KINH PHÁP CÚ THÍ DỤ
Dịch từ Phạn văn: Pháp sư Pháp Cự và Pháp sư Pháp Lập ở Thế Kỷ 4
Dịch sang Tiếng Việt: Tại gia Bồ-tát giới Thanh tín nam Nguyên Thuận

 

 QUYỂN 1

PHẨM 3: ĐA VĂN

Thuở xưa ở thành Phong Đức có một gia đình nghèo. Cả chồng lẫn vợ đều keo kiệt, thô ác, và không tin Đạo Pháp. Đức Phật thương xót cho đôi vợ chồng ngu si nên biến làm một Đạo Nhân bần khổ và đến ở trước cổng nhà của họ để khất thực.

Lúc đó người chồng đã đi vắng, cô vợ mắng chửi vị Đạo Nhân thậm tệ và không có lý lẽ.

Vị Đạo Nhân bảo rằng:

“Tôi là một Đạo Nhân. Tôi đi khất thực là để duy trì mạng sống. Xin đừng mắng chửi. Tôi chỉ hy vọng nữ thí chủ có thể cho một chút thức ăn.”

Cô vợ nói rằng:

“Cho dù ông có đứng chết ở đây, tôi còn không cho thức ăn. Huống nữa ông đang khỏe mạnh mà muốn xin thức ăn của tôi à! Ông đừng lãng phí thời gian nữa, chi bằng hãy mau rời khỏi.”

Khi ấy vị Đạo Nhân đang đứng ở trước cổng, bỗng nhiên mắt trợn trắng, hơi thở ngừng đập, và liền hiện ra tướng chết. Thân xác trương sình, ở lỗ mũi và miệng có trùng chui ra, vùng bụng nứt vỡ, ruột rữa nát, và chảy ào ra những thứ bất tịnh. Khi thấy thế, cô vợ kinh hoàng sửng sốt và bỏ nhà mà chạy.

Bấy giờ Đạo Nhân hốt nhiên rời khỏi hiện trường khoảng vài dặm và ngồi nghỉ dưới một gốc cây. Lúc đó người chồng đang trên đường về nhà và bỗng gặp cô vợ ở giữa đường. Người chồng kinh ngạc về sự hốt hoảng của vợ mình.

Cô vợ nói với chồng rằng:

“Có một Đạo Nhân đến nhà của chúng ta khất thực, nhưng bỗng nhiên bị chết, nên mới làm cho em hoảng sợ như thế.”

Nghe xong, người chồng vô cùng phẫn nộ và hỏi rằng:

“Hắn đang ở đâu?”

Cô vợ đáp rằng:

“Đã bỏ đi rồi! Chắc cũng chưa đi xa lắm đâu!”

Người chồng lập tức cầm cung tên và mang dao vào mình, rồi lần theo vết mà truy đuổi. Bấy giờ anh ta chạy vội về phía trước, giương cung giơ dao và muốn chém Đạo Nhân. Đạo Nhân liền hóa làm một thành nhỏ bằng lưu ly ở xung quanh để tự bảo hộ. Bấy giờ kẻ thô lỗ đi vòng quanh thành vài vòng nhưng chẳng thể nào vào được.

Liền hỏi Đạo Nhân rằng:

“Sao không mở cửa?”

Đạo Nhân trả lời:

“Nếu muốn tôi mở cửa thì hãy bỏ cung đao của ông xuống.”

Kẻ thô lỗ tự nghĩ:

“Mình hãy làm theo lời hắn nói. Một khi được vào trong, mình sẽ dùng nắm tay đánh hắn.”

Rồi kẻ thô lỗ bỏ xuống cung đao, nhưng cửa vẫn không mở.

Kẻ đó lại nói với Đạo Nhân rằng:

“Tôi đã bỏ xuống cung đao rồi. Sao còn chưa mở cửa?”

Đạo Nhân trả lời:

“Tôi bảo ông bỏ xuống ác niệm và ý nghĩ giết hại của cung đao ở trong tâm, chứ không phải cung đao đang cầm trong tay.”

Khi ấy, lòng của kẻ kia run rẩy sợ hãi và nghĩ thầm:

“Đạo Nhân là thần thánh nên đã biết ý nghĩ của mình.”

Ngay sau đó, kẻ thô lỗ khấu đầu sám hối lỗi lầm, rồi cúi đầu thưa với Đạo Nhân rằng:

“Con có một con vợ thật ngu si, đã không biết ngài là bậc thánh nhân, và còn khiến con khởi sanh niệm ác. Xin ngài rủ lòng từ bi và chớ vội rời khỏi. Con nay muốn dẫn vợ con đến để ngài khuyên răn và chỉ dạy tu Đạo.”

Người chồng lập tức đứng dậy và trở về nhà.

Cô vợ hỏi rằng:

“Đạo Nhân đang ở đâu?”

Người chồng liền kể lại tất cả những sự thần thông biến hóa của vị Đạo Nhân:

“Ngài đang ở chỗ kia. Em hãy mau đến để sám hối nghiệp tội.”

Và thế là, hai vợ chồng đến chỗ của Đạo Nhân, đầu đảnh lễ sát đất, sám hối lỗi lầm, và xin làm đệ tử.

Rồi quỳ hai gối và hỏi rằng:

“Thần thông biến hóa của ngài đã đạt đến cảnh giới của bậc thánh. Thành lưu ly do ngài biến hóa thật kiên cố và không sao vào được. Với tâm minh liễu và ý kiên định, ngài đã vĩnh viễn chẳng còn ưu sầu và hoạn nạn. Xin hỏi ngài đã tu hành Đạo gì mà được thần thông diệu dụng như thế?”

Đạo Nhân trả lời:

“Ta siêng tu học mà không chán mỏi và phụng hành Phật Pháp mà không lười biếng. Ta tinh tấn trì giới và tu tập trí tuệ mà chẳng buông lung. Do vậy, ta đắc Đạo và tự đạt đến tịch diệt.”

Nhân đó, Đạo Nhân liền nói kệ rằng:

“Đa văn vững tu hành
Trì Pháp làm bức tường
Tinh tấn hủy khó leo
Từ đó giới tuệ thành

Đa văn khai sáng tâm
Tâm sáng trí tuệ tăng
Trí tăng rộng giải nghĩa
Thấy nghĩa hành Pháp an

Đa văn khéo trừ lo
Khéo nhập thiền định an
Khéo giảng Pháp cam lộ
Tự đắc Đạo tịch diệt

Nghe Pháp biết Kinh giới
Trừ nghi thấy chân lý
Do nghe lìa pháp ác
Đi đến nơi bất tử”

Khi nói kệ xong, Đạo Nhân hiện ra uy tướng quang minh của Phật, sáng chói hiển hách và chiếu sáng rực rỡ khắp thiên địa. Bấy giờ hai vợ chồng kinh hoàng, run rẩy sợ hãi, và quyết định sửa đổi tâm tánh hung ác. Rồi hai vợ chồng cúi đầu đảnh lễ sát đất. Lập tức, họ diệt trừ 20 ức kiếp nghiệp tội sanh tử và đắc Quả Nhập Lưu.

Thuở xưa Đức Phật cùng với bốn chúng đệ tử ở tại Tinh xá Mỹ Âm trong nước Bất Tĩnh và Ngài rộng nói đại Pháp cho họ.

Bấy giờ có một ngoại đạo Phạm Chí tự cho mình có tài cao học rộng, hết thảy điển tịch minh luận đều xem qua, và không chuyện gì mà chẳng hiểu. Lại nữa, người này rất kiêu căng, khoe khoang, và tự nhận mình là thiên hạ vô địch. Ông ta đi khắp nơi tìm đối thủ để biện luận nhưng chẳng ai dám tranh tài. Ở giữa ban ngày của một ngày nọ, ông cầm một bó đuốc đang cháy và đi khắp cả thành.

Khi ấy có người hỏi rằng:

“Tại sao ông cầm bó đuốc mà đi ở giữa ban ngày như thế?”

Phạm Chí đáp rằng:

“Thế gian đều ngu muội. Tuy họ có mắt nhưng chẳng thấy sự thật. Cho nên ta mới cầm đuốc để soi sáng cho họ. Ta xem khắp thế gian, không một ai dám biện luận với ta.”

Khi ấy, Đức Phật biết phước đức của Phạm Chí ở đời trước và đáng được hóa độ. Nếu không hóa độ, với hành vi kiêu ngạo để cầu tiếng tăm, chẳng biết vô thường, và tự đại buông lung như thế, ông ta sẽ đọa Địa ngục Thái Sơn để thọ khổ đến vô số kiếp và rất khó ra khỏi.

Bấy giờ Đức Phật hóa làm một vị hiền minh, ngồi trên bực cao ở ngã tư đường, gọi Phạm Chí đến, và hỏi rằng:

“Tại sao ở giữa ban ngày mà ông lại cầm bó đuốc làm gì?”

Phạm Chí đáp rằng:

“Do bởi người thế gian đều ngu muội và suốt ngày lẫn đêm họ chẳng rõ sự tình. Cho nên tôi mới cầm đuốc để soi sáng cho họ.”

Vị hiền minh lại hỏi Phạm Chí:

“Trong minh luận có bốn minh pháp, ông có biết chăng?”

Đáp rằng:

“Không biết. Xin hỏi bốn minh pháp là những gì?”


1. hiểu rõ thiên văn địa lý và thời tiết trong bốn mùa
2. hiểu rõ tinh tú và quan hệ của ngũ hành
3. hiểu rõ chánh lý trị quốc và phương thức giao thiệp với các nước
4. hiểu rõ cách điều binh khiển tướng để phòng vệ nước nhà khỏi bị mất

Ông là một Phạm Chí, vậy ông có biết bốn loại minh pháp này chăng?”

Khi ấy Phạm Chí cảm thấy xấu hổ, rồi bỏ đuốc xuống đất, chắp tay và tự nghĩ không bằng vị hiền minh này. Đức Phật biết tâm niệm của ông ta, nên hiện lại thân tướng quang minh và chiếu sáng hiển hách thiên địa.

Sau đó Đức Phật liền dùng tiếng Phạm âm và vì Phạm Chí mà nói kệ rằng:

“Nếu chỉ hiểu chút ít
Tự đại kiêu mạn khinh
Đó như mù cầm đuốc
Soi người chẳng soi mình”

Khi nói kệ xong, Đức Phật bảo Phạm Chí rằng:

“Kẻ ngu si nhất ở thế gian, không ai có thể bằng ông. Ở giữa ban ngày mà ông lại cầm bó đuốc và đi khắp cả thành. Những điều ông biết thì chỉ như một hạt bụi.

Khi nghe xong, Phạm Chí sanh tâm hổ thẹn, rồi cúi đầu đảnh lễ, và xin làm đệ tử. Đức Phật liền thu nhận để trở thành Đạo Nhân. Sau đó, ngài được tâm khai ý giải và liền đắc Đạo Ứng Chân.

Thuở xưa ở thành Phong Đức có một đại trưởng giả đã đắc Quả Nhập Lưu, tên là Thiện Thí. Ngài có một thân hữu trưởng giả, tên là Hiếu Thí, nhưng người bạn này không tin Phật Pháp và các loại y thuật.

Bấy giờ Trưởng giả Hiếu Thí mắc trọng bệnh và nằm liệt ở trên giường. Thân quyến cùng bạn bè đều đến thăm viếng và khuyên hãy chữa trị. Thế nhưng ông thà chết cũng không chịu.

Ông ta trả lời với mọi người rằng:

“Tôi phụng thờ nhật nguyệt, tận trung với vua, và hiếu kính thân phụ. Cho dù phải chết, tôi cũng không bao giờ thay đổi.”

Trưởng giả Thiện Thí khuyên rằng:

“Đức Phật là vị thầy mà mình đang phụng sự. Thần đức của Ngài quảng đại. Những ai thấy Ngài đều được phước. Bạn hãy thử thỉnh Ngài đến đây một lần để giảng Kinh và chú nguyện. Nhờ đó, bạn cũng có thể nghe lời dạy của Ngài, và thấy được đức hạnh với thần lực của Ngài như thế nào. Sau đó, bạn có phụng sự hay không thì tùy ý quyết định. Do bạn lâm bệnh đã lâu mà chẳng được thuyên giảm, thế nên mình mới khuyên bạn hãy thỉnh Phật để cầu phước.”

Trưởng giả Hiếu Thí đáp rằng:

“Tốt đấy! Thế thì xin bạn hãy thỉnh Phật cùng các đệ tử của Ngài đến đây giùm mình!”

Sau đó, Trưởng giả Thiện Thí liền thỉnh Phật và chư Tăng. Lúc đến ở trước cổng nhà của Trưởng giả Hiếu Thí, Đức Phật phóng quang minh và làm cho phòng ốc trong ngoài đều thông suốt. Khi thấy hào quang của Phật, Trưởng giả Hiếu Thí rất vui mừng và thân thể được khinh an. Rồi ngài đến ở trước Phật và ngồi xuống.

Sau đó Đức Phật hỏi thăm an ủi đến trưởng giả rằng:

“Bệnh của ông thế nào? Ông đang phụng thờ vị thần nào? Và bệnh của ông chữa trị ra sao?”

Trưởng giả thưa với Phật rằng:

“Con phụng thờ nhật nguyệt, tận trung với vua, hiếu kính tổ tiên, cung kính trưởng bối, ăn chay và giữ giới. Con lại cầu phước nơi quỷ thần. Con mắc bệnh lần này đã lâu mà vẫn chưa lành. Con lại không có ai đến bảo hộ. Nói về y dược và thuốc thang, đó là những việc mà gia tộc của con cấm kỵ. Còn đối với Kinh Pháp và những việc tu tạo phước đức, con hoàn toàn chẳng biết. Từ xưa đến nay, tổ tiên của con vẫn luôn giữ tục lệ này cho đến chết.”

Đức Phật bảo trưởng giả:

“Con người sống ở thế gian có ba loại chết oan uổng.

1. Có bệnh mà không chữa trị nên phải bị chết oan uổng.
2. Tuy được chữa trị nhưng trong quá trình điều trị lại không thận trọng nên phải bị chết oan uổng.
3. Do kiêu mạn, buông lung, tự đại, và chẳng hiểu Đạo lý nên phải bị chết oan uổng.

Sức lực của nhật nguyệt, thiên địa, tổ tiên, quốc vương, và thân phụ đều chẳng thể trị lành loại bệnh của ông. Ông hãy nên hiểu rõ Đạo lý và tùy theo hoàn cảnh mà thực hành.

1. Khi thân thể bị nóng lạnh thì hãy dùng thuốc thang.
2. Nếu bị tà thần ác quỷ thì hãy phụng trì Kinh Pháp.
3. Những lúc bình thường thì hãy phụng sự thánh hiền và cứu giúp kẻ khốn cùng.

Nếu ông có thể tu tạo công đức, làm phước lợi cho chúng sanh, và tu đại trí tuệ, thì sẽ tiêu trừ năm uẩn và phiền não. Những ai phụng hành như thế, chẳng những ở đời hiện tại họ sẽ được an vui, cát tường, và vĩnh viễn không bị chết oan uổng, mà đời đời họ sẽ luôn bình an, giới đức thanh tịnh, và trí tuệ cao siêu.”

Lúc bấy giờ Thế Tôn liền nói kệ rằng:

“Thờ trời vì ánh sáng
Hiếu cha vì ân đức
Trung vua vì bảo hộ
Kính hiền vì đa văn

Mạnh khỏe nhờ lương y
Muốn thắng nhờ hào kiệt
Phật Pháp ở trí tuệ
Phước tu sáng muôn đời

Bạn lành ở công việc
Chân tình lúc hiểm nguy
Hạnh phúc nơi căn buồng
Biết trí qua ngôn lời

Minh sư khéo hiện Đạo
Trừ nghi tu học thông
Thanh tịnh gốc phiền não
Pháp tạng khéo phụng trì

Đa văn lợi hiện đời
Vợ con anh em bạn
Cũng được phước đời sau
Tích lũy thành thánh trí

Khéo nhiếp giảng nghĩa thâm
Hiểu rõ chẳng sai phạm
Thọ Pháp nương theo Pháp
Từ đó mau được an

Muốn khéo diệt sân hận
Cũng trừ việc hung suy
Muốn được an ổn lành
Hãy kính bậc đa văn”

Khi nghe Phật thuyết Pháp, hoài nghi và phiền não ở trong lòng của trưởng giả đều trừ sạch. Do ông đã mời được vị lương y đích thân đến chữa bệnh, nên bốn đại điều hòa, bệnh hoạn tiêu trừ, và tâm của ông khát ngưỡng Phật Pháp. Thân tâm của ông thanh thản ví như được uống cam lộ. Do thân tâm an định nên ông đắc Quả Nhập Lưu. Bấy giờ thân tộc và mọi người trong nước, không ai là chẳng tôn kính và phụng trì lời Phật dạy.

Thuở xưa có một ngọn núi cao, cách thành Vương Xá khoảng 200 dặm về hướng nam. Từ thành Vương Xá mà muốn đến các nước ở phía nam thì bắt buộc phải băng qua ngọn núi này. Tuy nhiên, con đường đi qua ngọn núi này rất gian nan và còn có 500 đạo tặc ẩn náu để cướp bóc người qua lại. Về sau chúng càng tung hoành, cướp bóc giết hại rất nhiều thương nhân và người qua lại. Thế nên, con đường ở phía nam để đến vương cung bị chặt đứt. Tuy nhà vua cũng đã sai binh lính đi tiêu diệt bọn cướp nhưng chẳng thể nào bắt được.

Bấy giờ Đức Phật đang giáo hóa ở nước này, Ngài vì thương xót chúng sanh và cũng vì thương cảm đối với bọn giặc cướp kia đã không biết tội phước. Tuy chúng có mắt nhưng không thấy Như Lai đã xuất hiện ở thế gian. Tuy chúng có tai nhưng không nghe trống Pháp vang rền.

[Ngài nghĩ:]

“Nếu Ta không đến hóa độ, chúng sẽ như đá chìm sâu đáy nước.”

Và thế là, Đức Phật liền hóa làm một người giàu sang, mặc y phục thượng hạng, cưỡi ngựa mang kiếm, và tay cầm cung tên. Yên ngựa và dàm ngựa được làm bằng vàng với bạc. Ở cổ ngựa có treo minh nguyệt trân châu. Rồi ngài cưỡi ngựa khua chiên và tiến vào trong núi. Khi trông thấy, bọn giặc cướp liền chuẩn bị hành động. Mặc dù chúng làm giặc cướp nhiều năm qua, nhưng đối với việc người này tự chui đầu vào lưới thì làm chúng hết sức kinh ngạc. Bọn giặc cướp liền bao vây ở trước ngài, rồi giương cung tuốt đao và tranh nhau muốn chặn bắt.

Bấy giờ vị hóa nhân liền giương cung bắn một phát và khiến tất cả 500 tên giặc, ai nấy đều bị trúng một mũi tên. Rồi ngài dùng đao nhắm đến ngón tay trỏ của bọn giặc và làm ai nấy đều bị thương. Do bị trọng thương của đao và tên, bọn chúng đau đớn đến cuồng loạn.

Và thế là, 500 tên giặc lần lượt nằm lăn lộn trên đất, cúi đầu xin hàng, và thưa rằng:

“Ngài là thần thánh phương nào mà có uy lực như thế? Cầu xin ngài hãy tha mạng cho chúng tôi. Cầu xin ngài hãy nhổ mũi tên ra giùm để vết thương được lành. Chúng tôi bây giờ rất đau đớn và chẳng thể nào nhịn nổi.”

Hóa nhân đáp rằng:

“Vết thương này không đau và mũi tên cũng không sâu. Nỗi tan thương nhất trên đời, không gì sánh bằng ưu phiền. Sự tàn hại nhất trên đời, không gì sánh bằng ngu si. Các người đều ôm giữ lòng phiền não của tham dục và việc si mê của tàn sát. Thế nên, vết thương của đao và mũi tên độc trên thân sẽ không bao giờ được lành. Căn nguyên của hai loại trọng thương này rất sâu và cứng chắc. Cho dù sức mạnh của lực sĩ thì cũng không thể nhổ. Chỉ những ai có trí tuệ và đa văn học tập Kinh Pháp cùng giới luật của Phật, thì mới có thể dùng ánh sáng của Phật Pháp để chữa trị tâm bệnh, bạt trừ ưu não, ngu si kiêu mạn, và chế phục lòng tham dục cang cường. Nếu các người có thể tích lũy công đức và tu học trí tuệ, thì mới có thể chữa lành và luôn mãi an ổn.”

Lúc bấy giờ vị hóa nhân hiện lại thân Phật với tướng hảo quang minh, kim thân trang nghiêm mỹ diệu, và liền nói kệ rằng:

“Trọng thương chẳng bằng ưu
Trúng tên chẳng bằng ngu
Dù mạnh chẳng thể nhổ
Đa văn mới tận trừ

Mù nhờ trí được mắt
Kẻ ngu nhờ đó thấy
Học rộng dẫn người đời
Như sáng dẫn kẻ mù

Có trí mới trừ si
Ly dục diệt kiêu mạn
Học tập kính đa văn
Đó là tích lũy đức”

Khi thấy tướng hảo quang minh của Phật và lại nghe các bài kệ này, 500 người họ liền cúi đầu quy y và thành tâm sám hối lỗi lầm. Do đó, vết thương của đao và mũi tên độc trên thân cũng tự nhiên lành hẳn. Họ rất vui mừng, tâm ý khai mở và xin thọ trì Năm Giới. Kể từ đó, đất nước an bình và không ai là chẳng hoan hỷ.



KINH PHÁP CÚ THÍ DỤ