Want create site? Find Free WordPress Themes and plugins.

LUẬN A TỲ ĐÀM TỲ BÀ SA
Tác giả: Tôn giả Ca Chiên Diên Tử
Giải thích: Năm trăm A La Hán
Hán dịch: Sa-môn Phù Đà Bạt Ma, Đạo Thái v.v…Đời Bắc Lương
Việt dịch: Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh

 

Chương 2: KIỀN-ĐỘ SỬ

Phẩm 1: BẤT THIỆN

(Từ quyển 25 – quyển 30)

Ba kiết cho đến chín mươi tám sử, đều là kinh Phật nói, chỉ trừ năm kiết chín mươi tám sử, phần nầy chẳng phải kinh Phật nói. Trong chương nầy, lẽ ra trừ hai phần luận ấy.

Nghe nói Tôn giả Cù-sa nói rằng: Tất cả luận A-tỳ-đàm đều giải thích kinh Phật, vì kinh nầy nên soạn luận như thế. Pháp nào trong các kinh không nói, thì đều loại trừ. Hai phần luận ấy chẳng phải kinh nói, cho nên phải bỏ năm kiết, nói năm kiết phần trên. Vì sao? Vì năm kiết phần trên là do kinh Phật nói, trừ chín mươi tám sử, không còn nói gì khác, vì chẳng phải kinh Phật.

Lại có thuyết nói: Năm kiết trong chương nầy không nên bỏ. Vì sao? Vì Đức Phật đã nói trong năm pháp của tăng Nhất A-hàm, vì kinh đã lâu, nên bị mất.

Tôn giả Ca-chiên-diên-tử đã vận dụng sức của nguyện trí, quán sát trong A-tỳ-đàm, lại nói năm kiết. Nghe nói từ một pháp đến một trăm pháp của tăng Nhất A-hàm, hiện nay chỉ còn từ một pháp đến mười pháp, ngoài ra đều mất. Từ một pháp đến mười pháp đã bị mất nhiều, pháp còn lại cũng ít. Như Tôn giả A-la-hán Xa-na-bà-tú Hoà thượng của Tôn giả Kỳ-bà-ca, lúc nhập Nê hoàn là ngày bị mất hết bảy vạn bảy ngàn kinh Bổn sinh, một vạn Luận A-tỳ-đàm. Từ đó về sau, số kinh luận nầy không còn lưu hành nữa. Một Luận sư mất, cũng thất thoát ngần ấy kinh luận, huống chi đã có nhiều Luận sư mất trong pháp Phật.

Lại có thuyết nói: Hai luận nầy dù chẳng phải kinh Phật, nhưng cũng không nên bỏ.

Hỏi: Nếu chẳng phải kinh Phật thì vì sao không bỏ?

Đáp: Vì người biên soạn kinh có ý muốn thế. Vì thể theo ý muốn của tác giả đó, nên soạn luận nầy cũng không trái với pháp tướng. Trong luận ấy nói Nhất thiết biến, nói chẳng phải Nhất thiết biến. Nói nhất thiết biến chẳng phải nhất thiết biến vì Nhất thiết biến là ba kiết, chẳng phải Nhất thiết biến là năm kiết.

Nhất thiết biến chẳng phải Nhứt thiết biến là chín kiết.

Hỏi: Năm kiết có thể như vậy, còn chín mươi tám sử cũng chẳng phải kinh Phật, vì sao không bỏ?

Đáp: Tất cả A-tỳ-đàm đều giải thích rộng nghĩa kinh Phật. Nếu đã giải thích rộng nghĩa kinh Phật tức là A-tỳ-hàm. Kinh Phật nói bảy sử, do giới, do chủng, do hành khác nhau, nên có chín mươi tám sử, cho nên hai luận nầy đều không nên bỏ.

Hỏi: Tôn giả kia soạn luận, vì sao lập chương trước?

Đáp: Vì muốn làm rõ nghĩa của các môn. Vì sao? Vì nếu trước không lập chương, thì nghĩa môn sẽ không sáng tỏ. Như người không thể vẽ trong hư không, nếu khi muốn vẽ thì phải có chỗ tựa. Người soạn luận kia cũng giống như thế.

Lại nữa, vì muốn có luận nầy ở lâu nơi đời, nên dù lập chương, môn, soạn ra kệ, tụng, chế Kiền-độ đặt tên phẩm, trong trăm ngàn chúng mới có một người có thể tụng trì đầy đủ A-tỳ-đàm, huống chi không lập chương, môn, cho đến tên phẩm, mà có thể trì tụng đầy đủ văn nầy.

Vì muốn cho không có lỗi như thế, nên phải lập chương trước.

Hỏi: Vì sao Tôn giả kia do kinh Phật mà lập ra chương?

Đáp: Vì tất cả A-tỳ-đàm đều giải thích rộng nghĩa kinh Phật. Lại nữa, vì muốn thể hiện sáng tỏ kinh Phật có vô biên nghĩa, còn sách vở của ngoại đạo chỉ có văn không có nghĩa, dù có nghĩa nhưng ít, như sách La-ma-diên, văn sách ấy có đến một vạn hai ngàn bài kệ, mà chỉ nói có hai việc:

  1. Nói về kiếp La-ma-diên, Tư-đà bỏ đi.
  2. La-ma-diên đem Tư-đà trở lại.

Tất cả kinh Phật đều là vô lượng, vô biên. Vô lượng là có vô lượng, vô biên nghĩa là có vô biên văn. Cũng như biển cả là vô lượng, vô biên. Vô lượng là sâu vô lượng, vô biên là rộng lớn vô biên.

Lại nữa, vì muốn thể hiện làm sáng tỏ kinh Phật có khả năng nhận chịu sự vấn nạn, chuyển biến khéo léo, trong khi sách vở ngoại đạo không thể chịu đựng vấn nạn. Nếu nêu vấn nạn thì trở nên không bền chắc, không có vị nghĩa, như loài khỉ, vượn con không chịu nổi sự đánh đập, nếu đánh đập, nó sẽ phóng uế dơ dáy. Kinh Phật có khả năng chịu đựng sự đả phá. Nếu khi đả phá, thì sẽ phát ra sắc giới thanh tịnh và sự xúc chạm của căn thiện. Cũng như loại áo sản xuất ở Ba-la-nại, có khả năng chịu đựng sự va chạm, đập mạnh, nếu tăng thêm sự đập mạnh, va chạm thì sắc sáng càng đẹp, sinh ra sự xúc chạm diệu kỳ. Người soạn luận kia cũng giống như thế.

Lại nữa, vì muốn làm sáng tỏ kinh Phật, phát ra thì mầu nhiệm. Kinh Phật nói có ba việc, che lại thì hay, phát ra thì không hay, nghĩa là người ngu, người nữ Bà-la-môn. Ba việc của sách phát ra thì hay, che lại thì không hay, đó là người trí, mặt trời, mặt trăng và kinh Phật.

Lại nữa, vì muốn thể hiện rõ kinh Phật có thể chịu đựng sự tư duy, mong cầu, chuyển biến một cách khéo léo. Như người ngó mặt trời thì mắt bị hóa. Sách, vở của ngoại đạo lúc suy nghĩ, tìm kiếm, đã làm cho mắt tuệ không sạch. Như người ngắm nhìn mặt trăng thì mắt sẽ sáng, sạch. Kinh, luận của pháp Phật lúc tư duy, mong cầu điều khiến cho mắt tuệ sáng, sạch.

Lại nữa, trước hết nói như vầy: Tất cả A-tỳ-đàm đều giải thích rộng nghĩa kinh Phật. Vì việc ấy, nên Đức Như lai nói các nghĩa không giống nhau, lập ra Kiền-độ Tạp, nói về nghĩa các kiết, lập Kiền-độ Kiết, Sử, cho đến nói nghĩa của kiến, lập Kiền-độ Kiến, trong mỗi kiềnđộ đều phân biệt tất cả pháp.

Hỏi: Tôn giả kia soạn luận, vì sao trước lập chương, sau tạo ra môn?

Đáp: Như người xây nhà, trước phải sửa sang mặt đất cho bằng phẳng, rồi mới dựng nhà. Cũng thế, Tôn giả kia muốn xây ngôi nhà pháp phải như pháp địa bình đẳng, trước phải lập chương, như cách xây nhà, sau mới lập môn.

Lại nữa, như người trồng cây, trước phải xới đất rồi mới trồng. Tôn giả kia cũng giống như thế, muốn trồng cây pháp như sửa sang pháp đất, trước phải lập chương, như cách trồng cây, sau tạo ra môn.

Lại nữa, như người thợ chuyên làm tràng hoa và các học trò học làm tràng hoa, khi muốn tạo ra các thứ tràng hoa, trước phải dùng chỉ xỏ thành xâu hoa, sau đó mới dùng các thứ sắc hoa để trang sức.

Tôn giả kia cũng giống như thế, muốn làm tràng hoa pháp phải như cách xỏ vòng hoa, trước lập chương, như dùng hoa để trang sức, sau đó mới lập môn.

Lại nữa, như họa sĩ, vẽ đệ tử, lúc muốn vẽ thi trước sờ tượng, sau đó bày các màu vẽ, tôn giả kia cũng giống như thế, như cách sờ tượng, trước lập ra chương, như cách bày mầu vẽ, sau mới lập môn.

Lại nữa, giống như người thợ khéo, đệ tử người thợ khéo, trước phải lường khúc gỗ rồi mới khắc các chi tiết, tôn giả kia cũng giống như thế. Như cách lường khúc gỗ, trước lập ra chương, như cách khắc các chi tiết, sau tạo ra môn. Lại nữa, như hành giả quán pháp trước hết quán sắc tạo bốn đại, sau quán sát-na của vi trần. Tôn giả kia cũng giống như thế. Như phương pháp quán sắc tạo của bốn đại, trước lập ra chương, như phương pháp quán sát-na của vi trần, sau tạo ra môn.

Lại nữa, Đức Thế tôn nói pháp cũng giống như thế, trước nói, sau giải thích. Trước nói: Như nói sáu giới, sáu xúc, mười tám ý hạnh, bốn xứ. Tỳ-kheo phải biết, đó gọi là người. Sau giải thích: đó gọi là sáu giới, cho đến bốn xứ.

Tôn giả kia cũng giống như thế, trước lập ra chương, sau tạo ra môn.

Lại nữa, vì muốn biểu hiện hai thứ thiện, nên trước lập chương, nói lên giỏi về văn, sau tạo ra môn, nói lên giỏi về nghĩa. Như giỏi về nghĩa văn, có năng lực đối với nghĩa văn, vô ngại đối với pháp, vô ngại đối với nghĩa quả của pháp vô ngại, quả của nghĩa vô ngại, phải biết cũng giống như thế.

Lại nữa, vì muốn thể hiện điều mình thấy biết không lầm lẫn. Nếu sự thấy biết của con người đã lầm lẫn thì soạn kinh luận cũng lại lầm lẫn, không thể khéo lập môn chương, môn, cho đến tên phẩm. Nếu là người thấy biết không lầm lẫn thì soạn kinh, luận cũng không lầm lẫn, khéo lập chương cho đến tên phẩm.

Cho nên, vì muốn chứng tỏ sự thấy biết của mình không lầm lẫn, nên trước lập chương, sau tạo ra môn.

Hỏi: Vì sao Tôn giả kia soạn luận, trước lập ba kiết làm chương, sau mới đến chín mươi tám sử?

Đáp: Vì người soạn luận có ý muốn như thế, vì tùy ý muốn của người đó, nên soạn luận nầy. Cũng vì để không trái với pháp tướng cho nên trước phải lập ba kiết làm chương, sau mới đến chín mươi tám sử.

Tôn giả Ba-xa nói: Mặc dù tất cả chỗ đều sinh nghi, nhưng vẫn không trái với pháp tướng. Nếu trước nói ba căn bất thiện, sau mới đến chín mươi tám sử, thì cũng có nghi nầy.

Lại nữa, A-tỳ-đàm nên dùng tướng để cầu, không nên dùng thứ lớp để cầu: Trước nói, sau nói đều không có lỗi.

Lại nữa, cũng có thể tùy ở nghĩa để nói theo thứ lớp của pháp kia, do đó trước lập ba kiết làm chương, sau mới đến chín mươi tám sử. Nếu mỗi A-tỳ-đàm đều tìm thứ lớp của pháp, thì văn luận sẽ trở nên rối rắm, rồi ai là người có thể thọ trì đầy đủ loại văn rườm rà, lộn xộn của A-tỳ-đàm?

Lại nữa, vì thêm pháp, nên trước nói ba kiết, sau nói bốn, năm, sáu, bảy, chín, cho đến chín mươi tám sử.

Lại nữa, vì muốn nói theo thứ lớp chứng đắc quả bốn Sa-môn: Nếu dứt ba kiết thì được quả Tu-đà-hoàn, không dứt hết ba căn bất thiện và dục lậu, thì được quả Tư-đà-hàm. Nếu dứt hết sẽ được quả A-na-hàm, dứt hẳn hữu lậu, vô minh lậu, thì chứng quả A-la-hán.

Các lưu ách ràng buộc cái, thủ, kiết phần dưới, kiết phần trên, kiến thân, ái kiết sử còn lại đều là sự khác nhau của hữu lậu, tức phân biệt rộng về lậu. Cho nên, vì muốn nói thứ lớp đạt được bốn quả Samôn, nên trước lập ba kiết làm chương, sau mới đến chín mươi tám sử.

Ba kiết là thân kiến, giới thủ và nghi.

Hỏi: Thể tánh của ba kiết nầy là gì?

Đáp: Thể tánh của ba kiết nầy có hai mươi mốt thứ. Thân kiến, là chỗ dứt của kiến khổ ba cõi có ba thứ. Giới thủ, là chỗ dứt của kiến khổ, kiến đạo ba cõi có sáu thứ. Nghi, là chỗ dứt của kiến khổ, tập, diệt, đạo ba cõi có mười hai thứ.

Hai mươi mốt thứ nầy là thể của ba kiết, là phần tánh, tướng của vật, ngã.

Đã nói thể tánh của ba kiết. Về nguyên nhân của ba kiết, nay sẽ nói:

Hỏi: Vì sao gọi là kiết? Kiết là nghĩa gì?

Đáp: Nghĩa ràng buộc là nghĩa kiết. Nghĩa hợp với khổ là nghĩa kiết. Nghĩa chất độc lẫn lộn là nghĩa kiết.

Nghĩa ràng buộc là nghĩa kiết: Sự ràng buộc tức là kiết. Vì sao mà biết? Vì như kinh nói: Tôn giả Ma ha Câu-hy-la đến chỗ Tôn giả Xálợi-phất, hỏi như thế nầy: sắc ràng buộc mắt hay vì mắt ràng buộc sắc? Cho đến ý, pháp cũng hỏi như thế.

Tôn giả Xá-lợi-phất đáp Tôn giả Ma ha Câu-hy-la: Sắc không ràng buộc mắt, mắt không buộc ràng sắc, ở đây ái dục là sợi dây ràng buộc mắt, sắc kia. Ví như hai con bò trắng, bò đen, cùng mang một chiếc ách do một sợi dây dài buộc, Tôn giả Câu-hy-la nầy, ý ông nghĩ sao? Nếu có ai đó nói bò đen trói buộc bò trắng, hoặc bò trắng trói buộc bò đen, có phải là nói đúng như pháp không?

Đáp: Không.

Tuy nhiên, sợi dây dài buộc ách kia là vật đã ràng buộc chúng với nhau. Cũng thế, nầy Tôn giả Câu-hy-la! sắc không ràng buộc mắt, mắt không buộc ràng sắc, chỉ ở trong đó, ái dục là sự ràng buộc, cho đến ý thức nói cũng giống như thế. Vì việc nầy, nên biết được kiết tức là ràng buộc.

Nghĩa hợp với khổ là nghĩa kiết: Các kiết cõi Dục kết hợp với khổ của chúng sinh cõi Dục. Các kiết cõi Sắc kết hợp với chúng sinh khổ ở cõi Sắc. Các kiết cõi Vô sắc kết hợp với chúng sinh khổ ở cõi Vô sắc.

Tướng trạng của các kiết cõi Dục hợp với khổ, không hợp với vui.

Các kiết cõi Sắc, cõi Vô sắc hợp với khổ, không hợp với vui.

Vì việc nầy, nên hợp với nghĩa khổ là nghĩa kiết.

Nghĩa chất độc xen lẫn là nghĩa kiết: Tất cả sự thọ sinh, định hữu lậu vi diệu, như vô lượng giải thoát, trừ nhập, Nhất thiết xứ, định v.v…, các bậc Thánh xa lìa, vì chất độc phiền não xen lẫn, cũng như thức ăn có lẫn chất độc, dù rất ngon nhưng người trí thường xa lánh nó. Kiết kia cũng giống như thế.

Do sư việc nầy, nên nghĩa ràng buộc, nghĩa kết hợp với khổ, nghĩa chất độc xen lẫn là nghĩa kiết. Kinh Phật nói: Nếu dứt trừ ba kiết, được gọi là Tu-đà-hoàn, không đọa vào đường ác, quyết định nhập đạo rốt ráo, chỉ thọ bảy hữu, bảy lần sinh lên cõi trời, trong loài người, sẽ được dứt hết bờ mé khổ.

Hỏi: Như A-tỳ-đàm nói: Dứt tám mươi tám sử gọi là Tu-đà-hoàn. Như Kinh Trì Dụ nói dứt vô lượng khổ gọi là Tu-đà-hoàn. Vì sao Đức Thế tôn lại nói: Nếu dứt trừ ba kiết, thì được gọi là Tu-đà-hoàn?

Đáp: Hoặc có thuyết nói: Đây là thuyết chưa rốt ráo của Như lai. Nói tóm lược, nói điều chủ yếu là vì người được Phật hóa độ, nên nói như thế.

Lại nữa, vì con người, chúng đương, vì thời. Đức Như lai vì kẻ được hóa độ, vì pháp khí. Vì sao? Vì chư Phật nói pháp đều vì người được hóa độ. Trí có sâu, cạn, cũng quán tâm họ và kiết sử. Tâm của người kia, gọi là căn thiện. Kiết sử là các phiền não. Quán sát tâm họ và phiền não rồi, tùy phiền não của họ, nói pháp đối trị cũng không nói ít, vì nếu nói ít thì sẽ không thể chữa khỏi chứng bệnh phiền não, cũng không nói nhiều, vì nếu nói nhiều thì lời nói của Như lai không có lợi. Ví như thầy thuốc trị bệnh, trước phải chẩn đoán xem chứng bệnh của người kia và nguyên nhân gây ra bệnh, rồi mới cấp phát thuốc để đối trị. Cũng không cho thuốc ít, vì nếu thuốc ít thì chứng bệnh của người kia sẽ không lành. Cũng không cấp thuốc quá nhiều, vì nếu cho thuốc nhiều quá, thì công dụng của thuốc sẽ luống uổng, cần phải tùy thích ứng hợp với chứng bệnh của họ mà cho thuốc. Đối trị bệnh phiền não kia cũng giống như thế.

Lại nữa, nếu nói lược thì dứt ba kiết gọi là Tu-đà-hoàn. Nếu nói rộng, thì phải dứt trừ tám mươi tám sử và vô lượng khổ mới gọi là Tuđà-hoàn. Như nói lược, nói rộng, không phân biệt hoặc phân biệt, nói ngay tức khắc, nói theo thứ lớp, cũng giống như thế.

Lại nữa, vì người căn tánh nhạy bén, nói dứt trừ ba kiết, gọi là Tu-đà-hoàn, vì người căn tánh chậm lụt, nói dứt trừ tám mươi tám kiết và vô lượng khổ mới gọi là Tu-đà-hoàn. Như lợi căn, độn căn sức của nhân, sức của duyên, sức trong, sức ngoài, dựa vào sức tư duy bên trong, nương dựa sức giảng nói bên ngoài, trí nhanh, trí chậm, nói cũng giống như thế.

Lại nữa, muốn nói pháp dễ thực hành, phải dùng phương pháp khuyến dụ, tiến dẫn người được hóa độ, như kéo tay để họ đứng dậy.

Trong trường hợp nầy, nên nói thí dụ về Bạt-kỳ-tử. Nghe nói có Bạt-kỳ-tử xuất gia trong pháp Phật. Bấy giờ, Đức Phật đã chế hai trăm năm mươi giới để cho các đệ tử tùy theo chỗ ưa thích mà thực hành. Người kia nghe Phật nói trong tâm lo nghĩ: Ai có thể giữ gìn các giới như thế? Bèn đến chỗ Phật, Đảnh lễ dưới chân Phật bạch Phật rằng: Đức Thế tôn đã chế hai trăm năm mươi giới để cho các đệ tử tùy chỗ ưa thích mà vâng làm. Nay con không thể gìn giữ giới nầy.

Lúc ấy, Đức Thế tôn thị hiện dáng vẻ thân thiện, không quở trách, dùng lời lẽ mềm mỏng để an ủi, vỗ về Bạt-kỳ-tử: Lành thay! Lành thay! Bạt-kỳ-tử, ông có thể học được ba giới chăng? Nghĩa là khéo học giới, khéo học tâm, khéo học tuệ.

Người kia vừa nghe Phật nói xong, trong tâm rất vui mừng, nói rằng: Con có thể khéo học ba thứ giới nầy.

Vì học ba thứ giới, nên theo thứ lớp, có thể học tất cả các giới. Nếu Đức Như lai nói dứt trừ tám mươi tám sử là chỗ dứt của kiến đạo và vô lượng các khổ, được gọi là Tu-đà-hoàn, thì người được hóa độ, tâm họ sẽ sinh lo nghĩ: Làm sao có thể nhổ nổi tám mươi tám cây phiền não nầy? Lội qua tám mươi tám sông lớn phiền não, tát cạn tám mươi tám biển cả phiền não? Đập tan tám mươi tám núi phiền não và tu tám mươi tám đạo đối trị ấy? Nếu Phật nói dứt bỏ ba kiết, được gọi là Tuđà-hoàn, thì các vị được hóa độ sanh tâm rất vui mừng. Nếu chặt đứt ba kiết, thì là việc dễ, nếu dứt trừ ba kiết, thì đó là dứt trừ tất cả các sử của kiến đạo. Vì sao? Vì đồng một đối trị dứt. Do việc nầy, nên nói pháp dễ thực hành, nói rộng như trên.

Lại nữa, vì muốn nói pháp vượt hơn. Tức trong tất cả kiết do kiến đạo dứt, ba kiết nầy là vượt hơn hết. Cho nên Tôn giả Cù-sa nói rằng: Ba kiết ấy là hơn hết trong tất cả phiền não do kiến đạo dứt. Các thứ tùy phiền não khác sinh theo, như nhân kiến sinh ái, giận dữ, mạn v.v…

Lại nữa, ba kiết nầy đứng đầu hết thảy phiền não do kiến đạo dứt. Cũng như quân sĩ mạnh thường đi trước, sức của chúng, nên phiền não khác sinh.

Lại nữa, vì ba kiết nầy là kẻ hù của công đức. Công đức là quả Tu-đà-hoàn. Ai là kẻ thù kia? Đó là ba kiết

Lại nữa, ba kiết nầy là đối trị gần của ba Tam-muội, thân kiến là đối trị gần của Tam-muội Không. Giới thủ là đối trị gần của Tam-muội Vô nguyện. Nghi là sự đối trị gần của Tam-muội Vô tướng.

Lại nữa, vì ba kiết nầy là gần người kiến đạo, thường tu hành. Như trong Kiền-độ Tạp nói: Hành giả trụ nơi nhẫn, kiến, nghi không đi theo, nếu có đi theo cũng lại không biết, vì trí kém, mà phiền não thì vi tế.

Kiến là thân kiến, giới thủ. Nghi tức là nghi.

Lại nữa, vì ba kiết nầy khó dứt trừ, khó phá bỏ, khó vượt qua.

Lại nữa, vì ba kiết nầy có tăng thêm nhiều lỗi lầm, trầm trọng.

Hỏi: Thân kiến có tăng thêm lỗi gì?

Đáp: Thân kiến là kiến gốc của sáu mươi hai kiến, là gốc của các phiền não. Phiền não là cội rễ của nghiệp. Nghiệp là căn bản của báo.

Dựa vào báo nên sinh ra các pháp thiện, bất thiện, vô ký.

Hỏi: Giới thủ có thêm lỗi lầm gì?

Đáp: Từ giới thủ sinh các thứ khổ hạnh tà.

Hỏi: Nghi có thêm nhiều lỗi gì?

Đáp: Nghi là nghi ngờ đời quá khứ, vị lai, trong tâm do dự: Các đời nầy là gì? Vì sao có đời nầy? Ai tạo ra đời nầy, đời nầy sẽ ra sao? Chúng sinh nầy từ đâu đến? Sau khi chết sẽ đi về đâu?

Lại nữa, ba kiết nầy dù đã dứt, đã biết, nhưng A-la-hán vẫn còn hành pháp tương tự. Khổ tỷ nhẫn của thân kiến đã dứt hẵn, dù dứt, dù biết, nhưng A-la-hán vẫn còn chuyển vận pháp giống nhau, nói rằng: Đây là y của ta, bát của ta, là đệ tử đồng phòng với ta, là đệ tử cận trụ của ta. Đây là phòng của ta, là vật dụng giúp đỡ sự sống trong phòng của ta, tương tự như chấp ngã.

Đạo tỷ nhẫn của giới thủ đã dứt hẳn, dù dứt dù biết, nhưng A-lahán vẫn còn hiện hành pháp tương tự, như rửa tay chân, trụ nơi A-luyệnnhã, chỉ chứa ba y, nói rộng ra là mười ba công đức thanh tịnh, do công đức nầy mà được tưởng thanh tịnh rốt ráo.

Nghe nói nói Tôn giả Lung-ma-xa-hằng-kỳ-ca, dù là A-la-hán, nhưng hằng ngày vẫn xuống sông tắm gội, vì nghĩ là sạch.

Đạo tỷ nhẫn của nghi dứt hẳn, dù dứt dù biết, nhưng A-la-hán vẫn còn hiện hành pháp tương tự: Trông thấy vật thể từ xa, ngờ vực không biết là người hay gốc cây? Thấy hai con đường nghi ngờ chẳng biết đường nào là đường đi, đường nào chẳng phải là đường đi. Nhìn thấy hai y, hai bát, ngờ vực chẳng biết y bát nào là ý bát của ta?

Lại nữa, hành giả vì dứt trừ ba kiết, nên đã làm cho tất cả kiết, chỗ dứt của kiến đạo cũng đều được dứt.

Lại nữa, hành giả vì dứt trừ ba kiết, nên cũng thấy, biết, giác, thức được kiết do kiến đạo dứt.

Lại nữa, vì ba kiết nầy có ở cả ba cõi, nên cũng là phần dưới. Dục, ái, giận dữ dù là kiết phần dưới, nhưng không ở khắp ba cõi. Biên kiến, tà kiến, kiến thủ, ái, mạn, vô minh, dù ở cả ba cõi, nhưng chẳng phải kiết phần dưới.

Lại nữa, trong bảy sử. Sử được dứt trừ hẳn, thì được nói ở đây. Tuđà-hoàn đã dứt hẳn dứt hẳn hai sử trong bảy sử, đó là sử kiến, sử nghi.

Lại nữa, dứt hẳn rốt ráo trong chín kiết, cho đến nói rộng. Tu-đàhoàn đã dứt hẳn ba kiết trong chín kiết, nghĩa là kiết kiến, kiết nghi và kiết thủ.

Do việc ấy, nên Tôn giả Cù-sa đã nói rằng: Kinh ấy lẽ ra phải nói rằng: Đoạn trừ ba kiết, được quả Tu-đà-hoàn. Ba kiết đó là: Kiết kiến, kiết nghi và kiết thủ.

Lại nữa, trong mười sử, dứt hẳn rốt ráo, cho đến nói rộng.

Mười sử: Năm kiến là ái, giận dữ, mạn, vô minh, nghi. Tu-đàhoàn đã dứt hẳn sáu sử, nghĩa là năm kiến và nghi. Trong sáu sử, chỉ nói ba sử: Thân kiến, giới thủ và nghi, không nói ba sử là: Biên kiến, tà kiến, kiến thủ. Vì sao? Vì sử nầy từ sử kia sinh. Thân kiến sinh biên kiến, biên kiến từ thân kiến sinh ra. Giới thủ sinh ra kiến thủ, kiến thủ từ giới thủ sinh. Nghi sinh tà kiến, tà kiến từ nghi sinh.

Đã nói về năng sinh, phải biết cũng nói sinh từ đâu?

Lại nữa, đây là hiện bày môn ban đầu, hiện bày nói tóm lược, hiện bày bắt đầu nhập. Ở đây, Kiết do kiến đạo dứt, hoặc một thứ dứt, hai thứ dứt, bốn thứ dứt. Nếu nói thân kiến, phải biết nói một thứ dứt. Nếu nói giới thủ, phải biết là đã nói hai thứ dứt. Dù không có hai thứ, tức giới thủ được gọi là hai thứ, nhưng pháp cùng có tương ưng với giới thủ cũng được gọi là hai thứ. Nếu nói nghi, phải biết là đã nói bốn thứ dứt.

Lại nữa, kiết do kiến đạo dứt, hoặc là nhất thiết biến của giới mình, hoặc là nhất thiết biến của giới người. Nếu nói thân kiến, phải biết là đã nói nhất thiết biến giới mình. Nếu nói của giới thủ, nghi, phải biết đã nói đến nhất thiết biến của giới người.

Hỏi: Vì sao nhất thiết biến của giới mình, nói một kiết, còn nhất thiết biến của người khác, lại nói hai kiết?

Đáp: Vì giới của người khác duyên hữu lậu, cũng duyên vô lậu.

Nếu nói giới thủ, phải biết là đã nói sử duyên hữu lậu. Nếu nói nghi, phải biết là đã nói vô lậu duyên sử.

Như nhất thiết biến của giới mình, nhất thiết biến của giới người, nhất thiết biến của địa mình, nhất thiết biến của địa người, duyên giới mình, duyên giới người, duyên ở địa mình, duyên địa người, nên biết cũng giống như thế.

Lại nữa, kiết do kiến đạo dứt hoặc duyên hữu lậu hoặc duyên vô lậu. Nếu nói thân kiến, giới thủ, phải biết đã nói sử duyên hữu lậu. Nếu nói nghi, phải biết đã nói vô lậu duyên sử.

Hỏi: Vì sao nói hai duyên hữu lậu nói một duyên vô lậu?

Đáp: Duyên hữu lậu: Hoặc duyên giới mình, hoặc duyên giới người. Nếu nói thân kiến, phải biết là đã nói duyên của giới mình. Nếu nói giới thủ, phải biết là đã nói duyên giới người. Như duyên hữu lậu, duyên vô lậu, duyên thế, duyên xuất thế, duyên vị, duyên không có vị, duyên trụ, duyên xuất, duyên trói buộc, duyên không trói buộc, duyên kiết, duyên chẳng phải kiết, duyên thọ, duyên chẳng phải thọ, duyên triền, duyên chẳng phải triền, nên biết cũng giống như thế.

Lại nữa, kiết, là chỗ dứt của kiến đạo, hoặc duyên hữu vi, hoặc duyên vô vi. Nếu nói thân kiến, giới thủ, phải biết đã nói duyên hữu vi. Nếu nói nghi, phải biết đã nói duyên vô vi. Như duyên hữu vi, duyên vô vi, duyên hữu thường, duyên vô thường, duyên có hằng, duyên không có hằng, nên biết cũng giống như thế.

Lại nữa, kiết do kiến đạo dứt, hoặc tánh là kiến, hoặc tánh chẳng phải kiến. Nếu nói thân kiến, giới thủ, phải biết đã nói về tánh kiến. Nếu nói nghi, phải biết đã nói chẳng phải tánh kiến. Như tánh kiến, chẳng phải tánh kiến, nhìn, không nhìn, chuyển hành, không chuyển hành, cầu, không cầu, thay đổi tâm, không thay đổi tâm, phải biết cũng giống như thế.

Lại nữa, kiết do kiến đạo dứt trừ, hoặc bất thiện, hoặc vô ký. Nếu nói giới thủ, nghi, phải biết đã nói về bất thiện. Nếu nói thân kiến phải biết đã nói vô ký. Như bất thiện, vô ký, có báo, không có báo, sinh một quả, sinh hai quả, tương ưng với không hổ, không thẹn, không tương ưng với không hổ, không thẹn, phải biết cũng giống như thế.

Lại nữa, kiết, là chỗ dứt của kiến đạo có hai thứ: Hoặc tánh ưa vui mừng, hoặc tánh lo buồn. Nếu nói thân kiến phải biết đã nói về vui mừng. Nếu nói giới thủ, nghi, phải biết đã nói về lo buồn.

Lại nữa, ba kiết nầy hủy hoại ba thứ thân: Thân kiến làm hư hoại thân giới. Giới thủ gây hư hoại thân định. Nghi phá hoại thân tuệ.

Lại nữa, ba kiến nầy có thể làm hư hoại tám chánh đạo. Thân kiến làm hư hoại chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng. Giới thủ phá hoại chánh niệm, chánh định. Nghi làm hư hoại chánh kiến, chánh giác, chánh phương tiện.

Lại nữa, vì muốn cho người nghi ngờ được quyết định. Người đời thường rất ưa đắm ngã, ngã sở, rất ưa đắm về lành, không lành, rất hay do dự. Đức Phật nói: Nếu chúng sinh thực hành pháp như thế thì không gọi là Tu-đà-hoàn, nếu không thực hành pháp như thế, thì gọi là Tu-đàhoàn.

Hỏi: Vì đắc đạo đầu tiên gọi là Tu-đà-hoàn, hay vì đắc quả đầu tiên được gọi là Tu-đà-hoàn? Nếu người đắc đạo đầu tiên được gọi là Tu-đà-hoàn, thì người thứ tám lẽ ra là Tu-đà-hoàn. Người thứ tám gọi là Kiên tín, Kiên pháp. Vì sao? Vì người được đạo đầu tiên nếu được quả đầu tiên thì gọi là Tu-đà-hoàn, nếu lìa nhiều phần dục, nếu lìa dục cõi Dục, lúc sẽ được đạo tỷ trí chánh quyết định, lẽ ra là Tu-đà-hoàn.

Vì sao? Vì đắc quả đầu tiên.

Đáp: Hoặc có thuyết nói: Vì đắc đạo đầu tiên nên gọi là Tu-đàhoàn.

Hỏi: Nếu vậy thì người thứ tám lẽ ra là Tu-đà-hoàn. Vì sao? Vì được đạo đầu tiên?

Đáp: Vì đắc đạo đầu tiên nên gọi là Tu-đà-hoàn, nhưng người kia đã được đạo phải duyên với đạo, là Tu-đà-hoàn. Người thứ tám dù được đạo ban đầu, vì duyên về khổ nên không gọi là Tu-đà-hoàn.

Lại nữa, vì được đạo đầu tiên nên gọi là Tu-đà-hoàn. Đạo kia chủ yếu là đạo thuộc về quả của đạo tỷ trí là Tu-đà-hoàn.

Lại nữa, vì được đạo đầu tiên, nên gọi là Tu-đà-hoàn. Đạo kia chủ yếu có ba việc:

  1. Được đạo không hề được.
  2. Bỏ đạo từng được.
  3. Đồng một vị dứt trừ kiết.

Được đạo không hề được: Là tu đạo. Bỏ đạo từng được: Là kiến đạo. Đồng một vị dứt trừ kiết: Kiết, chỗ dứt của kiến đạo đều đồng một vị chứng đắc. Lại nữa, đắc đạo đầu tiên nên gọi là Tu-đà-hoàn. Đạo kia chủ yếu có năm việc:

  1. Được đạo không hề được.
  2. Xả bỏ đạo đã từng được.
  3. Dứt kiết, đồng một vị chứng đắc.
  4. Được ngay tám trí.
  5. Tu đủ mười sáu hành.

Lại nữa, đầu tiên đắc đạo, nên gọi là Tu-đà-hoàn. Lúc trụ đạo ấy, kiết do kiến đạo dứt hết hẳn không còn, dứt hẳn duyên đảo kiết, dứt hẳn kiết do nhẫn đối trị, dứt hẳn tà kiến.

Lại nữa, đầu tiên đắc đạo, nên gọi là Tu-đà-hoàn. Khi trụ đạo ấy, người kia có thể cùng bàn bạc, có thể giả đặt có tướng.

Lại nữa, đầu tiên đắc đạo, gọi là Tu-đà-hoàn. Lúc trụ đạo ấy, có chứa sinh tử.

Lại có người nói: Mới đắc quả, nên gọi là Tu-đà-hoàn.

Hỏi: Nếu thế thì dứt trừ nhiều phần dục, dứt hết kiết cõi Dục, lúc đạo tỷ trí đạt được chánh quyết định, nên là Tu-đà-hoàn. Vì sao? Vì là đầu tiên đắc quả?

Đáp: Đầu tiên đắc đạo, nên gọi là Tu-đà-hoàn, phải thuận theo thứ lớp sự trói buộc đầy đủ, chẳng phải người siêu vượt.

Lại nữa, đầu tiên đắc đạo nên gọi là Tu-đà-hoàn, là đầu tiên được giải thoát, là đầu tiên được độ, là người được quả đầu tiên.

Lại nữa, đầu tiên đắc quả, gọi là Tu-đà-hoàn, phải không do đạo thế tục nên dứt một loại kiết mà được quả.

Lại nữa, đầu tiên được quả, nên gọi là Tu-đà-hoàn, là quả đầu tiên của bốn quả Sa-môn.

Lại nữa, đầu tiên đắc quả, nên gọi là Tu-đà-hoàn, phải là bốn hướng bốn quả.

Lại nữa, đầu tiên đắc quả, nên gọi là Tu-đà-hoàn, là “tám người bốn đôi”.

Lại nữa, đầu tiên đắc quả, nên gọi là Tu-đà-hoàn, lúc trụ đạo ấy, cũng không hoại địa, cũng không hoại đạo.

Quả Tư-đà-hàm dù không hoại địa mà vẫn hoại đạo. Vì sao? Vì đạo hữu lậu, vô lậu đều có thể đạt được, nên quả A-na-hàm vừa hoại địa, vừa hoại đạo. Hoại địa, là người dựa vào sáu địa mà được. Hoại đạo: Là đạo hữu lậu, vô lậu đều có thể được. Quả A-la-hán dù không hoại đạo mà hoại ở địa. Vì sao? Vì dựa vào chín địa đạt được, nên địa của quả Tu-đà-hoàn vừa không hoại đạo, vừa không hoại địa. Không hoại địa là người dựa vào địa Vị chí, được đạo không hoại, chỉ do đạo vô lậu, không do đạo hữu lậu mà được.

Lại có thuyết nói: Vì không do đầu tiên được đạo, nên gọi là Tuđà-hoàn. Vì không do đầu tiên được quả, nên gọi là Tu-đà-hoàn, nhưng vì quả Tu-đà-hoàn, nên người kia được gọi là Tu-đà-hoàn. Nhân pháp đặt tên, cũng như nước thuốc, lấy thuốc đặt tên, bình bơ, bình dầu cũng giống như thế.

Hỏi: Vì sao gọi là Tu-đà-hoàn?

Đáp: Tu-đà dịch là dòng Thánh đạo, Hoàn dịch là nhập, vì nhập dòng Thánh đạo nên gọi là Tu-đà-hoàn.

Hỏi: Nếu vậy thì Tư-đà-hàm, A-na-hàm, A-la-hán cũng gọi là Tuđà-hoàn. Vì sao? Vì cũng nhập dòng Thánh đạo?

Đáp: Vì đây là đầu tiên được tên, vì đầu tiên được đạo. Tên của quả còn lại đều tự có nghĩa riêng.

Không đọa vào đường ác, là không đọa vào ba đường ác.

Hỏi: Như Tư-đà-hàm, A-na-hàm, A-la-hán, cũng không đọa vào đường ác, vì sao chỉ nói Tu-đà-hoàn không đọa vào đường ác?

Đáp: Lẽ ra nên nói mà không nói, phải biết thuyết nầy chưa trọn vẹn.

Lại nữa, quả Sa-môn đều tự có nghĩa. Như Tu-đà-hoàn không đọa vào đường ác là vượt hơn, nên nói không đọa đường ác. Tư-đà-hàm một lần trở lại nhân gian là vượt hơn, nên gọi là Nhất lai. A-na-hàm không trở lại cõi Dục là hơn, nên gọi là Bất hoàn. A-la-hán không còn thọ thân nữa là hơn, nên gọi là lại không còn thọ thân. Vì mỗi quả Sa-môn đều tự có nghĩa, nên tùy nghĩa đặt tên.

Hỏi: Người phàm phu cũng có người không đọa vào đường ác, vì sao không nói?

Đáp: Nên nói mà không nói, phải biết thuyết nầy chưa trọn vẹn.

Lại nữa, người phàm phu hoặc có người bị đọa vào đường ác, hoặc có người không bị đọa đường ác, do đó nên không nói, còn bậc Thánh vì chắc chắn không đọa đường ác, nên nói.

Quyết định: Vì trụ nơi chánh quyết định, nên gọi là quyết định. Nghĩa Tu-đà-hoàn nên nói là quyết định nhập Niết-bàn. Vì sao? Vì có nhân duyên nhập Niết-bàn. Ví như từ trên lầu ba tầng, ném cái chén xuống đất, trong khi chưa rơi tới đất, phải nói là nó sẽ vỡ. Nghĩa quyết định nhập Niết-bàn của Tu-đà-hoàn kia cũng giống như thế.

Nhập đạo rốt ráo: Tận trí, vô sinh trí gọi là đạo. Người kia đã có dục như thế, tâm trông mong như thế, khả năng như thế, ưa thích như thế, gần với ý như thế. Vì chuyển gần với đạo kia, nên nói nhập đạo rốt ráo, chỉ thọ bảy hữu.

Hỏi: Nên thọ mười bốn hữu, hoặc hai mươi tám hữu. Nếu nói theo bản hữu, thì trong cõi người có bảy, trong cõi trời có bảy, nên có mười bốn. Nếu nói theo bản hữu trung hữu, thì trong cõi trời bản hữu có bảy, trung hữu có bảy. Trong cõi người bản hữu có bảy, trung hữu có bảy, nên phải có hai mươi tám hữu, vì sao chỉ có bảy hữu?

Đáp: Vì đây là pháp bảy số, không quá bảy. Trong cõi người cũng bảy, trên cõi trời cũng bảy, bản hữu cũng bảy, trung hữu cũng bảy.

Kinh khác cũng nói “ba thuyết, bốn đế”, có mười hai hành một đế, có mười hai hành bốn đế nên có bốn mươi tám hành. Ba thuyết khổ đế có mười hai hành, cho đến ba thuyết đạo đế có mười hai hành, nên có bốn mươi tám hành, vì sao chỉ nói có mười hai hành?

Vì đây là pháp mười hai số, vì không lìa ba chuyển mười hai hành. Kinh khác cũng nói: Nghĩa của ba thứ quán, bảy xứ thiện của Tỳ-kheo, nhanh chóng đối với Thánh pháp, có thể dứt hết hữu lậu, Tỳ-kheo kia không nên chỉ có bảy, phải có ba mươi lăm xứ thiện, hoặc vô lượng xứ thiện, vì sao chỉ nói có bảy xứ thiện?

Đáp: Vì đây là pháp bảy số, không lìa bảy quán. Một sắc ấm có bảy thứ, cho đến thức ấm cũng có bảy thứ. Kinh khác cũng nói: Tỳkheo! Nay ta sẽ nói hai pháp. Thế nào là hai pháp? Là mắt, sắc cho đến ý pháp, đó gọi là hai pháp. Pháp nầy chẳng phải một, hai, nên gọi là sáu, hai chỉ là pháp của hai số, nên không lìa hai. Pháp bảy số nầy không lìa bảy, cũng giống như thế, nói rộng như trên.

Hỏi: Vì sao Tu-đà-hoàn chỉ thọ bảy hữu, không thêm, không bớt?

Đáp: Tôn giả Ba-xa nói: Nếu thêm, hoặc bớt, thì người thọ hữu đều cũng sinh nghi. Vì không do nghi, nên trái với pháp tướng.

Lại nữa, có ngần ấy nhân báo, lại thọ ngần ấy quả báo.

Lại nữa, vì sức của nghiệp nên chỉ thọ bảy hữu. Vì sức của đạo, nên không thọ hữu thứ tám. Như người bị rắn bảy bước cắn, nhờ sức của bốn đại nên có thể đi bảy bước. Vì sức của nộc độc rắn, nên không bước đến bước thứ tám.

Lại nữa, nếu thọ hữu thứ tám thì trong thân người kia lẽ ra là không, chẳng có Thánh đạo thì trước kia là kiến đế, nay chẳng phải kiến đế. Xưa là được chánh quyết định, nay không được chánh quyết định. Xưa là bậc Thánh nay chẳng phải bậc Thánh.

Lại nữa, nếu thọ hữu thứ tám, thì đối với chư Phật nhiều như số cát sông Hằng trong quá khứ, là người ngoài, chẳng phải thân thuộc bên trong, cũng như tướng bảy đời của người thế gian đối với thân thuộc.

Nếu đến đời thứ tám tức là người ngoài. Hữu kia cũng giống như thế. Lại nữa, lúc trụ trong nhẫn tăng thượng, trừ bảy phần sinh của cõi Dục, phần sinh của mỗi xứ ở cõi Sắc, cõi Vô sắc, tất cả phần sinh khác đều được phi số diệt. Nếu pháp được phi số diệt thì lại không khởi hiện ở trước.

Lại nữa, vì chỉ có bảy xứ sinh, nên chỉ thọ bảy hữu. Bảy xứ sinh, nghĩa là cõi người, sáu tầng trời cõi Dục, là chỗ sinh của Tu-đà-hoàn, mà sinh trong đó.

Lại nữa, Tu-đà-hoàn kia đã tu đầy đủ bảy thứ đạo trong bảy hữu dứt hẳn bảy sử, do việc như cho nên chỉ thọ bảy hữu không thêm, không bớt.

Cũng thế, nói thọ bảy hữu nơi Tu-đà-hoàn trên cõi trời có bảy hữu, trong cõi người có bảy hữu, nhưng Tu-đà-hoàn đều có khác nhau: Hoặc có khi trên trời bảy người sáu, trời sáu người năm, trời năm người bốn, trời bốn người ba, trời ba người hai, trời hai, người một. Hoặc có khi cõi người bảy, cõi trời sáu, cho đến người hai, trời một, nói cũng giống như thế.

Trong đây vì chỉ nói có bảy hữu, nên nói Tu-đà-hoàn thọ bảy hữu.

Hỏi: Tu-đà-hoàn thọ bảy hữu, là ở trên cõi trời hay ở trong cõi người thọ hữu thứ bảy?

Đáp: Hoặc có thuyết nói: Ở đời nầy được Tu-đà-hoàn, tức tính đời nầy là bảy.

Hoặc có thuyết nói: Không ở số bảy: Nếu như số thì ở đây nói đắc đạo trong cõi người, đầy đủ bảy lần trên cõi trời, nơi kia Nhập Niết-bàn. Nếu đắc quả trên cõi trời, đủ bảy trong cõi người, liền Nhập Niết-bàn. Nếu không tính số, thì đắc quả trong cõi người, lại đủ bảy hữu trong cõi người, liền Nhập Niết-bàn. Trên cõi trời đắc quả, lại đầy đủ bảy hữu trong cõi trời, liền Nhập Niết-bàn.

Bình luận: Không nên tính lần đắc đạo đầu tiên sinh trong bảy hữu. Vì sao? Vì lúc hữu trong lần sinh kia là phàm phu, chẳng phải bậc Thánh. Nếu tính thì chỉ có hai mươi bảy hữu, chẳng phải hai mươi tám hữu. Nếu chỉ hai mươi bảy hữu thì trái với luận Thi Thiết, như nói: Tuđà-hoàn trải qua hai mươi tám lần sinh, tất đã cùng tận bờ mé khổ. Vì muốn cho không có lỗi như thế, nên không nói lần đắc đạo đầu tiên sinh trong bảy hữu.

Hỏi: Thọ bảy hữu, Tu-đà-hoàn ở trong sáu lần sinh trước, có khởi Thánh đạo ở trước hay không?

Đáp: Hoặc có thuyết nói: Không khởi. Vì nếu phải khởi, lẽ ra phải Nhập Niết-bàn.

Hoặc có thuyết nói: Có khởi hiện ở trước.

Hỏi: Nếu vậy thì vì sao không Nhập Niết-bàn?

Đáp: Vì sức nơi nghiệp nên không Nhập Niết-bàn.

Hỏi: Nếu khi đầy đủ hữu thứ bảy, đời không có Phật, tại gia có chứng đắc quả A-la-hán hay chăng?

Đáp: Hoặc có thuyết nói: Không đắc. Mặc dù không có pháp Phật, nhưng phải ở trong pháp khác xuất gia, thọ lãnh pháp phục của người kia, sau đó mới được.

Hoặc có thuyết nói: Tại gia cũng được, nhưng khi đã được A-lahán rồi, không trụ ở nhà, phải ở pháp khác xuất gia, thọ pháp phục của người đó.

Cũng thế, so sánh có năm trăm Bích-chi Phật trụ trong núi của vị tiên, vốn là Thanh văn.

Trên cõi trời, trong cõi người: Trời sanh xuống cõi người, người sanh đến cõi trời, giống như người đời từ rừng đến trong vườn, từ vườn đến trong rừng. A-la-hán kia cũng giống như thế.

Sinh: Sinh trong trung hữu bản hữu.

Được tận cùng bờ mé khổ. Hỏi: Bờ mé khổ là ở trong khổ hay ở ngoài khổ? Nếu ở trong khổ thì không nên nói là bờ mé khổ. Nếu ở ngoài khổ, thì thí dụ hiện có của thế gian làm sao hiểu được? Giống như thẻ vàng, đầu cũng là vàng, giữa cũng là vàng, sau cũng là vàng. Khổ cũng giống như thế, ban đầu cũng là khổ, giữa, sau cũng là khổ? Vậy thế nào là bờ mé của khổ?

Đáp: Hoặc có thuyết nói: Ấm sau cùng của A-la-hán là bờ mé khổ.

Hoặc có thuyết nói: Niết-bàn diệt tận là bờ mé khổ.

Nếu nói rằng: ấm sau cùng của A-la-hán là bờ mé khổ ấy, không nên nói là bờ mé khổ. Vì sao? Vì tận cùng của thể là khổ?

Đáp: Vì việc nầy, nên nói là bờ mé khổ. Vì sao? Vì không còn sinh khổ nữa, lại không nối tiếp với khổ, lại không gây ra nhân khổ, cho nên gọi là bờ mé khổ.

Nếu nói rằng: Niết-bàn diệt tận là bờ mé khổ, thì ví dụ thẻ vàng ròng của thế gian làm sao hiểu được?

Đáp: Thí dụ ấy chẳng cần phải hiểu. Vì sao? Vì thí dụ ấy chẳng phải tu-đa-la, Tỳ-ni, A-tỳ-đàm, nên không thể dùng hiện dụ của thế gian để vấn nạn pháp Hiền Thánh. Vì sao? Vì pháp Hiền Thánh khác, pháp thế gian khác.

Ba căn bất thiện: Căn bất thiện tham, căn bất thiện giận, căn bất thiện si.

Hỏi: Thể tánh của ba căn bất thiện là gì?

Đáp: Có mười lăm thứ. Căn bất thiện tham thuộc năm hành ở cõi Dục dứt ái, chung cho sáu thức thân. Căn bất thiện giận thuộc sân mà năm hành dứt trừ, chung cho sáu thức thân. Căn bất thiện si thuộc vô minh bốn hành cõi Dục dứt trừ. Bốn thứ hành đó là: Tập, diệt, đạo, tu đạo. Hạt giống mà khổ đế dứt trừ nên phân biệt: Khổ đế dứt vô minh có mười thứ, đó là: Ái, giận dữ, mạn, nghi tương ưng với năm kiến và tám pháp không chung là căn bất thiện, hai chẳng phải căn bất thiện, nghĩa là tương ưng với thân kiến, biên kiến cõi Dục. (Đoạn nầy, đối chiếu với bản của Pháp sư Huyền Tráng dịch thì ở đây dịch hoàn toàn sai lạc).

Hỏi: Nhân là nghĩa của căn, vô minh tương ưng với thân kiến, biên kiến, là nhân của tất cả pháp bất thiện, vì sao không gọi là căn?

Đáp: Nếu thể của pháp là bất thiện, vì tất cả pháp bất thiện làm nhân, thì lập căn. Thân kiến, biên kiến tương ưng với vô minh, dù làm nhân cho tất cả pháp bất thiện, nhưng thể của chúng chẳng phải bất thiện mà là vô ký. Cho nên, căn bất thiện si hoàn toàn là bốn thứ cõi Dục. Nghĩa là tập, diệt, đạo, tu đạo dứt trừ, cùng khổ đế dứt trừ tám thứ, chung cho vô minh của sáu thức thân. Mười lăm thứ nầy chính là thể của ba căn bất thiện, cho đến nói rộng.

Đã nói thể tánh của ba căn bất thiện. Về lý do nay sẽ nói:

Hỏi: Vì sao gọi là căn bất thiện? Căn bất thiện là nghĩa gì?

Đáp: Nghĩa sinh, nghĩa nuôi nấng, nghĩa tăng trưởng, là nghĩa của căn bất thiện. Nghĩa sung túc, nghĩa làm lợi ích, nghĩa thấm nhuần, tràn đầy, rót chảy bất thiện, là nghĩa của căn bất thiện.

Tôn giả Hòa-tu-mật nói: Thế nào là nghĩa của căn bất thiện?

Đáp: Nghĩa của nhân bất thiện là nghĩa của căn bất thiện.

Lại nữa, nghĩa chủng tử bất thiện là nghĩa của căn bất thiện.

Lại nữa, nghĩa phát khởi bất thiện là nghĩa của căn bất thiện.

Lại nữa, nghĩa đã sinh bất thiện, giúp sinh bất thiện, tăng ích bất thiện, là nghĩa của căn bất thiện.

Tôn giả Phù-đà-đề-bà nói: Cội gốc bất thiện có thể sinh bất thiện, giúp bất thiện, nghĩa tăng ích bất thiện, là nghĩa của căn bất thiện.

Hỏi: Nếu nghĩa của nhân là nghĩa của căn bất thiện thì năm ấm bất thiện đời trước làm nhân cho năm ấm bất thiện đời sau. Mười nghiệp bất thiện đời trước làm nhân cho mười nghiệp bất thiện đời sau. Ba mươi bốn sử bất thiện đời trước làm nhân cho ba mươi bốn sử bất thiện đời sau. Pháp bất thiện như thế v.v… lẽ ra đều là căn bất thiện. Ba thứ nầy có tướng gì khác nhau mà lập căn bất thiện?

Tôn giả Hòa-tu-mật đáp: Đây là thuyết nêu chưa trọn vẹn của Như lai, nói tóm lược, chủ yếu vì người được hóa độ, nên nói như thế.

Tôn giả Ba-xa nói: Phật quyết định biết căn pháp, cũng biết thế dụng, điều mà người khác không biết. Nếu pháp có tướng của căn bất thiện thì sẽ lập căn bất thiện, không có thì không lập.

Tôn giả Cù-sa nói: Phật biết ba pháp nầy làm nhân cho pháp bất thiện, vì chúng nhanh chóng nghiêng nặng về gần, cho nên ba pháp nầy lập căn bất thiện. Pháp bất thiện khác không có ba tướng ầy nên không lập căn.

Lại nữa, ba căn bất thiện nầy đứng đầu tất cả pháp bất thiện, cũng như vị tướng mạnh mẽ hơn hẳn các quân sĩ, thường đi trước. Do thế lực của ba thứ kia, nên pháp bất thiện khác sinh ra.

Lại nữa, pháp nào là hơn hết trong tất cả pháp bất thiện? ( Vì ba pháp nầy, trong tất cả pháp bất thiện, về danh cũng hơn, về nghĩa cũng vượt hơn, cho nên lâp căn.

Lại nữa, căn bất thiện tham là pháp đối oán gần của căn thiện không tham. Căn bất thiện giận dữ, căn bất thiện si, là pháp đối oán gần của căn thiện không giận dữ, không ngu si.

Lại nữa, vì ba pháp nầy là kẻ thù của công đức. Công đức là ba căn thiện.

Lại nữa, vì ba căn bất thiện nầy làm nhân, làm căn, làm chủ, làm gốc tạo tác, làm thế lực, làm duyên, làm tăng ích, làm nhóm họp, làm chỗ khởi cho tất cả pháp bất thiện.

Làm nhân: Cũng như hạt giống. Làm căn: Khiến cho bền chắc. Các pháp còn lại, tùy theo tướng mạo mà nói.

Lại nữa, ba căn bất thiện nầy có công năng gìn giữ pháp bất thiện, có thể khiến cho đi đến, làm sinh ra, nuôi nấng, làm tăng trưởng.

Lại nữa, vì ba căn bất thiện nầy khi lìa dục cõi Dục, đa số tạo ra khó khăn, gây ra chướng ngại, như người giữ cửa không cho ai vào.

Lại nữa, vì ba căn bất thiện nầy thuộc năm thứ dứt, chung cho sáu thức thân, là tánh của sử, có thể khởi nghiệp thân, miệng, lúc dứt căn thiện có phương tiện mạnh mẽ, bền chắc. Năm thứ dứt là thấy khổ mà dứt cho đến tu đạo dứt. Chung cho sáu thức thân là tương ưng với nhãn thức, cho đến tương ưng với ý thức. Tánh của sử: Tham là sử dục ái, giận dữ là sử giận dữ, si là sử vô minh. Có thể khởi nghiệp thân miệng, nghĩa là tham khởi từ tham, sinh ra nghiệp thân, miệng. Giận khởi từ giận dữ, sinh ra nghiệp thân, miệng. Si khởi từ si, sinh ra nghiệp thân miệng.

Khi dứt căn thiện, có phương tiện mạnh mẽ, bền chắc. Như Kinh Thi Thiết nói: Lúc dứt căn thiện, làm sao dứt, dùng việc gì để dứt? Đáp: Cũng như có người nghiêng nặng về tham dục, nghiêng nặng về giận dữ, nghiêng nặng về ngu si, có thể dứt bỏ căn thiện.

Sở dĩ nói năm thứ dứt, là vì muốn loại trừ năm kiến và nghi. Sở dĩ nói chung cho sáu thức thân là vì muốn trừ bỏ mạn. Sở dĩ nói là tánh của sử vì muốn loại trừ các triền.

Hỏi: Như tà kiến có thể dứt trừ căn thiện, vì sao không lập căn bất thiện?

Đáp: Lúc căn bất thiện dứt bỏ căn thiện, thế lực khi tạo phương tiện là hơn, thời gian của việc thành cũng hơn. Tất cả pháp thiện, bất thiện, lúc vận dụng phương tiện và công dụng, thế lực khó khăn, đến khi việc đã thành thì công dụng, thế lực dễ dàng.

Nghe nói Bồ-tát thấy khổ sinh, già, bệnh, chết của thế gian, nên đầu tiên phát tâm cầu đạt đạo vô thượng không lui sụt. Từ đây về sau, suốt ba A-tăng-kỳ kiếp, tâm nầy không trụ, không lui sụt, không ai có thể gây khó khăn, chướng ngại. Tâm nầy rất khó, chẳng phải lúc được tận trí, căn thiện của ba cõi được tu ở vị lai, lúc tà kiến hình thành với thế dụng hơn, chẳng phải lúc của phương tiện hơn, cho nên không lập căn bất thiện.

Lại nữa, khi pháp bất thiện dứt bỏ căn thiện, nếu có thể sinh ra pháp bất thiện, giúp sự sinh bất thiện, nên lập căn bất thiện. Tham, giận, si, có thể sinh ra pháp bất thiện giúp sự sinh pháp bất thiện. Còn tà kiến dù giúp sinh ra pháp bất thiện, nhưng không thể sinh ra pháp bất thiện.

Lại có tà kiến có thể đứt căn thiện: Vì dùng sức của các căn bất thiện, các căn bất thiện, trước làm cho căn thiện suy kém, mỏng manh, khiến cho căn thiện khốn đốn, không có thế lực, sau đó tà kiến mới dứt bỏ căn thiện được.

Lại nữa, trước đã nói như vầy: Năm thứ dứt nên lập căn bất thiện. Tà kiến chẳng phải do năm thứ dứt, không chung cho sáu thức thân, chỉ ở ý địa. Tà kiến dù là tánh của sử, nhưng không thể khởi nghiệp thân, nghiệp. Vì sao? Vì tâm do kiến đạo dứt ấy, không cùng khởi nghiệp thân khổ nên không thuộc về các căn bất thiện. Năm ấm bất thiện không có năm sự nầy. Sắc ấm bất thiện chẳng phải năm thứ dứt, không chung cho sáu thức thân, chẳng phải tánh của sử, không thể khởi nghiệp thân, nghiệp. Lúc dứt căn thiện, không có phương tiện mạnh mẽ, bền chắc. Thọ ấm, tưởng ấm, thức ấm bất thiện, hành ấm tương ưng không thuộc về phiền não. Mặc dù tà kiến nầy là chỗ dứt của năm hành, chung cho sáu thức thân, nhưng chẳng phải tánh sử, dù có thể khởi nghiệp thân nghiệp, nhưng khi dứt bỏ căn thiện, nó không có phương tiện mạnh mẽ, bền chắc. Hành ấm bất tương ưng dù là do năm thứ dứt, nhưng vì không chung cho sáu thức thân, chẳng phải tánh của sử, nên không thể khởi nghiệp thân, nghiệp. Lúc dứt bỏ căn thiện, không có phương tiện mạnh mẽ, bền chắc. Năm kiến trong phiền não và nghi chẳng phải do năm thứ dứt, không chung cho sáu thức thân, dù là tánh sử, nhưng không thể khởi nghiệp thân, nghiệp. Vì sao? Vì tâm ấy là chỗ dứt của kiến đạo, không đều khởi nghiệp thân nghiệp. Lúc dứt căn thiện, không có phương tiện mạnh mẽ, bền chắc.

Mạn, dù là do năm thứ dứt, nhưng không chung cho sáu thức thân, dù là tánh sử, có thể khởi nghiệp thân nghiệp, nhưng khi dứt căn thiện thì không có phương tiện mạnh mẽ, bền chắc.

Triền có mười thứ: Triền phẫn, triền phú, triền thùy, triền trạo, triền miên, triền hối, triền tật, triền san, triền không hổ (vô tàm) và triền không thẹn (vô quý).

Thùy, trạo, không hổ, không thẹn, bốn triền nầy dù là do năm thứ dứt, nhưng chẳng phải tánh của sử, dù có thể dấy khởi nghiệp thân, nghiệp, nhưng lúc dứt căn thiện, chúng không có phương tiện mạnh mẽ, bền chắc.

Miên dù do năm thứ dứt, nhưng không chung cho sáu thức thân, chẳng phải tánh sử, nên không thể dấy khởi nghiệp thân, nghiệp. Lúc dứt căn thiện, cũng không có phương tiện mạnh mẽ, bền chắc. Các triền còn lại, chẳng phải do năm thứ dứt, không chung cho sáu thức thân, chẳng phải tánh sử, đôi khi có dấy khởi nghiệp thân, nghiệp, nhưng lúc dứt căn thiện, chúng không có phương tiện mạnh mẽ, bền chắc.

Hận, ngận, siểm, cuống, kiêu, hại: Sáu triền nầy là cấu uế của sử, dựa vào sử mà sinh, chẳng phải sử căn bản. Vì không có năm việc trên, nên không lập căn bất thiện.

Lại nữa, ba căn bất thiện nầy, được nói là nghiệp gốc, nghiệp tập. Như nói: Ca-lam-ma nên biết, tham là gốc nghiệp của chúng sinh, là tập nghiệp của chúng sinh. Giận dữ, ngu si cũng là gốc nghiệp của chúng sinh, là tập nghiệp của chúng sinh.

Lại nữa, ba căn bất thiện nầy dứt hết, thì nghiệp cũng hết. Như nói: Tham hết, nghiệp cũng hết. Giận dữ hết, ngu si hết, nghiệp cũng hết.

Lại nữa, ba căn bất thiện nầy xoay vần sinh nhau xoay vần giúp sinh. Như nói: Từ tham sinh giận dữ, từ giận dữ sinh tham. Ở trong hai thứ nầy cũng sinh ra vô minh.

Lại nữa, ba căn bất thiện nầy khiến cho sinh ba thọ. Như nói: Tham khiến cho lạc thọ, giận dữ khiến cho khổ thọ, si khiến cho bất khổ bất lạc thọ.

Hỏi: Như ba sử ấy đều sai khiến ba thọ, vì sao lại nói như thế?

Đáp: Vì từ phần nhiều, nên nặng về tham khiến sinh lạc thọ, nặng về giận dữ khiến sinh khổ thọ, nặng về si khiến sinh bất khổ bất lạc thọ.

Lại nữa, tham từ lạc thọ sinh, dùng lạc thọ làm căn bản, vì phần nhiều gây ra nghiệp ác, nên sinh ra khổ nhiều. Sự giận dữ sinh ra từ khổ thọ, lấy khổ thọ làm căn bản, vì tạo nhiều nghiệp ác, nên sinh ra nhiều khổ. Si sinh ra từ bất khổ, bất lạc, dùng bất khổ, bất lạc thọ làm căn bản, vì gây ra nhiều nghiệp ác, nên sinh ra nhiều khổ.

Lại nữa, ba căn bất thiện nầy được nói là yêu, ghét. Vì yêu, ghét, nên chúng sinh thường xảy ra sự tranh tụng. Trời, A-tu-la thường đánh nhau, giết hại nhiều chúng sinh. Yêu là tham, ghét là giận dữ.

Hỏi: Vì sao trong đây không nói ngu si?

Đáp: Đã nói ở trong hai thứ nầy. Nếu chính chúng sinh là người có trí, thì cho dù cảnh giới các tầng trời cõi Dục hiện ra trước, cũng không tranh chấp nhau, huống chi là dục ác của nhân gian.

Lại nữa, dùng hai thứ nầy để hiện bày khái quát của môn đầu mới nhập. Các phiền não đều từ ba phần sinh: Hoặc từ phần ái sinh, hoặc từ phần giận dữ sinh. Hoặc từ phần ngu si sinh.

Kinh Phật nói: Bà-la-môn phải biết! Nếu con người dùng hai mươi mốt phiền não, làm xúc não tâm, thì cho dù có tu hành tâm tịnh, sinh tưởng tịnh đi nữa, cũng phải bị đọa vào đường ác.

Nghe nói Tôn giả Đàm-ma-đa-la nói: Tất cả phiền não được lập thành ba phần: Là phần tham, giận dữ, ngu si. Đây là phần tham, đây là phần giận dữ, đây là phần ngu si. Nếu nói tham phải biết là đã nói phần tham. Nếu nói giận dữ, phải biết là đã nói phần giận dữ. Nếu nói ngu si, phải biết là đã nói phần si. Như phần ái, giận, si, phần thân, phần oán, phần không thân, phần không oán, phần có ơn, phần không ơn, phần có vừa ý, phần không có vừa ý, phần không có vừa ý, chẳng phải không có vừa ý, nên biết cũng giống như thế.

Lại nữa, vì ba căn bất thiện khởi mười nghiệp ác, nên đọa vào mười xứ ác.

Hỏi: Thế nào là ba căn bất thiện khởi mười nghiệp ác?

Đáp: Kinh Phật nói: Sát sinh có ba thứ: Hoặc từ tham sinh, hoặc từ giận dữ sinh, hoặc từ ngu si sinh, cho đến tà kiến cũng giống như thế.

Luận Thi Thiết cũng nói: Ba căn bất thiện là nhân gốc của mười nghiệp ác, nói rộng như trên.

Thế nào là mười nghiệp ác sinh ra mười xứ ác? Kinh Phật nói: Gây ra rộng khắp nghiệp sát sinh sẽ đọa vào địa ngục, súc sinh, ngạ quỷ, cho đến tà kiến cũng giống như thế.

Luận Thi Thiết cũng nói rằng: Gây ra rộng khắp nghiệp sát sinh tăng thượng, sẽ đọa vào địa ngục A-tỳ. Tội nhỏ, nhẹ hơn đọa vào địa ngục Đại nhiệt. Chuyển nhẹ sẽ đọa vào địa ngục Nhiệt. Chuyển nhẹ sẽ đọa vào địa ngục Đại Khiếu Hoán. Chuyển nhẹ sẽ đạo vào địa ngục Khiếu hoán. Chuyển nhẹ hơn sẽ đọa vào địa ngục Chúng hợp. Chuyển nhẹ hơn sẽ đọa vào địa ngục Hắc Thằng. Chuyển nhẹ hơn sẽ đọa vào địa ngục Hoạt. Chuyển nhẹ hơn sẽ đọa vào loài súc sinh. Chuyển nhẹ hơn đọa vào loài ngạ quỷ, cho đến tà kiến nói cũng giống như thế. Đó gọi là tạo mười nghiệp ác, đọa vào mười chỗ ác.

Lại nữa, ba căn bất thiện gọi là cấu uế bên trong, như nói tham là cấu uế bên trong, giận dữ là cấu uế bên trong. Ngu si là cấu uế bên trong. Như cấu uế bên trong, oán bên trong, hiềm nghi bên trong, phải biết cũng giống như thế.

Lại nữa, ba căn bất thiện nầy vừa gọi là tăng, vừa gọi là giảm. Như nói: Thế nào là tham gia tăng? Thế nào là giận dữ gia tăng? Ngu si gia tăng là sao? Thế nào là tham giảm? Thế nào là giận dữ giảm? Ngu si giảm ít là sao?

Lại nữa, ba căn bất thiện nầy có thể là kẻ lui sụt, tạo ra nhân nặng, duyên nặng. Như nói: Nếu Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, tự biết tâm dục hừng cháy, tâm giận dữ sôi sục, tâm ngu si tột độ, không thể tự kìm hãm, Tỳkheo, Tỳ-kheo-ni nên biết, ta đối với pháp thiện, tức là suy vi, lui sụt.

Lại nữa, ba căn bất thiện nầy gọi là phiền não chướng, như nói: Thế nào là phiền não chướng? Đáp: Giống như có một người riêng nặng về tham, nghiệp nặng về giận dữ, nghiệp nặng về ngu si. Đó gọi là phiền não chướng.

Lại nữa, ba căn bất thiện nầy, gọi là bụi, như nói: bụi tham, bụi giận dữ, bụi ngu si. Như vết nhơ của bụi, mũi tên, lửa, dao nhọn, thuốc độc, bệnh, phải biết cũng giống như thế.

Hỏi: Sự hoạt động của ba căn bất thiện nầy thế nào?

Đáp: Nếu tâm có tham thì tâm nầy không có giận dữ. Nếu tâm có sự giận dữ thì tâm nầy không có tham. Còn ngu si thì đều có. Vì sao? Vì mọi hoạt động của chúng đều khác nhau. Hành động của tham thì biểu lộ cử chỉ vui mừng, hớn hở. Hành động của giận dữ thì lo buồn.

Lại nữa, khi tâm dục dấy khởi mạnh, thì sẽ làm cho thân mềm mại, nhuần thấm tăng ích. Lúc tâm giận dữ dấy khởi mạnh, sẽ làm cho thân trở nên thô lỗ, mạnh bạo, tổn giảm.

Lại nữa, tâm dục làm cho thân mềm mại, không hại duyên trước, tâm giận dữ làm cho thân thô kệch, mạnh bạo, có thể gia hại duyên trước.

Hỏi: Thế nào là tâm dục làm cho thân mềm mại?

Đáp: Lúc tâm dục biểu hiện ở trước, tự thân mềm mại.

Hỏi: Thế nào là không hại duyên trước?

Đáp: Nếu đối với người đối diện đã sinh lòng yêu mến, thì suốt ngày đêm ngắm nhìn họ không biết chán.

Hỏi: Tâm giận dữ khiến cho thân thô kệch, mạnh bạo là sao?

Đáp: Lúc tâm giận dữ biểu hiện ở trước, sẽ làm cho thân thô bạo.

Hỏi: Thế nào là gia hại duyên trước?

Đáp: Nếu có tâm giận dữ với người đối diện, thì thậm chí không thèm để mắt tới họ.

Ba căn bất thiện nầy là do năm thứ dứt, chung cho sáu thức thân. Thế nào là năm dứt? Nếu phải do kiến đạo dứt, chẳng phải do tu đạo dứt, thì tâm do tu đạo dứt sẽ trở thành không có căn. Nếu phải do tu đạo dứt, chẳng phải kiến đạo dứt, thì tâm do kiến đạo dứt sẽ trở thành không có căn. Vì sao chung cho sáu thức thân? Nếu ở tại ý địa, không ở nơi năm thức thân, thì tâm của năm thức nầy là không có căn? Nếu ở tại năm thức thân, không ở nơi ý địa thì tâm của ý địa nầy trở thành không có căn. Tất cả tâm bất thiện đều lấy ý địa nầy làm căn, tâm đi chung với dục bất thiện.

Có hai thứ căn là tham và vô minh tương ưng. Tâm có sự giận dữ cũng giống như thế. Tâm có si và tâm đều có phiền não khác, có một căn, nghĩa là vô minh.

Hỏi: Căn có nhiều tên: Hoặc nói thân kiến là căn, hoặc nói Đức Thế tôn là căn, hoặc nói dục là căn, hoặc nói không buông lung là căn, hoặc nói tự thể là căn.

Hỏi: Tên của các căn nầy có gì khác nhau?

Đáp: Thân kiến là căn, vì thân kiến nầy chấp ngã, ngã sở, liền sinh ra các kiến.

Đức Thế tôn là căn: Vì lời của Đức Thế tôn đã nói, mặc dù phiền não nầy đã ra khỏi, giải thoát sự ràng buộc, tăng trưởng tịch diệt.

Các pháp v.v… như thế đều sinh ra từ Phật, cho nên Đức Thế tôn là căn.

Dục là căn: Vì có thể gom góp các pháp thiện. Vì sao? Vì nếu có tâm mong muốn, thì sẽ có thể nhóm họp các pháp thiện, nếu không có tâm mong muốn, thì sẽ không thể nhóm họp pháp thiện, cho nên lấy dục làm căn.

Không buông lung là căn: Vì có thể giữ gìn pháp thiện. Nếu người buông lung, đương nhiên không thể gìn giữ pháp thiện, cho nên không buông lung là căn.

Tự thể là căn: Vì tự thể không bỏ tự tánh, cho nên tự thể là căn.

Hỏi: Nếu vậy thì pháp vô vi vừa là căn của tự thể. Vì sao? Vì không bỏ tự tánh?

Đáp: Nếu lấy nghĩa nầy thì không bỏ tự tánh là căn, pháp vô vi cũng không bỏ tự thể, là căn, thì có lỗi gì? Lại có ý muốn loại bỏ lỗi như thế, nên nói rằng: Tự thể là căn, nghĩa là do nhân tương tự là căn của tự thể, vì có thể sinh ra cái khác.

Hỏi: Nếu vậy thì khổ pháp nhẫn và quyến thuộc đều thành không có căn. Vì sao? Vì không có nhân tương tự?

Đáp: Mặc dù không từ nhân tương tự sinh, nhưng vẫn có thể làm nhân tương tự cho người khác. Pháp vô vi cũng không từ nhân tương tự sanh ra, cũng không thể làm nhân tương tự cho người khác

Bình luận: Nên nói rằng: Vì không bỏ tự tánh, nên gọi là căn tự tánh, căn thân kiến, cho đến căn tự thể. Đây là sự khác nhau giữa các căn.

********

 

Ba lậu: là Dục lậu, Hữu lậu và Vô minh lậu.

Hỏi: Thể tánh của ba lậu nầy là gì?

Đáp: Có một trăm lẻ tám thứ:

Dục lậu có bốn mươi mốt thứ, Dục ái có năm thứ, giận dữ có năm thứ, Mạn có năm thứ, Kiến có mười hai thứ, Nghi có bốn thứ, Triền có mười thứ. Bốn mươi mốt thứ nầy là thể của dục lậu.

Hữu lậu có năm mươi hai thứ: Ái có mười thứ, mạn có mười thứ, nghi có tám thứ, kiến có hai mươi bốn thứ.

Năm mươi hai thứ nầy là thể của hữu lậu. Vô minh lậu có mười lăm thứ, vô minh cõi Dục có năm, vô minh cõi Sắc có năm, vô minh cõi Vô sắc có năm. Mười lăm thứ nầy là thể của vô minh lậu.

Một trăm lẻ tám thứ nầy là thể của ba lậu, cũng gọi là một trăm lẻ tám phiền não. Kinh Ba-già-la-na cũng nói: Thế nào là dục lậu? (Đáp: Trừ vô minh lệ thuộc cõi Dục, các triền cấu, kiết, phược, sử lệ thuộc cõi Dục khác, đó gọi là dục lậu.

Thế nào là hữu lậu? Trừ vô minh lệ thuộc cõi Sắc, cõi Vô sắc, các triền cấu, kiết, phược, sử lệ thuộc cõi Sắc, cõi Vô sắc khác, đó gọi là hữu lậu.

Hỏi: Thế nào là vô minh lậu?

Đáp: Không biết ba cõi, đó gọi là vô minh lậu. Vô minh lậu là không biết ba cõi. Nói như thế là tốt, nếu nói rằng: Thế nào là vô minh lậu? Đáp: Duyên theo vô tri của ba cõi, nói như thế nầy thì không gồm nhiếp vô lậu duyên sử. Vì sao? Vì vô lậu duyên sử, không duyên với pháp ba cõi.

Hỏi: Hành vi ác của thân, miệng có phải là phiền não, hay không?

Nếu là phiền não thì tại sao ở đây không nói. Còn nếu chẳng phải phiền não, thì làm sao hiểu Kinh Thức Thân nói? Như nói: Hành vi ác của thân, miệng là bất thiện, chẳng phải kiết, chẳng phải sử, chẳng phải phược, là phiền não chứ chẳng phải triền, nên bỏ, nên dứt, nên biết vì chúng có thể sinh ra báo khổ.

Hoặc có người đáp rằng: Là thể của phiền não.

Nếu vậy Kinh Thức Thân nói khéo hiểu vì sao trong đây không nói?

Đáp: Nên nói hành vi ác của thân, miệng ở trong dục lậu.

Dục lậu có bốn mươi ba thứ nhưng không nói là có ý gì?

Đáp: Nếu thể của pháp là phiền não thì tự thể đó cũng là triền, nói là ở trong dục lậu. Hành vi ác của thân miệng dù là phiền não, nhưng tự thể chẳng phải triền. Vì cho nên không nói ở trong dục lậu.

Lại có thuyết nói: Hành vi ác của thân, miệng, thể của nó chẳng phải phiền não, do vậy nên không nói ở trong dục lậu.

Hỏi: Nếu vậy thì Kinh Thức Thân nói làm sao hiểu được ?

Đáp: Văn Kinh Thức Thân nên nói rằng: Hành vi ác của thân, miệng là bất thiện, chẳng phải kiết, chẳng phải phược, chẳng phải sử, chẳng phải phiền não, chẳng phải triền. Nên xả, nên dứt, nên biết vì sinh ra báo khổ.

Hỏi: Nhưng không nói là có ý gì?

Đáp: Hành vi ác của thân, miệng dù chẳng phải phiền não, nhưng bị phiền não não hại nên gọi là phiền não.

Hỏi: Nếu chẳng phải phiền não, vì bị phiền não gây bực bội nên nói là phiền não, chẳng phải kiết nhưng bị kiết trói buộc, sao không nói là kiết? Chẳng phải phược nhưng bị phược trói buộc sao không nói là phược? Chẳng phải sử nhưng bị sử sai khiến, vì sao không nói là sử?

Chẳng phải triền nhưng bị triền vây bọc vì sao không nói là triền?

Đáp: Nên nói mà không nói, phải biết thuyết nầy chưa rốt ráo.

Lại nữa, vì muốn biểu hiện các thứ thuyết, các thứ văn. Nếu dùng các thứ thuyết, vô số văn để trang nghiêm cho nghĩa, thì nghĩa sẽ dễ hiểu.

Lại nữa, vì thể hiện hai thứ môn, hai thứ lược, hai thứ mới nhập, hai thứ đuốc, hai thứ tướng mạo, hai thứ ảnh văn, hai thứ đều thông. Như chẳng phải phiền não, bị phiền não não hại, nói là phiền não. Chẳng phải kiết vì bị kiết trói buộc nên nói là kiết. Cho đến chẳng phải triền, vì bị vậy bọc do triền nên nói là triền. Như chẳng phải kiết, vì bị kiết trói buộc, không nói là kiết, cho đến chẳng phải triền, vì bị triền vây bọc, không nói là triền.

Cũng thế, chẳng phải phiền não, vì bị phiền não gây não hại, nên nói chẳng phải phiền não.

Cho nên, hiện bày hai thứ môn, cho đến hiện bày hai thứ đều cùng thông hợp, đây là thể của lậu, cho đến nói rộng.

Đã nói thể tánh của lậu. Về lý do nay sẽ nói:

Hỏi: Vì sao gọi là lậu? Lậu là nghĩa gì?

Đáp: Nghĩa lưu trú là nghĩa lậu. Nghĩa ngâm thấm là nghĩa lậu. Nghĩa chảy ra là nghĩa lậu. Nghĩa cầm giữ là nghĩa lậu. Nghĩa ở trong là nghĩa lậu. Nghĩa say sưa là nghĩa lậu. Nghĩa buông lung là nghĩa lậu.

Nghĩa lưu trú là nghĩa lậu: thế nào làm cho chúng sinh lưu trú cõi Dục, cõi Sắc, cõi Vô sắc?

Đáp: Là lậu.

Nghĩa ngâm thấm là nghĩa lậu: Như ngâm ủ hạt giống trong bồn, thì sẽ có mầm mọc ra. Ccũng thế, chúng sinh do hạt giống nghiệp ngâm thấm phiền não trong bồn nên sinh mầm hữu vị lai.

Nghĩa chảy ra là nghĩa lậu: Như suối chảy ra nước, từ vú chảy ra sữa.

Cũng thế chúng sinh ở cửa sáu nhập, chảy ra các lậu.

Nghĩa cầm giữ là nghĩa lậu: Như người bị người khác canh giữ, thì không thể tùy ý du hành bốn phương. Cũng thế, chúng sinh vì bị phiền não cầm giữ trong pháp sinh tử của các đường, các cõi, các loài, nên không thể tự thoát ra.

Nghĩa ở trong là nghĩa lậu: Như người có quỷ ở trong thân, cho nên điều không đáng nói mà nói, không nên làm mà làm, không nên lấy mà lấy, không nên xúc chạm mà xúc chạm. Chúng sinh cũng thế, quỷ phiền não ở trong, nên điều không nên nói mà nói, không nên làm mà làm, không nên xúc chạm mà xúc chạm.

Nghĩa say sưa là nghĩa lậu: Như người uống rượu được làm bằng rễ, cộng, nhánh, lá, hoa, quả v.v… thì tâm thần rối loạn, không còn biết chi cả. Chúng sinh cũng thế, đã uống rượu phiền não thì không hiểu biết gì.

Nghĩa buông lung là nghĩa lậu cũng giống như thế, cho nên nghĩa lưu trú là nghĩa lậu, cho đến nghĩa buông lung là nghĩa lậu.

Phái Thanh Luận giả nói: Lậu gọi là A-la-bà. A cũng nói là giới hạn. La bà cũng nói là lậu. Như nói: Trời mưa có giới hạn đến thành Bà-trá-lê, bố thí có giới hạn đến Chiên-đà-la. Cũng thế hữu lậu có giới hạn đến cõi Hữu Đảnh.

Hỏi: Nếu nghĩa lưu trú là nghĩa lậu thì nghiệp cũng khiến chúng sinh lưu trú trong sinh tử, như nói: Hai nhân, hai duyên mà có sinh tử, cũng làm cho tăng trưởng, nghĩa là nghiệp phiền não. Nghiệp và phiền não làm hạt giống sinh tử, do đó sinh tử rất khó dứt, khó hủy hoại, không hề diệt mất. Nếu người hoặc tám tuổi hoặc mười tuổi được quả A-la-hán, từ đó về sau trong tuổi thọ một trăm năm, phiền não dứt hẳn, vì sức của nghiệp nên lưu trú trong sinh tử, vì sao chỉ nói phiền não là lậu, không nói nghiệp?

Đáp: Vì phiền não là cội rễ của nghiệp, không thể không dứt trừ phiền não mà bỏ nghiệp. Cho nên nói phiền não là lậu, không nói là nghiệp.

Lại nữa, phiền não có thể gây ra nghiệp, vẫn có thể sinh ra báo. Như ném cục đất sét nhão lên vách, vì đất ướt nên dính, đến khi cục đất đã khô, vẫn không rớt xuống, là do lực khi ướt. Cũng thế, chúng sinh vì có phiền não nên gây ra nghiệp, dù phiền não đã dứt, nhưng nghiệp vẫn còn sinh báo.

Lại nữa, nghiệp là nghiệp hoại pháp, hoặc khiến chúng sinh lưu trú trong sinh tử, hoặc là sinh tử mà tạo ra sự đối trị. Phiền não chẳng phải pháp hủy hoại, chỉ vì chúng sinh tạo ra pháp lưu trú.

Lại nữa, vì phiền não đã dứt hết, nên có thể chứng đắc Niết-bàn, không cần nghiệp hết. Nghiệp của A-la-hán vẫn tồn tại như núi, nhưng vì không thọ thân hữu nữa, nên ở Niết-bàn vô dư mà Nhập Niết-bàn.

Vì các nhân duyên nầy, nên nói phiền não là lậu, không nói nghiệp.

Hỏi: Vì sao các phiền não cõi Dục, trừ vô minh, lập dục lậu, các phiền não cõi Sắc, cõi Vô sắc, trừ vô minh, lập hữu lậu, còn vô minh có lập vô minh lậu chăng?

Đáp: Trước đã nói: Nghĩa lưu trú là nghĩa lậu. Chúng sinh ở cõi Dục sở dĩ lưu trú cõi Dục là do tâm trông mong nơi dục, ưa thích, nhiễm đắm về dục, chuyên cầu nơi dục. Do việc nầy, nên các phiền não cõi Dục, trừ vô minh, lập thành dục lậu.

Chúng sinh cõi Sắc, cõi Vô sắc, sở dĩ lưu trú cõi Sắc, cõi Vô sắc, là vì tâm thường trông mong hữu, cho đến chuyên cầu về hữu. Do việc nầy, nên các phiền não cõi Sắc, cõi Vô sắc trừ vô minh, lập ra hữu lậu.

Chúng sinh cõi Dục sở dĩ lưu trú cõi Dục là do vô minh. Chúng sinh cõi Sắc, cõi Vô sắc sở dĩ lưu trú là do vô minh. Cho nên vô minh của ba cõi lập vô minh lậu.

Lại nữa, cõi Dục dù là hữu nhưng chúng sinh phần nhiều đều mong cầu dục, do thường cầu dục, nên các phiền não cõi Dục, trừ vô minh, lập ra dục lậu. Ở cõi Sắc, cõi Vô sắc không có dục, nhưng chúng sinh kia thường tìm kiếm hữu, vì thường mong cầu hữu, nên các phiền não cõi Sắc, cõi Vô sắc, trừ vô minh lập hữu lậu. Các thứ cầu về dục, về hữu đều do vô minh.

Do việc nầy nên vô minh của ba cõi lập vô minh lậu.

Lại nữa, nếu giới có thành, có hoại, là phiền não của giới, trừ vô minh, lập dục lậu. Nếu giới có thành không có hoại, là phiền não của giới, trừ vô minh lập hữu lậu. Ba thiền trở xuống, dù có thành có hoại, nhưng đệ Tứ thiền và cõi Vô sắc có thành không có hoại. Nếu giới có thành có hoại, chúng sinh lưu trú, cũng nhân vô minh. Nếu giới có thành, không có hoại, chúng sinh lưu trú cũng nhân vô minh. Cho nên, vô minh của ba cõi lập thành vô minh lậu.

Lại có thuyết nói về hữu lậu: Vì sao gọi là hữu lậu?

Đáp: Vì chúng sinh ở xứ nầy cầu hữu kia, không ở xứ kia cầu hữu nầy. Phái Thí dụ giả nói: Hai lậu là vô minh lậu và hữu ái lậu. Vì sao? Vì hai kiết nầy là sử căn bản. Vô minh là nhân của duyên khởi quá khứ, hữu ái là nhân của duyên khởi vị lai.

Hỏi: Nếu vậy thì làm sao có đủ ba lậu?

Đáp: Phái Thí dụ giả nói rằng: ái có hai thứ: Hoặc bất thiện hoặc vô ký, hoặc có báo hoặc không có báo, hoặc sinh một quả, hoặc sinh hai quả, hoặc tương ưng với không hổ, không thẹn, hoặc không tương ưng. Các thứ bất thiện có báo, sinh hai quả, tương ưng với không hổ, không thẹn, thì ái ấy lập dục lậu. Do ái nên các phiền não khác, trừ sử vô minh, cũng gọi là dục lậu. Các vô ký, không có báo, sinh một quả, không tương ưng với không hổ, không thẹn, thì ái ấy lập hữu lậu. Do ái nên các phiền não cõi Sắc, cõi Vô sắc khác, trừ sử vô minh, cũng gọi là hữu lậu.

Hỏi: Vì sao do ái nên các phiền não cõi Dục, trừ sử vô minh, lập làm dục lậu cõi Sắc, cõi Vô sắc? Do ái nên các phiền não cõi Sắc, cõi Vô sắc, trừ sử vô minh, được lập là hữu lậu?

Đáp: Do ái nên giới có sai khác, địa có sai khác, chủng loại có sai khác, sinh các phiền não, giải thích rộng như trong ái xứ đã nói.

Hỏi: Vì sao vô minh của ba cõi lập vô minh lậu?

Tôn giả Ba-xa nói: Đức Phật biết chắc chắn về pháp tướng, cũng biết về thế dụng của chúng, người khác không biết. Nếu pháp có khả năng lập riêng lậu thì lập riêng lậu. Nếu pháp nào không thể lập riêng lậu thì pháp đó phải nhóm họp thành lậu.

Lại nữa, nghĩa lưu trú là nghĩa lậu: Lại không có kiết khiến chúng sinh lưu trú như vô minh. Tôn giả Cù-sa nói: Phật biết nhanh chóng nghiêng nặng về gần gũi, chúng sinh lưu trú không gì bằng vô minh, cho nên lập riêng vô minh lậu.

Lại nữa, vì vô minh nên có tham, có giận dữ, có ngu si.

Lại nữa, vô minh có thể khiến cho chúng sinh ngu ở bờ mé trước, ngu ở bờ mé sau, ngu nơi bờ mé trước sau. Ngu đối với pháp nội, ngu đối với pháp ngoại, ngu đối với pháp nội ngoại. Ngu không biết nghiệp, không biết báo, không biết nghiệp báo. Không biết tạo hạnh lành, không biết đã gây hành vi ác, không biết làm lành gây ác. Không biết nhân, không biết pháp từ nhân sinh. Không biết Phật, không biết Pháp, không biết tăng. Không biết khổ, tập, diệt, đạo. Không biết có lỗi, không biết chẳng có lỗi. Không biết xứ gần gũi, không biết xứ không gần gũi. Không biết tốt xấu, pháp bạch, pháp hắc, không biết chung, riêng, không biết pháp do nhân duyên sinh, không thấy biết như thật pháp xứ của sáu xúc.

Lại nữa, vì vô minh khó lìa là lỗi lầm lớn. Mặc dù ái rất khó lìa, nhưng chẳng phải lỗi lầm lớn. Giận dữ dù là lỗi lầm lớn nhưng chẳng phải khó lìa. Vô minh là lỗi lầm lớn, cũng khó có thể xa lìa.

Lại nữa, vô minh nói ở pháp trước. Như nói: Vô minh là tướng ở trước, sinh các pháp ác, bất thiện, không hổ thẹn.

Lại nữa, tự thể của vô minh là xem trọng tạo tác, cũng xem trọng tự thể. Xem trọng: Là đi chung với tất cả sử, cũng có vô minh không chung. Xem trọng tạo tác: Đều có tác nghiệp với tất cả sử, cũng có tác nghiệp không chung.

Lại nữa, vô minh gọi là căn bản, như kệ nói:

Đời nay hoặc đời sau

Sở dĩ đọa đường ác

Vô minh là căn bản

Cũng nhân ở tham dục.

Lại nữa, vô minh còn gọi là Mạn kỳ. Có loài rắn tên Mạn kỳ, tự thân mù, sinh con cũng mù, ai bị rắn nầy cắn, cũng bị mù. Vô minh cũng giống thế, tự mù lòa, cũng khiến cho pháp tương ưng bị mù lòa, ở trong thân chúng sinh, cũng có thể làm cho họ bị mù lòa.

Lại nữa, vô minh ở ba cõi, duyên theo một cõi sinh ngu, nghĩa là cõi Vô sắc. Ở chín địa, duyên theo một địa sinh ngu, nghĩa là xứ Phi tưởng Phi phi tưởng.

Bốn ấm có chín thứ, duyên một thứ sinh ngu, là chủng loại hạ hạ.

Hỏi: Như đã nói ở địa giới khác, chỗ tạo tác của sử Nhất thiết biến cũng thế. Như tà kiến ở ba cõi, duyên theo một cõi, chê bai cõi Vô sắc, nghĩa là bốn ấm cõi Vô sắc. Kiến thủ ở ba cõi, duyên một cõi, chấp là hơn hết, nghĩa là bốn ấm cõi Vô sắc. Giới thủ ở ba cõi, duyên một cõi, chấp là năng tịnh, nghĩa là bốn ấm cõi Vô sắc. Nghi ở ba cõi, duyên một cõi, sinh do dự, nghĩa là bốn ấm cõi Vô sắc. Về địa chủng, nói cũng giống như thế.

Hỏi: Vô minh có việc khác nhau nào?

Đáp: Dù đồng là việc, nhưng vô minh lại có nghĩa khác. Vì sao? Vì cõi khác, cõi Dục, duyên sử vô minh nhất thiết biến có chín thứ: bảy thứ duyên tương ưng với biến sử cõi khác, hai thứ thì mỗi mỗi thứ là vô minh không chung.

Lại có chín thứ, thượng thượng cho đến hạ hạ. Như vô minh cõi Dục, vô minh cõi Sắc, cõi Vô sắc cũng giống như thế. Như địa cõi Dục cho đến địa của Phi tưởng Phi phi tưởng xứ cũng giống như thế.

Vì vô minh có vô lượng xứ sở, vô lượng môn như thế, khiến cho chúng sinh ngu. Cho nên vô minh của ba cõi, lập riêng vô minh lậu.

Lại nữa, vô minh ở trước, cùng khắp, hiểu tất cả mọi nơi. Ở trước, nghĩa là vì bị vô minh che lấp, nên đối với khổ không nhẫn, không chấp nhận, không muốn nghe nói. Đối với tập, diệt, đạo cũng thế. Giống như người đói khát được ăn no thức ăn dở, người ấy tuy được thức ăn ngon, nhưng không thể ăn được nữa. Như thức ăn dở vô minh, trước đã ở trong thân chúng sinh, dù chúng sinh ấy có gặp thức ăn ngon thượng diệu là bốn đế, nhưng không thể thọ nhận… Vì không thể thọ nhận, nên đối với Đế bèn sinh tâm nghi là có khổ nầy hay không có khổ nầy? Cho đến có đạo nầy hay không có đạo nầy?

Cũng thế, vô minh mà sinh tâm nghi, gẳn sẽ quyết định nếu gặp chánh thuyết, thì được chánh quyết định, nói có khổ, tập, diệt, đạo. Nếu gặp phải tà thuyết, sẽ dẫn đến tà quyết định, nói không có khổ, tập, diệt, đạo.

Cũng thế, tâm nghi sinh ra tà kiến, họ nghĩ rằng: Nếu không có khổ, tập, diệt, đạo, thì nên có ngã. Tà kiến như thế sinh ra thân kiến. Họ lại nghĩ rằng: Ngã nầy là đoạn hay thường? Nếu thấy ngã tương tự nối tiếp nhau, liền cho là thường. Đó gọi là thường kiến. Nếu thấy ngã hư hoại không nối tiếp nhau, thì cho là đoạn. Đó gọi là dứt kiến. Hai kiến nầy gọi là biên kiến.

Thân kiến như thế, sinh ra biên kiến. Đối với ba kiến nầy, mỗi kiến chấp cho là năng tịnh nầy. Kiến nầy có thể tịnh, có thể được giải thoát, có thể ra khỏi. Đó gọi là giới thủ. Biên kiến như thế sinh ra giới thủ. Họ nghĩ rằng: Kiến nầy có thể tịnh, có thể giải thoát, có thể ra khỏi: Kiến nầy tức là bậc nhất. Đó gọi là kiến thủ.

Cũng thế, giới thủ sinh ra kiến thủ. Đối với điều mình có thể nhận thấy, sinh ra ái. Mình không thể thấy, người khác thấy thì sinh giận dữ. Đối với các kiến khởi tự cao là mạn. Đó gọi là vô minh sinh ra sử, sử sinh ra triền. Triền là mười triền: Tức từ phẫn v.v… cho đến không thẹn. Triền phẫn (giận), triền tật (ganh ghét) dựa vào giận dữ. Triền phú (che giấu) hoặc có thuyết nói là dựa vào ái. Vì sao? Vì ái nên che giấu tội của mình. Hoặc có thuyết nói là dựa nơi vô minh. Vì sao? Vì không hiểu biết nên che giấu tội mình.Triền thùy, triền miên, triền không hổ dựa vào vô minh. Triền trạo (trạo cử), triền san (bỏn sẻn), triền không thẹn dựa vào ái. Triền hối dựa vào nghi. Sáu sử cấu uế vừa dựa vào sử, vết nhơ của sử hận sử hại dựa vào giận dữ, vết nhơ của sử ương bướng dựa vào kiến thủ. Vết nhơ của sử lừa dối, vết nhơ của sử tự cao dựa vào ái, vết nhơ của sử dua nịnh dựa vào năm kiến.

Vì vô minh sinh ra các phiền não như vậy, cho nên nói là ở trước.

Hiện bày khắp, nghĩa là từ địa ngục A-tỳ lên đến cõi trời Hữu Đảnh. Ở giữa đều có, chung cho tất cả xứ, nghĩa là không cần có khoảng sát-na, cũng có thể làm nhân duyên cho tất cả năm hành. Sử mà tất cả năm hành dứt trừ, tất cả năm hành dứt trừ. Vì chung tất cả xứ, nên trong nhất thiết biến, trong nhất thiết biến của địa khác, trong duyên hữu lậu, trong duyên vô lậu, trong duyên hữu vi, trong duyên vô vi, các xứ như thế v.v… đều có, đi chung chung với tất cả phiền não, như dầu ở trong mè, chất béo ở trong cục mỡ.

Do vô minh ở trước, ở khắp tất cả mọi nơi, cho nên vô minh của ba cõi được lập thành vô minh lậu.

Kinh Phật nói: Do tư duy bất chánh nên dục lậu chưa sinh khiến sinh. Dục lậu đã sinh khiến cho nó được tăng trưởng. Hữu lậu, vô minh lậu cũng giống như vậy.

Hỏi: Có ngần ấy phiền não sinh, tức ngần ấy phiền não diệt. Vì sao? Vì phiền não trước, sau không sinh chung làm sao dục lậu sinh mà được tăng trưởng rộng?

Đáp: Vì có hạ, trung, thượng, nên nói là tăng trưởng rộng. Phiền não phẩm hạ làm duyên cho phiền não phẩm trung, phiền não phẩm trung làm duyên cho phiền não phẩm thượng. Vì làm duyên cho các phẩm phiền não hạ, trung, thượng, nên gọi là tăng trưởng rộng.

Lại nữa, vì tạo nên duyên thứ đệ nên gọi là tăng rộng. Nếu phiền não trước chưa sinh thì sẽ không làm duyên thứ lớp cho phiền não sau. Nếu sinh là làm duyên.

Lại nữa, nếu phiền não trước chưa sinh, thì sẽ không làm nhân tương tự, nhân nhất thiết biến cho phiền não sau. Nếu sinh, thì sẽ làm nhân nhất thiết biến, nhân tương tự.

Lại nữa, nếu phiền não chưa sinh, thì sẽ không thể cho quả, nhận lấy quả. Nếu đã sinh thì có thể nhận lấy quả, cho quả.

Tôn giả Hòa-tu-mật nói: Kinh Phật nói: Vì tư duy bất chánh nên sinh dục lậu. Dục lậu đã sinh, có thể làm cho tăng trưởng rộng. Hữu lậu, vô minh lậu cũng giống như thế.

Hỏi: Phiền não nầy có nhiều chăng?

Đáp: Không nhiều, phiền não chưa sinh mà sinh, đã sinh lại sinh nữa, nên gọi là thêm rộng.

Lại nữa, phiền não không nhiều, nói là thêm rộng, vị lai có phiền não sinh rồi lại sinh, lại không gọi là vị lai, nên gọi là tăng rộng.

Lại nữa, phiền não không nhiều, nói là thêm rộng, vì thường sinh. Nếu một phiền não sinh, tư duy bất chánh, không dựa vào đối trị, thì hai sinh, ba sinh, cho đến trăm sinh, ngàn sinh.

Lại nữa, phiền não không nhiều, nói là tăng rộng, chỉ vì thường sinh, chuyển biến thêm nặng, nên sinh phiền não phẩm hạ, tư duy bất chánh, không dựa vào sự đối trị, tức sinh ở phẩm trung, phẩm trung tức sinh lên phẩm thượng.

Lại nữa, phiền não không nhiều, nói là thêm rộng, chỉ vì cảnh giới của hành chuyển biến, như duyên sắc mà sinh phiền não, không chánh tư duy, không dựa vào đối trị, lại duyên theo thanh, hương, vị, xúc, pháp sinh.

Tôn giả Phật-đà-đề-bà nói: trong một đời, hành nhiều phiền não, nói là tăng rộng. Người còn ràng buộc, phiền não không có thêm bớt. Tất cả chúng sinh, phiền não đều bình đẳng, bình đẳng đọa địa ngục Atỳ, trên đến cõi Hữu Đảnh. Nhưng các phiền não, có người hành nhiều, có kẻ hành ít. Ai hành nhiều? Đó là các người không chánh tư duy, không dựa vào sự đối trị. Ai hành ít? Đó là những người chánh tư duy, nương pháp đối trị. Kinh Phật nói: Bảy lậu nầy thường làm tổn hại, làm sinh ra nóng nảy, bậc bội và nỗi lo lắng khổ sở.

Hoặc hữu lậu là do kiến đạo dứt trừ, cho đến nói rộng.

Hỏi: Nghĩa thật có ba lậu: Dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu, vì sao nói bảy lậu?

Đáp: Đức Thế tôn dùng lậu để nói đủ về lậu, như trong kinh chỗ nào cũng nói lậu đầy đủ kia. Lậu kia đã được nói rộng như trên. Ở đây cũng giống như thế, lậu, nói đủ là lậu.

Tôn giả Ba-xa nói: Phật đã nói ba lậu rồi, lại có chúng sinh khác đến trong pháp hội. Vì xót thương họ nên Đức Phật đã dùng nghĩa nầy, lại dùng văn khác, câu khác, khiến các chúng kia hóa độ, nên nói bảy lậu.

Lại nữa, người căn tánh nhạy bén đã hiểu, vì kẻ căn tánh chậm lụt nên nói như thế. Như căn tánh nhạy bén, căn tánh chậm lụt, sức của nhân, sức của duyên, sức trong, sức ngoài, dựa vào sức của chánh tư duy bên trong, dựa vào sức nghe pháp bên ngoài, phải biết cũng giống như thế.

Tôn giả Phú-na-da-xa nói: Nghĩa thật của kinh Phật nói có hai lậu, nghĩa là lậu, do kiến đạo dứt, và lậu do tu đạo dứt. Lậu do kiến đạo dứt tức lậu tự nói tên. Lậu do tu đạo dứt dùng đối trị để nói tên. Đối trị có hai thứ:

  1. Đối trị dứt trong giây phút.
  2. Đối trị dứt căn bản.

Năm thứ đầu nói là đối trị dứt trong giây phút. Một thứ sau gọi là đối trị dứt căn bản.

Kinh Phật nói: Nếu có kiến như thế, sẽ được giải thoát đối với tâm dục lậu, sẽ được giải thoát đối với tâm vô minh lậu, hữu lậu.

Hỏi: Như khi lìa dục ái, tâm dục lậu được giải thoát, khi lìa ái của Phi tưởng Phi phi tưởng xứ, tâm vô minh lậu, hữu lậu được giải thoát. Vì sao trong một thời gian Đức Phật nói về tâm ba lậu được giải thoát?

Đáp: Đã giải thoát, nói là nay đang giải thoát, như nói: Đại vương từ nơi nào đến? Đã đến nói là đến, nói rộng như trên.

Lại nữa, hai pháp nầy vì đều có một thời gian diệt, nên không còn hiện nữa, tức nói là. Đều có, nghĩa là dục lậu, vô minh lậu, hữu lậu. Vô minh lậu, khi lìa ái dục, dù dứt trừ các dục đều có của người kia, mà chưa diệt hẳn. Lúc lìa ái của Phi tưởng Phi phi tưởng xứ, các dục của người kia đều cùng diệt vĩnh viễn.

Lại nữa, vì chứng chung nên nói như thế. Khi lìa dục cõi Dục, chứng tỏ dục lậu đã dứt. Lúc lìa dục của phi tưởng Phi phi tưởng là chứng chung ba lậu đã dứt.

Lại nữa, vì đồng chứng được một vị giải thoát, nên khi lìa dục, là đã chứng được một vị giải thoát của dục lậu. Lúc lìa ái của Phi tưởng, Phi phi tưởng, là đã chứng được một vị giải thoát của ba lậu.

Lại nữa, vì dùng diệt để tác chứng, nên nói như thế, như nói: Lúc được quả A-la-hán, là chứng chín mươi tám sử diệt.

Lại nữa, vì A-la-hán đã được pháp trí, nên nói như thế. Người học được pháp trí, là sự đối trị cõi Dục, khi lìa dục của Phi tưởng Phi phi tưởng xứ. Người Vô học được pháp trí, là sự đối trị cõi Dục.

Lại nữa, người Vô học vì lìa được ràng buộc của Vô học, nên nói như thế. Khi lìa dục cõi Dục, người học lìa được ràng buộc, lúc lìa dục của Phi tưởng Phi phi tưởng xứ. Người Vô học lìa được ràng buộc.

Lại nữa, đã dứt không nối tiếp nhau, lại nối tiếp nhau, nên nói như thế. Chúng sinh không có bờ mé trước, thường dứt dục lậu, lại nối tiếp với hữu lậu, vô minh lậu. Nếu khi lìa dục của Phi tưởng Phi phi tưởng xứ, pháp nối tiếp nhau, không còn nối tiếp nhau nữa.

Lại nữa, vì duyên không đủ, nên nói rằng. Chúng sinh không nói hữu lậu, vô minh lậu của bờ mé trước, làm ba duyên cho dục lậu, đó là duyên oai thế, duyên cảnh giới, duyên thứ lớp. Nếu lìa dục của Phi tưởng Phi phi tưởng xứ thì duyên không đủ.

Lại nữa, vì đối trị với lỗi lầm, nên nói như vầy: Hành giả khi lìa dục của Phi tưởng Phi phi tưởng xứ, lại sinh tưởng lỗi lầm đối với dục lậu, nói về sự xấu ác, cấu uế của dục lậu đó, rồi diệt trừ, dứt bỏ chúng. Lậu nầy từ vô thủy đến nay thường ẩn nấp với ta, thường lừa dối ta. Nay đã thoát khỏi dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu, cho nên vì đối trị lỗi lầm, nên nói như thế.

Hỏi: Vì sao năm ấm của A-la-hán được giải thoát, Đức Thế tôn chỉ nói là tâm được giải thoát?

Đáp: Vì Đức Thế tôn lấy tâm làm đầu, nên nói tâm được giải thoát, năm ấm cũng được giải thoát.

Lại nữa, vì tâm gọi là hơn, nên nghĩa cũng hơn. Cái gì trong nhóm giải thoát kia là hơn? Tâm là hơn. Giống như vua và quyến thuộc đều cùng chạy, nhưng chỉ nói là vua chạy, tâm kia cũng giống như thế.

Lại nữa, vì tâm nên số pháp được gọi là tâm sở. Vì tâm lớn, nên pháp số được gọi đại địa.

Lại nữa, khi chứng tha tâm trí thông, trong đạo vô ngại chỉ duyên tâm, không duyên tâm sở, nói rộng như nơi tâm xứ đã nêu.

Bốn lưu: Dục lưu, hữu lưu, kiến lưu và vô minh lưu.

Hỏi: Thể tánh của bốn lưu là gì?

Đáp: Có một trăm lẻ tám thứ: Dục lưu có hai mươi chín thứ: Ái có năm thứ, giận có năm thứ, mạn có năm thứ, nghi có bốn thứ, triền có mười thứ.

Hữu lưu có hai mươi tám thứ: Ái có mười thứ, mạn có mười thứ, nghi có tám thứ.

Kiến lưu có ba mươi sáu thứ: Cõi Dục có mười hai thứ, cõi Sắc có mười hai xứ, cõi Vô sắc có mười hai thứ.

Vô minh lưu có mười lăm thứ: Cõi Dục có năm thứ, cõi Sắc có năm thứ, cõi Vô sắc có năm thứ.

Một trăm lẻ tám thứ nầy là thể của bốn lưu, cho đến nói rộng, cũng gọi là một trăm lẻ tám phiền não.

Đã nói thể tánh của bốn lưu, về lý do nay sẽ nói:

Hỏi: Vì sao gọi là lưu? Lưu có nghĩa gì?

Đáp: Nghĩa trôi nổi là nghĩa lưu, nghĩa chảy xuống là nghĩa lưu, nghĩa rơi rớt là nghĩa lưu.

Nghĩa trôi nổi là nghĩa lưu: Các chúng sinh trôi nổi, lệ thuộc trong sinh tử của các giới, các đường, các loài.

Nghĩa chảy xuống là nghĩa lưu: Các chúng sinh chảy xuống trong sinh tử của các giới, các đường, các loài.

Nghĩa rơi rớt là nghĩa lưu: Các chúng sinh rơi rớt trong sinh tử của các giới, các cõi, các loài.

Hỏi: Nếu nghĩa trôi nổi, nghĩa chảy xuống, nghĩa rơi rớt là nghĩa lưu, thì kiết phần trên sẽ không có nghĩa phần trên. Vì sao? Vì kiết phần trên là khiến cho các chúng sinh hướng lên trên, đi lên trên, khiến lên trên, nối tiếp nhau sinh?

Đáp: Nghĩa phần trên khác, nghĩa lưu khác, do giới nên lập ra kiết phần trên. Vì sao? Vì kiết nầy khiến các chúng sinh đều hướng lên trên, đi lên trên, khiến lên trên, nối tiếp nhau sinh. Vì giải thoát chánh hạnh, thực hành thích đáng phần pháp thiện của Thánh đạo, nên nói là lưu. Vì sao? Vì chúng sinh dù sinh trong Hữu Đảnh, nhưng vẫn bị nổi trôi do lưu, nên không thực hành thích đáng phần pháp thiện của Thánh đạo để đạt đến giải thoát.

Cho nên Tôn giả Cù-sa đã nói rằng: Mặc dù chúng sinh đã sinh từ lâu ở địa trên, nhưng vẫn còn bị trôi nổi do lưu, bị ách đè giữ.

Tôn giả Bà-ma-lặc nói: Vì thường hiện hành phiền não tăng thượng, nên gọi là lưu.

Hỏi: Vì sao trong các kiến lưu lập kiến lưu, trong ách lập kiến ách, trong thủ lập kiến thủ, còn trong lậu sao không lập kiến lậu?

Đáp: Tôn giả Ba-xa nói: Vì Đức Phật đã biết rõ về pháp tướng, cũng biết rõ thế dụng của chúng mà người khác thì không biết.

Nếu pháp có thể lập riêng thì lập riêng. Nếu pháp cần nhóm họp lại mới có thể lập thì sẽ nhóm họp lại để lập.

Lại nữa, các kiến thì vội vàng, sở hành mạnh mẽ, không đứng ở một chỗ.

Còn nghĩa lưu trú là nghĩa lậu: Vì kết hợp với các phiền não ngu độn, ở lại lâu nên lập lậu. Các kiến thuận theo nghĩa trôi nổi, lập các chúng sinh trôi nổi, đứng trong dòng chảy, rơi vào nơi sinh tử của các giới, các đường, các loài, cho nên lập riêng kiến lưu. Cũng như một cỗ xe dùng hai con bò với tánh đều nhanh nhẹn, thì cỗ xe đó sẽ bị phá vỡ. Nếu một con chậm, một con nhanh, thì chúng sẽ ngăn giữ với nhau, cỗ xe sẽ không hư. Kiến lưu kia cũng giống như thế.

Lại nữa, các kiến nầy tánh của chúng rất động, thuận theo với pháp lìa dục, không thuận theo pháp lưu trú. Còn nghĩa lưu trú là nghĩa lậu, kết hợp với phiền não ngu, độn ở lại lâu nên lập lậu. Vì thuận theo với nghĩa trôi nổi nên lập lưu.

Hỏi: Nếu tánh của các kiến động, thuận theo với pháp lìa dục thì vì sao lại lập kiến lưu?

Đáp: Vì ngoại đạo. Các ngoại đạo đã tìm xét các kiến, ở trong sinh tử càng thêm che phủ, chìm mất. Ví như voi già bị té xuống vũng bùn lầy, nếu muốn nhúc nhích thân để tìm cách ra khỏi thì lại càng bị lún xuống sâu, mất hút. Kiến kia cũng giống như vậy.

Phái Tỳ-bà Xà-bà-đề lập các kiến làm kiến lậu, nói có bốn lậu: Dục lậu, Hữu lậu, Kiến lậu và Vô minh lậu. Như Dục lưu của chúng ta là Dục lậu của người kia, cho đến Vô minh lưu của chúng ta là Vô minh lậu kia. Phái ấy dù nói như thế, nhưng cũng không cần hỏi, cũng chẳng cần đáp.

Bốn ách: Ách dục, ách hữu, ách kiến và ách vô minh. Như nói về lưu, ách cũng giống như thế. Thể của chúng không khác, về nghĩa thì có khác.

Nghĩa trôi nổi là nghĩa lưu. Nghĩa trói buộc là nghĩa ách. Chúng sinh bị dòng chảy làm trôi nổi, bị trói buộc do ách, phải gánh vác xe sinh tử, như con bò, dùng dây buộc chặt vào chiếc ách, dùng gậy đánh vào lưng nó mới chịu kéo xe. Ách kia cũng giống như thế.

Cho nên trong các kinh luận đều nói lưu, sau đó mới nói ách.

Bốn thủ là Dục thủ, kiến thủ, giới thủ và ngã ngữ thủ.

Hỏi: Thể tánh của bốn thủ là gì?

Đáp: Có một trăm lẻ tám thứ: Dục thủ có ba mươi bốn thứ: Ái có năm thứ, giận dữ có năm thứ, mạn có năm thứ, vô minh có năm thứ, nghi có bốn thứ, triền có mười thứ.

Kiến thủ có ba mươi thứ: Cõi Dục có mười thứ, cõi Sắc có mười thứ, cõi Vô sắc có mười thứ.

Giới thủ có sáu thứ: Cõi Dục có hai thứ, cõi Sắc có hai thứ, cõi Vô sắc có hai thứ.

Ngã ngữ thủ có ba mươi tám thứ: Ái có mười thứ, mạn có mười thứ, vô minh có mười thứ, nghi có tám thứ.

Một trăm lẻ tám thứ nầy là thể của bốn thủ, cho đến nói rộng, cũng gọi là một trăm lẻ tám phiền não.

Đã nói thể tánh của bốn thủ. Về lý do nay sẽ nói:

Hỏi: Vì sao gọi là Thủ?

Đáp: Vì ba việc nên gọi là thủ:

  1. Do lệ thuộc.
  2. Do cầm giữ chặt.
  3. Do chọn lựa.

Lại nữa, vì hai việc nên gọi là Thủ:

  1. Làm cho nghiệp lừng lẫy.
  2. Thể tánh mạnh mẽ.

Làm cho nghiệp lừng lẫy: Khiến các nghiệp của chúng sinh trong năm đường thường lừng lẫy.

Thể tánh mạnh mẽ: Vì tuệ sáng.

Thủ là nghĩa gì? Nghĩa củi là nghĩa thủ, nghĩa vây buộc là nghĩa thủ. Nghĩa đâm, hại là nghĩa thủ.

Nghĩa củi là nghĩa thủ: Như vì duyên củi, nên lửa hừng hực. Chúng sinh cũng vậy, do phiền não nên lửa nghiệp bốc cháy.

Nghĩa vây buộc là nghĩa thủ: Như con tằm dùng kén gói mình lại, và chết ở trong đó. Cũng thế, chúng sinh dùng phiền não tự trói buộc mình rồi chết trong đường ác.

Nghĩa đâm, hại là nghĩa thủ: Như vật bén nhọn đâm vào thân, bị não hại. Lấy vật bén nhọn đâm vào pháp thân cũng giống như thế. Cho nên nghĩa củi, nghĩa vây bọc, buộc trói, nghĩa đâm, hại là nghĩa thủ.

Hỏi: Vì sao lập vô minh lậu trong lậu, lập vô minh lưu trong lưu, lập vô minh ách trong ách? Vì sao trong thủ không lập vô minh thủ?

Đáp: Tôn giả Ba-xa nói: Đức Thế tôn biết rõ chắc chắn về pháp tướng, cũng biết về thế dụng của chúng, trong khi người khác không biết. Nếu pháp có thể lập riêng thì nên lập riêng. Nếu pháp cần nhóm họp mới có thể lập thì nên nhóm họp lại để lập.

Lại nữa, trước nói rằng: Vì ba việc nên gọi là thủ:

  1. Vì lệ thuộc.
  2. Vì nắm giữ chặt.
  3. Vì chọn lựa.

Vô minh dù có nghĩa lệ thuộc, nghĩa giữ chặt nhưng không có nghĩa lựa chọn. Vì sao? Vì người mạnh mẽ mới có thể lựa chọn, vô minh thì không mạnh mẽ.

Lại nữa, trước kia đã nói lời nầy: Vì hai sự nên gọi là thủ:

  1. Làm nghiệp lừng lẫy.
  2. Nơi hiện hành mạnh mẽ.

Mặc dù vô minh có thể làm cho nghiệp lừng lẫy, nhưng chỗ hiện hành không mạnh mẽ, vì ngu nhỏ nên không mạnh mẽ, không quyết định.

Hỏi: Vì sao trong năm kiến, bốn kiến lập kiến thủ, một kiến lập giới thủ?

Đáp: Tôn giả Ba-xa nói: Đức Thế tôn biết rõ chắc chắn về pháp tướng, cũng biết thế dụng của chúng, người khác không biết. Nếu pháp có thể lập riêng, thì lập riêng thủ, nếu pháp cần nhóm họp mới có thể lập thì nhóm họp để lập.

Lại nữa, trước kia đã nói rằng: Do hai việc nên gọi là thủ:

  1. Làm cho nghiệp lừng lẫy.
  2. Chỗ hiện hành mạnh mẽ.

Một kiến là giới thủ làm hưng thịnh nghiệp của chúng sinh trong năm đường, bình đẳng với bốn kiến kia.

Tôn giả Cù-sa nói: Phật biết một kiến giới thủ là nhanh chóng, riêng trọng về gần, làm cho nghiệp của chúng sinh lẫy lừng, chẳng phải bốn kiến còn lại, cho nên lập riêng giới thủ.

Lại nữa, vì giới thủ ganh với đạo, xa cách giải thoát.

Ganh với đạo, nghĩa là bỏ tám chánh đạo vi diệu, thực hành các thứ khổ hạnh, nghĩ đó là tịnh, như không ăn, nằm trên tro than, thân hướng về ánh nắng mặt trời, hớp không khí, uống nước, ăn trái cây, đi, nằm trên củi gai, mặc áo rách v.v…

Xa cách giải thoát: Vì tu tà đạo nên càng xa cách giải thoát. Lại nữa, do giới thủ có thể lừa dối hai loại người là nội đạo, ngoại đạo. Lừa dối nội đạo là sao? Như rửa tay chân, thực hành mười hai hạnh đầu- đà, nghĩ đó là tịnh. Lừa dối ngoại đạo là sao? Như tự nhịn đói, nằm trên tro than, hành các thứ khổ hạnh, nghĩ đó là tịnh.

Vì thế, Tôn giả Cù-sa nói rằng: Các hành thanh tịnh như thế v.v…đều là pháp mà thế gian thực hành, hiện thấy. Lừa dối nội đạo, ngoại đạo, như đánh lừa trẻ con.

Hỏi: Vì sao nói là ngã ngữ thủ? Vì do sở hành hay do cảnh giới? Nếu do sở hành là ngã ngữ thủ, thì thân kiến lẽ ra cũng là ngã ngữ thủ? Vì sao? Vì thực hành hành của ngã. Nếu do cảnh giới, thì trong cảnh giới không có ngã?

Hoặc có người đáp rằng: Vì không do sở hành, cũng không do cảnh giới. Vì nếu do nơi chốn hành là ngã ngữ thủ thì thân kiến nên là ngã ngữ thủ. Vì sao? Vì thực hành theo hành của ngã. Cũng không do cảnh giới, vì trong cảnh giới không có ngã, chỉ do các phiền não cõi Dục, trừ kiến còn lại là lập dục thủ. Các phiền não cõi Sắc, cõi Vô sắc, trừ kiến, lập ngã ngữ thủ.

Hỏi: Vì sao các phiền não cõi Dục, trừ kiến, lập dục thủ, các phiền não cõi Sắc, cõi Vô sắc, trừ kiến, lập ngã ngữ thủ?

Đáp: Các phiền não cõi Dục, lúc do dục tạo ra thân mình, phải đi chung, cần có cảnh giới, cần gồm đủ. Các phiền não cõi Sắc khi tạo ra thân mình, không do dục, không cần đi chung, không cần cảnh giới, không cần gồm đủ.

Lại nữa, các phiền não cõi Dục, do dục nên sinh, do cảnh giới nên sinh, do sự gồm đủ nên sinh, do người khác nên sinh niềm vui. Các phiền não cõi Sắc, cõi Vô sắc không do dục, không do cảnh giới, không do sự gồm đủ, không do người khác sinh niềm vui, chỉ do ngã mà sinh.

Lại nữa, các phiền não cõi Dục không do định, có thể tạo ra thân mình, cũng do vật nội, cũng do vật ngoại. Các phiền não cõi Sắc, cõi Vô sắc, thì do định tạo ra thân mình, do vật nội, không do vật ngoại.

Lại nữa, các phiền não cõi Dục, không thể tạo ra thân mình rộng lớn, cũng không nối tiếp nhau lâu xa. Các phiền não cõi Sắc, cõi Vô sắc, có thể tạo nên thân rộng lớn, nối tiếp nhau lâu xa. Như trời A-canị-trá, thân cao một vạn sáu ngàn do-tuần. Cho nên các phiền não cõi Dục, trừ kiến, lập ra dục thủ. Các phiền não cõi Sắc, cõi Vô sắc, trừ kiến, lập ngã ngữ thủ.

Kinh Phật nói bốn thủ nầy đều lấy vô minh làm gốc, do vô minh sinh, do vô minh chứa nhóm.

Hỏi: Như các kinh đều nói là ái duyên thủ, vì sao trong đây lại nói lấy vô minh làm gốc, cho đến nói rộng?

Đáp: Vì nhân gần, nên nói ái duyên thủ. Do nhân xa nên nói vô minh là gốc, nhân tập. Như gần, xa, ở đây, ở kia, đi chung, không đi chung, thân nầy, thân khác, nói cũng giống như thế.

Lại nữa, vì nhân tương tự, nên nói ái duyên thủ. Vì nhân tương tự, nhân nhất thiết biến, nên nói vô minh là gốc, nhân tập.

Lại nữa, vì các ngoại đạo nên nói rằng: Các ngoại đạo không có nhà ở, cũng không chứa nhóm, không tham đắm cảnh giới, vì gây ra các hành vi ác, nên bị đọa vào đường ác.

Hỏi: Như ái được gồm nhiếp trong thủ, vì sao nói ái duyên thủ?

Đáp: Bắt đầu sinh ái, gọi là ái, tăng rộng gọi là thủ, nên gọi là ái duyên thủ.

Lại nữa, dưới gọi là ái, trên gọi là thủ.

Bốn phược: Phược tham thân, phược giận thân, phược giới thủ thân, phược kiến thủ thân.

Hỏi: Thể tánh của bốn phược là gì?

Đáp: Có hai mươi tám thứ: Phược tham thân là dục ái có năm thứ, chung cho sáu thức thân.

Phược giận thân có năm thứ, chung cho sáu thức thân.

Phược giới thủ thân, ba cõi có sáu thứ.

Phược kiến thủ thân, ba cõi có mười hai thứ.

Hai mươi tám thứ nầy là thể của bốn phược, cho đến nói rộng.

Đã nói thể tánh của bốn phược. Về lý do nay sẽ nói:

Hỏi: Vì sao gọi là phược? Phược có nghĩa gì?

Đáp: Nghĩa trói buộc là nghĩa phược. Nghĩa nối tiếp nhau là nghĩa phược.

Nghĩa trói buộc là nghĩa phược: Bốn phược nầy đồng trói buộc chúng sinh, trói buộc rồi, lại trói buộc. Kinh Tập Pháp cũng nói: Nếu không dứt tham, không biết tham đều là nhân duyên thọ thân của tất cả xứ, đều trói buộc chúng sinh, trói buộc rồi, lại trói buộc nữa. Ví như người thợ kết tràng hoa khéo léo và học trò của ông ta đã dùng các thứ hoa chất từng khóm ở trước, sau đó dùng chỉ xâu tạo thành các tràng hoa, là nhân của hoa, cũng là duyên của hoa, đồng buộc các hoa, buộc rồi lại buộc. Phược kia cũng giống như thế.

Phược giận thân, phược giới thủ thân, phược kiến thủ thân, nói cũng giống như thế.

Nghĩa nối tiếp nhau là nghĩa phược: Như kinh nói: Vì ba việc nên vào thai mẹ.

  1. Cha mẹ đều có tâm nhiễm.
  2. Người mẹ không bệnh, cũng lại là lúc gặp.
  3. Kẻ thọ thân hiện ở trước, hoặc có tâm dục, hoặc có tâm giận dữ.

Vì việc nầy, nên nghĩa nối tiếp nhau là nghĩa phược.

Hỏi: Nếu nghĩa trói buộc là nghĩa phược. Các phiền não khác không thuộc về phược, cũng trói buộc chúng sinh, đồng trói buộc trong sinh tử, trói buộc xong lại trói buộc. Bốn phược có nghĩa nào khác hay không Đức Thế tôn lại lập riêng là phược?

Đáp: Đây là lời chưa trọn vẹn của Đức Thế tôn, cho đến nói rộng.

Tôn giả Ba-xa nói: Đức Thế tôn biết rõ chắc chắn về pháp tướng, cũng biết thế lực công dụng của chúng mà người khác không biết.

Nếu pháp có tướng của phược thì lập phược, không có thì không lập.

Tôn giả Cù-sa nói: Phật biết bốn phược đều trói buộc chúng sinh, trói buộc rồi, lại trói buộc, nhanh chóng nghiêng về một bên gần, chẳng phải phiền não khác, cho nên lập phược.

Lại nữa, phược nầy đối với các phiền não, trói buộc người tại gia, xuất gia.

Phược tham thân, phược giận thân, trói buộc riêng nơi người tại gia.

Phược giới thủ thân, phược kiến thủ thân, trói buộc riêng người xuất gia.

Như tại gia, xuất gia, có nhà, không nhà, có chứa nhóm, không chứa nhóm, phải biết cũng giống như thế.

Lại nữa, bốn phược ràng buộc riêng nặng chúng sinh ba cõi.

Phược tham thân, phược giận thân, ràng buộc riêng nặng chúng sinh cõi Dục.

Phược giới thủ thân, phược kiến thủ thân, ràng buộc, riêng nặng chúng sinh cõi Sắc, cõi Vô sắc.

Lại nữa, bốn phược nầy là căn bản tranh chấp của hai thứ sử.

Phược tham thân, phược giận thân, có thể khởi căn bản tranh chấp của sử ái, giận.

Phược giới thủ thân, phược kiến thủ thân có thể khởi căn bản tranh chấp của sử kiến. Như kinh nói: Bà-la-môn Chấp Trượng Trì Táo Quán đến chỗ Tôn giả Ca-chiên-diên, hỏi rằng: Vì nhân duyên gì Sát-lợi lại tranh chấp với Sát-lợi, Bà-la-môn lại tranh chấp với Bà-la-môn, hàng Tỳ-xá lại cùng tranh chấp với Tỳ-xá, hàng Thủ-đà lại cùng tranh chấp với Thủ-đà?

Tôn giả Ca-chiên-diên đáp: Nầy Bà-la-môn! Những hạng kia do tham đắm ái dục nên Sát-lợi lại tranh chấp với Sát-lợi, cho đến Thủ-đà lại tranh chấp với Thủ-đà.

Lại hỏi: Người xuất gia không có nhà ở, không có chất chứa, vậy do nhân duyên gì lại tranh chấp với nhau?

Tôn giả Ca-chiên-diên-tử đáp: Vì mỗi người đối với kiến giải của mình đều khởi ái chấp. Như căn bản của hai sự tranh chấp, hai bên, hai mũi tên, hai hý luận, hai đường, phải biết cũng giống như thế.

Lại nữa, môn hiện có nầy, hiện tóm lược, hiện mới nhập. Các phiền não, hoặc do kiến đạo dứt trừ, hoặc do kiến đạo, tu đạo dứt trừ. Nếu nói là phược giới thủ thân, phược kiến thủ thân, nên biết là đã nói các phiền não do kiến đạo dứt. Nếu nói đến phược tham thân, phược giận thân, thì phải biết là đã nói các phiền não do kiến đạo, tu đạo dứt trừ.

Lại nữa, các phiền não đó hoặc là nhất thiết biến, hoặc chẳng phải nhất thiết biến. Nếu nói phược của hai thân sau, phải biết là đã nói phiền não nhất thiết biến. Nếu nói phược của hai thân trước, phải biết là đã nói các phiền não chẳng phải nhất thiết biến.

Lại nữa, các phiền não hoặc là tánh kiến, hoặc chẳng phải tánh kiến. Nếu nói là phược của hai thân sau, phải biết là đã nói đến các phiền não của tánh kiến. Nếu nói là hai phược thân trước, phải biết là đã nói các phiền não chẳng phải tánh kiến.

Lại nữa, các phiền não đó, hoặc là sở hành của người phàm phu, hoặc là sở hành của bậc Thánh, phàm phu. Nếu nói phược của thân nhuế, phải biết là đã nói các phiền não, sở hành của phàm phu. Nếu nói là phược của hai thân trước, phải biết là đã nói các phiền não, sở hành của bậc Thánh, phàm phu.

Lại nữa, các phiền não hoặc mang tánh chất vui vẻ hơn hở, hoặc với tánh chất ưu tư, buồn bã. Nếu nói là phược giận thân, phải biết là đã nói các phiền não lo lắng, buồn bã. Nếu nói là phược thân còn lại, phải biết là đã nói các phiền não mang tánh chất vui vẻ hớn hở.

Cho nên, nói là hiện môn, hiện tóm lược, hiện mới nhập.

Năm cái: Cái dục ái, cái giận dữ, cái thùy miên, cái trạo hối và cái nghi.

Hỏi: Thể tánh của cái là gì?

Đáp: Có ba mươi thứ: Cái dục ái có năm thư, chung cho sáu thức thân. Cái giận dữ có năm thứ, chung cho sáu thức thân. Cái thùy, trạo, đều có ở năm thứ dứt của ba cõi chung cho sáu thức thân, là bất thiện, vô ký. Bất thiện thì lập cái, vô ký thì không lập, có mười thứ. Miên ở cõi Dục, chỗ dứt của năm hành, là ý địa, là thiện, bất thiện, vô ký. Bất thiện thì lập cái, thiện và vô ký thì không lập, có năm thứ. Hối là thuộc cõi Dục, chỗ dứt của tu đạo, ở ý địa, là thiện, bất thiện. Bất thiện lập cái, thiện thì không lập, có một thứ. Nghi ở ba cõi bốn thứ dứt, ở ý địa, là bất thiện, vô ký. Bất thiện thì lập cái, vô ký không lập, có bốn thứ.

Ba mươi thứ nầy là thể của năm cái. Cái có tướng gì?

Tôn giả Hòa-tu-mật nói: Thể tức là tướng, tướng tức là thể. Các pháp không thể lìa thể, là nói riêng về tướng.

Lại nữa, chuyên cần tìm kiếm dục là tướng của dục ái, nổi giận dữ, hãm hại chúng sinh là tướng của giận dữ, làm cho thân tâm bị che lấp, chìm lặn là tướng ngủ nghỉ (thùy), không cử động là tướng ngủ (miên). Không thôi nghỉ là tướng trạo cử. Chế ngự tâm ăn năn là tướng hối. Đối với công việc làm không quyết định là tướng nghi.

Đã nói về thể tướng của cái. Về lý do nay sẽ nói:

Hỏi: Vì sao gọi là cái? Cái nghĩa là gì?

Đáp: Nghĩa che ngăn là nghĩa cái, nghĩa phá vỡ là nghĩa cái. Nghĩa hủy hoại là nghĩa cái. Nghĩa đọa là nghĩa cái. Nghĩa nằm là nghĩa cái.

Nghĩa che ngăn là nghĩa cái: Là che ngăn Thánh đạo và phương tiện căn thiện của Thánh đạo. Như kinh nói: Tỳ-kheo phải biết! Năm thứ cây nầy được gọi là cây to, hạt giống của nó dù nhỏ, nhưng thân cành đều to, che khuất các cây nhỏ khác, khiến chúng bị hư hoại đổ ngã.

Năm thứ cây là:

  1. Vu-xà-na.
  2. Ca-tỳ-đa-la.
  3. A-thấp-bà-đa.
  4. Ưu-đàm-bạt-la.
  5. Ni-câu-đà.

Các cây nhỏ bị che khuất do các cây to nầy, không thể sinh ra hoa quả. Cũng thế, cây tâm ở cõi Dục của chúng sinh đã bị cái che lấp, không thể sinh hoa giác ý và quả Sa-môn. Cho nên nghĩa ngăn che là nghĩa cái.

Nghĩa phá vỡ, nghĩa hủy hoại, nghĩa đọa, nghĩa nằm, là nghĩa cái.

Hỏi: Nếu ngăn che Thánh đạo và phương tiện căn thiện của Thánh đạo là nghĩa cái, thì cái sẽ không gồm nhiếp. Vì các phiền não khác cũng ngăn che Thánh đạo và phương tiện căn thiện của Thánh đạo, lẽ ra cũng là cái. Các phiền não nầy có nghĩa gì khác nhau mà Đức Thế tôn lập riêng là cái?

Đáp: Hoặc có thuyết nói: Đây là thuyết chưa trọn vẹn của Đức

Thế tôn, cho đến vì người được hóa độ.

Tôn giả Ba-xa nói: Phật biết rõ chắc chắn về pháp tướng, cũng biết về công dụng, thế lực của chúng, người khác không thể biết, cho đến nói rộng.

Tôn giả Cù-sa nói: Phật biết năm cái nầy, cho đến ngăn che Thánh đạo của chúng sinh và phương tiện căn thiện của Thánh đạo, chẳng phải phiền não khác.

Lại nữa, cái nầy cũng có lúc che lấp nhân, cũng đôi khi ngăn chặn quả.

Khi che lấp nhân: Năm cái, mỗi cái khi hiện ở trước, thì không thể sinh tâm thiện hữu lậu và tâm vô ký không ẩn mất, huống chi là Thánh đạo và phương tiện căn thiện của Thánh đạo.

Lúc che lấp quả: Vì quả của năm cái, nên đọa vào đường ác, tức là ngăn che tất cả công đức lành.

Lại nữa, năm cái nầy là số hành của số chúng sinh cõi Dục, lúc hiện hành rất vi tế. Chúng sinh hành mạn hiện có ở cõi Dục thì rất ít. Như đọa vào địa ngục, có thể khởi lên mạn nầy: Ta chịu khổ vượt hơn người khác? Trong súc sinh như ểnh ương v.v… vì ngu si nên không thể khởi các kiến. Vì thế, Tôn giả Cù-sa đã nói rằng: Tất cả phiền não đều ngăn che Thánh đạo, trái với đạo Thánh, chỉ số hành của năm cái, lúc thường hiện hành rất vi tế, nên Đức Thế tôn mới lập cái.

Lại nữa, cái nầy là nhất định và là quả nhất định, tạo ra trở ngại.

Lại nữa, cái nầy ngăn che pháp lìa dục của ba cõi, che lấp chín dứt biết quả vô lậu, ngăn che bốn quả Sa-môn.

Lại nữa, cái dục ái xa lìa pháp vắng lặng dục ái. Cái giận dữ xa lìa pháp làm vắng lặng giận dữ. Cái thùy miên xa lìa pháp tuệ. Cái trạo hối xa lìa pháp định. Vì xa lìa định, tuệ, làm vắng lặng các thứ dục ái, giận dữ, nên đã làm cho mũi tên nghi sinh khởi trong tâm, vậy có nghiệp báo thiện ác, hay không?

Lại nữa, ái, giận làm hư hoại thân giới, thùy miên hủy hoại thân tuệ, trạo hối gây hư hoại thân định. Vì hủy hoại ba thứ thân, nên tâm nghi do dự là có nghiệp báo thiện ác không?

Như hủy hoại ba giới, hại ba giới cũng vậy. Như ba giới, ba tu, ba tịnh cũng giống như thế.

Lại nữa, hiện môn nầy, hiện tóm lược, hiện mới nhập, các phiền não ấy, hoặc một thứ dứt, hoặc bốn thứ dứt, hoặc năm thứ dứt. Nếu nói hối, phải biết là đã nói một thứ dứt. Nếu nói nghi, phải biết là đã nói bốn thứ dứt. Nếu nói pháp còn lại, phải biết đã nói năm thứ dứt.

Lại nữa, các phiền não nầy hoặc do kiến đạo dứt, hoặc do tu đạo dứt, hoặc do kiến đạo, tu đạo dứt. Nếu nói nghi, phải biết đã nói do kiến đạo dứt. Nếu nói hối, phải biết đã nói do tu đạo dứt. Nếu nói pháp khác, phải biết đã nói do kiến đạo, tu đạo dứt.

Hỏi: Danh của cái có năm, còn thể của cái có bao nhiêu?

Đáp: Danh có năm, thể có bảy. Cái dục ái, danh có một, thể có một. Cái giận dữ, cái nghi cũng giống như thế. Cái thùy miên, danh có một, thể có hai. Cái trạo hối cũng giống như vậy. Cho nên năm cái, danh có năm, thể có bảy. Như thể của danh, thể của số, danh khác, thể khác, danh khác, thể tướng khác. Phân biệt danh, phân biệt thể, biết danh, biết thể phải biết cũng giống như thế.

Hỏi: Vì sao cái dục ái, cái giận dữ, cái nghi, một thể lập cái, cái thùy miên, cái trạo, hối, phải hai thể lập cái?

Tôn giả Ba-xa nói: Phật biết chắc chắn về pháp tướng, cũng biết công dụng, thế lực của chúng, người khác không biết, cho đến nói rộng.

Lại nữa, nếu là tánh của sử, cũng là tánh của triền thì một thể lập cái. Nếu là tánh triền, chẳng phải tánh sử, thì hai thể lập cái.

Lại nữa, vì có đầy đủ phiền não, không đầy đủ phiền não. Đầy đủ phiền não nghĩa là kiết, phược, sử triền cấu uế trái với ba thứ nầy, gọi là không đầy đủ. Các phiền não đầy đủ thì một thể lập cái, không đầy đủ thì hai thể lập cái.

Lại nữa, vì ba việc nên lập cái:

  1. Thức ăn.
  2. Đối trị.
  3. Cùng gánh nặng.Cái dục ái:

Lấy gì làm thức ăn?

Đáp: Ăn đối với tưởng tịnh.

Lấy gì làm đối trị?

Đáp: Bất tịnh. Vì dùng một thức ăn, một đối trị, nên một thể lập cái.

Cái giận dữ lấy gì làm thức ăn?

Đáp: Lấy tướng hại làm thức ăn.

Lấy gì làm đối trị?

Đáp: Lấy tâm từ. Vì dùng một thức ăn, một đối trị, nên một thể lập cái.

Cái nghi lấy gì làm thức ăn?

Đáp: Lấy sự do dự của tướng thế gian làm thức ăn.

Lấy gì làm đối trị?

Đáp: Lấy quán pháp duyên khởi, vì dùng một thức ăn, một đối trị, nên một thể lập cái.

Cái thùy miên lấy gì làm thức ăn?

Đáp: Lấy năm pháp làm thức ăn:

  1. Mắt mờ.
  2. Buồn rầu, bối rối.
  3. Luôn ngáp vặt.
  4. Thức ăn không tiêu hóa.
  5. Tâm phiền muộn.

Lấy gì làm đối trị?

Đáp: Lấy tuệ. Do năm thức ăn, một đối trị, nên hai thể lập cái.

Cái trạo hối lấy gì làm thức ăn?

Đáp: Dùng bốn pháp làm thức ăn:

  1. Nghĩ đến thân thuộc.
  2. Nghĩ đến cõi nước.
  3. Nghĩ đến không muốn chết.
  4. Nghĩ đến những việc dạo chơi cười đùa vui vẻ, mừng rỡ đã từng trải qua.

Lấy gì làm đối trị?

Đáp: Dùng định để đối trị. Do bốn thức ăn, một đối trị, nên hai thể lập cái.

Cùng gánh nặng: Cái dục ái, cái giận dữ, cái nghi đồng một thể, có thể mang gánh nặng của nghĩa cái. Cái thùy miên, trạo hối, hai thể, có thể mang gánh nặng của nghĩa cái. Giống như việc trong thôn, một người có thể làm xong, thì lập một người, một người không thể làm xong thì lập nhiều người. Cũng như dùng đòn tay để chống đỡ mái nhà, loại cứng chắc chỉ dùng một, yếu thì dùng hai. Việc kia cũng giống như thế.

Cho nên, một thức ăn, một đối trị, một người cùng gánh nặng, lập một cái.

Hỏi: Vì sao Đức Thế tôn trước nói cái dục ái, kế nói cái giận dữ, sau nói cái nghi?

Đáp: Nói như thế tức là văn thuận theo.

Lại nữa, nếu nói như thế, thì thầy truyền trao dễ, đệ tử thọ lãnh cũng dễ.

Lại nữa vì thuận theo lúc sinh, nên khi cái sinh, trước sinh dục ái,

sau sinh giận dữ, nghi. Cho nên Đức Thế tôn về sau mới nói giận dữ, nghi.

Tôn giả Hòa-tu-mật nói: Vì yêu đắm cảnh giới đẹp đẽ, nên sinh cái dục ái. Vì mất cảnh giới đẹp đẽ, nên sinh cái giận dữ. Mất cảnh giới thượng diệu, tâm chìm đắm, nên sinh cái thùy, vì ngủ nghỉ che lấp tâm, nên sinh cái miên, từ miên sinh cái trạo, tâm sinh hối, hối thuận theo nên cái nghi bèn sinh.

Kinh Phật nói năm cái, hoặc lại có mười.

Hỏi: Năm cái, đôi khi có mười là sao?

Đáp: Vì ba việc:

  1. Vì duyên nội, duyên ngoại.
  2. Vì thể tánh.
  3. Vì pháp thiện, bất thiện.

Vì duyên nội, duyên ngoại: Thể của dục ái có duyên nội sinh, có duyên ngoại sinh. Nội, ngoại sinh ái đều cũng là ái, cũng ngăn che tuệ, không sinh Bồ-đề, không đến Niết-bàn. Cái giận dữ cũng giống như thế.

Vì thể tánh: Cái thùy miên, trạo hối cũng ngăn che tuệ, không sinh Bồ-đề, không đến Niết-bàn.

Vì pháp thiện, bất thiện: Có khi nghi là do dự đối với pháp thiện. Có khi nghi do dự đối với pháp bất thiện, đều cùng là cái nghi, cũng ngăn che tuệ, không sinh Bồ-đề, không đến Niết-bàn.

Vì ba việc nầy, nên lập cái.

Hoặc nói có mười.

Trong bảy sử: Sử mạn, sử kiến, sử vô minh, tất cả sử cõi Sắc, cõi Vô sắc đều không lập cái.

Hỏi: Vì sao sử mạn không lập cái?

Đáp: Vì cái che mất tâm, còn mạn khiến tâm tự cao.

Hỏi: Vì sao vô minh không lập cái?

Đáp: Nghĩa cùng gánh nặng là nghĩa cái. Gánh nặng vô minh nghiêng nặng về nhiều.

Hỏi: Vì sao sử kiến không lập cái?

Đáp: Vì cái có thể diệt tuệ. Thể của kiến là tuệ, không thể dùng tuệ diệt tuệ. Cũng thế, nhân luận sinh luận, như cái có thể diệt tất cả pháp tâm, tâm sở thiện, vì sao trong đây chỉ nói diệt tuệ?

Đáp: Vì tuệ là nghĩa hơn. Trong nhóm kia, thế nào là hơn? Tuệ là hơn. Nếu diệt tuệ, huống chi là pháp khác. Cũng như người mạnh khỏe có thể giết hại hàng ngàn kẻ địch, huống chi là người bé nhỏ khác.

Hỏi: Vì sao sử cõi Sắc, cõi Vô sắc không lập cái?

Đáp: Vì không có nghĩa cái, cho nên không lập.

Lại nữa, cái gây chướng ngại cho pháp lìa dục của ba cõi. Phiền não cõi Sắc, cõi Vô sắc không gây chướng ngại pháp lìa dục của ba cõi.

Lại nữa, cái chướng ngại chín dứt biết quả của đạo vô lậu. Phiền não cõi Sắc, cõi Vô sắc không chướng ngại chín dứt biết quả của đạo vô lậu.

Lại nữa, cái có thể tạo chướng ngại cho bốn quả Sa-môn. Các phiền não cõi Sắc, cõi Vô sắc không thể gây chướng ngại cho bốn quả Sa-môn.

Lại nữa, cái có thể nhất định tạo ra trở ngại. Phiền não cõi Sắc, cõi Vô sắc không nhất định tạo ra khó khăn.

Lại nữa, cái có thể gây chướng ngại cho ba đường, là kiến đạo, tu đạo và đạo Vô học. Phiền não cõi Sắc, cõi Vô sắc không gây chướng ngại cho ba đường.

Lại nữa, cái có thể làm chướng ngại ba căn là Vi tri dục tri căn, tri căn, tri dĩ căn. Phiền não cõi Sắc, cõi Vô sắc không gây chướng ngại cho ba căn. Như ba căn, ba Bồ-đề, ba tuệ, ba giới, ba thân, ba tu, ba tịnh, phải biết cũng giống như thế.

Lại nữa, cái hoàn toàn là bất thiện, phiền não cõi Sắc, cõi Vô sắc chẳng phải bất thiện.

Cũng thế, nhân luận sinh luận, vì sao chỉ lập bất thiện làm cái?

Đáp: Do đối với nhóm pháp thiện, Đức Thế tôn lập riêng bất thiện làm cái. Như kinh nói: Tỳ-kheo! Những gì là nhóm pháp thiện? Nên đáp: Bốn niệm xứ. Nếu hỏi thế nào đối lập với nhóm pháp thiện đó? Nên đáp: Là nhóm pháp bất thiện. Nếu hỏi thế nào là nhóm pháp bất thiện? Nên đáp: Là năm cái.

Vì thế, Tôn giả Cù-sa đã nói rằng: Chúng sinh cõi Dục thường hành phiền não nầy, lúc hành vi tế, không biết là lỗi. Do đó vì đối với chúng sinh nên nói là bất thiện.

Kinh Phật nói: Vô minh che lấp, kiết, ái trói buộc, là sở hành của kẻ ngu, người thông minh cũng giống như vậy.

Hỏi: Như vô minh vừa có thể che lấp, vừa có thể trói buộc ái. Ái vừa có thể che lấp, vừa có thể trói buộc. Vì sao nói vô minh có thể che lấp, không nói trói buộc? Nói ái có thể trói buộc, không nói che lấp?

Đáp: Lẽ ra nói mà không nói, nên biết đây là lời chưa rốt ráo của Đức Như lai.

Lại nữa, vì muốn dùng các thứ thuyết, các thứ văn để trang nghiêm về nghĩa. Nếu dùng các thứ thuyết, các thứ văn để trang nghiêm cho nghĩa thì dễ hiểu.

Lại nữa, vì muốn thể hiện hai môn, như nói: Vô minh là che lấp, ái cũng là che lấp, như nói ái là trói buộc, vô minh cũng là trói buộc. Cho nên muốn thể hiện hai môn, cho đến nói rộng.

Lại nữa, trước nói rằng: Nghĩa che ngăn là nghĩa cái, lại không có sử ngăn che tuệ nhãn của chúng sinh và vô minh v.v…

Nghĩa trói buộc là nghĩa kiết, lại không có sử trói buộc chúng sinh, như kiết ái: Nghĩa là như chúng sinh vì bị mù lòa do vô minh, bị kiết ái trói buộc. Do mù lòa, bị trói buộc, nên không thể hướng đến Niết-bàn.

Trong đây, nên nói ví dụ về hai tên cướp. Tôn giả Cù-sa nói rằng: Vô minh làm cho chúng sinh bị mù lòa, ái có thể trói buộc, do đó nên pháp bất thiện được sinh. Ở đây, nên nói ví dụ về hai tên cướp.

Lại nữa, vì theo phần nhiều, nên vô minh che lấp nhiều chúng sinh. Ái trói buộc nhiều chúng sinh.

Lại nữa, vô minh là nghĩa che lấp nhiều, ái là nghĩa trói buộc nhiều.

*******

 

Năm kiết là kiết ái, kiết giận, kiết mạn, kiết tật (ganh ghét), kiết san (keo kiệt).

Hỏi: Thể tánh của năm kiết nầy là gì?

Đáp: Có ba mươi bảy thứ: Kiết ái của ba cõi có mười lăm thứ, kiết mạn cũng giống như thế. Kiết giận có năm thứ. Kiết tật, kiết san (keo kiệt), chỗ dứt của tu đạo cõi Dục có hai thứ.

Ba mươi bảy thứ nầy là thể của năm kiết, cho đến nói rộng.

Đã nói thể tánh của kiết. Về lý do nay sẽ nói:

Hỏi: Vì sao gọi là kiết? Kiết có nghĩa là gì?

Đáp: Nghĩa trói buộc là nghĩa kiết. Nói rộng như năm kiết phần dưới của xứ ba kiết: Kiết dục ái, kiết giận dữ, thân kiến, giới thủ, nghi.

Hỏi: Thể tánh của năm kiết phần dưới là gì?

Đáp: Có ba mươi mốt thứ: Kiết dục ái có năm thứ, chung cho sáu thức thân. Kiết giận có năm thứ, chung cho sáu thức thân. Thân kiến, chỗ dứt của kiến khổ ba cõi có ba thứ. Giới thủ, chỗ dứt của kiến khổ, kiến đạo của ba cõi có sáu thứ. Nghi, chỗ dứt của kiến khổ, tập, diệt, đạo trong ba cõi có mười hai thứ.

Ba mươi mốt thứ nầy là thể của năm kiết phần dưới, cho đến nói rộng.

Đã nói thể tánh của năm kiết phần dưới, về lý do nay sẽ nói:

Hỏi: Vì sao gọi là kiết phần dưới? Kiết phần dưới có nghĩa gì?

Đáp: Vì là đối tượng hoạt động cõi dưới, nên gọi là dưới.

Lại nữa, kiết cõi dưới có thể khiến cho phiền não nối tiếp nhau sinh cõi dưới, có thể sinh ra quả y, quả báo cõi dưới. Vì việc nầy nên gọi là kiết phần dưới. Cõi dưới là cõi Dục.

Hỏi: Nếu vậy, tất cả phiền não đều là sở hành cõi dưới. Sáu mươi bốn sử là chỗ dứt cõi dưới. Ba mươi sáu thứ huộc về cõi Dục, hai mươi tám thứ là thuộc về Phi tưởng Phi phi tưởng xứ. Ba mươi sáu thứ sử kia khiến cho phiền não nối tiếp nhau sinh ở cõi dưới. Ba mươi bốn thứ có thể sinh quả báo, quả y cõi dưới. Hai thứ chỉ sinh quả y. Các phiền não như thế đều có nghĩa phần dưới. Vì sao Đức Thế tôn chỉ nói năm kiết là kiết phần dưới?

Đáp: Tôn giả Ba-xa nói: Phật, Thế tôn biết rõ chắc chắn về pháp tướng, cũng biết rõ công dụng, thế lực của chúng, cho đến nói rộng.

Tôn giả Cù-sa nói: Đức Phật đã biết năm kiết phần dưới nầy là nhanh chóng, nghiêng nặng gần với sở hành cõi dưới, dứt trừ trong cõi dưới, làm cho sự sinh nối tiếp nhau cõi dưới, có thể sinh ra quả báo, quả ý cõi dưới, chẳng phải phiền não khác, cho nên nói là kiết phần dưới.

Lại nữa, có hai thứ dưới:

  1. Cõi dưới.
  2. Chúng sinh dưới.

Cõi dưới, là cõi Dục. Chúng sinh dưới, là phần phàm phu. Sở dĩ chúng sinh không thể ra khỏi cõi dưới là vì lỗi gì? Đều là do lỗi của kiết dục ái, kiết giận dữ. Sở dĩ chúng sinh không thể vượt qua phần phàm phu dưới đều là lỗi của thân kiến, giới thủ và nghi.

Như nói cõi dưới, địa dưới cũng giống như thế.

Lại nữa, năm kiết phần dưới nầy đối với chúng sinh cõi Dục, giống như lính giữ ngục, người rình bắt. Kiết dục ái, kiết giận dữ, giống như lính giữ ngục. Thân kiến, giới thủ, nghi, giống như người rình bắt. Ví như có người bị giam ở trong ngục, lịnh cho hai người canh giữ, khiến người kia không được ra khỏi sai ba người rình bắt. Người đó hoặc được bạn thân, hoặc do bà con, hoặc do tiền của, hoặc vì gây tổn hại cho lính giữ ngục nên chạy thoát ra ngoài, cho đến đã đi xa. Ba người rình bắt phải tìm bắt đem giam trở lại trong ngục. Ngục như cõi Dục, người bị giam như phàm phu, hai lính giữ ngục như kiết dục ái, kiết giận dữ, thân kiến, giới thủ, nghi như ba người rình bắt.

Hoặc có chúng sinh dùng quán bất tịnh gây tổn hại cho kiết dục ái, dùng quán từ gây tổn hại cho kiết giận dữ, lìa dục cõi Dục, cho đến dục của Vô sở hữu xứ, sinh Phi tưởng Phi phi tưởng xứ. Thân kiến, giới thủ, nghi lại dẫn đến giam trong ngục cõi Dục.

Cho nên, Tôn giả Cù-sa nói rằng: Nếu không dứt hai pháp, thì sẽ không ra khỏi cõi Dục. Không dứt trừ ba pháp, thì sẽ sinh trở lại cõi Dục.

Tôn giả Bà-ma-lặc nói: Vì bị hai thứ kiết ràng buộc nên không ra khỏi cõi Dục, vì không dứt trừ ba kiết, nên phải sinh trở lại cõi Dục.

Lại nữa, đây là hiện môn, hiện tóm lược, hiện mới nhập. Các phiền não nầy hoặc một thứ dứt, hoặc hai thứ dứt, hoặc bốn thứ dứt, hoặc năm thứ dứt. Nếu nói thân kiến, phải biết đã nói một thứ dứt. Nếu nói giới thủ, phải biết đã nói hai thứ dứt. Nếu nói nghi, phải biết đã nói bốn thứ dứt. Nếu nói ái, giận dữ, phải biết đã nói năm thứ dứt. Nếu hỏi ái, giận dữ, vì sao được lập trong kiết phần dưới, nên đáp như trong phần căn bất thiện. Nếu hỏi vì sao nói ba kiết được lập trong kiết phần dưới, thì nên đáp như trong ba kiết.

Phật hỏi các Tỳ-kheo: Các thầy có thọ trì năm kiết phần dưới mà ta đã giảng nói hay không?

Bấy giờ, Trưởng lão Ma-lặc-ca-tử, đang ở trong chúng hội, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, vén y bày vai, chắp tay hướng về Phật, bạch Phật: Con xin vâng giữ năm kiết phần dưới do Đức Thế tôn đã giảng nói.

Phật hỏi Ma-lặc-ca-tử: Thầy vâng giữ năm kiết phần dưới ta đã giảng nói như thế nào?

Ma-lặc-ca-tử đáp: Bạch Thế tôn! Thế tôn nói ái dục là kiết phần dưới, con xin vâng giữ. Đức Thế tôn đã nói kiết thân kiến, giận dữ, giới thủ, nghi, là kiết phần dưới, con xin thọ trì.

Phật bảo: Thầy là người ngu. Nếu thầy vâng giữ điều ta đã giảng nói như thế, thì các dị học – ngoại đạo sẽ quở trách thầy như trẻ con nằm ngửa trên giường, tâm dục còn không có, huống chi là bị cái ái dục che lấp. Dù không bị che lấp do cái ái dục, thầy cũng không được nói là mình không bị sử dục sai khiến. Nói rộng như kinh.

Trẻ con kia, đối với sắc không biết về tâm dục, cho đến không biết pháp, có thể nói là không có sử chăng?

Hỏi: Kinh Phật nói năm kiết phần dưới, Ma-lặc-ca-tử cũng vâng giữ như thế, vì sao Phật lại quở trách Ma-lặc-ca-tử?

Đáp: Không do văn, do không hiểu nghĩa, nên Phật quở trách về nghĩa, không quở trách văn. Trưởng lão Ma-lặc-ca-tử nói rằng: Nếu phiền não hiện hành là kiết phần dưới, nếu phiền não không hiện hành thì chẳng phải kiết phần dưới. Đức Thế tôn nói: Nếu sử không dứt trừ là kiết phần dưới, không cần hiện hành hay không hiện hành.

Lại nữa, Ma-lặc-ca-tử nói: Nếu sử chuyển vận hiện ở trước là năm kiết phần dưới. Đức Phật nói: Nếu thành tựu, là ở ba đời, không hẳn ở trong hiện tại.

Lại nữa, Trưởng lão Ma-lặc-ca-tử nói: Sử chìm lặn nơi tâm là kiết.

Đức Phật nói: Có các sử đạt được là kiết. Như nói: Nếu tri kiến bất thiện, thì ở chỗ sanh khởi, do dứt dục ái, sẽ không gọi là không có sử giận, cho đến nghi nói cũng giống như thế.

Năm kiết phần trên là: Ái cõi Sắc, ái trạo, mạn, vô minh cõi Vô sắc,.

Hỏi: Thể tánh của năm kiết phần trên là gì?

Đáp: Có tám thứ: Ái cõi Sắc, chỗ dứt của tu đạo cõi Sắc, có một thứ. Ái cõi Vô sắc chỗ dứt của tu đạo ở cõi Vô sắc, có một thứ.

Trạo cử, mạn, vô minh là chỗ dứt của tu đạo ở cõi Sắc, cõi Vô sắc, có sáu thứ. Tám thứ nầy do tu đạo mà dứt ở cõi Sắc, cõi Vô sắc, cho đến nói rộng.

Đã nói thể tánh của năm kiết phần trên. Về lý do nay sẽ nói:

Hỏi: Vì sao gọi là kiết phần trên? Kiết phần trên có nghĩa gì?

Đáp: Nghĩa dấy khởi lên trên, là nghĩa kiết phần trên. Nghĩa hướng lên trên là nghĩa kiết phần trên. Nghĩa khiến cho nối tiếp nhau sinh lên cõi trên, là nghĩa kiết phần trên.

Hỏi: Nếu nghĩa dấy khởi lên trên, nghĩa hướng lên trên, nghĩa khiến cho nối tiếp nhau sinh lên cõi trên là nghĩa kiết phần trên, thì các phiền não kia không nên lập là lưu. Vì sao? Vì nghĩa trôi nổi, nghĩa chảy xuống là nghĩa lưu, tức các chúng sinh trôi nổi nơi các cõi, các đường các loài sinh trong sinh tử?

Đáp: Nghĩa lưu khác, nghĩa kiết phần trên khác. Cũng do cõi nên lập kiết phần trên. Các phiền não nầy khiến chúng sinh khởi lên trên, hướng lên trên, làm cho nối tiếp nhau sinh lên cõi trên. Vì không có pháp thiện của Thánh đạo vô lậu, chánh trí giải thoát nên lập lưu. Các phiền não nầy khiến cho chúng sinh mặc dù sinh cõi Hữu Đảnh, nhưng vẫn bị trôi nổi theo dòng chảy, không đến trong pháp thiện của Thánh đạo vô lậu, chánh trí giải thoát.

Cho nên, Tôn giả Cù-sa đã nói rằng: Mặc dù chúng sinh đã sinh lâu ở cõi trên, nhưng vẫn bị dòng chảy (lưu) làm cho trôi nổi.

Hỏi: Vì sao ái được lập hai kiết phần trên, còn trạo, mạn, vô minh, mỗi thứ đều lập một kiết?

Đáp: Trạo, mạn, vô minh cũng nên nói như ái, lập hai kiết phần trên, mà không nói phải biết thuyết nầy chưa trọn vẹn.

Lại nữa, vì muốn dùng các thứ văn, các thứ thuyết để trang nghiêm cho nghĩa, nếu dùng các thứ văn, các thứ thuyết trang nghiêm cho nghĩa thì nghĩa sẽ dễ hiểu.

Lại nữa, vì muốn hiển hiện hai thứ môn, như ái lập hai thứ, trạo, mạn, vô minh cũng nên lập hai thứ. Như trạo, mạn, vô minh lập một thứ, thì ái cũng nên nói một thứ.

Cũng thế, thể của kiết phần trên hoặc bốn, hoặc tám.

Như hai môn hai thứ đều chung cũng giống như thế.

Lại nữa, vì ái, nên giới riêng, địa riêng, chủng riêng, có thể sinh các phiền não. Nói rộng như giải thích về lãnh vực ái.

Kiết phần trên nầy là chỗ dứt của tu đạo.

Hỏi: Vì sao kiết phần trên chỉ do tu đạo dứt trừ?

Đáp: Vì kiết phần trên có thể khiến cho chúng sinh hướng lên trên, không rơi xuống dưới. Còn phiền não do kiến đạo dứt trừ, có thể làm cho chúng sinh hướng lên trên, cũng khiến cho rơi xuống dưới.

Lại nữa, kiết phần trên là sở hành của bậc Thánh, chẳng phải sở hành của phàm phu. Trong bậc Thánh là sở hành của A-na-hàm, chẳng phải sở hành của Tư-đà-hàm, Tu-đà-hoàn.

Cũng thế nhân luận sinh luận.

Hỏi: Vì sao kiết phần trên là sở hành của A-na-hàm, chẳng phải sở hành của Tư-đà-hàm, Tu-đà-hoàn?

Đáp: Vì A-na-hàm hoàn toàn sinh lên cõi trên, còn Tư-đà-hàm, Tu-đà-hoàn vừa sinh lên cõi trên, vừa sinh xuống cõi dưới.

Lại nữa, nếu là người đã ra khỏi cõi, đắc quả thì trong thân nầy sẽ hành kiết phần trên. Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm dù đắc quả nhưng không ra khỏi cõi.

Lại nữa, nếu là người đã ra khỏi cõi, dứt hẳn trừ kiết bất thiện, thì hành kiết phần trên. Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm cũng không ra khỏi cõi, cũng không dứt trừ hẳn kiết bất thiện.

Lại nữa, nếu là người đã ra khỏi cõi, dứt hẳn kiết phần dưới, thì trong thân họ tức hành kiết phần trên. Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm không ra khỏi cõi, cũng không dứt hẳn kiết phần dưới.

Lại nữa, phiền não nầy được lập, mỗi mỗi đều khác nhau. Nếu trong thân lập kiết phần trên, thì sẽ không lập kiết phần dưới. Nếu trong thân lập kiết phần dưới, thì sẽ không lập kiết phần trên.

Lại nữa, vì không còn hiện hành pháp phàm phu đã hiện hành, nên lập kiết phần trên. Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm cũng còn thực hành pháp phàm phu đã thực hành. Pháp sở hành của phàm phu, nghĩa là nam, nữ đồng ngủ chung một giường, mặc áo Kiêu-xa-da, đeo tràng hoa, thoa thân các thứ hương chiên đàn, chứa vàng bạc, thọ dùng các dụng cụ bằng vàng bạc, sai khiến nô tỳ, tôi tớ, cũng lấy tay xoa đầu, dùng dây xích, roi, đánh người. Khởi thân nghiệp v.v… như thế, ngủ qua đêm với thê thiếp, xúc chạm sự trơn láng của thân người, sinh tưởng xúc chạm trơn láng như thế là pháp hiện hành của phàm phu.

Lại nữa, không còn vào thai mẹ, sinh trong dòng máu, không ở lại trong sinh tạng, thục tạng, trong thân như thế, thì lập kiết phần trên. Như kinh nói: Cư sĩ Chất Đa nói với các người bà con: Các ông phải biết, ta không còn vào thai mẹ nữa, nói rộng như trên. Cho nên, Tôn giả Cù-sa nói: Nếu giải thoát dục, giận thì sẽ thoát khỏi việc vào thai mẹ.

Hỏi: Thể của trạo cử trong kiết phần trên, có phải là kiết hay không? Nếu là kiết thì làm sao hiểu thuyết của phái Ba-già-la-na? Như nói: Thế nào là pháp kiết? Đáp: Là chín kiết. Thế nào là chẳng phải pháp kiết? Đáp: Trừ chín kiết, các pháp còn lại là pháp kiết.

Nếu chẳng phải kiết, thì kinh nầy nói làm sao hiểu? Như nói: Thế nào là kiết phần trên? Ái sắc, ái vô sắc, trạo, mạn, vô minh chăng?

Đáp: Nên nói rằng: Đó là kiết.

Hỏi: Nếu vậy thì khéo hiểu kinh nầy, còn về thuyết của phái Bagià-la-na nói làm sao hiểu?

Đáp: Sa-môn phương Tây trì tụng kinh Ba-già-la-na, nói rằng:

Thế nào là pháp kiết?

Đáp: Chín kiết và trạo cử trong năm kiết phần trên.

Thế nào là chẳng phải pháp kiết?

Đáp: Là pháp còn lại, trừ chín kiết và trạo cử trong năm kiết phần trên.

Sa-môn nước Kế-tân chẳng phải nói như thế.

Hỏi: Vì sao Sa-môn nước Kế-tân chẳng phải nói như thế?

Đáp: Sa-môn nước Kế-tân nên nói như Sa-môn phương Tây đã nói, nhưng không nói là có ý gì? Đáp: Vì trạo cử là tướng hư hoại. Hoặc phần ít là kiết, phần ít chẳng phải kiết. Hoặc đối với một người là kiết, hoặc đối với một người chẳng phải kiết. Hoặc có khi là kiết, hoặc có khi chẳng phải kiết. Phần ít là kiết, phần ít chẳng phải kiết. Như cõi Sắc, cõi Vô sắc là kiết, cõi Dục thì chẳng phải kiết.

Hoặc đối với một người là kiết, hoặc đối với một người chẳng phải kiết: Như đối với bậc Thánh là kiết, đối với người phàm phu chẳng phải kiết. Hoặc có lúc là kiết, hoặc có khi chẳng phải kiết. bậc Thánh chưa lìa dục cõi Dục, chẳng phải kiết, đã lìa dục cõi Dục, là kiết.

Vì trạo cử có tướng mạo hư hoại như thế, cho nên Sa-môn nước Kế-tân không nói.

Cũng thế nhân luận sinh luận, vì sao trạo cử cõi Sắc, cõi Vô sắc thì lập kiết, còn trạo cử cõi Dục lại không lập?

Đáp: Vì cõi Dục là cõi bất định, chẳng phải địa tu, chẳng phải địa lìa dục, trong ấy không có nhất định như thế, vì bị rối loạn do trạo cử, cho nên, trạo cử cõi Dục không lập thành kiết. Cõi Sắc, cõi Vô sắc là cõi định, là địa tu, là địa lìa dục. Bốn chi, năm chi định trong các cõi đó đều bị trạo cử làm rối loạn, vì cho nên lập kiết. Như trong thôn xóm, nếu ở chỗ bên thôn xóm, dù có âm thanh lớn, cũng không thể gây ra tai hại, còn ở trú xứ A-luyện-nhã, dù là tiếng nhỏ, cũng cho là hại. Trạo cử kia cũng giống như thế.

Lại nữa, cõi Dục phần nhiều là các phiền não của ý tưởng phi pháp, như hận, phẫn, cuống, siểm, kiêu, hại.

Các phiền não v.v… như thế, che lấp trạo cử khiến cho không được sáng, rõ, cho nên trạo cử cõi Dục không được lập là kiết. Cõi Sắc, cõi Vô sắc đều là các phiền não không có tưởng phi pháp, trạo cử trong các cõi đó rất rõ ràng, cho nên lập làm kiết. Như chỗ ở bên cạnh thôn xóm, có nhiều Tỳ-kheo làm ác, mà không thể biết. Nếu tới trú xứ A-luyệnnhã, thì từ xa đến là có thể biết ngay.

Hỏi: Như trạo cử, thùy đi chung trong ba cõi, là chỗ dứt của năm thứ, chung cho sáu thức thân, có thể được trong tất cả tâm nhiễm ô, vì sao lập trạo cử, có phải vì là kiết phần trên nên không lập thùy?

Đáp: Vì trạo cử là lỗi lầm lớn, vì là lỗi lầm, nên Đức Thế tôn lập làm kiết phần trên. Kinh Ba-già-la-na nói: Là đại địa bất thiện, do trạo cử có nhiều lỗi lầm. Kinh ấy nói: Thế nào là pháp kiết? Đáp: Chín kiết và trạo cử trong năm kiết phần trên.

Vì có nhiều lỗi, nên kinh Ba-già-la-na lại nói rằng: Thế nào là vô minh không chung? Thế nào là trạo, triền không chung? Vì chúng có nhiều lỗi lầm.

Luận Thi Thiết lại nói rằng: Nếu người phàm phu sinh khởi dục ái thì khởi năm pháp:

  1. Dục ái.
  2. Tướng sinh của dục ái.
  3. Sử vô minh.
  4. Tướng sinh của sử vô minh.
  5. Trạo cử.

Vì thùy không có nhiều, lỗi lầm lớn như thế, nên không lập trong kiết phần trên.

Lại nữa, vì trạo cử là sở hành của trí tuệ, mạnh mẽ, có thể gây rối loạn cho bốn chi, năm chi định, nên lập trong kiết phần trên. Tánh chất của thùy thì ngu, chẳng phải trí tuệ, mạnh mẽ, thuận theo ở định, sở hành giống như định. Nếu thùy ở nơi thân, thì nhanh chóng có thể khởi định, cho nên không lập trong kiết phần trên.

Lại nữa, vì thùy che lấp vô minh, vô minh được lập làm kiết phần trên. Nếu phải lập thùy là kiết phần trên, thì sẽ bị vô minh che lấp.

Năm kiến: là Thân kiến, biên kiến, tà kiến, kiến thủ, giới thủ.

Hỏi: Thể tánh của năm kiến là gì?

Đáp: Có ba mươi sáu thứ. Thân kiến, chỗ dứt của kiến khổ trong ba cõi có ba thứ, biên kiến cũng vậy. Tà kiến, chỗ dứt của kiến khổ, tập, diệt, đạo trong ba cõi, có mười hai thứ, kiến thủ cũng vậy. Giới thủ, chỗ dứt của kiến khổ, kiến đạo trong ba cõi, có sáu thứ.

Ba mươi sáu sử nầy là thể của năm kiến, cho đến nói rộng.

Đã nói về thể tánh, về lý do nay sẽ nói:

Hỏi: Vì sao gọi là kiến? Kiến là nghĩa gì?

Đáp: Vì bốn việc nên gọi là kiến:

  1. Nhìn thấy.
  2. Chuyển hành.
  3. Chỗ chấp bền chắc.
  4. Nhập vào duyên mạnh mẽ.

Nhìn là xem:

Hỏi: Đây là tà kiến, đối tượng nhìn thấy là điên đảo, vậy xem cái gì?

Đáp: Đối tượng nhìn dù là tà, điên đảo nhưng tánh là tuệ, do tánh là tuệ nên có thể thấy. Như người dù xem, nhưng không rõ, cũng gọi là kiến.

Chuyển hành:

Hỏi: Trong một sát-na có chuyển hành nào?

Đáp: Vì tánh chất của kiến rất mạnh mẽ, nên gọi là chuyển hành.

Sở chấp bền chắc: Các kiến nầy, chấp giữ giả dối đối với duyên một cách bền chắc, nếu chẳng phải sức của đạo vô lậu, thì không do đâu có thể dứt trừ. Nếu Phật, đệ tử Phật xuất thế, dùng sức của đạo vô lậu mới có thể dứt được các kiến. Như loại trùng trong biển cả, tên là Thất-Thú-Ma-La. Hoặc cỏ, hoặc gỗ bị nó cắn, nếu chẳng phải dao bén thì không thể gỡ bỏ. Kiến kia cũng giống như thế, như kệ nói:

Điều người ngu vâng giữ

Vật bị cá kình ngậm

Thất-Thú-Ma-La cắn

Chẳng búa không thể gỡ.

Nhập duyên mạnh mẽ: Các kiến nhập duyên mạnh mẽ như cây kim trong vũng bùn.

Lại nữa, do hai việc nên gọi là kiến:

  1. Do thấy được.
  2. Do chuyển hành.

Lại nữa, do ba việc, nên gọi là kiến:

  1. Tương ưng với tướng.
  2. Hoàn thành việc kia.
  3. Không hại sở duyên.

Lại nữa, do ba việc nên gọi là kiến:

  1. Có tâm trông mong.
  2. Chấp trước bền chắc.
  3. Chuyển hành.

Lại nữa, do ba việc nên gọi là kiến:

  1. Do tâm trông mong.
  2. Do phương tiện.
  3. Do không biết.

Tâm trông mong: Làm hư hoại tâm trông mong.

Phương tiện: Phá hoại phương tiện.

Không biết: Làm hư hoại tâm trông mong và phương tiện.

Lại nữa, làm hư hoại tâm trông mong: Là phá hoại người tu định. Làm hư hoại phương tiện: Là phá hoại người tu tuệ.

Không biết: Được nghe từ người khác, nhận thức sai lầm về pháp tướng.

Đã nói chung về các kiến. Về lý do nay sẽ nói riêng mỗi thứ.

Vì sao gọi là thân kiến?

Đáp: Vì từ nơi thân mình sinh, cũng từ có thân sinh nên gọi là thân kiến.

Hỏi: Kiến khác cũng đều từ thân mình sinh, đều có thể là thân kiến?

Đáp: Nếu kiến từ nơi thân mình sinh, không từ thân người khác sinh, chẳng từ nơi không có thân sinh, kiến nầy là thân kiến. Kiến khác hoặc từ thân mình sinh, hoặc từ thân người khác sinh, hoặc từ nơi không có thân sinh.

Từ thân mình sinh: Là duyên theo giới mình. Từ thân người khác sinh: Duyên ở giới người khác. Không có thân sinh: là Duyên vô lậu.

Hỏi: Như biên kiến, không từ thân người khác sinh, cũng không từ không có thân sinh, vì sao không gọi là thân kiến?

Đáp: Thân kiến, vì trước đã được tên, lại do việc khác, nên đặt tên biên kiến, vì hai biên của kiến.

Lại nữa, nếu kiến từ thân mình sinh, nhiễm đắm ngã, ngã sở thì nói là thân kiến. Kiến khác dù có từ thân mình sinh, nhưng không nhiễm đắm ngã, ngã sở. Như ngã kiến, ngã sở kiến, kiến mình, sở kiến của mình cũng giống như thế.

Lại nữa, nếu kiến từ tự thân sinh, không trái với việc tu thí, giới, thì gọi là thân kiến. Kiến khác dù từ tự thân sinh nhưng không có việc như thế.

Lại nữa, nếu kiến từ thân mình sinh, tin vào điều mình đã làm, phải nhận chịu là thân kiến. Kiến khác dù từ thân mình sinh nhưng không có việc ấy.

Tôn giả Hòa-tu-mật nói: Tự thân gọi là năm thọ ấm, vì kiến nầy từ thân mình sinh, nên gọi là thân kiến.

Hỏi: Vì sao gọi năm thọ ấm là thân mình?

Đáp: Vì tự tạo ra.

Lại nữa, vì tự tạo ra, cũng là quả của nghiệp phiền não của mình.

Hỏi: Vì sao gọi là biên kiến?

Đáp: Kiến nầy thọ nhận hai bên, hoặc dứt, hoặc thường, nên gọi là biên kiến. Như kinh nói: Nếu Ca-chiên-diên dùng chánh trí, thấy biết như thật về tập của thế gian, thì không nói là không có thế gian. Nói không có thế gian: Là dứt kiến. Nếu thấy ấm vị lai sinh thì nghĩ rằng: Chúng sinh nầy chết chỗ nầy, sinh ở chỗ kia không dứt. Nếu dùng chánh trí thấy biết như thật về thế gian diệt, thì không nói là có thế gian. Nói có thế gian là thường kiến. Nếu thấy ấm, giới, nhập nối tiếp nhau sinh, người kia sẽ nghĩ rằng: Đây là pháp diệt, chẳng phải thường.

Lại nữa, vì đây là bên ngoại đạo, nên nói là biên kiến, ngoại đạo chấp ngã là pháp thấp kém đáng quở trách, huống chi lại chấp ngã là dứt, thường, mà không là pháp thấp kém của bên.

Lại nữa, ngoại đạo chấp ngã gọi là thủ biên, đó gọi là chấp giữ hư giả về duyên, đó gọi là đối tượng chấp giữ ngu si, huống chi là chấp ngã có dứt, có thường, mà chẳng phải bên.

Lại nữa, vì kiến nầy chuyển vận hai hành dứt thường nên gọi là biên kiến. Kinh Phật nói: Tỳ-kheo phải biết, ta không tranh luận với thế gian mà thế gian lại tranh luận với ta.

Hỏi: Vì sao Đức Phật không tranh luận với thế gian?

Tôn giả Hòa-tu-mật nói: Vì Phật nói có nhân quả. Nếu nhóm họp chung một chỗ với ngoại đạo thường kiến, ngoại đạo chấp có quả, không nhân. Vì sao? Vì không nhân nên thường. Phật nói rằng: Các ông nói có, ta cũng nói có. Ông nói không là ngu si. Nếu nhóm họp một nơi với ngoại đạo dứt kiến, thì ngoại đạo dứt kiến kia sẽ nói có nhân, không có quả. Vì sao? Vì dứt quả.

Đức Phật nói rằng: Các ông nói có, ta cũng nói có. Ông nói không là ngu si. Đức Phật đối với chấp giữ nhân một bên, đối với chấp giữ quả của một bên, lìa cả dứt thường mà nói Trung đạo. Vì việc nầy, nên Phật không tranh luận với thế gian, chỉ thế gian tranh luận với Phật.

Lại nữa, Phật là người biện luận đúng pháp, thế gian là người biện luận phi pháp. Biện luận đúng pháp, không tranh luận với biện luận phi pháp.

Lại nữa, Phật dùng pháp chế ngự thuận theo thế gian, thế gian cho là pháp thật không thuận theo Phật.

Lại nữa, Phật là người khéo dứt trừ căn bản của sự tranh chấp, ái và kiến là căn bản của sự tranh chấp. Phật đã khéo dứt trừ chúng, người đời không dứt trừ, cho nên nói rằng: Ta không tranh chấp với thế gian, chỉ thế gian tranh chấp với ta.

Tôn giả Phật đà Đề Bà nói: Phật thì biện luận chính đáng, thế gian biện luận không chính đáng. Người biện luận chính đáng không tranh chấp với kẻ biện luận không chính đáng. Như một con ngựa đi vào đường cong vạy, gọi là đi vào con đường xấu.

Cũng thế, vì ngoại đạo hành theo tà đạo, nên nói đi theo đạo tranh chấp.

Lại nữa, Đức Phật nhận thấy nghĩa, thấy pháp, thấy điều thiện, thấy điều tốt, cho nên Ngài không tranh luận với thế gian.

Hỏi: Vì sao gọi là tà kiến?

Đáp: Vì hành theo hành tà nên nói là tà kiến.

Hỏi: Năm kiến đều làm theo hành tà, vậy đều là tà kiến chăng?

Đáp: Vì danh, do hành, nên nếu năm kiến không đặt tên, lập hành, thì năm kiến đều là tà kiến. Vì sao? Vì làm hành tà. Nếu năm kiến đặt tên, lập hành, thì kiến nầy gọi là hành tà kiến, hành không thực có. Đó gọi là tà kiến.

Lại nữa, làm hành tà hủy hoại pháp trước là tà kiến, kiến khác mặc dù hành theo hành tà, nhưng vẫn không có việc như thế.

Lại nữa, nếu hành tà, chê bai tất cả nhân quả, gọi là tà kiến. Kiến khác dù hành theo hành tà, nhưng không có việc như thế.

Lại nữa, hành theo hành tà trái với việc tu bố thí, trì giới. Kiến khác mặc dù làm theo hành tà, nhưng không có việc như thế.

Lại nữa, nếu hành theo hành tà, chê bai đạo Đẳng chánh giác quá khứ, vị lai, hiện tại và xứ ba lậu, gọi là tà kiến. Kiến khác dù làm hành tà, nhưng không có việc như thế.

Lại nữa, nếu hành theo hành tà, chê bai hai thứ ơn, nghĩa là ơn pháp, ơn chúng sinh. Chê bai ơn pháp: Nói không có thí cho, không có cúng tế, không có quả báo của nghiệp thiện, ác, không có đời nầy, đời sau. Chê bai ơn chúng sinh: Nói không có cha, không có mẹ, không có chúng sinh hóa sinh, nói thế gian không có A-la-hán, không có hướng đến chánh đạo, cho đến nói rộng. Kiến khác dù làm theo hành tà, nhưng không có việc như thế.

Lại nữa, nếu hành theo hạnh tà, có thể khởi hai thứ không có ơn, nghĩa là pháp không có ơn, chúng sinh không có ơn. Khởi pháp không có ơn, nghĩa là nói không có bố thí, cho đến nói rộng. Khởi chúng sinh không có ơn, nghĩa là nói không có cha, mẹ, cho đến nói rộng. Đó gọi là tà kiến. Kiến khác dù hành theo hành tà, nhưng không có việc như thế.

Lại nữa, tà kiến nếu hành theo hành tà, phá hoại việc hiện đang thấy, như người bị ngã xuống hầm lửa, muốn cho người đời sinh ý tưởng ít có, nên nói rằng: Nay ta cảm thấy vui sướng, cũng thế, chúng sinh rơi vào trong ấm, giới, nhập đang hừng hực cháy, vì tà kiến nên nói không có khổ. Kiến còn lại dù hành theo hành tà, nhưng không có việc như thế.

Lại nữa, nếu hành theo hành tà, nói là ác. Như nói: Tỳ-kheo phải biết! Nếu người tà kiến với nghiệp thân, miệng, ý hiện có và pháp hồi chuyển theo chỗ nguyện cầu đều sinh pháp không ưa, không thích, không tốt đẹp. Vì sao? Tỳ-kheo phải biết vì kiến ác. Kiến còn lại dù hành theo tà hạnh, nhưng không có việc ấy, nên không gọi là tà kiến.

Hỏi: Vì sao gọi là kiến thủ?

Đáp: Vì chấp giữ lấy kiến nên gọi là kiến thủ.

Hỏi: Kiến nầy cũng nhận lấy năm ấm, vì sao chỉ nói kiến thủ?

Đáp: Vì kiến nên chấp lấy năm ấm. Lại nữa, nếu chấp kiến, hoặc nhận lấy năm ấm, chấp là bậc nhất thì đó gọi là kiến thủ.

Hỏi: Vì sao gọi là giới thủ?

Đáp: Vì kiến nầy chấp lấy giới, nên gọi là giới thủ.

Hỏi: Ở đây đều chấp lấy năm ấm, vì sao chỉ nói chấp lấy giới?

Đáp: Vì giới nên chấp năm ấm.

Lại nữa, vì sở hành, nên hoặc chấp giới, hoặc chấp ấm. Vì sở hành thanh tịnh, nên gọi là giới thủ.

Hỏi: Vì sao gọi là thủ?

Đáp: Vì chấp lấy kiến của người khác, nên gọi là thủ. Như thân kiến chấp ngã, ngã sở, biên kiến chấp dứt, thường, tà kiến chê bai, nói là không. Kiến thủ chấp giữ các kiến nầy cho là bậc nhất. Giới thủ chấp giữ các kiến nầy cho là tịnh. Cho nên chấp lấy kiến chấp của người khác gọi là thủ.

Sáu ái thân: Mắt xúc chạm sinh ái. Tai, mũi, lưỡi, thân, ý xúc chạm sinh ái.

Nên nói một ái. Như ái của ba cõi trong chín kiết, được lập một kiết ái.

Nên nói hai ái. Như ái cõi Dục trong bảy sử, gọi là sử dục ái. ái cõi Sắc, cõi Vô sắc, được gọi là sử hữu ái.

Nên nói là ba ái. Như kinh nói: Tỳ-kheo phải biết! Ái nói có ba: ái dục, ái sắc, ái vô sắc.

Nên nói là bốn ái. Như kinh nói: Ái từ bốn việc sinh. Nếu Tỳkheo, Tỳ-kheo-ni, do y phục sinh ái, sinh bèn sinh, thành lập bèn thành lập, thiện bèn thiện.

Do thức ăn sinh ái, do đồ nằm sinh ái, do hữu sinh ái. Nếu Tỳkheo, Tỳ-kheo-ni sinh ái như thế, nói rộng như trên.

Nên nói năm ái: Do khổ dứt trừ ái, cho đến tu đạo dứt ái. Nên nói chín ái: Như ái thượng thượng, cho đến ái hạ hạ.

Nên nói mười tám ái: Như nói mười tám hành ái.

Nên nói ba mươi sáu ái: Như nói ba mươi sáu hành ái.

Nên nói một trăm lẻ tám ái: Như nói một trăm lẻ tám hành ái.

Nếu lấy ở thân, nếu lấy sát-na, thì sẽ có vô lượng vô biên ái.

Hỏi: Vì sao một ái rộng, Đức Thế tôn lại nói sáu ái, tóm lược vô lượng ái nói sáu ái thân?

Đáp: Vì chỗ nương dựa. Hoặc một, hoặc vô lượng ái, đều dựa vào sáu thứ nầy, dựa vào sáu cõi, sáu đường, tương ưng với sáu thức thân mà sinh.

Hỏi: Vô minh, giận dữ cũng nương vào sáu thứ nầy, nương dựa cho đến tương ưng với sáu thức mà sinh, vì sao chỉ nói sáu ái thân, không nói sáu giận dữ thân, sáu vô minh thân?

Đáp: Lẽ ra nói mà không nói, nên biết là thuyết nầy chưa rốt ráo.

Lại nữa, nếu nói ái thân, phải biết cũng nói thân giận dữ, thân vô minh.

Lại nữa, vì ái ở ba cõi, chung cho năm thức thân, nên có thể tự thành lập. Giận dữ dù chung cho năm thức thân, tự thành lập nhưng không ở ba cõi. Vô minh dù ở ba cõi, không chung cho năm thức thân, nhưng có thể tự thành lập.

Lại nữa, cõi ái riêng, địa riêng, chủng riêng, nói rộng như đã giải thích về lĩnh vực ái.

Hỏi: Vì sao gọi là thân?

Đáp: Vì nhiều nên nói là thân. Không do khoảng sát-na, mắt xúc chạm sinh ái, gọi là thân, cho đến nhiều sát-na, mắt xúc chạm sinh ái gọi là thân. Như không do một con voi được gọi là quân voi, mà do nhiều voi mới gọi là quân voi. Quân xe, quân ngựa, quân bộ cũng giống như thế, cho đến ý xúc chạm sinh nhiều ái, gọi là ái thân.

Bảy sử: Sử dục ái, sử giận dữ, sử hữu ái, sử mạn, sử vô minh, sử kiến, sử nghi.

Hỏi: Thể tánh của bảy sử là gì?

Đáp: Có chín mươi tám thứ: Sử ái dục, cõi Dục có năm thứ ái chung cho thân sáu thức.

Sử giận dữ có năm thứ, chung cho sáu thức thân.

Sử hữu ái là ái cõi Sắc, cõi Vô sắc, có mười thứ.

Sử mạn ở ba cõi, có mười lăm thứ, ở ý địa.

Sử vô minh ở ba cõi, có mười lăm thứ.

Sử kiến ở cõi Dục, có mười hai, cõi Sắc có mười hai, cõi Vô sắc có mười hai, hợp thành ba mươi sáu thứ.

Sử nghi, chỗ dứt của bốn thứ ở ba cõi, có mười hai thứ.

Chín mươi tám thứ nầy là thể của bảy sử, cho đến nói rộng.

Đã nói thể tánh của sử. Về lý do nay sẽ nói:

Hỏi: Vì sao gọi là sử? Sử là nghĩa gì?

Đáp: Nghĩa vi tế là nghĩa sử, nghĩa chấp trước bền chắc là nghĩa sử, nghĩa theo đuổi nhau là nghĩa sử.

Nghĩa vi tế là nghĩa sử: Vi gọi là tế, như bảy vi trần thành một tế trần.

Nghĩa chấp trước bền chắc là nghĩa sử: Cho đến khoảng một sátna, một vi trần sử cũng sinh ra sự chấp trước.

Nghĩa theo đuổi nhau là nghĩa sử: Như pháp theo đuổi bóng của chúng sinh đi trong nước, đi trên hư không là chim, đi trong nước là loài vật ở trong nước. Chim dùng sức của đôi cánh, nhằm bay qua biển cả. Loài vật trong nước biển nhận lấy tướng chim bay rồi, nghĩ rằng: Không có chim bay nào có thể bay qua biển cả, trừ chim cánh vàng đầu đàn, liền đuổi theo bóng chim kia. Vì quá mỏi mệt, chim kia rơi xuống nước, loài vật nọ bèn nuốt chửng.

Cũng thế, các sử thường ở trong thân bất cứ lúc nào. Nếu không chánh tư duy thì sẽ sinh quả y, quả báo.

Lại nữa, vi tế là thể của sử, sự chấp trước là sở tạo tác, theo đuổi nhau là đắc.

Lại nữa, vi tế là sử quá khứ, sự chấp trước là sử hiện tại, theo đuổi nhau là sử vị lai.

Lại nữa, nghĩa vi tế, nghĩa chấp trước là nghĩa sử tương ưng. Nghĩa theo đuổi nhau là nghĩa sử không tương ưng với tâm.

Hỏi: Sử không có không tương ưng?

Đáp: Trong đây nói đắc của sử là sử. Pháp sư nước ngoài nói sử có bốn nghĩa:

  1. Nghĩa vi là nghĩa sử.
  2. Nghĩa chấp trước là nghĩa sử.
  3. Nghĩa khắp là nghĩa sử.
  4. Nghĩa theo đuổi nhau là nghĩa sử.

Nghĩa vi tế là nghĩa sử: Tự tánh của sử nầy vi tế, sở hành cũng vi tế.

Nghĩa chấp trước là nghĩa sử: Sử kia chấp trước bền chắc đối với thân nầy, cũng như đứa trẻ giữ chắc lấy vú sữa.

Nghĩa khắp là nghĩa sử: Sử kia ở khắp trong thân, như dầu ở trong hạt mè, chất béo ở trong khối thịt.

Nghĩa theo đuổi nhau là nghĩa sử: Như cách đuổi theo bóng của chim bay trên hư không, loài vật đi trong nước.

Lại nữa, nghĩa vi tế là nghĩa sử: Là tự thể của sử.

Nghĩa chấp trước là nghĩa sử: Là chỗ hành.

Nghĩa khắp là nghĩa sử: Là tương ưng.

Nghĩa theo đuổi nhau là nghĩa sử: Là các đắc.

Nên dùng ba việc để nhận biết sử:

  1. Dùng tự thể.
  2. Dùng quả.
  3. Dùng con người.

Dùng tự thể: Sử dục ái, như ăn miếng to, nhiều. Sử giận dữ, như ăn hạt sâm đắng. Sử hữu ái như áo dính sữa mẹ. Sử mạn, như người kiêu mạn. Sử vô minh như người mù. Sử kiến như người đi lạc đường. Sử nghi như người đi đến đường rẽ.

Do quả: Thực hành rộng khắp sử dục ái, sinh vào loài chim sẻ, oan ương, bồ câu. Thực hành rộng khắp sử giận dữ, sẽ đọa vào loài rắn độc.

Thực hành rộng khắp sử hữu ái, sẽ sinh lên cõi Sắc, cõi Vô sắc. Thực hành rộng khắp sử mạn, sẽ đọa trong hạng thấp kém. Thực hành rộng khắp sử vô minh, sẽ đọa trong cảnh mù lòa, tăm tối. Thực hành rộng khắp sử kiến sẽ rơi vào ngoại đạo. Thực hành rộng khắp sử nghi sẽ sinh vào chốn biên địa.

Do người: Sử dục ái, lấy Nan đà v.v… để biết. Sử giận dữ lấy Khí hư, Chỉ man v.v… để biết. Sử hữu ái lấy A-tư-đà, A-la-tra, Ưu-đà-ca v.v… để biết. Sử mạn lấy Ma-na đáp-đà v.v… để biết. Sử vô minh lấy Ưu-lâu-tần-loa Ca-diếp v.v… để biết. Sử nghi lấy Ma-lặc-ca-tử v.v…để biết.

Hỏi: Vì sao ganh tỵ (Tật) keo kiệt (san) không lập sử?

Đáp: Vì không có tướng sử, nên không lập sử. Lại nữa, ganh tỵ, keo kiệt là phiền não thô, vi tế là sử. Tánh ganh ghét nặng, tánh của sử nhẹ, tánh ganh ghét chậm, tánh của sử nhanh.

Lại nữa, tập khí của tánh san tật, không bền chắc, tập khí của tánh sử bền chắc. Tập khí bền chắc thì lập sử, không bền chắc thì không lập. Như đốt cỏ chỗ lớp ngoài, khi lửa tắt, đất chỗ đó liền nguội. Tập khí ganh tỵ, keo kiệt cũng giống như thế. Như đốt gỗ Khư-đà-la, dù lửa tắt đã lâu, nhưng đất chỗ đó vẫn còn nóng. Tập khí của tánh của sử, phải biết cũng giống như thế.

Chín kiết: Kiết ái, kiết giận dữ, kiết mạn, kiết vô minh, kiết kiến, kiết thủ, kiết nghi, kiết thật (ganh ghét) và kiết xan (keo kiệt).

Hỏi: Thế tánh của chín kiết là gì?

Đáp: Có một trăm thứ, kiết ái ba cõi có mười lăm thứ. Kiết giận dữ có năm thứ. Kiết mạn ba cõi có mười lăm thứ. Kiết vô minh ba cõi có mười lăm thứ. Kiết kiến có mười tám thứ: thân kiến ba cõi có ba thứ. Biên kiến cũng thế. Tà kiến ba cõi có mười hai thứ. Kiết thủ có mười tám thứ: kiến thủ ba cõi có mười hai thứ. Giới thủ ba cõi có sáu thứ. Kiết nghi ba cõi có mười hai thứ, kiết tật, san, chỗ dứt của tu đạo cõi Dục có hai thứ.

Đã nói thể tánh kiết. Về lý do nay sẽ nói:

Hỏi: Vì sao gọi là kiết? Kiết có nghĩa là gì?

Đáp: Nghĩa trói buộc là nghĩa kiết. Nghĩa hợp với khổ là nghĩa kiết. Nghĩa xen lẫn chất độc là nghĩa kiết. Phần còn lại như chỗ ba kiết đã nói.

Đã nói chung về lý do của chín kiết. Về lý do của mỗi kiết nay sẽ nói:

Hỏi: Thế nào là kiết ái?

Đáp: Ái của ba cõi được lập là kiết ái: Ái cõi Dục lập sử dục ái. Ái cõi Sắc, cõi Vô sắc lập sử hữu ái.

Kinh nói có ba ái: Ái dục, ái sắc, ái vô sắc.

Hỏi: Ba thứ ái nầy có gì khác nhau?

Đáp: Người được Phật hóa có ba hạng: Lợi căn (căn nhạy bén) căn trung bình, độn căn (căn tánh chậm lụt). Vì người căn tánh nhạy bén nói kiết ái. Vì người căn trung bình nói sử dục ái, sử hữu ái. Vì người căn tánh chậm lụt nói ba ái.

Như căn tánh nhạy bén, căn trung bình, căn tánh chậm lụt, hành lâu, đã hành, mới hành.

Niềm vui lược, niềm vui rộng. Niềm vui lược rộng nói cũng giống như thế.

Lại nữa, vì đồng với nghĩa trói buộc của khổ. Ái cõi Dục cũng đồng với sự trói buộc của khổ. Ái cõi Sắc, cõi Vô sắc cũng đồng với sự trói buộc của khổ.

Thế nào là kiết giận dữ? Là hại chúng sinh.

Hỏi: Như ở trong pháp phi chúng sinh, cũng khởi tâm hại. Vì sao chỉ nói hại chúng sinh?

Đáp: Vì ở trong pháp của số chúng sinh, khởi giận dữ nhiều, đối với số phi chúng sinh, khởi giận dữ ít.

Lại nữa, đối với số chúng sinh khởi giận dữ thì tội nặng, đối với số phi chúng sinh khởi giận dữ thì tội nhẹ.

Lại nữa, do số chúng sinh giận dữ, cũng giận dữ đối với số phi chúng sinh.

Thế nào là kiết mạn?

Đáp: Có bảy thứ mạn là sử mạn:

  1. Mạn.
  2. Đại mạn.
  3. Mạn đại mạn.
  4. Ngã mạn.
  5. Tăng thượng mạn.
  6. Như mạn.
  7. Tà mạn.

Nói rộng, như trong Kiền-độ Tạp.

Thế nào là kiết vô minh?

Đáp: Ba cõi vô tri. Nói như thế là tốt. Nếu nói rằng: Duyên ba cõi vô tri thì sẽ không gồm nhiếp vô lậu duyên sử.

Hỏi: Thế nào là kiết kiến?

Đáp: Là ba kiến: Thân kiến, biên kiến, tà kiến.

Hỏi: Thế nào là kiết thủ?

Đáp: Là hai thứ thủ: Kiến thủ, giới thủ, nói rộng như kinh Ba-giàla-na.

Hỏi: Vì sao năm kiến, ba kiến lập kiết kiến, còn hai kiến lập kiết thủ?

Đáp: Vì đồng với nghĩa trói buộc của khổ, nên thân kiến được gọi là tiếng người nữ, là nghĩa trói buộc của khổ, chẳng phải vui. Như thân kiến, biên kiến, tà kiến cũng giống như thế. Kiến thủ, giới thủ, gọi là tiếng người nam, là nghĩa trói buộc của khổ, chẳng phải vui (Theo pháp Thanh luận ở Thiên trúc có tiếng người nam, người nữ, tiếng chẳng phải nam, chẳng phải nữ).

Lại nữa, thể của hai kiết nầy đồng, sử gồm nhiếp cũng đồng. Thể đồng: Thể của kiết kiến có mười tám, thể của kiết thủ cũng mười tám, sử gồm nhiếp cũng giống như thế.

Lại nữa, nếu hành kiến, hành tà, chẳng phải thủ, là kiết kiến. Nếu hành kiến, hành tà là thủ, chẳng phải kiến, là kiết thủ.

Thế nào là kiết nghi? Là do dự đối với đế.

Hỏi: Vì sao soạn luận nầy?

Đáp: Vì muốn cho ý nghi ngờ được quyết định. Nếu thấy từ xa một vật thể cao, thì nghĩ rằng chẳng biết là người hay gốc cây? Nếu biết là người, thì nghi rằng chẳng biết người nam hay người nữ? Thấy hai con đường, ngờ vực là con đường cần đi tới hay chẳng phải con đường cần đi tới? Thấy hai y, hai bát, thì nghi chẳng biết y, bát mà của ta, y bát nào chẳng phải của ta? Người cho như thế đó là kiết nghi thật. Muốn cho nghĩa nầy được quyết định là tà trí, vô ký không ẩn một cõi Dục. Nếu nghi là có khổ, tập, diệt, đạo, hay không có khổ, tập, diệt, đạo? Đây là nghi thật, gọi là kiết nghi.

Hỏi: Thế nào là kiết tật?

Đáp: Thấy sự tốt đẹp của người khác, tâm cảm thấy khó chịu.

Hỏi: Thế nào là kiết keo kiệt (san)?

Đáp: Tâm gắn chặt với keo kiệt.

Hỏi: Vì sao soạn luận nầy?

Đáp: Vì muốn cho người nghi ngờ được quyết định. Người đời đối với sự ganh tỵ, tạo ra tưởng keo kiệt, đối với sự keo kiệt có ý tưởng ganh tỵ. Nếu có người thấy sự tốt đẹp của người khác, tâm sinh ganh tỵ, người đời nói người nầy keo kiệt. Đây chẳng phải keo kiệt mà là ganh tỵ. Nếu có người thấy người khác giấu kín vợ mình, người đời nói người đó là ganh tỵ, thật ra chẳng phải ganh tỵ mà là keo kiệt.

Vì muốn dứt bỏ sự xen lẫn: ganh tỵ tưởng là keo kiệt, keo kiệt tưởng là ganh tỵ, cũng hiển bày rõ sự khác nhau giữa ganh tỵ và keo kiệt, mà soạn luận nầy.

Thế nào là kiết ganh tỵ (tật)? Thấy việc tốt đẹp của người khác, tâm không chịu được. Vì dứt trừ sự ganh tỵ như thế cho là ý keo kiệt. Kiết nầy tướng không chấp nhận, chẳng phải tướng keo kiệt. Nếu thấy người khác có vật tốt đẹp, bèn sinh tâm ganh tỵ: phải chi vật ấy thuộc về ta thì hay biết mấy.

Thế nào là kiết keo kiệt?

Đáp: Tâm gắn chặt với keo kiệt, nên nói như thế nầy: Đã dứt trừ keo kiệt tạo tưởng ganh tỵ, kiết nầy là tướng gắn chặt với keo kiệt, chẳng phải tướng không chịu được, vì khéo giữ gìn vợ mình, không cho ra ngoài.

Hỏi: Vì sao ganh tỵ, keo kiệt ở trong mười triền là kiết, chẳng phải triền khác?

Đáp: Không có tướng của kiết thì không lập, có tướng của kiết thì lập.

Lại nữa, vì biểu hiện kiết sau cùng, nên ganh tỵ, keo kiệt là kiết sau cùng trong mười triền.

Lại nữa, hai kiết nầy có thể tự thành lập. Không có hai tướng có thể tự thành lập, nghĩa là do công dụng của tự lực nên thành lập.

Không có hai tướng, nghĩa là hoàn toàn bất thiện. Triền phẫn, phú có thể tự thành lập, không có hai tướng. Nhưng Pháp sư nước ngoài nói: Hai kiết nầy là sử, không nói là triền, vì thế không nên hỏi.

Thùy, trạo cử không thể tự thành lập. Do sức của người khác nên lập, chẳng phải không là hai tướng, do bất thiện, vô ký. Miên, hối dù có thể tự thành lập, cũng chẳng phải không có hai tướng, do miên có thiện, bất thiện, vô ký, hối có thiện, bất thiện. Không hổ, không thẹn, dù chẳng phải hai tướng, nhưng không tự thành lập, do sức của người khác. Ganh tỵ, keo kiệt chẳng phải hai tướng, cũng tự thành lập.

Lại nữa, hai kiết nầy là pháp thấp kém đáng quở trách.

Lại nữa, vì đây là việc làm của kẻ thấp kém, xấu ác. Nếu người đời cúng dường cho người khác, sao lại sinh ganh tỵ? Dù có chứa nhóm trăm, ngàn của báu, nhưng vẫn không thể cầm giữ năm tiền đến với đời sau. Nếu sẽ thí cho người khác thì có lỗi gì?

Lại nữa, thế gian do hai kiết nầy, nên đã từng chịu nhiều sự chê bai, hủy nhục. Người đời khinh chê hai pháp, cho là kẻ nghèo cùng không có oai thế. Do thực hành rộng khắp kiết ganh tỵ, nên khiến không có oai thế. Thực hành rộng khắp kiết keo kiệt khiến người nghèo cùng. Nếu người nghèo cùng, không có uy thế thì cha mẹ, anh em, thân thuộc, tôi tớ, cho đến vợ mình, đều bị xem thường.

Lại nữa, hai kiết nầy, đối với chúng sinh cõi Dục, có thể làm hai việc:

  1. Như lính giữ ngục.
  2. Như người giữ cửa.

Như người bị giam cầm trong lao ngục, do hai người canh giữ, không cho ra ngoài. Ví như trong khu vườn thanh tịnh, trang nghiêm, cho hai người giữ cửa, không cho người đi vào. Đường ác nên biết như lao ngục. Ganh tỵ, keo kiệt nên biết như lính giữ ngục. Chúng sinh sở dĩ không thể ra khỏi ngục đường ác là do ganh tỵ, keo kiệt giữ chặt. Người, trời như khu vườn trang nghiêm, thanh tịnh. Ganh tỵ, keo kiệt, như hai kẻ giữ cửa. Sở dĩ chúng sinh không có được thú vui trong cõi người, trời, là do ganh tỵ, keo kiệt canh giữ.

Vì việc nầy, nên ganh tỵ, keo kiệt được lập kiết. Như kinh nói: Thích Đề Hoàn Nhân đi đến chỗ Phật hỏi rằng: Bạch Đức Thế tôn! Người, trời thường gây ra kiết nào? A-tu-la, Kiền-thát-bà, cho đến nói rộng.

Phật bảo Kiều-thi-ca: Người, trời thường gây ra kiết ganh tỵ, kiết keo kiệt. A-tu-la, rồng, Ca-lâu-la, Kiền-thát-bà, Khẩn-na-la, Ma-hầula-già, các chúng sinh như thế v.v… cũng thường gây ra kiết ganh tỵ, kiết keo kiệt.

Hỏi: Chúng sinh hoặc có chín kiết, hoặc có sáu kiết, hoặc có ba kiết, hoặc có không có kiết. Chín kiết là phàm phu bị trói buộc đủ.

Có sáu kiết: Là phàm phu lìa dục cõi Dục, bậc Thánh chưa lìa ái dục.

Có ba kiết: Là bậc Thánh đã lìa dục.

Không có kiết: Là A-la-hán.

Không có chúng sinh tạo thành hai kiết, một kiết, vì sao Đức Thế tôn nói: Người, trời, A-tu-la v.v… thường tạo ra hai kiết?

Đáp: Vì ganh tỵ, keo kiệt là sở hành của người giàu sang, Đế-thích là bậc tôn quý trong hai trời.

Lại nữa, do hai kiết nầy, nên trời, A-tu-la thường chiến đấu với nhau. Chư Thiên có thức ăn ngon, A-tu-la thì có gái đẹp. Chư Thiên vì keo kiệt về thức ăn, không muốn cho nơi khác. Đối với người nữ, sinh tâm ganh tỵ nói: phải chi là của chúng ta thì tốt biết mấy.

A-tu-la thì keo kiệt đối với người nữ, không muốn cho họ đi ra ngoài, đối với thức ăn, sinh tâm ganh tỵ nói: Đối với chúng ta thì tốt phải chi thuộc về chúng ta thì tốt biết mấy.

Chư Thiên vì người nữ, nên đi xuống thành của A-tu-la. A-tu-la vì thức ăn, nên lên đến thành cõi trời.

Do việc nầy, nên trời và A-tu-la thường chiến đấu với nhau.

Bấy giờ, Đế-thích từ trận chiến đi ra, tâm sợ hãi không bao lâu liền đến chỗ Phật, bạch Phật: Người, trời, A-tu-la v.v…, vì kiết gì mà thường chiến đấu với nhau?

Đức Thế tôn dùng sức phương tiện nói rằng: Đế-thích nên biết! Do hai kiết ganh tỵ, keo kiệt đã gây ra tai hại cho ông, phát sinh ách nạn sợ hãi, cũng như gánh nặng!

Vì việc nầy, nên người, trời, A-tu-la v.v… do hai kiết ấy mà thường chiến đấu với nhau.

Chín mươi tám sử:

Hỏi: Vì sao soạn luận nầy?

Đáp: Vì muốn dứt trừ sự đắm nhiễm về văn ý của Sa-môn. Tức có sự chấp trước về văn Sa-môn đã nói để vâng giữ. Lại nói rằng: Phật nói bảy sử, ai là người thông minh hơn Phật, nói chín mươi tám sử?

Vì muốn dứt bỏ ý của người đã nói như thế, đồng thời cũng muốn nói về phần thể tánh tướng của chín mươi tám sử. Vì việc ấy nên soạn luận nầy.

Kinh Phật nói bảy sử, do giới, do chủng, do hành, nên có chín mươi tám sử.

Sử dục ái trong bảy sử, trong chín mươi tám sử, vì chủng loại nên có năm. Sử giận dữ cũng giống như vậy.

Sử hữu ái trong bảy sử trong chín mươi tám sử, vì cõi nên có hai, do chủng nên có năm, do giới, do chủng nên có mười.

Sử mạn trong bảy sử trong chín mươi tám sử, vì giới nên có ba, vì chủng nên có năm. Sử do cõi, do chủng có mười lăm, sử vô minh cũng vậy.

Sử kiến trong bảy sử trong chín mươi tám sử, vì cõi nên có ba, vì hành nên có năm, vì chủng nên có mười hai, vì do cõi, do chủng, do hành nên có ba mươi sáu.

Sử nghi trong bảy sử trong chín mươi tám sử, vì cõi nên có ba, vì chủng nên có bốn, do giới, do chủng nên có mười hai.

*******

 

Ba kiết nầy có bao nhiêu kiết là bất thiện, bao nhiêu kiết là vô ký? Cho đến chín mươi tám sử, có bao nhiêu sử là bất thiện, bao nhiêu sử là vô ký?

Hỏi: Vì sao soạn luận nầy?

Đáp: Hoặc có thuyết nói: Tất cả phiền não đều là bất thiện, vì không có phương tiện thiện xảo giữ gìn, như phái Thí dụ giả nói: Vì chấm dứt ý nghĩ như vậy, cũng nói phiền não là bất thiện, vô ký. Nếu không có phương tiện thiện xảo giữ gìn là bất thiện thì các phiền não lẽ ra phải nói là không có phương tiện khéo léo, không nên nói là bất thiện. Vì sao? Vì không có phương tiện thiện xảo là không biết gìn giữ sự tương ưng ấy, vì không thể tự thể lại tương ưng với tự thể.

Lại nữa, hoặc có thuyết nói: Các phiền não cõi Dục đều là bất thiện, các phiền não cõi Sắc, cõi Vô sắc đều là vô ký.

Vì chấm dứt ý của thuyết như thế, cũng nói Thân kiến, Biên kiến đều là pháp vô ký, nên soạn luận nầy.

Lại có thuyết nói: Sở dĩ soạn luận là vì nghĩa gì nên soạn luận? Đáp: Vì muốn cho nghĩa ấy được thành lập, nên soạn luận nầy. Cho nên trước nêu câu hỏi: Vì nghĩa gì, Tôn giả kia soạn luận mà lập chương trước?

Đáp: Vì muốn hiện bày môn, nên nay vì muốn thể hiện môn, nên soạn luận nầy.

Trong ba kiết nầy, có bao nhiêu kiết bất thiện, bao nhiêu kiết vô ký?

Đáp: Một kiết là vô ký, đó là thân kiến.

Hỏi: Vì sao thân kiến là vô ký?

Đáp: Nếu pháp nào là không hổ, không thẹn, thì pháp đó sẽ tương ưng với không hổ, không thẹn (vô tàm, vô quý), từ không hổ không thẹn sinh, làm quả y cho không hổ, không thẹn là bất thiện. Thân kiến không tương ưng với không hổ không thẹn, không từ nơi không hổ không thẹn sinh, không làm quả y cho không hổ không thẹn, nên là vô ký.

Lại nữa, kiết nầy không hoàn toàn làm hư hoại tâm trông mong.

Hỏi: Không hoàn toàn làm hư hoại tâm trông mong là sao?

Đáp: Tức như nghĩa trên đã nói, lại nữa, vì kiết nầy không trái với tu thí, giới, nên là vô ký. Nếu người chấp ngã, tu hành bố thí, muốn cho ngã được vui, giữ giới, mong muốn cho ngã được sinh lên cõi trời, tu tập, muốn cho ngã được giải thoát.

Lại nữa, kiết nầy ngu đối với tự thể, không gây bức xúc người khác. Nếu người chấp ngã thì khi mắt thấy sắc, không nghĩ rằng: Mắt có thể thấy sắc, sắc là thấy, mà nghĩ rằng ngã là sắc năng thấy, ngã sở là bị thấy, cho đến ý biết pháp, không nghĩ rằng: Ý có thể biết pháp, pháp là bị biết, nhưng nghĩ rằng ngã là chủ thể biết pháp, ngã sở là bị biết.

Không gây bức xúc người khác: Các kiến điên đảo như thế v.v…là không gây bức xúc người khác.

Lại nữa, vì thân kiến không sinh báo, nên là vô ký.

Tôn giả Hòa-tu-mật nói: Vì sao kiến nầy là vô ký?

Đáp: Vì kiến nầy không thể khởi nghiệp, thân, miệng thô.

Hỏi: Nếu vậy thì phiền não bất thiện cũng có thể không khởi nghiệp thân, miệng thô phải không?

Đáp: Lúc tham, giận dữ, ngu si thêm hưng thịnh, có thể khởi. Lại nữa, vì kiến nầy không thể làm cho con người đọa vào đường ác.

Hỏi: Nếu vậy thì phiền não bất thiện cũng không thể khiến con người đọa vào đường ác?

Đáp: Lúc tham lam, giận dữ, ngu si gia tăng mạnh, thì có thể làm cho con người rơi vào đường ác. Còn khi kiến nầy hưng thịnh thêm, thì không thể khiến làm cho con người đọa vào đường ác.

Lại nữa, kiến nầy chẳng thể sinh quả không ưa thích.

Hỏi: Kiến nầy có thể sinh hữu sau, tức là sinh quả không ưa thích. Vì sao? Vì như Đức Phật nói: Tỳ-kheo! Nếu khởi hữu sau, dù chỉ một sát-na, thì ta không khen ngợi. Vì sao? Vì người khởi hữu là pháp khổ!

Tôn giả Phật-đà-đề-bà nói: chỗ chấp của kiến nầy là điên đảo cũng sinh điên đảo, lẽ ra là bất thiện. Nếu chính thân kiến chẳng phải bất thiện thì thế nào là bất thiện? Đức Thế tôn cũng nói: Cho đến cái ngu nhỏ cũng là bất thiện.

Hai thứ là nên phân biệt:

Hỏi: Vì sao nói phân biệt?

Đáp: Nghĩa nầy nên phân biệt là phần bất thiện, là phần vô ký.

Lại nữa, vì nghĩa nầy cần phải phá trừ, nên nói là phân biệt.

Phái Tỳ-bà Xà-bà-đề nói lời: Vì nghĩa ấy nên giải thích rõ, nên nói là phân biệt: Giới thủ, nghi, nếu ở cõi Dục là bất thiện, nếu ở cõi Sắc, cõi Vô sắc là vô ký.

Hỏi: Vì sao phiền não cõi Sắc, cõi Vô sắc là vô ký?

Đáp: Nếu pháp là không hổ, không thẹn cùng với không hổ, không thẹn tương ưng với không hổ, không thẹn sinh ra, làm quả y cho không hổ, không thẹn là bất thiện. Vì phiền não cõi Sắc, cõi Vô sắc trái với trên, nên là vô ký.

Lại nữa, vì phiền não nầy không làm hư hoại tâm trông mong.

Không làm hư hoại tâm trông mong là sao? Vì nghĩa như đã nói ở trên.

Lại nữa, phiền não cõi Sắc, cõi Vô sắc không thể sinh báo, vì không thể sinh báo nên là vô ký.

Sở dĩ không thể sinh báo là vì bị bốn chi, năm chi định chế phục. Giống như rắn độc đã bị chú thuật chế phục, thì nó sẽ không thể cắn người. Phiền não kia cũng giống như thế.

Lại nữa, vì chẳng phải vật chứa đựng của báo, nên phiền não cõi Sắc, cõi Vô sắc là vô ký.

Nếu chính cõi Sắc, cõi Vô sắc có thể sinh báo, thì sẽ sinh báo nào? Nên sinh khổ thọ. Khổ thọ là pháp cõi Dục, không thể do phiền não cõi Sắc, cõi Vô sắc mà thọ báo trong cõi Dục.

Lại nữa, cõi Sắc, cõi Vô sắc chẳng phải hoàn toàn có thể sinh điên đảo, chỉ có một chút pháp tương tự. Như tà kiến cõi Sắc, cõi Vô sắc chê bai không có khổ, có một chút phần vui là kiến của kiến thủ. Ấm cõi Sắc, cõi Vô sắc là bậc nhất. Tà kiến cõi Sắc, cõi Vô sắc kia có phần ít kiến của giới thủ thứ nhất. Ở cõi Sắc, cõi Vô sắc có phần ít tịnh, cũng có khả năng tịnh hóa đạo cõi Dục. Cõi Vô sắc có khả năng tịnh hóa đạo cõi Sắc.

Tôn giả Hòa-tu-mật nói: Vì sao các phiền não cõi Sắc, cõi Vô sắc là vô ký?

Đáp: Vì không thể khởi nghiệp thân, miệng thô.

Hỏi: Phiền não bất thiện cũng không thể khởi nghiệp thân miệng thô thì sao?

Đáp: Lúc tham, giận, si thêm hưng thịnh, là có thể khởi nghiệp thân miệng thô. Lúc các phiền não kia thêm hưng thịnh, thì không thể khởi nghiệp thân, miệng thô.

Lại nữa, vì các phiền não kia không thể làm cho con người đọa vào đường ác.

Hỏi: Phiền não bất thiện cũng có khi không thể khiến con người đọa vào đường ác phải không?

Đáp: Lúc tham lam, giận dữ, si mê thêm hưng thịnh, thì có thể làm cho con người đọa vào đường ác, khi các phiền não kia thêm hưng thịnh thì không thể khiến cho con người đọa vào đường ác.

Lại nữa, các phiền não kia không thể sinh quả không ưa thích.

Nếu sinh một chút hữu sau là quả không ưa thích, nói rộng như trên.

Tôn giả Phật Đà Đề Bà nói: Nếu gặp lúc phiền não cõi Sắc, cõi Vô sắc chẳng phải bất thiện, thì thế nào là bất thiện? Đức Thế tôn cũng nói: Phiền não sinh ra nghiệp lẽ ra là bất thiện. Ba căn bất thiện tức là bất thiện. Vì sao? Vì căn bất thiện nầy là phiền não bất thiện, là pháp bất thiện, làm nhân, làm rễ, làm xuất xứ, làm gốc, làm hữu, làm duyên, lập tập, làm chỗ sinh.

Ba lậu: Một là vô ký.

Hai là nên phân biệt.

Một là vô ký là hữu lậu. Sở dĩ là vô ký, như đã nói ở trên.

Hai là nên phân biệt, nghĩa là dục lậu, vô minh lậu. Dục lậu hoặc là bất thiện, hoặc là vô ký.

Vì sao dục lậu là bất thiện? Là vô tàm, vô quý (không hổ, không thẹn) cũng tương ưng với vô tàm, vô quý: Là vô tàm, vô quý nên bất thiện, tức là tự thể. Tương ưng với vô tàm, vô quý, nhận lấy ba mươi bốn thứ: Hoàn toàn bất thiện có ba thứ. Phần ít, đó là thùy miên, trạo cử tương ưng với vô tàm, vô quý là bất thiện.

Thế nào dục lậu là vô ký? Không tương ưng với vô tàm, vô quý. Đây là nói thân kiến, biên kiến, cũng nói là phần ít của ba thứ, nghĩa là thùy miên, trạo cử, tương ưng với thân kiến, biên kiến gọi là vô ký.

Hỏi: Vô tàm không tương ưng với vô tàm, vô quý không tương ưng với vô quý, có thể thuộc về dục lậu vô ký.

Đáp: Văn ấy không nên nói rằng: Thế nào là vô ký, không thuộc về vô tàm, vô quý, không tương ưng với dục lậu.

Vô tàm, vô quý không gồm nhiếp, tức là trừ vô tàm, vô quý không tương ưng, tức là trừ vô tàm, vô quý tương ưng, mà không nói là có ý gì?

Đáp: Mặc dù vô tàm không tương ưng với vô tàm, mà tương ưng với vô quý, dù vô quý không tương ưng với vô quý, mà tương ưng với vô tàm. Vì sao? Vì không lìa nhau. Cho nên chẳng thuộc về dục lậu vô ký. Vô minh lậu hoặc là bất thiện, hoặc là vô ký.

Thế nào là vô minh lậu bất thiện? Vì tương ưng với vô tàm, vô quý. Cũng thế, tức là nói vô minh, chỗ dứt của bốn thứ ở cõi Dục, nghĩa là chỗ dứt của tu đạo, của tập, diệt, đạo và chỗ dứt của khổ đế.

Phần ít, nghĩa là ba kiến nghi, ái, giận dữ, mạn tương ưng với vô minh và vô minh bất cộng.

Thế nào là vô minh lậu vô ký? Vì không tương ưng với vô tàm, vô quý. Cũng thế tức là nói vô minh tương ưng với thân kiến, biên kiến cõi Dục, vô minh chỗ dứt của năm thứ cõi Sắc, cõi Vô sắc.

Hỏi: Vì sao trong mười triền, chỉ nói tương ưng với vô tàm, vô quý (không hổ, không thẹn) mà không nói các thứ khác?

Đáp: Vì người soạn luận có ý như thế, muốn như thế. Tùy ý muốn của người soạn luận nầy, cũng không trái với pháp tướng.

Lại nữa, hai triền ấy hoàn toàn bất thiện, tương ưng với tất cả phiền não bất thiện. Triền phẫn, triền phú, triền tật (ganh ghét) triền san(keo kiệt) dù hoàn toàn bất thiện, nhưng không tương ưng với tất cả phiền não bất thiện. Triền thùy, triền trạo cử, dù tương ưng với tất cả phiền não bất thiện mà chẳng phải hoàn toàn bất thiện. Vì sao? Vì là bất thiện và vô ký. Triền miên, triền hối chẳng phải hoàn toàn bất thiện. Vì sao? Vì miên có thiện, bất thiện, vô ký, hối có thiện, bất thiện, vô ký, còn vô tàm, vô quý thì hoàn toàn bất thiện, tương ưng với tất cả phiền não bất thiện. Nên hễ có ngần ấy vô tàm, vô quý tương ưng, thì có ngần ấy phiền não bất thiện. Hễ có ngần ấy phiền não bất thiện, là có ngần ấy tương ưng với không hổ, không thẹn. Như hễ có bao nhiêu cái hộp thì có bấy nhiêu cái nắp đậy. Phiền não kia cũng giống như thế.

Bốn lưu: Một thứ là vô ký, là hữu lưu. Vì sao? Vì là pháp cõi Sắc, cõi Vô sắc. Như nói phiền não cõi Sắc, cõi Vô sắc là vô ký, hữu lưu nầy cũng giống như thế. Ba thứ nên phân biệt, đó là Dục lưu, Kiến lưu và Vô minh lưu.

Dục lưu hoặc bất thiện, hoặc vô ký.

Thế nào là bất thiện? Là vô tàm, vô quý (không hổ, không thẹn) và tương ưng với dục lưu. Vô tàm, vô quý tức là nói thể của vô tàm, vô quý. Tương ưng với dục lưu, chính là nói hai mươi bốn thứ hoàn toàn bất thiện, và phần ít của ba thứ, nghĩa là thùy miên, trạo cử, tương ưng với vô tàm, vô quý.

Thế nào là vô ký? Nghĩa là dục lưu không tương ưng với vô tàm, vô quý. Cũng thế tức là nói phần ít của thùy miên, trạo cử tương ưng với thân kiến, biên kiến cõi Dục.

Kiến lưu hoặc bất thiện, hoặc vô ký.

Thế nào là bất thiện? Ba kiến thuộc cõi Dục, nghĩa là tà kiến, kiến thủ, giới thủ.

Thế nào là vô ký? Là hai kiến thuộc cõi Dục, đó là thân kiến, biên kiến. Năm kiến lệ thuộc cõi Sắc, cõi Vô sắc.

Vô minh lưu, hoặc bất thiện, hoặc vô ký.

Thế nào là bất thiện? Nghĩa là vô minh lưu tương ưng với vô tàm, vô quý.

Thế nào là vô ký? Nghĩa là vô minh lưu không tương ưng với vô tàm vô quý.

Như lưu, ách cũng giống như thế.

Bốn thủ: Một thứ là vô ký, là Ngã ngữ thủ. Vì sao? Vì là pháp cõi Sắc, cõi Vô sắc. Như nói: Phiền não cõi Sắc, cõi Vô sắc là vô ký. Thủ nầy cũng giống như thế.

Ba thứ nên phân biệt, là Dục thủ, Kiến thủ và Giới thủ.

Dục thủ hoặc bất thiện, hoặc vô ký.

Bất thiện là sao? Là không hổ, không thẹn và tương ưng với dục thủ. Vô tàm, vô quý (không hổ, không thẹn) là nói về tự thể, và tương ưng với dục thủ, tức là nói hai mươi tám thứ hoàn toàn bất thiện cùng phần ít của bốn thứ, đó là thùy, miên, trạo cử, vô minh tương ưng với vô tàm, vô quý.

Thế nào là vô ký? Là dục thủ không tương ưng với vô tàm, vô quý, tức là nói phần ít của bốn thứ: Thùy, miên, trạo cử, vô minh, tương ưng với thân kiến, biên kiến lệ thuộc cõi Dục.

Kiến thủ, hoặc bất thiện hoặc vô ký. Bất thiện là thế nào? Hai kiến lệ thuộc cõi Dục: là Tà kiến và kiến thủ. Thế nào là vô ký? Hai kiến lệ thuộc cõi Dục: là Thân kiến và biên kiến: Bốn kiến cõi Sắc, cõi Vô sắc.

Giới thủ: Ở cõi Dục là bất thiện, cõi Sắc, cõi Vô sắc là vô ký.

Bốn phược: Hai phược là bất thiện: Là phược thân tham, phược thân giận. Hai thứ nên phân biệt là phược kiến thủ thân và phược giới thủ thân. Lệ thuộc cõi Dục là bất thiện. Lệ thuộc cõi Sắc, cõi Vô sắc là vô ký.

Năm cái: Chỉ là bất thiện.

Năm kiết: Ba thứ là bất thiện: kiết giận, kiết ganh ghét và kiết keo

kiệt. Hai thứ cần phân biệt: kiết ái và kiết mạn. Lệ thuộc cõi Dục là bất thiện. Lệ thuộc cõi Sắc, cõi Vô sắc là vô ký.

Năm kiết phần dưới, có hai bất thiện: Kiết dục ái, kiết giận dữ. Một thứ vô ký là thân kiến. Hai thứ nên phân biệt là giới thủ và nghi. Lệ thuộc cõi Dục là bất thiện. Lệ thuộc cõi Sắc, cõi Vô sắc là vô ký.

Năm kiết phần trên chỉ là vô ký.

Năm kiến có hai thứ vô ký là thân kiến, biên kiến. Ba thứ nên phân biệt là tà kiến, kiến thủ và giới thủ. Lệ thuộc cõi Dục là bất thiện. Lệ thuộc cõi Sắc, cõi Vô sắc là vô ký.

Sáu ái thân có hai thứ bất thiện: Tỷ xúc sinh ái thân, thiệt xúc sinh ái thân. Bốn thứ nên phân biệt: Nhãn xúc sinh ái thân, nhĩ xúc sinh ái thân, thân xúc sinh ái thân. Lệ thuộc cõi Dục là bất thiện. Lệ thuộc cõi Phạm thế là vô ký. Ý xúc sinh ái thân, lệ thuộc cõi Dục là bất thiện. Lệ thuộc cõi Sắc, cõi Vô sắc là vô ký.

Bảy sử có hai thứ là bất thiện, là sử dục ái và sử giận dữ. Một thứ là vô ký: sử hữu ái. Bốn thứ nên phân biệt, là sử mạn, sử vô minh, sử kiến, sử nghi.

Sử mạn, sử nghi lệ thuộc cõi Dục là bất thiện, lệ thuộc cõi Sắc, cõi Vô sắc là vô ký.

Sử vô minh hoặc bất thiện, hoặc vô ký. Thế nào là bất thiện? Sử vô minh tương ưng với vô tàm, vô quý. Thế nào là vô ký? Là sử vô minh không tương ưng với vô tàm, vô quý.

Sử kiến hoặc bất thiện, hoặc vô ký.

Bất thiện là sao? Ba kiến lệ thuộc cõi Dục. Vô ký là thế nào? Là hai kiến lệ thuộc cõi Dục, năm kiến lệ thuộc cõi Sắc, cõi Vô sắc.

Chín kiết có ba thứ bất thiện: Là kiết giận dữ, kiết keo kiệt, kiết ganh tỵ. Sáu thứ nên phân biệt: Là kiết ái, kiết mạn, kiết thủ, kiết nghi: lệ thuộc cõi Dục là bất thiện, lệ thuộc cõi Sắc, cõi Vô sắc là vô ký.

Kiết vô minh hoặc bất thiện, hoặc vô ký. Thế nào là bất thiện? Vô minh tương ưng với vô tàm, vô quý. Thế nào là vô ký Vô minh không tương ưng với vô tàm, vô quý.

Kiết kiến hoặc bất thiện, hoặc vô ký. Thế nào là bất thiện? Là tà kiến lệ thuộc cõi Dục, thế nào là vô ký? Thân kiến, biên kiến lệ thuộc cõi Dục, ba kiến lệ thuộc cõi Sắc, cõi Vô sắc.

Chín mươi tám sử có ba mươi ba thứ bất thiện, sáu mươi bốn thứ vô ký, một thứ nên phân biệt là sử vô minh, do kiến khổ, lệ thuộc cõi Dục dứt, hoặc bất thiện, hoặc vô ký.

Thế nào là bất thiện? Tương ưng với vô tàm, vô quý.

Vô ký là sao? Là không tương ưng với vô tàm, vô quý. Môn nầy, Tỳ-bà-sa, Ưu-ba-đề-xá là nên phân biệt rộng.

Hỏi: Vì sao gọi là thiện, vì sao gọi là bất thiện, vì sao gọi là vô ký?

Đáp: Nếu đã khéo gìn giữ phương tiện thiện xảo sinh ra quả đáng ưa, yên ổn nên gọi là thiện.

Khéo gìn giữ phương tiện thiện xảo: Là Đạo đế.

Sinh ra quả đáng ưa: Là phần ít của khổ, tập đế.

Yên ổn: Là Diệt đế. Nếu không gìn giữ phương tiện khéo léo, sinh ra quả không đáng ưa, không an ổn là bất thiện. Đây là nói phần ít của khổ đế, tập đế. Trái với đây là vô ký. Lại nữa, sinh quả ái, sinh quả lạc thọ là thiện. Sinh quả không đáng ưa thích, sinh quả khổ thọ là bất thiện. Trái với đây là vô ký.

Lại nữa, sinh chủng tử hữu đáng ưa thích là thiện. Sinh chủng tử hữu không đáng ưa thích là bất thiện. Trái với đây là vô ký.

Lại nữa, sinh trong đường đáng ưa thích là thiện. Sinh trong cõi không đáng ưa thích là bất thiện, trái với đây là vô ký.

Lại nữa, thể tánh nhẹ nhàng ở trong phần vắng lặng là thiện. Thể tánh nặng chìm ở trong phần tăng thịnh là bất thiện. Trái với đây là vô ký.

Tôn giả Bà-đa nói: Vì bốn việc nên gọi là thiện:

  1. Thể.
  2. Gần.
  3. Năng khởi.
  4. Thật nghĩa.

Thể là tự thể. Hoặc có thuyết nói: hổ, thẹn là tự thể.

Hoặc có thuyết nói: Ba căn thiện là tự thể.

Gần: Là pháp tâm, tâm sở.

Năng khởi: Là có thể khởi nghiệp thân, miệng và tâm bất tương ưng hành.

Thật nghĩa: Là Niết-bàn. Vì yên ổn nên nói là thiện. Phái Tỳ-bà Xà-bà-đề đã nói rằng: Tự thể thiện là trí. Gần thiện là thức. Năng khởi thiện là có thể khởi nghiệp thân, miệng. Thật nghĩa thiện: Là Niếtbàn.

Vì bốn việc, nên gọi là bất thiện:

  1. Thể.
  2. Sự gần.
  3. Năng khởi.
  4. Thật nghĩa.

Thể, nghĩa là tự thể.

Hoặc có thuyết nói: Không hổ, không thẹn là tự thể.

Hoặc có thuyết nói: Ba căn bất thiện là tự thể.

Gần: Là tâm, tâm pháp số.

Năng khởi: Là có thể khởi nghiệp thân, miệng và tâm bất tương ưng hành.

Thật nghĩa: Vì sinh tử không yên ổn, nên nói là bất thiện. Là do phái Tỳ-bà Xà-bà-đề nói rằng: Tự thể là ngu si.

Gần là thức.

Năng khởi: Là có thể khởi nghiệp thân, miệng.

Thật nghĩa: Là sự sinh tử.

Tôn giả Ba-xa nói: Nếu pháp là chánh quán, thì sẽ tương ưng với chánh quán. Từ chánh quán sinh ra quả y, quả giải thoát, đó gọi là thiện. Nếu pháp chẳng phải chánh quán, cho đến không từ chánh quán sinh ra quả y, thì đó gọi là bất thiện. Trái với việc nầy, gọi là vô ký. Như chánh quán, không chánh quán, hổ, thẹn, không hổ thẹn, căn thiện, căn bất thiện, năm căn như tín căn, v.v…, năm cái. nói cũng giống như thế.

Kinh Tập Pháp nói: Vì sao gọi là thiện? Đáp: Vì có quả đáng ưa thích, quả tốt đẹp, quả thích hợp, quả vừa ý, nên gọi là thiện. Về quả báo nói cũng giống như thế.

Hỏi: Vì sao gọi là bất thiện?

Đáp: Vì có quả không yêu, quả không tốt đẹp, quả không tối thượng, quả không vừa ý, nên gọi là bất thiện. Về quả báo nói cũng giống như thế. Trái với việc nầy là vô ký.

Hỏi: Đức Thế tôn nhất định ghi nhận khổ, nhất định ghi nhận Tập, nhất định ghi nhận Diệt, nhất định ghi nhận Đạo, nói rộng mười hai nhập, thiết lập giải thoát hiển hiện, vì sao nói vô ký?

Đáp: Không vì lý do không giải thoát, nên nói vô ký, chỉ vì Đức Thế tôn đối với pháp thiện, ghi nhận thiện, pháp bất thiện ghi nhận bất thiện. Pháp nầy chẳng phải pháp thiện đã ghi nhận, chẳng phải pháp bất thiện đã ghi nhận, nên nói là vô ký.

Lại nữa, Đức Thế tôn nói: Pháp thiện có quả đáng ưa thích, pháp bất thiện có quả không đáng ưa thích. Pháp nầy không sinh quả đáng ưa thích, không đáng ưa thích, nên nói là vô ký.

Lại nữa, vì hai việc, nên gọi là thiện:

  1. Do tự thể.
  2. Do có báo.

Bất thiện cũng giống như thế. Vô ký dù có tự thể, nhưng không sinh ra báo, nên nói là vô ký. Đức Thế tôn hoặc có khi không giải thích, gọi là vô ký (Thiên-trúc âm vô ký là vô đáp). Như kinh nói: Sa-môn Cù-đàm! Thế giới là thường chăng? Đức Phật nói: Câu hỏi nầy không nên đáp.

Hỏi: Vì sao Phật không đáp câu hỏi ấy?

Đáp: Vì ngoại đạo chấp con người là thường. Các ngoại đạo kia đi đến chỗ Phật, hỏi rằng: Sa-môn Cù-đàm! Con người là thường hay là chẳng phải thường?

Đức Phật nghĩ: Không có nhân, ngã, đáp không có, thì các ngoại đạo kia sẽ nói rằng: Tôi không hỏi về có, không.

Nếu nói thường, vô thường, vì không có pháp làm sao nói có thường, vô thường? Như hỏi: Con của cô gái bất dục có cung kính, hiếu thuận không? Ngoại đạo kia sẽ nghĩ rằng: Gái bất dục không có con. Nếu ta đáp không thì họ sẽ nói rằng: Tôi chẳng hỏi về không, có. Nếu nói cung kính, hiếu thuận thì họ sẽ nói: Gái bất dục không có con, sao lại nói cung kính, hiếu thuận? Câu hỏi kia cũng giống như thế.

Biện luận nầy chẳng phải có, chẳng phải thật. Chính vì chẳng phải có, chẳng phải thật, nên Đức Thế tôn không đáp.

Có bốn cách đáp, như phẩm Trí trong Kiền-độ Tạp đã nói rộng.

Ba kiết nầy, bao nhiêu kiết có báo, bao nhiêu kiết không có báo? Cho đến chín mươi tám sử, bao nhiêu sử có báo, bao nhiêu sử không có báo?

Hỏi: Vì sao soạn luận nầy?

Đáp: Như phái Thí dụ giả nói: Trừ tư không có nhân báo, trừ thọ không có quả báo.

Vì ngăn dứt ý của người nói như thế, đồng thời cũng biểu hiện năm ấm là quả báo.

Lại nữa, vì sao soạn luận nầy?

Đáp: Hoặc có thuyết nói: Đã nhận nhân báo, thì không có tự thể. Như Bộ Ca-Diếp-Duy nói rằng: Nghĩa của nhân cho đến báo chưa thành thục, nếu khi báo đã thành thục thì báo ấy sẽ không có nghĩa của nhân. Giống như hạt giống khi chưa sinh mầm thì có nghĩa hạt giống. Nếu khi mầm đã mọc ra rồi, thì sẽ không có nghĩa của hạt giống nữa. Nghĩa của nhân kia cũng giống như thế.

Vì ngăn dứt ý như đã nêu của bộ kia, cũng nói về báo, mặc dù là nhân thành thục, nhưng vẫn có tự thể.

Lại có thuyết nói: Vì sao soạn luận nầy? Đáp: Vì ngoại đạo, như ngoại đạo nói: Nghiệp thiện ác không có quả báo. Vì ngăn dứt ý nghĩ như thế của họ, đồng thời cũng nói nghiệp thiện, ác luôn có quả báo.

Cho nên, ngăn dứt nghĩa của người khác, vì muốn làm sáng tỏ nghĩa của mình, cũng nói nghĩa tương ưng của pháp tướng, nên soạn luận nầy.

Nếu đừng vì ngăn dứt nghĩa của người khác, đừng vì làm sáng tỏ nghĩa của mình, chỉ muốn nói nghĩa tương ưng của pháp tướng, nên soạn luận nầy. Như văn của môn đầu đã nói, văn của môn nầy cũng nên nói như thế.

Ba kiết, nếu bất thiện thì có báo, vô ký thì không có báo, cho đến chín mươi tám sử cũng vậy.

Môn nầy là nói rộng, tức Ưu-ba-đề-xá-Tỳ-bà-sa.

Hỏi: Vì báo của pháp mình đều có nên nói có báo, hay do báo của pháp người khác đều có nên nói có báo? Nếu do báo của pháp mình đều có nên nói có báo, vì sao nhân quả không đi chung? Cũng trái với kệ đã nói, như nói:

Làm ác không báo ngay

Như Tát-già ném sữa

Không đốt ngay ngu, nhỏ

Cũng như lửa dưới tro.

Có loại cỏ tên Tát-già, nếu cọ xát nhau là tan nát, bỏ vào sữa, thì thành lạc. Nhân, quả thì không như thế. Vậy là thế nào?

Đáp: Như lửa lẫn trong tro, mới đạp thì không nóng, đứng lâu mới cảm thấy nóng. Cũng thế, nghiệp bất thiện nhân lúc sinh mừng vui, khi biến đổi thành quả sinh ra ấm, giới, nhập của các đường ác. Nếu dùng báo của pháp người khác, đều nói là có báo, Thánh đạo vô lậu cũng đều có báo của pháp người khác, lẽ ra nói là có báo?

Đáp: Nên nói rằng: Vì đi chung với báo của pháp mình, nên nói là có báo.

Hỏi: Nếu vậy thì sao nhân quả không đi chung? Cũng trái với kệ đã nói?

Đáp: Đi chung có hai thứ:

  1. Có đều cùng.
  2. Cùng đều cùng.

Có đều cùng: Là có nhân, có quả, có duyên, có báo.

Có nhân, có quả: Như nhân đã gây ra trước kia trong trăm ức kiếp, dù diệt làm nhân cho pháp đời sau, pháp này đối với nhân dù cách xa vẫn gọi là có nhân. Pháp kia đối với quả dù cách xa vẫn gọi là có quả.

Có duyên: Như mặt trời, mặt trăng cách quả đất nầy bốn ngàn dotuần, nếu mắt duyên đến, liền sinh nhãn thức, cảnh giới dù xa mà vẫn sinh nhãn thức, gọi là đó là có duyên.

Có báo: Nghiệp đã gây ra trong trăm ức kiếp, dù đã diệt mất trong sinh báo của thân hiện nay, nhưng nghiệp kia đối với báo nầy tuy cách xa vẫn nói có báo.

Cùng đều cùng: Như có giác, có quán, có hỷ, có dụng.

Có giác: Pháp tương ưng của giác.

Có quán: Pháp tương ưng của quán.

Có hỷ: Pháp tương ưng của hỷ căn.

Có dụng: Thực hành pháp tương ưng quán.

Trong đây dùng “Có đều cùng” (Hữu câu) để soạn luận, không dùng “Cùng đều cùng” (Tịnh câu).

Lại nữa, “Có đều cùng” có hai thứ:

  1. Có đều cùng.
  2. Đều cùng không lìa nhau.

Có đều cùng: Như nói: Có nhân, cho đến có báo.

Đều cùng không lìa nhau: Như nói: Có giác, cho đến có dụng.

Ở đây, dùng “Có đều cùng” để soạn luận, không nói Đều cùng không lìa nhau.

Lại nữa, có ba thứ đều cùng:

  1. Đều cùng gần.
  2. Đều cùng xa.
  3. Đều cùng gần xa.

Đều cùng gần: Như nói có giác cho đến có dụng.

Đều cùng xa: Như nói có nhân cho đến có báo.

Đều cùng gần xa: Như nói có lậu, có sử, có duyên, có thể.

Có lậu, nghĩa là pháp hữu lậu, hoặc tương ưng với lậu, hoặc làm sở duyên tương ưng với lậu. Làm duyên đều là hữu lậu. Như có lậu, có sử cũng vậy.

Có duyên: Duyên có gần có xa. Duyên gần, duyên xa đều là có duyên. Như có duyên thì tự thể cũng vậy. Trong đây dùng đều cùng xa để soạn luận, không dùng đều cùng gần, không dùng đều cùng gần xa.

Hỏi: Vì sao gọi là báo?

Đáp: Vì sinh ra pháp không giống nhau, nên gọi là báo. Báo có hai thứ: giống nhau và không giống nhau. Giống nhau: Như nương pháp thiện sinh pháp thiện, nương pháp bất thiện sinh pháp bất thiện, nương pháp vô ký sinh pháp vô ký.

Không giống nhau: Như pháp thiện, bất thiện sinh ra báo vô ký. Nghĩa báo khác, như phẩm Trí trong Kiền-độ Tạp có nói rộng.

Ba kiết nầy có bao nhiêu kiết do kiến đạo dứt trừ? Bao nhiêu kiết do tu đạo dứt trừ, cho đến chín mươi tám sử, có bao nhiêu sử do kiến đạo dứt trừ, bao nhiêu sử do tu đạo dứt trừ?

Hỏi: Vì sao soạn luận nầy?

Đáp: Hoặc có thuyết nói: Phàm phu không thể lìa dục, bậc Thánh không thể dùng đạo thế tục để dứt trừ kiết. Như phái Thí dụ giả, Tôn giả Phật-Đà-Đề-Bà nói rằng: Hoặc người phàm phu không thể dứt kiết mà có thể chế ngự triền. Nói như thế gọi là nói không che giấu.

Hỏi: Vì sao Tôn giả kia nói như thế?

Đáp: Vì dựa vào kinh Phật, kinh Phật nói: Tỳ-kheo phải biết, nếu dùng tuệ Thánh để thấy, biết pháp thì gọi là dứt trừ. Người phàm phu không có tuệ Thánh, vì không có tuệ Thánh, nên không gọi là dứt trừ.

Hỏi: Nếu vậy làm sao hiểu được kinh nầy, như nói: Tỳ-kheo phải biết! Uất-đầu-lam-phất đã dứt trừ dục ái, sắc ái, dứt bỏ ái của Không xứ, cho đến ái của Vô sở hữu xứ, sinh Phi tưởng Phi phi tưởng xứ, nên cũng nói vị tiên ngoại đạo có thể lìa dục ái. Người kia đáp rằng: Kinh nầy không dứt nói dứt, không lìa dục nói lìa dục. Kinh khác cũng nói: Không dứt là dứt, không lìa dục là lìa dục. Không dứt là dứt, như kệ nói:

Người chấp các vật là của ta

Khi chết đều bỏ, không đem theo

Cũng thế người trí không nên chấp

Đối với các vật nghĩ của ta.

Không lìa dục, nói lìa dục: Như nói: Như đồng nam, đồng nữ trong thôn xóm, xây ngôi nhà đất. Nếu đối với ngôi nhà đất nầy, khi chưa lìa dục, tâm chúng sinh khởi khát ái, sửa sang, gìn giữ chấp cho là của mình. Nếu khi lìa dục, thì chúng sẽ hủy hoại, đập phá, rồi bỏ đi. Như kinh nầy, không dứt nói dứt, kinh kia cũng vậy. Tuy nhiên, người phàm phu không thể dứt trừ kiết. Nói người phàm phu đã lìa dục cõi Dục, là dùng đạo thế tục để chế ngự, hàng phục phiền não cõi dưới, trên duyên Sơ thiền, như cách bò đi của con sâu xà-lâu. Lìa dục cõi Dục, cho đến lìa dục của Vô sở hữu xứ, Phi tưởng Phi phi tưởng xứ, không còn có địa nào trên để có thể duyên lên trên. Được lìa dục của Phi tưởng Phi phi tưởng xứ, như người trèo lên cây, chuyền từ cành nầy sang cành khác. Nếu chuyền đến ngọn cây, không còn nhánh nhóc, bèn trèo trở xuống. Cũng thế, người phàm phu duyên theo pháp của địa trên, có thể chế ngự, hàng phục phiền não của địa dưới mà không thể dứt trừ. Giống như chó sói đi qua giữa đám lau sậy, cây gai, dù có thể đi qua, do chúng nằm rạp xuống, nhưng không thể chặt đứt. Sự lìa dục kia cũng giống như thế.

Vì ngăn dứt ý của người nói như thế, cũng nói người phàm phu có thể lìa dục, đạo thế tục có thể dứt trừ kiết, nên soạn luận nầy.

Lại nữa, sở dĩ soạn luận nầy vì hoặc có thuyết nói: bậc Thánh không dùng đạo thế tục để dứt trừ kiết. Vì sao? Vì bậc Thánh đâu thể bỏ đạo vô lậu mà theo đạo thế tục.

Vì ngăn dứt ý của người nói như thế, cũng nói, bậc Thánh dùng đạo thế tục dứt trừ kiết, nên soạn luận nầy.

Lại nữa, sở dĩ soạn luận nầy là vì để ngăn dứt ý nói Sa-môn dứt trừ kiết tức khắc, vì có Sa-môn nói pháp dứt trừ kiết ngay, như định Kim cương dụ dứt trừ tất cả kiết. Không có kiết nào không dứt, không phá trừ, không nhập, không được bên kiết đó. Dụ như kim cương không có vật nào không bị nó cắt đứt, đập vỡ, không nhập vào, không được bên. Nghĩa là như răng sắt, ngọc Bối kha, Thạch ma-ni v.v… Pháp dứt trừ kiết kia cũng giống như thế.

Thuyết ấy nói có bốn quả Sa-môn định Kim cương dụ dứt trừ tất cả kiết.

Hỏi: Nếu vậy thì đâu cần ba quả Sa-môn, người kia đáp rằng: Ba quả Sa-môn, khi đã chế phục phiền não, định Kim cương dụ hiện ở trước, dứt trừ tất cả kiết. Giống như nông phu, tay trái nắm lấy cỏ, cùng một lúc tay phải dùng lưỡi hái cắt cỏ. Phép dứt trừ kiết kia cũng giống như thế.

Vì nhằm dứt bỏ ý của thuyết như thế, cũng nói phiền não có hai thứ, có hai thứ đối trị:

  1. Kiến đạo dứt.
  2. Tu đạo dứt.

Kiến đạo dứt: Dùng kiến đạo làm đối trị, tu đạo dứt: Dùng tu đạo làm đối trị.

Lại nữa, vì sao soạn luận nầy?

Đáp: Hoặc có thuyết nói: Cùng lúc kiến đế, chứ chẳng phải kiến đế theo thứ lớp.

Vì ngăn dứt ý của thuyết như thế, cũng nói kiến đế có thứ lớp. Vì nếu cùng lúc kiến đế, chẳng phải theo thứ lớp thì trái với kinh Phật, như kinh nói: Cư sĩ Cấp Cô Độc đi đến chỗ Phật, hỏi Phật: Bạch Đức Thế tôn! Là cùng lúc kiến đế, hay theo thứ lớp kiến đế?

Đức Phật đáp: Nầy Cư sĩ! Theo thứ lớp kiến đế, như pháp bước lên cầu thang.

Lại nữa, sở dĩ soạn luận nầy, là muốn nói phiền não có hai thứ đối trị:

  1. Loại do kiến đạo dứt.
  2. Loại do tu đạo dứt.

Kiến đạo làm đối trị cho loại do kiến đạo dứt, tu đạo làm đối trị cho loại do tu đạo dứt.

Cho nên, vì nhằm ngăn nghĩa của người khác, vì muốn làm sáng tỏ nghĩa của mình, cũng để nói lên nghĩa tương ưng của pháp tướng, nên soạn luận nầy. Nếu đừng ngăn dứt nghĩa của người khác, cũng không làm sáng tỏ nghĩa của mình, chỉ muốn nói về nghĩa tương ưng của pháp tướng mà soạn luận nầy.

Ba kiết ấy có bao nhiêu kiết do kiến đạo dứt, bao nhiêu kiết do tu đạo dứt? Kiến đạo ở trước có hai thứ. Thân kiến ở trước có hai thứ. Hoặc kiến đạo dứt, hoặc kiến đạo, tu đạo dứt.

Hỏi: Ở trước là nghĩa gì?

Đáp: Nghĩa phần lập, nghĩa trước đáp là nghĩa ở trước.

Nghĩa phần lập: Trước lập phần chỗ dứt của kiến đạo, sau lập bất định.

Nghĩa đáp trước: Trước đáp về chỗ dứt của kiến đạo, sau đáp không nhất định:

Thế nào là kiến đạo dứt? Nếu thân kiến là lệ thuộc Phi tưởng Phi phi tưởng xứ, hoặc Kiên tín, kiến pháp, thì dùng khổ nhẫn dứt. Thân kiến ở cõi Dục, cho đến Phi tưởng Phi phi tưởng xứ, có thể được dùng đạo thế tục dứt thân kiến cõi Dục, cho đến Vô sở hữu xứ. Đối với Phi tưởng Phi phi tưởng xứ, đạo thế tục dừng trụ lại không còn thế dụng, nên lại khởi kiến đạo hiện ở trước, dứt trừ thân kiến của Phi tưởng Phi phi tưởng xứ. Nếu nói thân kiến, tức là thể định. Nếu nói lệ thuộc Phi tưởng Phi phi tưởng xứ, tức là địa định. Nếu nói Kiên tín, Kiên pháp, tức người định. Nếu nói khổ nhẫn tức đối trị định. Nếu nói dứt trừ thì việc mình đã làm là định. Đây là nói thân kiến, là đối trị không chung, đối trị quyết định, bậc Thánh có thể dứt, phàm phu thì không thể dứt. Dùng đạo vô lậu, không dùng đạo thế tục, chỉ dùng kiến đạo, không dùng tu đạo, dùng nhẫn, không dùng trí. Trong đây nói thân kiến như thế. Thân kiến khác hoặc phàm phu dứt, do tu đạo dứt. Đệ tử Đức Thế tôn do kiến đạo dứt.

Thế nào là thân kiến khác? Từ cõi Dục cho đến Vô sở hữu xứ, nếu người phàm phu dùng tu đạo dứt, bậc Thánh dùng kiến đạo dứt, người phàm phu thì dùng đạo thế tục để dứt, bậc Thánh dùng đạo vô lậu để dứt, người phàm phu dùng trí dứt, bậc Thánh dùng nhẫn dứt. Người phàm phu với chín thứ thân kiến tạo ra lúc dứt. Bậc Thánh với chín thứ thân kiến, tạo ra một lúc dứt. Sự dứt trừ thân kiến của người phàm phu có dừng, nghỉ. Sự dứt trừ thân kiến của bậc Thánh không có ngừng nghỉ. Người phàm phu dứt, không kiến đế. bậc Thánh dứt thì kiến đế. Cho nên đáp như vậy: Với thân kiến khác, nếu là người phàm phu thì do tu đạo dứt, còn đệ tử Đức Thế tôn thì do kiến đạo dứt. Giới thủ, nghi, do kiến đạo hiện ở trước có hai thứ: hoặc kiến đạo dứt, hoặc kiến đạo, tu đạo dứt.

Nghĩa ở trước như trên đã nói.

Thế nào là kiến đạo dứt? Nếu giới thủ, nghi, lệ thuộc Phi tưởng Phi phi tưởng xứ, hoặc Kiên tín, Kiên pháp, dùng các nhẫn dứt trừ giới thủ, nghi. Từ cõi Dục cho đến Phi tưởng Phi phi tưởng xứ, có thể được đạo thế tục hiện ở trước, dứt trừ giới thủ, nghi cõi Dục, cho đến Vô sở hữu xứ. Đạo thế tục đối với Phi tưởng Phi phi tưởng xứ bèn trụ, không còn thế dụng, lại khởi kiến đạo hiện ở trước, dứt trừ giới thủ, nghi của Phi tưởng Phi phi tưởng xứ. Nếu nói giới thủ, nghi, thì thể định. Nếu nói lệ thuộc Phi tưởng Phi phi tưởng xứ, tức địa định. Nếu nói về Kiên tín, Kiên pháp là người định. Nếu nói các nhẫn, tức là đối trị định. Nếu nói dứt trừ, thì việc đã làm là định. Đây là nói giới thủ, nghi, là đối trị quyết định, đối trị không chung. Bậc Thánh có thể dứt, người phàm phu không thể dứt. Dùng đạo vô lậu, không dùng đạo thế tục, chỉ dùng kiến đạo, không dùng tu đạo, dùng nhẫn, không dùng trí.

Trong đây, là nói giới thủ, nghi như thế.

Giới thủ, nghi khác, người phàm phu dứt dùng tu đạo dứt, đệ tử Đức Thế tôn dùng kiến đạo dứt. Phần còn lại như trên đã nói.

Tham, giận dữ, ngu si và dục lậu, tu đạo hiện ở trước có hai thứ:

Hoặc do tu đạo dứt, hoặc do kiến đạo, tu đạo dứt.

Ở trước là nghĩa gì?

Đáp: Nghĩa phần lập, nghĩa đáp trước là nghĩa ở trước. Nghĩa phần lập: Trước lập phần tu đạo, sau lập không nhất định.

Nghĩa đáp trước: Trước đáp chỗ dứt của tu đạo. Sau đáp không nhất định.

Thế nào là tu đạo dứt?

Đáp: Tham, giận, si và học kiến tích của dục lậu do tu đạo dứt. Tham, giận, si và dục lậu có năm thứ: Kiến khổ dứt chủng, cho đến tu đạo dứt chủng. Kiến đạo hiện ở trước dứt trừ khổ đế dứt, cho đến đạo đế dứt. Tham, giận, si và dục lậu, đối với tu đạo dứt, tức trụ, không còn thế dụng, nên lại khởi tu đạo hiện ở trước, dứt trừ tham, giận, si và dục lậu vốn do tu đạo dứt. nếu nói tham giận si và dục lậu tức là thể định. Nếu nói học kiến tích, thì là người định. Nếu nói tu đạo thì là đối trị định. Nếu nói dứt trừ thì việc mình đã làm là định. Tham, giận, si và dục lậu này là đối trị không chung, đối trị quyết định, là chỗ dứt của bậc Thánh, chẳng phải của người phàm phu, là tu đạo dứt, chẳng phải kiến đạo dứt, là trí dứt, chẳng phải nhẫn dứt.

Trong đây, thì nói tham, giận, si và dục lậu như thế. Pháp khác, nếu người phàm phu dứt, là do tu đạo dứt, đệ tử Đức Thế tôn, là do kiến đạo dứt.

Pháp khác là sao?

Đáp: Pháp khác là có bốn thứ: Là chỗ dứt của kiến khổ, cho đến kiến đạo. Nếu là người phàm phu dứt, thì do tu đạo dứt, đệ tử Đức Thế tôn thì do kiến đạo dứt. Phần còn lại nói rộng như trên. Vì việc ấy, nên nói rằng: Nếu là người phàm phu dứt, là tu đạo dứt, đệ tử Đức Thế tôn thì do kiến đạo dứt.

Hỏi: Nếu nói học kiến tích do tu đạo dứt trừ tham, giận, si và dục lậu, tức là nói chỗ dứt của tu đạo trong thân bậc Thánh. Pháp khác nếu nói người phàm phu dứt là do tu đạo dứt, nếu nói bậc Thánh dứt là do kiến đạo dứt, thì đây là nói tham, giận, si và dục lậu, được dứt trừ do kiến khổ, tập, diệt, đạo trong thân phàm phu bậc Thánh. Ở đây có pháp khác nào chưa nói đến?

Đáp: Tham, giận, si và dục lậu là chỗ dứt của tu đạo trong thân người phàm phu.

Hỏi: Vì sao điều nầy không nói?

Đáp: Đáng lẽ nói mà không nói, phải biết là thuyết nầy chưa rốt ráo.

Lại nữa, đã nói trong thuyết ở trước. Vì sao? Vì chủng nên lập chủng phiền não, không do ở trong thân lập chủng phiền não.

Bằng với năm thứ, không có chủng thứ sáu, bậc Thánh do kiến đạo dứt trừ, do kiến đạo dứt trừ chủng. Do tu đạo dứt trừ, do tu đạo dứt trừ chủng. Người phàm phu, nếu do kiến đạo dứt, hoặc do tu đạo dứt, đều nhóm họp do tu đạo dứt. Vì sao? Vì người phàm phu đối với phiền não do năm thứ dứt, phải dùng tu đạo dứt, nghĩa nầy quyết định.

Vì việc nầy, nên biết đã nói trong thuyết trước đây.

Hữu lậu, vô minh lậu, kiến đạo ở trước, có ba thứ: Hoặc do kiến đạo dứt, hoặc do tu đạo dứt, hoặc do kiến đạo, tu đạo dứt.

Nghĩa ở trước là sao?

Đáp: Nghĩa phần lập, nghĩa đáp trước là nghĩa ở trước. Trước lập kiến đạo dứt chủng , kế là lập tu đạo dứt chủng, sau là lập không nhất định. Đáp trước: Trước đáp về kiến đạo dứt chủng, kế đáp về tu đạo dứt chủng, sau đáp không nhất định.

Thế nào là kiến đạo dứt? Nếu hữu lậu, vô minh lậu lệ thuộc ở Phi tưởng Phi phi tưởng xứ, hoặc Kiên tín, Kiên pháp, dùng các nhẫn dứt bỏ hữu lậu, từ Sơ thiền cho đến Phi tưởng Phi phi tưởng xứ, có thể dứt được vô minh lậu. Từ cõi Dục cho đến Phi tưởng Phi phi tưởng xứ có thể được đạo thế tục hiện ở trước, dứt bỏ vô minh lậu, từ cõi Dục cho đến Vô sở hữu xứ. Đoạn trừ hữu lậu từ Sơ thiền cho đến Vô sở hữu xứ. Đối với Phi tưởng Phi phi tưởng xứ bèn trụ, không còn thế dụng, nên lại khởi kiến đạo hiện ở trước, dứt trừ hữu lậu, vô minh lậu của Phi tưởng Phi phi tưởng xứ vốn do kiến đạo dứt.

Kiến đạo, đối với chỗ dứt của tu đạo, liền dừng trụ, không còn thế dụng, nên lại khởi tu đạo hiện ở trước, dứt trừ hữu lậu, vô minh lậu, vốn là chỗ dứt của tu đạo. Nếu nói hữu lậu, vô minh lậu tức là thể định. Nếu nói Phi tưởng Phi phi tưởng xứ, là địa định. Nếu nói Kiên tín, Kiên pháp, tức người định. Nếu nói các nhẫn, tức đối trị định. Nếu nói dứt, tức việc làm của mình đã định. Hữu lậu, vô minh lậu là đối trị bất cộng, đối trị quyết định, là chỗ dứt của bậc Thánh, chẳng phải của người phàm phu, do đạo vô lậu dứt, chẳng phải đạo thế tục, do kiến đạo dứt chẳng phải tu đạo, do nhẫn dứt, chẳng phải trí.

Trong đây là nói hữu lậu, vô minh lậu như thế.

Hỏi: Thế nào là tu đạo dứt trừ?

Đáp: Hữu lậu, vô minh lậu, Học kiến tích, do tu đạo dứt. Hữu lậu, vô minh lậu có năm thứ: là do thấy khổ mà dứt, cho đến do tu đạo dứt. Kiến đạo dứt, khổ đế dứt, cho đến đạo đế dứt hữu lậu, vô minh lậu. Kiến đạo đối với chỗ dứt của tu đạo bèn dừng trụ, không còn thế dụng, nên lại khởi tu đạo hiện ở trước, dứt trừ hữu lậu, vô minh lậu, vốn là chỗ dứt của tu đạo. Nếu nói hữu lậu, vô minh lậu, tức là thể định. Nếu nói Học kiến tích, tức là người định. Nếu nói tu đạo tức là đối trị định. Nếu nói dứt trừ tức là việc làm của mình định. Hữu lậu, vô minh lậu, là đối trị bất cộng, đối trị quyết định là do bậc Thánh dứt chẳng phải người phàm phu, là tu đạo dứt, chẳng phải kiến đạo, là đạo vô lậu dứt, chẳng phải đạo thế tục, là trí dứt, chẳng phải nhẫn dứt.

Ở đây, là nói hữu lậu, vô minh lậu như thế. Pháp khác: Nếu phàm phu dứt thì do tu đạo dứt, đệ tử Đức Thế tôn thì do kiến đạo dứt.

Hỏi: Pháp khác là sao?

Đáp: Vô minh lậu, cõi Dục có bốn thứ. Hữu lậu, vô minh lậu, từ Sơ thiền cho đến Vô sở hữu xứ có bốn thứ. Ở đây, nếu là phàm phu dứt trừ thì do tu đạo dứt, nếu bậc Thánh dứt trừ, thì do kiến đạo dứt. Phần còn lại nói rộng như trên. Ở trước có ba thứ:

  1. Không chung.
  2. Rốt ráo.
  3. Đầu tiên.

Không chung ở trước: Như ba kiết.

Rốt ráo ở trước: Như tham, giận, si và dục lậu.

Đầu tiên ở trước: Như hữu lậu, vô minh lậu.

Nếu phiền não là chỗ dứt của kiến đạo ba cõi, thì nên tạo ra hai trường hợp ở trước của kiến đạo, như ba kiết. Nếu là chỗ dứt của năm thứ cõi Dục, thì nên tạo ra hai trường hợp ở trước của tu đạo, như tham, giận, si và dục lậu. Nếu là chỗ dứt của năm thứ ba cõi, thì nên tạo ra ba thứ trường hợp ở trước của kiến đạo, như hữu lậu, vô minh lậu. Thuyết nầy là nói tóm lược về Tỳ-bà-sa. Trong năm cái, hối là do tu đạo dứt trừ. Nghi, nếu phàm phu dứt trừ là do tu đạo dứt, đệ tử Đức Thế tôn dứt trừ là do kiến đạo dứt. Năm kiết phần trên là do tu đạo dứt. Năm ái thân là do tu đạo dứt. Kiết ganh tỵ, kiết keo kiệt là do tu đạo dứt. Hai mươi tám thứ trong chín mươi tám sử là do kiến đạo dứt trừ. Mười sử là do tu đạo dứt. Số sử còn lại, nếu phàm phu dứt là do tu đạo dứt trừ, đệ tử Đức Thế tôn dứt là do kiến đạo dứt trừ.

Hỏi: Như kinh Ba-già-la-na chép: Trong chín mươi tám sử, tám mươi tám sử là do kiến đạo dứt, mười thứ là do tu đạo dứt. Vì sao trong đây lại nói hai mươi tám sử là do kiến đạo dứt, mười sử là do tu đạo dứt?

Đáp: Văn nầy là liễu nghĩa, văn của kinh kia là chưa liễu nghĩa. Văn nầy là ý nêu trọn vẹn, văn kia là ý nêu chưa trọn vẹn. Văn nầy không có lý do, văn kia có lý do. Văn nầy là thật nghĩa đế, văn kia là tục đế.

Lại nữa, kinh Ba-già-la-na nói là thuận theo thứ lớp pháp: Nói con người trói buộc đủ, chẳng phải người siêu việt. Ở đây không nói thuận theo thứ lớp pháp, không nói là người trói buộc đủ, không nói người siêu việt.

Lại nữa, trong kinh kia nói phàm phu, bậc Thánh lìa dục, Thánh đạo tạo tác, đạo thế tục tạo tác. Ở đây nói bậc Thánh lìa dục, không nói phàm phu, nói Thánh tạo tác, không nói đạo thế tục.

Lại nữa, trong kinh kia nói lìa dục cõi Dục, cho đến lìa dục của Vô sở hữu xứ, được chánh quyết định, nghĩa là trước dùng đạo thế tục để dứt trừ phiền não cõi Dục, cho đến Vô sở hữu xứ. Kiến đạo kia dứt trừ phiền não, giải thoát được tác chứng khác nhau. Vì sao? Vì được giải thoát kia là do kiến đạo nên có sai khác. Do việc ấy, nên kinh kia nói rằng: Tám mươi tám sử là do kiến đạo dứt, mười sử là do tu đạo dứt.

Cho nên Tôn giả Cù-sa đã nói rằng: Hai mươi tám sử là do kiến đạo dứt, mười sử là do tu đạo dứt.

Vì sao kinh Ba-già-la-na nói rằng: Tám mươi tám sử là do kiến đạo dứt trừ, mười sử là do tu đạo dứt trừ? Kinh ấy đáp: Hai mươi tám thứ quyết định là do kiến đạo dứt, mười thứ là do tu đạo dứt, sáu mươi thứ là bất định. Bất định, nghĩa là ở trong kiến đạo mà có khác nhau.

Kinh Ba-già-la-na nói: Vì theo thứ lớp, nên nói tám mươi tám thứ do kiến đạo dứt, mười thứ là do tu đạo dứt. Môn nầy là Tỳ-bà-sa đã phân biệt rộng.

Hỏi: Vì sao gọi là kiến đạo dứt? Vì sao gọi là tu đạo dứt? Như kiến không lìa tu, tu không lìa kiến. Trong kiến đạo tu như thật cũng có thể được. Trong tu đạo kiến như thật cũng có thể được. Kiến được gọi là tuệ, tu gọi là không buông lung. Như thật là nghĩa gì?

Đáp: Nghĩa luôn luôn, nghĩa chú trọng riêng là nghĩa như thật. Trong kiến đạo tuệ nhiều, không buông lung ít. Trong tu đạo không buông lung nhiều, tuệ ít.

Lại nữa, nghĩa cùng lường xét là nghĩa như thật.

Tôn giả Hòa-tu-mật nói: Thấy bốn chân đế là dứt trừ các phiền não.

Làm sao phân biệt được đâu là kiến đạo dứt, đây là tu đạo dứt?

Đáp: Do kiến dứt do kiến chế phục, do kiến làm nôn ra các phiền não, nên nói là kiến đạo dứt.

Lại có thuyết nói: Phiền não, chỗ dứt của kiến đạo, cũng nên nói là chỗ dứt của tu đạo. Vì sao? Vì trong kiến đạo tu như thật có thể được, nên như nghĩa của ngã, do kiến dứt, do kiến chế phục, do kiến nôn ra các phiền não, gọi là kiến đạo dứt.

Hỏi: Vì sao gọi là tu đạo dứt?

Đáp: Tùy đạo đã được, tu hành rộng khắp, dứt các phần sinh, dứt trừ lượng, dứt trừ chủng, khiến sử mỏng dần, khiến dứt rốt ráo, nên gọi là tu đạo dứt.

Lại có người nói rằng: Tu đạo dứt phiền não, cũng có thể nói là

kiến đạo dứt. Vì sao? Vì trong tu đạo cũng có kiến như thật, như nghĩa ngã, tùy đạo đã được, tu hành rộng khắp, dứt các phần sinh, dứt lượng của sinh dứt, chủng của sinh, khiến sử dần dần mỏng, khiến cho dứt rốt ráo, nên gọi là tu đạo dứt.

Hỏi: Đây là nghĩa gì?

Đáp: Kiến đạo là đạo mạnh mẽ. Nếu khi duyên kiến đạo kia, thì chín thứ phiền não đều được dứt trừ cùng lúc. Tu đạo là đạo không mạnh mẽ, thường phải tu tập thì chín thứ phiền não trong chín thời gian mới dứt trừ được. Ví như dao bén, dao lụt, dùng cắt đồ vật. Dao bén chỉ xuống một nhát, dao lụt thì phải cứa đi cứa lại mới đứt. Tu đạo kia cũng giống như thế.

Lại nữa, nếu dùng kiến riêng nhiều về đạo dứt, thì gọi là kiến đạo dứt. Nếu do tu riêng nhiều về đạo dứt thì gọi là tu đạo dứt.

Lại nữa, nếu dùng hai tướng đạo dứt thì gọi là kiến đạo dứt. Hai tướng: là tướng kiến và tướng tuệ. Nếu dùng ba tướng đạo dứt thì gọi là tu đạo dứt. Ba tướng: là tướng kiến, tướng tuệ và tướng trí.

Lại nữa, nếu dùng bốn tướng đạo dứt thì gọi là kiến đạo dứt. Bốn tướng đó là: Mắt, sự sáng suốt, giác và tuệ. Nếu dùng năm tướng đạo dứt thì gọi là tu đạo dứt. Năm tướng đó là: Mắt, sự sáng suốt, giác, tuệ và trí.

Lại nữa, nếu dùng nhẫn để dứt, tức là kiến đạo dứt, dùng trí để dứt, tức là tu đạo dứt.

Lại nữa, chín kiết được dứt trừ cùng lúc là kiến đạo dứt. Chín thứ kiết được dứt trừ trong chín thời gian là tu đạo dứt.

Lại nữa, do vị tri dục tri căn dứt là kiến đạo dứt. Do tri căn dứt là tu đạo dứt.

Lại nữa, lúc dứt như đá nứt ra là kiến đạo dứt, lúc dứt như ngắt đứt ngó sen là tu đạo dứt.

Lại nữa, trái với phát ý là kiến đạo dứt. Trái vơi phương tiện là tu đạo dứt.

Lại nữa, không hề kiến đế, mà kiến đế dứt là kiến đạo dứt. Đã từng kiến đế, mà quán lần nữa để dứt là tu đạo dứt.

Lại nữa, dùng một nhân đạo dứt là kiến đạo dứt. Dùng hai do đạo dứt là tu đạo dứt.

Lại nữa, như lực sĩ mặc áo giáp dứt là kiến đạo dứt. Như người không có chân đi dứt là tu đạo dứt.

Lại nữa, nếu lúc dứt, tức chỗ nhận biết của trí kia là hành tu đạo, là kiến đạo dứt. Nếu khi dứt, là trí khác, chỗ nhận biết khác, hành tu khác, là tu đạo dứt.

Lại nữa, nếu người hướng về quả không thành tựu để dứt là kiến đạo dứt. Nếu người hướng về quả thành tựu để dứt là tu đạo dứt.

Lại nữa, nếu Kiên tín, Kiên pháp dứt, là kiến đạo dứt. Nếu Tín giải thoát, Kiến đáo, thân chứng dứt là tu đạo dứt.

Lại nữa, nếu đầu tiên phát khởi đạo dứt là kiến đạo dứt. Nếu thường phát khởi đạo dứt đó là tu đạo dứt.

Lại nữa, nếu dứt là thuộc về bốn quả Sa-môn đó là kiến đạo dứt. Nếu dứt thuộc về hoặc ba, hoặc hai, hoặc một quả Sa-môn, đó là tu đạo dứt.

Lại nữa, nếu duyên theo vô sở hữu mà sinh là kiến đạo dứt. Nếu duyên theo hữu mà sở hữu sinh là tu đạo dứt.

Lại nữa, nếu dứt xong không lui sụt là kiến đạo dứt. Nếu dứt rồi, hoặc lui sụt, hoặc không lui sụt, là tu đạo dứt.

Lại nữa, dứt rồi lại không còn buộc, không còn trói là kiến đạo dứt. Dứt rồi hoặc buộc, hoặc lệ thuộc là tu đạo dứt.

Lại nữa, nếu khi dứt, nhẫn là đạo vô ngại, trí là đạo giải thoát, là kiến đạo dứt. Nếu khi dứt, trí là đạo vô ngại, trí là đạo giải thoát, là tu đạo dứt.

Lại nữa, nếu khi dứt, trí làm đạo phương tiện, nhẫn tạo đạo vô ngại, trí tạo đạo giải thoát là kiến đạo dứt. Nếu lúc dứt, trí làm đạo phương tiện, đạo vô ngại, đạo giải thoát là tu đạo dứt.

Lại nữa, nếu trước được phi số diệt, là kiến đạo dứt. Nếu trước hoặc đã được phi số diệt, sau được số diệt, hoặc trước được số diệt, sau được phi số diệt, hoặc cùng lúc được số diệt, phi số diệt là tu đạo dứt.

Lại nữa, nếu khi dứt, duyên một đế tu đạo là kiến đạo dứt. Nếu khi dứt, duyên đạo tu bốn đế là tu đạo dứt.

Lại nữa, nếu khi dứt tu bốn hành đạo là kiến đạo dứt. Nếu khi dứt tu mười sáu hành đạo là tu đạo dứt.

Lại nữa, nếu khi dứt, tu đạo tương tự là kiến đạo dứt. Nếu khi dứt, tu đạo tương tự, không tương tự, là tu đạo dứt.

Lại nữa, nếu khi dứt, hoặc tu một Tam-muội là kiến đạo dứt. Nếu khi dứt, hoặc tu ba Tam-muội là tu đạo dứt.

Lại nữa, nếu khi dứt không dấy khởi, là kiến đạo dứt. Nếu khi dứt, hoặc dấy khởi hoặc không dấy khởi là tu đạo dứt.

Ba kiết nầy, có bao nhiêu kiết do thấy khổ mà dứt, bao nhiêu kiết do tu đạo dứt, cho đến chín mươi tám sử có bao nhiêu sử do thấy khổ mà dứt, có bao nhiêu sử do tu đạo dứt.

Hỏi: Vì sao soạn luận nầy?

Đáp: Môn trước ngăn dứt ý của thuyết Sa-môn dứt trừ tức khắc, không ngăn dứt ý của thuyết một lúc kiến đế, cũng không nói thứ lớp kiến đế.

Nay vì muốn ngăn ý của thuyết kiến đế cùng lúc, cũng nói kiến đế theo thứ lớp, nên soạn luận nầy.

Lại có thuyết nói: Môn trước ngăn dứt ý của thuyết cho kiến đế cùng lúc, cũng nói về kiến đế theo thứ lớp, mà không nói thô hiện.

Nay vì muốn từ thô hiện rõ ràng, ngăn ý của thuyết cho kiến đế cùng lúc, cũng nói kiến đế theo thứ lớp, nên soạn luận nầy.

Lại nữa, vì muốn biểu hiện rõ năm thứ dứt phiền não và năm pháp đối trị. Năm thứ dứt phiền não: Là thứ do thấy khổ mà dứt cho đến thứ do tu đạo dứt.

Năm pháp đối trị: Khổ nhẫn, khổ trí là pháp đối trị của thấy khổ mà dứt, cho đến đạo nhẫn, đạo trí, là pháp đối trị của kiến đạo dứt. Trí là pháp đối trị của tu đạo dứt.

Vì các việc như thế, nên soạn luận nầy.

Ba kiết nầy có bao nhiêu kiết do thấy khổ mà dứt, cho đến nói rộng.

Đáp: Một do thấy khổ mà dứt là thân kiến.

Hỏi: Vì sao thân kiến chỉ do thấy khổ mà dứt?

Đáp: Vì duyên theo khổ mà sinh, nên lại do thấy khổ mà dứt.

Lại nữa, kiến nầy duyên theo quả sinh, nếu khi dùng tuệ quán quả thì kiến nầy liền dứt.

Lại nữa, thân kiến là tánh điên đảo, tất cả điên đảo đều do thấy khổ mà dứt. Nếu khi điên đảo dứt rồi, thì kiến nầy sẽ dứt ngay. Vì sao? Vì đồng một đối trị.

Lại nữa, phiền não này là thô, nên đầu tiên dùng đạo Vô ngại để dứt. Các phiền não khác thì vi tế, nên sau dùng định Kim cương dụ để dứt. Ví như dính nhơ không bám chắc, phủi mạnh thì rớt xuống. Nếu bụi nhơ bám chắc, dĩ nhiên phải dùng nước gụt và dùng nhiều sức, thì mới sạch. Cũng như đồ đựng bằng sành, chất béo không thấm vào, dùng nước rửa liền sạch. Nếu chất béo thấm vào đồ đựng, phải dùng nước nóng để rửa, thì mới sạch. Thân kiến kia cũng giống như thế.

Lại nữa, vì rễ của kiến nầy không ăn sâu vào địa của sở duyên. Do không ăn sâu vào nên tánh nó kém, vì tánh chất kém, nên đầu tiên là dùng đạo vô ngại dứt. Rễ của các phiền não khác ăn sâu vào địa nơi sở duyên, nên sau đạo vô ngại, cho đến định Kim cương dụ dứt trừ. Ví như rễ cây không ăn sâu vào đất, thì khi cơn gió nhẹ thổi qua, thì có thể khiến ngã rạp. Nếu rễ cây ăn sâu vào lòng đất, thì dù bị gió lớn thổi, cũng không thể làm cho cây ngã. Thân kiến kia cũng giống như thế.

Tôn giả Hòa-tu-mật nói: Vì sao thân kiến chỉ do thấy khổ mà dứt?

Đáp: Vì thân kiến duyên theo năm ấm, về sau, khi như thật thấy năm ấm, thân kiến liền dứt.

Lại nữa, kiến nầy sinh ra từ tưởng thường, tưởng lạc, tưởng tịnh, tưởng ngã. Nếu thấy được tưởng vô thường, tưởng khổ, tưởng bất tịnh, tưởng vô ngã, thì kiến nầy liền dứt.

Tôn giả Phật-đà-đề-bà nói: Vì kiến nầy từ thân mình sinh, nên gọi là thân kiến. Nếu nhận thấy thân mình vô ngã thì kiến nầy sẽ dứt trừ.

Giới thủ hoặc do thấy khổ mà dứt, hoặc do kiến đạo dứt.

Hỏi: Vì sao giới thủ chẳng phải do kiến tập, thấy diệt mà đoạn?

Đáp: Vì ngoại đạo, hành vi của họ trái với khổ, đạo, không trái với tập, diệt. Vì sao? Vì ngoại đạo chấp tập như cấu uế, chấp diệt như chỗ tắm gội, vì cầu mong chỗ tắm gội nên thực hành các thứ khổ hạnh. Vì thực hành các thứ khổ hạnh, nên vết nhơ của phiền não càng nhiễm vào tâm thêm. Như người vì muốn rửa bỏ vết nhơ, lại lội xuống vũng nước đục để tắm gội thì càng nhơ bẩn thêm. Ngoại đạo kia cũng giống như thế.

Lại nữa, vì từ khổ sinh, nên lại do thấy khổ mà dứt, từ đạo sinh, nên lại do kiến đạo dứt.

Lại nữa, từ cấu uế sinh nên là thấy khổ mà dứt, từtịnh sinh là kiến đạo dứt.

Lại nữa, là sở hành của nội đạo là thấy khổ mà dứt, sở hành của ngoại đạo là kiến đạo dứt.

Lại nữa, chẳng phải nhân chấp là nhân, là thấy khổ mà dứt. Chẳng phải đạo, chấp là đạo, là kiến đạo dứt.

Nghi do kiến khổ, tập, diệt, đạo dứt.

Hỏi: Vì sao trong tu đạo dứt không có nghi?

Đáp: Nếu khi chưa thấy thể của đạo, tâm sinh do dự. Khi đã thấy thể của đạo rồi, thì tâm sinh quyết định. Cho nên chỗ dứt của tu đạo không có nghi.

Ba căn bất thiện, ba lậu, do thấy khổ mà dứt trừ, cho đến do tu đạo dứt. Nói chung là năm thứ dứt. Hoặc có một thứ, hai thứ, bốn thứ, năm thứ dứt, nghĩa là môn khác, nói rộng như kinh nầy. Môn nầy là nói rộng Ưu-ba-đề-xá, Tỳ-bà-sa.

Hỏi: Vì sao gọi là kiến đạo dứt, cho đến gọi là tu đạo dứt?

Đáp: Nếu duyên quyết định, đối trị quyết định, gọi là kiến đạo dứt. Nếu duyên không quyết định, đối trị không quyết định thì gọi là tu đạo dứt.

Lại nữa, nếu xứ sở quyết định, hoặc duyên quyết định, hoặc đối trị quyết định, gọi là kiến đạo dứt. Nếu xứ sở không quyết định, duyên không quyết định, đối trị không quyết định, thì gọi là tu đạo dứt.

Lại nữa, nếu dùng khổ nhẫn, khổ trí làm đối trị, cho đến đạo nhẫn, đạo trí làm đối trị, gọi là kiến đạo dứt. Nếu dùng trí đối trị thì gọi là tu đạo dứt.

Lại nữa, nếu thấy khổ mà dứt, gọi là thấy khổ mà dứt. Nếu kiến đạo dứt, gọi là kiến đạo dứt. Nếu hoặc kiến khổ, hoặc kiến tập, hoặc kiến diệt, hoặc kiến đạo dứt, thì gọi là tu đạo dứt.

Lại nữa, nếu trái với khổ, gọi là thấy khổ mà dứt, cho đến nếu trái với đạo, gọi là kiến đạo dứt. Nếu trái với khổ, tập, diệt, đạo dứt, gọi là tu đạo dứt.

********

 

Ba kiết nầy, có bao nhiêu kiết là kiến, bao nhiêu kiết chẳng phải kiến, cho đến chín mươi tám sử, có bao nhiêu sử là kiến, bao nhiêu sử chẳng phải kiến?

Hỏi: Vì sao soạn luận nầy?

Đáp: Hoặc có thuyết nói: Tất cả phiền não đều là tánh kiến.

Hỏi: Vì sao người kia nói như thế?

Đáp: Người kia nói lời nầy: Sở hành mạnh mẽ là tánh kiến. Tất cả phiền não gọi là đối với tự phần là sở hành mạnh mẽ. Như thân kiến mê đắm ngã, ngã sở. Biên kiến mê đắm đoạn, thường. Tà kiến mê đắm vô sở hữu. Kiến thủ mê đắm bậc nhất. Giới thủ mê đắm tịnh, đều có sở hành mạnh mẽ. ái cũng giống như thế, đối với chỗ nhiễm vướng, sở hành cũng mạnh mẽ. Giận dữ, oán ghét, ngã mạn, tự cao, ngu si, nghi do dự, sở hành cũng đều mạnh mẽ.

Vì dứt trừ ý của thuyết như thế, cũng nói phiền não có khi là tánh kiến, có khi chẳng phải tánh kiến, nên soạn luận nầy.

Ba kiết nầy có bao nhiêu kiết là tánh kiến? Bao nhiêu kiết chẳng phải tánh kiến?

Đáp: Hai kiết là tánh kiến, là thân kiến, giới thủ, một kiết chẳng phải tánh kiến, đó là nghi. Môn còn lại nói rộng như trong kinh nầy.

Hỏi: Vì sao gọi là kiến?

Đáp: Trong đây nên nói rộng, như kiến xứ trong năm kiến.

Ba kiết nầy, bao nhiêu kiết có giác, có quán? Bao nhiêu kiết không giác, có quán? Bao nhiêu kiết không giác, không quán, cho đến chín mươi tám sử, bao nhiêu sử có giác có quán? Bao nhiêu sử không giác có quán? Bao nhiêu sử không giác không quán?

Hỏi: Vì sao soạn luận nầy?

Đáp: Hoặc có thuyết nói: Giác, quán từ cõi Dục cho đến cõi Hữu Đảnh, như phái Thí dụ giả nói. Vì sao người kia nói như thế? Vì người kia dựa vào kinh của Phật. Trong kinh Phật nói: Tâm thô là giác, tâm tế là quán. Tướng thô tế nầy, từ cõi Dục cho đến cõi Hữu Đảnh có thể đạt được.

Tôn giả Phật-đà-đề-bà nói: Người A-tỳ-đàm nói rằng: Tướng thứ lớp của tâm tròn đủ mà có thô, tế khắp trong ba cõi. Tuy nhiên, từ cõi Dục cho đến cõi Phạm Thế là có giác, có quán.

Người nói như thế, gọi là nói ác. Các ông đã nói như thế nầy: Tâm thô là giác, tâm tế là quán, Tâm thô, tâm tế nầy, cho đến cõi Hữu Đảnh đều có thể đạt được, nhưng lại nói giác quán từ cõi Dục cho đến hiện hữu trong cõi Phạm Thế. Cho nên thuyết các ông nói là thuyết ác, chẳng phải thuyết thiện, vâng giữ điều ác, chẳng phải vâng giữ điều thiện.

Người A-tỳ-đàm nói như thế nầy: Thuyết của chúng ta đã nói là thuyết thiện, vâng giữ điều thiện, chẳng phải thọ trì điều ác. Vì sao? Vì chúng ta đã dùng các việc để nói về tướng thô, tế, chẳng phải dùng một việc. Như nói: Triền thô, sử tế, ở đây không nói giác thô, quán tế. Vì sao? Vì hai pháp nầy chẳng phải tướng giác, quán. Như nói: Sắc ấm là thô, bốn ấm là tế.

Cũng thế, tức nói giác và quán đều là pháp tế. Vì sao? Vì đồng thuộc về hành ấm. Như nói: Cõi Dục là thô, Sơ thiền là tế. Cũng thế cũng nói giác, quán là thô là tế… Vì sao? Vì Sơ thiền, cõi Dục đều có giác quán. Như nói: Địa Sơ thiền thô, địa Nhị thiền tế. Cũng thế tức nói giác, quán là thô. Vì sao? Vì trên địa Sơ thiền không còn giác quán.

Hỏi: Thuyết kia nói trên địa Sơ thiền có giác, quán, vì sao lại nói sự khác nhau của ba địa?

Đáp: Người kia nói rằng: Sơ thiền cõi Dục, cho đến Phi tưởng Phi phi tưởng xứ có ba thứ pháp: Thiện nhiễm ô, vô ký không ẩn một. Pháp nhiễm ô sâu xa của thiền trung gian, cho đến Phi tưởng Phi phi tưởng xứ, đó gọi là địa có giác, có quán. Pháp thiện, vô ký không ẩn một của thiền trung gian, đó gọi là địa không giác, có quán.

Pháp thiện, pháp vô ký không ẩn một của đệ Nhị thiền trở lên, cho đến Phi tưởng Phi phi tưởng xứ, đó gọi là địa không giác, không quán.

Hỏi: Nếu vậy thì làm sao hiểu được kinh Phật? Như kinh nói: Diệt hết giác, quán, định sinh hỷ lạc, nhập đệ Nhị thiền. Người kia đáp rằng: Diệt giác quán thiện, chẳng phải nhiễm ô.

Hỏi: Nếu vậy vì nhân việc gì để diệt giác quán thiện, chẳng phải nhiễm ô?

Đáp: Nên trước diệt nhiễm ô về sau, lúc lìa dục, mới diệt thiện. Chỉ phái Thí dụ giả nói địa trên có giác, quán. Phải biết thuyết nầy là quả vô minh, quả đen tối, quả của phương tiện không siêng năng, nhưng vì có giác, quán trong Sơ thiền cõi Dục.

Vì muốn ngăn nghĩa của người khác, cho đến nói rộng, nên soạn luận nầy.

Ba kiết nầy, bao nhiêu kiết có giác, có quán? Bao nhiêu kiết không giác, có quán? Bao nhiêu kiết không giác, không quán?

Đáp: Ba kiết có ba thứ: Hoặc có giác, có quán. Hoặc không giác, có quán. Hoặc không giác, không quán.

Thế nào là có giác, có quán?

Đáp: Tại Sơ thiền cõi Dục.

Thế nào là không giác có quán?

Đáp: Người ở thiền trung gian.

Thế nào là không giác, không quán? Đáp: Người ở ba thiền và bốn định vô sắc.

Môn còn lại nói rộng như kinh nầy.

Hỏi: Thế nào gọi là có giác, có quán? Thế nào gọi là không giác, có quán? Thế nào gọi là không giác, không quán?

Đáp: Đi chung với giác, đi chung với quán tương ưng với giác, tương ưng với quán, cùng với giác, quán đều hiện ở trước, đó gọi là có giác có quán.

Nếu không đi chung với giác, chỉ đi chung với quán, không tương ưng với giác, chỉ tương ưng với quán, đã diệt giác và quán, đều hiện ở trước, đó gọi là không giác, có quán. Nếu không đi chung với giác quán, cũng không tương ưng với giác quán, đã diệt giác quán, đó gọi là không giác không quán.

Lại nữa, nếu có các thứ số, hoặc các thứ quán, đó gọi là có giác, có quán. Nếu có loại quán không có loại số, thì đó gọi là không giác, có quán.

Nếu không là loại số, không là loại quán, thì đó gọi là không giác, không quán.

Ba kiết nầy, có bao nhiêu kiết tương ưng với lạc căn? Bao nhiêu kiết tương ưng với khổ căn? Bao nhiêu kiết tương ưng với hỷ căn? Bao nhiêu kiết tương ưng với ưu căn? Bao nhiêu kiết tương ưng với xả căn?

Cho đến chín mươi tám sử cũng giống như thế.

Hỏi: Vì sao soạn luận nầy?

Đáp: Hoặc có thuyết nói: Lúc pháp sinh, sinh theo thứ lớp, không sinh cùng lúc. Như, Tôn giả Phật-đà-đề-bà thuộc phái Thí dụ giả nói rằng: Khi pháp sinh, sinh theo thứ lớp, không sinh cùng một lúc. Cũng như nhiều người băng qua con đường nhỏ hẹp, theo thứ lớp mà đi, không được đi qua cùng một lúc. Nếu muốn hai người cùng đi qua, điều nầy khó, huống chi là nhiều người. Cũng thế tất cả pháp hữu vi mỗi mỗi đều sinh từ cùng sinh, duyên theo gì là đa số pháp sinh, sinh chung một lúc? Người A-tỳ-đàm nói rằng: Pháp hữu vi, tự có một pháp hòa hợp mà sinh, tự có nhiều pháp hòa hợp mà sinh.

Một pháp hòa hợp sinh: Vì sinh ở trong khoảng một sát-na, nên gọi là một pháp hòa hợp sinh.

Nhiều pháp hòa hợp sinh: Như mỗi pháp số, đều có một sinh, dù nhiều, nhưng không lìa nhau, gọi là nhiều pháp hòa hợp sinh.

Lại nữa, sở dĩ soạn luận nầy, là vì có thuyết nói: Nghĩa của năng lực lần lượt làm nhân cho nhau, là nghĩa tương ưng. Người kia nói lời nầy: Nếu pháp nhân nơi sức của nhân nơi nhau với pháp kia sinh ra là nghĩa tương ưng, như tâm do sức của tâm nên sinh, tâm tương ưng với pháp tâm sở, tâm sở do sức của tâm nên sinh. Số pháp tương ưng với tâm, số pháp do sức của số pháp nên sinh, số pháp tương ưng với số pháp tâm không do sức của số pháp mà sinh, nên tâm không tương ưng với số pháp.

Vì ngăn dứt ý của người nói như thế, cũng nói tâm tương ưng với số pháp, số pháp cũng tương ưng với số pháp, số pháp tương ưng với tâm, tâm không tương ưng với tâm nên soạn luận nầy.

Lại nữa, sở dĩ soạn luận nầy là vì có thuyết nói: Tự thể tương ưng với tự thể, không tương ưng với pháp khác. Người kia nói lời nầy: Nghĩa tôn kính nhau là nghĩa tương ưng. Các pháp kính nhau, không gì hơn tôn kính tự thể.

Vì ngăn dứt ý của người nói như thế, cũng nói về nghĩa tương ưng với pháp khác, nên soạn luận nầy.

Lại nữa, sở dĩ soạn luận nầy là vì có thuyết nói: Tự thể đối với tự thể, không gọi là tương ưng, không gọi là bất tương ưng.

Không gọi là tương ưng: Vì tất cả các pháp không thể làm duyên với tự thể.

Không gọi là bất tương ưng: Nghĩa tôn kính nhau là nghĩa tương ưng. Vì sao? Vì các pháp kính nhau, không gì hơn tôn kính tự thể.

Vì ngăn dứt ý của người nói như thế, cũng nói về pháp tương ưng không xen lẫn. Cho nên, vì nhằm ngăn nghĩa của người khác, muốn hiển bày nghĩa của mình, cho đến nói rộng.

Ba kiết nầy, có bao nhiêu kiết tương ưng với lạc căn? Bao nhiêu kiết tương ưng với khổ căn? Bao nhiêu kiết tương ưng với hỷ căn? Bao nhiêu kiết tương ưng với ưu căn? Bao nhiêu kiết tương ưng với xả căn.

Hỏi: Vì sao chỉ hỏi về tương ưng với thọ mà không hỏi về pháp số khác?

Đáp: Vì ý của người soạn luận muốn thế, cho đến nói rộng.

Lại nữa, thọ không ngăn ngại cho sự thành tựu mà ngăn ngại cho hành hiện tiền.

Thế nào là không trở ngại cho sự thành tựu?

Như một người thành tựu năm thọ.

Thế nào là trở ngại cho hành hiện tiền? Là không có hai thọ cùng một lúc hành hiện tiền.

Lại nữa, do một thể của thọ có tướng của các căn.

Lại nữa, do thọ ở trong bánh xe duyên khởi, cũng như pháp quay của bầu xe.

Lại nữa, do thọ nhập vào tất cả các pháp.

Lại nữa, nếu không hỏi về thọ thì hỏi về cái gì?

Nếu hỏi về tám căn như mạng v.v… thì các căn kia hoàn toàn là pháp không tương ưng. Nếu hỏi về ba căn vô lậu, năm căn như tín căn v.v…, thì các căn kia hoàn toàn là thiện.

Hoặc nói rằng: sao không hỏi về ý căn? Vì ý căn nên gọi là pháp tương ưng, như vì tâm nên gọi là pháp tương ưng của tâm.

Thân kiến, giới thủ tương ưng với ba căn, trừ khổ căn, ưu căn. Sở dĩ trừ khổ căn, vì khổ căn ở địa năm thức, còn đây là ý địa. Sở dĩ không tương ưng với ưu căn, vì ưu căn là hành lo buồn, còn đây là hành vui mừng hớn hở. Nói chung, tương ưng với ba căn, ba căn nầy ở ba cõi, ở Sơ thiền, Nhị thiền cõi Dục tương ưng với hai căn là hỷ căn và xả căn. Ở đệ Tam thiền, tương ưng với hai căn là lạc căn và xả căn. Ở đệ Tứ thiền và bốn vô sắc, tương ưng với một căn là xả căn.

Cho nên, nói tóm lại là tương ưng với ba căn, trừ khổ căn, ưu căn.

Nghi tương ưng với bốn căn, trừ khổ căn. Không tương ưng với khổ căn, vì khổ căn ở địa năm thức. Nói chung là tương ưng với bốn căn.

Nghi ở ba cõi: Ở cõi Dục, tương ưng với hai căn là ưu căn và xả căn. Nếu ở Sơ thiền, Nhị thiền thì tương ưng với hai căn là hỷ căn và xả căn. Ở đệ Tam thiền tương ưng với hai căn là lạc căn, xả căn. Ở đệ Tứ thiền và bốn vô sắc tương ưng với một căn là xả căn.

Cho nên, tóm lại là tương ưng với bốn căn.

Hỏi: Vì sao nghi cõi Dục không tương ưng với hỷ căn, Sơ thiền, Nhị thiền thì tương ưng với hỷ căn?

Đáp: Nghi cõi Dục so sở hành của hỷ đều khác. Sở hành của nghi chẳng phải sở hành của hỷ.

Sở hành của hỷ chẳng phải sở hành của nghi. Vì sao? Vì nghi hiện hành lo lắng. Hỷ hiện hành vui mừng hớn hở. Vì nghĩa đồng là nghĩa tương ưng. Vì nghi không đồng, nên không tương ưng với hỷ. Sơ thiền, Nhị thiền vì đều hiện hành nỗi hân hoan, hiện hành sự vui mừng hớn hở nên tương ưng.

Lại nữa, hỷ cõi Dục thô, nghi thì vi tế. Pháp thô không tương ưng với pháp tế. Vì sao? Vì nghĩa bình đẳng là nghĩa tương ưng.

Hỏi: Hỷ có nghĩa thô nào?

Đáp: Đối với chúng sinh không nên khởi mà khởi. Đối với người đối diện không nên khởi mà khởi. Thế nào là đối với chúng sinh không nên khởi mà khởi? Vì tánh của chúng sinh là khổ.

Đối với người đối diện không nên khởi mà khởi là sao? Vì thấy người khác, hoặc điên đảo, hoặc đọa lạc, hoặc ngộ nhận, lẽ ra phải khởi tâm từ bi mới đúng, đàng nầy lại vui cười!

Ở Sơ thiền, Nhị thiền, vì đều là vi tế nên tương ưng.

Lại nữa, hỷ cõi Dục thì nhẹ, nghi thì nặng. Nhẹ, thì không tương ưng với nặng. Vì sao? Vì nghĩa bình đẳng là nghĩa tương ưng. Địa Sơ thiền, Nhị thiền đều là nặng, cho nên tương ưng.

Lại nữa, hỷ cõi Dục từ pháp ngoài sinh, nghi từ pháp trong sinh. Pháp sinh từ bên ngoài không tương ưng với pháp sinh từ bên trong. Vì sao? Vì nghĩa bình đẳng là nghĩa tương ưng. Sơ thiền, Nhị thiền đều từ bên trong sinh, cho nên tương ưng.

Lại nữa, hỷ cõi Dục là khách, nghi là chủ ở lâu. Khách không tương ưng với chủ ở lâu. Vì sao? Vì nghĩa bình đẳng là nghĩa tương ưng. Sơ thiền, Nhị thiền đều là chủ ở lâu, cho nên tương ưng.

Lại nữa, nghi cõi Dục dù không tương ưng với hỷ căn, nhưng vẫn tương ưng với thọ khác. Hỷ cõi Sơ thiền, Nhị thiền là thọ của tánh địa. Nếu không tương ưng với hỷ căn thì đó gọi là nhóm tâm không thọ, là hoại pháp cùng dựa, là hủy hoại pháp tương ưng.

Vì muốn cho không có lỗi như thế, nên nghi cõi Dục không tương ưng với hỷ căn, còn nghi của Sơ thiền, Nhị thiền tương ưng với hỷ căn.

Tham tương ưng với ba căn, trừ khổ căn, ưu căn. Vì sao? Vì hành tham là vui mừng hớn hở, còn hành ưu, khổ thì lo buồn.

Giận dữ tương ưng với ba căn, trừ hỷ căn, lạc căn. Vì sao? Vì hành giận dữ thì lo buồn, còn hành hỷ, lạc thì vui mừng hớn hở.

Si, dục lậu, vô minh lậu tương ưng với năm căn. Vì sao? Vì ba thứ này chung cho sáu thức thân, sở hành là vui mừng hớn hở, cũng hành lo buồn. Hữu lậu tương ưng với ba căn, trừ khổ căn, ưu căn. Vì sao? Vì cõi Sắc, cõi Vô sắc không có ưu khổ. Ở cõi Sắc, cõi Vô sắc không có nghĩa ưu khổ, trong phần Kiền-độ Căn sẽ nói rộng.

Trừ tà kiến, nghĩa của môn khác, như kinh nầy nói.

Tà kiến tương ưng với bốn căn, trừ khổ căn.

Nói chung là tà kiến tương ưng với bốn căn. Nhưng tà kiến ở ba cõi: Ở cõi Dục tương ưng với ba căn, trừ khổ căn, lạc căn. Ở Sơ thiền, Nhị thiền, tương ưng với hai căn là hỷ căn, xả căn. Ở đệ Tam thiền tương ưng với hai căn là lạc căn, xả căn. Ở đệ Tứ thiền và định vô sắc, tương ưng với một căn là xả căn.

Hỏi: Tà kiến cõi Dục, tà kiến nào tương ưng với hỷ căn? Tà kiến nào tương ưng với ưu căn?

Đáp: Có người bản tánh không ưa bố thí, không ưa cúng tế. Về sau nếu hội hợp một chỗ với ngoại đạo tà kiến, rồi nghe nói rằng: Không có bố thí, không có cúng tế, không có nghiệp báo thiện ác. Lúc nghe lời nói ấy, tâm liền tin ưa, sinh tâm vui mừng: Việc ta đã làm là khéo. Tà kiến như thế là tương ưng với hỷ căn. Lại có người tánh ưa hành bố thí, cúng tế, về sau nếu hội hợp ở một nơi với ngoại đạo tà kiến, nghe họ nói: Không có bố thí, cúng tế, không có nghiệp báo thiện ác. Lúc nghe như thế tâm liền tin ưa sinh tâm lo nghĩ: Những gì chúng ta đã thí cho, đều là vô ích! Vì sao? Vì không có quả báo.

Tà kiến như thế là tương ưng với ưu căn.

Môn nầy là nói rộng Ưu-ba-đề-xá Tỳ-bà-sa.

Hỏi: Vì sao gọi là tương ưng?

Về nghĩa tương ưng, như trong Kiền-độ Tạp phần nhân tương ưng đã nói rộng.

Ba kiết nầy, có bao nhiêu kiết lệ thuộc cõi Dục? Bao nhiêu kiết lệ thuộc cõi Sắc? Bao nhiêu kiết lệ thuộc cõi Vô sắc?

Hỏi: Vì sao soạn luận nầy?

Đáp: Hoặc có thuyết nói: Ganh tỵ, keo kiệt ở cõi Dục, cõi Phạm thế.

Hỏi: Vì sao thuyết kia nói như thế?

Đáp: Vì thuyết kia dựa vào kinh Phật, kinh của Phật nói: Phạm Thiên vương nói với các Phạm chúng: Chúng ta đều ở chung tại đây, không đến chỗ Sa-môn Cù-đàm, nhưng ở nơi nầy tự có thể dẫn đến già, chết.

Người kia nói rằng: Vua Phạm vì ganh tỵ, keo kiệt, nên nói lời ấy.

Vì ngăn dứt ý của người nói như thế, cũng nói ganh tỵ, keo kiệt chỉ ở cõi Dục, nên soạn luận nầy.

Ba kiết, hoặc lệ thuộc cõi Dục, hoặc lệ thuộc cõi Sắc, hoặc lệ thuộc cõi Vô sắc. Về nghĩa của môn nầy đã nói rộng như trong kinh nầy.

Hỏi: Vì sao gọi là lệ thuộc cõi Dục? Vì sao gọi là lệ thuộc cõi Sắc, lệ thuộc cõi Vô sắc?

Đáp: Vì ràng buộc nơi pháp cõi Dục, nên gọi là lệ thuộc cõi Dục. Vì ràng buộc pháp cõi Sắc, cõi Vô sắc, nên gọi là lệ thuộc cõi Sắc, cõi Vô sắc.

Như buộc con bò vào cây nọc, gọi là buộc bò vào nọc. Sự lệ thuộc các cõi kia cũng giống như thế.

Lại nữa, vì chân cõi Dục bị pháp cõi Dục trói buộc, nên gọi là lệ thuộc cõi Dục. Chân cõi Sắc, cõi Vô sắc bị pháp cõi Sắc, cõi Vô sắc trói buộc, nên gọi là lệ thuộc cõi Sắc, cõi Vô sắc. Chân gọi là phiền não, như kệ nói:

Phật có vô lượng hạnh.

Không chân, ai dẫn đi?

Như người có chân thì được đi khắp nơi tự tại. Cũng thế, người có chân phiền não thì có thể đi khắp trong sinh tử ở các đường, các loại sinh.

Lại nữa, phiền não tạo ra tưởng chỗ trụ ở cõi Dục: Vì ta có tưởng nên gọi là lệ thuộc cõi Dục. Phiền não cõi Sắc, cõi Vô sắc, tạo ra tưởng chỗ ở nơi cõi Sắc, cõi Vô sắc: Vì ta có tưởng, nên gọi là lệ thuộc cõi Sắc, cõi Vô sắc. Chỗ cư trú là ái. Ta có kiến nầy, vì ái cõi Dục làm thấm nhuần, nên kiến chấp ngã, ngã sở. Vì ái cõi Sắc, cõi Vô sắc làm thấm nhuần nên kiến chấp ngã, ngã sở.

Lại nữa, vì có thể sinh ra dục lạc cõi Dục, nên gọi là lệ thuộc cõi Dục. Vì có thể sinh ra dục lạc cõi Sắc, cõi Vô sắc, nên gọi là lệ thuộc cõi Sắc, cõi Vô sắc. Lạc là ái, dục là kiến.

Lại nữa, vì bị pháp sinh tử cõi Dục trói buộc, nên gọi là lệ thuộc cõi Dục. Vì bị pháp sinh tử cõi Sắc, cõi Vô sắc trói buộc, nên gọi là lệ thuộc cõi Sắc, cõi Vô sắc.

Lại nữa, vì bị nhiễm ô do cấu uế cõi Dục, bị chất độc hãm hại, bị

lỗi lầm tai hại, nên gọi là lệ thuộc cõi Dục. Vì bị lỗi lầm do tai hại, bị chất độc hãm hại, bị nhiễm ô do cấu uế cõi Sắc, cõi Vô sắc, nên gọi là lệ thuộc cõi Sắc, cõi Vô sắc.

Các kiết là cõi Dục, kiết đó ở cõi Dục chăng? có sáu thứ:

  1. Là cõi (giới).
  2. Là của đường (thú).
  3. Là của người.
  4. Là của nhập.
  5. Là của lậu.
  6. Là của tự thân.

Là cõi: Như trong đây nói các kiết là cõi Dục, kiết đó ở cõi Dục chăng? Ở đây nói pháp xứ gọi là là. Pháp cõi Dục gọi là là cõi Dục. Pháp cõi Sắc, cõi Vô sắc, gọi là là cõi Sắc, cõi Vô sắc.

Là đường (thú) Như nói: Lúc pháp thí của pháp, nói rằng: Tất cả là chúng của năm đường (thú), đều là khổ sinh tử.

Là của người: Như Tỳ-ni nói: Là hai người ở trong tăng số, trong tăng có thể được.

Là của nhập: Như kinh Ba-già-la-na nói: Thế nào là sắc ấm? Là mười sắc nhập và là sắc trong pháp nhập.

Là của lậu: Như nói: Thế nào là pháp lậu, pháp hữu lậu là của tự thân. Như trong Kiền-độ bốn Đại nói: Thế nào là nội pháp? Đáp: Là tự thân. Ở trong sáu là đã nêu, dùng là cõi để luận, không dùng là khác.

Ở có bốn thứ:

  1. Ở tự thể.
  2. Ở đồ đựng.
  3. Ở làm.
  4. Ở nơi chốn.

Ở tự thể: Tự thể, tự tướng, tự tánh của tất cả các pháp đều ở trong tự phần.

Ở đồ đựng: Như quả ở trong đồ đựng. Như Đề-bà-đạt-đa ở trong nhà, như ở đồ đựng, ở chỗ đã làm, ở nơi chốn về nghĩa cũng giống như thế.

Trong đây, dùng cả bốn nơi để soạn luận, tùy tướng mà nói.

Hỏi: Các kiết là cõi Dục, kiết kia có ở cõi Dục chăng?

Đáp: Hoặc kiết là cõi Dục, kiết kia không ở cõi Dục, hoặc kiết ở cõi Dục, kiết kia không là cõi Dục. Hoặc kiết là cõi Dục, kiết kia cũng ở cõi Dục. Hoặc kiết không là cõi Dục, kiết kia không ở cõi Dục.

Kiết là cõi Dục, kiết kia không ở cõi Dục là sao?

Đáp: Vì bị triền ràng buộc. Ma Ba-tuần ở trên cõi trời Phạm, muốn nói chuyện với Đức Như lai.

Hỏi: Ma Ba-tuần bị triền nào ràng buộc, muốn nói chuyện với Đức Như lai?

Đáp: Vì bị triền phẫn che lấp, muốn nói chuyện với Đức Như lai.

Lại có thuyết nói: Ma Ba-tuần bị triền ganh tỵ che lấp, nên muốn nói chuyện với Đức Như lai.

Lại có thuyết nói: Vì bị ràng buộc do triền keo kiệt, nên Ma Batuần muốn nói chuyện với Đức Như lai.

Bình luận: Nên nói như thế: Vì bị mười triền che lấp, nên khởi mỗi một triền hiện ở trước, muốn nói chuyện với Đức Như lai.

Hỏi: Vì sao gọi là ma?

Đáp: Vì dứt tuệ mạng, nên gọi là ma.

Lại nữa, vì thường hành động buông lung, tự hại thân mình, nên gọi là ma.

Hỏi: Vì sao gọi là Ba-tuần?

Đáp: Vì thường có ý xấu ác, tạo tác pháp ác, gây tạo tuệ ác, nên gọi là Ba-tuần (Ba-tuần, đời Tần dịch là ác).

Tôn giả Cù-sa nói: Nên nói Ba-tuần Du. Vì sao? Vì từ Ba-tuần du sanh trong cõi kia, (Ba-tuần đời Tần dịch là Ác Du, là một nước nổi tiếng) trụ cõi trời Phạm thiên, muốn nói chuyện với Đức Như lai.

Hỏi: Ma vương ở trên Phạm thiên để làm gì?

Đáp: Kinh Phạm thiên Chư Ma là duyên gốc của luận nầy: Nghe nói Phật ngự tại tinh xá Cấp Cô Độc, trong rừng Kỳ-đà, thuộc nước Xávệ. Bấy giờ, có một Phạm thiên, ở trên trời Phạm, sinh khởi ác kiến, nói lên rằng: Xứ nầy là thường, không dứt, bỏ hẳn pháp vắng lặng. Lại không có thường, chẳng dứt, bỏ hẳn pháp tịch diệt vì vượt hơn xứ nầy.

Lúc ấy, Đức Thế tôn biết ý nghĩ của vị Phạm thiên kia. Ví như vị tráng sĩ trong khoảng thời gian co duỗi cánh tay, từ rừng Kỳ-đà, Đức Như lai bỗng nhiên biến mất, hiện ra cõi Phạm thiên, cách chỗ vị Phạm thiên kia không xa, rồi đứng cạnh đó, Phạm thiên từ xa thoáng thấy Đức Như lai, liền thỉnh Phật rằng:

Lành thay bậc Đại Tiên đã khéo tới đây! Xứ nầy là thường, không dứt, bỏ ngoài sự vắng lặng, không còn có thường nào hơn ở đây ông hãy xả bỏ các sự khổ phiền não loạn động cõi Dục để đến chốn nầy. Thật là việc vui mừng, Ông hãy yên vui thường trú ở đây!

Lúc ấy, Đức Như lai bảo Phạm thiên: Xứ nầy chẳng phải thường, mà ông nói là thường. Xứ nầy chẳng phải chỗ yên vui, vắng lặng xuất ly mà ông nói là chỗ yên vui, vắng lặng xuất ly. Ông bị vô minh che lấp, nên nói như thế. Ông nên nhớ lại Phạm chúng quá khứ đã rơi vào cõi Dục, như hoa quả rụng!

Phạm thiên lại bạch Phật: Lành thay bậc Đại Tiên! Chốn nầy là thường lạc, nói rộng như trên. Lần thứ hai, thứ ba cũng nói như thế.

Đức Như lai cũng với lần thứ hai, thứ ba bảo Phạm thiên: Chỗ nầy là vô thường, cho đến nói rộng. Do bị vô minh che lấp, ông nên nhớ lại các Phạm chúng trong quá khứ đã bị rơi vào cõi Dục, như hoa quả rụng.

Phạm thiên trong tâm nghĩ rằng: Nay Như lai khó có thể gần, khó luận bàn chung. Nhưng pháp của các Phạm ở địa lìa dục, ý chí vắng lặng không thể tranh luận với Phật về việc ấy. Lại nghĩ: Ma vương Ba-tuần thường chống đối Như lai, sẽ thể tranh biện với Phật qua ngôn luận. Khi đó, Phạm vương liền cho gọi Ba-tuần tới cõi Phạm thiên, hóa thành đất cõi Dục, rồi yên định nơi đó. Phạm vương lại bạch Phật: Đại Tiên phải biết! Chỗ nầy là thường, cho đến không còn có nơi nào vượt hơn.

Như lai lại bảo Phạm vương: Chỗ nầy là vô thường, nói rộng như trên.

Bấy giờ, Ba-tuần bạch Phật: Đại Tiên! Ông đừng trái lời Phạm vương đã nói, nên theo chỗ chỉ dẫn của ông ta mà vâng làm. Nếu ông trái lời Phạm vương thì cũng như có người, lúc thiên thần công đức vào nhà, người nầy đã dùng gậy xua đuổi thiên thần, nói: “Ta chẳng cần ông”! Nếu ông trái lời Phạm vương thì cũng giống như thế. Cũng như có người từ trên cao rớt xuống, nếu người ấy không dùng tay chân tự chế ngự, thì lại phải rơi xuống. Như người từ trên cây rớt xuống đất vì không nắm chắc cành cây, nên phải chịu đau khổ. Nếu bám chặt cành cây, thì chẳng bị đau đớn. Cũng thế, nầy Đại Tiên! Ông chớ trái ý Phạm vương, nên vâng lời vua trời đã nói.

Lại bạch Phật: Đại Tiên! Hôm nay không thấy Phạm chúng cùng chúng tôi vây quanh Phạm vương, thuận theo, không trái lời Phạm vương chăng?

Bấy giờ, Đức Thế tôn nghĩ rằng nay ma ác đã đến gây trở ngại cho ta. Ta biết việc nầy rồi! Liền bảo ma: Ông chẳng phải Phạm vương, cũng chẳng phải quyến thuộc của Phạm vương!

Nói ma ác gây trở ngại cho ta, chính là thân ông. Khi đó, ma Batuần nghĩ rằng: Sa-môn Cù-đàm hôm nay đã biết được những gì ta suy nghĩ, nên tâm lo sợ, sinh ý chán lìa, bèn ngồi qua một bên, cũng không thể trở lại chốn cũ. Phạm vương liền dùng sức thần túc khiến cho ma Ba-tuần trở lại cung điện của mình.

Cho nên, kinh kia tức là duyên gốc của luận nầy, cũng nói về triền ràng buộc. Ở cõi Sắc qua đời, sinh trung ấm cõi Dục. Người phàm phu qua đời ở cõi Sắc, sẽ sinh cõi Dục. Trung ấm cõi Dục ở trong cõi Sắc hiện ra trước. Vì sao? Vì pháp nên như thế. Chỗ tử ấm diệt, liền sinh trung ấm, cũng như ở chỗ hạt giống vỡ ra thì sẽ nẩy mầm. Tử ấm, trung ấm kia cũng giống như thế. Lúc từ tử ấm đến trung ấm, trong ba mươi sáu sử cõi Dục, nếu một sử hành ở trước, sẽ khiến cho sự sinh nối tiếp nhau. Đó gọi kiết là cõi Dục, kiết kia không ở cõi Dục. Trong đây: Là của giới, ở nơi là trừ ở nơi tự thể, là ba nơi còn lại.

Thế nào là kiết ở cõi Dục, kiết kia không là cõi Dục? Vì bị triền ràng buộc, qua đời ở cõi Dục sinh trung ấm cõi Sắc. Phàm phu, bậc Thánh ở cõi Dục qua đời, sinh trong cõi Sắc là trung ấm cõi Sắc ở trong cõi Dục. Vì sao? Vì pháp nên như thế. Chỗ tử ấm diệt, liền sinh trung ấm, giống như chỗ hạt giống vở ra thì liền mọc mầm. Tử ấm, trung ấm kia cũng giống như thế. Người phàm phu, lúc từ tử ấm đến trung ấm, cõi Sắc có ba mươi mốt sử, nếu một sử hiện ở trước, sẽ khiến cho sự sinh nối tiếp nhau. bậc Thánh lúc từ tử ấm đến trung ấm, ba sử, do tu đạo cõi Sắc dứt trừ, nếu một sử hiện ở trước, sẽ khiến cho sự sinh nối tiếp nhau, cũng kiết là cõi Sắc, cõi Vô sắc, ở lại cõi Dục, biểu hiện ở trước. Ở lại cõi Dục, không chết, không qua đời. Kiết cõi Sắc, cõi Vô sắc hiện ở trước.

Ba mươi mốt sử của phàm phu, nếu một sử hiện ở trước, ba sử, mà Tu đạo của bậc Thánh dứt trừ, nếu một hiện ở trước.

Các thuyết như thế, đều nói do ái hành thiền, do mạn hành thiền, do kiến hành thiền, do nghi hành thiền. Đó gọi là kiết ở cõi Dục, kiết kia không là cõi Dục.

Ở nơi là ba ở nơi. Là: Là cõi.

Thế nào là kiết là cõi Dục, cũng ở cõi Dục: Bị triền ràng buộc, phàm phu, bậc Thánh qua đời ở cõi Dục, lại sinh trung ấm cõi Dục. Người phàm phu sinh trong năm đường không nghi, bậc Thánh sinh hai đường vô ngại, nếu sinh lên cõi trời, hoặc sinh trong cõi người, thì người phàm phu lúc từ tử ấm đến trung ấm, có ba mươi sáu sử, nếu một sử hiện ở trước, sẽ khiến cho sự sinh nối tiếp nhau. Bậc Thánh từ lúc tử ấm đến trung ấm, bốn sử đã được tu đạo cõi Dục dứt trừ, nếu một sử hiện ở trước, sẽ khiến cho sự sinh nối tiếp nhau. Như từ tử ấm đến trung ấm, từ trung ấm đến sinh ấm, nói cũng giống như thế. Cũng kiết là cõi Dục, trụ trong cõi Dục hiện ở trước, ở cõi Dục không chết, không qua đời, khởi kiết cõi Dục hiện ở trước.

Ba mươi sáu sử của người phàm phu, nếu một sử hiện ở trước, bậc Thánh có bốn sử, do tu đạo cõi Dục dứt trừ, nếu một sử hiện ở trước, gọi là kiết là cõi Dục, cũng ở cõi Dục.

Trong đây là cõi. Ở nơi là ở bốn nơi.

Hỏi: Kiết không là cõi Dục, cũng không ở cõi Dục là thế nào?

Đáp: Vì bị triền ràng buộc, qua đời ở cõi Sắc, sinh trong sinh ấm, trung ấm cõi Sắc.

Người qua đời ở cõi Sắc, sinh trong cõi Sắc là bậc Thánh phàm phu. Người phàm phu cũng sinh lên trên, cũng sinh xuống dưới. Mỗi chốn đều có nhiều phần sinh. Bậc Thánh sinh lên trên, không sinh xuống dưới, mỗi chốn đều có một phần sinh. Người phàm phu lúc từ tử ấm đến trung ấm có ba mươi mốt sử, nếu một sử hiện ở trước, sẽ khiến cho sự sinh nối tiếp nhau. Ba sử do tu đạo của bậc Thánh dứt trừ, nếu một hiện ở trước sẽ khiến cho sự sinh nối tiếp nhau. Từ trung ấm đến sinh ấm, nói cũng giống như thế.

Mạng chung ở cõi Sắc, sinh trong cõi Vô sắc, cũng là bậc Thánh, phàm phu. Người phàm phu nơi mỗi chỗ có nhiều phần sinh. Bậc Thánh ở mỗi chỗ có một phần sinh. Người phàm phu lúc từ tử ấm đến sinh ấm, cõi Vô sắc có ba mươi mốt sử, nếu một hiện ở trước, sẽ khiến cho sự sinh nối tiếp nhau.

Ba sử của bậc Thánh, qua đời ở cõi Vô sắc, sinh trở lại cõi Vô sắc, cũng là bậc Thánh, phàm phu. Người phàm phu cũng sinh lên trên, cũng sinh xuống dưới, mỗi chỗ đều có nhiều phần sinh. Bậc Thánh sinh lên cõi trên, không sinh xuống cõi dưới, mỗi chỗ có một phần sinh. Người phàm phu, thời gian từ tử ấm đến sinh ấm có ba mươi mốt sử, nếu một sử hiện ở trước sẽ khiến cho sự sinh nối tiếp nhau.

Ba sử của bậc Thánh, người phàm phu qua đời ở cõi Vô sắc, sinh trong cõi Sắc. Thời gian từ tử ấm đến trung ấm, cõi Sắc có ba mươi mốt sử, nếu một hiện ở trước, sẽ khiến cho sự sinh nối tiếp nhau.

Cũng kiết là cõi Sắc, cõi Vô sắc, trụ cõi Sắc hiện ở trước, trụ ở cõi Sắc không chết, không qua đời, cũng là bậc Thánh, phàm phu.

Người phàm phu có ba mươi mốt sử hiện ở trước, bậc Thánh có ba sử hiện ở trước.

Cũng thế, đều nói là người do ái hành thiền, người do mạn hành thiền, người do kiến hành thiền, người do nghi hành thiền. Ở cõi Vô sắc, không chết, không qua đời, khởi ba mươi mốt sử cõi Vô sắc hiện ở trước, cũng là bậc Thánh, phàm phu. Người phàm phu khởi ba mươi mốt sự hiện ở trước, ba sử của bậc Thánh khởi. Đó gọi là kiết không là cõi Dục, cũng không ở cõi Dục. Vì sao? Vì ở cõi Sắc, cõi Vô sắc: Là cõi. Ở nơi là bốn ở nơi.

Các kiết là cõi Sắc, cũng ở cõi Sắc chăng? Cho đến nói rộng thành bốn trường hợp. Trường hợp đầu của bốn trường hợp trước tạo ra trường hợp thứ hai ở đây.

Trường hợp thứ hai trước, tạo ra trường hợp đầu ở đây.

Trường hợp thứ ba trước tạo ra trường hợp thứ tư ở đây.

Trường hợp thứ tư trước tạo ra trường hợp thứ ba ở đây.

Các kiết là cõi Vô sắc, cũng ở cõi Vô sắc chăng?

Đáp: Các kiết ở cõi Vô sắc, kiết kia cũng là cõi Vô sắc. Vì sao? Vì cõi Vô sắc chỉ có kiết lệ thuộc cõi Vô sắc.

Có khi nào kiết là cõi Vô sắc, không ở cõi Vô sắc chăng?

Đáp: Có, là kiết cõi Vô sắc, ở cõi Dục, cõi Sắc, hiện ở trước, không chết, không qua đời.

Kiết cõi Vô sắc hiện ở trước, cũng là bậc Thánh, phàm phu. Người phàm phu khởi ba mươi mốt sử cõi Vô sắc hiện ở trước. Ba sử của bậc Thánh như thế đều là người do ái, do mạn, do kiến, do nghi mà hành thiền. Đó gọi kiết là cõi Vô sắc. Là là là cõi không ở cõi Vô sắc. Vì sao? Vì ở cõi Dục, cõi Sắc. Ở nơi: Trừ ở nơi tự thể, là ba ở nơi còn lại. Các kiết chẳng phải cõi Dục, cũng chẳng phải ở cõi Dục? Cho đến nói rộng thành bốn trường hợp.

Trường hợp đầu của bốn trường hợp trước, tạo ra trường hợp thứ hai nầy.

Trường hợp thứ hai ở trước, tạo ra trường hợp đầu nầy.

Trường hợp thứ ba trước, tạo ra trường hợp thứ tư nầy.

Trường hợp thứ tư trước, tạo ra trường hợp thứ ba nầy.

Các kiết chẳng phải cõi Sắc, kiết kia cũng chẳng phải ở cõi Sắc? Cho đến nói rộng thành bốn trường hợp

Như nói về cõi Dục, các kiết chẳng phải cõi Vô sắc, kiết kia cũng chẳng phải ở cõi Vô sắc chăng?

Đáp: Các kiết chẳng phải cõi Vô sắc, kiết kia cũng chẳng phải ở cõi Vô sắc.

Có khi nào kiết chẳng phải ở cõi Vô sắc, kiết kia chẳng phải không là cõi Vô sắc chăng?

Đáp: Có. Các kiết chẳng phải không là cõi Vô sắc, ở cõi Dục, cõi Sắc, hiện ở trước, trụ ở cõi Dục, cõi Sắc, không chết, không qua đời, khởi kiết cõi Vô sắc hiện ở trước, vừa là phàm phu, vừa là bậc Thánh.

Người phàm phu khởi ba mươi mốt sử hiện ở trước, ba sử của bậc Thánh. Kiết nầy chẳng phải ở trong cõi Vô sắc. Vì sao? Vì ở cõi Dục, cõi Sắc. Ở nơi là ba ở nơi, trừ ở nơi tự thể. Chẳng phải không là cõi Vô sắc. Vì sao? Vì là kiết cõi Vô sắc. Là là là cõi.

Hỏi: Vì sao Tôn giả kia lập chẳng phải luận cứ mà soạn luận nầy?

Đáp: Vì ý của người soạn luận muốn thế, cho đến nói rộng.

Lại nữa, vì muốn biểu hiện ngôn ngữ tự tại, nên nếu người tự tại đối với ngôn luận, thì có thể dùng phi luận cứ mà soạn luận. Người không tự tại đối với ngôn luận, đối với luận cứ chánh cũng không thể làm, huống chi là chẳng phải luận cứ!

Lại nữa, vì muốn sinh ý giác nơi đệ tử, nên nếu dùng phi luận cứ để soạn luận, thì sẽ sinh ý giác của đệ tử nói pháp tướng. Luận nầy cũng có thể như thế. Đệ tử kia cũng có thể như thế.

Lại nữa, hoặc có người tạo ra phi luận cứ mà được nuôi lớn: Như trong phẩm Người đã soạn luận cứ chánh. Người kia có bốn, người kia có ba, người kia có hai, tạo ra phi luận cứ. Người kia có năm, người kia có sáu, người kia có bốn.

Do việc nầy, nên Tôn giả kia đã dùng phi luận cứ để soạn luận.

Đệ tử Đức Thế tôn kiến đế đầy đủ, nếu sắc không dứt thì sẽ bị sắc ràng buộc chăng? Nếu bị sắc ràng buộc là do sắc không dứt dứt, cho đến thức cũng giống như thế.

Hỏi: Vì sao soạn luận nầy?

Đáp: Hoặc có thuyết nói: Dứt trừ sắc, có dứt trừ theo thứ lớp, dứt trừ theo giới hạn, dứt trừ từng đoạn. Như pháp sư nước ngoài nói lời nầy: Như tâm pháp tâm sở nhiễm ô, chín thứ dứt trừ sắc cũng giống như thế.

Vì nhằm dứt bỏ ý của thuyết như thế, đồng thời cũng nói pháp tâm, tâm sở nhiễm ô, chín thứ dứt trừ sắc, pháp tâm sở hữu lậu thiện, vô ký không ẩn một đối với đạo vô ngại sau cùng, vì dứt trừ trong một lúc, nên soạn luận nầy.

Hỏi: Vì sao pháp tâm, tâm sở nhiễm ô, chín thứ dứt sắc, pháp tâm, tâm sở hữu lậu thiện vô ký không ẩn một, đến đạo vô ngại sau cùng, dứt trừ trong cùng lúc?

Đáp: Vì minh, vô minh thường trở ngại nhau: Minh phẩm hạ hạ dứt trừ vô minh phẩm thượng thượng. Phẩm trung hạ dứt trừ phẩm thượng trung, phẩm hạ thượng dứt trừ phẩm thượng hạ, phẩm hạ trung dứt trừ phẩm trung thượng, phẩm trung trung dứt trừ phẩm trung trung, phẩm trung thượng dứt trừ phẩm trung hạ, phẩm thượng hạ dứt trừ phẩm hạ thượng, phẩm thượng trung dứt trừ phẩm hạ trung, phẩm thượng thượng dứt trừ phẩm hạ hạ. Sắc, hữu lậu thiện, pháp vô ký không ẩn một, không trở ngại mình và vô minh, chỉ vì minh, vô minh đều tạo ra chỗ dựa, chỗ đặt chân. Như sự sáng suốt của ngọn đèn không trở ngại với tim, dầu, bình đèn, chỉ trở ngại bóng tối, vì tim đèn, bình đựng dầu đối với sự sáng suốt của đèn tạo ra chỗ nương dựa, chỗ đặt chân.

Cũng thế, sắc hữu lậu thiện pháp vô ký không ẩn một, không trở ngại với minh, vô minh, mà còn tạo ra chỗ nương dựa, chỗ đặt chân.

Lại nữa, pháp tâm, tâm sở nhiễm ô, tùy bao nhiêu thứ dứt, không thành tựu thứ kia.

Sắc là nhiễm ô: Lúc trụ ở đạo phương tiện tức không thành tựu, đạo vô ngại sau cùng dứt trừ.

Sắc là thiện, vô ký không ẩn một (vô ký vô phú) và pháp hữu vi, vô ký không ẩn một, hữu lậu thiện khác đều được dứt trừ cùng lúc ở đạo vô ngại sau cùng.

Các pháp nầy mặc dù đã biết, đã dứt trừ, lìa dục của ba cõi, cũng vẫn thành tựu.

Cho nên, vì ngăn nghĩa của người khác, muốn làm sáng tỏ nghĩa của mình, cho đến nói rộng, nên soạn luận nầy.

Đệ tử Đức Thế tôn kiến đế đầy đủ, sắc ái chưa dứt trừ, cho đến nói rộng.

Hỏi: Vì tránh việc gì, nên nói kiến đế đầy đủ? Vì chế ngự việc gì mà nói là đệ tử Đức Thế tôn?

Đáp: Kiến đế đầy đủ, vì tránh người Kiên tín, Kiên pháp. Đệ tử Đức Thế tôn vì chế ngự kẻ phàm phu ngu tiểu.

Hỏi: Vì sao người Kiên tín, Kiên pháp không gọi là kiến đế đầy đủ?

Đáp: Nếu kiến đầy đủ bốn chân đế, thì dứt hẳn tà kiến, đó gọi là kiến đế đầy đủ.

Người Kiên tín, Kiên pháp kiến đế chưa đầy đủ, nhưng sẽ đầy đủ, chưa dứt trừ hẳn tà kiến, nhưng sẽ dứt trừ hẳn.

Lại nữa, nếu trong thân không có bốn thứ vô minh ngu tối, có bốn thứ trí, thì gọi là kiến đế đầy đủ. Người Kiên tín, Kiên pháp chưa trừ bỏ bốn thứ vô minh ngu tối, chưa đủ bốn thứ trí.

Lại nữa, nếu phá trừ bốn thứ lưới nghi do dự, sinh bốn thứ quyết định, là đã kiến đế đầy đủ. Người Kiên tín, Kiên pháp chưa dứt trừ bốn thứ lưới nghi do dự, cũng chưa có đủ bốn thứ quyết định.

Lại nữa, nếu trong thân không có tà kiến điên đảo, phiền não dày đặc như sương mù và các hành vi ác, thì được gọi là kiến đế đầy đủ. Người Kiên tín, Kiên pháp không có việc nầy, nên không gọi là kiến đế đầy đủ. Cũng như lúa mạ không có các sương mù, mưa đá làm hư hoại gọi là đầy đủ. Pháp kia cũng giống như thế.

Lại nữa, nếu hàng được phục phương, chốn của bốn đế, nên gọi là kiến đế đầy đủ. Người Kiên tín, Kiên pháp vì chưa thể hàng phục được phương chốn của bốn đế, nên gọi là không đầy đủ.

Hỏi: Vì sao người phàm phu không được gọi là đệ tử Đức Thế tôn?

Đáp: Nếu nghe lời Phật giảng nói, đối với Tam bảo, bốn đế, tâm không có khác. Phàm phu thì không như vậy: Hoặc tin lời Phật nói, hoặc tin lời của ngoại đạo.

Lại nữa, nếu không thờ vị trời khác, chỉ thờ Phật, thì đó gọi là đệ tử Đức Thế tôn. Người phàm phu hoặc thờ Phật, hoặc thờ trời Tự Tại v.v…

Lại nữa, nếu có niềm tin bất hoại đối với Phật, thì gọi là đệ tử Đức Thế tôn. Người phàm phu vì không có niềm tin bất hoại đối với Phật, nên không được gọi là đệ tử Đức Thế tôn.

Lại nữa, nếu đối với pháp Phật, tâm không dời đổi, lay động, giống như cổng thành thì gọi là đệ tử Đức Thế tôn. Phàm phu khinh xuất, xao động cũng như hoa của cây.

Lại nữa, nếu đã được nghe, không bị hủy hoại do nghe điều tà, thì gọi là đệ tử Đức Thế tôn.

Phàm phu nếu đã được nghe, thường bị nghe pháp bất chánh làm hư hoại.

Hỏi: Trong đây, ai là đệ tử Đức Thế tôn kiến đế đầy đủ?

Đáp: Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm, A-la-hán đã kiến đế đầy đủ, là những vị đệ tử Đức Thế tôn.

Nếu sắc không dứt trừ, bị sắc trói buộc. Nếu sắc đã dứt trừ, thì liền được giải thoát. Nếu đã giải thoát, thì dứt trừ. Nếu trước dứt trừ sắc, sau được giải thoát thì không có việc nầy.

Tâm pháp tâm sở nhiễm ô, hoặc có trường hợp trước dứt trừ, sau được giải thoát, hoặc có trường hợp đều cùng dứt trừ và được giải thoát.

Tâm nhiễm ô có chín thứ: Từ phẩm hạ hạ cho đến phẩm thượng thượng. Tám thứ trước, thì trước dứt trừ, sau được giải thoát. Một thứ sau vừa dứt, vừa được giải thoát. Nếu dứt trừ tám thứ còn lại của phẩm thượng thượng có duyên ràng buộc, cho đến loại thứ tám, dứt trừ loại của phẩm hạ hạ, duyên với tám thứ ràng buộc. Vì sao? Vì đều là một sử xoay vần sai khiến nhau.

Các thuyết v.v… như thế là lược nói về Tỳ-bà-sa. Người kiến đế đầy đủ là đệ tử Đức Thế tôn.

Hỏi: Nếu sắc chưa dứt trừ thì bị sắc trói buộc phải chăng?

Đáp: Đúng vậy.

Nếu bị sắc trói buộc là do sắc chưa dứt trừ phải chăng?

Đáp: Đúng thế. Vì sao? Vì trước đã nói rằng: Nếu sắc đã dứt trừ, sẽ giải thoát tức thì. Nếu đã giải thoát thì sẽ dứt trừ tức thì. Nếu trước dứt, sau giải thoát thì không có việc nầy. Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, sắc của năm địa không dứt, bị sắc trói buộc, chưa lìa dục của Sơ thiền. Sắc nơi bốn địa của A-na-hàm không dứt, bị sắc trói buộc, cho đến lìa dục của đệ Tam thiền.

A-na-hàm chưa lìa dục của đệ Tứ thiền, sắc của một địa không dứt trừ, bị sắc trói buộc. Đệ tử Đức Thế tôn kiến đế đầy đủ, nếu thọ không dứt trừ thì sẽ bị thọ trói buộc?

Đáp: Nếu bị thọ trói buộc, thọ đó không dứt trừ. Tu-đà-hoàn, Tưđà-hàm, do tu đạo của ba cõi dứt trừ. Thọ không dứt trừ sẽ bị thọ trói buộc, chưa lìa dục cõi Sơ thiền. Tám địa A-na-hàm, thọ không dứt trừ, sẽ bị thọ ràng buộc, cho đến lìa dục của Vô sở hữu xứ. Một địa A-nahàm, thọ không dứt, sẽ bị thọ trói buộc.

Hỏi: Có khi nào bị thọ trói buộc, thọ kia chẳng phải không dứt chăng?

Đáp: Có. Một chủng tử của Gia gia Tư-đà-hàm. Kiết thượng trung, chỗ dứt của tu đạo cõi Dục, thọ tương ưng với kiết kia, bị trói buộc do kiết phẩm hạ hạ. Nếu Gia gia dứt trừ ba thứ, hoặc dứt bốn thứ, như kiết kia dứt, thì kiết tương ưng với thọ cũng dứt. Thọ tương ưng kia bị hoặc năm hoặc sáu thứ kiết trói buộc. Tư-đà-hàm đã dứt sáu thứ kiết. Tư-đàhàm đã dứt sáu thứ kiết, nếu kiết kia dứt thì thọ tương ưng cũng dứt. Thọ tương ưng kia bị ba thứ kiết trói buộc. Một chủng tử nếu dứt bảy thứ tám thứ kiết, như kiết kia dứt thì thọ tương ưng kia cũng dứt. Thọ tương ưng kia bị một thứ, hai thứ kiết trói buộc. Như thọ, tưởng, hành thức, nói cũng giống như thế.

Đệ tử Đức Thế tôn kiến đế đầy đủ, nếu sắc đã dứt trừ, thì sắc kia không trói buộc?

Đáp: Đúng vậy! Nếu sắc không ràng buộc thì sắc ấy có dứt trừ chăng? Đáp: Dứt trừ. Vì sao? Vì trước đã nói rằng: Nếu sắc đã dứt, thì sẽ giải thoát tức thì. Nếu sắc đã được giải thoát, thì sẽ dứt tức thì. Nếu trước dứt, sau giải thoát, thì không có việc nầy. bậc Thánh lìa sắc ái, dứt trừ sắc của năm địa, sắc kia không trói buộc, lìa dục của ba thiền, chưa lìa dục của đệ Tứ thiền.

Sắc của bốn địa A-na-hàm đã dứt, sắc đó không trói buộc, cho đến chưa lìa dục của Sơ thiền.

Sắc một địa của A-na-hàm đã dứt, sắc kia không trói buộc. Đệ tử Đức Thế tôn kiến đế đầy đủ, nếu thọ đã dứt, thì thọ đó không trói buộc chăng?

Đáp: Nếu thọ không trói buộc, thì thọ kia đã dứt. Thọ, là chỗ dứt trừ của kiến đạo, tu đạo trong ba cõi của A-la-hán, đã dứt, không trói buộc, lìa dục của Vô sở hữu xứ. Kiến đạo của ba cõi nơi A-na-hàm đã dứt thọ, chỗ dứt của tu đạo nơi tám địa dứt cũng không trói buộc, cho đến chưa lìa dục của Sơ thiền. Thọ, chỗ dứt của tu đạo một địa, do kiến đạo dứt của ba cõi nơi A-na-hàm, dứt cũng không trói buộc. Thọ chỗ dứt của kiến đạo ba cõi của Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, dứt cũng không trói buộc.

Có khi nào dứt chẳng phải không trói buộc chăng?

Đáp: Có. Một chủng tử của Tư-đà-hàm Gia gia lệ thuộc cõi Dục, kiết phẩm thượng trung, chỗ dứt của tu đạo, dứt trừ kiết, chỗ dứt của tu đạo kia tương ưng với thọ, bị trói buộc do kiết phẩm hạ. Nếu Gia gia dứt trừ ba thứ, hoặc dứt trừ bốn thứ kiết, như kiết kia đã dứt, thì thọ cũng dứt, vì thọ tương ưng với kiết kia. Nếu bị năm thứ, hoặc sáu thứ kiết trói buộc, Tư-đà-hàm dứt sáu thứ kiết, như kiết kia dứt, thọ cũng dứt. Thọ tương ưng với kiết kia, bị ba thứ kiết trói buộc, một chủng tử, nếu dứt bảy thứ hoặc tám thứ kiết. Như kiết kia dứt, thì thọ cũng dứt. Vì thọ tương ưng với kiết đó, hoặc bị một thứ hoặc hai thứ kiết trói buộc.

Như thọ, tưởng, hành, thức nói cũng giống như thế.

Hỏi: Tu-đà-hoàn, Gia gia, không gồm nhiếp Tu-đà-hoàn, dứt trừ kiết phẩm thượng thượng, thượng trung, bị bảy hoặc tám thứ kiết phẩm hạ trói buộc, trong đây, vì sao không nói?

Đáp: Nên nói mà không nói, phải biết thuyết nầy chưa rốt ráo.

Lại nữa, đây là tướng hư hoại, bất định nên không nói. Nếu tướng không hư hoại, là tướng quyết định thì trong đây đã nói.

Hỏi: Như kiết cõi Sắc, cõi Vô sắc cũng như thế. Như lìa kiết thượng thượng của Sơ thiền, là thuộc về tám thứ kiết, cho đến tám thứ kiết đã dứt, là lệ thuộc một thứ kiết, cho đến dứt kiết của Phi tưởng Phi phi tưởng xứ cũng giống như thế. Vì sao chỉ nói kiết cõi Dục mà không nói kiết cõi Sắc, cõi Vô sắc?

Đáp: Lẽ ra phải nói nhưng không nói, nên biết thuyết nầy nêu bày chưa rốt ráo.

Lại nữa, đây là nói lên nghĩa ban đầu. Nếu nói cõi Dục, nên biết là nói cõi Sắc, cõi Vô sắc cũng thế.

Lại nữa, vì khi kiết cõi Dục đã dứt, sẽ sinh các thứ tên người. Nếu dứt trừ ba thứ, bốn thứ, gọi là Gia gia. Nếu dứt trừ sáu thứ gọi là Tư-đàhàm. Nếu dứt trừ bảy, tám thứ gọi là một chủng tử. Nếu lìa kiết cõi Sắc, cõi Vô sắc, lại không có tên người khác như thế, do đó nên không nói.

Hỏi: Kiết phẩm hạ đã dứt cũng có thể như vậy. Như phiền não của phẩm hạ thượng đã dứt, vì bị kiết hạ trung, hạ hạ trói buộc. Nếu kiết hạ thượng, hạ trung đã dứt, bị kiết hạ hạ trói buộc, vì sao chỉ nói thượng trung, không nói hạ?

Đáp: Nên nói mà không nói, phải biết là thuyết nầy chưa rốt ráo.

Như kiết thượng thượng dứt, vì bị trói buộc do tám thứ kiết phẩm hạ. Nếu dứt hai thứ, thì bị bảy thứ trói buộc.

Cũng thế, mỗi thứ được dứt, đều bị phẩm hạ trói buộc, chỉ không thể mỗi mỗi trường hợp đều tạo văn, cho nên nói lược.

Gia gia là sự sai khác của Tu-đà-hoàn. Một chủng tử là sự sai khác của Tư-đà-hàm. Gia gia: Nếu ở hai nhà, hoặc ở ba nhà. Hai nhà nghĩa là dứt trừ bốn thứ kiết, kiết còn lại có hai, có chủng tử. Ba nhà, nghĩa là dứt trừ ba thứ kiết, số còn lại có ba, có chủng tử. Gia gia không có dứt trừ năm thứ kiết. Vì sao? Vì nếu có thể dứt trừ năm thứ, thì sẽ dứt kiết thứ sáu, được quả Tư-đà-hàm. Vì sao? Vì loại kiết thứ sáu, tánh yếu kém, không thể gây chướng ngại khó khăn cho quả Tư-đà-hàm. Cũng như một sợi chỉ khâu không thể chế ngự được voi. Sự dứt trừ kiết kia cũng giống như thế.

Một chủng tử dứt, hoặc bảy, hoặc tám thứ kiết, kiết còn lại có một chủng tử.

Hỏi: Số còn lại có hai thứ kiết tồn tại, vì sao lại nói một kiết có chủng tử?

Đáp: Không do một thứ kiết gọi là một chủng tử, vì có một kiết có chủng tử, nên gọi là một chủng tử.

Lại có thuyết nói: Không có hết thảy tám thứ kiết đều có một chủng tử. Vì sao? Vì nếu dứt tám thứ kiết, thì sẽ được lìa chín thứ kiết cõi Dục, không thể gây chướng ngại, khó khăn cho pháp lìa dục.

Lại có thuyết nói: Có người dứt tám thứ kiết một chủng tử, không có thuyết nào nói dứt năm thứ Gia gia – Tu-đà-hoàn. Vì sao? Vì nếu dứt trừ năm thứ, thì sẽ dứt trừ sáu thứ, được quả Tư-đà-hàm. Loại kiết thứ sáu, tánh yếu kém, nên không thể gây chướng ngại, khó khăn cho quả Tư-đà-hàm.

Hỏi: Loại kiết thứ chín, cũng là tánh yếu kém, nên không thể gây chướng ngại, khó khăn. Nếu một chủng tử có thể dứt trừ loại thứ tám, thì cũng có thể dứt trừ loại thứ chín mà được lìa dục?

Đáp: Gia gia, Tu-đà-hoàn, nếu dứt trừ sáu thứ kiết, cũng sinh trong cõi Dục, quyết định nghiệp hiện có đã thành thục, ứng hợp với cõi Dục mà thọ báo, không thể gây chướng ngại, khó khăn cho quả Tưđà-hàm.

Một chủng tử dứt chín thứ kiết, lại không có phần sinh cõi Dục, tất cả nghiệp quyết định đã thành thục, nên ở cõi Dục thọ báo, có thể gây chướng ngại khó khăn không được lìa dục. Có người nói rằng: Chúng sinh có ba thời gian mà nghiệp phiền não có thể gây ra chướng ngại, hết sức khó khăn:

  1. Thời gian Đảnh hướng về Nhẫn.
  2. Thời gian bậc Thánh lìa dục cõi Dục.
  3. Thời gian được quả A-la-hán.

Thời gian Đảnh hướng đến Nhẫn: Nghĩa là nghiệp quyết định của các đường ác là rất chướng ngại, khó khăn. Nếu người khởi nhẫn: Chúng ta ở trong thân ai mà thọ báo?

Thời gian bậc Thánh lìa dục cõi Dục: Nghĩa là các nghiệp quyết định cõi Dục phải chịu báo, gây ra nhiều chướng ngại, khó khăn. Nếu là người lìa dục sẽ nói: Chúng ta ở trong thân ai để chịu báo? Thời gian chứng đắc quả A-la-hán: Nghiệp quyết định phải thọ hữu ở vị lai, rất làm chướng ngại, khó khăn. Nếu chứng đắc quả A-la-hán, chúng ta ở trong thân ai mà chịu báo? Cho nên, có khi dứt trừ tám thứ kiết, là một chủng tử, tức không dứt trừ năm thứ, là Tu-đà-hoàn, gia gia. Gia gia có hai thứ:

  1. Gia gia trong loài người.
  2. Gia gia trong loài trời.

Gia gia trong loài trời: Sinh trên cõi trời, hai đời, hoặc ba đời, trong một cõi trời, hoặc trong hai cõi trời, hoặc trong ba cõi trời.

Hoặc trong một cõi trời, một nhà, hai nhà, ba nhà.

Gia gia trong loài người: Hoặc hai đời, phần của ba đời. Hoặc một thiên hạ, hoặc hai thiên hạ, hoặc ba thiên hạ. Nếu một thiên hạ, thì hoặc một nhà, hai nhà, ba nhà. Sinh một chủng tử: một chủng tử trong cõi trời. Trong cõi trời có phần của một đời. Một chủng tử trong cõi người, nghĩa là trong cõingười có một phần sinh.

Vì ba việc, nên gọi là Gia gia:

  1. Do nghiệp.
  2. Do căn.
  3. Do dứt trừ kiết.

Do nghiệp: Hoặc gây ra nghiệp báo trong hai đời, hoặc gây ra nghiệp báo trong ba đời.

Do căn: Vì được căn vô lậu.

Đoạn trừ kiết: Nếu dứt ba thứ, hoặc dứt bốn thứ kiết.

Đối với ba việc nầy nếu không có bất cứ một việc nào thì, không gọi là gia gia.

Vì ba việc, nên gọi là một chủng tử.

  1. Do nghiệp.
  2. Do căn.
  3. Do dứt trừ kiết.

Do nghiệp: Gây ra nghiệp báo của một đời.

Do căn: Vì được căn vô lậu.

Do dứt trừ kiết: Nếu dứt bảy thứ, hoặc dứt tám thứ kiết. Đối với ba việc nầy nếu không đủ thì không gọi là một chủng tử.

Hỏi: Bậc Thánh ở cõi Dục, có thọ thân, gây ra nghiệp không?

Đáp: Hoặc có thuyết nói: Không gây ra nghiệp. Vì sao? Vì cõi Dục có nhiều lỗi lầm. Dù không tạo nghiệp thọ thân, nhưng vẫn tạo ra mãn nghiệp thọ thân.

Hỏi: Nếu bậc Thánh không tạo nghiệp thọ thân cõi Dục, thì điều nầy làm sao hiểu được? Như nói: Bấy giờ, Đức Thế tôn khen ngợi nói về việc của thời kỳ Đức Di Lặc thành Phật, trong chúng hội có người Hữu học chưa lìa dục, nghe Đức Thế tôn nói lời nầy rồi, đều cùng nhau lập nguyện: Khiến cho con được nghe thấy việc tốt đẹp ấy rồi, sau đó mới vào Niết-bàn?

Đáp: Trong thời gian rất ngắn ngủi ấy, đối với vật cần dùng, không thiếu thốn một thứ gì, không bị đau khổ ép ngặt nên có điều cầu nguyện. Nếu bị đau khổ ép ngặt, thì đối với tất cả xứ sinh, không còn nguyện cầu. Nếu ta có thể như chim bay trong hư không, tức là ngày hôm nay nhập Niết-bàn. Nếu nói rằng: Bậc Thánh không tạo nghiệp thọ thân cõi Dục, nghĩa là người kia nói rằng: Gia gia kia, nếu hai đời, ba đời gây ra nghiệp, thì khi ở phàm phu. Nếu dứt trừ ba thứ, bốn thứ kiết, hoặc lúc phàm phu dứt, hoặc khi bậc Thánh dứt một chủng tử, có phần nghiệp của một đời, cũng là lúc phàm phu gây ra nghiệp. Nếu người kia đã dứt trừ bảy thứ, tám thứ kiết, hoặc khi phàm phu dứt, hoặc lúc bậc Thánh dứt.

Lại có thuyết nói: bậc Thánh trụ cõi Dục với xứ thọ thân, gây ra nghiệp, nghiệp do bậc Thánh gây ra là nghiệp thanh tịnh, tốt đẹp, không có các khổ hoạn, thuận theo pháp thiện.

Nếu nói rằng: Bậc Thánh ở tại cõi Dục với xứ thọ thân, gây ra nghiệp: Tu-đà-hoàn gia gia tạo ra hai đời, hoặc ba đời, thì sẽ thọ nghiệp báo. Nghiệp nầy hoặc khi phàm phu tạo, hoặc có khi bậc Thánh tạo. Nếu dứt trừ ba, hoặc bốn thứ kiết, hoặc lúc phàm phu dứt trừ, hoặc khi bậc Thánh dứt trừ. Một chủng tử tạo ra một đời, thì phải thọ nghiệp báo. Nghiệp nầy đôi khi phàm phu tạo, đôi khi bậc Thánh tạo. Nếu dứt trừ bảy, hoặc tám thứ kiết, có lúc phàm phu dứt trừ, có khi bậc Thánh dứt trừ.

Hỏi: Nếu trong cõi người được quả Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, lúc qua đời sinh lên các tầng trời cõi Dục, được quả A-na-hàm. Người đó sau khi qua đời, có được sinh trong cõi Sắc, cõi Vô sắc không? Nếu được sinh, thì Kinh tăng Nhất nói làm sao hiểu? Như nói: Có năm người, chủng tử trong khoảng này, rốt ráo trong khoảng này. Năm người đó là:

  1. Người thọ nhận bảy Hữu.
  2. Người gia gia.
  3. Người Tư-đà-hàm.
  4. Người một chủng tử.
  5. Người hiện pháp nhập Niết-bàn.

Chủng tử trong khoảng này: Trong ấy được chánh quyết định. Rốt ráo trong khoảng này: Trong đây dứt hết lậu.

Lại có năm người, chủng tử trong đây, rốt ráo trong kia:

  1. Trung nhập Niết-bàn.
  2. Sinh nhập Niết-bàn.
  3. Hữu hành nhập Niết-bàn.
  4. Vô hành nhập Niết-bàn.
  5. Thượng lưu nhập Niết-bàn.

Chủng tử trong đây: Là trong đây được chánh quyết định. Rốt ráo trong kia: Là trong kia được dứt hết lậu.

Nếu bất sinh thì như Kinh Đế-thích Sở Vấn nói làm sao hiểu được?

Như kệ nói:

Nếu biết được pháp nầy

Cùng sinh lên Phạm thế

Vượt hơn trong các Phạm

Oai đức ở trước hết.

Ngay như kinh nầy nói, làm sao hiểu được? Như Đế-thích bạch Phật: Bạch Đức Thế tôn! Như chánh hạnh mà con đã thực hành, nếu có người vì con giải thích lại, thì con sẽ được quả A-la-hán của đạo thắng tiến, có thể dứt hết bờ mé khổ. Chánh hạnh mà con đã thực hành, nếu không có người vì con giảng nói, thì con quyết sẽ sinh lên tầng trời Manậu-ma với sắc tốt đẹp kia, các căn đầy đủ, không có thiếu sót, cũng không thấp kém, xấu xí, có sắc thanh tịnh, dùng lạc thọ làm thức ăn, thân phát ra ánh sáng, bay đi trong hư không, mạng sống dài xa, ở đó qua đời sẽ sinh trong cõi trời như thế?

Đáp: Hoặc có thuyết nói: Như bậc Thánh nầy không sinh trong cõi Sắc, cõi Vô sắc.

Hỏi: Nếu vậy với Kinh tăng Nhất thì khéo hiểu, như nói: Có năm hạng người: Chủng tử trong đây, rốt ráo trong đây, nhưng với Kinh Đếthích Sở Vấn làm sao hiểu? Như kệ nói: Nếu biết được pháp nầy… cho đến nói rộng?

Đáp: Các thuyết nầy nói, không nói chết, cũng không nói sinh, làm sao biết được điều đó? Nghe nói Thích nữ Cù-Di nói: Có ba vị Tỳkheo thường vào nhà nàng, dùng âm thanh thanh tịnh, vì nàng đọc kệ chúc tụng, cũng thường giảng nói pháp yếu cho nàng nghe. Bấy giờ, Cù-Di vì được nghe pháp, nên tâm sinh hân hoan, ưa thích, nhàm chán thân nữ, mong muốn được làm thân nam. Sau khi qua đời, nàng được sinh lên tầng trời Ba mươi ba, làm con của Đế-thích.

Lúc ấy, chư Thiên ở cõi trời đó liền đặt tự cho nàng, là Thiên tử Cù-Di.

Ba vị Tỳ-kheo kia vì tự ưa thích âm thanh của mình, nên bị đọa vào loài Kiền-thát-bà, là chốn thấp hèn. Kiền-thát-bà là thần trổi nhạc của chư Thiên. Buổi sáng, buổi chiều, thường vì chư Thiên trổi nhạc.

Khi đó, thiên tử Cù-Di vừa thấy các nhạc thần liền nhận biết ngay, nói với họ: tôi nhờ các ông nên sinh tâm tin ưa, nhàm chán thân nữ, mong thành thân nam, sau khi qua đời, nay được sinh ở cõi nầy, làm con Đế-thích. Các ông tịnh tu phạm hạnh vô thượng, vì sao lại sinh trong loài Kiền-thát-bà thấp kém nầy?

Nghe Thiên tử nói vậy, Kiền-thát-bà tâm sinh nhàm chán, lìa được ái dục. Hai người dùng sức thần túc đến trong cõi Phạm thiên, một người vẫn trụ ở đây. Do việc nầy, nên biết được họ không chết, cũng lại không sinh.

Lại có thuyết nói: Hai người kia chết trong cõi ấy, sinh trong cõi kia, vốn ở trong cõi người, đã đạt được phần căn thiện, nghe Thiên tử Cù-Di nói, tâm cảm thấy nhàm chán, được chánh quyết định. Về sau, ly khai ái dục, chứng quả A-na-hàm, qua đời, sinh lên cõi Phạm thế.

Dù chết hay sinh, nhưng chẳng phải vốn ở trong cõi người được quả Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm.

Hỏi: Nếu vậy Kinh Đế-thích Sở Vấn quyển 2 nói làm sao hiểu được? Như nói: Con đã hành chánh hạnh… cho đến nói rộng?

Đáp: Dù Đế-thích sẽ được đạo quả, nhưng vì ông ta không biết nghĩa tướng của A-tỳ-đàm, nên mới nói như thế.

Hỏi:… Liền ở trước Phật nói như thế: Vì sao Phật không quở trách họ?

Đáp: Phật biết lời nói nầy không thể gây chướng ngại cho đạo, về sau khi nhập pháp, tự họ sẽ biết ngay.

Lại có thuyết nói: Như bậc Thánh ấy sinh lên cõi Sắc, cõi Vô sắc.

Hỏi: Nếu vậy, kinh Đế-thích Sở Vấn là khéo hiểu, còn kinh Tăng Nhất làm sao hiểu được?

Đáp: bậc Thánh không nhất định, hoặc có chuyển hành, hoặc không chuyển hành. Nếu chuyển hành, thì như Kinh Đế-thích Sở Vấn đã nói. Nếu không chuyển hành thì như kinh Tăng Nhất đã nói. Vậy thì cả hai kinh đều hiểu được.

Lời bình: Như bậc Thánh nầy thì không sinh cõi Sắc, cõi Vô sắc.

Vì sao? Vì bậc Thánh qua đời sẽ có ba việc:

  1. Không lui sụt.
  2. Không chuyển căn.
  3. Không sinh cõi Sắc, cõi Vô sắc.

Vì sao? Vì Thánh đạo ở trong thân phàm phu kia là chỗ ở lâu.

*******

 

Năm người: Là Kiên tín, Kiên pháp, Tín giải thoát, Kiến đáo, Thân chứng.

Người Kiên tín đối với ba kiết nầy, có bao nhiêu kiết thành tựu, bao nhiêu kiết không thành tựu? Cho đến chín mươi tám sử, bao nhiêu sử thành tựu, bao nhiêu sử không thành tựu? Cho đến Thân chứng, đối với ba kiết nầy, có bao nhiêu kiết thành tựu, bao nhiêu kiết không thành tựu? Cho đến chín mươi tám sử, có bao nhiêu sử thành tựu, bao nhiêu sử không thành tựu?

Hỏi: Vì sao Tôn giả kia, ở trong Kiền-độ Sử, do năm người mà soạn luận, còn trong Kiền-độ Trí, Định lại do bảy người để soạn luận?

Đáp: Vì ý của người soạn luận kia muốn thế, cho đến nói rộng.

Lại nữa, Kiền-độ Sử nầy, do người có sử mà soạn luận. Còn Kiềnđộ Trí, Định do người có sử, không có sử, chỉ người có Trí, Định mới soạn luận. Về có kiết nói cũng giống như thế.

Lại nữa, Tôn giả kia dùng con người làm chương, lấy phiền não làm môn, người tuệ giải thoát, câu giải thoát, vì không có kiết nên không lập môn. Trong Kiền-độ Trí, Định lấy con người làm chương, lấy trí, định làm môn, người tuệ giải thoát, câu giải thoát, vì có trí, định nên lập môn.

Do việc ấy, nên Tôn giả kia ở trong Kiền-độ Sử đã do năm người để soạn luận, ở trong Kiền-độ Trí, Định đã do bảy người để soạn luận.

Bảy người: là Kiên tín, Kiên pháp, Tín giải thoát, Kiến đáo, Thân chứng, Tuệ giải thoát, Câu giải thoát.

Thế nào là người Kiên tín? Giống như có một người cung kính nhiều, tin nhiều, tịnh nhiều, ái nhiều, phần nhiều theo những pháp của mình đã nghe hiểu biết rõ, không ưa tư duy, không lường xét nhiều, không quan sát nhiều, không lựa chọn nhiều. Như ưa tin, cho đến phần nhiều tùy pháp của mình đã nghe nhận hiểu rõ. Như nghe Phật và đệ tử Phật giảng nói pháp, truyền dạy nói khổ, không, vô thường, vô ngã, người kia sẽ nghĩ rằng: Chư vị đã có thể vì ta giảng nói khổ, không, vô thường, vô ngã, thật là điều thích thú, ta nên tu hành pháp khổ, không, vô thường, vô ngã!

Lúc người kia tu hành khổ, không, vô thường, vô ngã, có thể sinh pháp Thế đệ nhất, kế là sinh khổ pháp nhẫn, biết các hành cõi Dục là khổ, không, vô thường, vô ngã, cho đến đạo tỷ trí chưa sinh, gọi là người Kiên tín. Người Kiên tín, hoặc chứng quả hướng Tu-đà-hoàn, hoặc chứng quả hướng Tư-đà-hàm, hoặc chứng quả hướng A-na-hàm. Nếu là ràng buộc đủ, hoặc dứt trừ năm thứ kiết, được chánh quyết định, ở trong khoảng mười lăm tâm của kiến đạo, là người chứng quả hướng Tu-đà-hoàn. Nếu đã dứt trừ sáu thứ kiết, cho đến dứt tám thứ kiết, được chánh quyết định, ở trong khoảng mười lăm tâm của kiến đạo, là người đã chứng quả hướng Tư-đà-hàm, lìa dục cõi Dục, cho đến lìa dục của Vô sở hữu xứ, được chánh quyết định, ở trong khoảng mười lăm tâm của kiến đạo, là người chứng quả hướng A-na-hàm.

Thế nào là người Kiên pháp? Giống như có một người tánh ưa tư duy nhiều, lường xét nhiều, quán sát nhiều, lựa chọn nhiều, không ưa tin nhiều, cho đến không ưa tùy pháp của mình đã nghe mà hiểu rõ. Do tánh ưa tư duy nhiều, cho đến chọn lựa nhiều, nếu nghe Phật và đệ tử Phật nói pháp truyền dạy, cho đến nói rộng như người Kiên tín, đó gọi là người Kiên pháp.

Thế nào là người Tín giải thoát? Tức là người Kiên tín được Đạo tỷ trí, bỏ tên gọi Kiên tín, được tên gọi Tín giải thoát.

Hỏi: Vì bỏ những gì?

Đáp: Bỏ tên gọi được tên gọi, bỏ đạo được đạo. Bỏ tên gọi, nghĩa là bỏ tên gọi Kiên tín. Được tên gọi nghĩa là được tên gọi Tín giải thoát. Bỏ đạo là bỏ kiến đạo, được đạo là được tu đạo. Người Tín giải thoát hoặc là Tu-đà-hoàn, hoặc là hướng Tư-đà-hàm, hoặc là Tư-đà-hàm, hoặc là hướng A-na-hàm, hoặc là A-na-hàm, hoặc là hướng A-la-hán. Trụ quả Tu-đà-hoàn, không còn thắng tiến, gọi là Tu-đà-hoàn. Nếu thắng tiến gọi là hướng Tư-đà-hàm. Trụ quả Tư-đà-hàm không thắng tiến, gọi là Tư-đà-hàm, nếu thắng tiến gọi là hướng quả A-na-hàm. Nếu trụ quả A-na-hàm không thắng tiến, gọi là A-na-hàm, nếu thắng tiến thì gọi là hướng quả A-la-hán.

Thế nào là người Kiến đáo? Người Kiên pháp, được đạo tỷ trí, bỏ tên gọi Kiên pháp, được tên gọi Kiến đáo.

Hỏi: Vì bỏ những gì, được những gì?

Đáp: Bỏ tên gọi được tên gọi, bỏ đạo được đạo, cho đến nói rộng, như người Tín giải thoát.

Thế nào là người thân chứng?

Đáp: Nếu người do thân chứng tám giải thoát, chẳng phải do tuệ dứt hết lậu khác, gọi là người thân chứng.

Thế nào là người tuệ giải thoát?

Đáp: Nếu người không do thân chứng tám giải thoát, do tuệ dứt hết lậu khác, đó gọi là người tuệ giải thoát.

Thế nào là người câu giải thoát?

Đáp: Nếu người do thân chứng tám giải thoát, cũng dùng tuệ dứt hết các lậu còn lại, đó gọi là người câu giải thoát.

Hỏi: Vì sao gọi là câu giải thoát?

Đáp: Vì phiền não chướng là một phần, giải thoát chướng là một phần, dứt trừ hai chướng nầy gọi là câu giải thoát.

Hỏi: Nếu được A-la-hán, sau được định diệt tận, khi lìa chướng giải thoát, thì tâm hữu lậu được giải thoát hay tâm vô lậu được giải thoát?

Đáp: Hoặc có thuyết nói: Tâm hữu lậu được giải thoát. Vì sao? Vì khi không có tâm định nên được giải thoát.

Phê bình: Nên nói rằng: Tâm hữu lậu, tâm vô lậu được giải thoát. Vì sao? Vì thân được giải thoát, thế gian được giải thoát. Nếu lúc không được định diệt, tâm xuất định, nhập định không hiện hành ở thân kia. Nếu đối với thân kia không hiện hành thì đối với thế gian cũng không hiện hành. Nếu khi được định diệt, tâm nhập định, xuất định, tức hiện hành ở trong thân. Vì hiện hành ở trong thân nên ở thế gian cũng hiện hành. Như nói về nghĩa của người câu giải thoát, nghĩa của người khác cũng nên nói như thế.

Hỏi: Vì sao gọi là người Kiên tín?

Đáp: Vì người nầy dựa vào tín sinh tín, dựa vào tín hữu lậu sinh tín vô lậu, dựa vào tín ràng buộc sinh Tín giải thoát, dựa vào tín lệ thuộc sinh tín không lệ thuộc. Những người như thế với tánh tin nhiều, nếu một lời nói: Nầy người nam! Ông nên làm ruộng, để tự nuôi sống. Người kia nghe lời nói nầy, không nghĩ: là mình nên làm hay không nên làm, có thể làm hay không thể làm? Có thích hợp hay không thích hợp?

Cứ nghe xong bèn làm.

Nếu lại nói với người đó: Nầy người nam! Ông nên buôn bán, học tập binh pháp, gần bậc vua chúa, học thư, toán, số, lấy sự nghiệp nầy để tự nuôi sống. Người đó không nghĩ rằng: Ta nên làm hay không nên làm, có thể làm hay không thể làm, có thuận tiện hay không thuận tiện, hễ vừa nghe xong là làm.

Nếu lại nói: Nầy người nam! Ông nên xuất gia! Người kia không nghĩ rằng: Ta nên xuất gia hay không nên xuất gia? Là có thuận tiện hay không thuận tiện? Có thể gìn giữ phạm hạnh hay không thể gìn giữ phạm hạnh? Nghe nói rồi là xuất gia ngay. Xuất gia rồi nếu lại nói: Tỳ-kheo! Ông nên khuyến hóa! Người kia không suy nghĩ đối với việc khuyến hóa, ta có năng lực chăng? Có khả năng biện minh hay không nghe nói xong là làm ngay.

Nếu lại nói: Tỳ-kheo! Thầy nên học, tụng tập! Người kia không nghĩ là mình có khả năng làm việc, tụng tập hay không là nên tụng tập Tu-đa-la, hay Tỳ-ni, hay A-tỳ-đàm? Nghe xong là tụng tập ngay.

Nấu lại nói: Tỳ-kheo! Thầy nên cư trú chốn A-luyện-nhã, hành pháp A-luyện-nhã. Người ấy cũng không nghĩ rằng: Mình có thể hay không thể? Nghe xong là làm ngay.

Do nhân duyên nầy chuyển biến gần Thánh đạo, người kia, vào thời gian sau sinh pháp Thế đệ nhất, kế là sinh khổ pháp nhẫn, cho đến khi chưa được đạo tỷ trí, đối với khoảng mười lăm tâm của kiến đạo, đó gọi là người Kiên tín.

Hỏi: Vì sao gọi là người Kiên pháp?

Đáp: Người nầy do pháp sinh pháp, do pháp thế gian sinh pháp xuất thế gian, do pháp hữu lậu sinh pháp vô lậu, do pháp ràng buộc sinh ra pháp không ràng buộc.

Những người như thế v.v… với bản tánh ưa suy nghĩ, cân nhắc, nếu Lại có người nói: nầy anh! Anh nên cày ruộng, để tự nuôi sống. Người kia bèn tư duy, cân nhắc: ta có thể làm hay không, có thích hợp hay không? Nói rộng như người Kiên tín.

Thảy đều tư duy lường xét, do nhân duyên nầy, chuyển gần Thánh đạo, người ấy về sau sinh ra pháp Thế đệ nhất, kế là sinh khổ pháp nhẫn, cho đến khi chưa sinh đạo tỷ trí, ở trong khoảng mười lăm tâm của kiến đạo, đó gọi là người Kiên pháp.

Hỏi: Người Kiên tín có ngần ấy tín, cũng có ngần ấy tuệ. Người Kiên pháp có ngần ấy tuệ, cũng có ngần ấy tín, vì sao một người gọi Kiên tín, còn một người gọi là Kiên pháp?

Đáp: Hoặc tin vào lời nói của người khác mà vào Thánh đạo,

hoặc bên trong tự suy nghĩ mà nhập Thánh đạo. Nếu người do tin theo lời người khác mà nhập Thánh đạo, thì gọi là người Kiên tín. Nếu bên trong tự tư duy mà nhập Thánh đạo, thì gọi là người Kiên pháp.

Lại nữa, hoặc có người do định mà vào đạo Thánh, hoặc có người do tuệ mà nhập đạo Thánh. Nếu người do định mà vào đạo Thánh, gọi là Kiên tín. Nếu người do tuệ mà vào đạo Thánh thì gọi là Kiên pháp. Như do định, do tuệ, định nhiều, tuệ nhiều, ưa định, ưa tuệ, căn tánh chậm lụt, căn tánh nhạy bén, sức nghe pháp từ người khác, dựa vào sức tư duy bên trong, gần thiện tri thức, nghe chánh pháp, bên trong tự suy nghĩ, như pháp tu hành, trước dùng định tu tâm, sau được tuệ giải thoát, trước dùng tuệ tu tâm, sau được định giải thoát. Hoặc có người được định nội tâm, không được tuệ, hoặc có kẻ được tuệ, không được định nội tâm, nghiêng nhiều về không tham, nghiêng nhiều về không si, nói cũng giống như thế.

Hỏi: Vì sao gọi là Tín giải thoát?

Đáp: Dùng tín quán tín, từ tín được tín. Dùng tín quán tín, nghĩa là dùng tín của kiến đạo để quán tín của tu đạo.

Từ tín được tín: Từ tín của hướng đạo, được tín của quả đạo, đó gọi là Tín giải thoát.

Lại nữa, người nầy do niềm tin, nên đối với ba kiết, tâm được giải thoát, đó gọi là Tín giải thoát.

Hỏi: Vì sao gọi là Kiến đáo?

Đáp: Vì người nầy dùng kiến đến kiến, dùng kiến của kiến đạo, đến kiến của tu đạo, dùng kiến thuộc về hướng đạo để hướng đến kiến thuộc quả đạo.

Lại nữa, người nầy do kiến, nên đối với ba kiết, tâm được giải thoát, gọi là Kiến đáo.

Hỏi: Như Tín giải thoát cũng có thể nói là Tín đáo, như Kiến đáo cũng có thể nói là Kiến giải thoát. Vì sao một nói là Tín giải thoát, một nói là Kiến đáo?

Đáp: Nên nói như nói Tín giải thoát, cũng nên nói là Tín đáo. Như nói Kiến đáo, cũng nên nói là Kiến giải thoát, nhưng không nói là có ý gì?

Đáp: Vì muốn biểu hiện các thứ văn, cho đến nói rộng.

Hỏi: Vì sao gọi là thân chứng?

Đáp: Nếu Tín giải thoát, hoặc Kiến đáo được định diệt, bỏ tên gọi Tín giải thoát, Kiến đáo, được tên gọi thân chứng.

Là bỏ những gì, được những gì? Pháp sư nước ngoài đã nói rằng:

Bỏ tên gọi được tên gọi, bỏ đạo được đạo. Bỏ tên gọi nghĩa là bỏ tên gọi Tín giải thoát, Kiến đáo. Được tên gọi nghĩa là được tên gọi Thân chứng. Bỏ đạo nghĩa là bỏ đạo Tín giải thoát, Kiến đáo. Được đạo nghĩa là được đạo thân chứng.

Sa-môn nước Kế-tân nói rằng: Bỏ tên gọi được tên gọi, nghĩa là bỏ tên gọi Tín giải thoát, Kiến đáo, được tên gọi thân chứng. Nếu không được định diệt mà được quả A-la-hán, thì gọi là Tuệ giải thoát. Nếu được định diệt, được quả A-la-hán, thì gọi là Câu giải thoát.

Hỏi: Như trong kiến đạo có hai người: Kiên tín và Kiên pháp. Trong Tu đạo có hai người: Tín giải thoát và Kiến đáo, vì sao trong đạo Vô học chỉ nói một người?

Đáp: Hoặc có khi dùng đạo thế tục, lìa dục cõi Dục, cho đến lìa dục của Vô sở hữu xứ, hoặc dùng đạo vô lậu, nếu khi lìa dục của Phi tưởng Phi phi tưởng xứ, hợp thành một đạo, nên chỉ nói một người.

Lại nữa, hoặc có người nghiêng về hành tham, hoặc có người thì không, nếu khi lìa dục của Phi tưởng Phi phi tưởng xứ, trong thân không có tham, vì đồng một tướng nên chỉ nói một người.

Lại nữa, hoặc có người nghiêng về hành si, hoặc có người không, nếu khi lìa dục của Phi tưởng Phi phi tưởng xứ, trong thân không có si, vì đồng một tướng, nên chỉ nói một người. Đối với người nghiêng về hành mạn, nói cũng giống như thế.

Lại nữa, vì giải thoát bình đẳng, như nói: Như lai Đẳng Chánh Giác, đã được giải thoát dứt hết lậu và giải thoát mà Tỳ-kheo A-la-hán đã chứng được, hai giải thoát nầy đều bình đẳng, không có khác nhau.

Lại nữa, vì đều cùng trừ bỏ ngọn núi phiền não của ba cõi, đều cùng không muốn hữu của vị lai và đều cùng mở ra đường ra khỏi sau cùng.

Lại có thuyết nói: Địa Vô học cũng nói hai hạng người:

  1. Thời giải thoát.
  2. Bất thời giải thoát.

Hỏi: Nếu vậy thì bậc Thánh sẽ có sáu: Kiến đạo có hai người Kiên tín và Kiên pháp. Tu đạo có hai người: Tín giải thoát, Kiến đáo. Đạo Vô học có hai: Thời giải thoát và bất thời giải thoát.

Sao Luận Thi Thiết nói có bảy người?

Đáp: Vì năm việc, nên Luận Thi Thiết nói có bảy người:

  1. Do phương tiện.
  2. Do căn.
  3. Do định.
  4. Do giải thoát.
  5. Do định, do giải thoát.

Do phương tiện: Là Kiên tín, Kiên pháp.

Do căn: Là Tín giải thoát, Kiến đáo.

Do định: Là thân chứng.

Do giải thoát: Là Tuệ giải thoát.

Do định, do giải thoát: Là Câu giải thoát.

Nên nói một người Kiên tín, như một người trong bảy người. Do căn, nên nói ba người Kiên tín, nghĩa là căn thượng trung hạ. Do tánh nên nói năm người Kiên tín, nghĩa là từ pháp lui sụt, cho đến tất thắng tiến. Do đạo nên nói mười lăm người Kiên tín, nghĩa là từ Khổ pháp nhẫn cho đến đạo tỷ nhẫn. Vì lìa dục, nên nói có bảy mươi ba người Kiên tín: Cõi Dục có người ràng buộc đủ, có người lìa một thứ dục, cho đến lìa chín thứ dục.

Sơ thiền lìa chín thứ dục, không có người ràng buộc đủ. Vì sao? Vì đã lìa dục cõi Dục. Tức là ràng buộc đủ của Sơ thiền, cho đến lìa một thứ dục cho đến chín thứ dục của Vô sở hữu xứ.

Thân là đối tượng nương dựa: Diêm-phù-đề có bảy mươi ba. Cùđà-di có bảy mươi ba. Phất Bà-đề có bảy mươi ba. Bốn Thiên vương cho đến trời Tha Hóa Tự Tại, đều có bảy mươi ba. Nếu mỗi sát-na mỗi thân, thì có vô lượng vô biên người Kiên tín. Trong đây nói chung là một người Kiên tín. Người Kiên pháp nói cũng giống như thế, chỉ trừ do tánh. Vì sao? Vì người ấy là tánh bất động.

Nên nói một hạng người Tín giải thoát, như một người trong bảy người. Do căn nên nói ba, do tánh nên nói năm, do lìa dục nên nói tám mươi hai.

Cõi Dục ràng buộc đủ, lìa một thứ dục cho đến lìa chín thứ dục, cho đến lìa dục của Vô sở hữu xứ cũngnhư thế. Lìa một thứ dục của Phi tưởng Phi phi tưởng xứ, cho đến lìa tám thứ dục và khi dứt trừ dục thứ chín.

Thân, đối tượng nương dựa: Ở cõi Dục có tám mươi hai Sơ thiền có bảy mươi ba, đệ Nhị thiền có sáu mươi bốn, đệ Tam thiền có năm mươi lăm, đệ Tứ thiền có bốn mươi sáu, Không xứ có ba mươi bảy, Thức xứ có hai mươi tám, Vô sở hữu xứ có mười chín, Phi tưởng Phi phi tưởng xứ có mười. Ràng buộc đủ dứt trừ tám thứ dục và khi dứt trừ loại dục thứ chín, nếu do thân, do sát-na, thì có vô lượng vô biên Tín giải thoát. Ở đây nói chung là một người Tín giải thoát. Như Tín giải thoát, Kiến đáo nói cũng giống như thế, chỉ trừ do tánh. Vì sao? Vì người ấy là tánh bất động.

Nên nói là một người thân chứng, như một người trong bảy người. Vì căn nên nói là ba, vì tánh nên nói sáu, vì lìa dục nên nói mười.

Phi tưởng Phi phi tưởng xứ ràng buộc đủ, lìa một thứ dục, cho đến lìa tám thứ dục và khi dứt trừ loại dục thứ chín.

Thân là đối tượng nương dựa: Cõi Dục có chín, cõi Sắc có chín, cõi Vô sắc có chín. Nếu do thân, do sát-na thì sẽ có vô lượng, vô biên. Trong đây nói chung là một người thân chứng. Nên nói một người Tuệ giải thoát, như một người trong bảy người, do căn nên nói ba, do tánh nên nói sáu. Thân là đối tượng nương dựa: Có ba, dựa vào thân cõi Dục, thân cõi Sắc, thân cõi Vô sắc. Nếu ở thân, do sát- na nên có vô lượng vô biên. Ở đây nói chung là một người Tuệ giải thoát. Câu giải thoát cũng giống như thế.

Người Kiên tín đối với ba kiết nầy, có bao nhiêu kiết thành tựu, bao nhiêu kiết không thành tựu? Trước đã nói rằng: Tôn giả kia dùng người làm chương, dùng phiền não làm môn. nay muốn dùng môn phiền não để nói về người.

Người Kiên tín, khổ tỷ trí chưa sinh, đối với ba kiết nầy, tất cả thành tựu, hoặc sinh hai thành tựu, là giới thủ và nghi, một không thành tựu là thân kiến, phần còn lại nói rộng như kinh nầy. Cho đến lìa ái sắc, diệt tỷ trí sinh cõi Dục, cõi Sắc, tất cả không thành tựu và chỗ dứt của khổ, tập, diệt cõi Vô sắc, tất cả không thành tựu, pháp còn lại là thành tựu.

Hỏi: Vì sao không nói đạo tỷ trí?

Đáp: Nếu đạo tỷ trí sinh thì gọi là Tín giải thoát. Như Kiên tín, Kiên pháp cũng giống như thế. Vì sao? Vì hai thứ nầy địa bình đẳng, đạo bình đẳng, lìa dục bình đẳng, thân nương dựa bình đẳng, định bình đẳng, nơi sinh bình đẳng, chỉ căn là có khác nhau. Nếu người căn tánh chậm lụt gọi là Kiên tín, người căn tánh nhạy bén gọi là Kiên pháp.

Người Tín giải thoát đối với ba kiết nầy, tất cả không thành tựu, nói rộng như kinh nầy. Như Tín giải thoát, Kiến đáo cũng giống như thế. Vì sao? Vì hai người nầy địa đồng nhau, đạo đồng nhau, lìa dục ngang bình đẳng, thân đối tượng nương dựa đồng nhau, định bình đẳng, nơi sinh đồng nhau, chỉ có căn là khác nhau. Nếu người căn tánh chậm lụt, gọi là Tín giải thoát, nếu người có căn tánh nhạy bén, gọi là Kiến đáo.

Người thân chứng đối với ba kiết nầy, tất cả không thành tựu.

Phần còn lại nói rộng như kinh nầy. Ở đây, nên lập luận.

Có bậc Thánh nào thành tựu chín mươi tám sử hay không?

Đáp: Có. Người ràng buộc đủ, lúc trụ trong khổ pháp nhẫn.

Có người nào dứt tám mươi tám sử, không dứt mười sử mà không được quả hay chăng?

Đáp: Có. Người đã lìa sắc ái, được chánh quyết định, lúc diệt tỷ trí, ba mươi sáu sử cõi Dục đã dứt, ba mươi mốt sử cõi Sắc, hai mươi mốt sử, chỗ dứt trừ của khổ, tập, diệt đế cõi Vô sắc. Mười không dứt, nghĩa là bảy sử, chỗ dứt của đạo đế ở cõi Dục, ba sử, chỗ dứt của Tu đạo, người kia không được quả. Vì sao? Vì là hướng đạo.

Có khi nào chín mươi tám sử được dứt mà chẳng phải A-la-hán chăng?

Đáp: Có. Lìa dục của Vô sở hữu xứ, chưa lìa dục của Phi tưởng Phi phi tưởng xứ, ba mươi sáu sử cõi Dục đã dứt, ba mươi mốt sử cõi Sắc, ba mươi mốt sử cõi Vô sắc, Không xứ, Thức xứ, vô sở hữu xứ, người đó chẳng phải A-la-hán. Vì sao? Vì người phàm phu cũng dứt.

Phê bình: Không nên lập luận như thế. Vì sao? Vì giới, nên lập phiền não, không do địa.

Thân kiến, đối với thân kiến có bao nhiêu duyên?

Hỏi: Vì sao soạn luận nầy?

Đáp: Hoặc có thuyết nói: Vì duyên không có tự thể, như phái Thí dụ giả nói: Vì sao người kia nói như thế?

Đáp: Vì người kia dựa vào kinh Phật. Kinh Phật nói: Vô minh duyên hành, vô minh là hành của một tướng.

Là ngần ấy tướng, làm sao pháp của một tướng làm duyên cho ngần ấy tướng?

Tôn giả Phật-đà-đề-bà nói: Các sư đã nói: Duyên chỉ có danh mà không có tự thể.

Vì ngăn dứt ý của thuyết như thế, cũng nói duyên có thật thể. Nếu duyên không có tự thể, thì tất cả các pháp cũng không có tự thể. Vì sao? Vì tất cả pháp hữu vi đều là nhân duyên, duyên Thứ đệ, trừ tâm sau cùng của A-la-hán ở quá khứ, hiện tại, còn lại là tất cả pháp tâm, tâm sở ơ quá khứ, hiện tại. Duyên cảnh giới, duyên oai thế, là tất cả pháp.

Lại nữa, nếu duyên không có thể, thì tất cả các pháp đều không có nghĩa sâu xa. Nếu các pháp không dùng tướng duyên để quán sát thì cạn, gần dễ nhận biết. Ngược lại, nếu dùng tướng duyên để quán sát các pháp, thì chúng sâu hơn bốn biển, chỉ có trí Phật mới biết được, người khác chẳng thể biết.

Lại nữa, nếu duyên không có tự thể, thì không lập ba thứ Bồ-đề. Nếu dùng trí phẩm thượng để quán sát tướng duyên, thì gọi là Bồ-đề của Phật. Nếu dùng trí phẩm trung để quan sát thì gọi là Bồ-đề của Bích-chi Phật. Nếu dùng trí phẩm hạ, thì gọi là Bồ-đề của Thanh văn.

Lại nữa, nếu duyên không có tự thể, thì sẽ không có sự khác nhau giữa giác ngộ thượng, trung, hạ. Người giác ngộ phẩm hạ thường là giác phẩm hạ. Người giác ngộ phẩm trung thường là giác phẩm trung. Người giác phẩm thượng, thường là giác phẩm thượng. Vì quán tướng duyên, nên giác bực hạ có thể khiến thành bực trung, giác bậc trung thành bậc thượng. Cho nên, Tôn giả Cù-sa nói: Nếu duyên không có tự thể, thì thầy không thể dạy trao cho đệ tử, khiến tánh giác tăng rộng. Do duyên có tự thể nên thầy dạy đệ tử, giác bậc hạ thành bậc trung, giác bậc trung thành bậc thượng, xưa là học trò, về sau làm thầy.

Vì việc nầy, nên biết duyên thật sự có thể tướng.

Hỏi: Nếu duyên thật sự có thể, thì kinh do phái Thí Dụ giả nói, làm sao hiểu?

Đáp: Thể của vô minh dù là một tướng, nhưng đối tượng tác động có ngần ấy, do có ngần ấy nghĩa môn nên làm duyên cho hành. Giống như một người có năm khả năng, tuy là một mà có năm khả năng, vô minh kia cũng giống như thế.

Lại nữa, sở dĩ soạn luận nầy là vì muốn tỏ bày tánh của tất cả pháp hữu vi đều yếu kém, không có tự lực, do người khác, không tự tại, không muốn tạo tác, nên soạn luận nầy.

Hoặc có thuyết nói: Tự tánh của pháp hữu vi yếu kém.

Hoặc có thuyết nói: Do nhân duyên sinh yếu kém, nên tánh yếu kém, như nói: Tỳ-kheo phải biết! Sắc là vô thường, nhân duyên có thể sinh ra sắc cũng là vô thường. Nhân duyên sinh, sắc, làm sao là thường? Vì tánh của pháp hữu vi yếu kém: Hoặc có pháp từ bốn duyên sinh, ba duyên sinh, hai duyên sinh, cho đến không có từ một duyên nào sinh, huống chi là không có duyên. Như đa số người bệnh ốm yếu, hoặc cần bốn người dìu đỡ, hoặc cần ba người, hoặc cần hai người, cho đến không có một người nào dìu đỡ, huống chi là không người nâng đỡ mà người bệnh có thể đứng dậy? Vô minh kia cũng giống như thế.

Không có tự lực, nghĩa là không còn thế dụng của sức mình mà có thể sinh.

Do người khác: Nghĩa là nếu không có tự lực, thì gọi là do người khác.

Không tự tại: Là chớ để cho Ngã sinh, chớ để cho ngã diệt, không được tự tại.

Không có điều muốn tạo tác, nghĩa là không có tâm muốn làm như thế, ai làm cho ta, ta sẽ làm, đâu muốn bày tỏ tánh của các pháp là yếu kém. Cho đến vì không có điều muốn làm, nên soạn luận nầy.

Lại nữa, sở dĩ soạn luận như thế là vì muốn ngăn lỗi của pháp duyên khởi. Hoặc cho rằng: Pháp duyên chỉ vô minh duyên hành, cho đến sinh duyên già chết, lại không còn có pháp duyên khởi. Vì muốn khiến cho nghĩa nầy được quyết định, nếu pháp từ duyên sinh, tức là duyên khởi. Trong đây, nên nói dụ của Tăng-già-bà-tu.

Cho nên, vì muốn ngăn nghĩa của người khác, và hiển bày nghĩa của mình, cho đến nói rộng.

Hỏi: Thân kiến đối với thân kiến, có bao nhiêu duyên?

Đáp: Hoặc có bốn, ba, hai, một duyên.

Hỏi: Vì sao Tôn giả kia soạn luận? Trong đây hỏi thân kiến đối với thân kiến có bao nhiêu duyên?

Đáp: Hoặc có bốn, ba, hai, một duyên. Như Kiền-độ Trí hỏi: Pháp trí đối với Pháp trí có mấy duyên? Đáp: Nhân duyên, duyên thứ đệ, duyên cảnh giới, duyên oai thế.

Vì ý của người soạn luận muốn thế, cho đến nói rộng.

Lại nữa, vì bày tỏ hai môn, hai tóm lược, cho đến nói rộng.

Thân kiến nầy đối với thân kiến có bao nhiêu duyên?

Đáp: Hoặc có bốn, ba, hai, một duyên.

Hỏi: Pháp trí đối với pháp trí có bao nhiêu duyên? Lẽ ra cũng giống như thế?

Đáp: Hoặc có bốn, ba, hai, một duyên.

Pháp trí kia đối với pháp trí có bao nhiêu duyên?

Đáp: Nhân duyên duyên thứ đệ, duyên cảnh giới, duyên oai thế. Trong đây, thân kiến đối với thân kiến có bao nhiêu duyên, cũng nên đáp như thế nầy: Nhân, thứ lớp, cảnh giới, oai thế.

Lại nữa, thuyết nầy là liễu nghĩa, thuyết kia chưa liễu nghĩa, cho đến nói rộng. Thuyết nầy là thật đế, thuyết kia là thế đế.

Lại nữa, trong đây phân biệt bốn pháp.

  1. Phân biệt cõi.
  2. Phân biệt đời.
  3. Phân biệt sát-na.
  4. Phân biệt thứ lớp.

Thuyết kia chỉ phân biệt thứ lớp.

Thân kiến đối với thân kiến có bao nhiêu duyên?

Đáp: Hoặc có bốn, ba, hai, một duyên, bốn duyên ấy là: Thân kiến theo thứ lớp sinh thân kiến, tức duyên theo thân kiến đã sinh trước.

Thân kiến đã sinh trước làm bốn duyên cho thân kiến sau, đó là nhân, duyên thứ đệ, duyên cảnh giới, duyên oai thế. Như sát-na của một thân kiến, kế sau, là sinh sát-na của thân kiến thứ hai. Nếu thân kiến sinh sau duyên với thân kiến sinh trước, thì thân kiến sinh trước sẽ làm bốn duyên cho thân kiến sinh sau, đó là nhân duyên, duyên thứ đệ, duyên cảnh giới và oai thế.

Nhân duyên: Có hai nhân, là nhân tương tự và nhân nhất thiết biến.

Duyên Thứ đệ: Thân kiến sinh sau, kế là sinh sau của thân kiến trước.

Duyên cảnh giới: Thân kiến sinh sau, tức duyên theo thân kiến đã sinh trước.

Nhân duyên: như pháp chủng tử.

Duyên Thứ đệ, như pháp mở mang, dẫn dắt.

Duyên cảnh giới, như cách chống gậy đứng dậy.

Duyên oai thế, là pháp không chướng ngại nhau. Thân kiến sinh sau vì thọ nhận oai thế bốn duyên của thân kiến sinh trước, nên có thể chuyển vận ở đời, có thể nhận lấy quả, có thể có chỗ tạo tác có thể biết cảnh giới.

Thế nào là ba?

Đáp: Như thân kiến, theo thứ lớp sinh thân kiến, không duyên với thân kiến trước. Thân kiến sinh trước đối với thân kiến sau là nhân, thứ lớp, duyên oai thế, không có duyên cảnh giới. Như sát-na của một thân kiến, kế sinh sát na của thân kiến thứ hai sinh, thân kiến sinh sau dù không duyên với thân kiến sinh trước, nhưng hoặc duyên theo sắc ấm, hoặc duyên thọ ấm, hoặc duyên tưởng ấm, hoặc duyên thức ấm, trừ thân kiến, hoặc duyên với hành ấm còn lại. Thân kiến sinh trước làm ba duyên cho thân kiến sinh sau, Thứ đệ, Oai thế, không có duyên cảnh giới.

Nhân duyên: Có hai nhân: Nhân tương tự, Nhân nhất thiết biến.

Duyên Thứ đệ: Thân kiến sinh sau, thứ lớp sinh sau thân kiến trước.

Không có cảnh giới do không duyên với thân kiến trước.

Nhân duyên: Như pháp chủng tử.

Duyên Thứ đệ: như pháp mở mang, dẫn dắt.

Duyên oai thế: Là pháp không chướng ngại. Thân kiến sinh sau, vì thọ nhận ba duyên của thân kiến trước, nên có thể hành ở đời, có thể nhận lấy quả, có thể có sở tác, có thể biết duyên, có thể biết cảnh giới.

Lại có ba duyên: Như thân kiến theo thứ lớp sinh tâm không tương tự, sau lại sinh thân kiến, tức duyên với thân kiến trước, thân kiến đã sinh trước và thân kiến sinh sau là nhân duyên duyên cảnh giới, duyên oai thế, không có duyên thứ đệ. Như sau một sát-na của thân kiến, bất sinh thân kiến của sát-na thứ hai, hoặc sinh biên kiến, hoặc sinh tà kiến, hoặc sinh giới thủ, hoặc sinh kiến thủ, hoặc sinh nghi, hoặc sinh ái, giận, mạn, vô minh, hoặc sinh thiện hữu lậu, tâm vô ký không ẩn một, lại sinh thân kiến, tức duyên với thân kiến sinh trước. Thân kiến đã sinh trước làm ba duyên cho thân kiến sinh sau, nghĩa là nhân duyên duyên cảnh giới, duyên oai thế, không có duyên thứ đệ, vì sinh tâm không tương tự.

Duyên cảnh giới: Vì duyên với thân kiến trước, nên thân kiến sinh sau sẽ thọ nhận thế dụng của ba duyên thân kiến sinh trước, nên có thể hành ở đời, cho đến nói rộng.

Thế nào là hai? Như thân kiến theo thứ lớp sinh tâm không tương tự. Thân kiến sinh sau không duyên với thân kiến sinh trước. Thân kiến sinh trước đối với thân kiến sinh sau là nhân duyên, duyên oai thế, không có duyên cảnh giới, duyên thứ đệ. Như sau một sát-na của thân kiến, không sinh sát-na của thân kiến thứ hai, hoặc sinh biên kiến, cho đến sinh tâm thiện, vô ký không ẩn một, lại sinh thân kiến, dù không duyên với thân kiến trước, hoặc duyên sắc ấm cho đến thức ấm, trừ thân kiến, cũng duyên với hành ấm còn lại. Thân kiến sinh trước làm hai duyên cho thân kiến sinh sau là Nhân duyên, Duyên oai thế.

Nhân duyên: Có hai nhân, là nhân tương tự và nhân Nhất thiết biến.

Duyên oai thế: Vì không có chướng ngại, không có duyên cảnh giới, vì không duyên với thân kiến trước. Không có duyên Thứ đệ, vì thân kiến sinh sau, không theo thứ lớp sinh sau thân kiến trước. Thân kiến sinh sau, thọ nhận thế dụng nơi hai duyên của thân kiến trước, nên có thể hiện hành ở đời, nói rộng như trên.

Thế nào là một? Thân kiến sinh sau, đối với thân kiến sinh trước, nếu duyên là Duyên cảnh giới, duyên oai thế. Nếu không duyên thì chỉ một Duyên oai thế.

Hỏi: Vì sao hỏi một duyên mà đáp hai duyên?

Đáp: Các luận sư soạn luận, hoặc có khi tránh lỗi trước, rồi mới đáp, có khi đáp trước rồi mới tránh lỗi.

Tránh lỗi trước, rồi mới đáp: Như thuyết nầy: Thân kiến sinh sau, đối với thân kiến sinh trước, nếu tạo ra cảnh giới tức là duyên cảnh giới, duyên oai thế. Đó gọi là tránh lỗi, không tạo ra cảnh giới thì chỉ một duyên oai thế, đó gọi là đáp.

Đáp trước, rồi mới tránh lỗi: Như phẩm Nhất Hành nói: Nếu sinh trước không dứt là lệ thuộc. Đó gọi là đáp. Nếu trước không sinh, sinh nghĩa là đã dứt, là không lệ thuộc. Đó gọi là tránh lỗi.

Lại có thuyết nói: Đó gọi là đáp, không gọi là tránh lỗi, thân kiến hoặc có một duyên, hoặc có hai duyên. Thân kiến vị lai đối với thân kiến quá khứ, hiện tại, nếu tạo ra cảnh giới là duyên cảnh giới, duyên oai thế. Nếu không tạo cảnh giới thì chỉ một duyên oai thế. Thân kiến vị lai, hiện tại, đối với thân kiến quá khứ, nếu tạo ra cảnh giới là duyên cảnh giới, duyên oai thế. Nếu không tạo ra cảnh giới, thì chỉ một duyên oai thế. Nếu thân kiến quá khứ duyên theo thân kiến vị lai, hiện tại, nên sinh, thân kiến vị lai, hiện tại đối với thân kiến quá khứ, tạo ra hai duyên là duyên cảnh giới, duyên oai thế. Nếu thân kiến quá khứ không duyên theo thân kiến vị lai, hiện tại mà sinh, thì thân kiến vị lai, hiện tại đối với thân kiến quá khứ, sẽ tạo ra một Duyên oai thế.

Hỏi: Như các việc thân kiến tạo tác đã xong, không còn có khả năng, vì sao nói như thế? Nếu duyên tạo ra duyên cảnh giới, Duyên oai thế, nếu không duyên thì chỉ một Duyên oai thế?

Đáp: Thân kiến quá khứ lúc ở đời hiện tại, duyên với thân kiến vị lai, duyên rồi diệt mất, rơi vào quá khứ. Mặc dù diệt, rơi vào quá khứ, nhưng lại không có chỗ tạo tác, tức do chỗ tạo tác trước mà nói. Thân kiến cõi Dục đối với thân kiến cõi Sắc, chỉ một Duyên oai thế, không có nhân duyên. Vì sao? Vì địa, do cõi, vì nhân đều khác, nên không có duyên Thứ đệ. Vì sao? Vì không có tâm nhiễm ô, nên sau khi qua đời sẽ sinh lên địa trên.

Không có duyên cảnh giới. Vì sao? Vì không duyên với phiền não phẩm hạ. Có duyên oai thế, vì không chướng ngại nhau.

Thân kiến cõi Sắc đối với thân kiến cõi Dục, nếu tạo tác theo thứ lớp, là duyên Thứ đệ, Duyên oai thế. Nếu không tạo tác theo thứ lớp, thì chỉ một Duyên oai thế.

Trụ nơi thân kiến cõi Sắc, qua đời với tâm, do tâm đều có của thân kiến cõi Dục, nên đã khiến cho sự sinh nối tiếp nhau.

Thân kiến cõi Sắc đối với thân kiến cõi Dục tạo ra hai duyên là duyên Thứ đệ và Duyên oai thế.

Duyên Thứ đệ: Do thân kiến cõi Dục, kế là thân kiến cõi Sắc sinh sau.

Duyên oai thế: Vì không chướng ngại nhau.

Không có nhân duyên. Vì sao? Vì địa, do cõi, vì nhân đều khác.

Không có duyên cảnh giới, vì thân kiến không duyên cõi khác.

Nếu trong cõi Sắc, không trụ nơi thân kiến qua đời với tâm, do tâm đi chung của thân kiến cõi Dục, khiến cho sự sinh nối tiếp nhau.

Thân kiến cõi Sắc đối với thân kiến cõi Dục có một duyên oai thế, không có duyên Thứ đệ. Có duyên oai thế như trên đã nói.

Thân kiến cõi Dục đối với thân kiến cõi Sắc, có một duyên oai thế.

Thân kiến cõi Vô sắc đối với thân kiến cõi Dục, nếu tạo tác theo thứ lớp thì có duyên Thứ đệ, duyên oai thế, nếu không tạo tác theo thứ lớp thì có một duyên oai thế, nói rộng như trên.

Thân kiến cõi Sắc đối với thân kiến cõi Vô sắc có một duyên là duyên oai thế. Thân kiến cõi Vô sắc đối với thân kiến cõi Sắc, nếu tạo tác theo thứ lớp thì có duyên Thứ đệ, Duyên oai thế. Nếu không tạo ra theo thứ lớp, thì chỉ một Duyên oai thế, nói rộng như trên. Như thân kiến đối với thân kiến, thân kiến đối với không Nhất thiết biến, không nhất thiết biến đối với không nhất thiết biến, không nhất thiết biến đối với nhất thiết biến, nghĩa là phẩm hạ đối với phẩm thượng, phẩm thượng đối với phẩm hạ. Vì sao? Vì trong đây nói giới khác duyên với nhất thiết biến là Nhất thiết biến.

Nói tóm lại, sử có mười thứ: Năm kiến, nghi, ái, giận, mạn, vô minh. Mười sử nầy, năm là Nhất thiết biến, năm chẳng phải nhất thiết biến.

Năm sử là nhất thiết biến: Tà kiến, kiến thủ, giới thủ, nghi, vô minh.

Năm sử chẳng phải nhất thiết biến: Thân kiến, biên kiến, ái, giận, mạn. Văn nầy nói: Giới khác duyên với nhất thiết biến. Thân kiến, biên kiến ở trong không nhất thiết biến. Như thân kiến đối với thân kiến như thế, thân kiến đối với không nhất thiết biến, là như thân kiến đối với biên kiến, đối với ái, đối với giận, đối với mạn. Đó gọi là thân kiến đối với không nhất thiết biến, không nhất thiết biến đối với không nhất thiết biến là như biên kiến đối với biên kiến, đối với ái, đối với giận, đối với mạn, đối với thân kiến. Ái đối với ái, đối với giận, đối với mạn, đối với biên kiến, đối với thân kiến. Giận đối với giận, đối với mạn, đối với ái, đối với thân kiến, đối với biên kiến. Mạn đối với mạn, đối với thân kiến, đối với biên kiến, đối với ái, đối với giận. Đó gọi là không nhất thiết biến đối với không nhất thiết biến. Không nhất thiết biến đối với nhất thiết biến là như thân kiến đối với tà kiến, đối với kiến thủ, đối với giới thủ, đối với nghi, đối với vô minh.

Như thân kiến, biên kiến, ái, giận, mạn, nói cũng giống như thế.

Đó gọi là không nhất thiết biến đối với nhất thiết biến.

Thân kiến đối với giới thủ có bao nhiêu duyên?

Đáp: Hoặc có bốn, ba, hai, một duyên. Thế nào là bốn duyên? Như thân kiến theo thứ lớp sinh giới thủ, tức duyên theo thân kiến, thân kiến sinh trước đối với giới thủ sinh sau là nhân duyên, duyên thứ đệ, Duyên cảnh giới, duyên oai thế. Như sau sát-na của một thân kiến, theo thứ lớp sinh sát-na của giới thủ. Nếu giới thủ sinh sau duyên theo thân kiến trước, thì thân kiến sinh trước sẽ làm bốn duyên cho giới thủ sinh sau, là có duyên: nhân, thứ lớp, cảnh giới, oai thế.

Nhân duyên có hai nhân: Nhân tương tự và nhân nhất thiết biến.

Duyên Thứ đệ: Giới thủ, kế là thân kiến sinh sau.

Duyên cảnh giới: Giới thủ sinh sau vì duyên với thân kiến trước nên sinh.

Nhân duyên: Như pháp chủng tử, cho đến duyên oai thế, là pháp không chướng ngại nhau. Giới thủ sinh sau, thọ nhận thân kiến trước. Vì thế dụng của bốn duyên nên có thể chuyển vận ở đời, nói rộng như trên.

Thế nào là ba duyên?

Đáp: Như thân kiến theo thứ lớp sinh giới thủ, không duyên với thân kiến. Thân kiến sinh trước đối với giới thủ sinh sau là các duyên nhân, thứ lớp, oai thế, không có duyên cảnh giới. Như sau sát-na của một thân kiến, theo thứ lớp sinh sát-na của giới thủ. Mặc dù giới thủ không duyên với thân kiến, hoặc duyên với sắc ấm, cho đến thức ấm, hoặc duyên với hành ấm còn lại của thân kiến còn lại. Thân kiến sinh trước đối với giới thủ sinh sau có ba duyên, không có duyên cảnh giới.

Nhân duyên: Có hai nhân: Nhân tương tự và nhân nhất thiết biến.

Duyên Thứ đệ: Giới thủ sinh sau, kế là thân kiến sinh trước là sinh sau.

Duyên oai thế: Vì không chướng ngại nhau.

Không có duyên cảnh giới: Giới thủ sinh sau, vì không duyên với thân kiến trước nên giới thủ sinh sau, thọ nhận thế dụng nơi ba duyên của thân kiến sinh trước, nên có thể hiện hành ở đời, nói rộng như trên.

Lại có ba duyên, hai duyên, một duyên, nói rộng như thân kiến.

Thân kiến cõi Dục đối với giới thủ cõi Sắc, có một duyên oai thế, nói rộng như trên.

Thân kiến cõi Sắc đối với giới thủ cõi Dục, nếu tạo tác theo thứ lớp, không tạo tác cảnh giới, có duyên Thứ đệ, duyên oai thế. Như trụ nơi thân kiến cõi Sắc qua đời với tâm, do tâm đi chung của giới thủ cõi Dục, khiến cho sự sinh nối tiếp nhau. Giới thủ cõi Dục không duyên với thân kiến cõi Sắc, thân kiến cõi Sắc đối với giới thủ cõi Dục có duyên Thứ đệ, duyên oai thế, nếu tạo cảnh giới, không tạo thứ lớp thì có duyên cảnh giới, duyên oai thế. Nếu không trụ nơi thân kiến cõi Sắc, qua đời, với tâm, thì với tâm đều cùng có của giới thủ cõi Dục, sẽ làm cho sự sinh nối tiếp nhau, tức duyên với thân cõi Sắc. Thân kiến cõi Sắc đối với giới thủ cõi Dục có hai duyên là duyên cảnh giới, duyên oai thế. Nếu tạo ra duyên thứ đệ, duyên cảnh giới, duyên oai thế, thì có duyên thứ lớp, cảnh giới, oai thế. Như trụ nơi thân kiến cõi Sắc, qua đời với tâm, giới thủ cõi Dục với tâm đều cùng có, khiến cho sự sinh nối tiếp nhau.

Giới thủ cõi Dục, tức duyên với thân kiến cõi Sắc. Thân kiến cõi Sắc đối với giới thủ cõi Dục có ba duyên: Duyên thứ lớp, Cảnh giới, oai thế.

Duyên Thứ đệ: Giới thủ cõi Dục, kế là sinh sau thân kiến cõi Sắc.

Duyên cảnh giới: Giới thủ cõi Dục vì duyên với thân kiến cõi Sắc nên sinh.

Duyên oai thế: Vì không chướng ngại nhau.

Không có nhân duyên, do giới, do địa, vì nhân đều khác. Nếu không tạo ra duyên thứ lớp, không tạo ra duyên cảnh giới, thì chỉ một duyên oai thế. Nếu không trụ nơi thân kiến cõi Sắc qua đời, với tâm, do giới thủ cõi Dục, với tâm đều cùng có, khiến cho sự sinh nối tiếp nhau. Vì không duyên với thân kiến cõi Sắc để sinh, thân kiến cõi Sắc đối với giới thủ cõi Dục, có một duyên oai thế, không có nhân duyên, do giới, do địa, nhân đều khác.

Không có duyên thứ đệ, do không kế sinh sau thân kiến cõi Sắc. Không có duyên cảnh giới, vì không duyên theo thân kiến cõi Sắc. Do không chướng ngại nhau, nên chỉ một duyên là duyên oai thế.

Thân kiến cõi Dục đối với giới thủ cõi Vô sắc là một duyên oai thế. Thân kiến cõi Vô sắc đối với giới thủ cõi Dục, nói rộng như trên.

Thân kiến cõi Sắc đối với giới thủ cõi Vô sắc, nói rộng như trên. Thân kiến cõi Vô sắc đối với giới thủ cõi Sắc, nói rộng như trên. Như thân kiến đối với giới thủ, đối với tà kiến, đối với kiến thủ, đối với nghi, đối với vô minh, nói cũng giống như thế. Đó gọi là thân kiến đối với nhất thiết biến. Nhất thiết biến đối với nhất thiết biến: Nghĩa là như tà kiến đối với tà kiến, đối với kiến thủ, đối với giới thủ, đối với nghi, đối với vô minh. Kiến thủ đối với kiến thủ, đối với giới thủ, đối với nghi, đối với vô minh, đối với tà kiến.

Giới thủ đối với giới thủ, đối với nghi, đối với vô minh, đối với tà kiến, đối với kiến thủ. Nghi đối với nghi, đối với vô minh, đối với tà kiến, đối với kiến thủ, đối với giới thủ. Vô minh đối với vô minh, đối với tà kiến, đối với kiến thủ, đối với giới thủ, đối với nghi. Đó gọi là nhất thiết biến đối với nhất thiết biến.

Không nhất thiết biến đối với nhất thiết biến, như thân kiến đối với giới thủ, đối với tà kiến, đối với kiến thủ, đối với nghi, đối với vô minh cũng giống như thế. Như thân kiến, biên kiến, ái, giận, mạn, nói cũng giống như thế. Đó gọi là không nhất thiết biến đối với nhất thiết biến.

Nếu hỏi về các pháp gồm nhiếp, nên dùng nhập để quán sát. Nếu hỏi về trí, nên dùng đế để quán sát. Nếu hỏi về thức, nên dùng giới để quán sát. Nếu hỏi về phiền não, nên dùng chủng để quán sát.

Nếu quán sát như thế, thì thể tướng của pháp sẽ dễ biết, dễ thấy. Trong đây, hỏi về phiền não, nên dùng chủng loại để quán sát. Pháp có năm loại: Loại do thấy khổ mà dứt, cho đến loại do tu đạo dứt. Chỗ dứt của kiến khổ có hai thứ:

  1. Nhất thiết biến.
  2. Không Nhất thiết biến.

Chỗ dứt của kiến tập cũng giống như thế. Chỗ dứt của kiến diệt có hai thứ:

  1. Duyên hữu lậu.
  2. Duyên vô lậu.

Chỗ dứt của kiến đạo cũng giống như thế. Chỗ dứt của tu đạo chẳng phải Nhất thiết biến. Chỗ dứt của kiến khổ là Nhất thiết biến. Đối với Nhất thiết biến, mà kiến khổ dứt trừ là nhân duyên, duyên Thứ đệ, Duyên cảnh giới, Duyên oai thế.

Nhân duyên: Có bốn nhân: Nhân tương ưng, Nhân cộng sinh, Nhân tương tự, Nhân Nhất thiết biến.

Duyên Thứ đệ: Nhất thiết biến, chỗ dứt của kiến khổ, theo thứ lớp sinh Nhất thiết biến, chỗ dứt của kiến khổ.

Duyên cảnh giới: Nhất thiết biến, chỗ dứt của kiến khổ, tức duyên theo Nhất thiết biến, đối tượng của kiến khổ.

Duyên oai thế: Vì không chướng ngại nhau. Nhất thiết biến do kiến khổ dứt trừ chỗ dứt trừ của kiến khổ là không Nhất thiết biến làm bốn duyên: Nhân duyên, duyên Thứ đệ, Duyên cảnh giới, Duyên oai thế.

Nhân duyên: Có hai nhân: Nhân tượng tự, Nhân Nhất thiết biến.

Duyên Thứ đệ: Nhất thiết biến kiến khổ dứt trừ, theo thứ lớp sinh ra không Nhất thiết biến là chỗ dứt trừ của kiến khổ.

Duyên cảnh giới: Không Nhất thiết biến, do kiến khổ dứt trừ, duyên theo Nhất thiết biến do thấy khổ mà dứt trừ.

Duyên oai thế: Vì không chướng ngại nhau. Nhất thiết biến do kiến khổ dứt trừ, đối với Nhất thiết biến do kiến tập dứt trừ, làm bốn duyên: nhân, thứ lớp, cảnh giới, Oai thế.

Nhân duyên: Một nhân, đó là nhân Nhất thiết biến.

Duyên Thứ đệ: Nhất thiết biến do thấy khổ mà dứt trừ, theo thứ lớp sinh Nhất thiết biến do kiến tập dứt trừ.

Duyên cảnh giới: Nhất thiết biến chỗ dứt trừ của kiến tập, duyên Nhất thiết biến do thấy khổ mà dứt trừ.

Duyên oai thế: Vì không chướng ngại nhau. Nhất thiết biến do kiến khổ dứt trừ, đối với không Nhất thiết biến do kiến tập dứt trừ, thấy diệt mà đoạn trừ, kiến đạo dứt trừ, tu đạo dứt trừ là: Nhân, Thứ đệ, oai thế, không có duyên cảnh giới.

Nhân duyên: Một nhân là nhân Nhất thiết biến.

Duyên Thứ đệ: Nhất thiết biến kiến khổ dứt trừ, theo thứ lớp sinh các sử kia.

Duyên cảnh giới: Các sử kia duyên theo tự chủng, không duyên theo chủng người khác.

Duyên oai thế: Vì không chướng ngại nhau. Không Nhất thiết biến do kiến khổ dứt. Đối với không Nhất thiết biến do thấy khổ mà dứt trừ làm bốn duyên: nhân, thứ lớp, cảnh giới, oai thế.

Nhân duyên: Có ba nhân: Nhân tương ưng, nhân tương tự và nhân cộng sinh.

Duyên Thứ đệ: Không Nhất thiết biến do kiến khổ dứt trừ. Sau, theo thứ lớp sinh không Nhất thiết biến do thấy khổ mà dứt trừ.

Duyên cảnh giới: Không Nhất thiết biến do kiến khổ dứt trừ, duyên với không Nhất thiết biến, do kiến khổ dứt trừ. Duyên oai thế: Vì không chướng ngại nhau. Không nhất thiết biến do kiến khổ dứt, đối với Nhất thiết biến, do kiến khổ dứt làm bốn duyên: nhân, thứ lớp, cảnh giới, oai thế.

Nhân duyên: Có một nhân, là Nhân tương tự.

Duyên Thứ đệ: Không Nhất thiết biến do kiến khổ dứt trừ. Sau, theo thứ lớp sinh Nhất thiết biến do thấy khổ mà dứt trừ.

Duyên cảnh giới: Nhất thiết biến do kiến khổ dứt trừ, duyên với không Nhất thiết biến do kiến khổ mà dứt trừ.

Duyên oai thế: Vì không chướng ngại nhau.

Không Nhất thiết biến do kiến khổ dứt trừ, đối với Nhất thiết biến do kiến tập dứt trừ, làm ba duyên: Thứ đệ, Cảnh giới, Oai thế, không có nhân duyên.

Duyên Thứ đệ: Không Nhất thiết biến là chỗ dứt của kiến khổ. Sau, theo thứ lớp sinh Nhất thiết biến do kiến tập dứt trừ.

Duyên cảnh giới: Nhất thiết biến do kiến tập dứt trừ, duyên với không Nhất thiết biến do thấy khổ mà dứt trừ.

Duyên oai thế: Vì không chướng ngại nhau. Không có nhân duyên. Vì sao? Vì không có sử nhất thiết biến, không vì chủng của người khác làm nhân. Không Nhất thiết biến do kiến khổ dứt trừ, đối với không Nhất thiết biến do kiến tập dứt trừ.

Chỗ dứt của kiến diệt, chỗ dứt của kiến đạo, chỗ dứt của tu đạo làm hai duyên: Thứ đệ, oai thế, không có nhân duyên, không có duyên cảnh giới.

Duyên Thứ đệ: Không Nhất thiết biến, chỗ dứt của kiến khổ, sau theo thứ lớp sinh các sử kia.

Duyên oai thế: Vì không chướng ngại nhau, nên không có nhân duyên. Vì sao? Vì không làm nhân cho chủng của người khác.

Không có duyên cảnh giới. Vì sao? Vì không làm sở duyên cho chủng của người khác.

Như Nhất thiết biến, không Nhất thiết biến do kiến khổ dứt trừ, Nhất thiết biến, không Nhất thiết biến do kiến tập dứt trừ, nói cũng giống như thế.

Hữu lậu duyên sử do thấy diệt mà đoạn trừ, đối với duyên hữu lậu do thấy diệt mà đoạn trừ làm bốn duyên: nhân, thứ lớp, cảnh giới, oai thế.

Nhân duyên: Có ba nhân: Nhân tương ưng, nhân cộng sinh, nhân tương tự.

Duyên Thứ đệ: Hữu lậu duyên sử, do kiến diệt dứt trừ, sau theo thứ lớp sinh hữu lậu duyên sử do thấy diệt mà đoạn trừ.

Duyên cảnh giới: Hữu lậu duyên sử, do kiến diệt dứt trừ, duyên với hữu lậu duyên sử do thấy diệt dứt trừ.

Duyên oai thế: Vì không chướng ngại nhau, nên hữu lậu duyên sử do kiến diệt mà đoạn trừ. Đối với vô lậu duyên sử làm ba duyên: nhân, thức đệ, oai thế, không có duyên cảnh giới.

Nhân duyên có một nhân là nhân tương tự.

Duyên Thứ đệ: hữu lậu duyên sử do kiến diệt dứt trừ, sau theo thứ lớp sinh vô lậu duyên sử.

Duyên oai thế: Vì không chướng ngại nhau, không có duyên cảnh giới. Vì sao? Vì sử duyên kia là sử vô lậu, là hữu lậu, chỗ dứt của kiến diệt. Hữu lậu duyên sử, đối với kiến khổ, kiến tập dứt trừ Sử nhất thiết biến làm ba duyên: Thứ đệ, Cảnh giới, oai thế, không có nhân duyên.

Duyên Thứ đệ: Hữu lậu duyên sử do kiến diệt mà đoạn trừ, sau theo thứ lớp sinh Sử nhất thiết biến do kiến khổ, kiến tập dứt trừ.

Duyên cảnh giới: Sử nhất thiết biến do kiến khổ, kiến tập dứt trừ, duyên với hữu lậu duyên sử do thấy diệt mà đoạn trừ.

Duyên oai thế: Vì không chướng ngại nhau.

Không có nhân duyên: Hữu lậu duyên sử do thấy diệt mà đoạn trừ, vì chẳng phải Nhất thiết biến, nên đối với kiến khổ, kiến tập dứt trừ Sử không nhất thiết biến. Đối với Nhất thiết sử hữu do kiến đạo dứt trừ, tu đạo dứt trừ làm hai duyên là Thứ đệ, Oai thế.

Duyên Thứ đệ: Hữu lậu duyên sử do thấy diệt mà đoạn trừ, sau theo thứ lớp sinh sử không nhất thiết biến do kiến khổ, kiến tập dứt trừ, là Sử nhất thiết biến do kiến đạo dứt trừ, tu đạo dứt trừ.

Duyên oai thế: Vì không chướng ngại nhau.

Không có nhân duyên: như trên đã nói.

Không có duyên cảnh giới: Vì các sử kia chẳng phải Nhất thiết biến, nên không duyên với chủng của người khác. Vô lậu duyên sử do thấy diệt mà đoạn trừ, đối với vô lậu duyên sử do thấy diệt mà đoạn trừ làm ba duyên là nhân, thứ lớp, oai thế, không có duyên cảnh giới.

Nhân duyên: Có ba nhân: Nhân tương ưng, nhân cộng sinh, nhân tương tự.

Duyên Thứ đệ: Vô lậu duyên sử được kiến diệt dứt trừ, sau theo thứ lớp sinh vô lậu duyên sử, do kiến diệt dứt trừ.

Duyên oai thế: Vì không chướng ngại nhau.

Không có duyên cảnh giới: Sử kia duyên với sử vô lậu, là hữu lậu, nên vô lậu duyên sử, do kiến diệt dứt trừ, đối với hữu lậu duyên sử, do kiến diệt dứt trừ làm bốn duyên: Nhân, Thứ đệ, Cảnh giới, Oai thế.

Nhân duyên: Có một nhân là nhân tương tự.

Duyên Thứ đệ: Vô lậu duyên sử, do kiến diệt dứt trừ, về sau theo thứ lớp, sinh hữu lậu duyên sử do kiến diệt dứt trừ.

Duyên cảnh giới: Hữu lậu duyên sử do kiến diệt trừ duyên với vô lậu duyên sử do kiến diệt dứt trừ.

Duyên oai thế: Vì không chướng ngại nhau, nên đối với Sử nhất thiết biến do kiến khổ, kiến tập dứt trừ làm ba duyên: Thứ đệ, Cảnh giới, oai thế, không có nhân duyên.

Duyên Thứ đệ: Vô lậu duyên sử do kiến diệt dứt trừ, sau, theo thứ lớp, sinh ra sử Nhất thiết biến, do kiến khổ, kiến tập dứt trừ.

Duyên cảnh giới: Sử nhất thiết biến do kiến khổ, kiến tập dứt trừ, duyên với vô lậu duyên sử, do kiến diệt dứt trừ.

Duyên oai thế: Vì không chướng ngại nhau.

Không có nhân duyên là: Vô lậu duyên sử do kiến diệt dứt trừ, vì chẳng phải Nhất thiết biến, nên không duyên với chủng người khác. Đối với sử không nhất thiết biến, do kiến khổ, kiến tập dứt trừ, chỗ dứt của kiến đạo, do tu đạo, có hai duyên: duyên Thứ đệ, Duyên oai thế, không có nhân duyên, duyên cảnh giới.

Duyên Thứ đệ: Vô lậu duyên sử do kiến diệt dứt trừ, về sau theo thứ lớp sinh ra sử không nhất thiết biến, chỗ dứt của kiến khổ, kiến tập.

Kiến đạo dứt trừ, tu đạo dứt trừ tất cả sử.

Duyên oai thế: Vì không chướng ngại nhau.

Không có nhân duyên: Vô lậu duyên sử, do kiến diệt dứt trừ, vì chẳng phải Nhất thiết biến, nên không làm nhân cho chủng người khác.

Không có duyên cảnh giới: Sử không nhất thiết biến do kiến khổ, kiến tập dứt trừ. Kiến đạo, tu đạo dứt trừ tất cả sử, không duyên với chủng khác. Như hữu lậu duyên sử. Vô lậu duyên sử, do kiến diệt dứt trừ, thì hữu lậu duyên sử, vô lậu duyên sử, chỗ dứt của kiến đạo, nói cũng giống như thế.

Sử, chỗ dứt trừ của Tu đạo, đối với sử được tu đạo dứt trừ, có bốn duyên: Nhân, Thứ đệ, Cảnh giới, Oai thế.

Nhân duyên: Có ba nhân: Nhân tương ưng, nhân cộng sinh, nhân tương tự.

Duyên Thứ đệ: Sử, do Tu đạo dứt trừ, về sau theo thứ lớp sinh sử do tu đạo dứt trừ.

Duyên cảnh giới: Sử do tu đạo dứt trừ duyên với sử do tu đạo dứt trừ.

Duyên oai thế: Vì không chướng ngại nhau, nên sử, chỗ dứt của tu đạo, đối với Sử nhất thiết biến do kiến khổ, kiến tập dứt trừ, có ba duyên: Thứ đệ, Cảnh giới, Oai thế, không có nhân duyên.

Duyên Thứ đệ: Sử, chỗ dứt của Tu đạo, sau theo thứ lớp sinh Sử nhất thiết biến, được kiến khổ, kiến tập dứt trừ.

Duyên cảnh giới: Sử nhất thiết biến, do kiến khổ, kiến tập dứt trừ, duyên với sử, do Tu đạo dứt trừ.

Duyên oai thế: Vì không chướng ngại nhau.

Không có nhân duyên: Sử do tu đạo dứt trừ chẳng phải Nhất thiết biến, nên không làm nhân cho chủng người khác. Đối với sử không nhất thiết biến, do kiến khổ, kiến tập dứt trừ, tất cả sử là do kiến diệt, kiến đạo dứt trừ, có hai thứ duyên là Thứ đệ, Oai thế, không có nhân duyên, không có duyên cảnh giới.

Duyên Thứ đệ: Sử, do Tu đạo dứt trừ, về sau theo thứ lớp sinh ra sử không Sử nhất thiết biến, do kiến khổ, kiến tập dứt trừ. Tất cả sử là do kiến diệt, kiến đạo dứt trừ.

Duyên oai thế: Vì không có chướng ngại nhau.

Không có nhân duyên: Sử do tu đạo dứt trừ vì chẳng phải Nhất thiết biến, nên không cho làm nhân chủng người khác.

Không có duyên cảnh giới: Các sử kia vì chẳng phải Nhất thiết biến, nên không duyên với chủng người khác.

Nhân Nhất thiết biến nói trong đây, như phẩm Trí thuộc Kiền-độ Tạp đã nói rộng.

Did you find apk for android? You can find new Free Android Games and apps.