lường. Khi Đức Phật còn tại thế, lúc Đức Thế Tôn đi thì ánh sáng này soi vùng đất phía trước một do-tuần biến thành toàn một màu vàng ròng, phía sau một do-tuần toàn màu vàng ròng, bên trái một do-tuần toàn màu vàng ròng, bên phải một do-tuần toàn màu vàng ròng. Có người đi gần bên trái, bên phải Đức Phật thì mùi xú uế của người ấy đều biến mất hết. Người ở xa nhìn họ thấy giống như màu vàng ròng. Khi Phật ngồi dưới cây thì ánh sáng này rực rỡ như nhiều hoa bằng vàng tung vào vùng vườn cây Kỳ-đà. Có người quan sát kỹ ánh sáng cổ Phật, nếu đi trước xem thì thấy Phật ở trước, từ phía sau xem thì thấy Phật ở sau, ở bên trái xem thì thấy Phật ở bên trái, ở bên phải xem thì thấy Phật ở bên phải. Người tám phương lại, từ xa thấy ánh sáng cổ Phật đều nói lên rằng: “Samôn Cù-đàm, ở trong núi vàng, bước đi tự tại, đang hướng đến chỗ của ta.” Như vậy mọi người, mỗi mỗi đều thấy khác. Đó gọi là ánh sáng cổ Phật. Khi thấy ánh sáng này, nhục kế ở đỉnh đầu Phật sinh ra muôn ức ánh sáng. Từng ánh sáng, từng ánh sáng tiếp theo nhau cho đến vô lượng thế giới ở phương trên. Chúng trời, người và hàng Bồ-tát trụ Địa thứ mười cũng chẳng thể thấy tóc Phật xoắn về bên phải hoa văn thượng diệu, màu loài ong xanh biếc và màu lông chim công chẳng thể sánh được. Tóc ấy có hàng ngàn ánh sáng rực rỡ tỏa chiếu lên. Khi ánh sáng này chiếu lên thì xương nhục kế và trong đầu của Phật, tất cả diệu tướng đều ánh hiện lên hết. Ánh sáng tướng mặt tròn đầy khả ái, phước báo được diệu hoa của cõi nước thanh tịnh người trời chẳng lấy làm ví dụ được. Ánh sáng mặt Phật lại càng sáng rỡ. Ánh sáng cổ Phật, ngực Phật và tay Phật hơn trước bội phần, lại càng rực rỡ. Đầu gối phát ra ánh sáng. Ánh sáng ấy màu trắng phân làm bốn chi, theo thân di chuyển lên trên hóa thành hoa trắng nhập vào dưới ánh sáng cổ Phật. Rốn phát ra năm luồng ánh sáng, mỗi ánh sáng có hai tia, mỗi tia có năm màu, nhập vào trong xương hông, ống như ngọc trắng đựng đầy nước nhiều màu từ sau hai vai tự nhiên tuông ra, như từng ánh lửa ma-ni vàng chống đỡ nhau. Các ánh sáng ma-ni đều có hoa sen vi diệu. Trên mỗi hoa sen có bảy vị Hóa Phật như vẽ như in, tùy theo thân Phật chuyển đổi chẳng chướng ngại nhau. Nai chúa ngồi xoạc đùi, những vùng xương câu mốc nhau, uốn khúc như rồng cuộn… giữa những khoảng như vậy phát ra các ánh sáng vàng ròng. Những ánh sáng này từ một đốt xương phát ra rồi đi vào giữa một đốt xương khác, cứ như vậy mà hòa hợp thành một ánh sáng lớn như ngọc mani vàng ở sau khuỷu tay của Phật làm đẹp đến ánh sáng trên đỉnh. Móng tay màu đồng đỏ, màn lưới của ngón chân… mỗi chỗ đều có ánh sáng. Ánh sáng ấy sáng rỡ như lưu ly, pha lê đủ màu bảy báu, theo sau bước chân của Phật, xứng đáng gọi thân Phật như ngọc Ma-ni. Cũng như ánh sáng trước, những ánh sáng này lên đến vừng sáng tròn. Tướng bánh xe dưới chân và gót chân dài đều sinh ra một bông hoa. Hoa ấy tuyệt đẹp như hoa Ưu-bát-la của cõi nước thanh tịnh. Gót chân của Phật sinh ra những ánh sáng vây quanh đầy đủ mười vòng. Từng hoa, từng hoa tiếp theo nhau, trong mỗi hoa có năm vị Hóa Phật. Mỗi vị Hóa Phật có năm mươi Bồ-tát làm thị giả. Trên đỉnh đầu mỗi vị Bồ-tát phóng ra ánh sáng ngọc ma-ni. Khi hiện tướng này thì trong mỗi lỗ chân lông trên thân Phật lại phát ra tám muôn bốn ngàn những ánh sáng nhỏ vi tế để trang nghiêm, khiến cho ánh sáng nơi thân vô cùng đẹp đẽ. Các màu sắc xen lẫn như vậy gọi là ánh sáng thường, gọi là ánh sáng vừa ý, cũng gọi là ánh sáng tùy theo sự ưa nhìn của những chúng sinh, cũng gọi là ánh sáng ban mắt cho chúng sinh. Tướng ánh sáng một tầm này rất nhiều. Còn như Cù-sư-la quan sát Phật, ánh sáng này nhỏ theo. Cho đến các Đại Bồtát phương khác khi quan sát Phật thì ánh sáng này lớn theo, như nói trong phần các loại hoa.

Đức Phật nói với Phụ vương và bảo A-nan rằng:

–Ta nay vì các ông thị hiện đầy đủ ánh sáng của thân tướng.

Nói lời đó xong, Đức Phật đứng dậy bảo A-nan rằng:

–Tỳ-kheo các ông cùng những người dòng họ Thích đều hãy đứng dậy, chắp tay hướng về Phật, quan sát thật kỹ Như Lai, từ ánh sáng đỉnh đầu xuống đến ánh sáng dưới chân, từ nhục kế trên đỉnh đầu xuống đến tướng dưới chân bằng phẳng đầy đặn.

Đức Phật lại bảo các Tỳ-kheo:

–Lại quan sát từ tướng dưới chân bằng phẳng đầy đặn lên đến nhục kế, cũng quan sát ánh sáng cổ, ánh sáng thân của Như Lai.

Lại bảo:

–Hãy quan sát từ mỗi một lỗ chân lông của Phật đến hết từng phần của thân thể. Mỗi sự quan sát đều phải cho rõ ràng như người cầm gương soi tự quan sát hình nét mặt của mình. Hoặc có người sinh lòng xấu ác, bất thiện, hoặc có người hủy phạm cấm giới của Phật thì thấy tướng Phật toàn một màu đen giống như người bằng than. Trong những người dòng họ Thích, có năm trăm Thích tử thấy sắc thân của Đức Phật giống như người bằng than đen. Trong chúng Tỳ-kheo, có một ngàn người thấy sắc thân của Đức Phật giống như người bằng đất đỏ. Trong chúng Ưu-bà-tắc, có mười sáu người thấy sắc thân của Đức Phật như chân voi đen. Trong chúng Ưu-bà-di, có hai mươi bốn người thấy sắc thân Đức Phật giống như mực đen tụ lại. Như vậy, trong bốn chúng, mỗi người đều thấy khác nhau. Trong chúng Tỳ-kheo-ni, có Tỳ-kheo-ni thấy sắc thân Đức Phật như màu bạc. Trong chúng Ưu-bà-di có Ưu-bà-di thấy sắc thân Đức Phật như màu xanh lam. Như vậy bốn chúng quan sát sắc thân Đức Phật, nhìn thấy chẳng đồng nhau.

Bốn chúng nghe lời nói đó của Đức Phật đều kêu khóc, rơi nước mắt, chắp tay bạch Đức Phật rằng:

–Hôm nay chúng con chẳng thấy được diệu sắc!

Năm trăm Thích tử tự giựt tóc trên đầu, toàn thân gieo xuống đất, máu trong mũi tuôn ra, thưa rằng:

–Đức Phật sinh ra trong gia đình chúng con. Lúc Đức Phật mới sinh, mọi người đều thấy toàn một màu vàng ròng, chỉ có chúng con luôn luôn thấy thân Đức Phật giống như người bằng than đen, cũng giống như các Bà-la-môn còm cõi gầy yếu. Chúng con đời trước có tội lỗi gì? Nguyện xin đấng Mặt trời Phật giảng nói cho chúng con!

Nói lời nói đó rồi, lại tự giựt tóc trên đầu, gào khóc như trước, tự đánh đập mình. Lúc đó, Đức Từ Phụ phát ra Phạm âm an ủi các Thích tử và bốn chúng rằng:

–Này các thiện nam! Mặt trời Phật Như Lai xuất hiện ở thế gian chỉ vì trừ diệt tội lỗi cho các ông. Các ông hãy đứng dậy đi! Phật tự biết thời sẽ giảng nói cho các ông.

Khi đó, đại chúng đứng dậy, đi nhiễu quanh Đức Phật ba vòng, làm lễ dưới chân Đức Thế Tôn. Năm trăm vị Thích tử đi đến chỗ ngài A-nan, bạch rằng:

–Chúng tôi cùng ngài đều sinh ra trong gia đình họ Thích mà một mình ngài thông minh, ghi nhớ tất cả những lời Đức Phật giống như rót nước từ đồ đựng này sang đồ đựng khác. Chúng tôi có tội đời trước nên chẳng thấy thân Đức Phật, huống gì là nghe được pháp?

Nói lời đó xong, họ đối trước ngài A-nan khóc lóc. Bấy giờ, Đức Như Lai dùng Phạm âm bảo các Thích tử và đại chúng rằng:

–Này các anh em! Các anh em chớ nên khóc lóc! Thuở quá khứ có Đức Phật hiệu là Tỳ-bà-thi Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri xuất hiện ở đời, giáo hóa chúng sinh. Hóa độ người xong, sau khi Ngài vào Niết-bàn, trong đời Tượng pháp, có một vị trưởng giả tên là Nhật Nguyệt Đức. Ông ấy có năm trăm người con thông minh đa trí, biết tất cả văn chương, nghề khéo của thế gian, tinh tú, lịch số không gì chẳng quán triệt. Vị trưởng giả ấy kính tin Phật pháp, thường vì các con nói về tâm quán tưởng Phật, cũng nói về ý nghĩa sâu xa của mười hai nhân duyên. Các con nghe rồi nghi ngờ, chẳng tin, nói rằng: “Cha già lẩm cẩm, bị sự lừa dối, mê hoặc của các Sa-môn. Chúng ta xem các thư tịch đều không có nghĩa đó, nay cha tìm ở đâu ra những thứ này?” Vị trưởng giả thương xót các con nên ẩn giấu Phật pháp chẳng vì họ tuyên nói nữa. Lúc đó, các con đều bị bệnh nặng, người cha xem thấy mạng các con chẳng còn bao lâu nên đến chỗ các con. Trước mỗi đứa con, ông đều rơi lệ, chắp tay nói rằng: “Các con tà kiến chẳng tin chánh pháp, hôm nay lưỡi dao vô thường sắp cắt đứt thân con. Lòng con phiền muộn cậy nhờ vào đâu? Có Đức Phật Thế Tôn tên là Tỳ-bà-thi, con nên xưng niệm danh hiệu Ngài!” Các con nghe rồi, kính trọng cha mình nên nói rằng: “Nam-mô Phật”; người cha lại bảo rằng: “Con hãy xưng danh Pháp! Con hãy xưng danh Tăng!” Chưa kịp xưng danh đủ ba thì những người con ấy đã qua đời. Do xưng danh Phật nên họ được sinh lên trời, chỗ của Tứ Thiên vương. Tuổi thọ ở cõi trời hết, do nghiệp tà kiến trước kia nên họ rơi vào địa ngục lớn. Ở địa ngục, chịu khổ sở, họ bị ngục tốt La-sát dùng chĩa sắt nóng đâm mù mắt. Khi chịu sự khổ đó, họ nhớ những lời dạy bảo của người cha. Do niệm Phật nên họ ra khỏi địa ngục, trở lại sinh vào trong loài người chịu bần cùng thấp hèn. Đức Phật Thi-khí ra đời, họ cũng được gặp, nhưng chỉ nghe danh hiệu Phật mà chẳng nhìn thấy hình dáng Phật. Đức Phật Tỳ-xá ra đời, họ cũng chỉ nghe danh hiệu Phật. Đức Phật Câu-lâu-tôn ra đời, họ cũng chỉ nghe danh hiệu Phật. Đức Phật Câu-na-hàm Mâu-ni ra đời, họ cũng chỉ nghe danh hiệu Phật. Đức Phật Ca-diếp ra đời, họ cũng chỉ nghe danh hiệu Phật. Do nhân duyên nghe tên sáu vị Phật nên được cùng sinh ra với ta. Tuy sinh ra ở xứ này, nhưng ngày nay thân tướng ta trang nghiêm đến vậy mà các ông thấy thân ta như thân người Bà-la-môn gầy còm. Thân ta màu vàng mà màu của vàng Diêm-phù-đàn cũng chẳng sánh được, nhưng các ông thấy màu thân ta giống như người bằng than đen.

Đức Phật bảo các Thích tử:

–Nay các ông hãy xưng danh hiệu Phật đời quá khứ và đảnh lễ chư Phật, đồng thời xưng danh cha các ông. Đảnh lễ các Đức Phật quá khứ, cũng xưng danh hiệu của ta, kính lễ đối với ta, vị lai có Đức Phật hiệu là Di-lặc, các ông cũng nên kính lễ, nói lên tội tà kiến đời trước của các ông. Hôm nay, Phật đang còn ở đời, đại chúng Sa-môn tất cả đã vân tập, các ông phải hướng về các đại đức chúng Tăng mà phát lồ hối lỗi.

Thuận theo lời Phật sám hối các tội, ở trong Phật, Pháp và Tăng, năm vóc gieo xuống đất như núi lớn sạt lở, họ hướng về Đức Phật sám hối. Mắt tâm được khai mở, họ thấy sắc thân Đức Phật trang nghiêm vi diệu như ánh sáng núi Tu-di hiển hiện ở biển lớn. Nhìn thấy Phật rồi, lòng vô cùng vui mừng, họ bạch Phật rằng:

–Bạch Thế Tôn! Con nay thấy Đức Phật với ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp, thân màu vàng ròng. Mỗi tướng tốt có vô lượng ánh sáng.

Nói lời đó xong, tức thời đắc đạo, thành Tu-đà-hoàn. Họ thưa với vua cha rằng:

–Hôm nay, chúng con muốn ở trong Phật pháp xuất gia học đạo.

Vua cha bảo rằng:

–Các con hãy bạch với Đức Phật! Xem Đức Phật có cho phép các con không?

Họ liền đến chỗ Đức Phật mà bạch rằng:

–Bạch Thế Tôn! Con muốn xuất gia!

Đức Phật bảo các Thích tử rằng:

–Thiện lai Tỳ-kheo!

Tức thời những vị Thích tử, râu tóc tự rụng, liền thành Samôn. Áo quần họ mặc trên thân hóa thành pháp phục, họ chắp tay đảnh lễ Đức Phật, xưng lên: “Nam-mô Phật!” Khoảnh khắc chưa cất đầu lên thì đã thành A-la-hán với ba Minh, sáu Thông đều đầy đủ.

Đức Phật nói với vua cha rằng:

–Hôm nay, Đại vương có thấy các Thích tử sám hối tiêu trừ tội, thành A-la-hán không?

Vua cha bạch Đức Phật rằng:

–Thưa vâng! Đã thấy rồi!

Đức Phật nói với vua cha rằng:

–Những vị Tỳ-kheo đó đời trước do ác tâm nên hủy báng chánh pháp của Phật, nhưng chỉ vì cha nên xưng “Nam-mô Phật” mà đời đời thường được nghe các danh hiệu Đức Phật, cho đến đời nay được gặp ta ra đời, thấy sắc thân Phật và thấy chúng Tăng, được nghe lời dạy của Phật, sám hối tội lỗi. Nhờ sám hối nên các tội chướng tiêu trừ, tội chướng trừ rồi thì thành A-la-hán.

Đức Phật bảo A-nan rằng:

–Sau khi ta Niết-bàn, chúng trời, người nếu xưng danh hiệu của ta và xưng “Nam-mô chư Phật” thì được phước đức vô lượng vô biên. Huống gì người giữ tâm chánh niệm nghĩ về các Đức Phật mà chẳng diệt trừ các chướng ngại sao?

Đức Phật bảo các Tỳ-kheo rằng:

–Các ông sở dĩ thấy sắc thân Phật như đất đỏ là vì đời trước, các ông ở trong thời mạt pháp của Đức Phật Nhiên Đăng, xuất gia học đạo. Đã xuất gia với thầy Hòa thượng mà khởi tâm bất tịnh. Nhưng vị Hòa thượng ấy đã được đạo A-la-hán, biết tâm của đệ tử nên bảo họ rằng: “Này các Pháp tử, các ông đối với Hòa thượng và chúng Tăng chớ khởi lên ý nghi ngờ! Nếu khởi lên ý nghi ngờ đối với các giới thanh tịnh, vĩnh viễn không đạt đạo được!” Các Tỳkheo nghe vị Hòa thượng nói, lòng sinh ra sân hận. Lúc đó, vị Hòa thượng biết lòng của đệ tử nên dần dần tự tiết chế, chẳng giảng nói cho họ nữa. Một ngàn người đệ tử theo tuổi thọ tu hành một thời gian ngắn, đều sắp qua đời mà vị Hòa thượng vẫn còn, chẳng vào Niết-bàn. Lúc đó, vị Hòa thượng đến chỗ các đệ tử, nói rằng: “Này Tỳ-kheo các ông! Lúc mới thọ giới, nghi thầy, ngờ giới, luống ăn của tín thí thì hôm nay các ông cậy nhờ vào đâu?” Những người nghe lời nói đó, lòng kinh hãi, dựng tóc gáy, bạch rằng: “Thưa Hòa thượng! Xin ngài vì chúng con nói pháp!” Vị Hòa thượng bảo rằng: “Việc của các ông hôm nay cấp thiết lắm rồi, chẳng còn đủ thời gian dạy các ông sám hối nữa! Các ông hôm nay chỉ phải xưng lên danh hiệu Phật Nhiên Đăng Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri… đầy đủ mười hiệu.” Lúc bấy giờ, các Tỳ-kheo theo lời dạy của vị Hòa thượng, đều xưng lên rằng: “Nam-mô chư Phật”. Vừa xưng danh hiệu Phật xong thì liền qua đời, nhờ tâm thiện đó nên được sinh lên cõi trời. Sinh lên cõi trời Đao-lợi hưởng thụ tự nhiên. Tuổi thọ ở cõi trời hết, hạ sinh xuống thế gian, do tội đời trước, luống ăn của tín thí nên rơi vào trong loài ngạ quỷ, bị nước đồng sôi rót vào cổ họng, tuổi thọ kéo dài tám muôn bốn ngàn năm. Chịu tội ngạ quỷ xong, họ sinh vào trong loài súc sinh. Chịu tội súc sinh xong, họ sinh trở lại trong loài người gánh chịu sự bần cùng thấp hèn. Sinh vào trong loài người, họ được nghe danh hiệu các Đức Phật. Nhờ năng lực xuất gia đời trước nên lòng tin được phát khởi như trước, họ biết đời trước đã xưng niệm “Nam-mô Phật”. Do công đức nhân duyên xưng danh hiệu Phật nên trong tám ngàn đời thường gặp đời có Phật mà mắt chẳng nhìn thấy sắc thân của chư Phật, huống là được nghe pháp.

Cho đến ngày hôm nay gặp được đời có ta, họ thấy thân thể của ta giống như đất đỏ.

Đức Phật bảo các vị Tỳ-kheo rằng:

–Đời trước, các ông đối với chỗ chẳng đáng nghi mà ngang ngược có kiến chấp nghi ngờ, đối với chỗ đáng tin mà ngang ngược chẳng chịu kính tin. Do những tội đó nên chẳng thấy chư Phật, chẳng nghe chánh pháp. Như ta hôm nay hiện sinh ra ở cung vua, màu sắc thân ta chân chánh, tối thượng trong các màu sắc mà các ông thấy như màu đất đỏ.

Các Tỳ-kheo nghe lời nói này của Đức Phật đều hối hận và tự trách mình, sửa lại áo vai phải, chắp tay hướng về Đức Phật mà nói lên rằng:

–Khi chúng con ở vô lượng kiếp đời trước, tà kiến, nghi ngờ sư trưởng, luống nhận của tín thí. Do nhân duyên này nên bị đọa vào địa ngục. Hôm nay tuy đã được ra mà ở vô lượng đời chẳng thấy chư Phật, chỉ nghe được danh hiệu. Hôm nay thấy được thân Đức Thế Tôn như màu đất đỏ, lớn cao đúng năm thước.

Lúc đó, Đức Thế Tôn vạch Tăng-kỳ-chi (áo trong) bày chữ Đức ở ngực, khiến cho Tỳ-kheo đọc tụng chữ Đức, biết được công đức trí tuệ trang nghiêm của Đức Phật. Ở trong ấn chữ Vạn đã nói lên tám muôn bốn ngàn hạnh công đức của Đức Phật. Các vị Tỳkheo thấy rồi, khen ngợi Đức Phật rằng:

–Đức Thế Tôn rất đặc biệt kỳ lạ! Chỉ có một chữ ở ngực mà còn nói lên vô lượng nghĩa, huống gì các công đức trong tâm Đức Phật.

Họ nói lời đó xong, hướng về Đức Phật sám hối, năm vóc gieo xuống đất như núi lớn sạt lở, đối trước Đức Phật gào khóc bi thương, nước mắt như mưa.

Khi đó, Đức Thế Tôn an ủi họ bằng lời dịu dàng khiến cho tâm các Tỳ-kheo được hoan hỷ. Tâm các vị đã hoan hỷ, giống như gió thổi lớp mây đi bay ra bốn phía, hiển hiện rõ dung sắc tốt đẹp của Đức Phật, ba mươi hai tướng nhìn thấy tỏ tường. Thấy Đức Phật rồi, lòng rất vui mừng phát tâm Bồ-đề. Đức Phật nói với vua cha rằng:

–Một ngàn vị Tỳ-kheo này ân cần cầu pháp, lòng không biếng trễ, ngưng nghỉ, vào đời vị lai vô số kiếp sau, sẽ được thành Phật hiệu là Nam-mô Quang Chiếu Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri… đầy đủ mười hiệu. Khi những vị ấy thành Phật, đất toàn một màu vàng ròng có hàng cây bảy báu, lầu đài được trang nghiêm bằng những vật báu vi diệu. Chúng sinh của cõi ấy đều là những người biết tàm quý, sám hối, toàn là Bồ-tát phát tâm vô thượng. Như vậy một ngàn vị Phật tuần tự xuất hiện ở đời, giống như ở Hiền kiếp, một ngàn vị Bồ-tát theo thứ lớp thành Phật.

Đức Phật bảo rằng:

–Thưa Đại vương! Các vị Tỳ-kheo đó ngờ thầy, nghi Tăng, bị đại trọng tội. Như trước đã nói, xưng “Nam-mô Phật” đã được phước báo, nay ở đời ta được “thọ ký hiện tiền”. Huống gì là người chánh niệm suy nghĩ về Phật?

Những Tỳ-kheo-ni thấy Đức Phật màu bạc đứng dậy, sửa lại áo vai phải, đảnh lễ Đức Phật và bạch rằng:

–Bạch Thế Tôn! Hôm nay, Đức Như Lai tự nói về sắc thân của Ngài tiêu trừ vô lượng tội của các chúng sinh. Vì sao chúng con từ lúc sinh ra, đi xuất gia… cho đến hôm nay nhìn thấy Đức Phật màu bạc, hoa bạc, ánh sáng bạc… các dung cụ trang nghiêm đều là bạc hết? Tại sao chúng con chẳng thấy được ánh sáng vàng rực rỡ đẹp đẽ của Như Lai? Cũng chẳng thấy được ba mươi hai tướng công đức phước báo của Đức Phật?

Lúc đó, nghe lời nói của các Tỳ-kheo-ni, Đức Như Lai liền mỉm cười, có ánh sáng màu vàng từ khuôn mặt phát ra, nhiễu quanh thân bạc của Đức Phật đủ mười vòng. Khi ánh sáng này hiện thì các Tỳ-kheo-ni thấy thân Đức Phật màu vàng ròng với ba mươi hai tướng và ánh sáng hiển soi chẳng thể nói đủ. Các Tỳ-kheo-ni thấy rồi, quan sát tướng lông trắng giữa hai chân mày uyển chuyển xoáy về bên phải. Thấy rồi, vui mừng, ngay lúc ấy họ liền thành đạo A-lahán với ba Minh, sáu Thông và đủ tám Giải thoát.

Các Tỳ-kheo-ni tự biết mạng sống đời trước của mình đã từng ở vô lượng kiếp trước, có Đức Phật ra đời cũng tên là Thích-ca Văn. Sau khi Đức Phật đó diệt độ, có các đệ tử xuất gia học đạo. Trong chúng Tăng, có một người du hành giáo hóa, thấy năm trăm đồng nữ ở nơi đầm nước trong núi cùng vui chơi với nhau. Vị Tỳ-kheo đó giữ uy nghi an tường từ từ bước đến chỗ của những người con gái, trải Ni-sư-đàn (tọa cụ) xuống mà ngồi. Những người con gái ấy thấy rồi, ai ai cũng đều hoan hỷ nói rằng: “Chỗ thanh vắng này là nơi Thần tiên dạo chơi, bỗng nhiên có vị Tỳ-kheo thắng sĩ này đến ngồi tại đây, nhất định chẳng phải là người phàm. Chúng ta nên cúng dường Ngài!” Họ đều cởi vòng bạc tung lên vị Tỳ-kheo và nghĩ: “Vị Tỳkheo tinh tấn, đức hạnh thuần thục đầy đủ, về sau nhất định thành Phật. Nguyện xin khi chúng ta thấy ngài cũng có màu bạc như vòng bạc đã tung lên.”

Đức Phật nói:

–Các vị tham đắm màu báu của bạc nên đời đời thường ở trong núi Bạch ngân làm thân Thần bảo nữ Ngân Sơn. Do làm lễ vị Sa-môn, dâng cúng vòng bạc nên nay gặp được đời của ta, tắm gội thanh tịnh, hóa thành A-la-hán. Vị Tỳ-kheo lúc bấy giờ chính là thân ta. Các người con gái lúc đó là thân của các vị. Các ngươi, ở đời trước, cúng dường Sa-môn, lễ bái chư Phật nên từ đó đến nay luôn luôn gặp chư Phật.

Đức Phật nói với vua cha rằng:

–Phật là vị thần cứu hộ quý báu trong loài người, đem lại lợi ích nhiều nơi. Nếu có người nghe được danh hiệu, lễ bái cúng dường thì được quả báo rất lớn, huống là người giữ tâm chánh niệm nghĩ đến tôn nhan của Đức Phật.

Những Ưu-bà-tắc trong chúng thấy Đức Phật Thế Tôn như chân voi đen liền đứng dậy, sửa lại áo vai phải, chắp tay hướng về Đức Phật, thưa rằng:

–Chúng con sinh ra ở cõi nước này. Con của quốc vương chúng con, xuất gia thành Phật. Ông tiên A-tư-đà thấy được ba mươi hai tướng tốt liền vì con nói rằng, Thái tử điện hạ chắc chắn sẽ thành Phật. Chúng con nghe lời nói đó nên quy y Phật. Từ đó đến nay luôn luôn theo sau Đức Phật, thọ ba quy y, thọ trì tám Giới quan trai, thọ năm Giới pháp, nhưng vì tội lỗi của chúng con nên chỉ nghe tiếng Phật mà chẳng thấy hình Phật. Mỗi khi thấy Đức Phật thì như chân voi đen. Sao chúng con bất hạnh quá!

Nói lời đó rồi, họ đưa tay đấm ngực gào khóc, ngã lăn ra đất. Khi đó Đức Như Lai dùng Phạm âm, giống như người cha hiền an ủi con mình, bảo các Ưu-bà-tắc rằng:

–Này các Pháp tử! Hãy trở lại chỗ ngồi! Phật sẽ vì các ông đoạn trừ nghi ngờ, hối hận, tiêu diệt các chướng ngại.

Nói lời đó xong, Đức Phật bảo các Ưu-bà-tắc rằng:

–Vô lượng kiếp đời trước, khi các ông ở cõi Diêm-phù-đề đều làm quốc vương, thống lãnh các nước rất được tự tại. Có các vị Samôn vì lợi dưỡng nên giảng nói cho các ngươi những điều tà vạy chẳng đúng lời Phật dạy. Đúng pháp thì nói phi pháp, phi pháp thì nói là pháp. Các ông đều tin dùng những lời đó. Người đó dùng những lời dạy ác này nên sau khi mạng chung đọa vào địa ngục Atỳ. Còn các ông thuận theo lời dạy của người ác nên sau khi mạng chung cũng đọa vào địa ngục Hắc ám. Do năng lực tâm thiện nghe pháp đời trước nên nay gặp đời của ta, thọ trì năm Giới. Nay các ồn nên phải ở trước Phật, Pháp, Tăng nói lên tà kiến của các ngươi và những lời dạy tà để thành tâm sám hối.

Các Ưu-bà-tắc nghe lời nói này của Đức Phật, liền xưng lên: “Nam-mô Phật, Nam-mô Pháp, Nam-mô Tăng” và nói lên hết các tội lỗi, thành tâm sám hối. Đức Phật liền phóng ra ánh sáng tướng Đại Nhân ở giữa hai chân mày, chiếu soi vào tâm mọi người. Những người đó tâm ý được khai mở, đồng thời liền được đạo Tu-đà-hoàn. Các Ưu-bà-tắc được đạo rồi, thấy sắc thân của Đức Phật trang nghiêm vi diệu, thế gian không gì sánh bằng, cầu xin Đức Phật xuất gia và thành A-la-hán.

Trong chúng, các Ưu-bà-di thấy sắc thân Đức Phật giống như mực đen tụ lại liền đứng dậy, chắp tay hướng về Đức Phật, nước mắt như mưa, gào khóc bi thương, nói chẳng nên lời, giơ tay vỗ đầu, ngừng thở ngã lăn ra đất. Lúc đó, Đức Thế Tôn thấy việc thế rồi, dùng Phạm âm an ủi họ, bảo rằng:

–Cớ sao lo buồn đến nỗi vậy?

Khi đó, Ưu-bà-di nghe tiếng nói của Đức Phật, các căn được khai mở, liền đứng dậy, chắp tay bạch Đức Thế Tôn rằng:

–Đấng Mặt trời Phật ra đời chiếu soi khắp tất cả. Mọi người đều nhìn thấy như vầng trăng tròn đầy, chỉ có chúng con là chẳng được thấy. Khi Đức Phật nói pháp, mọi người đều nghe tám loại âm thanh, chỉ riêng chúng con chẳng nghe được, giống như người điếc. Tôn giả Xá-lợi-phất vì chúng con trao cho cấm giới, chúng con mới được nghe ngài nói có năm Giới pháp. Mỗi lần chúng con đến Phật hội, đều thấy Đức Thế Tôn giống như mực đen tụ lại. Nguyện xin Đấng Thiên Tôn đại Từ bi trừ diệt tội lỗi cho chúng con, khiến cho chúng con được thấy Đức Phật!

Lúc đó, Đức Thế Tôn lại ngồi xuống tòa Sư tử, duỗi chân phát ra tướng bánh xe có ngàn nan hoa (Thiên bức luân) để hiển hiện cho các người nữ nhìn thấy. Những người nữ chỉ thấy những hoa sen vi diệu từ tướng bánh xe phát ra. Trên hoa có vị Hóa Phật giống như người bằng mực đen. Những người nữ lại chắp tay hướng về Đức Phật đảnh lễ, bạch rằng:

–Bạch Thế Tôn! Làm đệ tử của Đức Phật đã trải qua nhiều thời gian, chỉ có ngày hôm nay thấy được hoa sen vi diệu, nhưng thấy các vị Hóa Phật giống như bị bôi mực đen. Chúng con đời trước có tội gì mà mắt tối tăm đến vậy?

Đức Phật bảo các người nữ rằng:

–Hãy lắng nghe! Hãy lắng nghe và suy nghĩ cho kỹ! Hôm nay Như Lai vì các vị mà phân biệt! Thuở quá khứ xa xưa vô lượng đời, thuở ấy, có Đức Phật hiệu là Nhất Bảo Cái Đăng Vương Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri… Sau khi Đức Phật đó diệt độ, trong đời Tượng Pháp, có các vị Tỳ-kheo vào thôn xóm để khất thực, cầm bát, mang tích trượng, uy nghi chẳng phạm, đi đến các nhà dâm nữ. Các dâm nữ lấy bát của vị Tỳ-kheo đựng đầy đồ ăn, rồi đùa cợt nói với vị Tỳ-kheo rằng: “Ông là người dòng họ Thích, nhan sắc khả ố giống như mực đen tụ lại. Thân ông mặc áo giống như người ăn xin. Sự khả ố của ông, thiên hạ không ai sánh nỗi. Tự cho rằng mình vô dục! Thử hỏi còn ai sẽ nghĩ đến ông?” Lúc bấy giờ, vị Tỳ-kheo nghe lời nói đó rồi, ném bát trong không trung, rồi bay lên mà đi. Những người dâm nữ nhìn thấy rồi xấu hổ sám hối mà nói lên rằng: “Chúng tôi hôm nay bố thí cho vị Sa-môn bữa ăn, nguyện xin ở đời sau, thân được tự tại giống như Sa-môn.” Đức Phật bảo các người nữ: Các dâm nữ cho cơm vị La-hán lúc bấy giờ, nay là các vị đó! Các vị dùng thiện tâm bố thí cho Tỳ-kheo bữa ăn nên trong hai ngàn kiếp thường chẳng bị đói khát. Do bởi nhân duyên dâm dục mắng chửi ở đời trước nên bị đọa vào địa ngục Hắc ám đến sáu mươi tiểu kiếp. Do thiện tâm phát nguyện đời trước chẳng diệt nên nay gặp được đời của ta, được thọ trì năm giới. Vì chỉ mới cúng dường A-la-hán nên chỉ thấy Xá-lợi-phất mà chẳng thấy thân ta.

Bấy giờ, Đức Thế Tôn nói lời đó xong, liền ở trong rốn phát ra đóa hoa sen lớn. Đóa sen lớn ấy hóa thành đài ánh sáng. Ở trong đài ấy có trăm ngàn vô số Thanh văn Tỳ-kheo như Xá-lợi-phất, Mụckiền-liên… Các vị ấy ở trong đài ánh sáng của Phật, với thần thông tự tại tạo ra mười tám thứ thần biến. Những người nữ thấy rồi, lòng phát sinh hoan hỷ, ngay tức thời liền dùng lửa trí tuệ đốt cháy tan tành hai mươi ức kết sử, đắc đạo Tu-đà-hoàn. Các Ưu-bà-di đã được đạo rồi, thấy sắc thân Đức Phật trang nghiêm vi diệu, nhưng chẳng thấy được ánh sáng tướng Bạch hào của Đức Phật.

Đức Phật nói với vua cha rằng:

–Đùa giỡn, ác khẩu…. thì thậm chí đã được đạo rồi mà sự nhìn thấy vẫn chẳng sáng. Vậy nên mọi người phải siêng năng giữ gìn nghiệp miệng, chuyên tâm chính ý quán Tam-muội Phật, vì thấy Phật thì được vô lượng phước.

Lúc đó, Đức Thế Tôn muốn làm cho đại chúng thấy sắc thân Phật tỏ rõ phân minh nên Đức Phật liền biến hóa ngôi tinh xá thành như núi ngọc trắng, cao đẹp lớn nhỏ giống như núi Tu-di, có hàng trăm ngàn khám thờ, hang động. Ở trong những khám thờ, hang động, ảnh hiện lên những hình tượng như Đức Phật không khác. Mặt đất trước Đức Phật có hoa sen lớn. Hoa ấy có ngàn cánh. Mỗi cánh có một ngàn ánh sáng. Mỗi ánh sáng có một ngàn vị hóa Phật. Mỗi vị hóa Phật có một ngàn đệ tử làm thị giả. Đức Phật bảo ngài Anan rằng:

–Sau khi Phật diệt độ, các đệ tử của Phật, nếu có thể cắt đứt mọi việc, ném bỏ các ác, giữ tâm chánh niệm dể tư duy ánh sáng của Phật thì cho dù Phật chẳng còn hiện tại, cũng gọi là thấy Phật.

Do thấy Phật nên tất cả các ác đều được tiêu trừ. Tùy theo sở nguyện của họ mà ở đời vị lai sẽ thành ba loại đạo Bồ-đề.

Đức Phật bảo A-nan:

–Người quan sát như thế này thì gọi là chánh quán, nếu quan sát khác đi thì gọi là tà quán.

Đức Phật nói với vua cha rằng:

–Sao gọi là quán tướng phóng ra ánh sáng thường của Đức Như Lai? Hôm nay Như Lai nên vì những người phàm phu ở đời vị lai thị hiện một ít ánh sáng! Những phàm phu kia sẽ học sự quán tưởng đó. Người quán như vậy thì cũng như ngày hôm nay thấy tướng ánh sáng của Phật không có khác.

Bấy giờ, Đức Thế Tôn phóng ra ánh sáng nơi nhục kế. Ánh sáng ấy có hàng ngàn màu. Mỗi màu tạo ra tám muôn bốn ngàn tia. Mỗi tia có tám muôn bốn ngàn vị Hóa Phật vi diệu. Thân của những Hóa Phật ấy nhiều vô lượng vô biên. Trên đỉnh Hóa Phật cũng phóng ra ánh sáng này. Từng ánh sáng, từng ánh sáng tiếp theo nhau đến vô lượng thế giới ở phương trên. Ở thế giới phương trên, có những hóa Bồ-tát nhiều như mây bụi trần từ hư không hạ xuống xung quanh các Đức Phật. Khi ánh sáng này hiện lên thì các Đức Phật của thế giới nhiều như bụi trần trong mười phương cũng đều được thấy. Ánh sáng này chiếu thẳng lên đỉnh đầu của chư Phật. Chư Phật phóng ra ánh sáng, ánh sáng ấy lại chiếu xuống đỉnh của Phật Thích-ca Văn.

Đức Phật bảo A-nan rằng:

–Chúng sinh muốn quán tưởng ánh sáng nơi nhục kế của Phật Thích-ca Văn thì phải quán tưởng như vậy. Người thực hành sự quán tưởng đó, nếu tâm chẳng thông lợi thì trong mơ sẽ được thấy. Tuy nhiên, tâm tưởng đó có thể tiêu trừ vô lượng trăm ngàn tội nặng. Người quán như vậy thì thân hiện tại chắc chắn được thấy các vị Đại

Bồ-tát. Thấy Bồ-tát nên nghe được Bồ-tát nói pháp. Nghe nói pháp nên được Đà-la-ni. Đà-la-ni ấy gọi là Toàn ức trì (ghi nhớ tất cả). Người quán như vậy gọi là chánh quán, nếu quán khác đi thì gọi là tà quán.

Đức Phật nói với vua cha rằng:

–Sao gọi là quán ánh sáng giữa hai chân mày của Như Lai? Hôm nay Như Lai vì các chúng sinh đời sau này nên hiện một ít ánh sáng của tướng Bạch hào.

Khi nói lời nói đó, giữa hai chân mày của Đức Phật phóng ra ánh sáng tướng Đại nhân bạch hào. Ánh sáng ấy chia làm tám muôn bốn ngàn tia. Mỗi tia cũng có tám muôn bốn ngàn màu, soi khắp mười phương vô lượng thế giới. Mỗi màu sáng hóa ra một núi vàng. Mỗi núi vàng có vô lượng khám thờ, hang động. Trong mỗi hang động có một vị hóa Phật ngồi kiết già nhập vào thiền định sâu xa, có trăm ngàn đại chúng Thanh văn Bồ-tát làm quyến thuộc. Trong các hang động có các Hóa Phật, các Đức Phật đó đều phóng ra ánh sáng tướng Đại nhân bạch hào, chiếu đến khắp mười phương vô lượng thế giới khiến tất cả mọi nơi đều như màu vàng ròng. Trên đất màu vàng có hoa sen vàng. Trên mỗi hoa sen vàng có các vị Hóa Phật đều cùng danh hiệu là Thích-ca Văn. Giữa hai chân mày của các Đức Phật cũng phóng ra ánh sáng này. Ánh sáng ấy soi khắp mười phương thế giới giống như trăm ngàn ức núi chúa Tu-di cùng hợp về một chỗ. Các núi Tu-di ánh hiện các Đức Phật. Thân Phật cao lớn ngang bằng núi. Ánh sáng giữa hai chân mày của các vị Hóa Phật đó vòng quanh các vị Hóa Phật đủ bảy vòng rồi trở lại nhập vào giữa hai chân mày của Phật Thích-ca Mâu-ni. Khi ánh sáng này nhập vào lỗ chân lông thân Phật thì trong mỗi lỗ chân lông có một vị hóa tượng. Trong lỗ chân lông của thân mỗi hóa tượng hóa thành tám muôn bốn ngàn tượng vi diệu. Đó đều là việc hiếm thấy của tất cả chúng sinh trong tam thiên đại thiên thế giới. Đó gọi là ánh sáng của một vẻ đẹp trong tám mươi vẻ đẹp của Như Lai. Ánh sáng của tám mươi vẻ đẹp tùy hình như vậy, nói chẳng thể hết. Như Lai chỉ hiện chút ít ánh sáng Bạch hào. Trong các vị tướng của vua cha, có tám ngàn người xa lìa trần cấu được Pháp nhãn tịnh.

Đức Phật bảo A-nan rằng:

–Ánh sáng tướng Bạch hào của Như Lai, trong các kinh điển Phật đã giảng nói rõ. Ánh sáng nhiệm mầu như vậy chỉ có Phật mới thấy được của Phật, còn Bồ-tát ở Địa thứ mười chẳng thấy rõ ràng. Vậy nên ở đây chỉ nói một phần ít. Nói phần ít là nói vì người phàm phu. Sau khi Phật diệt độ, người quán tưởng như vậy gọi là Chánh quán, nếu quán khác đi thì gọi là tà quán. Ánh sáng này trừ diệt tội như vừa nói ở trên. Chỉ có người thấy ánh sáng, tâm mới được tỏ rõ, thấy hàng trăm ức Đức Phật. Thấy được tướng Bạch hào chính là sự thấy của tâm tưởng.

Sao gọi là quán tưởng tướng trán rộng bằng phẳng của Như Lai?

Trên mặt Như Lai có tướng ba, tướng mép tóc… Các tướng như vậy, trong mỗi tướng đều phát ra ánh sáng vàng ròng. Ánh sáng màu vàng ấy hóa thành giường vàng ròng. Trên mỗi giường vàng ấy có một ngàn vị Bồ-tát, Câu-lâu-tôn-đà là vị đầu tiên đến nơi giường. Một ngàn vị Bồ-tát đều phóng ra ánh sáng, ngồi trên giường vàng. Như vậy có trăm ức ngàn vạn Bồ-tát, trăm ức ngàn vạn giường vàng. Trên giường vàng ấy đều có màn báu. Mỗi màn báu có hàng ngàn ánh sáng. Mỗi ánh sáng hóa thành hàng ngàn cờ báu. Trên mỗi lá cờ có hàng ngàn vạn lọng báu. Dưới mỗi lọng báu có các phướn báu. Trong các phướn báu có vô lượng vị Hóa Phật. Các vị Hóa Phật đó đều nói về khổ, không, vô thường, vô ngã. Tất cả các vị Hóa Phật, khi nói kệ này thì Đức Phật Thích-ca Văn, thân cao lớn một trượng sáu, ở trước mặt hành giả, đưa tay phải lên, nói rằng: “Hay thay! Hay thay! Này Thiện nam! Ông có thể quan sát tướng tốt của các Đức Phật. Chúng tôi đời trước hành đạo Bồ-tát cùng ông không khác! Hôm nay ông có thể quán tưởng cảnh giới các Đức Phật. Cảnh giới này chỉ là sự phát sinh của vọng tưởng nơi tâm các ông.” Nói lời nói đó xong, Phật liền biến mất. Những ánh sáng trên trán lại sáng rỡ. Ánh sáng ấy lan tỏa ra trăm ngàn ức luồng. Mỗi luồng sáng chiếu soi mặt các vị Bồ-tát ngồi trên giường báu. Mặt những vị Bồ-tát kia cũng phát ra ánh sáng chiếu soi Phật Thích-ca Văn. Khi hiện ra tướng này, hành giả quan sát mặt Phật tỏ rõ không nghi ngờ.

Đức Phật bảo A-nan rằng:

–Sau khi Phật diệt độ, các đệ tử của Phật có thể quán tưởng để thấy mặt Phật đúng như thật, giống như khi ta còn tại thế không khác. Người quán tưởng như vậy, trừ được tội sinh tử trong một ức kiếp. Đời sau sinh ra ở đâu cũng được diện kiến các Đức Phật, sinh vào nhà các Đức Phật, làm quyến thuộc của các Đức Phật, Bồ-tát. Người quán như vậy gọi là chánh quán, nếu quán khác đi thì gọi là tà quán.

Sao gọi là quán tưởng mũi phát ra ánh sáng của Như Lai?

Mũi phát ra ánh sáng chia thành bốn tia, đi lên nhập vào mắt Phật, lông mày Phật, lông mi Phật, rồi phát ra ánh sáng lớn. Ánh sáng ấy kéo đến dày đặc như hình rồng, voi, soi khắp vô lượng thế giới mười phương rồi nhập vào trong mắt của các Đức Phật. Khi hiện tướng này thì mười phương vô cùng sáng rỡ. Khi đó, các hành giả thấy đất và hư không của thế giới ở mười phương chư Phật rất đông nhiều. Mắt, lông mày, lông mi, lỗ mũi của mỗi Đức Phật cũng đều phóng ra ánh sáng lớn như vậy. Hai luồng ánh sáng của mắt Phật soi vào tất cả mắt của các Đức Phật. Rồi chúng ở trong hư không hóa thành đài ánh sáng. Trên đài ánh sáng ấy toàn là mây ánh sáng, mây ánh sáng xanh trắng trong thế giới không thể sánh bằng. Trong ánh sáng xanh có vị hóa Phật màu xanh. Trong ánh sáng trắng có vị Hóa Phật màu trắng. Hai Đức Phật màu xanh, trắng này, trái, phải phân minh, có ánh sáng màu hàng trăm châu báu làm mây cho các Đức Phật ấy như người có thần thông bay lướt đi trong đám mây. Các lỗ chân lông của thân Phật giống như cây hoa. Mỗi một cây hoa cao lên đến cõi Phạm, các cánh hoa có trăm ngàn ức Thanh văn Tỳ-kheo. Mỗi Tỳ-kheo mặc áo ngàn mảnh có ngàn màu. Trong mỗi màu có trăm ngàn vị Hóa Phật đều thuần một màu vàng. Các vị Tỳ-kheo đó bay vọt thân trong mây theo sau Đức Phật, như rồng, voi lớn đi thì con của chúng đi theo.

Đức Phật bảo A-nan rằng:

–Sau khi Phật diệt độ, các đệ tử của Phật, nếu có thể chính niệm quán tưởng ánh sáng mắt Phật thì nghiệp chướng nặng nề của đời hiện tại liền được tiêu trừ, ở đời vị lai thường được thấy Phật, chẳng lìa khỏi mặt trời Phật, tuy ở trong thai mẹ nhưng thường nhập vào Tam-muội, khi ở tại thai mẹ, thấy chư Phật khắp mười phương đều phóng ra ánh sáng mắt soi đến thân mình, khi trong vỏ trứng thai thường thọ trì pháp vi diệu, huống là đã ra bên ngoài. Người quán tưởng như vậy gọi là chánh quán, nếu quán khác đi thì gọi là tà quán.

Mũi phát ra hai luồng ánh sáng. Ánh sáng ấy chiếu khắp mười phương thế giới. Mỗi ánh sáng ấy hóa thành dòng nước lớn. Dòng nước ấy ở giữa hư không, chảy vào các ánh sáng. Khi nước này chảy vào thì tất cả ánh sáng lại càng hiển hiện rõ. Mỗi vùng sáng sinh ra núi pha lê. Mỗi vùng núi pha lê sinh ra hoa bảy báu. Trên đài hoa ấy vọt trào ra các loại nước. Nước ấy màu vàng giống như lá cờ bằng vàng. Bên trong cờ vàng ấy có trăm ngàn vạn vô lượng hóa Phật. Mỗi vị Hóa Phật, thân cao lớn một trượng sáu. Trong lỗ chân lông của thân Phật có tám muôn bốn ngàn màu sắc báu thượng diệu. Trong các màu sắc báu lại phóng ra ánh sáng. Ánh sáng ấy vi diệu có các màu nhiều như cát sông Hằng.

Đức Phật bảo A-nan:

–Sau khi Phật diệt độ, các đệ tử của Phật quán tưởng như vậy thì tiêu trừ được nghiệp ác rất nặng của một ngàn kiếp, đời sau sinh ra, tâm không chấp thủ, chẳng ở trong bào thai, luôn luôn hóa sinh, đã hóa sinh rồi, ánh sáng của thân đầy đủ, chẳng hề rời xa các Đức Phật. Người quán tưởng như vậy gọi là chánh quán, nếu quán khác đi thì gọi là tà quán.

Sao gọi là quán tưởng ánh sáng khuôn mặt của Như Lai?

Ánh sáng ấy màu trắng giống như núi báu, trong ngoài đều thanh tịnh. Bên trong núi báu có vô lượng vị Hóa Phật màu vàng ròng. Khuôn mặt của các vị Hóa Phật cũng phóng ra ánh sáng. Ánh sáng ấy năm màu soi khắp mười phương, rồi nhập vào khuôn mặt của các Đức Phật. Khi hiện tướng này, hành giả đi đứng ngồi nằm luôn luôn nghe Đức Như Lai nói về bốn Niệm xứ: Thân, thọ, tâm, pháp, đồng thời nghe nói cảnh giới, khiến cho hành giả nghe rồi được ghi nhớ, nhắm mắt tư duy. Nhờ năng lực của ánh sáng này nên hành giả được pháp bốn Niệm xứ. Các Đức Phật khắp mười phương và Phật Thích-ca Văn ở trong Tam-muội, đều duỗi tay phải xoa đỉnh đầu hành giả, nói rằng: “Hay thay! Hay thay! Này Thiện nam! Ông có thể chân thật tu hành Định niệm Phật.” Người quán như vậy gọi là chánh quán, nếu quán khác đi thì gọi là tà quán.

Sao gọi là quán tướng tai của Như Lai?

Tai Phật phát ra năm ánh sáng. Ánh sáng ấy có một ngàn màu. Mỗi màu có một ngàn vị Hóa Phật. Mỗi vị Hóa Phật phóng ra một ngàn ánh sáng. Ánh sáng như vậy soi khắp vô lượng thế giới ở mười phương, rồi hóa thành một đóa hoa. Hoa ấy rất lớn, đo lường chẳng thể biết, ngoại trừ thần lực tâm Phật, không ai có thể biết. Trong hoa sen đó, có trăm ngàn vạn ức vô lượng cõi Phật đều hiện ra và có trăm ngàn vạn ức các Đại Bồ-tát ngồi trên một tua hoa, tua hoa chẳng lớn, Bồ-tát chẳng nhỏ mà cũng chẳng trở ngại nhau. Những Bồ-tát như vậy, trái tai đều thòng xuống như sen vàng treo chỗ ánh sáng mặt trời. Ở trong tai lại sinh ra năm luồng ánh sáng. Khi tướng này hiện thì lông trong tai Phật như cây của Đế Thích, mọi người đều rất ưa nhìn.

Đức Phật bảo A-nan:

–Sau khi Phật diệt độ, các đệ tử của Phật quán tưởng như vậy thì thường nghe trăm ức ngàn Đức Phật và các vị Bồ-tát nói các pháp vi diệu, chẳng bị hư hoại nhĩ căn. Người quán như vậy gọi là chánh quán, nếu quán khác đi thì gọi là tà quán.

Sao gọi là quán tướng cổ của Như Lai? Tướng cổ phát ra hai luồng ánh sáng. Ánh sáng ấy có một vạn màu, soi khắp tất cả thế giới ở mười phương. Có các chúng sinh căn lành thuần thục gặp ánh sáng ấy thì giác ngộ được mười hai nhân duyên, thành Bích-chi-phật. Ánh sáng này soi cổ các Bích-chi-phật. Khi tướng này hiện, hành giả thấy khắp tất cả những Bích-chi-phật trong mười phương ném bát lên hư không, tạo thành mười tám sự biến hóa. Dưới mỗi một chân của các Bích-chi-phật đều có văn tự. Văn tự ấy diễn nói mười hai nhân duyên: Vô minh duyên hành, hành duyên thức, thức duyên danh sắc, danh sắc duyên lục nhập, lục nhập duyên xúc, xúc duyên thọ, thọ duyên ái, ái duyên thủ, thủ duyên hữu, hữu duyên sinh, sinh duyên lão tử, ưu bi khổ não. Một chữ có một ánh sáng, một ánh sáng có mười hai âm thanh, một âm thanh nói khổ, không, vô thường, vô ngã, một âm thanh diễn nói mười hai nhân duyên. Như vậy, trong ánh sáng dưới chân các vị Bích-chi-phật đều có chữ đó, nghịch thuận qua lại đến mười hai lần. Đó gọi là căn bản sinh tử. Ánh sáng này chiếu soi các vị Bích-chi-phật rồi thì trở lại cổ Phật. Người quán tưởng như vậy thì chẳng sinh trong loài người mà sinh lên cõi trời Đâu-suất, được gặp Bồ-tát Nhất sinh bổ xứ được nghe quý Ngài nói pháp vi diệu. Nghe pháp rồi, thân tâm hoan hỷ, học theo các Bồ-tát quán pháp duyên khởi. Người quán tưởng như vậy gọi là chánh quán, nếu quán khác đi thì gọi là tà quán.

Sao gọi là quán tướng xương khuyết bồn đầy đặn của Như Lai?

Ánh sáng của tướng đầy đặn soi khắp mười phương tạo thành màu hổ phách. Chúng sinh nào gặp ánh sáng này thì tự nhiên phát tâm cầu đạo Thanh văn. Những Thanh văn đó thấy ánh sáng này chia làm mười tia, mỗi tia có một ngàn màu. Mười ngàn ánh sáng màu, mỗi ánh sáng có một vị Hóa Phật. Mỗi vị Hóa Phật có bốn vị Tỳ-kheo làm thị giả. Mỗi vị Tỳ-kheo đều nói khổ, không, vô thường, vô ngã, phân biệt bốn Đế, nói ý nghĩa của tám quả chứng, nói tướng của bốn quả vị, nói ba Tam-muội… khiến cho những chúng sinh kia ở trong pháp này cầu pháp xuất gia, xuất gia chẳng bao lâu đều thành A-la-hán. Như vậy ánh sáng soi khắp đỉnh đầu của các La-hán trong mười phương. Khi soi đỉnh đầu các vị ấy, như người cầm bình thuốc nước rót vào đỉnh đầu. Hình trạng sắc mạo ánh sáng ấy giống như đề hồ, nhập vào đỉnh đầu rồi, xuyên suốt hiện bày rõ. Bấy giờ, hành giả thân tâm yên ổn. Tâm ấy điềm nhiên không có các ý tưởng ác, chẳng thấy tướng mạo của các kết sử. Như vậy bỗng nhiên thành A-la-hán. Ánh sáng này lại biến thành tán che màu vàng nhiều vô số. Trong mỗi tán che có trăm ngàn bộ bảy Đức Phật. Mỗi bảy Đức Phật có bốn vị Tỳ-kheo làm thị giả. Mỗi vị Tỳ-kheo nhập vào bốn đại định. Trong bốn đại định đều hiện tướng mạo của tất cả các kết sử: tám vạn hộ trùng đắp đổi mà sinh ra, các loài trùng nhỏ cũng đều sinh theo. Khi tướng này hiện thì trước tiên lửa lớn nổi dậy. Lửa lớn nổi dậy bắt đầu như hạt cải, từ lỗ chân lông phát ra rồi sau lớn lên dần dần, thiêu đốt khắp các thân. Thân như lửa tụ lại, các trùng kêu rống như tiếng sư tử. Khi tiếng này phát ra, tâm hành giả sợ hãi mê muội, ngã lăn ra đất. Ra khỏi định, hành giả thấy thân như lửa đồng hoang đi bên cây bị đốt cháy. Khi tướng này hiện, hành giả phải khởi lên tâm tạo ra một dược tưởng (tư tưởng về thuốc). Trước hết khởi tưởng về thân, tưởng về thân đã thành thì mở đỉnh đầu khiến cho rỗng không, rồi khởi tưởng về Phạm vương, khởi tưởng về Đế Thích, khởi tưởng chư Thiên, tay cầm bình báu, ý tưởng đem thuốc rót vào. Khi thuốc đã vào đỉnh thì lưu thông khắp thân thể và trong các mạch máu, thấy mạch và thân như ống lưu ly, chỉ thấy các trùng như hoa héo rụng. Bấy giờ, các mạch lại chảy rót vào nhau, giống như chỉ có các dòng nước. Chỗ nào nước đến thì lửa tắt theo. Lúc đó, hành giả nơi từng đốt từng đốt xương, nước phun ra như người ngước cổ phun bắn lên. Nước lên đến cõi Phạm, từng luồng nước tiếp nhau lên đến cõi Phạm thiên. Hành giả thấy nước trong thân mình như bốn biển lớn, thấy các trùng, đầu héo rũ, tay gẫy, chân cong queo. Chỉ có tim hành giả sinh ra lửa phân làm mười phần. Lửa vào các dòng nước chẳng tiêu diệt nhau. Ánh sáng nước xông lên, ánh sáng lửa sáng theo. Hai ánh sáng nước lửa đều từ tim phát ra, xen lẫn nhau lên đến tột đỉnh ba cõi, xuống đến ngục A-tỳ. Hết tận cõi một thế giới chỉ toàn thấy nước, lửa tuôn chảy, Đông, Tây, Nam, Bắc lửa cũng chạy theo. Bấy giờ, đầu trái tim tự nhiên mọc một sợi lông đen. Ở đầu sợi lông ấy phát ra một luồng gió đen lớn. Gió ấy có bốn màu trái tim nổi lên như cơn gió lốc xoáy, có hình dạng như khói lửa. Ngọn gió ấy thổi khắp tất cả các dòng nước. Nước ấy dậy sóng, bọt tụ thành đống, lửa cũng nhập vào trong đó. Nhờ sức lửa nên bọt cứng như băng. Rồi lại có gió đến, thổi các bụi bẩn, chín mươi tám thứ vật xấu xí, bất tịnh đem đặt lên trên băng. Sức băng yếu nên tan theo vật bất tịnh, chỗ đặt vật liền tan ra. Khi băng này tan thì có tám người cầm dao chặt khối băng thành từng khúc rồi mang đi. Bụi đất lấm bẩn, lòng buồn rầu mà nằm. Gió, lửa, nước… tụ hợp một chỗ. Sức lửa lớn nên thiêu đốt hủy hoại mọi vật. Có bốn con rắn độc ngậm một viên ngọc báu, từ nơi lửa cháy vút lên hư không bay đi. Có sáu con rồng lớn đón bốn con li nhỏ (một loại rồng nhỏ không có sừng) đớp lấy mà chạy. Đỉnh đầu rồng mọc lên một cây cao đến cõi Vô sắc. Có một cây cỏ nhỏ, nhỏ như sợi lông bay lên, có màu sắc chính là màu vàng, từ lõi cây mọc xuống rễ cây, rồi từ rễ cây mọc lên vào thân cây, từ thân cây mọc tứ tán vào cành lá. Hoa cây ấy màu trắng, cũng có hoa màu hồng, đỏ. Trái của cây ấy sắp chín thì thành bốn màu. Đến nửa tháng tám thì thuần một màu vàng ròng. Nếu ánh sáng này chiếu soi các Thanh văn thì biến hóa thành vô lượng trăm ngàn cảnh giới. Người quán như vậy gọi là chánh quán, nếu quán khác đi thì gọi là tà quán.

Nếu có các Tỳ-kheo khi nhập vào định này mà thân như cây chuối không có bền chắc thì khi ra khỏi định, chi tiết thân thể đau đớn tê liệt. Nếu họ chẳng uống thuốc thì phát điên mà chết. Vậy nên phải kịp thời dùng một thứ thuốc để tiêu diệt. Người quán tưởng như vậy thì tiêu trừ được tội sinh tử của vô số kiếp. Như dòng nước lớn, chẳng bao lâu họ sẽ đắc đạo A-la-hán.

Đức Phật bảo A-nan:

–Ông hãy thọ trì lời nói chân thật của Phật chớ quên! Rồi ông phải tuyên nói rộng rãi cho các Tỳ-kheo.

Khi Đức Phật nói lời nói đó thì năm trăm vị Tỳ-kheo được bốn đại định, đồng thời đều được bốn quả Sa-môn.

Sao gọi là quán tưởng tướng chữ Vạn giữa ngực của Như Lai? Ngọc ma-ni dưới nách luôn phóng ra ánh sáng. Trong ánh sáng hồng tía ấy có hoa vàng. Hoa ấy nở ra hóa thành vô lượng trăm ngàn vạn ức vô số các bông hoa. Trên mỗi bông hoa, có vô lượng Đức Phật. Những vị Hóa Phật đó đều có một ngàn ánh sáng. Mỗi ánh sáng lại có một Hóa Phật. Ánh sáng ấy có năm màu. Nếu có chúng sinh gặp ánh sáng này thì người điên được tỉnh, người tán loạn được định tĩnh, người bệnh được thuyên giảm, người nghèo cùng tự nhiên được châu báu, người mù được nhìn thấy, người điếc được nghe, người câm có thể nói, người gù, thọt, ghẻ lở, cùi hủi đều được tiêu trừ hết. Ánh sáng ấy nhập vào khắp trên đỉnh đầu của chư Phật mười phương. Ánh sáng nhập vào rồi, trong ngực các Đức Phật có trăm ngàn ánh sáng từ chữ Vạn sinh ra. Trong mỗi ánh sáng vang lên hàng trăm ngàn bài kệ diễn nói về Đàn-na ba-lamật… Những ánh sáng như vậy diễn nói sáu pháp Ba-la-mật. Kệ ấy nhiều không lường. Hành giả ngồi ngay thẳng nghe vô lượng Đức Phật nói về pháp đó. Mỗi Hóa Phật sai một hóa nhân đoan nghiêm vi diệu giống như đức Di-lặc đến an ủi hành giả nói rằng: “Hay thay! Hay thay! Này Thiện nam! Ông giữ tâm chánh niệm nên thấy ánh sáng của các Đức Phật. Trong ánh sáng chư Phật nói lên pháp Thí vô tướng, nói lên Giới vô tướng, nói lên Nhẫn vô tướng, nói lên Tinh tấn vô tướng, nói lên Định vô tướng, nói lên Tuệ vô tướng. Ngươi nghe pháp này hãy thận trọng chớ kinh sợ. Các Đức Phật quá khứ giữ chánh niệm tư duy cũng nghe pháp đó, cũng hiểu tướng đó. Hiểu được tướng đó rồi thì chẳng sợ sinh tử. Dù ở địa ngục lớn A-tỳ đầy lửa dữ cũng chẳng thể đốt cháy. Tuy ở địa ngục mà như dạo chơi ở Thiên cung. Vậy nên chữ Vạn gọi là Ấn thật tướng. Các Đức Phật Như Lai, vô lượng vô biên a-tăng-kỳ kiếp học được ấn này, nhờ được ấn này nên chẳng sợ sinh tử, chẳng nhiễm năm dục.

Đức Phật bảo A-nan:

–Sau khi Phật diệt độ, các đệ tử của Phật, người thấy ánh sáng nơi tướng ngực của Phật thì tiêu trừ được tội sinh tử của mười hai vạn ức kiếp. Nếu người chẳng thể thấy tướng ngực rõ ràng thì vào tháp mà quán tưởng tướng đó. Người quán tưởng như vậy gọi là chánh quán, nếu quán khác đi thì gọi là tà quán.

Sao gọi là quán tưởng tướng cánh tay tròn nhỏ như vòi voi chúa của Như Lai?

Mười ngón tay hợp lại căng bàn tay ra thành bánh xe có hàng ngàn nan hoa mà mỗi hoa đều phóng ra trăm ngàn ánh sáng. Mỗi ánh sáng chia làm hàng ngàn tia, toàn là màu hồng. Mỗi ánh sáng như vậy soi khắp vô lượng thế giới ở mười phương. Chiếu soi thế giới rồi ánh sáng hóa thành nước vàng. Trong nước vàng, có một loại nước vi diệu như màu thủy tinh, ngạ quỷ nhìn thấy thì tiêu trừ được nóng nảy, trở nên mát mẻ, súc sinh nhìn thấy thì tự biết được mạng sống đời trước, voi điên nhìn nước ấy thấy thành vua sư tử. Sư tử nhìn thấy là chim cánh vàng, các rồng nhìn thấy là vua chim cánh vàng. Các súc sinh đó đều thấy sự tôn trọng nên lòng phát sinh sợ sệt, chắp tay cung kính. Do cung kính nên sau khi qua đời được sinh lên cõi trời. Mọi người nhìn thấy nước thủy tinh đó như vua Phạm thiên, hoặc như mặt trời, mặt trăng, sao… thấy rồi hoan hỷ nên sau khi qua đời được sinh lên cõi trời Đâu-suất. Hành giả thấy điều đó, mắt tâm được khai mở, thấy Hóa Phật đầy trong các cõi khắp mười phương. Tay của mỗi một Hóa Phật phát ra ánh sáng nhập vào mắt hành giả nên dù nhắm mắt hay mở mắt đều luôn thấy các Đức Phật. Hành giả tự quan sát thân tướng mình như trong bình báu vi diệu có sự bất tịnh. Như vậy người thấy tuy chưa được thông suốt nhưng đã đến khắp mười phương, hầu hạ các Đức Phật, thấy tay của mỗi Đức Phật cũng phóng ra ánh sáng như vậy. Người quán tưởng như vậy gọi là chánh quán, nếu quán khác đi thì gọi là tà quán.

Sao gọi là quán tưởng tướng rốn của Như Lai?

Trong rốn của Như Lai có hàng vạn ức hoa báu. Mỗi hoa báu có hàng vạn ức na-do-tha cánh. Mỗi cánh hoa có hàng vạn ức na-dotha màu. Mỗi màu có hàng vạn ức na-do-tha ánh sáng. Khi tướng này hiện, tất cả đại chúng thấy tướng tim của Phật. Tim của Như Lai như đóa hoa sen hồng, màu vàng ròng ánh lên khiến cho ánh sáng vàng tía xen lẫn nhau như ống lưu ly treo ở trước ngực Đức Phật. Hành giả thấy bên trong thân Phật có hàng vạn ức vị Hóa Phật. Các vị Hóa Phật đó ở vùng tim Phật. Rốn của mỗi vị Phật phát ra ánh sáng kéo tới sáng rỡ như núi Tu-di. Xen giữa các núi có vô lượng núi báu như núi Tu-di. Trên mỗi hoa này có vị hóa Phật nghiêm trang cao lớn như núi Tu-di. Một ngàn loại ánh sáng với mười ngàn màu chia làm mười ức ức tia. Ức ức tia soi xuống phương Dưới, ức ức tia soi lên phương Trên, ức ức tia soi phương Đông, ức ức tia soi phương Nam, ức ức tia soi phương Tây, ức ức tia soi phương Bắc, ức ức tia soi phương Đông nam, ức ức tia soi phương Tây nam, ức ức tia soi phương Tây bắc, ức ức tia soi phương Đông bắc. Như vậy mười phương đều có các hoa. Hoa nhỏ nhất giống như trăm ức núi Tu-di lớn. Trên mỗi núi Tu-di có trăm ức vạn các vị Đại Bồ-tát. Thân nhỏ nhất của các vị Bồ-tát ấy như núi Tu-di. Trong rốn của các vị hóa Bồ-tát đều mọc ra một hoa sen lớn. Các hoa sen ấy che khắp tam thiên đại thiên thế giới. Mỗi đóa hoa có ánh sáng màu vàng. Ánh sáng ấy giống như vàng Diêm-phù-đàn. Mỗi ánh sáng vàng hóa ra Phật Thích-ca Mâu-ni nhiều như bụi trần. Trong rốn mỗi một vị Phật Thích-ca cũng phát ra ánh sáng như vậy. Các ánh sáng như vậy hợp thành đài ánh sáng. Mọi đài ánh sáng ấy cũng đều có vô lượng vị đại Hóa Phật nhiều như bụi trần như cát sông Hằng. Từng Đức Phật, từng Đức Phật tiếp nhau phóng ra ánh sáng nơi rốn. Ánh sáng ấy rất mạnh mẽ chiếu thẳng lên vô lượng thế giới ở phương trên và qua khỏi những thế giới đó. Những thế giới như vậy nhiều như vô lượng bụi trần của tam thiên đại thiên thế giới. Trong những thế giới đó đều có lưu ly, pha lê…. hàng ức loại châu báu dùng làm hang động của Phật. Trong mọi hang động đó đều có hàng vạn ức vô số các Đức Phật. Trong rốn các Đức Phật, mỗi mỗi đều mọc ra hoa sen lớn, giống như trước không khác. Ánh sáng đó chiếu soi tất cả những Bồtát trụ ở Địa thứ mười. Những Bồ-tát đó gặp ánh sáng ấy rồi liền nhập vào pháp môn Thủ-lăng-nghiêm vi diệu, lại được nhập vào định Kim cang thí. Chư Thiên gặp ánh sáng ấy thì phát tâm đạo Vô thượng chánh chân, mắt tâm được khai mở, thấy tướng các Đức Phật. Ánh sáng này chiếu soi Bồ-tát, khiến cho các lỗ chân lông của thân những Bồ-tát, trong mỗi lỗ chân lông tạo ra hàng a-tăng-kỳ đám mây cúng dường và các phẩm vật cúng dường. Lọng che nhỏ nhất cũng che cả cõi Diêm-phù-đề… Như vậy mọi phẩm vật cúng dường, các loại châu báu nhiều chẳng thể nói hết. Những vật cúng dường này từ biển Thủ-lăng-nghiêm sinh ra.

Đức Phật bảo A-nan:

–Nếu thiện nam, thiện nữ khi tư duy như vậy mà nhớ tưởng hay mơ thấy việc này thì đời đời sinh ra luôn luôn gặp được Bồ-tát Phổ Hiền, Bồ-tát Văn-thù. Những vị Pháp vương tử đó sẽ vì hành giả, ở trong mộng luôn nói pháp của chư Phật trong ba đời quá khứ, vị lai, nói Tam-muội Thủ-lăng-nghiêm, Tam-muội Ban-chu, cũng nói Tammuội quán Phật… dùng làm chuỗi ngọc trang sức. Tỉnh dậy rồi, hành giả ghi nhớ giữ gìn không để quên mất. Công đức ở đời hiện tại của người này là được Thiên nữ cung cấp cúng dường, tiêu trừ được tội sinh tử của mười vạn ức kiếp. Người quán như vậy gọi là chánh quán, nếu quán khác đi thì gọi là tà quán.

Ức ức ánh sáng chiếu xuống phương Dưới khiến cho đất của phương Dưới như màu nước của cõi Diêm-phù-đề. Trong nước có các lầu báu nhiều như cát sông Hằng. Bên dưới mỗi lầu báu có một ngôi thành báu như thành Càn-thát-bà. Bên trên lầu báu có cây báu lớn. Lá cành của cây ấy, tất cả đều nổi lửa. Lửa ấy cháy rực, trên dưới đều thiêu đốt. Lửa đốt các loại nước làm nước hóa thành lưu ly. Trên đất lưu ly lại mọc lên các cây. Mỗi cây có bốn con rồng. Trên đỉnh đầu rồng ấy có ngọc Như ý. Ánh sáng ngọc ấy soi khắp thân rồng khiến cho rồng và cây toàn một màu vàng ròng. Khi rồng ấy chồm lên thì những lỗ chân lông của rồng phát ra ánh sáng màu vàng. Ánh sáng ấy soi thẳng xuống vô lượng thế giới ở phương Dưới. Qua khỏi phương Dưới lại soi vô lượng thế giới khiến cho đất của phương Dưới đều trở thành màu vàng. Trên đất màu vàng có hoa kim cương. Trên hoa kim cương có Thiên nữ vàng. Mỗi Thiên nữ vàng có trăm ngàn Thiên nữ quyến thuộc. Các Thiên nữ đó đều khen ngợi biển Tammuội Từ tâm. Ra khỏi phương Dưới, lên thẳng đến thành Ca-tỳ-la ở phương trên. Tiếng khen ấy như tiếng sấm khen ngợi lòng Từ. Khi nói lời nói đó, đầu lông của các rồng phát ra các mây báu. Trong mỗi đám mây có các cõi Phật nhiều như cát sông Hằng. Trong mỗi cõi Phật có những vị Hóa Phật nhiều như bụi trần. Mỗi vị Hóa Phật phóng ra ánh sáng này. Khi ánh sáng này hiện, thế giới ở phương dưới có trăm vạn núi vàng. Ở vùng núi cao ấy có trăm ức hang động báu như mây cuồn cuộn. Trong mọi hang động đó có toàn các Đức Phật trắng; có chúng Bồ-tát và Thanh văn màu trắng trang nghiêm làm thị giả. Ánh sáng vàng ròng ở bên trái, bên phải Đức Phật giống như xẻ núi, các châu báu chiếu sáng lẫn nhau. Có lọng báu vi diệu lớn như núi Tu-di, do vô lượng châu báu tạo thành. Mỗi châu báu có hàng trăm ức ánh sáng xoay vần uyển chuyển. Trong mỗi ánh sáng đều có trăm ức tòa Sư tử. Trên mỗi tòa Sư tử có trăm ức na-do-tha đại chúng Bồ-tát ngồi kiết già. Trong lỗ chân lông của thân các Bồtát đó có a-tăng-kỳ ánh sáng. Trong mỗi ánh sáng có một vị Hóa Phật, thân vị Phật ấy viên mãn như núi Tu-di. Các vị Hóa Phật đó dùng trăm ngàn bài kệ khen ngợi sự không giết hại, tâm Từ là căn bản; Từ chính là vị thuốc hay tiêu trừ hoạn nạn sinh tử; Từ là con mắt thanh tịnh dẫn đường cho các trời, người. Các vị Hóa Phật đó khen ngợi lòng Từ rồi đều biến hóa làm thành núi lưu ly. Bên trong núi ấy có hàng trăm ức Bồ-tát. Mỗi vị Bồ-tát có hàng vạn Phạm vương làm thị giả, đi đến trước hành giả, ở trong núi báu, đồng thanh nói lên pháp này, bảo rằng: “Này Thiện nam! Đối với biển Niệm Phật nên tu lòng Từ! Các Đức Phật Bồ-tát do tu lòng Từ nên được đại Từ của Phật. Nay ông nên phải tu giới không sát sinh, thực hành đại Từ bi.” Bấy giờ, cũng có tám bộ chúng trời, rồng…, tất cả chúng sinh gặp ánh sáng này, nghe lời nói đó nên sau khi qua đời chắc chắn đều sẽ sinh về cõi Phạm thế.

Đức Phật bảo A-nan:

–Ông giữ gìn lời nói này cẩn thận chớ quên mất! Ông bảo các Tỳ-kheo khiến cho họ tu hành pháp này. Sau khi Phật diệt độ, các đệ tử của Phật nếu nghe lời dạy này, tư duy pháp này thì người có chánh niệm, có chánh thọ, Tam-muội chẳng dao động, tâm chẳng biếng nhác thoái lui, phát tâm Đại thừa thì phải biết rằng, người đó luôn ở trong mộng nhìn thấy ánh sáng này và cùng nghe hóa Phật nói pháp Từ tâm. Tỉnh dậy rồi, hành giả ghi nhớ, hiểu sâu nghĩa lý, tư duy nghĩa ấy thì liền được định về tâm Từ. Người quán tưởng như vậy gọi là chánh quán, nếu quán khác đi thì gọi là tà quán. Sau khi Phật diệt độ, các đệ tử của Phật, người nào tư duy pháp này, giữ gìn pháp này thì phải biết rằng, người đó, tâm họ thanh tịnh như tâm của các Đức Phật, tiêu trừ được tội sinh tử của ức kiếp, thường sinh vào cõi Phạm thế, gặp gỡ các Đức Phật, thỉnh Phật vận chuyển bánh xe pháp. Nghe pháp rồi, họ phát tâm Bồ-đề và vào đời vị lai nhất định thành Phật đạo.

Ức ức ánh sáng chiếu về phương Đông, cho đến vô lượng thế giới ở phương Đông, khiến cho đất của phương Đông trắng như núi Tuyết. Trên mỗi ngọn núi đều có mây báu trắng. Mây trắng báu ấy giống như đài báu, có hàng vạn ức lưới báu, chuông báu. Vùng lưới báu chuông báu ấy có một ức ánh sáng trắng. Những ánh sáng trắng đó hóa thành đài vàng. Trên mỗi đài vàng có bốn vị Hóa Phật. Mỗi vị Hóa Phật có bốn ức Bồ-tát làm thị giả. Vị Phật cùng với các vị Bồ-tát đều giảng nói pháp Từ, khen ngợi sự chẳng giết hại bằng hàng ngàn ức bài kệ. Người quán như vậy gọi là chánh quán, nếu quán khác đi thì gọi là tà quán.

Đức Phật bảo A-nan:

–Sau khi Phật diệt độ, các đệ tử của Phật quán tưởng như vậy thì tiêu trừ được tội sinh tử của nửa ức kiếp.

Ức ức ánh sáng chiếu về phương Nam, khiến cho đất phương Nam đều trở thành màu hồng. Ánh sáng màu hồng này soi đến vô lượng thế giới của phương Nam rồi biến thành mây trắng. Hai màu hồng, trắng rõ ràng. Giữa những đám mây có các vị Hóa Phật màu trân châu trắng với tòa ngồi bằng hoa sen vàng thượng diệu màu Tỳ-lưu-ly. Ở trên hoa vàng còn có hàng trăm ức Bồ-tát đều màu vàng ròng với trăm ức ánh sáng báu chiếu sáng lên mây trắng. Trong mỗi ánh sáng có năm trăm vị Hóa Phật, các vị Hóa Phật ấy cũng đồng thanh khen ngợi sự không giết hại và đại Từ bi. Người quán như vậy gọi là chánh quán, nếu quán khác đi thì gọi là tà quán.

Đức Phật bảo A-nan:

–Sau khi Phật diệt độ, các đệ tử của Phật nghe pháp này, tư duy pháp này, quán tưởng pháp này thì người này ở trong mộng, luôn luôn thấy Phật Thích-ca Văn phóng ra ánh sáng từ rốn chiếu soi đến họ. Tướng ánh sáng này như đã nói trên. Người ấy sinh ra chẳng ở trong bào thai, luôn luôn sinh ra ở cõi nước thanh tịnh, như sinh lên trời thì tự nhiên hóa sinh.

Ức ức ánh sáng chiếu về phương Tây, đến vô lượng thế giới ở phương Tây. Ánh sáng ấy nhiều màu như mặt trăng, như vì sao. Ở vùng trăng sao ấy có ngọc bảy báu. Một viên ngọc sinh ra nước, một viên ngọc sinh ra lửa, một viên ngọc sinh ra cây. Cây ấy là bảy báu quả bằng kim cương. Một viên ngọc sinh ra hoa. Ở trong ánh sáng mặt trăng có cung điện trời Phạm với quyến thuộc của vua Phạm và mọi thứ báu của trời Phạm đều đầy đủ. Ở trong ánh sáng của sao có cung điện của Ma-hê-thủ-la và quyến thuộc của họ. Mỗi cung điện trời có hàng trăm vạn ức Phạm vương. Mỗi Phạm vương có vô lượng vô số đại chúng các trời làm quyến thuộc, còn số Ma-hê-thủ-la… thì nhiều chẳng thể biết. Những ngọc báu ấy phát ra ánh sáng lưu ly. Bên trong ánh sáng lưu li có tượng vàng ròng. Tượng vàng ròng ấy ngồi trên tòa ngọc báu trắng, cổ đeo ánh sáng trân châu đỏ. Trong ánh sáng trân châu đỏ có các vị Hóa Phật bằng trân châu kết thành. Các vị Hóa Phật đó và Thiên chúng đồng thanh khen ngợi sự không giết hại, khuyến lệ, sách tấn hành giả tu hành đại Từ bi.

Đức Phật bảo A-nan:

–Người quán tưởng như vậy gọi là chánh quán, nếu quán khác đi thì gọi là tà quán. Sau khi Phật diệt độ, các đệ tử của Phật, người nào nhớ tưởng, người nào tư duy… quán tưởng như vậy thì ở trong mộng, luôn thấy chư Phật vì mình nói pháp Từ bi, tiêu trừ được tội sinh tử của bảy ức kiếp.

Ức ức ánh sáng chiếu về phương Bắc, đến vô lượng thế giới ở phương Bắc, khiến cho đất phương Bắc đều thành màu san hô xen lẫn báu hổ phách, mai khôi, trân châu, mã não, pha lê… Trong mỗi châu báu có một ức ánh sáng. Mỗi ánh sáng hóa thành một con Sư tử. Trên lưng sư tử có lọng bảy báu. Lọng báu ấy cao đẹp như núi Tu-di, cán bằng lưu ly, trang nghiêm bằng lụa báu năm màu và hoa. Trên mỗi hoa có trăm ức vị Hóa Phật. Mặt của mỗi vị Hóa Phật như màu của vàng Diêm-phù-đàn, tóc màu lưu ly xanh biếc, thân có màu trăm ức châu báu, cánh tay màu trân châu hồng, móng tay màu vàng ròng, tướng trong tay có màu hoa sen trắng, đùi như nai chúa có màu hoa Ưu-đàm, tướng dưới chân có màu ma-ni Tỳ-lăng. Từ dưới chân phóng ra ánh sáng năm màu lên đến mép tóc. Những lỗ chân lông của thân đều có ánh sáng biến hóa. Trong mỗi lỗ chân lông có một ức Bồ-tát. Rốn của mỗi vị Bồ-tát có một hoa sen lớn. Hoa ấy cao lớn như núi Tu-di do hàng trăm châu báu tạo thành. Trên hoa có Phật, Đức Phật ấy cao lớn ngang bằng với hoa, cũng phát ra ánh sáng ở rốn. Khi tướng này hiện thì các sư tử báu chồm lên như kinh sợ. Ở đầu mỗi sợi lông sư tử có trăm ức cõi Phật. Mỗi cõi Phật được trang nghiêm bằng vô lượng trăm ức hoa sen báu. Trên hoa sen ấy cũng có hàng trăm ngàn đại chúng Bồ-tát. Các vị Bồ-tát đó cũng phát ra tướng ánh sáng ở rốn như Bồ-tát trên. Mọi ánh sáng màu của những Bồ-tát như vậy hợp thành một ngọn núi. Núi ấy cao lớn như đài vàng ròng. Bốn góc của đài ấy có bốn lá cờ cõi trời Phạm, đầu mỗi lá cờ đều có bốn ức cõi Phật. Trong mỗi một cõi có trăm ngàn tháp, tháp nhỏ nhất cao bằng từ cõi Diêm-phù-đề lên đến cõi Phạm thế, với vô số những sự vi diệu và tất cả tượng báu làm trang nghiêm. Những tháp báu và hóa Bồ-tát đó đều cùng ca ngợi hai pháp Hỷ và Xả. Chúng sinh nào gặp ánh sáng ấy thì được trí tuệ lớn như Xá-lợi-phất, ghi nhớ tất cả giống như A-nan.

Đức Phật bảo A-nan:

–Sau khi Phật diệt độ, các đệ tử của Phật muốn thấy tướng đó thì phải phát tâm Từ bi, tu trì giới không giết hại. Người vì tất cả chúng sinh mười phương thực hành hạnh đó thì tuy chẳng ngồi thiền mà ở trong mộng luôn được thấy các sắc tướng như đã nói trên.

Đức Phật bảo A-nan:

–Người thọ trì lời nói đó tức là thọ trì tâm Phật. Người quán tưởng như vậy có thể quan sát tâm của Phật. Các Đức Phật Như Lai lấy đại Từ bi làm tâm, lấy Giới, Định, Tuệ, Giải thoát, Giải thoát tri kiến làm thân, lấy mười Lực, bốn Vô sở úy, mười tám pháp Bất cộng, đại Bi, ba Niệm xứ để tự trang nghiêm. Quán như vậy gọi là quán tâm Phật.

Đức Phật bảo A-nan:

–Trong tướng rốn này, ở đây, chỉ nói sơ lược, còn cảnh giới tâm Phật, sau này ta sẽ giảng nói thêm. Người quán tưởng như vậy gọi là chánh quán, nếu quán khác đi thì gọi là tà quán. Sau khi Phật diệt độ, các đệ tử của Phật tư duy pháp này, thọ trì pháp này, quán tưởng pháp này thì tất cả những tội chướng nghiệp ác đời hiện tại của người này đều thanh tịnh.

Ức ức ánh sáng chiếu về phương Đông nam, đến vô lượng thế giới ở phương Đông nam, hóa thành bánh xe vàng. Mỗi bánh xe vàng có bảy báu đi theo. Mỗi bánh xe vàng có trăm ức Chuyển luân thánh vương. Mỗi Chuyển luân thánh vương có một ngàn con trai, bốn bộ binh… đầy đủ. Ngọc thần báu của Thánh vương phát ra ánh sáng lớn như khói như mây. Trong mỗi ánh sáng có hoa sen lớn. Hoa, hoa hợp nhau, trong các hoa hợp nhau ấy phát ra ánh sáng mặt trời lớn. Mỗi ánh sáng mặt trời có hóa Bồ-tát cỡi trên con màu vàng. Khi Bồ-tát cỡi voi có vạn ức điềm lành chẳng thể tuyên nói. Ánh sáng của các Bồ-tát hợp thành một vị Phật. Thân màu vàng của Đức Phật ấy vô lượng vô biên cũng phát ra tướng rốn. Ánh sáng tướng rốn cũng như trên đã nói. Người trong các ánh sáng đều khen ngợi Năm giới, nói mười điều lành. Các Chuyển luân vương, tay cầm bánh xe vàng, tuyên dương mười điều thiện.

Đức Phật bảo A-nan:

–Người quán như vậy gọi là chánh quán, nếu quán khác đi thì gọi là tà quán. Sau khi Phật diệt độ, những đệ tử của Phật nhớ tưởng như vậy, tư duy như vậy, quán tưởng pháp này thì tiêu trừ được tội sinh tử của hai mươi vạn ức kiếp, thường sinh lên cõi trời, nghe lời dạy về mười điều thiện.

Ức ức ánh sáng chiếu về phương Tây nam, đến vô lượng thế giới ở phương Tây nam. Đến những cõi đó rồi, ánh sáng ấy như mưa, giống như ngọc đủ màu. Trong mỗi viên ngọc phát ra trăm ức ánh sáng. Mỗi ánh sáng hợp thành đài báu. Ở góc mỗi đài có mười hai núi Tu-di. Mỗi núi Tu-di có vô lượng nhà, khám thờ. Trong mỗi khám thờ có vô lượng vị Hóa Phật. Mỗi vị Hóa Phật có vô lượng Bồtát làm quyến thuộc. Các vị Hóa Phật và hóa Bồ-tát đó cũng đều khen ngợi mười điều thiện. Người quán tưởng như vậy gọi là chánh quán, nếu quán khác đi thì gọi là tà quán.

Đức Phật bảo A-nan:

–Sau khi Phật diệt độ, những đệ tử của Phật nhớ tưởng như vậy, tư duy như vậy, quán tưởng pháp này thì tiêu trừ được tội sinh tử của mười hai ức kiếp, nếu muốn vãng sinh đến cõi thanh tịnh ở phương khác thì tùy ý không gì ngăn ngại.

Ức ức ánh sáng chiếu về phương Tây bắc, đến vô lượng thế giới ở phương Tây bắc, ánh sáng ấy trở thành màu ngọc. Ánh sáng cùng với pha lê màu hồng tía lại chói sáng nhau đẹp thêm. Trong mỗi ánh sáng có trăm ức xe báu, xe trắng với ngựa trắng, xe tía với ngựa tía, xe hồng với ngựa hồng… nhưng các bờm ngựa đều màu vàng ròng. Trên mỗi xe như vậy đều có hiên bảy báu, trên hiên xe luôn có tán che. Tán che ấy có mười tầng, trong hiên xe và tán che có hàng ngàn ánh sáng. Vòng cài báu rủ xuống, ánh sáng tuôn theo ra rồi vào trở lại trong xe hóa thành vị Hóa Phật. Thân Phật cao lớn hàng vạn ức do-tuần. Trong rốn mỗi vị Hóa Phật phát ra vô số ánh sáng. Ánh sáng ấy chiếu khắp vô lượng vị Hóa Phật. Người gặp ánh sáng này thì được thoát hẳn ba đường, không có ba nạn ác. Ánh sáng này quay lại đứng ngay trong hư không như mây bay lên. Mỗi vùng mây có trăm ngàn vị Hóa Phật. Mỗi vị Hóa Phật có trăm ức đệ tử như Đại Ca-diếp siêng năng tu hành mười hai hạnh khổ Đầu-đà, lòng không tham đắm, nhàm chán xa lìa thế gian. Người quán tưởng như vậy gọi là chánh quán, nếu quán khác đi thì gọi là tà quán.

Đức Phật bảo A-nan:

–Sau khi Phật diệt độ, các đệ tử của Phật nhớ tưởng như vậy, tư duy như vậy, quán tưởng pháp này thì phải biết, người này thường thấy các Đức Phật, mau chóng thành tựu Đại thừa, trừ được tội sinh tử của mười ức kiếp.

Ức ức ánh sáng chiếu về phương Đông bắc, đến vô lượng thế giới ở phương Đông bắc. Ánh sáng ấy thanh tịnh không nhơ uế như kính pha lê, trong ngoài đều thấy rõ. Trong ánh sáng đó, có chư Phật khắp mười phương đều phát ra tướng rốn. Ánh sáng rốn của mỗi vị Phật soi khắp vô lượng cõi Phật trong mười phương. Mỗi cõi Phật có số Hóa Phật nhiều như bụi trần. Mỗi vị Hóa Phật có số Bồtát nhiều như bụi trần làm quyến thuộc. Ánh sáng tướng rốn của những Bồ-tát ấy giống như cây trụ vàng. Đầu cây trụ vàng ấy có hàng vạn ức rương áo báu, hòm báu, ví như đài mây từ hư không hạ xuống. Mỗi rương, hòm có hàng vạn ức ánh sáng. Mỗi ánh sáng hợp thành một vị Phật. Trong thân mỗi vị Phật có vô lượng vô số ánh sáng biến hóa nhiều hơn bụi trần. Ở đầu các ánh sáng có các vị hóa Phật nhỏ như hạt cải. Thân Đức Phật nhỏ này cũng phát ra tướng rốn như trên đã nói. Ánh sáng rốn này soi khắp mười phương, rồi nhập vào rốn các Đức Phật. Rồi từ rốn các Đức Phật phát ra để vào ngực các vị Bồ-tát. Từ ngực các vị Bồ-tát phát ra để vào đỉnh đầu các vị Thanh văn. Từ đỉnh đầu của các Thanh văn phát ra, ví như đám mây lớn với vô lượng màu vàng ròng xen lẫn các châu báu, vào dưới chân Phật. Vào dưới chân Phật rồi, trong tướng bánh xe ngàn nan hoa dưới chân Phật phát ra ánh sáng lớn. Ánh sáng ấy như hoa. Rồi từng hoa, từng hoa tiếp theo nhau nhiễu quanh Đức Phật hàng ức vòng. Từ móng chân màu đồng đỏ, lỗ chân lông gót chân cho đến nhục kế nơi đỉnh đầu, các lông của thân Phật như hoa sen nở. Trong mỗi lỗ chân lông có tám vạn bốn ngàn hoa sen. Trên mỗi hoa sen có tám vạn bốn ngàn vị Hóa Phật. Mỗi vị hóa Phật có tám vạn bốn ngàn vị Đại Bồ-tát làm quyến thuộc. Ánh sáng ở vùng chân mày của mỗi vị Bồ-tát phát ra âm thanh vi diệu khen ngợi sắc thân của Phật.

Đức Phật Thích-ca Văn thị hiện ánh sáng này rồi bảo với đại vương rằng:

–Sắc thân Như Lai đã phân biệt sắc tướng rồi, ngoại trừ tâm Phật còn các cảnh giới khác thì như đã thị hiện.

Đức Phật nói thế rồi, vua cha liền đứng dậy, sửa y phục, làm lễ Đức Phật, nhiễu quanh Đức Phật bảy vòng, quỳ xuống chắp tay bạch Phật rằng:

–Bạch Thế Tôn! Sắc thân của Đức Như Lai thì tất cả đã nhìn thấy! Duy chỉ có bên trong tâm Phật có cảnh giới gì? Có tướng mạo ra sao? Tu hành việc gì? Sự suy nghĩ của tâm Phật là những điều gì? Ánh sáng của tâm Phật hình dáng ra sao?

Lúc đó, Đức Như Lai liền mỉm cười, ánh sáng của tướng lưỡi, như trên đã nói, nhiễu quanh Đức Phật bảy vòng, rồi nhập vào đỉnh đầu Đức Phật. Bấy giờ, Như Lai nhập vào Tam-muội Giải thoát tướng, khiến cho vua cha thấy như hang động lưu ly, Phật thành tượng vàng ròng. Bên trong tượng vàng ròng, ở trong ngực của Đức Phật như ống lưu ly. Từ dưới yết hầu, thấy tim của Như Lai như đóa hoa sen hồng như vàng ròng ánh lên đẹp đẽ. Ánh sáng vàng của hoa sen hồng chẳng nở, chẳng khép, tròn xoe như quả tim, có tám vạn bốn ngàn mạch máu. Mỗi mạch đều như mạch của họa sĩ cõi trời vẽ. Trong mỗi nét vẽ có tám vạn bốn ngàn ánh sáng. Mỗi ánh sáng có tám vạn bốn ngàn màu sắc. Trong mỗi màu có vô lượng Hóa Phật nhiều như bụi trần. Mỗi vị Hóa Phật ngồi trên một đài kim cang. Đài kim cang ấy phóng ra ánh sáng màu vàng. Ánh sáng ấy nhiều vô số, chẳng thể nói đủ được. Trong mỗi ánh sáng có các Hóa Phật số lượng như trên đã nói. Các vị Hóa Phật đó đều hiện ra tướng lưỡi dài rộng lên đến mép tóc. Lưỡi của mỗi một vị Phật có một ức ánh sáng. Ánh sáng ấy hợp lại làm mười ngàn đoạn. Trên mỗi ánh sáng có trăm ức vị Hóa Phật ngồi kiết già nhập vào Tam-muội Phổ hiện sắc thân. Sắc thân vi diệu của các Đức Phật mười phương nhập vào biển Tam-muội này. Khi Đức Phật đang ở trong Tam-muội này thì thành Ca-tỳ-la và tinh xá Ni-câu-lâu-đà cùng cõi Diêm-phù-đề giống như đóa hoa báu lớn. Ở trên đài hoa có cờ pha lê. Đầu pha lê có gương pha lê. Vô lượng các cõi nước thanh tịnh của mười phương đều hiện ở trong gương. Đại chúng nhìn thấy các Đức Phật. Hoặc thấy thân Phật cao lớn đầy khắp hư không toàn màu vàng ròng. Hoặc thấy thân Phật như núi Tu-di do bốn châu báu tạo thành. Hoặc thấy thân Phật màu lưu ly lớn mười trượng. Hoặc thấy thân Phật thành màu bạc báu, lớn hàng trăm ngàn trượng. Hoặc thấy thân Phật Thích-ca Văn lớn một trượng sáu, hoặc thấy bảy thước, hoặc thấy ba thước, hoặc thấy cao đến khắp cõi Phạm thế, hoặc thấy bảy tấc, thấy nhập vào bình bát. Các quỷ thần thấy thân Phật như bụi trần, thấy như hạt cải, thấy như hạt gạo vàng. Các quỷ thần thấy rồi, quỷ thân nhỏ… đều rất vui mừng.

 

Print Friendly, PDF & Email
Did you find apk for android? You can find new Free Android Games and apps.