Want create site? Find Free WordPress Themes and plugins.

Niệm Phật Như Thế Nào Mới Đúng Pháp Để Bảo Đảm Được Vãng Sanh?

Bảo Đăng

I. PHÁP MÔN TỊNH ĐỘ
II. NIỆM PHẬT NHƯ THẾ NÀO MỚI  ĐÚNG PHÁP ĐỂ BẢO ĐẢM ĐƯỢC VÃNG SANH‌

HỎI:

Tại sao có nhiều người tu hành tinh tiến, làm nhiều Phật sự, nhiều việc thiện, thường xuyên đi đến rất nhiều chùa để nghe pháp, tham dự những khóa tu học, gặp gỡ rất nhiều danh Tăng, niệm Phật gần suốt cuộc đời, trì-Chú cũng rất lâu năm, tụng Kinh tu hành cho tới già…mà vẫn chưa thấy được Phật, chưa cảm ứng đạo giao với Bồ Tát, chư Hộ Pháp, chưa làm được một Phật sự gì để cứu độ người, báo đền lên Tam Bảo cả, thân tâm ngày càng đen tối, ích kỷ, ganh tỵ, tham danh, sân hận và cố chấp, nhất là có rất nhiều người Niệm Phật mà bị phần Âm dựa nhập. v.v…tuy tay cầm chuỗi niệm Phật mà đã đi dần dần vào đường tà lúc nào không hay biết ‌

ĐÁP:

Qua mấy kỳ giảng trước trong các Thư Học Phật về phương cách tu tập “Sám hối, Trì-Chú” hộ niệm  đúng pháp rồi. Kỳ nầy Bảo Đăng xin trả lời chung cho tất cả Liên hữu đang tu tập theo pháp môn TỊNH ĐỘ (chuyên Niệm Phật)

TỊNH ĐỘ:

Là cõi nước thanh tịnh của tất cả (10 phương ba đời) chư Phật. Cho nên cõi ấy nhiều đến vô số lượng, không thể nói ra, không thể bàn luận cho được. Và trong đó tất cả Chánh báo (hữu tình chúng sanh). Y báo (vô-tình chúng sanh) đều được thanh tịnh. Nói chung, cõi PHẬT nào cũng là cõi “Tịnh Độ” cả. Tuy chư Phật nhiều như vậy, nhưng trong 10 phương 3 đời chư Phật, chỉ có Đức Phật A DI ĐÀ là “Đệ nhất” (Xem Kinh Vô Lượng Thọ).

Không phải Phật A DI ĐÀ lớn hơn những Phật khác, hoặc là các Phật khác nhỏ hơn Phật A DI ĐÀ đâu, vì tất cả chư Phật đều đồng đẳng với nhau, đều cùng một pháp thân gọi là :

THANH TỊNH PHÁP THÂN TỲ LÔ GIÁ NA PHẬT

Trong Kinh nói:

PHẬT PHẬT ĐẠO ĐỒNG (tức là tất cả các Đức Phật đều đồng một đạo với nhau). Đó là đạo Niết Bàn giải thoát, đầy đủ 10 hiệu  (Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thượng Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn). 

Tại sao Phật Thích Ca nói Phật A DI ĐÀ là đệ nhất ‌?

Bởi vì Ngài đặc biệt có:

– 48 “ĐẠI NGUYỆN”  bất khả tư nghì (nguyện lực tiếp dẫn cứu độ chúng sanh không thể nghĩ bàn).

– Chúng sanh được sanh về cõi của Ngài là sẽ được sanh ra từ 9 phẩm Liên Hoa.

– Nếu ai nhứt tâm thành kính xưng danh hiệu Ngài một câu, cũng đủ sức diệt tội trong 80 ức kiếp sanh tử trước kia.

– Dầu cho có tạo đủ tội ngũ nghịch, thập ác, khi lâm chung được thiện tri thức khuyên bảo, nhứt tâm chí thành xưng danh hiệu của Ngài từ một niệm tới 10 niệm một cách dõng mãnh, người đó sẽ mang luôn cái nghiệp còn (dư) lại của mình, nương theo “nguyện lực” của Ngài mà vãng sanh về Cực Lạc quốc, thoát vòng sanh tử, luân hồi. Sau đó tiếp tục “Tu” hoài(không thối tâm) cho đến ngày thành Phật.

– Ánh sáng của Ngài vượt trội hơn các ánh sáng của chư Phật (quang trung cực tôn).

Cho nên, Phật Thích Ca mới khuyên chúng sanh nên niệm Phật A Di Đà và nguyện sanh về cõi Tịnh Độ của Ngài. Pháp môn Tịnh Độ cũng do đây mà bắt đầu.

TỊNH ĐỘ giáo môn là một phương pháp tu tập mà trước hết là:

1. Nương vào nơi “tự lực” hành trì của riêng mình.

2. Nương theo “nguyện lực” tiếp dẫn của Phật A DI ĐÀ (tha lực) mà “đới nghiệp vãng sanh.”

Trong Kinh dạy rằng:

Muốn được sanh về cõi Cực Lạc phải có đầy đủ những tâm sau đây:

1. Chí-thành Tâm : Tức là phải có cái tâm chí-thành và tin tưởng

2. Thâm trọng Tâm : Tức là cái tâm “ân trọng” và “tin tưởng” thâm sâu nơi Phật A DI ĐÀ, pháp môn Tịnh Độ và đại nguyện của Ngài một cách sâu chắc, không có gì lay chuyển nổi (dù cho ai nói ngã nói nghiêng, bảo bỏ tu theo pháp môn Tịnh Độ nhất quyết không bỏ)

3. Tâm bất sát : Tức là giữ đủ các giới hạnh, đọc tụng Kinh Điển Đại Thừa phương đẳng, giảng giải Kinh Đại Thừa, hoằng dương Tịnh Độ (độ nhiều người tu theo Tịnh Độ pháp môn)

4. Tứ vô lượng Tâm (có lòng từ, bi, hỷ, xả) rất lớn.

5. Thâm tín sâu nơi nhân quả (biết nhân nào, quả nấy nên không gây tạo thêm nhân xấu nữa.)

6. Không hủy báng Kinh Phật và người tu theo Đại Thừa.

7. Tu Bồ Tát hạnh (và tứ vô lượng tâm : Từ, Bi, Hỷ, Xả)

8. Phát tâm Vô-Thượng Bồ Đề (thành Phật quả).

9. Tu Lục Niệm (Niệm Phật, Niệm Pháp, Niệm Tăng, Niệm Giới, Niệm Thí và Niệm Thiên)

10. Phát nguyện hồi hướng Tâm : Tức là phàm có bao nhiêu công đức lành, hoặc lớn hoặc nhỏ gì cũng đều phát nguyện hồi hướng vãng sanh về cõi Cực Lạc.

Mười cái tâm nêu trên bắt buộc phải có ở nơi hành giả tu Tịnh Độ, không thể nào thiếu được! Pháp môn Tịnh Độ là một pháp môn thẳng tắt, viên đốn nhất.

– Viên: là trong một pháp gồm đủ các pháp

– Đốn: là một đời tu, một đời vãng sanh

Thích hợp cho mọi căn cơ trình độ từ bậc thượng Thánh đến hạ Phàm đều có thể đồng nhau tu tập. Pháp môn này rất thích hợp cho Phật tử tu tập trong thời buổi Mạt Pháp nầy và mang lại lợi-ích lớn cho chúng sanh (nói chung) và chư Phật tử tu Tịnh Độ (nói riêng).

1. Bởi lẽ nếu là một pháp môn tu thuộc về “nhỏ, thấp”… thì những bậc đại căn, đại cơ (như chư đại sĩ pháp thân Bồ Tát) không cần phải tu tập theo.

2. Còn như nếu pháp môn tu thuộc về “cao, rộng”… thì bậc tiểu căn, tiểu cơ (như chúng ta đây) không thể nào dự phần nổi được.

Riêng  pháp môn Tịnh Độ thì:

1. Bao trùm khắp hết cả ba căn Thượng, Trung, Hạ.

2. Gồm thâu Lợi (căn), Độn (căn). Nghĩa là từ bậc có căn cơ tuyệt cao, tuyệt đại…như các Ngài Bồ Tát Văn Thù, Phổ Hiền, Quán Thế-Âm, Đại Thế Chí v.v….cũng không thể vượt ra ngoài pháp môn này

3. Cho đến các hạng cực kỳ hèn kém như các kẻ tạo tội ngũ nghịch, thập-ác và có chủng tánh A Tỳ (địa ngục) cũng được dự phần

Pháp môn Tịnh Độ quảng đại như thế và phương cách tu chứng lại rất dễ dàng. Nếu như ai có được sức :

TÍN, NGUYỆN (sâu thiết).

Và:

HÀNH TRÌ (kiên cố, chắc thật).

Thì dù cho có bị phạm vào trong những đại tội ngũ nghịch, thập ác, mà thành tâm sám hối, tha thiết Niệm Phật, khi sắp chết thấy tướng địa ngục hiện ra (như xe lửa, nhà lửa v.v…) mà gặp được thiện tri thức khuyên bảo Niệm Phật từ 10 câu đến 100 câu. Nếu người ấy chịu phát lòng tin, chắp tay dõng mãnh Niệm Phật (tự lực) y theo lời dạy, quyết định cũng được nương nhờ vào “sức tiếp dẫn” (tha lực) của Phật mà được “đới nghiệp vãng sanh.”

Chắc quý-vị cũng đã biết, pháp môn Tịnh độ lấy tôn chỉ :

“Một đời vãng sanh, được bất thối chuyển”  làm Tông.

Nếu giảng nói ra cho cặn kẽ về pháp môn này thì có thể nói cả hàng ngàn trang giấy cũng chưa hết. Trong khuôn khổ hạn hẹp của lá thư học phật, xin chỉ nhấn mạnh về phương cách Niệm Phật đúng pháp để bảo đảm được vãng sanh và sự hộ niệm đúng pháp mà thôi.

Pháp môn NIỆM PHẬT, quả thật là thích hợp với thời cơ, với bản hoài của chư Phật và đã âm thầm đi sâu vào tiềm thức của Phật tử Việt Nam. Không chỉ ở tại quê nhà mà ở khắp nơi hải ngoại, nơi nào có Phật giáo lưu hành đến, là nơi đó hầu hết hàng Phật tử đều biết niệm Phật.

Ngày trước Phật giáo ở Nhật Bản cũng có truyền thoại như sau:

– Mật Tông và Thiên Thai Tông để cho hàng quý-phái.

– Thiền Tông để cho hàng Võ-sĩ đạo.

– Tịnh Độ Tông dành cho hàng bình dân, mà bình dân thì chiếm đa số người trong nước. Do đó, gần như cả nước đều xưng niệm danh hiệu Phật A DI ĐÀ. Trong Kinh Đại Tập, đức Thế Tôn đã dạy rằng:

“Trong Mạt Pháp, ức ức người tu hành, ít có ai đắc đạo, chỉ nương theo pháp môn Niệm Phật mà thoát luân hồi”.

Trong Kinh Vô-Lượng Thọ Phật cũng có huyền ký rằng:

“Đời tương lai Kinh Phật diệt hết, Ta dùng lòng từ bi thương xót, riêng lưu trụ Kinh nầy trong khoảng một trăm năm. Nếu chúng sanh nào gặp Kinh nầy, tuỳ-ý sở nguyện, đều được đắc đạo”.

Bởi đời Mạt Pháp hiện nay, các Kinh Đại Thừa lần lần ẩn diệt, chúng sanh căn cơ đã yếu kém, ngoài câu Niệm Phật lại không biết pháp môn nào khác để tu trì. Cũng không biết tìm Minh sư ở nơi đâu để chỉ dạy đúng Pháp. Sống trong môi trường(chánh, tà lẫn lộn) hiện nay, sớm muộn gì cũng sẽ bị đoạ lạc trong 3 ác đạo (địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh), khó mà thoát khỏi. Vì bởi việc lành thì khó tạo, điều ác thì lại dễ làm, tu hành theo chánh đạo thì khó, còn tu luyện theo tà đạo thì quá dễ dàng, giữ tâm trong sáng thanh tịnh thì quá khó, còn tâm đen tối mang đầy ấp vọng tưởng thì trong 100 người đều có đủ 100 người. Cho nên nếu không tin câu Niệm Phật mà tu hành, tất phải bị luân hồi trong 6 nẻo.

Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều chùa hoằng dương Tịnh Độ, mở Phật thất, mở đạo tràng, mở hội Niệm Phật, mở ban hộ niệm vãng sanh v.v… Song xét ra, số người tham gia đạo tràng Niệm Phật tuy đông nhiều, khắp mọi nhà … mà số người không rõ mục đích của sự trì-niệm cũng chẳng ít, cũng không hiểu thế nào là Niệm Phật đúng pháp để bảo đảm được sự vãng sanh.

Đa phần là thấy người khác niệm Phật cũng bắt chước niệm theo, mà hoàn toàn không hiểu thấu và không chủ định. Có những vị niệm Phật nguyện cho tiêu tai khỏi nạn, cầu cho gia đình, con cháu khoẻ mạnh, bình an, học hành giỏi giắn, công ăn việc làm may mắn và sở cầu như-ý v.v…

Người tu Tịnh Độ mà có tâm nguyện cầu những điều trên thì không được vãng sanh, vì không đúng với bản hoài của Phật.

Dù có người nhất tâm, chí-thành Niệm Phật nhiều cách mấy đi nữa, mà chỉ cầu được vãng sanh Cực Lạc, cũng không hạp với bản hoài của Phật và chưa chắc được vãng sanh !

Tại sao vậy?

Vì ngoài miệng tuy có Niệm Phật, trong tâm cũng muốn được vãng sanh, nhưng không có đầy đủ 10 cái Hạnh (như đã nêu ở trên). Cho nên dù tu hành cả đời, mà vẫn chưa chứng đạo, nếu còn nghiệp lực, dù nhỏ như tơ hào cũng bị luân hồi trong 6 nẻo.

Nếu như có được vài vị ngộ đạo, hiểu đạo, đọc sách học thuộc lòng không sai một chữ, hoặc văn hay xuống bút thành phú, mở miệng thành thơ v.v… nhưng không thật tâm “giác ngộ” lời Phật, ý Tổ muốn dạy; nên tu hành đôi khi còn trở lại phỉ báng đạo Phật, khinh sư diệt tổ, chưa chứng đạo đã bị thối thất tâm, tu hoài mà vẫn không phân biệt được đâu chánh đâu tà. Cho nên phải theo nghiệp lực mà chuyển lại kiếp sau rồi cũng lại tiếp tục “đa văn”, lung lạc trong 6 nẻo luân hồi biết chừng nào mới giải thoát được.

Đúng như lời Phật huyền ký:

“Đời mạt pháp ức ức người tu hành (niệm Phật, Thiền, tụng Kinh, trì Chú v.v….) song không có ai đắc đạo.”

Hoặc,

“Số người tu hành ngày nay nhiều như lông trâu, mà người chứng đắc ví như sừng thỏ vậy.”

Vì vậy mà chúng ta, đã mang danh là Phật tử (tại gia hay xuất gia), cần phải nhất tâm chân thật tu hành cần cầu giải thoát.

Một hành giả tu theo pháp môn Tịnh Độ một cách chân chánh đúng pháp thì cần phải luôn thực hành những điều then chốt sau đây:

1. Bên ngoài thì hành trì cái sự tướng (niệm Phật, trì Chú, tụng Kinh) cho chuyên cần.

2. Bên trong (tâm) cũng phải sửa tánh cho hợp với lời của chư Phật, chư Đại Bồ Tát, chư Tổ sư dạy bảo.

3. Phải luôn nhớ tới cái “phát Tâm” Bồ Đề từ thuở ban đầu mới bước chân vào cửa đạo, và cho suốt cả cuộc đời tu tập, đừng có phản ngược lại cái “lập tâm” tốt đẹp cao cả (trên cầu thành Phật, dưới cứu độ chúng sanh) ban đầu của mình.

Nghĩa là:

– Chớ chạy theo hình thức của thế gian.

– Chớ say đắm nẻo lợi danh.

– Chớ chuộng địa vị quyền hành.

– Chớ khoe thông minh tài giỏi.

– Chớ nghe theo lời nịnh xiểm.

Tổ sư dạy cho chúng ta :

“Người chân thật tu hành chớ chạy theo hình thức bề ngoài, mà phải chú trọng vào cái “Tâm”. Bởi vì Phật chuộng “Tâm” chớ không chuộng “Tướng”.  Tất cả vạn vật được cấu tạo trên thế gian đều do cái “Tâm” (thiện, ác) của chúng sanh mà thành. “Siêu, Đọa” cũng từ nơi cái “Tâm” (chánh, tà) mà có”.

Phật cũng đã nhắc đi nhắc lại hoài NHỨT THIẾT DUY TÂM TẠO hoặc VẠN PHÁP DUY TÂM. Có được bao nhiêu người thấu hiểu, ngược lại còn trở lại trách mắng Trời, Phật sao không từ bi cứu độ chúng sanh đang trong khổ nạn hiện nay !

– Tại sao không tự trách mắng chính mình ‌

– Làm sao lại biết Trời, Phật, Bồ Tát không cứu độ chúng sanh ‌

– Hay tại vì chúng ta suy bụng mình ra bụng chư Phật, Bồ Tát ư !

– Hay tại vì chúng ta không thật tâm tu sửa, không thật tâm thực hành đúng như Pháp ‌

– Hay tại vì Tâm của chúng ta quá ÁC nên mới chiêu cảm những “quả” ác ‌

Đừng để cho lâm vào trong cảnh :

Thân tuy nương náu chốn am thiền, mà Tâm cứ mơ tưởng hoài nơi các sự lợi danh trần thế (sắc, tài, ngũ dục, lục trần) ngày càng tham ái, càng nóng giận, càng si mê, sanh nhiều tật đố, quên hết sự “lập tâm” trong sạch từ thuở ban đầu mới bước chân vào cửa đạo…

Vì thế, tuy trên thân còn đang khoác chiếc áo nhà Phật, miệng luôn niệm Phật mà càng ngày cái “Tâm Phật” đó càng xa cách thêm với Đạo, mà không hề hay biết. Ắt sẽ uổng phí đi cả một đời tu hành khổ nhọc, mà chẳng thâu được chút kết quả chi nơi đạo quả vãng sanh giải thoát sanh tử.

Đa số người tu Tịnh Độ chúng ta cũng có học pháp, có nghe giảng pháp, nhưng chỉ có NGỘ (cái lý) mà không có GIÁC.

Như trong Kinh Lăng Nghiêm, ngài A Nan vì chúng sanh chúng ta mà thưa lên Phật lời rằng:

“Bạch Thế Tôn, ngay trong khi nghe pháp, con tưởng chừng như mình đã NGỘ. Còn khi đối cảnh thì trở lại thành MÊ, thoạt lạnh, thoạt nóng, tựa như người bị sốt rét cách nhật thâm niên. Khi được Phật khai ngộ thì Tâm của con in tuồng như là được giải thoát, mà đến khi bị nhập vào trong trần lao rồi, thì thấy vẫn còn bị trói buộc y như cũ…”

Ngài A Nan có nói thêm:

“Bạch Thế Tôn, nay con mới biết, tuy là có nghe nhiều, hiểu rộng, nhưng nếu không thực hành đúng theo những lời Phật dạy, thì cái nghe, cái hiểu đó cũng đồng như không nghe mà thôi.”

Thử hỏi, những người có nghe Pháp, hiểu Pháp mà không thực hành được, thì cũng như là không nghe. Huống hồ chi những kẻ chưa từng nghe giảng Pháp, chưa từng được học Pháp, thì còn tệ hại đến như thế nào‌

Cho nên, việc tu hành của chúng ta rất dễ bị chùng bước – 1 ngày tu, nhưng tới 9, 10 ngày không. Hễ được nhắc thì ngồi tu được một chút, còn không được nhắc nhở thì thân và tâm chạy đi 4 phương 8 hướng. Chúng ta cần phải siêng gần gũi với Minh sư, bạn đạo, để được sách tấn, nhắc nhở, được Minh sư chỉ những cái sai để sửa và nương theo đó lập tâm dũng mãnh tu hành.

Bởi vì các bậc Thánh Nhơn một khi đã “Ngộ” rồi thì họ sẽ “Giác”.

Còn con người chúng ta, tuy có nghe Pháp (cái lý) thật nhiều, có hiểu (ngộ cái LÝ), nhưng không có thường nhớ (cái SỰ), không có thường “tư duy” bao nhiêu, lại không thực hành đúng y như Pháp, thì sẽ không có “giác” được (tức là không đạt được quả chứng đắc).

Giờ chúng ta quán lại cái TÂM của mình – qua lời Phật dạy, mình sẽ thấy biết rõ rằng :

Cái “thiện” và cái “ác” trong phàm tâm của mình đều có đủ. Cái tâm ác gồm có 30 món tùy phiền não. Cái tâm thiện chỉ có 11 món thiện tâm sở. Chúng ta đã thấy rõ ràng – cái tâm xấu ác nó nhiều gấp 2, 3 lần cái tâm thiện của mình. Cho nên khi mình làm những điều xấu ác, thì rất tinh tấn dõng mãnh làm, còn khi làm những việc thiện thì yếu ớt và sợ sệt.

Trong luận, Tổ sư có dạy rằng :

– Người thế gian trong lúc làm tội, thì ôm lòng độc-ác, mạnh mẽ, nóng nảy (dữ tợn), giận hờn, gắt gao, nếu như giận tức một người nào thì tâm quyết muốn cho người ấy chết.

– Còn ghét người nào, thì dầu cho người đó có làm lành tốt cho cách mấy cũng không ưa nhìn.

– Còn nếu hủy báng một người nào, thì nói những lời ác độc, đâm thọc sau lưng, rỉ tai nhau để cô-lập người ta, ép buộc người ta phải thối chí mà bỏ đạo thì họ mới vui lòng.

– Nếu đánh một người nào, thì quyết khiến cho người ấy đau đớn thấu trời thấu đất.

– Khi giận tức tàn bạo, thì bất kể tôn ty, thượng hạ, dùng lời xấu xa mắng nhiếc đủ điều, có khi la lớn như sấm dậy, mặt mắt như đổ lửa.

– Còn khi làm  phước, làm lành, thì thiện tâm (ý) rất là sợ sệt, bạc nhược, yếu hèn.

– Lúc đầu thì muốn làm công quả cho nhiều, đi nhiều chùa, tu hành siêng năng, nghe giảng Kinh Pháp thật nhiều, sau đó dần dần giảm ít lại, rồi từ từ sợ tu, sợ học Pháp, nhất là sợ đến những nơi có trì Chú của Phật gia.

– Lúc đầu thì muốn thành Phật, thành Tổ ngay. Rồi sau đó lại thả lỏng, buông trôi. Tâm đã không chí quyết làm thiện, tu hành, rồi ngày tháng trôi qua, lần lượt tới lui cho đến khi quên mất việc thiện, việc tu hành.

Như vậy nếu chúng ta đem cái Nhân làm Phước, làm Thiện, tu hành yếu kém ấy để mong cầu tránh được quả báo ác mãnh liệt kiên cường kia, thì ắt nhiên là không thể được.

Hoặc là đem cái tâm “xấu ác, sân giận” kia mà tu hành, lễ bái, tụng Kinh, niệm Phật, nghe pháp, làm việc lành, cùng với cái Tâm “yếu đuối không mãnh liệt” của mình đang có mà cầu được vãng sanh về Cực Lạc, thì chắc chắn là không đạt được kết quả.

Nói tóm lại, người tu trong thời buổi hiện nay, có tâm tham-ác thì nhiều vô-số, còn người có thiện tâm, thiện chí thật sự muốn cầu vãng sanh giải thoát thì thật là ít ỏi.

Người mà giữ được cái tâm bền vững, không thối chuyển trước mọi sự cám dỗ, với bao hoàn cảnh (trái ngang, nghèo, khổ, chịu nhịn, chịu nhục, chịu đánh, chịu đập, chịu bao điều oan ức v.v…), vẫn can cường tiến bước, thì thật là khó kiếm, huống chi gặp được bậc Chân Sư ư !

Tổ sư dạy rằng:

“Ngặt vì nỗi lòng người tuy dễ tinh tấn, song cũng dễ thối lui. Khi có người khuyên bảo, thì dõng mãnh siêng năng. Lúc gặp việc chi chướng ngại, lại giải đãi, ngả theo hướng khác liền”.

Có Phật tử hỏi Bảo Đăng:

– Làm sao giữ tâm mình không bị thối chuyển, niệm Phật luôn được nhất tâm‌

– Phương cách Hộ Niệm đúng pháp như thế nào mới hạp với người thời nay ‌ 

ĐÁP:

Như trên đã có nói, muốn giữ được cái tâm “thiện” kiên cố.

1. Phải xa bạn ác, không chạy theo hình tướng bề ngoài, không mong cầu lợi danh, không nghe theo những lời “nịnh xiểm” trên đầu môi chót lưỡi, đâm thọc 2 chiều, nói lời xấu ác sau lưng người (tốt) mà có ơn rất lớn đối với mình (phải biết ơn và biết báo ơn).Người xưa thường có câu : “Người hiền thì không nói ra lời ác, mà đã nói ra lời xấu ác rồi thì là người không hiền !” 

2. Phải biết lỗi trước, biết sám hối, biết chừa bỏ những lỗi lầm, sai trái gây ra từ nơi thân, khẩu, ý.

3. Phải chặc dạ, chân thật nghe lời Minh sư chỉ dạy, đúng y như Pháp mà nhất tâm tu tập. Đừng bao giờ bỏ lời Thầy mà lấy lời bạn.

4. Y theo lời Phật dạy:

– “Người tu hành, làm Phật sự chân chánh  khuyến dắt người tu niệm, thì luôn luôn là kẻ thù của Ma và của những người tà ác”.

(Bởi vì, hễ mình càng khuyến khích người tu niệm bao nhiêu, tức là chống đối với Ma, Tà bấy nhiêu. Vì người nào cũng y theo mình mà tu tập sẽ được sanh về cõi Trời, cõi Phật hết, thì thế giới Ma nó phải trống rỗng. Còn tổn hữu ác đảng càng ngày nó càng mất thêm bạn, cho nên Ma (chết) xui khiến cho cái phần dương ma (tức là tổn hữu, ác đảng, người có tâm xấu ác) nó thù ghét mình).

Trong Kinh Đại Bảo Tích Phật có dạy:

“Làm việc Phật sự chân chánh là tranh loạn với thế gian”.

Trong Kinh Pháp Cú cũng dạy:

“Như một ngọn núi cao đứng giữa cơn giông tố, 
Người chân chánh an nhiên giữa tiếng thị phi”.

Cho nên, muốn niệm Phật được nhất tâm:

 Phải buông xả việc đời, 
Chi phải mà chi quấy, 
Chẳng hèn cũng chẳng cao, 
Việc đúng phải cùng sai, 
Giận hờn thêm mệt dạ, 
Thương ghét chẳng để lòng, 
Phải chuyên tâm trì-chú.
Tinh tấn tu sửa tánh,
Bền chặt một câu Phật,
Cực Lạc về được ngay.

Cho dù người tu có bị sai lạc, nhưng cái Đạo lúc nào cũng là con đường sáng tỏ, soi sáng cho chúng ta bước lên những nấc thang tốt đẹp hơn cho chính bản thân mình. Vì vậy chúng ta cần phải sáng suốt nhận định nội tâm của mình, đừng để cho cái buồn, cái nản, cái chán, cái khổ, sự thất vọng và bất mãn, làm cho mình thối tâm tu hành.

Đa phần người tu hay bị vấp ngã trên con đường tu tập của mình vì ban đầu học đạo rất siêng cần, sau rồi lại biếng lười, nên bị 30 món tùy phiền não khảo đảo (nó biến ra thành Nội ma). Mà hễ bên trong (tâm) bị Nội khảo rồi, thì mấy ông Ma bên ngoài mới thừa cơ hội tiếp tay vô liền (người xuất gia hay  tại gia cũng đều bị vấp phải) mà họ không ý-thức được. Đây gọi là “nội ứng, ngoại hiệp”.

Còn nếu như trong tâm mình trước sau như một, luôn giữ một lòng thanh tịnh, bất chấp tiếng thị phi, thì cái ngoại Ma bên ngoài không có kẽ hở nào để xâm nhập, thì làm gì bị khảo đảo. Cho nên chúng ta cần nên biết:

Nội bất “ứng” thì ngoại bất “hiệp.”

Nếu có được cái Tâm kể trên, thì tạm gọi là tâm “trong sáng.”

Cho nên :

Việc đời thấy vậy thì hay vậy,
Đóng cửa cài then chẳng dám nghe.
Ai khôn thì nhờ,
Ai dại thì sa.
Đêm nằm thấy Phật Thích Ca,
Không tu sẽ thấy quỷ, ma hiện tiền.
Trì Chú rồi thấy hiển linh,
Đánh cho một cái quỷ tinh mất liền.
Giựt mình tỉnh dậy thấy không,
Từ đây con sẽ gắng công tu trì.
Ba chữ vỏn vẹn tổng trì.
( Um brum hùm, hoặc Tha la na).

HỎI:

Thế nào là NIỆM PHẬT đúng pháp, để bảo đảm được vãng sanh ‌

ĐÁP:

Quý-vị đã từng nghe giảng nhiều về Pháp môn Niệm Phật rồi cũng đã và đang niệm danh hiệu Phật. Có người niệm Phật mỗi ngày 3, 4 thời khoá. Có vị đi đứng không rời câu Phật danh. Có vị nhập thất 1, 2  hoặc 3 tháng chỉ chuyên niệm Phật. Thật là quý vô cùng! Song kiểm kê lại cho thật kỹ về “tâm tánh” của người niệm Phật hiện nay, thì cũng vẫn chưa đủ điểm để vào được“Phật trường của đức A DI ĐÀ”, nói chi đến được “trạm chờ vãng sanh” !  Số người tham dự niệm Phật thì thật rất đông, nhưng có mấy người được Bồ Tát tuyển chọn ‌

Bảo Đăng xin lần lượt giải ra hầu giúp cho Phật tử đang tu Tịnh Độ được tỏ tường hơn, để bảo đảm cho việc vãng sanh của mình:

Bắt đầu năm 1985, Bảo Đăng may mắn được Thầy Bổn sư Thích Hải Quang chỉ dạy cho phương cách Mật Tịnh song tu, mới hiểu ra rằng:

1. Cái thân Người thì khó được

2. Còn Tịnh Độ thì dễ tới

Tại sao thân người khó được ‌?

Bởi vì nếu mình muốn được cái thân người, thì phải giữ gìn 5 giới căn bản. Còn như không giữ được 5 giới thì giết mất cái thân người. Huống chi bây giờ chúng ta sống trong thời kỳ đấu tranh kiên cố, tâm của con người ngày càng ác độc, sân si, thì khó mà người giữ trọn được 5 giới. Lại cũng thường hay chấp trước, kiêu căng, ngã-mạn, khinh sư, diệt tổ, chẳng chịu tu sửa(thân tâm). Chánh nói tà, tà nói chánh, không phân biệt được rõ-ràng, tâm trí thường điên đảo.

Cho nên nhiều người TU, nhưng đa số bị đoạ trong 3 ác đạo, ít có ai được vãng sanh Cực Lạc.

Vì thế Tổ sư đã nói:

– Thân người khó được (vì khó giữ được 5 giới, và đánh mất cái “nhân đạo” (nghĩa là không trọn  đạo làm người).

– Chánh pháp càng khó được nghe (vì tâm không chánh, nên khó được nghe chánh pháp của nhà Phật, thí-dụ như có người “chuyên Niệm Phật, cầu được về cõi Phật”, duyên may cầm được cuốn Kinh sách của Phật dạy trên tay, thì lắc đầu trả lại nói rằng : không muốn đọc)!

– Minh sư khó gặp vô cùng (trong thời mạt pháp hiện nay, tâm chúng sanh ngày càng hiểm ác, khó giáo hóa, lại tham cầu cái giả tướng, cho nên Minh sư, Tổ sư đều ẩn dật và lần lượt viên tịch hết cả. Vì tâm người thời nay thường bất chánh, nên khó mà gặp được Minh sư. Mà nếu may mắn gặp và được diện kiến Bồ Tát, Tổ sư, Minh sư thì họ cũng không nhận diện ra, mà còn trề nhún khinh rẻ, phỉ báng, chê-bai và chỉ trích nữa). 

Còn nói Tịnh Độ dễ tới là như thế này:

Trong Kinh Vô Lượng Thọ có dạy :

“Dầu cho kẻ phạm tội ngũ nghịch, thập ác, đáng đọa vào địa ngục A Tỳ, đến khi sắp chết, tướng địa ngục hiện ra – mà chân thật, chí-thành, dõng mãnh dốc hết tâm thức ra mà niệm Phật từ 10 câu đến 100 câu, cũng được vãng sanh”.

Giả sử như một người chưa chắc gì giữ 5 giới được trọn vẹn (có nghĩa là : có thể phạm 1 giới, 2 hoặc 3 giới không chừng).

Nhưng đối với người đó, nghe được danh hiệu của Phật A DI ĐÀ, rồi hết lòng “tin” tưởng, buông bỏ muôn duyên, quyết một lòng xưng niệm danh hiệu của Phật A DI ĐÀ không thối chuyển, và “nguyện” tha thiết mong cầu được vãng sanh Cực Lạc.

Dù cho người đó có phạm đủ 5 giới, gây ra nhiều tội nghiệp, mà biết thành tâm sám hối thì Phật cũng cứu. Đến giờ lâm chung được Tây Phương Thánh Chúng, mỗi vị đều dùng sức hạnh nguyện của mình hiện thân đến chỗ của người đó dìu dắt tiếp dẫn. Thì người đó dù cho tội nghiệp chưa trừ hết, cũng mang luôn cái nghiệp còn lại của mình mà vãng sanh về Cực Lạc quốc.

Huống chi có người suốt đời làm lành (không thị phi, không nhân, ngã), ăn chay, giữ giới, niệm Phật, phát lòng Bồ Đề, giữ Tín, Nguyện sâu mà không được vãng sanh sao ‌

Vả lại,

Nếu niệm Phật với cái tâm “trong sáng” đó, thì một câu A DI ĐÀ PHẬT cũng tiêu được tội trong 80 ức kiếp sanh tử. Hơn nữa nếu giữ tâm không tán “loạn” (nhứt tâm không có vọng niệm xen vào mỗi khi niệm Phật) thì dù chỉ 10 niệm cũng được vãng sanh.

Cho nên Tịnh Độ dễ sanh về là như vậy!

Chúng ta thấy pháp môn Tịnh Độ là một pháp môn tu rất thẳng tắt, thiết thực, giúp người hành trì đạt được sở nguyện vãng sanh trong một kiếp người để rồi có thể tu thành Phật ở tương lai, cứu độ vô số chúng sanh. Pháp môn tu thù-thắng như vậy, thế mà ít ai chịu tin nhận để tu theo, thì thật uổng cho một kiếp làm người sanh ra trên dương thế…!

Cũng vì thấy được sự lợi-ích to lớn của pháp môn Tịnh Độ mà Bảo Đăng luôn giữ “TÍN, NGUYỆN, HẠNH” niệm Phật, dốc hết tâm thành mà làm Phật sự, giúp người người có đủ phương tiện để tu hành, cầu sanh Cực Lạc, cương quyết không tạp tu (nay tụng Kinh nầy, mai tụng Kinh khác, hoặc nay tu theo pháp môn nầy, mai tu theo pháp môn khác, lang thang chạy tìm cầu pháp chỗ nầy, mai chạy tìm cầu pháp chỗ nọ v.v… như vậy suốt một đời). 

Đến năm 1992, Bảo Đăng nhận được bức thư, có bài THẬP NHỊ DANH NHƯ LAI LỄ SÁM DIỆT TỘI, và các bài Chú của Sư Tổ Đại Ninh THÍCH THIỀN TÂM gởi qua cho Thầy bổn sư Thích Hải Quang, Ngài có dạy rằng:

“Ngày xưa tâm tánh con người đa phần hiền lành, thật thà, chất phác, nên Tổ sư đã khuyên dạy rằng :

“Chỉ nên chuyên nhất niệm một câu Phật (mà không niệm tạp) mới bảo đảm được vãng sanh”.

Nhưng, trong thời mạt pháp, ngày nay tâm tánh con người ngày càng ác hiểm, tham chấp lợi danh, sân si lẫy lừng, lại còn tiếp tay với kẻ ác (nghĩa là xác người tâm quỷ) giết hại những bậc tu hành chân chánh, tự mình giết bản thân và còn lấp con đường về cõi Người, và cõi Cực Lạc của vô số Phật tử.

Vì lòng từ bi thương Phật tử đang sống trong Ma nạn dẫy đầy khắp nơi, nên Ngài (Vô-Nhất Đại Sư) đã soạn ra nhiều loại “Thần Chú”, hầu cứu giúp người tu đang niệm Phật được an lành, không bị khảo đảo (của ma nạn, của tà nhơn)trên con đường giải thoát còn đầy chông gai và ác hiểm”.

Từ đó, trên Thầy Bổn sư THÍCH HẢI QUANG, dưới hàng đệ tử, thêm phần “Sám hối” cho mỗi khóa tu (giúp gột rửa những lỗi lầm đã gây tạo do Thân, Khẩu, Ý) và kiêm thêm phần “Trì-Chú” nhiều hơn để bảo hộ thân tâm không bị “nội ma, ngoại ma” khảo đảo, mà mất đi Phật tánh. Nhờ biết về sự lợi-ích và công năng của việc Trì-Chú mà Pháp Hoa Tự từ đó hoằng dương pháp môn Mật Tịnh (Mật Tông Tịnh Độ song tu) hầu giúp những người hữu duyên biết cách tu đúng pháp mà được yên ổn trên con đường tu tập. Cho nên trong cuốn Thập Nhị Danh Lễ Sám sau nầy, có phổ cập thêm phần chỉ dẫn phương cách Ấn Chú đúng pháp cho Phật tử khắp nơi có duyên biết đến để tu tập.

Hai chữ MẬT TỊNH trên có hàm ý là:

– Người tu phải TRÌ-CHÚ (Mật) trước, rồi NIỆM PHẬT (Tịnh) sau.

– Phải tạo ra cái LỰC trước (để giúp cho thân tâm nhẹ nhàng, khẩu thanh tịnh, ý trong sáng, kiết giới trước để khỏi bị phá), khi NIỆM PHẬT thì mới trọn vẹn công đức, cái LỰC đó mới đưa chúng ta vãng sanh được. Vậy mới đúng pháp tu tập của Tổ Sư chỉ dạy.

Cho nên công năng của Thần Chú diệu dụng không thể nghĩ bàn. Một khi trì Chú đến mức “nhập tâm” rồi, thì sẽ phát ra được một “TÂM LỰC” thật “trong sáng.” Từ nơi cái tâm “trong sáng” đó, mới bắt đầu chuyển sang Niệm Phật, công năng niệm Phật sẽ tự phát ra một “thần lực” tương ứng với “thần lực” của Chú, mới có khả năng đưa chúng sanh ra khỏi 6 nẻo luân hồi, mới cứu độ được mình và “hộ niệm” cứu độ cho người khác, và cứu độ cho tất cả vong linh cũng đều được siêu thoát một cách dễ dàng.

Vì muốn cứu độ cho vong linh (người chết) phải có “Oai Đức thần” của Phật.

ĐỨC TRỌNG QUỶ THẦN KINH.

(Nghĩa là người có đầy đủ cái OAI (của thần Chú), cái ĐỨC TÂM lớn, thì Quỷ, Thần cũng phải kinh hồn, nể sợ).

Người có đầy đủ “Oai Đức”, đầy đủ “Tâm lực, Thần lực, Trí lực” và có “kinh nghiệm” mới biết dùng thiện xảo phương tiện cho mọi hoàn cảnh.

Nghiệp lực của mỗi người đều khác nhau; có người gieo nghiệp nhẹ trong quá-khứ, cuộc sống của kiếp nầy cũng không tạo điều gì ác, lại còn biết Niệm Phật tu hành, và biết gần gũi với Minh sư, thiện hữu, cho nên phút lâm chung sẽ không gặp trở ngại, có thể hộ niệm bằng câu Phật hiệu được, không cần thiết phải Trì-Chú. Còn nếu như gặp những người nghiệp quá nặng nề, kiếp nầy lại còn tạo thêm nhiều điều xấu ác, giao kết với tổn hữu ác đảng, bất hiếu với cha mẹ v.v… chưa hề biết niệm Phật là gì, lại còn bị thêm “vong ma” dựa nhập nữa, thì không thể thuần niệm Phật cho họ nghe được (vì họ chưa từng kết duyên với Tịnh Độ), không thể giúp cho tâm thần họ trong sáng được, nên cần phải Sám hối và Trì-Chú trước để giúp gột rửa bớt tội lỗi của họ.

Cho nên, có nhiều người thấy Bảo Đăng thường Sám hối và Trì-Chú trước để giúp cho tâm thần họ được trong sáng, nhẹ nhàng, tiêu bớt tội nghiệp, chịu buông bỏ mọi ràng buộc, rồi mới niệm Phật hộ niệm tiếp dẫn, là như vậy.

Đa phần người Niệm Phật cầu về Cực Lạc, mà lại không biết rõ “tại sao phải cầu về Cực Lạc mà không cầu về cõi của những đức Phật khác, niệm Phật A Di Đà mà không niệm các đức Phật khác ‌

Ở Cực Lạc có gì vui hơn ở cõi Trần không ‌ Nghĩa là tuy ngoài miệng niệm Phật, nhưng trong tâm vẫn mãi ôm ấp những cái vui hiện có ở cõi nầy, không muốn xả bỏ ! Cho nên trong tâm thức của những người đang niệm Phật đó, khi sắp lâm chung, sẽ không tha thiết muốn về Cực Lạc ! Vậy, nếu ban hộ niệm ngồi suốt ngày niệm Phật, cầu giùm cho người nầy vãng sanhhọ có được vãng sanh không ‌  Họ có được Thánh Chúng (ở Cực Lạc) tới rước không ‌

Người tu Tịnh Độ cần phải hiểu thêm rằng :

1. Những người đang niệm Phật phải có “nguyện lực” lớn mạnh, có đầy đủ “Tín, Nguyện, Hạnh”, và phải có được “tứ vô-lượng Tâm” (từ, bi, hỷ, xả) rất lớn.

2. Lại chán ngán con người (sao quá gian ác), chán con, chán cháu (bất hiếu, vô đạo), cuộc sống con người ngày càng mất hết “Thánh đạo.” Trong tâm hành giả không còn muốn trở lại cõi ngũ trược nầy nữa, chỉ còn một cái Tâm cực mạnh tha thiết muốn sanh về cõi Cực Lạc, nên ngày đêm chí-tâm niệm Phật bất kể đến thế sự (nhà cửa, tiền của, cháu con, việc vừa ý hay không vừa ý, việc phải cùng sai v.v…). Khi lâm chung mới được Tây Phương Tam Thánh tới tiếp dẫn vãng sanh về cõi Cực Lạc.

3. Còn những người niệm Phật lai rai (sáng tu, chiều đi khắp xứ thị phi, lại có tâm tham, chấp nhân, chấp ngã, phải quấy, thấp cao, đào xới lỗi người, sân si lẫy lừng, chửi mắng người không tiếc lời), miệng niệm Phật mà Tâm tán loạn. Khi lâm chung may mắn được hộ niệm đúng pháp về tới Cực Lạc, liệu người đó có chịu vô Cực lạc không, hay còn nhớ vợ, nhớ chồng, nhớ con cháu, nhớ thị phi, và nhớ cõi trần đầy trụy lạc ưa thích… mà lén tuột xuống cõi trần lại ‌

4. Những người niệm Phật mà có những cái Tâm “nghi ngờ” về pháp môn Tịnh Độ, lại còn nghi ngờ pháp nầy đúng, pháp kia sai, nhất là phỉ báng pháp môn Mật tông v.v… nên không mấy tha thiết nguyện cầu vãng sanh; nhưng nhờ gần gũi với Thiện hữu, phút lâm chung được hộ Niệm, người nầy chỉ được về cõi Trời mà thôi.

5. Nếu như may mắn nữa, thì chỉ được tới biên địa. (nghĩa là chưa vô được chánh quốc, còn ở ngoài biên giới của Cực Lạc, mỗi ngày có Bồ Tát ra thuyết pháp, chỉ dẫn Niệm Phật như vậy 500 năm, nếu cái tâm vẫn không đủ nguyện lực vãng sanh, sẽ trở xuống cõi Ta Bà, lặn ngụp trong 6 nẻo luân hồi trở lại để trả nghiệp).

Để chứng minh cho điều nầy, Bảo Đăng xin kể ra đây một chuyện hiển linh khó tin nhưng có thật :

Thời gian gần đây, Bảo Đăng có hộ niệm cho một vài Phật tử được vãng sanh. Trong số đó có một người mà Bảo Đăng chưa chắc chắn là người ấy được về Cực Lạc hay không‌ Như thông lệ, sau khi tu xong, Bảo Đăng có cầu lên đức Quán Thế Âm Bồ Tát, xin Ngài cho biết người nầy có thật được về Cực Lạc chưa, hay còn ở cõi nầy ‌

(Phụ giải :

Chắc qúy Phật tử thắc mắc, tại sao Bảo Đăng thường hay cầu lên đức QUÁN THẾ-ÂM Bồ Tát và luôn được “cảm ứng” với Ngài. Qúy vị đã có đọc qua quyển Hồi Ký Phật Sự rồi, cũng biết lúc Bảo Đăng được 6 tuổi, cha ở tù oan, mẹ vì uất ức mà chết sớm, bỏ lại 5 đứa con còn nhỏ dại. Lúc đó chỉ có một thân một mình thay quyền mẹ cha mà nuôi mấy đứa em, vừa sợ ma, vừa sợ bóng tối. Không biết cầu đến ai, nên bắt đầu từ đó Bảo Đăng thường thấy đức Quán Thế-Âm Bồ Tát đến trong mơ, an ủi và dạy dỗ cho Bảo Đăng những điều hay lẽ thật. Thành thói quen, hễ có cái gì thắc mắc, không ổn, đều khởi tâm tha thiết cầu đến Bồ Tát là ngài hiển linh giải tỏ liền.

Sau khi lập gia đình qua tới Mỹ (năm 1975), cũng lại một thân một mình, không bạn bè chi cả, mỗi khi gặp nạn, hay bệnh hoạn, Bảo Đăng tha thiết cầu nguyện đến đức QUÁN THẾ ÂM Bồ Tát, Ngài vẫn thường xuyên đến chỉ dạy và giải nạn cho.

Đến khi thành lập chùa Pháp Hoa (vào năm 1985), gặp phải biết bao điều khổ, khó khăn và cô đơn nhất khi phải sửa lại toàn diện ngôi chùa mục nát mà không có Thầy đứng ra chỉ dẫn (vì Thầy đã nhập thất ẩn tu xa), cho nên chỉ biết cầu đến Bồ Tát chỉ dạy mà thôi, và luôn được Ngài cứu giải cho Bảo Đăng rất nhiều nạn tai, mọi việc đều được sở cầu như ý. Vì vậy mà Bảo Đăng chỉ tin nơi Đức Mẹ hiền Quán Thế Âm, ngoài ra không dám tin tưởng vào một ai khác cả.)

Đêm đó, Bảo Đăng nằm mơ, thấy mình đi tới Nam Hải gặp đức Quán Thế Âm Bồ Tát, trong lòng đang mừng mừng tủi tủi như lâu ngày được trở về thăm nhà vậy, có hỏi Ngài về việc hộ niệm cho một người mới đây, Bồ Tát rày và dạy rằng :

“Ngươi tưởng Cực Lạc dễ về lắm sao ‌ Ngươi đi hộ niệm giúp người ta vãng sanh, nhưng đâu phải ai niệm Phật cũng đều có tâm “tha thiết” cầu sanh về Cực Lạc đâu ! Cõi Cực Lạc không phải ai muốn vô, muốn ra tùy tiện được ! Ngươi có biết rằng, trong số người mà được ngươi hộ niệm, có một người đã được vô Cực Lạc rồi nhưng tự tay mở cửa để xuống lại cõi trần nầy không‌”

Bảo Đăng chưa hiểu nên cúi lạy, hỏi ngay rằng :

Bạch Bồ Tát, nếu như trong tâm người đó vẫn còn vương vấn, bịn rịn, hoặc nghiệp lực lôi kéo, thì không thể nào vãng sanh được cả. Tại sao người nầy được vãng sanh rồi mà còn muốn trở xuống ‌ Cúi xin Bồ Tát dạy cho con hiểu.”

Bồ Tát dạy rằng :

 “Đáng lý ra người nầy chưa đủ hạnh, chưa đủ công đức, và chưa đủ nguyện lực để được về đâu. Nhưng vì tâm của ngươi chí thành, lại chuyên trì-Chú khi hộ niệm, nên Thần lực của ngươi đã phát ra hào quang quá sáng, và ngươi còn dặn dò họ rằng:

 “Khi nào thấy ánh sáng chiếu đến là đi theo ánh sáng đó nghe”!

 Nên khi người đó thấy hào quang sáng chói, chỉ biết theo ánh sáng đó mà đi thôi, chứ họ không có “tự lực” đi được. Họ lại không có “nguyện lực” cầu vãng sanh, cũng không có “tâm lực” để được sanh về Cực Lạc chi cả. Cho nên họ không được Thánh Chúng đến tiếp dẫn !

Khi tới Cực Lạc họ không được vào chánh quốc, vì không đủ điều kiện để được vào “Liên Trì Hải Hội”, đừng nói chi là được “nhập Liên Hoa” (tức nhập vào trong 9 phẩm sen). Cho nên, đa phần đều phải ở “biên địa” (bên ngoài cửa Cực Lạc) để Niệm Phật tiếp cho đầy đủ công đức. Riêng người nầy vẫn còn nhớ cha mẹ, nhớ chồng con, tâm lại không “tha thiết” niệm Phật, không hiểu pháp môn Tịnh Độ là gì cả, nên đã tự mở cửa Cực Lạc mà trở xuống lại cõi nầy. Mai nầy phải tiếp tục đi đầu thai lại, tiếp tục trả nghiệp…!

Ngươi phải nhớ, muốn bảo đảm được vãng sanh về Cực Lạc đòi hỏi phải có đủ ba phần chánh sau đây :

1. Phải có TÍN lực (tin cho thật bền chắc)

2. Phải có NGUYỆN lực (nguyện được vãng sanh)

3. Phải có HẠNH lực (sự tu hành, niệm Phật ít nhất là 30 ngàn câu trở lên mỗi ngày)

Ngoài ba phần chánh trên, còn phải tu thêm bốn phần phụ, đó là:

1. Tích lũy công đức (phải làm nhiều việc cứu độ cho người khác phát tâm sám hối, bỏ tà quy chánh)

2. Thực hành Bồ Tát hạnh và tứ vô lượng tâm (có đại tâm cứu giúp người và có lòng từ, bi, hỷ, xả) rất lớn.

3. Học cho rành rẽ pháp tu Niệm Phật và hiểu rõ thế giới Cực Lạc mà mình muốn sanh về.

4. Thật sự nhàm chán cõi Ta Bà nầy, sợ sự sanh tử luân hồi, ngày đêm tha thiết mong cầu được sanh về Cực Lạc để gặp Phật A Di Đà (tiếp tục niệm Phật cho thỏa chí, không bị ai quấy rầy, ngăn cản).

5. Phải TẬN TÂM, TẬN LỰC, TẬN CƯỜNG (thì mới thoát khỏi được tất cả nạn tai)

Như vậy mới có thể bảo đảm vãng sanh Cực Lạc, nhập vô “Liên Trì Hải Hội” được”.

Bảo Đăng hỏi thêm :
“Bạch Bồ Tát, vậy người nầy hiện đang ở đâu ‌”

Ngài liền đưa ngón tay chỉ một cái, Bảo Đăng thấy mình đang đứng trong Địa Tạng đường của chùa, trước tấm hình của người nầy rồi.

Bồ Tát lại dạy tiếp :

“Mỗi lần ngươi hộ niệm cho ai, đều phải hỏi cho rõ ràng là họ “tha thiết” muốn đi đâu, rồi theo tâm nguyện đó mà đưa họ đi, chứ không phải ai ai cũng đưa về Cực Lạc cả.

Nếu ngươi hộ niệm cho người nào mà có đầy đủ Tín Nguyện Hạnh và họ được nhập vô “Liên Trì Hải Hội”, thì ngươi sẽ được hưởng trọn vẹn công đức lớn, và phẩm vị vãng sanh của ngươi mai nầy cũng được cao hơn. Nếu ngược lại ngươi sẽ bị giảm phẩm vị xuống.

Cho nên phải cẩn thận, vì “nghiệp lực” của mỗi người mỗi khác, và phải biết dùng “phương tiện” khéo thì mới có thể cứu độ được cho nhiều người, chứ không phải người nào cũng hộ niệm (vãng sanh) giống như vậy cả, vì “nghiệp lực” (trong phút lâm chung) của mỗi người đều khác nhau.

Chư Phật, chư đại Bồ Tát cũng đều muốn tất cả chúng sanh được giải thoát ra khỏi sanh tử. Nhưng trong tâm của chúng sanh lại “không hề có hình ảnh cõi Cực Lạc, không hề có hình ảnh đức Phật A DI ĐÀ”, thì dù cho chư Phật, chư đại Bồ Tát có đến rước, họ cũng không muốn đi, vì “không biết Phật DI ĐÀ là ai ‌‌”.

Ngươi đã làm Phật sự bấy lâu nay, hoằng dương chánh pháp của Phật, đã nhiều lần trùng tuyên lại những lời Pháp và Chú Ấn của TA, đem ra chỉ dạy cho người hữu duyên tu tập… vậy có được mấy người TIN, mấy người chịu nghe và có được mấy người đã hoan hỷ chịu trì chú của Ta ‌

Vì chúng sanh có những thứ “tâm cố chấp kiên cố” như thế, nên chư Phật phải dùng thiện xảo phương tiện và thuận theo TÂM LỰC (mong cầu) của chúng sanh mà cứu độ. Cũng như hiện nay chúng sanh không có tâm cầu đạo giải thoát, không tin nơi “nhân quả”, phỉ báng lời dạy của Phật, và còn cố ý gây tạo ra vô số nghiệp tội, phá diệt Phật Pháp, giết hại vô số chúng sanh vô tội.

Từ những cái tâm ác đó đã chiêu cảm đến nhiều “Thiên tai” khổ nạn. Thì TA cùng chư Phật cũng không sao cứu được, vì trong Tâm của họ quá lẫy lừng những tánh “ÁC”. Khẩu của họ lúc nào cũng chứa đầy ấp những lời chửi mắng ác độc, thô-lỗ, bất thiện (ngoài miệng luôn thường cầu khẩn lên Thần Thánh gia hộ cho mọi sự được may mắn, làm ăn phát đạt, gia đình hạnh phúc, con cháu khỏe mạnh… lại cũng từ cái miệng đó luôn chửi mắng người thô-tục không ngừng nghỉ)nên cái “quả” xấu tự chiêu cảm ra xứng cái tâm, cái khẩu (nghiệp ác) của họ, chứ không có Thần Thánh nào đem họa đến cho chúng sanh cả.

Chúng sanh không chịu sám hối tội lỗi (thân, khẩu, ý) của mình, mà còn trở lại trách mắng Phật, Trời (sao không gia hộ cho họ được mua may bán đắc vậy ‌), thì hậu quả lại càng dữ dội hơn.”

Ngài dạy tiếp :
“Người nầy sau khi xuống trần, đi vào nhà con cái cũng không được, thành ra phải lang thang, làm hồn ma vất vưởng, đói lạnh. Cũng may còn chút trí khôn, chợt nhớ đến chùa mà nhập vô bài vị liền, bằng không đã bị yêu tinh vây lưới bắt hồn rồi”.

Bồ Tát nói với cái vong nầy rằng :
“Nếu ngươi biết hối hận, phải lo sám hối tu hành lại trong 49 ngày, Bảo Đăng sẽ cho ngươi ăn và thuyết pháp cho ngươi nghe. Sau 49 ngày, nếu ngươi biết thức tỉnh, sám hối tu niệm, thì sau bảy thất, ngươi muốn về cõi Trời, hoặc cõi Người, Bảo Đăng sẽ hộ niệm cho ngươi được như-ý, trừ cõi Cực Lạc !”

Bảo Đăng vội lạy sám hối với Bồ Tát và hứa sẽ không hộ niệm bừa bãi nữa. Bồ Tát dạy Bảo Đăng thêm rằng:

Ta cũng cho ngươi biết thêm rằng hiện nay số người được “Thánh Chúng tiếp dẫn vãng sanh” rất là ít. Trong 1000 người được hộ niệm, vãng sanh chỉ được một. Số người được đầu thai về cõi lành cũng rất ít. Nếu may mắn được thăng Thiên, chỉ trụ ở Thiên giới được 1 năm mà thôi (khi sống không có tu hành hoặc gây tạo nhiều phước đức), vì không đủ “phước đức” để trụ lâu dài trên cõi Trời hơn được. Còn số người bị “đọa lạc” (trong 3 ác đạo) ngày càng thêm đông không kể xiết”.

Phải biết thêm rằng:

– Tất cả người được vãng sanh về Cực Lạc, sanh lên cõi Trời, đầu thai vào cõi Thần (A-Tu-La, cùng tất cả loại Thần khác),  đầu thai lại làm người, hoặc đọa xuống địa ngục, đọa làm ngạ quỷ và đọa vào loài súc sanh vẫn cònhưởng được sự hồi hướng công đức từ nơi thân nhân (con cháu 7 đời) của họ khi phát tâm chân thật tu hành, cúng dường, in Kinh Đại-Thừa và  làm tất cả những việc lành.

– Nếu Cửu huyền thất tổ (7 đời) đã được vãng sanh về Cực-Lạc còn nằm trong 3 phẩm Hạ sẽ được nở ra mau hơn, được thấy Phật sớm hơn, được đi khắp mười phương cúng dường chư Phật, và được cùng với chư đại Bồ Tát đi cứu độ chúng sanh. Chứ không phải được “vãng sanh” rồi là không cần hồi hướng nữa, thì người đó sẽ nằm trong thai sen vô thỉ kiếp biết đến chừng nào mới nở ra được.

– Những ai được sanh lên cõi Trời, cõi Thần thì chức phẩm của họ sẽ được thăng tiến, thời gian ở cõi Trời, cõi Thần cũng được tăng thêm.

– Nếu được đầu thai lại làm Người, mặc dù đã qua kiếp đời khác, thay tên đổi họ, thay hình đổi dạng, khác cha khác mẹ, khác phong tục tập quán rồi, nhưng A lại da thức (là thức thứ 8, vẫn còn giữ hết tất cả những chủng tử thiện, ác) thì không thay đổi, đó là những NGHIỆP (thiện, ác) đã gây tạo trong quá-khứ lâu xa về trước… vẫn theo đời đời, kiếp kiếp như bóng với hình; hễ hội đủ nhân duyên là phải trả (món nợ cũ cho oan gia, trái chủ v.v…)”.

Có đôi khi ta tự nhiên cảm thấy thân tâm nhẹ nhàng, tươi mát và nhận được sự may mắn, là do nhận được sự “hồi hướng công đức” của thân nhân (từ con cháu 7 đời trước).

Thì huống hồ chi chính bản thân ta kiếp nầy tự tu, tự sám hối (cho những tội lỗi đã gây tạo trong quá-khứ lâu xa về trước), và làm tất cả những việc lành để trước :

Đức QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT dạy tiếp rằng:

Ta cũng cho ngươi biết thêm rằng hiện nay số người được “Thánh Chúng tiếp dẫn vãng sanh” rất là ít. Trong 1000 người được hộ niệm, vãng sanh chỉ được một. Số người được đầu thai về cõi lành cũng rất ít. Nếu may mắn được thăng Thiên, chỉ trụ ở Thiên giới được 1 năm mà thôi (khi sống không có tu hành hoặc gây tạo nhiều  phướcđức chi cả), vì không có đủ “phước đức” nên không thể trụ lâu dài trên cõi Trời hơn được. Còn số người bị “đọa lạc” (trong 3 ác đạo) ngày càng thêm đông không kể xiết”.

Phải biết thêm rằng:

– Tất cả người được vãng sanh về Cực Lạc, sanh lên cõi Trời, đầu thai vào cõi Thần (A-Tu-La, cùng tất cả loại Thần khác),  đầu thai lại làm người, hoặc đọa xuống địa ngục, đọa làm ngạ quỷ và đọa vào loài súc sanh vẫn cònhưởng được sự hồi hướng công đức từ nơi thân nhân (con cháu 7 đời) của họ khi phát tâm chân thật tu hành, cúng dường, in Kinh Đại Thừa và  làm tất cả những việc lành.

– Nếu Cửu huyền thất tổ (7 đời) đã được vãng sanh về Cực-Lạc vào được chánh quốc (bên trong Cực lạc) sẽ được vào 3 phẩm HẠ mau hơn.  Nếu như may mắn được nằm trong 3 phẩm sen (phẩm Hạ) sẽ được nở ra mau hơn, được lên phẩm sớm hơn. Còn những người được nằm trong Trung phẩm sẽ được thấy Phật sớm hơn, và được đi khắp mười phương cúng dường chư Phật, và được cùng với chư đại Bồ Tát đi cứu độ chúng sanh. Chứ không phải được “vãng sanh” rồi là không cần hồi hướng nữa, thì người đó sẽ nằm trong thai sen vô thỉ kiếp biết đến chừng nào mới nở ra được.

– Những ai được sanh lên cõi Trời, cõi Thần thì chức phẩm của họ sẽ được thăng tiến, thời gian ở cõi Trời, cõi Thần cũng được tăng thêm.

– Nếu được đầu thai lại làm Người, mặc dù đã qua kiếp đời khác, thay tên đổi họ, thay hình đổi dạng, khác cha khác mẹ, khác phong tục tập quán rồi, nhưng A lại da thức (là thức thứ 8, vẫn còn giữ hết tất cả những chủng tử thiện, ác) thì không thay đổi, đó là những NGHIỆP (thiện, ác) đã gây tạo trong quá-khứ lâu xa về trước… vẫn theo đời đời, kiếp kiếp như bóng với hình; hễ hội đủ nhân duyên là phải trả (món nợ cũ cho oan gia, trái chủ v.v…)”.

Cho nên, có đôi khi ta tự nhiên cảm thấy thân tâm nhẹ nhàng, tươi mát và nhận được sự may mắn, là do nhận được sự “hồi hướng công đức” của thân nhân (từ con cháu 7 đời trước). Thì huống hồ chi chính bản thân ta kiếp nầy tự tu, tự sám hối (cho những tội lỗi đã gây tạo trong quá-khứ lâu xa về trước), và làm tất cả những việc lành để trước :

– Giải những oan gia, trái chủ (những người mà ta đã giết, cướp đoạt tài sản, hãm hại cho tới chết) trong quá-khứ vẫn còn theo đòi nợ máu, nợ tình, nợ tiền vv…..nên mới vào làm vợ chồng, con cái, cha mẹ, anh em v.v… Bình tâm mà kiểm lại tình cảnh trong gia đình, thì sẽ rõ ngay.

– Giúp cho cuộc sống kiếp nầy được mọi sự may lành, về già không bệnh tật, lâm chung chánh niệm được vãng sanh về cõi Phật.

– Hồi hướng công đức cho “thất thế phụ mẫu” thân tâm được nhẹ nhàng, siêu thoát, hoặc thăng về cõi Tịnh Độ v.v…

Tâm người đời nay quá gian-ác, vì chút danh lợi mà gây tạo vô-số tội lỗi (giết hại thân huệ mạng (Phật tánh) của người nhiều không kể xiết)chúng sanh đang sống trong thời kỳ “đấu tranh kiên cố”, đa phần đều bỏ chánh Pháp (của Phật) ham thích tu luyện theo TÀ-ĐẠO (để  mau có được thần thông, mà không cần phải khổ nhọc tu tâm, sửa tánh để đạt thành chánh quả). Do vì thiếu suy nghĩ, nên đã tự mình chịu trao đổi cái TÂM và cái “thân huệ mạng” của con NGƯỜI để có được cái THÂN, cái TÂM của QUỶ, và cái thân của THÚ VẬT (hiện nay số người tu luyện theo tà đạo nầy nhiều không kể xiết, và hiện có ở khắp nơi trên thế giới, hang cùng, ngõ hẻm nào cũng có chúng cả.

Cho nên việc chỉ “CHUYÊN NIỆM PHẬT” (không có trì chú) và cầu vãng sanh Cực lạc của chư Tổ Sư ngày xưa đã chỉ dạy từ cả trăm năm về trước, là một điều khó có thể thành tựu được trong đời sống hiện nay ! Bởi vì, tuy còn mang thân của con NGƯỜI, cũng có học thức, có bằng cấp cao, có nhiều tiền của, có chức vị lớn trong xã-hội, có gia đình con cái, đi đứng, ăn nói giống như con người, nhưng TÂM TÁNH của họ đã không còn THIỆN như trước kia nữa (nhân chi sơ tánh bổn thiện), không còn chút “tình người” nào nữa cả, và chính tay họ đã :

Lấp bít hết con đường lên cõi Trời, về cõi Phật A DI ĐÀ ở Cực-Lạc quốc, và mãi mãi không còn được đầu thai lại làm thân Người nữa !

Vì thế, phương cách “hộ niệm” của Bảo Đăng trước kia đã giúp cho người không bị “đọa 3 ác đạo”, và tùy theo tâm nguyện của họ muốn sanh về cảnh giới nào thì hộ niệm giúp họ về cõi đó,  nhưng ngày nay vì đa phần TÂM của người đã chuyển, không còn THIỆN như xưa nữa, nên Bảo Đăng không thể nào HỘ NIỆM giống như trước được, vì trong Tâm thức của họ không còn tha thiết mong cầu vãng sanh về cõi Phật, cõi Trời và cõi người nữa, thân tuy còn sống nhưng thần thức và tâm-ý của họ đã “ký-thác” vào 3 ác đạo (địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh)  NGHIỆP đã ĐỊNH rồi, không chuyển được.

Hiện nay, trên thế gian có vô-số VONG LINH vất vưởng, đói lạnh, không chỗ ở, không thân nhân nhìn nhận nhiều không kể xiết, đang lan tràn khắp mọi nơi, mọi nhà, nhất là trong nhà thương, chỗ chờ chết (hospice) bệnh nhân đang bị lâm vào trong cảnh không làm chủ được thân xác.

Xác đang chờ hư hoại lần đến chết. Thần thức (của 3 hồn chánh) đã xuất ra khỏi xác rồi. Chín vía đang còn trong xác (từ 2 tiếng cho đến 8 tiếng mới xuất ra hết), thức A lại da đi sau cùng sẽ mang hết “nghiệp lực” (thiện, ác) xuất ra chỗ nào thì hơi nóng sẽ tụ ở chỗ đó (để biết rõ họ sẽ thác sanh về cõi nào).

Trong thời gian chờ đợi (suốt 8 tiếng) sẽ có hằng hà sa số vong linh đang tranh nhau giành giựt chiếm xác để vô ở. Nếu như có xác mà ngũ tạng còn tốt thì chúng sẽ giúp cho “tỉnh” trở lại, nằm một chỗ để hưởng sự ăn, uống trên giường bệnh nhiều tháng, năm … hoặc cho đến khi nào cái xác hư thối, không còn xài được nữa, thì chúng mới chịu xuất ra, rồi kiếm những người sống khác mà hạp với họ, người bệnh khác, hay kẻ đang chờ chết khác để nhập vào nữa…

Cho nên, phương cách NIỆM PHẬT để HỘ NIỆM bây giờ không còn được hiệu quả, suông sẻ, yên lành như trước nữa. Cần phải có đầy đủ TÂM LỰC, ĐỨC LỰC, TRÍ-LỰC, THẦN LỰC và ĐẠO LỰC thì mới có khả năng cứu độ và hộ niệm được cho người (sống, lẫn người đã chết) thoát khỏi 3 ác đạo.

Tuy biết làm Phật sự trong thời buổi nầy rất ư là gian nan, khó nhọc, tiếng chê thì nhiều, tiếng khen thì ít, nhưng Bảo Đăng đã không quản ngại khó-khăn, cực khổ, không chấp vào lời khen chê vô nghĩa, mà vẫn kiên tâm, trì chí ngày đêm tinh tấn tu tập để không phụ lòng từ bi chỉ dạy của Bồ Tát, của Tổ sư và nguyện với Phật:

Bảo Đăng sẽ là một đứa con ngoan của Ngài, nhất dạ hoằng truyền Mật Tịnh pháp môn giúp cho những người hữu duyên, đền ơn lên 3 ngôi Tam Bảo cho đến hơi thở cuối.

Tóm lại, muốn sanh về cõi Cực Lạc thật không phải chuyện đơn giản. Không phải ai Niệm Phật cũng được vãng sanh ! Niệm Phật cả đời còn chưa “cảm ứng” với Phật, chưa được thấy Phật, chưa nghe được tiếng nói của Phật, hoặc thấy được cảnh giới Cực lạc và được Phật “thọ ký”, huống hồ chi được về Cực Lạc ngự Liên Hoa cùng ngồi chung với chư Phật, chư đại Bồ Tát, và cùng đi với quý Ngài cứu độ chúng sanh ư ‌ ?

Hạnh làm Người (nhân, lễ, nghĩa, trí, tín) đã khó làm, thì nói chi đến hạnh Bồ Tát (có tâm nguyện cứu độ chúng sanh) thì lại càng khó hơn.

Người ngày nay “thọ Bồ Tát Giới” thì quá nhiều, mà thực hành  “hạnh Bồ Tát” thì lại quá ít.

Người chân thật niệm Phật muốn bảo đảm vãng sanh, quyết định phải phát tâm “Vô-Thượng Bồ Đề” và “thực hành Bồ Tát hạnh” trên cầu thành Phật quả, dưới cứu độ chúng sanh, và đem pháp môn Mật Tịnh giảng giải, phổ biến rộng ra cho người người phát tâm tu niệm.

Chúng ta phải biết rằng:

    Niệm Phật để mong được thành Phật (vì có tâm nguyện cứu độ chúng sanh).

Mà nếu như :

    Đại Tâm Bồ Đề không phát, Bồ Tát hạnh cũng không có.

Thì:

    Niệm Phật để làm chi ‌

Nếu như người niệm Phật nào mà không tu được “BỒ TÁT HẠNH”, không phát tâm Đại Thừa cầu đạt được quả vị “Vô-Thượng Bồ Đề” để độ tận chúng sanh, lại chỉ thích nói lời cao siêu trên môi miệng theo cách “cuồng Huệ”, thì tâm của người ấy không xứng hợp với bản hoài của chư Phật, ắt sẽ chẳng được vãng sanh về cõi Cực Lạc Tịnh Độ, chỉ đủ sức “gieo trồng được căn lành nơi các cõi Nhân, Thiên” trong những kiếp sau mà thôi. Nghĩa là vẫn còn bị kẹt lại trong biển khổ sanh tử luân hồi !

Chúng ta nên biết rằng:

    Người được về Cực Lạc là người đã có sẵn cái tâm “Hạnh Bồ Tát”, có tâm “Đại Thừa” cầu thành Phật quả để đi cứu độ chúng sanh, sau khi được vãng sanh về Cực Lạc.

Vì vậy, trong khi còn làm một chúng sanh đang tu Tịnh Độ, chúng ta cần phải chuẩn bị hành trang cho bản thân trước khi về cõi Phật, như là tập xả bỏ mọi duyên đời ràng buộc, giữ tâm bất động trước mọi hoàn cảnh trái ngang, khởi lòng “Từ, Bi, Hỷ, Xả”với những oan gia, trái chủ. Và thực hành “hạnh Bồ Tát”, trước tự độ mình, sau nữa đem tất cả sự hiểu biết về Tịnh Độ pháp môn và kinh nghiệm giảng giải rõ-ràng cho người khác học hiểu, in kinh Đại Thừa phổ biến rộng khắp nơi v.v…

Khuyên được hai người tu,
Sánh bằng mình tinh tấn.
Khuyên được hơn mười người,
Phước đức mình vô-lượng.
Bằng khuyên trăm ngàn người,
Gọi là chân Bồ Tát.
Lại khuyên hơn số ấy,
Tức Phật A DI ĐÀ.

Trong Kinh Đại Bảo Tích Phật dạy :

– Nếu có người trong mỗi ngày thành kính nhất tâm xưng niệm danh hiệu công đức của Như Lai, người nầy có thể lìa sự tối tăm (tức vô-minh, ngu si)lần lần sẽ đốt tiêu những phiền não (nhưng tâm phải thanh tịnh, khi niệm Phật thì mới có kết quả).

– Nếu có người xưng niệm A DI ĐÀ PHẬT sẽ trừ được “ngữ nghiệp” (khẩu nghiệp ác) chẳng luống không (chẳng uổng công), có thể đốt tiêu hết tất cả phiền não, nghiệp chướng (nhưng phải sửa những tánh xấu, cái chấp kiên cố của mình).

– Nếu có người nào được nghe (nghe người khác niệm mà phát tâm hoan hỷ, tùy thuận không ngăn cản) danh hiệu của chư Phật, thì lìa được các sự tối tăm, u-ám, cùng với người xưng niệm A DI ĐÀ Phật kia, đồng là “nhân” của giải thoát Niết Bàn (thí-dụ người câm, bệnh không niệm được, chỉ nghe người khác niệm mà hoan hỷ tán thán, cũng được giải thoát ra 3 ác đạo (nhưng tâm phải thành kính, chân thật).

Cho nên:

– Niệm Phật thì thành Phật.

– Niệm chúng sanh thì thành chúng sanh.

– Niệm sân hận, gây tạo nhiều việc ác từ nơi Thân, Khẩu, Ý, tâm luôn cố chấp (giữ chặt những điều sai trái, không chịu xả bỏ, mà cứ nghĩ rằng “Tôi không có lỗi gì cả”) thì sẽ bị đọa lạc trong 3 ác đạo.

Phải nhớ rằng:

Người có lỗi, ta không lỗi.
Ta có lỗi, bởi chê khinh !

Cũng vậy, nếu có cái tâm thương súc sanh thì sẽ làm bác sĩ thú-y. Còn có tâm thương chúng sanh thì sẽ làm Phật. Mà muốn làm Phật thì quyết định phải Niệm Phật cho đến mức :

– Thường được tâm thanh tịnh.

– Thường có được Tứ vô-lượng Tâm, và Bồ Tát Tâm.

– Thường an trụ được trong Phật pháp.

– Thường được thấy Phật, cảm ứng đạo giao. Và được Phật thọ ký.

Ai niệm Phật đã lâu năm mà không thấy linh ứng, hoặc kiến hiệu chi cả, thì phải quán sát lại Tâm mình mà:

– Sanh lòng tàm quý (hổ thẹn).

– Biết “sám hối” lỗi xưa, tránh lỗi sau.

– Biết xa lìa điều ác.

– Biết làm những việc lành, và khuyên bảo người tu hành làm việc lành.

– Biết thường xuyên tự răn nhắc, cảnh tỉnh lấy mình.

– Trì Chú thật nhiều để cho tâm được trong sáng và có đầy đủ “Thần lực”, mới nhận diện được chánh pháp, tà pháp, chánh nhân hoặc tà nhân một cách chính xác.

– Nhất tâm “niệm Phật” không thối chuyển, bền lòng “Tín, Nguyện, Hạnh” không lui sụt.

– Khởi lòng “Từ, Bi, Hỷ, Xả” (tứ vô lượng tâm).

– Thực hành “Bồ Tát hạnh” một cách dũng mãnh (làm lợi cho người mà tổn mình)

– Phải có chánh tâm, chánh ý, có trí huệ để phân biệt rõ được chánh, tà.

Nếu chúng ta thường xuyên thực hành những điều trên thì khi lâm chung ắt sẽ được nhập vào trong cảnh – “Trời Tây (Cực-Lạc)đài báu đã ghi danh” rồi vậy!
Phải biết:

– Chư Phật, chư Bồ Tát không thể nào cứu được những chúng sanh có “tâm ác, khẩu ác, ý ác”.

– Ma Vương không thể nào giết hại được những chúng sanh có “tâm hiền lành, tu hành chân chánh”, biết ơn và biết báo ơn cả.

– Phật và Ma vương cũng đều thuận theo cái “tâm thiện, tâm ác” của chúng sanh mà ban cho họ được như ý mà thôi.

Cho nên, hễ chúng sanh có “tâm ác” nhiều, thì Ma vương cho quyến thuộc tới gặp. Thiên tai liên tục kéo đến ban cho họ được như-ý muốn.

Còn chúng sanh có “tâm thiện” nhiều, thì Phật, Bồ Tát, chư Thiên đến cứu. Mưa hòa, gió thuận, cửa nhà an vui, sở cầu được như ý muốn.

Bảo Đăng xin chư Phật tử đang tu MẬT TỊNH pháp môn, nên bình tâm xét lại mà gác bỏ những việc vừa ý hay không vừa ý, việc phải quấy, đúng cùng sai. Miệng không còn chửi mắng, nói ác cho người.  Ý không nghĩ xấu, ác cho người, và tâm luôn tưởng nhớ đến Phật, luôn nghĩ đến việc giúp người. Ta cũng nên kiểm tâm mình từng phút giây xem còn “NHÂN TÌNH” không (hay đã mất hết rồi) mà phát tâm tu sửa lại. Và nên nói ít một câu chuyện niệm nhiều câu Phật.

Mong chúng ta tích cực trì Chú nhiều hơn nữa, phải “Tận tâm, Tận lực, Tận cường” để được hiện đời vượt ngang qua ba Cõi (Trời Dục giới, Sắc giới, Vô Sắc giới) thành tựu việc vãng sanh, dự phần trong 9 phẩm sen nơi cõi Cực Lạc và sẽ thành Phật ở tương lai.

Suốt gần 30 năm làm Phật sự và sống trong đường đạo, Bảo Đăng được thấy, biết phần nhiều Phật tử đi đến rất nhiều chùa, gặp gỡ rất nhiều danh Tăng, niệm Phật gần suốt cuộc đời, trì Chú cũng rất lâu năm, tụng Kinh tu hành cho tới già… mà vẫn chưa thấy được Phật, chưa cảm ứng đạo giao với Bồ Tát, chưa làm được một Phật sự gì để cứu độ người, báo đền lên Tam Bảo cả, thân tâm ngày càng đen tối, ích kỷ, ganh tỵ, tham, sân, và cố chấp vẫn lẫy lừng v.v…

Vì thế:

Qua 3 phần giảng giải phương cách tu tập đúng pháp ở trên về việc  Sám hối, Trì Chú và Niệm Phật, một lần nữa, Bảo Đăng xin kết lại và nhấn mạnh một điều cương quyết rõ rằng :

Nếu muốn sống một cuộc đời bình thường của “nhân loại”, thì cứ để “nghiệp lực” dẫn đường cho cuộc sống, và sau khi chết, “nghiệp lực” cũng sẽ dẫn đường trong sáu nẻo luân hồi (như thế thì không cần bàn luận làm chi!)

Còn như những người có cái TÂM muốn “thăng hoa”, muốn “giải thoát” ra khỏi 3 nẻo, 6 đường, muốn vãng sanh, thành Phật, thành Bồ Tát, thì bắt buộc phải đạt được 2 điều kiện tối ư quan trọng cho sự giải thoát như sau :

1. Phải TU TÂM

2. Phải SỬA TÁNH

Nghĩa là:

1. Phải giữ TÂM mình cho “Bình lặng”, cho trong sạch, giữ tâm cho thanh tịnh, Tâm đồng tử (tâm trơn tru không gút mắc, không chấp lời, không chấp tướng, không chấp ngã), tạo Tâm Bồ Tát cho thật lớn và Tâm Bồ đề cho thật kiên cố.

2. Nhưng, tâm tuy có trong sáng, có phát tâm Bồ đề, có tâm muốn cứu độ thân nhân, và có tâm muốn vãng sanh Cực Lạc, nhưng TÁNH lại còn quá nhiều gút mắc, ngã chấp vẫn còn quá nặng, Tánh còn tham, còn sân, không thật thà, nghi ngờ từ câu nói, còn ganh tỵ, cao ngạo v.v…

Có người chuyên lắng nghe “Tâm, Ý” của người khác, mà không hề lắng nghe vào “Tâm, ý” của chính bản thân, thì những TÁNH không tốt ở trên sẽ “dấy” vào và xâm chiếm hết những cái TÂM (ham muốn) đó. Cho nên mới chiêu cảm ra những điều trắc trở trong cuộc sống, từ trong gia đình cho tới ngoài xả hội và khảo đảo trong đường tu tập, khó mà gặp được Minh sư, thiệt hữu, dầu đã có gặp nhưng cũng không được bền lâu.

Nếu như không diệt những tánh cao ngạo, và cố chấp đó, thì cũng như tự tay mình mở cửa “TÂM” mình để cho Ma Quỷ vào xâm chiếm, cướp hết những cái TÂM lành đó đi một cách dễ dàng.

Phải biết, TÁNH là chìa khóa để mở cửa TÂM.

Hễ TÁNH tốt, thì TÂM trong sáng hiện bày. Còn như TÁNH xấu ác nhiều hơn cái TÂM thiện, thì sớm muộn gì cũng sẽ biến cái Tâm thiện kia trở thành xấu ác.

Ví dụ như người không có Tâm dối trá, nhưng vì có nhiều TÁNH “tham” nên đã đè, át cái tâm tốt biến thành ra tâm dối trá.

Tâm và Tánh cùng là một, tuy khác nhau nhưng không rời nhau, Tâm bổ túc cho Tánh, Tánh bổ túc cho Tâm, cũng giống như nước với bọt vậy.

Muốn được vãng sanh, muốn đạt thành đạo giải thoát, tất cả những TÁNH xấu đều phải sửa; sửa từ chút một, sửa từng lời nói, từng cử chỉ, từng hành động; sửa từng ngày, từng giờ, từng phút… Sửa tất cả những Tánh gì mà người đời đang mắc phải và Thần Thánh chê bai.

Con đường tu tập có rất nhiều chông gai và thử thách. Nếu không có những sự thử thách, khảo đảo trong cuộc sống, thì sẽ không biết được mình TU tiến tới đâu, tâm mình thánh thiện như thế nào ‌ Những thử thách được ví như những bài thi nho nhỏ để giúp cho người tu tập hiểu rằng :

Con đường mình đang đi nó tiến thoái ra sao ‌ Những cái tánh bảo thủ, cố chấp, sân hận của mình có lẫy lừng hay không (khi bị mất mát những gì trong cuộc sống)  Mình vẫn còn giữ được cái TÂM “an bình”, cái TÁNH vẫn nhẫn nhịn (vì hiểu rõ được cái lý “nhân quả”) hay không‌

Kế đến, xem lại sự tu tập của mình nên sửa đổi như thế nào để giúp cho đường tu ngày càng tăng tiến hơn.

Nếu tu mà không “sửa”, không “hoán chuyển”, sẽ không được lợi ích và không tiến đạo, trước sau vẫn đứng dậm tại chỗ.

Phải cần để ý rất nhiều những Tánh tình thay đổi của mình. Dù là một điều nhỏ, một điểm nhỏ như một hạt bụi, nó cũng sẽ liên kết nhau thành một sợi giây dài không rời nhau. Nó đã kết chặt từ vô thỉ kiếp cho đến kiếp nầy và sẽ kết mãi cho đến những kiếp về sau. Vì thế, Ta cần phải “NHẪN”, phải “KIÊN TRÌ” để “SỬA” những “TÁNH” xấu đó trở thành thuần chân để hạp với những “TÂM” thiện vốn sẵn có của mình.

HỎI:

Tại sao có nhiều người tu hành tinh tiến, làm nhiều Phật sự, nhiều việc thiện, lại trì Chú rất lâu, niệm Phật cũng rất nhiều năm, nhưng Tánh tình ngày càng sân si, càng cố chấp, bảo thủ, tay vẫn cầm chuỗi niệm Phật mà dần dần đi vào đường tà lúc nào không hay biết ‌

ĐÁP:

Tuy có Tâm Tu hành, có Tâm muốn cầu được vãng sanh, trong cuộc sống cũng đã gặp quá nhiều gian khổ, nhưng cũng lại có quá nhiều “Tánh” xấu, Tánh sân, Tánh cố chấp, Tánh bảo thủ, Tánh hay nhìn vào “lỗi” của người và “tìm lỗi” của người để chỉ trích, nhiều hơn là nhìn vào lỗi của mình và nhận lỗi để sửa; cho nên việc tu tập vẫn không thể tiến triển như mình mong mỏi được.

Chúng sanh từ vô-thỉ kiếp trôi lăn trong vòng sanh tử luân hồi… mang chứa biết bao nhiêu là nghiệp quả, xấu có, tốt có, danh vọng càng cao, quyền càng nhiều thì nghiệp tạo ra càng lẫy lừng, dày đặc. Đời này nối tiếp đời kia, kiếp này qua thì kiếp kia tới, nghiệp quả chồng chất, sâu dày, muốn cạo rửa không phải là điều dễ dàng như người đời nghĩ.

Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật khi còn tại thế cũng đã rất ngậm ngùi trước nghiệp quả mà chúng sanh đã tạo ra không ngừng nghỉ. Đức A Di Đà Phật cũng đã tiếp tay cùng với chư Phật để tiếp rước chúng sanh có Tâm hướng thiện muốn thoát kiếp luân hồi, tìm đường giải thoát. Pháp môn Niệm Phật cầu được vãng sanh về miền Cực Lạc, do đây được đa số chúng sanh hưởng ứng và hành trì.

Qua nhiều tháng, nhiều năm và nhiều giai đoạn, trải qua bao nhiêu thăng trầm trong đạo Pháp, số người hành trì Pháp môn niệm Phật càng ngày càng gia tăng. Nhưng than ôi, con số chúng sanh thật sự vãng sanh về Cực Lạc đã không được xem là đáng kể, nếu không muốn nói là quá ít ỏi. Hòa Thượng Thích Thiền Tâm đã nhận biết ra rằng:

    Nếu chỉ thuần Niệm Phật, tức là chỉ nương vào Phật lực thì người tu sẽ không thể cất mình bay bổng được.

Vì sao ?

Vì những lý do sau đây:

1. Bảo Đăng đã đề cập ở đoạn trên, mỗi chúng sanh đều bị trì-trệ rất nặng bởi nghiệp quả, nó không khác gì hòn đá lớn. Chư Phật và Bồ Tát tình nguyện kéo mình lên, nhưng hòn đá cứ “trì” trở xuống. Hai lực trì kéo cứ đi ngược nhau mãi, mà chúng sanh thì “ù-lì” không tiếp sức với chư Phật và Bồ Tát để phóng mình lên, do đó không có cách gì Phật và Bồ Tát cứu độ cho hành giả (người tu) đó được.

2. Trong tiến trình “trả nghiệp” và “tạo nghiệp”, có biết bao nhiêu sự khó khăn, gian khổ và trắc trở xảy ra trong cuộc sống, cũng như trong đường đạo do nghiệp lực chiêu cảm, hành giả phải gánh chịu bao điều phiền muộn và bao cảnh trái lòng, khiến cho nghiệp dữ chỉ có tăng chớ không có giảm, lòng tin vào lời Phật dạy cũng từ đó mà từ từ biến mất hoặc giảm thiểu rất nhiều.

3. Do thiếu ý-thức về “nghiệp quả”, lại không tin nhận  được ý niệm “nhân” và “quả”, lại không đè nén được những tánh xấu, sân hận của mình để nó ngày càng bộc phát lên, nên cuối cùng để mặc cho “ma đưa lối quỷ dẫn đường, xăm xăm tìm chốn đoạn trường mà đi”.

Cục đá nghiệp quả vốn đã quá nặng, nay thì càng nặng hơn, khó lòng mà cất lên được. Miệng niệm Phật nhưng lòng niệm ma tà, vậy thử hỏi Phật nào đến rước, Bồ Tát nào đến cứu độ ‌. Hòa Thượng Đại Ninh Thích Thiền Tâm đã khẳng định rõ rằng:

Muốn niệm Phật có kết quả, an lành tới ngày cuối của cuộc đời có Phật, có Bồ Tát đến rước về Cực Lạc, người tu bắt buộc phải kiêm thêm trì-Chú !

Tại sao‌?

1. Vì câu Thần Chú có công năng rất thâm sâu, diệt nghiệp rất mạnh không thể nghĩ bàn. Đó là tâm ý của Phật và Bồ Tát gửi lại cho chúng sanh có duyên lớn trên con đường tìm cầu giải thoát. Các Ngài cũng biết sự gian nan khó nhọc trên bước đường tu tập và cũng hiểu rõ sự yếu đuối, nhu nhược của chúng sanh, e rằng khó lòng hoàn tất ý nguyện vãng sanh. Cho nên, chỉ cần ai biết “tận tâm”, “tận lực”, “tận cường” thì sự tu tập sẽ mang đến một kết quả vô cùng mỹ mãn ở phút lâm chung.

2. Câu Thần Chú được ví như vòi nước cực mạnh, đủ sức để đánh bật lên tất cả những cặn cáu bám cứng dưới đáy thùng nghiệp quả. Cặn cáu có tróc ra, thì cái thùng mới nhẹ đi được. Khi Phật, Bồ Tát kéo thùng lên, thì cái lực trì xuống cũng sẽ giảm đi rất nhiều. Khi đó chỉ cần chúng sanh nhún mình nhảy lên thì lo gì không bay bổng được.

3. Tuy nhiên để tiến tới kết quả trên, người tu cần phải hoàn tất hai công việc, đó là : “Rửa Tâm” và “Sửa Tánh”.

A. Thế nào là “Rửa Tâm” ‌

Người trì Chú sẽ nhiếp được THÂN, KHẨU, Ý bằng câu Thần Chú, từ từ sẽ định được tâm, không còn chạy vòng vo, tâm sẽ từ từ lắng động, các phương sáng rực lên, giúp soi thấu được Tâm mình để thấy đó là:

– Tâm tốt hay Tâm xấu,

– Tâm thiện hay Tâm ác,

– Tâm chánh hay Tâm tà.

Người đã sẵn có Tâm chân thật, hiền lành, chất phác, thì việc Rửa Tâm sẽ nhanh chóng hơn và mỗi khi trì Chú sẽ mau giúp cho thân tâm được an bình, nhẹ nhàng, phát sanh được thần lực cực mạnh, trong sáng, có khả năng đưa người trì Chú đi lên và dễ dàng giao cảm với Phật, Bồ Tát.

1. Thế nào là “sửaTánh” ‌

Người ta thường nói “cha mẹ sanh con, trời sanh tánh”. Thật sự ra, ông trời không có gán cho ai một cái tánh nào cả. Cái Tánh mà mình có ở hiện kiếp này là do :

1. Tập khí của đời trước (Thí dụ: trong tiền kiếp mình đã từng là một cấp chỉ huy rất độc tài, hoặc đánh đập người, thì trong hiện kiếp này mình sẽ có tánh sân hận, độc tài, ích kỷ, và cố chấp, nên ít thông cảm với người khác.)

2. Do nghiệp lực mình đã tạo ra trong tiền kiếp…

3. Do thói quen xấu lập đi lập lại nhiều lần rồi thành Tánh xấu, khó sửa đổi.

Dù được thành hình dưới dạng nào đi nữa, tánh vẫn là một gánh nặng lớn lao, một cục đá khổng lồ làm cản đi sự thăng hoa cho cả hai con đường Đời lẫn Đạo.

Cái “Tánh” cần sửa mà chúng ta đang đề cập nơi đây chính là Tánh cố chấp.

Người tu không thể nào niệm Phật có kết quả khi mà còn quá nhiều Tánh xấu trong người.

Như đã trình bày ở đoạn trên, nếu niệm Phật mà chỉ để trông nhờ vào tha lực của Phật A Di Đà kéo mình lên, còn cục đá khổng lồ (nhiều Tánh xấu) của mình cứ lôi mình xuống, như vậy thì làm sao Phật và Bồ Tát có thể kéo mình lên được ‌

Muốn có kết quả tốt trong việc niệm Phật, ngoài việc sửa Tánh xấu ra, cần phải trì Chú, dùng câu Thần Chú (Diệt tội) để “rửa Tâm” mình. “Lực” của Thần Chú cũng giống như sức mạnh của vòi nước, làm bật lên hết cặn cáu chồng chất từ nhiều đời, nhiều kiếp (của những tánh xấu), thùng nước vô-minh từ vô-thỉ kiếp đến nay, giờ được quấy đục, không thấy được một chút nước trong nào.

Đó chính là lúc mà người tu cảm giác nghiệp lực đổ ra, càng trì Chú càng bị khảo đảo, gặp nhiều trắc trở, khó-khăn trong cuộc sống và ngay cả trong đường đạo nữa. Đôi lúc ta chợt có ý tưởng là mình đang bị lừa gạt, đi vào một đường hầm không có lối thoát, đầu óc rất hoang mang, mờ mịt. Đúng vào thời điểm tranh tối tranh sáng đó, kẻ gian mới xuất hiện để tìm ra ai là người đang bỏ ngỏ, mở rộng cửa Tâm mà dễ dàng “thộp bắt” người đó.

Một lần nữa Bảo Đăng ân cần nhắc lại, chúng ta phải luôn ghi nhớ câu:

    Tu tập là phải “tận tâm”, “tận lực”, “tận cường”.

1. Phải “tận tâm” để trải tấm lòng luôn quy hướng về chư Phật và Bồ Tát trong bất cứ hoàn cảnh nào, trong bất cứ tình trạng nào, vẫn luôn luôn nguyện cầu được vãng sanh Cực Lạc, đừng bao giờ quên.

2. Phải “tận lực” để chứng minh với chư Phật và Bồ Tát là mình trọn lòng tu tập, dốc hết toàn lực, toàn sức để uống từng lời Kinh, ngậm từng lời Chú cho xứng đáng với lòng mong mỏi của các đấng Từ Bi.

3. Phải “tận cường” để mang hết sức mạnh tiềm ẩn trong thân xác, trong tâm linh mà chiến đấu, phá ma quân, đặc biệt là ma của chính bản thân mình  (cũng chính là nói những Tánh xấu trong con người mình). Cường lực đó cũng phải đủ mạnh để ngăn chận sự tấn công ồ ạt của ma quân trong thiên hạ nữa.

Trước cứu mình, sau cứu người, đó vẫn luôn luôn là bản hoài của chư Phật và chư đại Bồ Tát.

Một khi đã thực hành đúng với câu : “tận tâm”, “tận lực”, “tận cường” thì tức khắc Tâm mình sẽ lắng động, càng trì Chú liên tục với tất cả sự dũng mãnh, không sợ sệt, không lo-âu, không nghi ngờ, không phân biệt, thì những khó khăn khảo đảo sẽ lần lượt bị đẩy lui, hành giả sẽ từ từ tìm lại sự an bình, tự tại. Thùng nước vô-minh kia từ từ được lọc sạch, những nước dơ đã từ từ tràn được ra ngoài.

Giai đoạn “Rửa Tâm” đã xong, giờ thì bước qua gia đoạn “Sửa Tánh.

Nên nhớ rằng:

Tánh là chìa khóa để mở cửa Tâm.

1. Tánh ích kỷ, bỏn xẻn sẽ mở Tâm hẹp hòi, tham lam…

2. Tánh càu nhàu, lầu bầu, khó chịu, sẽ mở Tâm sân, Tâm hận, Tâm cố chấp…

3. Tánh hay ganh tỵ, đố kỵ sẽ mở Tâm ghen ghét, mong cầu., v.v…

Tâm và Tánh không bao giờ có thể tách rời nhau, có thể được ví như nước với bọt vậy.

Tánh không phải chỉ sửa qua loa, cho lấy lệ, mà phải sửa thật kỹ càng, như đang thêu từng hạt bụi nhỏ ! Đừng khi thị những hạt bụi nhỏ ấy, vì từng hạt bụi sẽ kết thành hạt cát, từng hạt cát kết thành hạt sỏi nhỏ, từng hạt sỏi nhỏ sẽ lớn dần thành viên đá nhỏ, từng viên đá nhỏ kết chặt thành viên đá lớn và rồi một lúc nào mình không hay, viên đá đó đã trở thành cục đá to, sức nặng trăm cân, ngàn cân, kéo cuộc đời mình chìm xuống hố sâu, vực thẳm … Lúc đó thật đáng tiếc !

Tánh được sửa, được trau chuốt thì tâm cũng sẽ được sáng hẳn lên. Tâm có trong sáng thì cuộc sống tâm linh mới có cơ hội thăng hoa và sự cảm ứng đạo giao với các đấng Từ Bi không còn là chuyện không tưởng nữa.

“Trì Chú” là mong mỏi được hưởng trọn vẹn “tâm-ý” của chư Phật và Bồ Tát, do đó nếu Tâm bị lu mờ, Tánh tình loạn động, xấu ác và cố chấp thì làm sao giao cảm với các đấng Từ Bi‌

Tâm đã sáng tỏ, Tánh ý được bình lặng, việc niệm Phật sẽ ít bị mọi chướng ngại, con đường vãng sanh sẽ bớt nhiều chướng duyên, hành giả có thể an nhiên tự tại thẳng tiến trên bước đường giải thoát.

Tóm lại,

Những Phật tử đang trì Chú phải ghi nhớ rằng:

– Câu Thần Chú có công năng rất là thâm sâu, và diệt nghiệp mạnh không thể nghĩ bàn. Thần lực của Chú sẽ giúp cho người trì Chú “rửa Tâm, rửa Tánh” một cách cực mạnh. Nhưng nếu không biết xử dụng Thần Chú đúng pháp, thì cũng giống như con dao 2 lưỡi, có thể làm tánh của mình trở thành tốt hoặc xấu.

Ví dụ:

– Nếu như người có Tánh tốt, Tâm chân thật, mỗi khi trì Chú sẽ giúp rửa hết nghiệp tội một cách nhanh chóng, giúp cho thân tâm luôn được an bình, nhẹ nhàng, và phát sanh ra được thần lực cực mạnh, trong sáng, có khả năng đưa người trì Chú đi lên một cách nhẹ nhàng, và bay thẳng đến đất Phật.

– Còn người có những Tánh xấu, cố chấp quá nặng mà trì Chú, thì làm cho những Tánh xấu (tiềm ẩn tận đáy lòng) bùng lên, lộ hết ra cũng thật nhanh chóng, đưa người đi ngược lại và bay thẳng xuống vực sâu, nhất là cái sức hút (chiêu cảm) với phần vong linh một cách cực mạnh. Cho nên đa phần những người đang tu hành đều bị phần âm dựa, nhập dễ dàng là như vậy.

– Chứ không phải vì trì chú mà bị bịnh, bị điên khùng đâu !

Muốn được vãng sanh, muốn về đất Phật, muốn được thành Phật và muốn cứu độ chúng sanh, trước tiên phải cứu độ chúng sanh của tự bản thân, được rồi mới có thể giúp được những chúng sanh khác.

Vòi nước cực mạnh của câu Thần Chú có năng lực làm tróc ra được những lớp cặn cáu đóng cứng và dầy đặc nằm tận đáy thùng của Tâm đã từ vô-thỉ kiếp cho mãi đến kiếp nầy, trải qua gần hết đời người, cũng chưa hề được xúc hoặc rửa sạch bao giờ.

Sau khi những lớp “cặn cáu” (dơ thối) được tróc hết lên rồi, cần phải an nhẫn, phải nhịn và phải chịu nhục (vì dơ thối nên bị người đời cười chê, chỉ trích v.v… cũng giống như nghiệp nạn của Thầy Thích Hải Quang vậy), cứ an nhẫn mà tu tập (trì Chú cho thật mạnh, thật chuyên cần) để những lớp dơ, đục, cặn cáu đó tiếp tục tràn hết ra ngoài… Từ từ rồi sẽ thấy nước trở nên trong hơn… đến ngày cuối của cuộc đời, sẽ được nghiệp dứt, tình không, tâm thể nhẹ nhàng, trong sáng. Chừng đó đới nghiệp vãng sanh về cõi Phật dễ dàng (đôi khi không cần phải được hộ niệm!).

Giai đoạn kế tiếp là:

– Sau khi được vãng sanh về đất Phật rồi, cũng còn phải tu tập “hạnh Bồ Tát” để thành một vị Bồ Tát (ngang hàng với Bát địa Bồ tát) ở Cực Lạc. Vị Bồ Tát đó sẽ tu tập tiếp để lên được “Nhất sanh bổ xứ” (như đức Bồ Tát Di Lặc vậy).

Đây ý nói là:

– Chúng sanh chúng ta đang tu tập, cần phải tẩy hết những lớp cặn cáu dầy cộm, dơ thối đóng ở phía trên được rồi.

Kế đến:

– Cần phải tẩy hết lớp nhờn mỏng còn dính sát tận đáy thùng của Tâm mình mà khó thể thấy được, phải lấy tay sờ vào tận đáy thùng mới nhận thấy được.

– Cũng giống như sau khi tu tập được thành Bồ Tát rồi, cũng phải còn tu tập (thử thách) để tẩy một lớp “vô-minh” mỏng cuối cùng trước khi thành Phật vậy.

Hễ thùng quá cao, quá to, quá rộng, quá sâu, thì phải cần tẩy nhiều tháng, nhiều năm, có khi phải trải qua vô-thỉ kiếp tu hành mới có thể tẩy sạch hết hoàn toàn được.

Người có Tâm trong sạch, có Tánh chân thật, hiền lành, chất phác, lại siêng cần tu Tâm và sửa Tánh, chuyên tâm ẩn nhẫn mà trì Chú, niệm Phật – dần dần sẽ phát sanh trí huệ, mới phân biệt được chánh tà, đường tu tập mới rõ-ràng, Tâm mới thật sự trong sáng, mới có năng lực thẳng tiến đến bờ giải thoát được.

Chứ không nên để Tâm lâm vào trong cảnh một bên sáng, một bên tối, mù mờ không biết chọn lựa đường nào để đi (nghĩa là chánh không ra chánh, tà không ra tà, nay tu pháp môn nầy, mai tu theo pháp môn khác, thấy ai giảng nghe êm tai thì bỏ nơi nầy, theo nơi kia, suốt cuộc đời cứ quanh quẩn chạy theo cái danh, cái lợi v.v….). khi màn đêm buông xuống sẽ không còn thấy được rõ ràng, tối không ra tối, sáng không ra sáng, tối không đủ tối, sáng không đủ sáng, cái tối đó chạng vạng cũng đủ cho kẻ gian nhìn thấy được mình không biết rõ đường, đang mò-mẫm mà đi, chúng (người tà ác, kẻ chết vất vưởng, ma quỷ đầy đường) sẽ xông vào nắm lấy tay ta mà đưa lối, dẫn đường, chỉ dạy cho ta gây tạo nhiều điều tội ác, có khi còn lâm vào trong cảnh một tay cầm chuỗi, miệng niệm Phật, một tay cầm dao giết Phật, diệt Pháp.

Những cảnh tượng nầy hiện đang xảy ra khắp nơi trên thế giới một cách trầm trọng, khó thể cứu giải được. Chư Phật, chư đại Bồ Tát, chư Tổ sư chỉ biết đứng nhìn mà rơi lệ…!

Cho nên, Phải luôn đề phòng những TÁNH (nói trên) của mình phát khởi ra (xấu hay tốt) một cách cẩn thận, đừng để lâm vào trong cảnh:

Ma đưa lối, Quỷ dẫn đường,

Xâm xâm tìm chốn đoạn trường mà đi !

Mặc dù Thầy Bổn sư đã về với Phật để sớm cứu độ chúng sanh trong nạn Thiên tai sắp đến, Pháp Hoa Tự vẫn tiếp nối con đường tu tập, hoằng truyền Mật Tịnh pháp môn mà Thầy Thích Hải Quang và Sư tổ Đại Ninh Thích Thiền Tâm đã để lại, khai triển rộng ra thêm nữa và làm cho cái pháp Mật Tịnh song tu nầy lan xa; hầu giúp những người có duyên lành, đang bị lâm vào trong cảnh “Tu mà không có Sư thừa” (không có Thầy chỉ dẫn đúng pháp), lang thang giữa ngã ba đường, mù-mịt không biết đâu chánh, đâu tà, không biết pháp nào nên tu, pháp nào nên bỏ, pháp nào làm chánh, pháp nào làm phụ v.v… thành ra tu hoài mà không đạt được kết quả chi hết.

Trước Tam Bảo chứng minh, Bảo Đăng xin nguyện đem hết tâm lực, sự tu tập và học hiểu, nhất là những kinh nghiệm mà suốt gần 30 năm hoằng dương pháp môn Mật Tịnh khai triển và phổ biến rộng ra, hầu giúp những ai hữu duyên hóa giải nạn tai, nghiệp lực, thoát khỏi Ma nạn, bảo hộ thân huệ mạng và an lành tu tập đến ngày giải thoát.

Bảo Đăng rất mừng khi được biết một số huynh đệ, Phật tử vẫn trung kiên chí-thành, không bỏ trì Chú, niệm Phật. Mặc dù đã bị rất nhiều sự thử thách, khảo đảo, mất mát từ trong gia đình cho đến ngoài xã-hội, bạn bè, và môi trường chung quanh đã làm cho thối chí, nản lòng, mà Tâm của những huynh đệ đó vẫn một lòng kiên cố, quy tụ về chùa tu tập để giúp cho pháp sự của Liên Hoa Thắng Hội Đạo Tràng tại Pháp Hoa Tự này vẫn được tiếp nối, lưu truyền.

Tổ sư có dạy:

Thuốc không  kêu cho,

Pháp chẳng khinh truyền (phải cầu học mới dạy).

Để đáp lại tấm lòng kiên trì đó, Bảo Đăng sẽ chỉ dẫn lại phương cách tu tập đúng pháp, để giúp cho huynh đệ thành tựu được “Tâm lực, Trí lực, Thần lực” của mình hầu giúp cho bản thân, cho gia đình và những người chung quanh đều được sự lợi-ích.

Cho nên, suốt một năm qua Bảo Đăng đã khai mở chương trình tu học từ thấp lên cao cho những ai hữu duyên muốn tu theo pháp môn Mật Tịnh, như sau:

Cấp 1 (sơ cơ) gồm có :

1. Trả lời câu hỏi giáo lý căn bản (mà mình đang tu tập).

2. Trước hết phải sửa đổi Tâm cố chấp, Tâm sân hận, Tâm thương ghét, đúng sai… Sửa những Tánh xấu, Tánh tham,…nhất là những Tánh ganh tỵ, đố kỵ, Tánh hay tìm lỗi người. v.v….

3. Chỉ dẫn ấn, Chú đúng pháp.

4. Chỉ dẫn cách quán tưởng (cho có kết quả)

5. Chỉ dẫn cách trích máu tả Kinh (giúp tiêu trừ nghiệp nạn).

6. Đọc những Kinh sách (được chỉ dẫn), và sẽ ôn lại, và thực tập ngay tại đạo tràng những gì đã chỉ dạy trong Kinh sách đó.

Cấp 2 (trung cấp) gồm có:

1. Thành tựu được cách quán tưởng…

2. Sửa được Tâm, rửa được những Tánh xấu rồi (đậu cấp một).

3. Trì-Chú đã có được chút Thần lực rồi.

4. Sẽ chỉ cách kiết giới.

5. Chỉ cách vận dụng thần lực và phát huy ra thần lực.

6. Thực tập trì Chú, quán tưởng để đưa thần lực vô mền, vô nước và bất cứ chỗ nào mình muốn.

7. Thực tập dùng thần lực trị bịnh cho mình, và cách tẩy độc (tà khí) trong thân thể, bệnh tứ đại và bệnh nghiệp.

8. Trích máu tả Kinh (tiếp theo)

9. Đọc Kinh sách, ôn bài và nhiều thử thách kế tiếp.

Cấp 3 (cao cấp) gồm có : (Phải đậu cấp 1, cấp 2)

1. Thực tập cách trị bệnh cho người khác, mà không cần phải đụng vào người họ.

2. Thực tập phương cách vận dụng thần lực lan ra xa để “hóa giải nạn Thiên tai” chẳng may kéo đến cho những người chung quanh, mà không cần đi tới nơi.

3. Thực tập cách nhận biết, cảm biết, và thấy biết những vật thể, hoặc vô-hình đang đứng chung quanh ta. Để biết rõ người chánh hay tà, Ma, Quỷ, hay thú Tinh đến quấy phá, rình rập v.v… Và thực tập cách “siêu độ” cho những vong linh (có căn lành cần được giúp cho siêu thoát kiếp Ma được thăng Thiên hoặc được đầu thai).

4. Thực tập để thành tựu được pháp thân (biến thành ngàn tay, ngàn mắt như pháp thân của đức Quán Thế-Âm Bồ Tát) và cảm ứng đạo giao với Ngài.

5. Trích máu tả Kinh đại thừa (tiếp theo).

6. Và sẽ trải qua nhiều thử thách, khảo đảo không ngừng, tập giữ Tâm an tịnh và bất động.

Tuy thân xác còn ở Ta bà, nhưng nếu có được cái Tâm kiên cố, trong sạch và ẩn nhẫn tu tập thì thần thức đã ngự Liên Hoa ở Cực Lạc rồi vậy.

Tu tập đạt được hết 3 phần trên, mới có gần đủ khả năng phụ với BỒ TÁT cứu độ chúng sanh. Bảo Đăng cần thêm nhiều người có TÂM (lớn), có TÁNH (tốt), có LỰC (mạnh), và có chí khí vững bền, để phụ làm Phật sự, khai triển rộng thêm 2 pháp môn Mật Tông và Tịnh Độ.

Vì BỒ TÁT cần phải mượn thêm tay người (có đạo Tâm) để cứu người. Sống ngày nào ta nên lập công với Phật, với Bồ Tát. Khi lâm chung trực chỉ Tây Phương, kim đài thượng phẩm đã sẵn dành cho chúng ta vậy…!

Chương trình tu học cho cấp một (căn bản) trong mỗi kỳ Bát Quan Trai có đăng trên trang mạng (website) của chùa. Quý-vị nào muốn tham gia, xin gọi về chùa ngày Chủ Nhật để ghi danh trước, vì số người đến tham dự khóa tu học có giới hạn (Bảo Đăng chỉ nhận 10 người mới cho mỗi khóa tu).

Mỗi cấp đều phải “thi tuyển” (để được chỉ dạy tu tiến cao hơn) vì Bảo Đăng muốn giúp cho Phật tử tu tập để đạt được cái “Tâm trong sáng”, niệm Phật được “nhất tâm” (không bị tán loạn), đạt được “Tâm lực, Trí lực, Thần lực” và thành tựu được Pháp thân (của Bồ Tát). Tốt nghiệp Phật trường, mới có đủ khả năng tự độ cho mình cùng phụ tay với chư Phật, chư Bồ Tát để cứu độ người có căn lành, có đại duyên với Phật và có đại tâm cần cầu giải thoát.

Bảo Đăng thành tâm mong mỏi chư vị đồng tu có tâm chân thật tu hành, mau biết hồi tâm thức tỉnh, rồi y theo pháp môn “MẬT TỊNH” do cố Hòa Thượng Đại Ninh THÍCH THIỀN TÂM khai sáng mà nhất dạ hành trì, để bảo đảm cho bước đường “giải thoát” và “vãng sanh” ngay trong đời này.

– Thân người khó được, đời người ngắn ngủi, Phật pháp khó được nghe, chết đi không đem theo được gì.

Nếu biết vậy, ngay từ bây giờ ta phải ráng hết sức tu (theo Phật) và giữ tâm cho hợp với đạo đức và hợp với tâm PHẬT, TRÌ CHÚ, NIỆM PHẬT, SÁM HỐI diệt tội cho thật dõng mãnh.

Được vậy, thì dù cho NGHIỆP nặng cách mấy cũng chuyển thành ra BẤT ĐỊNH NGHIỆP. Phải chịu nhẫn, phải chịu nhục, phải kiên trì, thì từ từ mây tan, vầng nguyệt rạng. Tội diệt rồi, phước lành tự nhiên tăng trưởng, lâm chung mới mong có được chánh niệm và vãng sanh Cực Lạc Quốc.

Ta nay may mắn có được thân người, lại được nghe đến Pháp môn Mật Tịnh hy hữu này, thì còn chờ gì nữa mà không phát tâm tu hành ‌!

Nếu để lỡ cơ hội ngàn vàng này, thì biết đến đời nào, kiếp nào mới có duyên gặp lại được. Lúc đó ân hận, âu cũng đã quá muộn !

Bảo Đăng khuyên nhắc người liên hữu,
Chớ có tham, dành, giữ phận ta.
Muốn sanh Thiên, về miền Cực lạc,
Giữ tâm chơn, nhất dạ tu hành.
Miệng niệm Phật, Tâm phải “quán” Phật,
Nếu “quán” sai, hồn vía sẽ phai.
Thân người mất, khó mà lấy lại,
Tâm có Phật, thành Phật chẳng sai.

(Phụ giảng:

Chữ “QUÁN” ở đây nói rộng ra là lúc nào cũng tưởng nhớ tới Phật (không nhớ gì khác), tin lời Phật dạy mà thôi (không tin ai khác), “quán” có Phật, có Bồ Tát như đang đứng trước mặt mình vậy, mà không nên “quán” gì khác.

Mỗi khi cất tiếng niệm Phật, lập tức hình ảnh của Phật liền hiện đầy ra trong tâm thức của mình, dần dần “Tứ vô lượng tâm”(từ, bi, hỷ, xả) của Phật sẽ phát sanh.

Niệm đức Quán Thế-Âm Bồ Tát, luôn “quán” thấy Bồ Tát hiện rõ trong tâm, “hạnh Bồ Tát” cũng phát khởi từ từ. Ngày lâm chung sẽ được cảm ứng đạo giao, mới bảo đảm có Phật và Bồ Tát đến tiếp dẫn vãng sanh Cực lạc quốc.

Vì thế, chúng ta nên thường xuyên “kiểm tâm” mình cho thật kỹ, QUÁN xem Phật và Bồ Tát hiện đang ngự ở đâu ‌

Trong tâm thức của ta, hay đang bị ta bỏ quên ở ngoài sa mạc, ngoài xa lộ, biển cả hay rừng sâu, hoặc trên núi tuyết lạnh ‌‌

Nam mô A DI ĐÀ PHẬT.

Việc Phật sự nầy, nếu như có tạo được chút ít phước đức căn lành chi, Bảo Đăng xin nhất tâm hồi hướng vãng sanh cùng trang nghiêm Tịnh Độ khắp đến cho Tứ-ân, Tam hữu và tất cả chúng sanh trong pháp giới hữu tình sớm biết tu sửa Tâm, Tánh, xa lìa tất cả khổ, đồng phát tâm Bồ Đề, tu Bồ Tát hạnh để phụ thêm tay với Phật, Bồ Tát QUÁN THẾ-ÂM cứu độ thân nhân, và những chúng sanh hữu duyên đang sống trong cảnh điên đảo, mê-lầm, đứng giữa ngã ba đường nửa tối nửa sáng, tâm trí mù-mờ không biết chắc chắn ngã nào dẫn tới cõi Người, cõi Trời, và cõi Cực Lạc !

Nam Mô A DI ĐÀ PHẬT tác đại chứng minh.

Ưu bà-di Bồ tát giới Bảo Đăng

(Cẩn chí)

Print Friendly, PDF & Email
Did you find apk for android? You can find new Free Android Games and apps.