Want create site? Find Free WordPress Themes and plugins.

NHẤT THIẾT ÂM NGHĨA KINH

Sa-môn Tuệ Lâm đời Đường soạn
Việt dịch: Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh
Hội Văn Hóa Giáo Dục Linh Sơn Đài Bắc Xuất Bản

 

QUYỂN 98

– Âm Quảng Hoằng Tập Âm quyển trung. Từ quyển thứ mười ba cho đến hết quyển thứ (91) hai mươi ba. Tất cả quyển mười một.

ÂM QUẢNG HOẰNG MINH TẬP

QUYỂN 13

Nhu đẳng âm nhu trửu.

Vân túy âm tình túy sách Chu Dịch nói rằng: Túy đó là tụ hợp lại, sách Thuyết Văn viết từ bộ thảo thanh túy.

Chủng trinh âm tri doanh Thiên Thương Hiệt cho rằng: Trinh là tốt lành, sách Thuyết Văn nói: Điềm kiết tường, chữ viết từ bộ thị thanh trinh.

Oa thủy ngược lại âm quả hòa sách Khảo Thanh cho rằng: Tên của dòng sông.

Huân chúc âm trên hứa vân âm dưới chung chúc sách Khảo Thanh cho rằng: Tên riêng của bọn hung nợ, xem trước đã giải thích rồi.

Thái sử đảm ngược lại âm đức cam tên người.

Nô dữ ký túc âm trên nợ hồ Cố Dã Dương nói: Trong sáu loại ngựa, nô là con ngựa tồi, thấp kém âm dưới ky nghị sách Thuyết Văn nói: Ký là con ngựa chạy ngàn dặm, chữ viết từ bộ mã đều thanh ký nô.

Cam tiệp âm trên cam ám sách Thuyết Văn nói: Màu xanh đậm mà pha màu đỏ vào, thành cam, chữ viết từ bộ mịch thanh cam âm dưới tiềm diệp sách Thuyết Văn nói: Lông mi mắt, hoặc là viết từ bộ hiệp viết thành chữ tiệp Thích Danh viết chữ tiệp.

Mong kỳ trong tập Tào Thực chú giải: Trên mặt của Khổng Tử buông xa xăm. Mong kỳ, kiểm lại các Tự Thư không có chữ này, chưa rõ âm nghĩa.

Đoạn âm Tào Thực chú giải Bổn Truyện rằng: Chu Công giống như đoạn âm Tự Thư nói: cũng không có chữ này.

Mảnh thủ ngược lại âm túc du Vương Dật chú giải sách Sở Từ rằng: Thú là người con gái đẹp, sách Thuyết Văn viết từ bộ nữ thanh thủ.

Long liêm tên họ người, chưa rõ âm này.

Cẩu cứ hồ tôn âm cứ là âm cư ngự âm dưới tồn côn sách Thuyết Văn nói: Cứ cũng là tôn tức là ngồi xổm, theo hai chữ hỗ tương với nhau mà giải thích, đều từ bộ túc đều thanh cư tôn.

Kim điếu ngược lại âm điểu liễu Hán Thư giải thích rằng: Lông chồn màu vàng, gần giống như con ve lột xác vỏ, sách Thuyết Văn viết từ bộ trĩ thanh chiêu âm trĩ ngược lại âm trực lý.

Tiều dã âm tật yêu Đỗ Dự chú giải Tả Truyện rằng: Tiều là củi, sách Thuyết Văn viết thành bộ mộc thanh tiêu Bổn Tập viết viết từ bộ thảo viết thành chữ tiều là chẳng phải.

Huệ đối âm huề khuê Quảng Nhã giải thích rằng: Huệ là cỏ màu xanh trổ hoa màu tím. Kinh Sơn Hải nói: Núi Thiên Đế có hai loại hoa này, dưới có nhiều hoa huệ. Quách Phác giải thích: Huệ là loài cỏ thơm, Văn Tự Điển nói: Chữ viết từ bộ thảo thanh huệ.

Khái xỉ âm kham hạp sách Thuyết Văn viết từ bộ thạch thanh hạp âm hạp ngược lại âm hồ lạp từ bộ đại đến bộ đầu bộ mãnh đến bộ khứ viết thành chữ khái đó là sai.

Phất linh ngược lại âm lịch đinh Thiên Thương Hiệt cho rằng: Linh là lắng tai nghe. Sách Thuyết Văn viết từ bộ nhĩ thanh lịnh.

Án lung ngược lại âm ấp kim sách Thuyết Văn nói: Chữ ám là không thể nói: chữ viết từ bộ tật thanh ám.

Vựng khuy âm vân huấn sách Thuyết Văn nói: Vựng gọi là quầng sáng quanh mặt trằng: mặt trời. Sách Thuyết Văn viết từ bộ bộ nhật thanh quân.

Khi quyết âm trên cơ nghi âm dưới quyến nguyệt Vương Dật chú giải sách Sở Từ rằng: Khỉ quyết là dao điêu khắc, chạm trổ, sách Thuyết Văn nói: Mũi dao cong dùng cho điêu khắc, đều từ bộ đao đều thanh quyết ky hoặc là viết từ bộ quật viết thành chữ quyết.

Tiên ốc âm trên tô điển Quách Phác chú giải sách Nhĩ Nhã rằng: Tức là kim loại có ánh sáng lấp lánh, âm dưới ô cốc Mao Thi Truyện nói: Ốc là vàng mạ bạc, loại bạch kim, đều từ bộ kim đều thanh tiển ốc đồng với âm trên.

Hộ độc âm hồ cổ sách Khảo Thanh cho rằng: Tên của dòng sông, kinh Sơn Hải nói rằng: Núi Dương Hư đến sông Huyền Lộ. Xưa nay Chánh Tự viết từ bộ thủy thanh hộ.

Lan trứu âm lãn đan theo thời nay gọi là lan can hàng rào, Bổn Tập viết từ bộ mộc viết thành chữ lan sách Khảo Thanh nói: Lan tên cây, chẳng phải nghĩa này, âm dưới trắc cứu sách Thuyết Văn nói: Trứu là gạch ngói xây giếng chữ viết từ bộ ngõa thanh thu âm bích là âm bình lịch Quách Phác chú giải sách Nhĩ Nhã rằng: Bích gọi là gạch chưa nung.

Cơ cứ âm trên ký nghi âm dưới cư ngự sách Trang Tử nói: Ngồi trên cái mẹt vuông, cái chậu, cái trống Cố Dã Vương nói: Gọi là ngồi kiểu vẽ kiêu ngạo, sách Lễ Ký nói: Không được ngồi trên cái mẹt. Trịnh Huyền nói: Gọi là không cung kính, sách Thuyết Văn viết từ bộ trúc thanh kỳ Bổn tập viết từ bộ trúc viết thành chữ cơ là chẳng phải.

Biển tức âm trên biến miên âm dưới là phúc sách Thuyết Văn nói: Biển bức tức là con dơi, nằm bằng hai cánh, đều từ bộ trùng đều thanh biển tức.

Cơ nhậm âm nhậm ấm sách Khảo Thanh nói: Cái máy dệt tơ lụa Đỗ Dự chú giải Tả Truyện rằng: Dệt sợi thành tơ lụa, dệt vải bố gai, sách Thuyết Văn nói: Sợi chỉ trên cái máy dệt, chữ nhậm hoặc là viết chữ nhậm.

Giảng địa âm giang hạng sách Khảo Thanh cho rằng: Giang gọi là cày ruộng. Xưa nay Chánh Tự viết từ bộ lỗi thanh giảng âm lỗi là âm lôi chữ giảng từ bộ ngôn thanh tĩnh.

Thuật tâm âm xuân luật Cố Dã Vương nói: Phục giống như buồn rầu lo lắng, đâu thương, sầu khổ, sách Thuyết Văn viết từ bộ tâm thanh thuật.

Ly châu âm lý tri sách Trang Tử nói: Phàm hạt châu giá trị ngàn vàng, tưc trong chín tầng sâu thẳm nơi miệng con rồng, ngậm trong họng, nếu muốn được hạt châu này, phải đợi con rồng ngũ, nếu như con rồng tỉnh giấc ngũ là không thể được, sách Thuyết Văn viết từ bộ mã thanh ly.

Tam tập ngược lại âm tầm lập sách Nhĩ Nhã cho rằng: Ba núi kề cập bên nhau. Quách Phác nói: Tập cũng là áo nhiều lớp.

Nhu viện âm trên nô đao âm dưới viên Mao Thi Truyện nói rằng: Nhu cũng là viên, thuộc giống khỉ, vượn Quách Phác giải thích kinh Sơn Hải rằng: Giống như loài khỉ, mà cánh tay nó dài tiện việc nắm bắt. Có màu lông vàng và đen, khỉ lông vàng đó tiếng nó kêu rất lớn. Có vẽ áo não sầu khổ, sách Thuyết Văn đều từ bộ khuyển đều thanh nhu viện.

Nghệ dã âm ngư duệ xưa nay Chánh Tự cho rằng: Nghệ là giống cây, trồng cây trồng hoa, chữ viết từ bộ thảo thanh chấp.

Đạo âu âm ô hầu sách Thuyết Văn nói: Âu ca, hát ca hoặc là viết từ bộ ngôn viết thành chữ âu hoặc từ bô khẩu viết thành chữ âu.

Thềm đăng âm đắc hằng Giả Quỳ chú giải sách Quốc Ngữ rằng: Đăng là dụng cụ che mưa. Sử Ký Âm Nghĩa nói rằng: Đăng là cái nón có tay cầm, nay gọi là cây dù, sách Khảo Thanh nói: Bện trúc làm cây dù, sách Thuyết Văn nói: Đăng là cây dù, chữ viết là từ bộ trúc thanh đăng.

Địa phái âm phi phệ sách Quốc Ngữ nói: Lấy đất làm bực thềm đi lên Giã Quỳ giải thích rằng: Mạch máu quan hệ giữa bệnh và nhịp đập của mạch, hoặc là viết chữ phái lại viết chữ phái Bổn Tập viết từ bộ nhục viết thành chữ phái là không có chữ này.

Đố mộc âm đô cố sách Thuyết Văn trong cây có con mọt ăn, từ bộ cân bộ thác thanh tĩnh âm thác âm tha các Đàm Trưởng hoặc viết chữ đố giống như sâu mọt trong cây, chữ tượng hình.

Phân thữ âm phù phân Quách Phác chú giải sách Nhĩ Nhã rằng: Con chuột đi trên lưng con trâu. Sách Thuyết Văn nói: trăm lao nhọc chỗ hóa thân từ bộ thử thanh phân.

Tệ chim âm để chiêm sách Nhĩ Nhã cho rằng: Áo che phía trước gọi là chiêm Quách Phác giải thích: Tức nay người ta nói: áo che tới đầu gối. Sách Thuyết Văn viết từ bộ y thanh chiêm.

Chi lục âm long xúc theo chữ lục đó là tên loại sách. Đạo gia tam đồng lục.

Biến tri âm trên thất miên âm dưới tỳ di sách Phương Ngôn nói: Biên cũng là ty Cố Dã Vương nói: Như nay là Biên tướng quân, sách Thuyết Văn nói: Biên từ bộ nhân đến thanh biến ty từ bộ y thanh ty âm biên ngược lại âm biên điển Bổn tập viết từ bộ mịch viết thành chữ biên gọi là dệt xâu các thẻ tre, chẳng phải nghĩa này.

Tuyền ky âm tùy duyên âm kỹ nghi Khổng An Quốc chú giải sách Thượng Thư rằng: Tuyền là viên ngọc đẹp, ky là ngọc ngang, chính là dụng cụ thiên văn thời xưa. Vận chuyển xoay hướng, sách Thuyết Văn đều viết từ bộ ngọc đều thanh tuyền ky âm tuyền ngược lại âm duyệt tuế Bột tập viết chữ diên Khảo Thanh cho rằng: thuộc đá chẳng phải nghĩa này.

Sàn nhiên âm tử tiên Vi Thiện chú giải sách Sử Ký rằng: Sàn là thận trọng, nhân nghĩa, sách Thuyết Văn cũng nói rằng: Cẩn thận hoặc viết từ ba bộ tử viết thành chữ sàn.

Kình nghị âm trên cực nghinh sách Chu Lễ nói rằng: Kình là một hình phạt ngày xưa, khắc vào mặt lấy mực bôi lên, sách Khảo Thanh nói: Như nay người ta ấn vào, đóng dấu, sách Thuyết Văn nói: Khắc mực lên mặt, từ bộ hắc thanh kinh sách Khảo Thanh hoặc viết chữ kình Bổn tập viết từ bộ đao viết thành chữ lượt âm lượng lượt giống như đoạt lấy, chẳng phải nghĩa này, âm dưới ngư ký Trịnh Huyền chú giải sách Chu Lễ rằng: Nghi gọi là xẻo mũi, sách Thuyết Văn nói: Khoét mũi, hoặc là viết từ bộ nghiệt viết thành chữ nghị âm khiết.

Kiêu túc âm liều yêu Vương Dật chú giải sách Sở Từ rằng: Kiêu là giơ lên. Bộ tập viết từ bộ mịch viết thành chữ kiêu ngược lại âm ký yêu sách Khảo Thanh cho rằng: Gọi là tơ mịn chưa rõ nghĩa này.

Tư ngạn âm ngôn kiện Tả Truyện nói: Đời Chu có lời nói: được lưu truyền Khảo Thanh nói: Truyện cổ ngữ, truyền lời nói: của ngàn xưa. Sách Thuyết Văn nói: Truyền lời nói:, lưu truyền chữ viết từ bộ ngôn thanh ngạn từ bộ văn thanh hán âm văn là âm văn âm hán là âm hán Bổn tập viết từ bộ khẩu viết thành chữ ngạn là chẳng phải, ngạn từ bộ lập viết thành chữ ngạn tục dùng thông dụng.

Khị vũ âm trên mị bi âm dưới vũ phu kinh Sơn Hải nói: Núi Động Đình có nhiều loại rau này. Quách Phác chú giải rằng: Loại cỏ thơm, giống như con rắn nằm trên giường, lại gọi là sông Ly Giang cỏ này vốn gọi là cung giống mạ nạn. Sách Thuyết Văn đều viết từ bộ thảo đều thanh mị vô.

Phẩu ích âm trên phổ khẩu Khổng An Quốc chú giải sách Thượng Thư rằng: Phẩu là phá ra, phanh ra, Đỗ Dự chú giải Tả Truyện rằng: Phân trong ra là phẩu Thiên Thương Hiệt cho rằng: Phẩu cũng là tích sách Thuyết Văn nói: Tích là phanh ra từ bộ đao thanh phẩu âm phẩu ngượclại âm tjhổ khẩu âm dưới tinh trách Khổng An Quốc chú giải sách Thượng Thư rằng: Phân tích Thanh Loại nói rằng: Tích là mổ xẻ, tách ra, sách Thuyết Văn nói: Phá cây ra, tức bổ cây ra, từ bộ mộc thanh cân hoặc là viết chữ tích.

Đại nạo ngược lại âm nữ giảo Thế Bổn cho rằng: Đại nao là quấy rối, nhiễu loạn. Tống Trung chú giải sách Lã Thị Xuân Thu rằng: Đại nạo là Thái Sư Hoàng Đế.

Ao đường ngược lại âm ô giao sách Trang Tử nói: Nơi thung lũng trũng thấp. Cố Dã Vương nói: Ao là không bằng phẳng. Xưa nay Chánh Tự viết từ bộ thổ thanh ao.

 

ÂM QUẢNG HOẰNG MINH TẬP

QUYỂN 14

Đệ tú âm trên đệ nê âm dưới do tửu trước đã giải thích rồi.

Sãng khải âm khai cải sách Khảo Thanh nói rằng: Sãng khải là nơi đất cao khô ráo. Đỗ Dự chú giải Tả Truyện rằng: Sãng là sáng sủa, khải là khô ráo. Sách Thuyết Văn viết từ bộ thổ thanh khải.

Chẩn tuất âm chân nhẫn Quách Phác chú giải sách Nhĩ Nhã rằng: Chẩn là thầm giúp đỡ, kẻ giàu có cứu giúp người khốn khổ, sách Thuyết Văn cũng nói: Người giàu có từ bộ bối thanh thần.

Thẫn cảm ngược lại âm thi nhẫn Mao Thi Truyện cho rằng: Thẫn, huống nữa là, sách Thuyết Văn hoặc viết từ bộ cung viết thành chữ thẫn.

Bát trá ngược lại âm tra trá Quảng Nhã nói: Trá là cúng tế, mùa hạ gọi là cúng tế sạch sẽ, nhà Ân gọi là thêm phúc bình an. Nhà Chu gọi là lạp, lễ cuối năm. Sác Lễ Ký cho rằng: Thiên Tử cúng đại lễ. Đại trá, bát y, đó cứu giúp thần dân nghèo. Ban đầu là trá, một năm mười hai tháng, mà tụ hợp vạn vật để mà nuôi dưỡng, cho ăn. Xưa nay Chánh Tự cho rằng: Bát trá đó đó tác tức sợi dây lớn, tức vúng tế cuối năm, từ bộ thị thanh tích Bổn tập viết trá cũng thông dụng.

Quyệt cuồng âm quyến huyệt Trịnh Huyền chú giải sách Luận Ngữ rằng: quyệt là dối trá. Sách Phương Ngôn cho rằng: từ quan ải mà đến Đông Tây hoặc gọi là dối trá, là quyệt sách Thuyết Văn nói: quyền biến dối trá. Mạnh Hương cho rằng: lừa dối khinh khi thiên hạ gọi là quyệt, chữ viết từ bộ ngôn thanh duật âm duật ngược lại duật.

Thư chi âm vong dư sách Trang Tử nói: loài khỉ cùng với loài vượn giao nhau. Quảng Nhã cho rằng: thư là loài khỉ, sách Thuyết Văn nói: thư thuộc loài vượn chữ viết từ bộ khuyển thanh thư.

Bề bất âm phi bế sách Nhĩ Nhã cho rằng: phê là phối hợp. Sách Thuyết Văn nói: từ bộ nữ thanh bề. Âm bề ngược lại âm bổ tề Bổn tập viết từ bộ côn viết thành chữ bề chẳng phải.

Đán phi âm đàn đạt Khổng An Quốc chú giải sách Thượng Thư rằng: Đăn là mê hoặc Trụ Vương. Trụ Vương tin dùng. Sách Khảo Thanh nói: vợ vua Trụ, chữ viết từ bộ nữ.

Lý sừ ngược lại âm giả chủ Quảng Nhã cho rằng: Sừ là căng ra. Cố Dã Vương cho rằng: Thư thả, sách Thuyết Văn cho rằng: Chữ viết từ bộ thủ thanh lự Bổn tập viết chữ sừ tục tự thường hay dùng.

Bà bà ngược lại âm bổ hà sách Khảo Thanh cho rằng: Bà là bà cụ tóc trắng phao. Sách Thuyết Văn cho rằng: Người già tóc trắng chữ viết từ bộ bạch thanh bà (91)

Hà điều âm trên hà cố Cố Dã Vương cho rằng: Hà là cõng vác nhận gánh vác trách nhiệm. Âm dưới điều liễu Bao Hàm chú giải sách Luận Ngữ rằng: Điều là dụng cụ cắt cỏ. Sách Thuyết Văn nói: Đều từ bộ thảo đều thanh hà điều.

Điều đăng âm trên lơi liễu âm dưới đăng rang Khổng An Quốc chú giải sách Thượng Thư rằng: Điều là cây trúc nhỏ, đăng là cây trúc lớn. Trừ ra chỗ có nước còn thì mọc cùng khắp. Sách Thuyết Văn đăng có thể làm gậy. Điều là cây trúc nhỏ có thể làm mũi tên, đều từ bộ trúc đều thanh thúc đăng sách Khảo Thanh cho rằng: điều viết đúng là chữ điều.

Lam di âm xướng lễ Quách Phác chú giải sách Nhĩ Nhã rằng: Di là cỏ thơm. Sách Khảo Thanh cho rằng: Giống như lan. Lại còn gọi là hiêu sách Thuyết Văn nói: Nước Sở gọi là ly. Tấn gọi là hương ngược âm hương yêu âm di là âm di.

Chi khuých ngược âm khuynh dịch Vương Dật chú giải sách Chu Dịch rằng: Khuých gọi là đến nơi tự ẩn giấu thăm sâu vắng vẽ không có người. Bì Thương cho rằng: Yên tĩnh sách Thuyết Văn nói: Từ bộ môn âm khuynh là âm quynh dịch Bổn tập viết từ bộ cụ viết thành chữ khuých là sai.

Mao tường âm tương dương xưa nay chánh tự giải thích tường là người phụ nữ làm quan. Chữ viết từ bộ nữ thanh tường Bổn tập viết chữ tường tục dùng thông dụng. Âm tường đồng với âm trên.

Nhai sài âm trên nhai giải âm dưới sài giới Quảng Nhã cho rằng: Nhai là chia cắt, phân tán, nứt ra. Cố Dã Vương nói rằng: Gọi là phẫn nộ, giận dữ. Sách Sử Ký nói: Gọi oán hận tất phải oán thù. Sách Thuyết Văn đều viết từ bộ mục đều thanh nhai thử Bổn tập viết từ bộ sài viết thành chữ nhai là sai.

Như gian hưởng ngược lại âm gian nhạn sách Nhĩ Nhã nói rằng: Sơn hợp với thủy gọi là gian âm dưới hương lượng Khổng An Quốc chú giải sách Thượng Thư rằng: Điềm kiết hung báo trước ứng thành tiếng. Bổn tập viết từ bộ sơn viết thành chữ gian là sai tự thư nói: đều không có chữ này.

Trọng nhĩ âm trắc kỹ sách Nhĩ Nhã nói: Thiêu thùa, may vá. Quách Phác chú giải rằng: Thiêu vào áo. Quảng Nhã nói: Xỏ chỉ may bên trong, nạp chỉ vào. Sách Thuyết Văn nói: Sợi chỉ xâu vào kim thiêu. Hoặc là viết tự bộ trĩ đến bộ trĩ bộ hoa thanh tĩnh âm hoa âm sĩ giác âm trật là âm dật Bổn tập viết từ bộ nhĩ viết thành chữ nhĩ là viết sai.

Nhứt cù ngược lại âm cục câu sách Nhĩ Nhã cho rằng: Cù là gầy ốm yếu đuối. Quách Phác chú giải rằng: Người nước tề gọi gầy ốm là sưu, sách Thuyết Văn cho rằng: Chỗ thiếu thịt từ bộ nhục thanh cụ âm tích ngược lại âm tình diệc hoặc là viết chữ cụ Bổn tập viết từ bộ tật viết thành chữ cụ là sai

Hoa đà âm đạt hà xưa người tên Thiệu Khải.

Thân ẩu âm trên thất chân Cố Dã Vương nói rằng: Thân đó thẳng ra không có cong lại được. Bì Thương cho rằng: Từ từ khai mở ra chuỗi ra. Quảng Nhã cho rằng: Thẳng ra, âm dưới vu vũ sách Khảo Thanh cho rằng: cong lại. Sách Thuyết Văn đều từ bộ nhân đều thanh thân ẩu bổn tập viết chữ thân cũng thông dụng. từ bộ tật viết thành chữ âu là sai. Điều không có chữ này.

 

ÂM QUẢNG HOẰNG MINH TẬP

QUYỂN 15

Sĩ long âm trì nhĩ sách Khảo Thanh cho rằng: Cởi áo ra. Thiên Thương Hiệt cho rằng: Buông thả áo. Sách Thuyết Văn cho rằng: Cởi áo từ bộ sĩ thanh sĩ là âm kỳ.

Sĩ hạt âm thúc tể sách Thuyết Văn cho rằng: Sĩ là giày dép; hoặc là viết chữ sĩ hoặc là viết chữ sĩ là giày da. Bổn tập viết từ bộ thảo viết bộ trúc viết thành chữ sĩ đó đều chẳng phải.

Tình quý ngược lại âm quý lý sách Khảo Thanh cho rằng: Trong lòng kinh động. Sách Thuyết Văn nói: Trong lòng run động. Từ bộ tâm thanh quý hoặc từ bộ tật viết thành chữ quý.

Lệ phù ngược lại âm phù vị Vương Dật chú giải sách Sở Từ rằng: Phù là ánh sáng. Hạo hạo như mặt trời, chiếu sáng.

Úy hữu âm vẫn vật sách Khảo Thanh cho rằng: cây cỏ chằng chịt. Văn Tự Điển nói: xum xuê, từ bộ thảo thanh úy.

Thiên giai âm giới hài Mao Thi Truyện nói: Giai là ở xa nghe tiếng hòa nhạc vọng lạ. Lại gọi là giai giống như tiếng khua leng keng. Sách Thuyết Văn viết từ bộ khẩu cũng là thanh giai.

Trĩ thao âm trên chĩ trĩ cũng viết chữ để trước đã giải thích rồi. Bổn tập viết chữ để tục dùng thông dụng âm dưới thảo táo Cố Dã Vương cho rằng: nắm giữ ý chí bền chắc gọi là tháo sách Thuyết Văn viết từ bộ 82 thủ thanh táo âm thao ngược lại âm tiên đáo.

Uy nhuy âm trên ủy quy âm dưới nhuy lũy sách Thuyết Văn nói: uy là loài thảo mộc. Hoa là sum xuê, là nhụy của hoa. Chữ viết đều từ bộ thảo thanh uy nhuy âm nhuy ngược lại âm nữ lũy bổn tập viết chữ nhụy Ngọc Thiện nói: không có chữ này.

Mân dao âm trên mật sân Trịnh Huyền chú giải sách Lễ Ký rằng:

mân đá giống như ngọc vậy, hoặc là viết từ bộ mãn Bổn tập viết từ bộ mục viết thành chữ miên là sai. Âm dưới diệu chiếu Mao Thi Truyện nói: dao là ngọc đẹp. Sách Thuyết Văn nói: Đá đẹp. Bổn tập viết từ bộ mật viết thành chữ dao âm trắc giảo sách viết sai.

Phiêu miểu âm trên phiêu miểu sách Thuyết Văn nói: phiêu là tơ lụa màu xanh nhạc. Âm dưới diệu tiểu Vương Dật chú giải sách Sở Từ rằng: Nhìn xa một bên mắt nhắm lại. Tức là chột mắt. Tư Mã Bưu chú giải sách Trang Tử rằng: Miểu là cao. Sách Thuyết Văn nói: chữ viết từ bộ mục thanh thiếu

Bàn vu âm trên bán quan Vương Dật chú giải sách Chu Dich rằng: Bàn là xếp đá trên núi. Thanh Loại cho rằng: Loại lớn sách Thuyết Văn viết từ bộ thạch thanh bàn âm dưới du vu

Vị trung âm ly chí Mao Thi Truyện cho rằng: Vị là đến. Sách Thuyết Văn viết từ bộ thảo thanh vị

Ương úy âm a lang tự thư ương là không sáng tỏ. Sách Thuyết Văn viết từ bộ thựt thanh ương

Hiệt ngoan âm trên hiền kiết âm dưới hàng lăng Thanh Loại giải thích hiệt ngoan là bay lên, bay xuống. Mao Thi Truyện: Bay lên gọi hiệt bay xuống gọi là ngoan ý nói: đối chọi nhau. hiệt hoặc là viết chữ ngoan hoặc là viết chữ ngoan đều thông dụng.

Đầu hãn âm hàn đãn hiệu Bồ-tát.

Tích vẫn âm vân mãn sách Nhĩ Thất cho rằng: Vẫn là rơi rụng xuống. Sách Thuyết Văn viết từ bộ phụ thanh vận Bổn tập viết chữ vẩn tục dùng thông dụng.

Cao ngung âm ngộ câu.

Nhứt quý âm đạt quý Bao Hàm chú giải sách Luận Ngữ rằng: Quí là cái sọt đựng đất. Sách Thuyết Văn viết từ bộ trúc thanh quý Bổn tập viết từ bộ thảo viết thành chữ quý cũng thông dụng.

Phòng lung âm lộc đông Thiên Thương Hiệt nói: Lung là hàn rào. Quảng Nhã cho rằng: Hàng rào của sổ trong nhà. Sách Thuyết Văn gọi là cửa sổ phòng nhà. Chữ viết từ bộ mộc thanh long Bổn tập viết chữ lung gọi là nhà cao chẳng phải nghĩa này.

Luân tư âm tức dư sách Vận Lược cho rằng: Tư là chìm đắm. Văn Tự Điển nói: Từ bộ thủy thanh tư Bổn tập viết chữ tư tục dùng thông dụng.

Lý nục âm an lục Quách Phác chú giải sách Nhĩ Nhã rằng: Trong lòng cảm thấy xấu hổ gọi là nục sách Thuyết Văn cũng gọi là xấu hổ. Từ bộ tâm thanh nhi

Mậu huyện âm mâu hầu Hán Thư cho rằng: Tên huyện hội khể. Sách Thuyết Văn viết từ bộ ấp thanh mậu

Cơ chích âm chinh diệc sách Vận Lược nói: Chích cũng là cơ tức là căn bản, nền móng.

Cao mai âm khô hoại tên người

Phu tải âm phó vu Trịnh Tiễn chú giải sách Lễ Ký: Phu là mu bàn chân trên, hoặc là viết chữ phụ

Ao cũ âm ô giao sách Khảo Thanh nói: Ao là nắm lôi kéo.

Duy sở ngược lại âm sơ cử Hứa Thúc Trọng chú giải sách Hoài Nam Tử rằng: Người nước Sở gọi đá kê chân cột là sở sách Thuyết Văn viết từ bộ thạch thanh sở âm tuân ngược lại âm tư tuấn lại cũng viết chữ tuân

Phong quý ngược lại âm phụng khách sách Khảo Thanh cho rằng: Tên của loại rau đá Trịnh Huyền chú giải sách Lễ Ký rằng: Giữa Đời Đông Tống gọi dây bó lan là phong cũng là củ cải. Sách Thuyết Văn viết từ bộ thảo thanh phong

Quyết lộ âm quyến luyệt Cố Dã Vương nói: Là dòng nước chảy xiết. Sách Thuyết Văn nói: Chữ viết từ bộ thủy thanh duật âm duật là âm cự duật.

Ngọc đế âm đê dĩnh sách Khảo Thanh cho rằng: Đế và cuống của trái cây và cuống lá, chỗ kết bối với nhau. sách Thuyết Văn viết từ bộ thảo thanh đối.

Bát diên âm diển chiên sách Hán Thư Âm Nghĩa nói: diên là đất ngoài biên giới nhỏ hẹp. Xưa nay chánh tự cho rằng: vùng ven. Từ bộ thổ thanh diên.

Triển nhi âm nữ triển Tư Mã Bưu chú giải sách Trang Tử rằng: Triển là giẫm đạp lên. Xưa nay chánh tự cho rằng: từ bộ túc thanh triển.

Mạc điệt âm điền kiết Quảng Nhã cho rằng: Điệt là cắn. Sách Thuyết Văn viết từ bộ khẩu thanh du.

Để ngọc âm chi để sách Khảo Thanh nói: Để là ném, quăng ra xa. Sách Thuyết Văn nói: đánh. Từ bộ thủ thanh để.

Đông đôn âm thổ đôn sách sở từ nói rằng: Đôn là mặt trời mới mọc ở phương Đông. Vương Dật chú giải rằng: Mặt trời mới vừa mọc. Hình tròn và đầy đặn, dày, to lớn, hoặc từ bộ đôn viết thành chữ đồn Tây yểm âm yểm kiêm Trịnh Huyền chú giải sách Lễ Ký rằng: Yểm giống như che dấu, ẩn náu kín, hoặc là viết chữ yểm lại viết chữ yểm đều đồng thông dụng.

Quái nhục âm nhu chúc sách Khảo Thanh cho rằng: Nhục là màu sắc đậm. Sách Thuyết Văn gọi là nhiều màu sắc trang sức, từ bộ mịch thanh nhục.

Đê kỵ âm đệ nê Trịnh Huyền chú giải sách Chu Lễ rằng: Đê là màu sắc nguyên đậm. Sách Thuyết Văn gọi là màu trắng, đỏ, vàng, trơn cợn. Chữ viết từ bộ mịch thanh thị âm nguyên là thuyên tuyển âm dưới là kỵ Bổn tập viết chữ kỵ này tục tự thường hay dùng.

Thư trá âm thất dư Hán Thư nói rằng: Xe binh mã chạy nhanh, cũng thường lừa bịp, dối trá. Thiên Thương Hiệt nói: Thư là hầu hạ gọi là hầu cận gần gũi. Sách Thuyết Văn viết từ bộ khuyển thanh thư.

Hạp tử âm khẩu hạp sách Sở Từ nói rằng: Âm thầm chết trong dòng nước. Vương Dật chú giải rằng: Hạp giống như chìm trong nước. Xưa nay chánh tự viết từ nộ thủy thanh hạp chữ hạp viết đúng từ bộ đại tới bộ khứ viết thành chữ hạp tục tự thường dùng.

Tây yểm âm yểm kiểm Vương Dật chú giải sách Sở Từ rằng: Yểm là tên núi yểm tự; dưới có hào có nước; bên trong có hào sâu. Là chỗ đi vào hoặc là viết chữ tư yểm.

Chiêm nguy ngược lại âm dư kiêm sách Khảo Thanh cho rằng: Đến bên vách núi; sách Sở Từ cho rằng: thân treo leo nguy hiểm sắp chết. Vương Dật chú giải rằng: Cũng nguy hiểm chữ viết từ bộ phụ thanh chiêm Bổn tập viết chữ diêm này tục dùng thông dụng. Đã lưu hành lâu rồi, không thể sửa đổi nên nay lại thông dụng.

Thiêu thiện âm trên thiêu điêu âm dưới thiền xiển Khổng An Quốc chú giải sách Thượng Thư rằng: Quét đất làm trừ bụi đất gọi là thiện sách Khảo Thanh cho rằng: Thiền là trừ bụi làm chổ cúng tế sách Thuyết Văn viết từ bộ thổ thanh thiền.

Ai nhiên âm ai đại sách Lễ Ký nói rằng: Đi vào trong nhà tất nhiên nhìn thấy vị trí nơi người ngồi. Sách Thuyết Văn nói rằng: Phảng phất chữ viết từ bộ nhân thanh ái.

Đề xí âm trên đệ nê tập trước đã giải thích rồi. Chữ viết từ bộ xích viết thành chữ đề âm trì nhĩ sách Thuyết Văn nói: Là hành lễ. E rằng: chẳng phải nghĩa này âm dưới xương chí Quảng Nhã cho rằng: Xí là phan, lọng cờ xí. Sách Thuyết Văn viết từ bộ câu

 

ÂM QUẢNG HOẰNG MINH TẬP

QUYỂN 16

Xi vãng âm xỉ chỉ sách Thuyết Văn nói: Xi là cười chế diểu. Chữ viết từ bộ khẩu thanh xi Bổn tập viết từ bộ trùng viết thành chữ xi là sai tự thư nói: không có chữ này. (917)

Cố tiệp âm tiềm diệp tên người.

Thiêm vu âm diệp chiêm Văn Tự Tập Lược nói: Trước và sau nhà có mái hiên rủ xuống. Hoăc là viết chữ thiêm lại cũng có từ bộ trúc viết thành chữ thiềm.

Nữu dương âm nữ cữu sách Vận Âm Tập Lược nói: Tên cây nữu. Chuẩn Tập Văn nói: Nữu dương tức là từ dưới đất mọc lên cây đồng. Sách Thuyết Văn cho rằng: Tên đất địa danh. Chữ nữu từ bộ ấp viết thành chữ nữu chưa rõ nghĩa chữ này.

Tiêu nhĩ âm phiêu diêu Quách Phác chú giải sách Nhĩ Nhã rằng: Cuồng phung gió bão, từ dưới xoáy lên trên sách Thi Tử nói: Bao phong đồi tiểu. Gió cuốn dữ dội. Sách Thuyết Văn nói: Gió thổi óng đồng lửa cháy phừng phừng. Chữ viết từ bộ phong thanh tiêu sách Nhĩ Nhã nói: Cũng viế chữ tiêu này.

Dược tiêu âm lôi diệu sách Phương Ngôn nói rằng: Bao kiếm. Quan Đông gọi là bao đựng kiếm là tiêu Quan Tây gọi bao đựng kiếm là đệ Cố Dã Vương nói: Chỗ chứa đựng cất dấu đao kiếm. Sách Khảo Thanh cho rằng: Bao đựng đao kiếm; hoặc viết từ bộ vi viết thành chữ tiêu hoặc viết từ bộ đao viết thành chữ tiêu đều thông dụng, âm bệ âm bích danh âm minh là âm minh tinh.

Phân hương âm duật mãn tên người.

Sùng manh âm mạch manh Đỗ Dự chú giải Tả Truyện rằng: Manh là cái mèn đóng trên rai nhà để móc ngói. Sách Thuyết Văn viết từ bộ ngã đến bộ manh thanh tĩnh âm manh ngược lại bách manh.

Điểu kỳ âm cật để sách Phương Ngôn cho rằng: Kỳ là dáng đi vùn vụt, đi nhanh. Sách Thuyết Văn viết từ bộ túc thanh ký.

Khiên xiêm âm trên khương ngôn sách Khảo Thanh cho rằng: Khiên là vén áo lên, âm dưới đê chiêm Trịnh Huyền chú giải sách Nghi Lễ rằng: Xiêm cái mui xe, màn trên xe. Bì Thương cho rằng: Viết chữ xiêm Thanh Loại viết chữ chiêm đều thông dụng.

Kỳ lộ âm trên cự ky Quách Phác chú giải sách Nhĩ Nhã rằng: Kỳ là thuộc về ngọc. Âm dưới lô đố Vương Dật chú giải sách Sở Từ rằng: Lưu ly thuộc ngọc đẹp. Sách Thuyết Văn đều viết từ bộ ngọc đều thanh 8 kỳ lộ hoặc là viết chữ kỳ.

Chân tường âm y chân Quách Phác chú giải sách Nhĩ Nhã rằng: Chân là rơi xuống, chìm đắm. Sách Thuyết Văn viết từ bộ thủy thanh chân Bổn tập viết từ bộ phụ viết thanh chữ chân là sai.

Ngạn nghiển âm ngôn yển Mao Thi Truyện chú giải rằng: Núi nhỏ nằm trên núi lớn. Quách Phác chú giải sách Nhĩ Nhã rằng: Núi hình như liên kết hai quả núi nằm cạnh nhau. xưa nay chánh tự viết từ bộ sơn thanh nghiên.

Du vịnh âm vinh mệnh sách Khảo Thanh cho rằng: Lục là nước có màu sắc trong. Nước trong. Bổn tập viết từ bộ thảo viết thành chữ lục là sai tự thư không có chữ này.

Chiên hương âm chiến diên sách Khảo Thanh nói: Tên cây chiên đàn có mùi thơm. Bổn tập viết chữ chiên âm sách lại nữa bổn tập khác viết chữ nham âm là nam đều chẳng phải nghĩa cây có mùi thơm.

Trụ hãn âm trên chu chú âm dưới hư hạn Hán Thư Âm Nghĩa giải thích cái nơm bắt cá. Sách Thuyết Văn viết từ bộ võng thanh can võng là chữ cổ.

Đình tất âm tân mật Mao Thi Truyện nói: Tất là đè xuống; giăng lưới bắt, tất hoặc là viết chữ tất Bổn tập viết từ bộ túc viết thành chữ tất Trịnh Chúng chú giải sách Chu Lễ rằng: Tất là ngăn cấm đường; chẳng phải nghĩa giăng lưới.

Long oa âm ô qua sách Thuyết Văn nói: Oa là nghiêm xuống, xấu xa, lười biếng. Chữ viết từ bộ luyệt thanh qua hoặc là viết chữ oa Bổn tập viết chữ du âm du chú chẳng phải nghĩa này.

U ly âm sĩ ly sách Thuyết Văn nói: Ly là thư thả, thoải mái, hoặc là viết chữ cầm

Thành nhân âm nhứt chân Mao Thi Truyện nói: Nhân là góc thành. Sách Thuyết Văn nói: Góc thành có nhiều lớp cửa, chữ viết từ bộ môn thanh nhân.

Đồng vân âm độc đông Quảng Nhã nói: Đồng là mây màu đỏ, sách Thuyết Văn viết từ bộ chu đến bộ sam vẽ tượng hình sắc mây.

Hoài sĩ âm sự sử Mao Thi Truyện nói: Sĩ là bến nước. Sách Thuyết Văn viết từ bộ thủy thanh sĩ.

Ai ái âm ai đại Quảng Nhã nói: ái ái là sum sê rậm rạp. Sách Thuyết Văn viết từ bộ ngôn thanh cát Bổn tập viết từ bộ ngôn đến bộ ái viết thành chữ ái là sai.

Vô vô âm vô bổ Mao Thi Truyện nói: Vô vô là xinh đẹp. Hàn Thi Truyện hoặc là viết chữ mưu.

Tập huệ âm thât lập theo Tả Truyện nói: Thúc tôn tuy ở tranh vách đất nhưng cũng giữ được khí khái. Văn Tự Điển nói: Tập là cỏ mao lợp nhà, thêm vào cho dày. Chữ viết từ bộ thảo thanh tập Bổn tập viết từ bộ thảo tục dùng thông dụng.

Kiều manh âm trên là kiều sách Nhĩ Nhã nói: Núi nhọn mà cao gọi là kiêu Quách Phác chú giải rằng: Núi cao nguy hiểm. Thích Danh giải thích giống như cây cầu. Xưa nay chánh tự viết từ bộ sơn thanh kiều Bổn tập viết chữ kiều tục dùng thông dụng, lại cũng viết chữ kiều âm dưới mạch canh quyển đầu đã giải thích rồi.

Bồng thác âm thang lạc Mao Thi Truyện nói: Tháng mười lá của cây cối rơi xuống. Theo Truyện nói: Thiền lạc, rơi rụng, lại nói: như rơm rạ Trịnh Tiễn nói: Như lá cau theo gió rơi rụng. Sách Thuyết Văn viết từ bộ thảo thanh phác.

 

ÂM QUẢNG HOẰNG MINH TẬP

QUYỂN 17

Cộng đổ âm đo lỗ Quảng Nhã nói: Đổ là nhìn. Sách Thuyết Văn nói: Nhìn thấy, văn cổ viết chữ đổ.

Chấp đĩnh âm dương đĩnh sách Lễ Ký nói rằng: vua cầm cái hốt vuông vào trong thiên hạ. Trịnh Huyền chú giải rằng: Đây là cái hốt. Sách Thuyết Văn: Ngọc khuê lớn ba trượng. Chữ viết từ bộ ngọc thanh đĩnh âm đĩnh ngược lại âm thích định.

Ngân uyển Âm ô quan hoặc là viết chữ uyển Thanh Loại lại viết chữ uyển.

Tặng hiện âm yêu điển Văn Tự Điển nói: Giống như con sò mà nhỏ hơn hoặc là viết chữ hiển âm yêu hiện.

Thiết áp âm thao giáp Đỗ Dự chú giải Tả Truyện rằng: Áp là tổn hại. Sách Thuyết Văn nói: Hủ hoại, từ bộ thổ thanh áp Bổn tập viết từ bộ huyệt viết thành chữ áp sách Thuyết Văn nói: Nghĩa đâm vào huyệt mạch. Chẳng phải nghĩa trấn áp.

Tịnh thao âm thảo đao danh tăng.

Bàn khuất âm bạt hàn Cố Dã Vương nói: Bàn là uyển chuyển, quanh co vòng vèo, uống khúc. Sách Thuyết Văn viết từ bộ trùng thanh bàn âm bạt ngược lại âm bổ mạt.

Phú chiêu âm chiếu diệu Quảng Thất giải chiếu sáng. Thiên Thương Hiệt nói: Đèn thắp sáng. Hoặc là viết chữ chiếu.

 

ÂM QUẢNG HOẰNG MINH TẬP

QUYỂN 18

Thư xuân thảo âm trên dật dữ Thiên Thương Hiệt giải thích thư là bú mớm, nhai. Theo Thanh Loại hoặc là viết từ bộ xỉ viết thành chữ thư âm tiểu ngược lại âm tiều tiếu.

Kháp tĩnh âm trên là kháp Quảng Thất nói: Kháp là cái hầm. Sách Thuyết Văn nói: kháp là giếng nhỏ, từ bộ nhân ở trong bộ cữu chữ tượng hình. Bổn tập viết từ bộ phu viết thành chữ kháp nghĩa là từ trên cao mà rơi xuống chẳng phải nghĩa của cái giếng. Âm dưới tình tính sách Thuyết Văn nói: Tĩnh cũng là cái hầm từ bộ huyệt thanh tĩnh sách Khảo Thanh viết chữ tĩnh Bổn tập viết từ bộ huyệt viết thành chữ tĩnh tục dùng thông dụng âm tàn là âm tàn.

Giám năng âm giáp sám Quảng Thất giải thích giám là chiếu soi. Sách Khảo Thanh nói: Ban đêm lấy ánh trằng: chiếu soi liền thấy đáy nước. Sách Thuyết Văn nói: Giám là các chỗ ánh sáng mặt nước có trằng: soi. Chữ viết từ bộ kim thanh giám âm lam là âm công lãm Bổn tập viết chữ lam cũng thông dụng. Khảo Thanh hoặc là viết chữ giám.

Trình thô âm thố thô Trịnh Huyền chú giải sách Lễ Ký rằng: Thô là còn to lớn, chữ mượn âm viết đúng chữ thô tục thường viết chữ thô.

Dị triệt âm triền liệt Đỗ Dự chú giải Tả Truyện rằng: Triệt là vết bánh xe, sách Thuyết Văn viết từ bộ xa đến bộ thanh tĩnh Bổn tập viết từ bộ túc viết thành chữ triệt là sai.

Tạo tất âm trên thảo táo âm dưới tân tật Hiếu kinh nói: nuôi dưỡng song thân phải quỳ dưới gối. Sách Thuyết Văn viết chữ tất từ bộ ấp thanh tất âm tất là âm thất Bổn tập viết chữ tất là không thành chữ.

Kiêu trở âm trên cự kiêu Quách Phác chú giải sách Nhĩ Nhã rằng: Kiêu là núi cao. Âm dưới trắc lữ Quách Phác chú giải sách Nhĩ Thất rằng: trở là nguy hiểm khó khăn. Sách Thuyết Văn viết từ bộ phụ thanh thử Bổn tập viết từ bộ sơn viết thành chữ thư là sai.

Mặc dĩ âm mi bắc Cố Dã Vương nói: mặc là không nói:. Xưa nay chánh tự viết từ bộ khẩu thanh mặc Tãn tư âm tức lữ tên người.

Chích quả âm hoa ngõa.

Liên hoàn âm trên liệt chiên Quảng Thất nói: liên tục tiếp nối. Sách Thuyết Văn nói: liên cũng là liên hoặc là viết chữ liên âm hoạn quan Trịnh Chúng chú giải sách Chu Dịch rằng: hoàn là xoay vòng tròn. Sách Thuyết Văn nói: vòng ngọc. Từ bộ ngọc thanh hoàn âm viên âm cự vinh.

Diễm tháo âm viêm chiêm Hán Thư nói rằng: diễm là đẹp đẽ sáng chói phía trước. Cố Dã Vương nói: diễm giống như đẹp đẽ muôn màu sắc rực rỡ. Văn Tự Điển nói: từ bộ thủ thanh diêm.

Canh ký âm trên cánh hạnh âm dưới cai ngại Tiết Tông chú giải Đông Kinh Phú Truyện rằng: canh ký giống như không liên tục mật thiết với nhau. sách Thuyết Văn đều từ bộ mộc đều thanh canh ký âm cai là âm cư ai âm tiệm là âm tư liêm.

La cốc âm hồng cốc Thích Danh giải thích cốc là loại tơ sợi. Sách Thuyết Văn cho rằng: viết từ bộ mịch âm xác ngược lại âm khổ giác. Châu khải âm ngại ký

Vương mông âm mộc đông.

Vương mật âm di tất ba đều tên người.

 

ÂM QUẢNG HOẰNG MINH TẬP

QUYỂN 19

Luân vụ âm vô phó Quảng Thất giải thích vụ là ngựa chạy mau. Sách Thuyết Văn viết từ bộ mã thanh vụ âm vụ là âm vũ.

Xuân vĩ âm vi quỹ sách Khảo Thanh cho rằng: tên loại cá, đến tháng trọng xuân. Tự chết trong hang, rồng đến cửa hang mà ăn thịt. Sách Chu Lễ nói: loại cá này đến mùa xuân là hiến cho vua. Quách Phác chú giải Kim Sơn Hải rằng: loài cá vĩ tức là cá chiên, giống như con lươn dài sáu đến bảy thước. Lại chú giải sách Nhĩ Thất rằng: con lươn to lớn, cái miệng dưới hàm không vảy, da thịt màu vàng, lớn đó Bao Hàm chú giải sách Luận Ngữ Trượng. Ở Giang Đông gọi là cá vàng. Sách Thuyết Văn viết từ bộ ngư thanh hữu âm diêm ngược lại âm triết liên.

Khải thế âm dương chế Văn Tự Tập Lược nói rằng: Thế thuộc mái chèo. Xưa nay chánh tự viết từ bộ thủ thanh thế âm thế là âm thế.

Đồng tiêu âm bỉ kiêu Văn Tự Tập Lược nói: dây cương buộc ngựa. Sách Thuyết Văn cũng nói: Thiết hàm ngựa từ bộ kim thanh tiêu âm tiêu ngược lại âm bạc giao Bổn tập viết từ bộ mã viết thành chữ tiêu âm lộc gọi là con ngựa hoang dã, chẳng phải nghĩa này.

Phân vẫn âm trên phẫn văn âm dưới uất vân Vương Dật chú giải sách Sở Từ rằng: Vẫn phân là nhiều tràn đầy. Tả Tư Thục Đô Phú Truyện nói: Uất phân vẫn là lấy cái tinh tủy nhỏ nhất. Trương Tiễn chú giải rằng: Mùi thơm lan tràn. Xưa nay chánh tự đều từ bộ thảo đều thanh phân vẫn.

Chiêu tích âm chi triết Mao Thi Truyện nói: Tích là sáng rõ ràng. Hoặc là viết chữ triết.

Thật mỏi âm mỏi Nhĩ Thất giải thích mõi là bệnh. Xưa nay chánh tự viết từ bộ tật thanh mỏi.

Tãng mã âm phú lãng sách Khảo Thanh nói rằng: Là nay người ta gọi là kẻ mối lái ở chợ, dân cò mòi. Sách Lã Thị Xuân Thu nói: Cây hà cam thời Tấn Quốc gọi ngựa hay. Sách Thuyết Văn viết từ bộ mã thanh thu âm thư âm tức dư.

Truy kỳ âm trắc cơ Mao Thi Truyện nói: Truy là màu sắc đen. Sách Thuyết Văn nói: áo trắng nhuộm màu đen, từ bộ mịch thanh truy Bổn tập viết từ bộ thủy viết thành chữ truy là tên của dòng sông ở đất Tề đã giải thích rồi, âm dưới đều đồng.

Trùng nhuyễn âm duyệt thuế xưa nay chánh tự nói rằng: nhuyễn là nhỏ bé, phàm cọng cỏ mơi bắt đầu mọc gọi là nhuyễn là mâm mới bắt nhô lên nhọn nhọn, chữ viết từ bộ thảo thanh nhuyễn âm nhuyễn âm duyên hoạt.

Chiêm hào âm hạo cao trước đã giải thích rồi.

Ky hoàng âm hồ quang Trịnh Huyền chú giải sách Chu Lễ rằng: Nửa viên ngọc gọi là hoàng giống như mùa đông đóng cửa dấu kín, trên thành không có việc gì chỉ thấy có nửa bầu trời. Sách Thuyết Văn viết từ bộ ngọc thanh hoàng 918.

Chung võng âm xúc chung Quách Phác chú giải rằng: Chung là nay người ta gọi là phên xe. Hàn Thi Truyện nói rằng: Dưới lên trùm lên xe gọi là chung sách Thuyết Văn viết từ bộ võng thanh chung.

Vô triền âm triệt liên Quách Phác chú giải sách Phương Ngôn rằng: Triền giống như là đạp, giẫm lên. Lại chú giải sách Nhĩ Nhã rằng: Chỗ chân giẫm đạp lên. Sách Thuyết Văn viết từ bộ túc thanh triền.

Viện tây âm việt nguyên Mao Thi Truyện nói: Viện là dựa theo, nơi chốn sách Thuyết Văn nói: Viện là nơi chốn, chỗ ở của kẻ sĩ, người giao dịch gọi là viện; hoặc là viết từ bộ thụ đến bộ cam viết thành chữ viện âm viện ngược lại âm bình viên.

Di tại âm dị chi Thiên Thương Hiệt nói: Di là dời đổi, di chuyển. Sách Thuyết Văn nói: Chuyển đổi đi nơi khác. Hoặc là viết từ bộ hòa viết thành chữ di nghĩa cũng đồng.

Ủng trữu âm chu thủ thế bổn thiếu khang viết chữ cơ trữu Tống Trung giải thích thiếu khang sau đời nhà Hạ tổ tiên con cháu, tức là Đỗ Khàn, chết lâu rồi Cố Dã Vương cho rằng: Chỗ quét trừ dơ uế, phân dơ. Sách Thuyết Văn từ bộ hưu tức tay nắm cầm, khăn, chổi, lau quét bên trong cửa.

Dũ nhục âm trên du chủ Mao Thi Truyện Trịnh Tiễn cho rằng: Du là lợi ích. Khổng An Quốc chú giải sách Luận Ngữ rằng: Vượt trội hơn. Sách Thuyết Văn cho rằng: Chữ viết từ bộ tâm thanh du âm dưới nhu chúc sách Khảo Thanh giải thích tơ lụa màu sắc đậm. Sách Thuyết Văn trang sức nhiều màu sắc từ bộ mịch thanh nhục.

Túy dung âm tuy túy Cố Dã Vương cho rằng: Túy là trong sáng, là hòa dịu hiện ra nét mặt, nét mặt tươi sáng nhuận trạch. Sách Thuyết Văn viết từ bộ mục thanh túy.

Hình sơn âm kính kinh âm kính ngược lại âm hình đĩnh.

Chiếm nhiếp âm chiêm diệp Giả Quỳ chú giải sách Quốc Ngữ rằng: Nhiếp là phục. Trịnh Huyền chú giải sách Lễ Ký rằng: Nhiếp giống như khiếp sợ. Nhĩ Nhã nói: lo sợ, hoặc là viết chữ nhiếp lại cũng viết chữ chiếp.

Lâu lâu âm sắc hầu sách Thuyết Văn lâu là kính cẩn từ bộ tâm thanh lũ Bổn tập viết chữ lâu tục tự thường hay dùng.

Yết điểu âm đốc nghiệt Cố Dã Vương giải thích yết là cảm nằng, trúng nắng; lo buồn sầu muộn muốn chết đi. Sách Thuyết Văn viết từ bộ nhựt thanh yết

Luân y âm ư nghi Mao Thi Truyện nói rằng: Y là từng đợt sóng lăn tăng, gợn sóng. Sách Thuyết Văn viết từ bộ thủy thanh y.

Tựu liệt âm liệt trệ sách Khảo Thanh cho rằng: Đường lộ phía trước xe giá sạch sẽ. Trịnh Huyền chú giải sách Lễ Ký rằng: Ngăn che, loạng choạng, xiêu vẹo. Sách Thuyết Văn viết từ bộ tẩu thanh liệt.

Khải kích âm hề lễ sách Khảo Thanh cho rằng: Khải là mộc bài vật làm tin để đi qua cửa quạn, bến cảng ngày xưa. Giống như chiếc kích, có cờ hiệu viết chữ trên, người sứ cầm để làm tin vi thiệu chú giải Hán Thư rằng: Khải cũng là kích, sách Thuyết Văn gọi là truyền tin, từ bộ mộc bộ khải thanh tĩnh.

Luân phất âm phân vật Thiên Thương Hiệt cho rằng: Phất là chậm rãi, thong thả, cũng là dây thao buộc ấn. Sách Thuyết Văn viết từ bộ mịch thanh bạc âm bạc ngược lại âm bổ mạt.

Thực bảo âm bảo đạo sách Hán Thư nói: Làm cái lọng có cấm lông chim có năm màu sắc. Cố Dã Vương nói: Các lông chim tụ hợp lại có năm màu sắc gọi là bảo Văn Tự Điển nói: Cũng là cái lọng cấm lông 82 chim. Hoặc là viết chữ bảo.

Mô bái âm mục bộ Quách Phác chú giải sách mục Thiên Tử Truyện rằng: Nay người nước Hồ lễ bái giơ tay lên đầu xưng Nam mô rồi lạy. Đó vậy sách Thuyết Văn viết từ bộ nhục thanh mạc.

Quan khiết âm trên loan bản Hứa Thúc Trọng chú giải sách Hoài Nam Tử rằng: Quan là xâu kết lại. Âm dưới khiên kiết Lưu Triệu chú giải Cốc Lương Truyện rằng: Khiết là đánh. Sách Thuyết Văn nói: khiết là cầm nắm tay treo lên. Từ bộ thủ thanh khiết Bổn tập viết chữ khế tục dùng thông dụng. âm khiết ngược lại âm khang hiệt.

Ngung ngung âm ngọc cung Hoài Nam Tử nói: Mọi người không thể không hướng theo kính ngưỡng cái đức. Sách Thuyết Văn âm thanh hưởng ứng hòa theo. Từ bộ khẩu thanh ngung âm ngung là âm ngụ.

Ung nhân âm ủng hung Trịnh Huyền chú giải sách Chu Lễ rằng: Uy đó là ăn sáng lo chiều, thức ăn đã nấu chín. Chữ viết từ bộ thực thanh ung.

Vĩ thủy âm vị quỹ Đỗ Dự chú giải Tả Truyện rằng: Sông Vĩ Thủy xuất phát từ huyện Lộc phía Đông nam đến bình nhân đĩnh. Hán Thư nói rằng: xuất phát từ Dương Thành phía Đông nam. Cố Dã Vương nói: Sóng trịnh thủy. Sách Thuyết Văn viết từ bộ thủy thanh hữu Bổn tập viết chữ vĩ tên con cá.

Mạnh tưu âm tần hầu sách Nhĩ Nhã cho rằng: Tháng giêng gọi là tưu sách Thuyết Văn viết từ bộ phụ thanh tụ Bổn tập viết chữ tưu tục dùng thông dụng.

Hành bội âm hạch canh Cố Dã Vương cho rằng: Hành là ngọc bội trên ngang lớn đeo trên. Sách Đại Đái Lễ nói: Ngọc bội trên có hai ngọc bội dưới có hai ngọc bội ngang màu vàng. Sách Thuyết Văn nói: Chỗ gọi là tiết hành chỉ từ bộ ngọc đến bộ hành.

Phiếm phiếm âm phục phong theo Tả Truyện nói: Tốt đẹp thay! Ung dung tự tại. Đỗ Dự chú giải rằng: Phiếm phiếm là ung dung tự tại. Hoặc là viết chữ phiếm này cũng thông dụng.

Tương phiêu âm trên tây dương Thích Danh giải thích rằng: Tương là lụa thô, vật thô màu sắc, sanh màu mỡ gà. Sách Khảo Thanh cho rằng: Màu vàng lợt, âm dưới phiêu miễu sách Thuyết Văn cho rằng: phiêu là lụa trắng xanh, đều từ bộ mịch đều thanh tương phiêu âm phiêu là âm tất tiêu.

Mạng cổn âm côn bổn Trịnh Tiễn chú giải Mao Thi Truyện rằng: Cổn là áo màu đen huyền mà vẽ có vân. Quách Phác chú giải sách Nhĩ Nhã rằng: Cổn là áo có thiêu hoa văn. Sách Thuyết Văn viết từ bộ y thanh công âm phất ngược lại âm bổ vật âm dưới đồng.

Văn huy âm hủy vi sách Nhĩ Nhã cho rằng: Dựa theo sông lạc ở Nam Lạc có nhiều chim trĩ lông nó năm màu, đều trang bị thành chương mục. Sách Thuyết Văn viết từ bộ vũ thanh huy

Hà kiêm âm lực chiêm Cố Dã Vương cho rằng: Vua nắm chính sách có thái bình thì có sông hà kiêm. Biển di có điềm tốt lành. Sách Thuyết Văn nói: có nước bạc, chữ viết từ bộ thủy bộ liêm thanh tĩnh.

Nhược di âm dực chi Mao Thi Truyện Trịnh Tiễn chú giải rằng: Ngọt như cam mật. Sách Thuyết Văn nói: Gạo nấu thành mạch nha. Từ bộ thực thanh di âm dịch âm tịch vinh âm nghiệt âm ngôn yết.

Ngọc cao âm cảo ao sách Trang Tử nói: Có khắc vào nước chỗ này là động cơ, sau đó là lớp trước nhẹ nhàng như lấy gơm khắc vào nước, như nước chảy. Nhẹ nhàng gọi là cao sách Thuyết Văn viết từ bộ mộc thanh cao cao từ bộ phong bộ bạch âm khiết âm kiên tiết Bì Thương nói: khiết cao là chỗ cấp nước. Bổn tập viết chữ cao chẳng phải nghĩa này.

Tợ minh âm minh bích sách Thuyết Văn nói: Minh là kiêu mạng xem thường từ bộ tâm thanh minh phàm từ bộ nhứt viết thành minh cũng thông dụng. Bổn tập viết chữ minh là sai.

Lõi các âm trên lõi tội âm dưới lang các Quách Phác chú giải Kim Sơn Hải rằng: Lõi các là đá lớn sách Thuyết Văn nói: Lõi là nhiều đá, hoặc là viết từ ba bộ thạch âm các từ bộ thạch.

Chi thâm âm xi lâm Mao Thi Truyện nói: Thâm là ngọc báu hoặc là viết từ bộ ngọc viết thành chữ thâm.

Thọ thần âm thần nhẫn Trịnh Huyền chú giải sách Chu Lễ rằng: Buổi sớm dùng thịt tế lễ trong tong miếu. Đỗ Dự chú giải Tả Truyện lấy thịt nhiều tế lễ thần là cái mâm đựng thịt tế thần. Công Dương Truyện nói: Ngày sinh mặt trời lên nóng nhiệt gọi là phan sách Thuyết Văn viết từ bộ thị là âm phiền.

Yểm tì âm thử tư sách Nguyệt Lịnh nói: Yểm là chôn hài cốt, còn thịt thối rữa, thịt còn dính lại xương dư lại. Trịnh Huyền chú giải sách Chu Lễ rằng: Tì là thịt xương người chết. Tì từ bộ cốt viết thành chữ tì lại viết chữ tì âm cách là âm cách Trịnh Huyền chú giải sách Lễ Ký rằng: Xương khô gọi là cách.

Lung tũng âm trên lục chung âm dưới tài khổng Bì Thương giải thích lung tũng là núi cao. Vương Dật chú giải sách Sở Từ rằng: Lung tũng là núi cao, có từng lớp mây bũa vây. Sách Thuyết Văn: Đều từ bộ sơn thanh lung âm ông ngược lại âm ông chung.

Huyền hiệu âm hư kiêu sách Khảo Thanh cho rằng: Tên của vì sao. Sách Nhĩ Nhã cho rằng: Huyền diệu hư không trống rổng. Quách Phác chú giải rằng: Sao huyền hư ở đúng hướng bắc. Phương bắc màu sắc đen nói: giống như sao hư, chỉ ý. Sách Thuyết Văn viết từ bộ mộc thanh liệu.

Tiệt tiết âm trên tiền tiết âm dưới nghiên kiết Mao Thi Truyện nói: Đều từ bộ sơn đều thanh tiệt tiết tiệt hoặc là viết chữ tiệt hoặc là viết nghiệt Bổn tập viết chữ tiệt tục tực viết chữ này là chẳng phải.

Hoa suy âm sở quy sách Nhĩ Nhã nói: Sui nhà gọi là suy Quách Phác chú giải rằng: tức là rui nhà. Sách Thuyết Văn viết từ bộ mộc thanh suy.

Uyển thùy âm miễn viện xưa nay chánh tự giải thích uyển là rồng uống khúc, chữ viết từ bộ trùng thanh uyển.

Nhiêu lưu âm lưu trụ sách Nhĩ Nhã cho rằng: Tông miếu gọi là lưu. Quách Phác cho rằng: Nhà lớn. Sách Thuyết Văn viết từ bộ nghiễm thanh lưu âm tông là âm vong sách Khảo Thanh cho rằng: Trụ cột nhà lớn. Bổn tập viết chữ lưu.

Khám đối âm trêm đàm cảm âm dưới đồ đối Văn Tự Tập Lược nói: Khãm là màu đen, gọi là mây đen vây phủ. Sách Thuyết Văn: Kham từ bộ hắc thanh kham đối từ bộ vũ.

Thứ phi âm thử lợi Phục Kiền giải thích Hán Thư rằng: Thời nhà Chu người ta vượt qua sông bằng thuyền, dưới vác chiếc thuyền là vị tướng, che phủ bay vào nước giết hết loài thủy tặc. Bởi bậy nên phong làm quan là người có tài và sức lực. Sách Thuyết Văn viết từ bộ nhân thanh thứ.

Lân lân âm lực trần Mao Thi Truyện nói: Lân lân là tiếng nhiều chiếc xe hợp vọng lại. Xưa nay chánh tự viết từ bộ xa thanh lân.

Cổ thối âm thôi túy Quách Phác chú giải sách Thượng Lâm Phú rằng: Thối là nước sâu. Văn Tự Điển nói: Từ bộ thủy thanh túy.

Yêu ma âm trên đạp nhiêu âm dưới ma bã sách Khảo Thanh cho rằng: Yêu ma là chút xíu nhỏ nhít. Hán Thư cho rằng: Tẩy rửa lâu rồi, yêu ma là không kịp điếm chữ. Sách Thuyết Văn cho rằng: Yêu là nhỏ giống như đứa con tượng hình bắt đầu sinh ra, chữ viết từ bộ yêu thanh ma.

Kỳ thang âm thác lang Trịnh Huyền chú giải sách Thượng Thư Đại Truyện cho rằng: Thang là cái phiền la đánh vào nghe tiếng rất lớn. Bì Thương cho rằng: đánh nghe tiếng lớn, sách Thuyết Văn cũng cho rằng: Tiếng lớn. Hoặc là viết từ bộ chú âm chú là âm chú Viết thành chữ chú lại từ bộ cổ viết thành chữ thang Tự Lâm hoặc là viết chữ thăng âm vận đều đồng.

Trụ tất âm tân mật sách Thuyết Văn cho rằng: Viết đúng hoặc từ bộ túc viết thành chữ tất tự thư hoặc là viết chữ tất.

Hy dương âm hư nghi Mao Thi Truyện cho rằng: Hy là quang minh sáng suốt. Hoặc là viết chữ hỹ lại cũng viết chữ hy Bổn tập viết chữ hy đều thông dụng.

Duyên phu âm phó câu Trịnh Huyền chú giải sách Nghi Lễ rằng: Phu là mu bàn chân trên. Sách Thuyết Văn viết từ bộ túc thanh phu.

Tiện quyên âm trên tỳ miên âm dưới nhứt duyên Vương Dật chú giải sách Sở Từ rằng: Tiện quyên là người con gái xinh đẹp. Xưa nay chánh tự viết từ bộ nữ thanh quyên âm quyên là âm nhứt huyền.

Kiết ngoạn âm trên hiền kiết âm dưới hàng lãng Mao Thi Truyện cho rằng: Chim bay lên gọi là kiết bay xuống gọi là ngoạn hoặc từ bộ hiệt viết thành chữ kiết ngoạn bổn tập viết từ bộ điểu viết thành chữ kiết ngoạn đều chẳng phải.

Đức mạn âm trên là chữ đức văn chữ cổ âm dưới đê băn Mao Thi Truyện nói: Mạn là kéo dài ra sách Thuyết Văn cho rằng: Mạn là dẫn ra từ bộ hựu thanh mạo âm mạo ngược lại âm mạo báo.

Ái đãi âm trên ai hợi âm dưới hoa nãi Bì Thương cho rằng: Ái đãi là lúc mây che không sáng tỏ. Vương Dật chú giải sách Sở Từ rằng: Mặt trời, mặt trằng: bị che khuất nên không sáng. Xưa nay chánh tự đều từ bộ vân đều thanh ái đãi Bổn tập viết từ bộ hắc viết thành chữ ái đãi là sai.

Trinh diễm âm viêm diêm trước quyển thứ mười tám đã giải thích rồi.

Mân ngọc âm mân bân Trịnh Huyền chú giải sách Lễ Ký rằng: Mân là đá giống như ngọc vậy. Bổn chữ từ bộ dân là tránh đi lúy miếu. Cho nên đổi lại từ bộ thị viết thành chữ mân hoặc là viết chữ mân (919).

 

ÂM QUẢNG HOẰNG MINH TẬP

QUYỂN 20

Phỉ phẫn âm trên phi vĩ âm dưới phù phân Trịnh Huyền chú giải sách Luận Ngữ rằng: Trong lòng giận dữ bất bình; căm giận mà không nói ra. Sách Thuyết Văn viết từ bộ tâm đều thanh phi phẫn âm phân ngược lại âm phù văn.

Tây tiệm âm tiếp viêm chữ mượn âm. Khổng An Quốc chú giải sách Thượng Thư rằng: Từ từ thấm vào. Đây là nói ngoại ngũ phục đều cùng với vua đó là thanh giáo mà triều kiến vua. Không được trể.

Như tì âm tỷ tì Khổng An Quốc chú giải sách Thượng Thư rằng: Tì thuộc giống hổ loại mãnh thú. Sách Thuyết Văn cũng nói: thuộc giống báo từ bộ trĩ thanh tỳ âm tỳ đồng với âm trên. Bổn tập viết từ bộ khuyển viết thành chữ tỳ tục dùng thông dụng.

Thu dược âm dương chước Trịnh Huyền chú giải sách Chu Lễ rằng: Dược giống như ống tiêu, ống sáo có ba lỗ. Lại chú giải rằng: Văn Vương Thế Tử, vũ múa có cầm loại ống sáo cấm lông chim. Đó chỗ gọi là thổi sáo vũ múa. Văn Vương thế tử mùa thu, đông học thổi kèn, sáo. Làm thơ vịnh. Tay trái cầm ống sáo, tay phải cầm lông chim dài. Văn Tự Điển nói: Từ bộ phẩm tượng hình như ống sáo có ba lỗ. Viết thành chữ dược hòa điệu với tiếng sáo, lấy luân lý âm điệu. Sách Thượng Thư nói: Bát âm khắc hài không có tương truyền. Luân tức là nghĩa này. Bổn tập viết từ bộ thảo viết thành chữ dược Quách Phác chú giải sách Nhĩ Nhã rằng: Chẳng phải nghĩa yến mạch.

Tháo bị âm trên thảo đao sách Thuyết Văn nói: nắm cầm, giữ lấy âm dưới phổ bị sách Văn Tự Tập Lược cho rằng: Thanh kiếm mà giống như dao sách Thuyết Văn kiếm mà giống như dao dựng trong bao, từ bộ kim thanh bì.

Đông thí âm di sách Vận Anh nói: Mặt trời mọc. Đông thí là tên huyện. Xưa nay chánh tự viết từ bộ nhựt thanh thí bổn tập viết từ bộ mục viết thành chữ thí là rất sai. Không thành chữ.

Thị ngọc âm chi thi sách Thuyết Văn cầm nắm đánh gõ. Từ bộ thủ.

Phụng quan âm quan uyển sách Đại Đái Lễ cho rằng: Vua Ngu Thuấn lấy đức trời dung hòa cùng Vua Nghiêu, Tây Vương Mẫu hiến tặng ngọc trắng cho hai vua. Xưa nay chánh tự cho rằng: Lấy ngọc làm ống sáo. Đời nhà Hán lịnh cho Văn Dương học đạo nơi Vua Thuấn từ, dưới được loại nhạc đó là sáo ngọc của vua. Cho nên thần dân hòa với nghi phụng hoang. Chữ viết từ bộ ngọc thanh quan.

Bàn xuế âm bạc mạn âm dưới xương thuế.

Vu bột ngược lại âm phân vật.

Nghị hiệt ngược lại âm điền kiết Mao Thi Truyện cho rằng: Nghị điệt là đụm kiến, tức ổ kiến, sách Phương Ngôn cho rằng: Người nước

Sở đất phương Nam gọi là kiến làm ổ có hang, hang kiến ở. Sách Thuyết Văn viết từ bộ thổ thanh chí.

Phồn tỏa âm hòa quả sách Phương Ngôn cho rằng: Phàm là vật nhiều nẩy sinh, sinh sôi nảy nở nhiều gọi là phồn, nước Tề, Sở, Ngụy gọi là tỏa hoặc là viết chữ tỏa.

Khác yết âm trên ư giới Quảng Thương cho rằng: Khác là tiếng thâm u âm dưới yến kiến sách Thuyết Văn đều từ bộ khẩu đều thanh hạt nhận.

Chiêm bặc âm trên chiêm âm dưới phổ bắc tây vực tên của mùi thơm.

 

ÂM QUẢNG HOẰNG MINH TẬP

QUYỂN 21

Ký câu âm trên lý tri âm dưới cự ngu

Ly ngưu ngược lại âm uyển bao kinh Sơn Hải nói: Núi Phiên Hầu có con thú hình trạng giống như con trâu mà bốn chân có mọc công gọi là ly ngưu. Sách Thuyết Văn nói: ở nước Tây Nam Di có loại trâu lông dài, từ bộ ngưu thanh ly âm ly Bổn tập từ bộ mao viết thành chữ mao là sai

Tiêu mại âm mạch bái tên người.

Nghiêm hạch âm trên khiết kiên bổn tập viết chữ nghiêm tục dùng thông dụng, âm dưới hoành cách trước quyển thứ nhứt đã giải thích rồi.

Đẩu tiêu âm thất tiêu sách Khảo Thanh cho rằng: Tên sao, tức sao thứ năm, sáu và bảy trong đuôi của chòm sao bắc đẩu. Sách Thuyết Văn cũng là sao đuôi bắc đâu. Từ bộ mộc thanh dưới.

Hiệp bát âm kiêm giáp Hà Hưu Chú Công Dương Truyện rằng:

Hiệp là ôm ấp, chứa cất. Sách Thuyết Văn viết từ bộ thủ thanh giáp Phân hương ngược lại âm phù văn.

Quán chúc ngược lại âm dung nhục Khảo Thanh cho rằng: Nhìn chăm chú, nhiều con mắt nhìn chăm chăm vào từ bộ mục.

 

ÂM QUẢNG HOẰNG MINH TẬP

QUYỂN 22

Bính minh âm binh ãnh Quảng Nhã cho rằng: Bính cũng là minh. Thanh Loại hoặc là từ bộ hỏa viết chữ bính tức là sáng rõ từ bộ cảnh viết chữ minh âm cảnh ngược lại âm cư vĩnh.

Đệ tập âm trên đệ lễ sách Nhĩ Nhã cho rằng: Đê là thay thế. Quách Phác chú giải cho rằng: Thay đỗi lẫn nhau, hoặc là viết chữ đê tục viết chữ đệ.

Ẩm hiệt không có âm ngận thanh nhập sách Thuyết Văn cho rằng: Hiệt giống như là cắn. Từ bộ xĩ thanh ngật.

Vị toàn âm đoan loạn Thiên Thương Hiệt cho rằng: Toàn là cái dùi. Sách Thuyết Văn cái dùi nhỏ đập dã âm trúy ngược lại âm trì truy

Cốt cách âm canh ngạch Trịnh Tiễn chú giải sách Lễ Ký rằng: Xương khô gọi là cách sách Thuyết Văn viết từ bộ cốt thanh cách sách Thuyết Văn viết từ bộ khách viết thành chữ cách âm khách á âm dưới đồng nhưng chẳng phải.

Tôn tẩu âm trên côn ổn vũ phụ hoặc là viết chữ cổn Bổn tập từ bộ giác viết thành chữ huyền là sai âm dưới tô tẩu cha Vua Thuẩn hoặc là quen viết từ bộ tẩu Bổn tập viết quýnh là sai.

Tiêm nhuế âm tiếp diêm Quảng Nhã giải thích tiêm cũng là nhuế hoặc là quen viết chữ tiêm chẳng phải. Bổn tập viết chữ tai âm tai là sai lầm quá lắm.

Vinh minh âm dinh đinh Quảng Nhã cho rằng: Chà xá, mài. Cố Dã Vương nói: Gọi là lau chùi châu ngọc khiến cho phát sáng. Sách Thuyết Văn viết từ bộ kim thanh quỳnh.

Hạp tử âm khâm Vương Dật chú giải sách Sở Từ rằng: Hạp giống như chìm xuống, che xuống. Văn Tự Điển nói: Từ bộ thủy thanh cái hạp từ bộ đại đến bộ huyết Bổn tập viết từ bộ khứ viết thành chữ hạp tục dùng thông dụng.

Sương hải âm sở trang xưa nay chánh tự cho rằng: Người nước sở gọi người phụ nữ chết chồng gọi là sương từ bộ nữ thanh sương

Tất sàn âm tuyển Khổng An Quốc chú giải sách Thượng Thư rằng: Sàn là nhìn thấy gầy yếu. Sách Thuyết Văn viết từ bộ nhân thanh sàn âm sàn ngược lại âm sĩ quyến Bổn tập viết từ bộ hán viết thành chữ sàn là sai. Âm hán là âm hán.

Cảnh tử âm canh ngạch tên ngục

Dư tiềm âm tiềm liêm Đỗ Dự chú giải Tả Truyện rằng: Giữa nửa Ngô, Sở gọi diệt hết lửa là tiềm xưa nay chánh tự viết từ bộ hỏa thanh tiềm âm tiềm là âm tiếp niệm Bổn tập viết chữ tiềm tục dùng thông dụng.

Tương thiên âm thiết chiến Bì Thương cho rằng: Thiên là lửa cháy rực. Văn Tự Điển nói: Từ bộ hỏa thanh phiên hoặc là từ bộ nhân viết thành chữ thiên.

Ôi tẩm âm tợ tấn Đỗ Dự chú giải Tả Truyện rằng: Lửa củi cháy hết còn dư lại tro tàn. Bổn tập viết chữ tẫm tục dùng thông dụng..

Xả triệt Âm triền liệt. Đỗ Dự Chú Tả Truyện rằng: Triệt là bỏ đi Trịnh Huyền chú giải sách Nghi Lễ rằng: Trừ bỏ hoặc là từ bợ xích viết thành chữ triệt.

Quỹ chú âm trù lục Hán Thư âm nghĩa rằng: xúc là dấu chân, hoặc từ bộ thục viết thành chữ xúc.

Trường diễm âm diêm chiêm. Sách Thuyết Văn cho rằng: Lữa cháy lan, diễm là lửa cháy rực, sách Khảo Thanh cho rằng: Viết chữ viêm.

Phĩ phĩ âm phĩ phi Sách Thuyết Văn giải thích văn chương trau chuốt, rực rỡ, sáng sủa. Từ bộ văn thanh phi.

Loa lũ âm lỗ qua Cố Dã Vương nói: Loa lũ giống như uống khúc uyển chuyển. Sách Thuyết Văn viết từ bộ kiến thanh loa âm loa đồng với âm trên.

Quân chích âm trên quân vận âm dưới chinh thạch sách Phương Ngôn cho rằng: Quân chích đều là lấy giữ lấy, sách Thuyết Văn đều là nhặt lấy, chữ quân hoặc là viết chích hoặc là viết chữ chích.

 

ÂM QUẢNG HOẰNG MINH TẬP

QUYỂN 23

Oa long âm ô oa sách Thuyết Văn cho rằng: Tà dại, xấu xa; hoặc là viết chữ loa

Lâm nghiễm âm ngôn kiến trước đã giải thích rồi.

Vi tốc âm tố lộc Văn Tự Điển nói: Tên gọi chung rau cải từ bộ thảo thanh tốc âm tốc âm sở lục.

Vi sởi âm trên ô hối âm dưới lỗi tội sách Khảo Thanh cho rằng: Núi. Bổn tập viết từ bộ hoài đến sợ lụy viết thành chữ hối lụy Ngọc Thiện nói: không có chữ này. Phu tiêu âm thất tiếu lời thương cho rằng: Tiếu là núi nhỏ mà cao chót vót, hoặc từ sợ phụ viết thành chữ tiếu.

Huyền triệt âm triền liệt Đỗ Dự chú giải Tả Truyện rằng: Triệt là vết bánh xe. Xưa nay chánh tự viết từ bộ xa bộ triệt thanh tĩnh bổn tập viết từ bộ túc viết thành chữ triệt là không có chữ này.

Bức ức âm trên bằng bức âm dưới bằng cựu Cố Dã Vương cho rằng: Bức ức giống như tràn đầy. Quách Phác chú giải sách Phương Ngôn rằng: Bức ức là đầy hơi. Ngọc Thiện cho rằng: bức hoặc là từ bộ tâm viết thành chữ bức sách Thuyết Văn nói: chữ ức viết đúng từ bộ ất viết thành chữ ức sách Khảo Thanh hoặc từ bộ cốt viết thành chữ ức bổn tập viết chữ ức tục dùng thông dụng.

Yểu dĩ âm dĩ hiểu hoặc là viết chữ yểu.

Phương Huyến ngược lại âm huyết luyện Tư Mã Bưu chú giải sách Luận Ngữ rằng: Huyến là loa văn rực rỡ. Sách Thuyết Văn hoặc từ bộ luyến viết thành chữ luyến.

Từ hoạch âm hoành mạch Quảng Nhã cho rằng: hoạch là âm huệ, sách Khảo Thanh cho rằng: hiểu rõ, sách Thuyết Văn viết từ bộ tận viết thành chữ hoạch là sai.

Lan tôn âm tổn tôn xưa nay Chánh Tự cho rằng: Tôn là loại cỏ thơm. Từ bộ thảo thanh tôn.

Nịch thị âm minh đích Nhĩ Nhã cho rằng: Nịch là lo lắng, suy nghĩ Văn Tự Điển nói: Hoặc là viết chữ nịch.

Tố lai âm tô cố sách Phương Ngôn cho rằng: Tố là đi ngược dòng nước. Sách Thuyết Văn cũng là chữ tố sách Nhĩ Nhã nói: Nước chảy ngược ngược dòng trở lên gọi là tố.

Đổ vi âm vi quý Quảng Nhã nói rằng: Vi là chủng loại, cùng loại lại với nhau. sách Thuyết Văn từ bộ bộ vi thanh tĩnh âm đệ là âm đệ văn chữ cổ. Nay viết chữ vị này vậy.

Lan uyển âm miễn viễn sách sở từ cho rằng: Chính uyển là lan tư đơn vị đo xuống đất của Trung Quốc ngày xưa. Vương Dật chú giải rằng: Mười hai mẫu là một uyển. Sách Thuyết Văn hoặc là ba mươi mẫu là một uyển. Từ bô điền thanh uyển bổn tập viết từ bộ nhựt viết thành chữ uyển là viết sai.

Diên lâu âm duyệt duyên Mao Thi Truyện Trịnh Tiễn cho rằng: Loại diều hâu. Xưa nay chánh tự viết từ bộ điểu thanh dực bổn tập viết chữ diên tục dùng thông dụng.

Khu hâm âm trên khúc câu âm dưới khắp kim Quảng Nhã và Thượng Lâm Phú Truyện khu hâm đều là núi cao hiểm trở, nghiên xưa nay chánh tự đều cho rằng: khu hâm đều là thế núi cao hiểm trở đều từ bộ sơn đều thạnh khu hâm.

Đới ngung âm ngu hung.

Hà phệ âm thời duệ Đỗ Dự chú giải Tả Truyện rằng: Phệ là bến (920) nước, sách Thuyết Văn viết từ bộ thủy thanh phệ.

Vương hao âm hiếu giao tên người.

 

Did you find apk for android? You can find new Free Android Games and apps.