KINH PHÁP CÚ THÍ DỤ
Dịch từ Phạn văn: Pháp sư Pháp Cự và Pháp sư Pháp Lập ở Thế Kỷ 4
Dịch sang Tiếng Việt: Tại gia Bồ-tát giới Thanh tín nam Nguyên Thuận

 

 QUYỂN 1

PHẨM 2: GIÁO HỌC

Thuở xưa Đức Phật ở tại vườn Cấp Cô Độc, trong Rừng cây Chiến Thắng gần thành Phong Đức.

Bấy giờ Phật bảo các Bhikṣu rằng:

“Các ông hãy tinh cần tu Đạo, trừ bỏ năm uẩn và năm sự ngăn che. Khi tâm ý trong sáng và thần trí kiên định, thì các ông mới có thể thoát khỏi mọi khổ ách.”

Bấy giờ có một Bhikṣu với ý chí không sáng suốt. Khi đã ăn no thì trở vào phòng và đóng cửa nằm ngủ, ái thân khoái ý, chẳng quán vô thường, tâm ý mù mịt, lười biếng, và chỉ lo ngủ mà chẳng màng gì về ngày hay đêm. Và như thế cho đến bảy ngày sau, khi ấy thọ mạng của vị Bhikṣu đó gần hết. Phật biết vậy nên từ mẫn thương cảm và sợ rằng ông ta sẽ đọa đường ác. Thế là Ngài liền tiến vào trong phòng.

Rồi Phật khảy móng tay để cảnh tỉnh và nói kệ rằng:

“Ôi sao ngủ lu bù!
Như ong, ốc, trai, mọt
Ẩn náu nơi bất tịnh
Mê lầm cho tốt thay

Đã bị trọng thương nặng
Lòng nhói như bệnh đau
Gặp phải lắm ách nạn
Sao còn lo ham ngủ?

Tư duy chẳng buông lung
Học theo dấu Năng Nhân
Từ đó không ưu sầu
Chánh niệm vọng tự trừ

Chánh kiến học Đạo tăng
Trí tuệ soi thế gian
Phước sanh trăm ngàn đời
Vĩnh không đọa đường ác”

Khi nghe kệ xong, Bhikṣu kinh sợ và liền thức tỉnh. Khi thấy Phật đích thân đến chỉ dạy, Bhikṣu càng thêm cung kính nhưng đồng thời vừa sợ hãi. Rồi Bhikṣu liền đứng dậy và cúi đầu đảnh lễ Đức Phật.

Bấy giờ Phật bảo Bhikṣu rằng:

“Ông có biết việc đời trước của mình chăng?”

Bhikṣu thưa rằng:

“Thưa Thế Tôn! Do phủ trùm bởi năm uẩn và năm sự ngăn che nên con thật sự chẳng biết.”

Phật bảo Bhikṣu:

“Vào thời Đức Phật Thắng Quán ở thuở quá khứ, ông đã từng xuất gia, nhưng chỉ tham lam lợi dưỡng và không tụng Kinh trì giới. Khi ăn xong thì đi ngủ và không quán tưởng vô thường. Lúc mạng chung, thần hồn của ông sanh trong loài ong nghệ đến 50.000 năm. Tiếp đến lại sanh làm ốc, con trai, và mọt ở trong cây. Mỗi loài là 50.000 năm. Bốn loại sâu bọ này sanh trưởng ở trong tối, ái luyến thân mạng, ưa nơi u ám, lấy tối làm nhà và chẳng thích ánh sáng. Mỗi lần ngủ đến 100 năm mới thức dậy, thân tâm siết trói ở trong lưới tội, và chẳng mong ra khỏi. Cho đến nay tội mới hết và được làm Đạo Nhân. Đã như thế, tại sao còn cứ mãi ngủ say mà không biết nhàm chán?”

Khi nghe về việc đời trước của mình, Bhikṣu sanh tâm sợ hãi và xấu hổ tự trách. Bấy giờ, năm sự ngăn che của ngài được tiêu trừ và liền đắc Đạo Ứng Chân.

Thuở xưa Đức Phật thuyết Pháp cho hàng trời người và bốn chúng đệ tử ở tại vườn Cấp Cô Độc, trong Rừng cây Chiến Thắng gần thành Phong Đức.

Bấy giờ có một Bhikṣu trẻ tuổi, với bản tánh ngu si, chất trực thô lỗ, và chưa hiểu Pháp yếu. Lại nữa, tình dục của ông ta rất hẫy hừng, chỉ nghĩ tưởng dâm dục, dương khí cực thịnh, và chẳng thể kiềm chế bản thân. Do bởi việc này mà ông ta khởi sanh phiền não và chẳng thể vượt khỏi thế gian.

Có một ngày, vị Bhikṣu ấy ngồi xuống và nghĩ thầm:

“Mình phải cắt bỏ nam căn thì sau đó tâm sẽ thanh tịnh và mới có thể thấy dấu Đạo.”

Và thế là, vị Bhikṣu ấy liền đến nhà của một thí chủ nọ và hỏi mượn cái rìu. Sau đó, ngài trở về phòng và đóng cửa lại, rồi cởi y phục ra, ngồi trên một tấm ván, và muốn chặt đứt nam căn của mình.

[Vị Bhikṣu ấy lại nghĩ:]

“Do cái nam căn này mà khiến mình phải khốn khổ, trải qua vô số kiếp sanh tử, thọ khổ ở ba đường ác, và luân hồi trong sáu đường. Tất cả đều do sắc dục. Nếu cắt bỏ nam căn thì sẽ không còn nhân duyên của luân hồi và chắc sẽ đắc Đạo.”

Đức Phật biết do bởi ý niệm ngu si của ông ta nên mới làm như thế. Ngài đã chẳng biết rằng, tu hành cần phải chế phục tâm. Tâm là nguồn gốc. Vị Bhikṣu ấy đã chẳng biết rằng, nếu đoạn nam căn thì sẽ có thể bị chết, tự hại chính mình, và sẽ đọa đường ác để chịu mãi đau đớn.

Bấy giờ Thế Tôn tiến vào phòng và liền hỏi Bhikṣu rằng:

“Ông đang muốn làm gì?”

Khi ấy vị Bhikṣu liền vội bỏ rìu xuống, mặc y phục vào, rồi đảnh lễ Phật và kể lại sự việc của mình:

“Thưa Thế Tôn! Con học Đạo đã lâu rồi, nhưng vẫn chưa đắc Đạo. Mỗi lần ngồi thiền để tư duy về Đạo thì bị sắc dục che phủ và dương khí cực thịnh. Tuy mắt đã nhắm nhưng trong lòng mê muội và chẳng hiểu Đạo lý của trời đất. Sau đó con suy xét lại và ăn năn tự trách, rằng việc này đều là do sắc dục. Thế là con đã đi mượn một cái rìu và muốn chặt đứt nam căn của mình.”

Phật bảo Bhikṣu:

“Sao ông quá si mê và chẳng hiểu Đạo lý như thế? Nếu ai muốn cầu Đạo, trước tiên hãy đoạn trừ si mê của mình, rồi sau đó hãy chế phục tâm. Tâm là nguồn gốc của thiện ác. Cho nên những ai muốn đoạn trừ gốc của tâm, trước tiên hãy chế phục tâm của mình. Khi tâm an định và ý liễu giải, sau đó họ sẽ đắc Đạo.”

Lúc bấy giờ Thế Tôn liền nói kệ rằng:

“Trước đoạn tâm tham ái
Kiêu mạn và tà kiến
Diệt sạch mọi kết sử
Đó là thượng Đạo Nhân”

Phật bảo Bhikṣu:

“Trong Mười Hai Nhân Duyên, vô minh là gốc. Vô minh ngu si là gốc của mọi tội ác. Bậc trí tu hành ở gốc. Trước tiên hãy đoạn trừ vô minh ngu si, rồi sau đó ý sẽ định.”

Khi Phật nói lời ấy xong, Bhikṣu cảm thấy xấu hổ và liền ăn năn tự trách:

“Thưa Thế Tôn! Bấy lâu nay con bị ngu si làm mê muội và chẳng hiểu Phật Pháp, nên mới đến nông nỗi như thế. Hôm nay con nghe được lời dạy của Phật, thật là vi diệu thay!”

Ngay sau đó, ngài tu tập chánh định, nội tâm tư duy, và quán hơi thở ra vào. Khi đã chế ngự tâm, điều phục các căn, và lấp kín mọi dục niệm, ý của ngài liền được chuyên nhất và ở trước Đức Phật mà thành bậc Ứng Chân.

Thuở xưa Đức Phật ở trên núi Thứu Phong gần thành Vương Xá để thuyết Pháp cam lộ cho hàng trời người, quốc vương, và đại thần.

Bấy giờ có một Bhikṣu khỏe mạnh với ý chí dũng mãnh cang cường. Đức Phật biết rõ tâm tưởng của ngài nên sai đến trong cốc quỷ thần ở sau núi, rồi ngồi dưới một gốc cây mà tu thiền định với Pháp quán tưởng hơi thở và hãy biết rõ hơi thở dài ngắn. Với Pháp quán tưởng hơi thở ra vào thì sẽ đoạn trừ mong cầu, diệt trừ khổ hoạn, và có thể đắc tịch diệt.

Bhikṣu vâng lời Phật dạy và đi vào trong cốc. Nhưng khi vừa muốn ngồi thiền, ngài chỉ nghe tiếng của quỷ thần ở trong núi, không thấy hình dáng mà chỉ có âm thanh. Khi ấy Bhikṣu sợ hãi kinh hoàng, lòng không được bình an, và ý muốn hoàn tục.

Liền tự nghĩ thầm:

“Mình lớn lên trong một gia tộc đại phú quý, nhưng đã từ bỏ để xuất gia học Đạo và mong rằng sẽ tìm thấy nơi an ổn. Tuy nhiên, bây giờ giữa chốn rừng sâu, mình đã không có ai làm bạn, lại vắng bóng người tu hành, và chỉ có chúng quỷ thần cứ đến làm kinh rợn người.”

Đương lúc suy nghĩ như thế và còn chưa rời khỏi, khi ấy Thế Tôn đi đến ở bên cạnh Bhikṣu, rồi ngồi dưới một gốc cây và hỏi rằng:

“Chỉ một mình ở đây, ông có gặp sợ hãi gì không?”

Bhikṣu cúi đầu và thưa rằng:

“Thưa Thế Tôn! Con chưa từng bao giờ sống ở trên núi. Nơi đây thật sự buồn tẻ!”

Khi vừa nói đến đây, bỗng có một con voi hoang đi đến bên cạnh của một gốc cây để dựa và nằm nghỉ.

Trong lòng của nó tràn đầy vui sướng và nghĩ thầm:

“Mình đã lìa xa đàn voi và rời khỏi ngục tù ái ân. Ôi vui lắm thay!”

Đức Phật biết được ý niệm của voi, nên bảo Bhikṣu rằng:

“Ông có biết con voi này vì sao lại đến đây không?

Đáp rằng:

“Dạ, con không biết!”

Phật bảo Bhikṣu:

“Quyến thuộc cả lớn lẫn nhỏ của con voi này có hơn 500 con. Do nó chán chường với những con voi nhỏ nên đã bỏ đi tới đây, và dựa vào cây để nằm nghỉ.

Nó nghĩ thầm:

‘Mình đã lìa xa đàn voi và rời khỏi ngục tù ái ân. Ôi vui lắm thay!’

Voi là loài thú mà cũng nghĩ đến nơi nhàn tĩnh. Huống nữa ông là người xuất gia và mong vượt khỏi thế gian. Nếu tu hành không có bạn tốt thì hãy sống một mình; chớ có kết bạn với những kẻ ngu, bởi họ sẽ gây nhiều sự tổn hại. Hãy sống một mình và cũng không bàn luận. Hãy sống một mình tu Đạo, cần chi bạn bè ngu si để làm gì.”

Lúc bấy giờ Thế Tôn liền nói kệ rằng:

“Tu học nếu không có
Bạn tốt thiện tri thức
Giữ thiện tu một mình
Đừng cùng với kẻ ngu

Tu học siêng trì giới
Cần chi bạn đồng hành?
Một mình chẳng ưu phiền
Như voi giữa rừng hoang”

Khi Phật nói lời ấy xong, Bhikṣu tâm khai ý giải, tâm tư duy Thánh giáo, và liền thành bậc Ứng Chân. Bấy giờ quỷ thần ở trong sơn cốc cũng đều nghe được và tỏ ngộ. Họ xin làm đệ tử của Phật, thọ trì giới cấm, và chẳng còn xâm nhiễu người nữa. Sau đó, Đức Phật và Bhikṣu cùng trở về tinh xá.

Thuở xưa Đức Phật diễn nói Kinh Pháp cho hàng trời người ở tại Tinh xá Kỳ Viên gần thành Phong Đức.

Bấy giờ có hai vị Bhikṣu mới xuất gia ở thành Vương Xá và muốn đến bái kiến Đức Phật. Tuy nhiên, ở khoảng giữa của hai nước đó đều chẳng có người sinh sống. Đương thời nơi đó bị hạn hán; các dòng nước đều khô cạn. Hai vị Bhikṣuvừa đói vừa khát, hơi thở khô khan và nóng bức. Khi ấy ở giữa đường có một dòng nước đã khô cạn từ lâu và chỉ còn một chút nước đọng, nhưng trong nước lại có vi trùng và không thể uống được.

Hai vị Bhikṣu nói với nhau rằng:

“Chúng ta lặn lội từ xa đến và hy vọng có thể thấy Đức Phật. Tuy nhiên, e rằng hôm nay chúng ta sẽ phải bỏ mạng ở chốn này.”

Có một Bhikṣu nói rằng:

“Hay là hãy uống nước này để cứu mạng của mình trước, rồi tiếp tục lên đường gặp Phật. Đức Phật tất sẽ thông cảm cho chúng ta.”

Vị Bhikṣu khác trả lời:

“Không được! Giới luật của Phật có dạy rất rõ, là hãy lấy từ bi làm đầu. Nếu sát sanh để sanh tồn thì dù có thấy Phật cũng vô ích. Mình thà chết mà giữ giới, còn hơn sống sót mà phạm giới.”

Vị Bhikṣu kia liền đứng dậy và bụm nước uống cho thỏa thích, rồi tiếp tục lên đường.

Vị Bhikṣu không chịu uống nước nên dọc đường đã bỏ mạng. Sau khi chết, thần thức liền sanh lên tầng trời thứ nhì là trời Tam Thập Tam. Khi đã sanh thiên thượng, ngài tư duy quán xét và lập tức biết rõ việc đời trước của mình.

[Ngài nghĩ thầm:]

“Do trì giới và không vi phạm nên hiện tại mình được sanh đến đây. Lành thay phước báo của sự tín thọ giới luật. Việc đó đã chẳng uổng phí.”

Và thế là, ngài liền cầm hương hoa và bay xuống đến chỗ của Phật để cúng dường, rồi đảnh lễ Đức Phật và đứng qua một bên.

Còn về vị Bhikṣu đã uống nước, trên đường đi phải chịu mệt nhọc vô vàn và trải qua nhiều ngày mới đến được tinh xá của Phật.

Khi thấy thần đức chí tôn lồng lộng của Phật, Bhikṣu cúi đầu đảnh lễ, rồi rơi lệ than khóc và kể lại sự việc:

“Thưa Thế Tôn! Con cùng với một vị Bhikṣu nữa đồng khởi hành đi đến đây, nhưng ông ấy đã bỏ mạng ở giữa đường. Con thương cảm ông ấy đã chẳng thông đạt sự lý. Mong Phật hãy hiểu cho.”

Đức Phật bảo:

“Ta đã biết rồi!”

Phật lấy ngón tay chỉ vào vị thiên nhân và nói rằng:

“Hiện tại, vị thiên nhân này đây chính là người đã cùng đi với ông đó. Do giữ giới trọn vẹn nên ông ấy được sanh lên trời và còn đến trước ông nữa.”

Khi ấy Thế Tôn vạch ngực của mình cho vị Bhikṣu đó thấy và nói rằng:

“Ông thấy thân hình của Ta, nhưng không phụng trì giới luật của Ta. Tuy gọi là thấy Ta, nhưng Ta không thấy ông. Dù ai cách Ta vạn dặm, nhưng nếu phụng hành Kinh giới thì người ấy cũng như đang ở trước mắt Ta vậy.”

Lúc bấy giờ Thế Tôn liền nói kệ rằng:

“Tu học mà đa văn
Trì giới không sai phạm
Hiện đời cùng vị lai
Tiếng thơm sở nguyện thành

Tu học kém hiểu biết
Trì giới không trọn vẹn
Hiện đời cùng vị lai
Thọ khổ bổn nguyện tan

Học Đạo có hai điều
Luôn gần bậc đa văn
Chân Đế giải nghĩa thâm
Tuy nhọc chẳng đọa tà”

Khi nghe kệ xong, Bhikṣu sợ hãi và xấu hổ, rồi hướng về Đức Phật mà cúi đầu, sám hối lỗi lầm, và tư duy về hành vi không đúng của mình. Khi vị thiên nhân nghe kệ xong, tâm ý của ngài vui mừng và liền được Pháp nhãn thanh tịnh. Bấy giờ hàng trời người ở trong chúng hội, không ai là chẳng phụng hành.



KINH PHÁP CÚ THÍ DỤ