Want create site? Find Free WordPress Themes and plugins.

NGƯỜI NIỆM “A MI ĐÀ” CẦN PHẢI SÁM HỐI

 

Ẩn tu uổng tiếc bạn đồng hành !
Nói lý cao huyền đắm lợi danh !
Già, bịnh, đọa sa, không phản tỉnh
Bóng câu mấy nỗi thoáng bên mành !

***
Ẩn tu xét thấy chốn Tăng-Già
Ganh-hại thị-phi lắm bất hoà !
Danh vị, chùa chiền tranh đệ tử
Ưu Đàm, Lan Huệ héo mầm hoa.

***
Ẩn tu ngại lỗi luận đua tranh
Nói cũng vì người thuyết khác hành
Thái cực ai-phân nhơn-ngã đó
Lạnh lùng huyễn lợi với hư danh !

***
Ẩn tu chán kẻ nói loanh quanh
Đem hiệu Di Đà phối ngũ-hành
Bao-tử giả là ao Thất-bảo
Phật lành niệm Phật để làm danh !

***
Ẩn tu thời mạt nhớ câu than
Đức Tín Tỳ Kheo kém Thiện-nam
Cư-sĩ lại thua hàng tín-nữ
Thiên Như huyền ký để lời vàng.

Lược trích “Ẩn Tu Ngẫu Vịnh” của HT Thích Thiền Tâm

 

Đã có rất nhiều bài phản luận từ khi thánh hiệu của đức Từ Phụ A Di Đà đổi thành A Mi Đà, chưa kể trên nhiều Diễn Đàn đã tranh luận đúng sai về sự khác biệt này. Giữa người quyết tâm gìn giữ và chỉ niệm theo các bậc đại tổ sư và lịch sử của Phật giáo đã truyền vào nước ta, là câu Phật hiệu A Di Đà với người chủ trương (cho là từ sai, nếu không cần chi phải thay đổi), và người ủng hộ theo cách mới mẻ này, để làm mới cái gì đó, cố tình hay vô ý tạo ra cho nhiều tranh luận, càng nhiều càng tốt, tốt nhất là nên vạch lằn vẽ, và phân ranh giới luôn thì hay biết chừng nào?

Chúng ta thường nghe chư bậc tôn túc nói giai đoạn này là thời mạt Pháp mà, đã như là thời mạt pháp thì cần phải đánh nhanh rút gọn, để cho thánh hiệu của đức Phật A Di Đà mau mau biến mất, sớm chừng nào thì tốt chừng nấy. Ai là Phật tử có một chút nghiên cứu thì cũng đều biết rằng, câu Phật hiệu này thật quá vĩ đại, thánh hiệu đã bao trọn hết 48 đại thệ nguyện của Tỳ Kheo Pháp Tạng, và là đức Từ Phụ A Di Đà Phật ngày nay.

Vì lòng đại từ đại bi, phát nguyện cứu vớt hết những chúng sanh nào quay đầu một khi đã tạo nghiệp ác, cũng có thể nương vào đại nguyện lớn để qua sông sinh tử. Sinh tử thật sự quả là đáng sợ vô cùng. Do đó cũng đủ biết câu thánh hiệu thật sự là chướng ngại vô cùng cho Ma Ba Tuần và quyến thuộc của ma, vì sao? Vì đối với những kẻ tạo ra ác nghiệp chỉ cần gặp thiện duyên gặp được bậc thiện tri thức chân thật, khai thị nói cho hiểu về ý nghĩa cũng như bổn nguyện của Tỳ Kheo Pháp Tạng, tha thiết, chí tín, phát nguyện vãng sanh, nhất tâm trì danh hiệu Phật, ắt sẽ được nương vào tha lực của đức Phật A Di Đà mà đới nghiệp vãng sanh.

Những ai có lối suy nghĩ, muốn dùng với danh xưng là Phật tử để chính tay Phật tử tiêu diệt, hay nói cách khác sửa đổi, làm cho biến dạng hết toàn giáo lý, Kinh Điển, tên Phật v.v…v.v.. Thì quả là ấu trĩ quá. Thật sự là như vậy, như lời của đức Thế Tôn đã dạy, thời mà Phật Pháp sẽ đi vào hoại diệt, để chuẩn bị cho một vị Phật vị lai xuất thế. Nhưng thời gian đó còn xa vô cùng, cả hàng triệu triệu năm nữa, đức Phật dạy: Kinh Thủ Lăng Nghiêm là một trong bộ Kinh sẽ bị biến mất trước tiên, và những bộ kinh lớn sẽ sắp hàng theo sau đó. Bộ Kinh Phật Thuyết A Di Đà, là một trong bộ Kinh sẽ theo sau cùng, và sau đó là chỉ còn có sáu chữ thánh hiệu “Nam Mô A Di Đà Phật” được tồn tại một trăm năm nữa. Kế đó, thánh hiệu lại mất đi hai chữ “Nam Mô” mà chỉ còn lại bốn chữ “A Di Đà Phật” mà thôi, và cũng theo thời gian biến mất hết.

Tuy biết lời đức Phật dạy là như vậy, nhưng thời đó trong còn rất xa trong chúng ta. Nhưng kỳ thật, hiện tượng này đã xuất hiện rồi, trước là họ bảo Kinh Thủ Lăng Nghiêm là giả mạo, không phải do đức Phật nói ra.

Hòa Thượng Tuyên Hóa là bậc cao Tăng thạc đức, Ngài đã dạy rằng: “Nếu như bộ Kinh Thủ Lăng Nghiêm là không do Phật nói, thì trên cõi đời này chẳng có ai có thể nói ra đạo lý trong Thủ Lăng Nghiêm được“. Ngài cũng đã phát nguyện rằng: “Nếu Kinh Thủ Lăng Nghiêm không phải do Phật nói, Ngài nguyện sẽ đọa vào địa ngục trước tiên, vì không có trí tuệ nhận được đúng sai, mà tuyên dương và bảo hộ cho Bộ Kinh Thủ Lăng Nghiêm“.

Ở Việt Nam lại có một ma quyến là ông Chân Quang, lại lên tòa Chánh Pháp của Như Lai lại bác bỏ rằng: “Kinh Thủ Lăng Nghiêm là không do Phật nói”. Ông Chân Quang còn cao tay hơn vị sư người Nhật Bản đã bảo rằng Kinh Thủ Lăng Nghiêm là giả mạo.

Thật sự mà nói, trong Phật giáo hiện nay có quá nhiều pha trộn, tự vinh danh là Phật tử (xuất gia lẫn tại gia) rồi tự kết án, thay đổi, sửa chữa, làm mới mẻ v.v… Hư giả khó phân, đức trí, bại hoại khó đoán. Đó đều là hiện tượng báo trước cho thời gian bắt đầu “Hoại” của Phật Pháp. Nhưng đó chỉ là sự phản phất mùi bắt đầu mà thôi, chứ chưa thành hình được, chứ nói gì đến Phật Pháp hoại rồi “Diệt”?

Theo như lời đức Phật dạy, chúng ta cũng sẽ suy đoán ra rằng, thánh hiệu của Phật A Di Đà đổi thành A Mi Đà cũng đúng thôi. Đó cũng chỉ là hiện tượng hay nói cách khác là sự thăm dò đối với tín đồ của đạo Phật nói chung, cho người tu theo Pháp môn Tịnh Độ nói riêng. Theo vòng vận mạng của Phật Pháp trên cõi đời này, thì tin chắc rằng, không chỉ là thánh hiệu chỉ thay đổi và sửa thành A Mi Đà mà thôi, mà còn phải sửa thành bất cứ gì cũng có thể, như A Mi Đạ (Đã, Đả, Đá) Phật, rồi kế tiếp là A Mi Dà (Dạ, Dá, Dã, Dả) Phật.

Sự đúng sai không cần phải tranh luận, vì sao? Vì lịch sử đã chứng minh rằng: Người cầu sự giải thoát chân thật mà nương tựa vào tha lực của Đức Phật A Di Đà, chí thành niệm thánh hiệu “Nam Mô A Di Đà Phật” đều được vãng sanh. Chúng tôi tin chắc thật không một ai dám to gan hơn nữa, để phủ nhận điều này. Đã như vậy thì cần gì thay đổi mà bảo khi có người hỏi rằng: “Niệm danh hiệu nào cũng được, A Di Đà Phật hay mà A Mi Đà Phật cũng đều được cả“.

Đã như không có gan dám phủ nhận, là câu thánh hiệu “Nam Mô A Di Đà Phật” là sai và dám phủ nhận rằng những thành quả tốt đẹp viên mãn đới nghiệp vãng sanh của những hành giả chuyên tâm niệm Phật hiệu A Di Đà, thì chớ có chơi chữ, dùng chữ để bẻ trăng là “Sao Cũng Được”. Nếu như là không sai, và không dám lên tiếng phủ nhận, thì mắc mớ gì phải làm vấn đề thêm phiền toái, mà nếu không nói là không hợp với quy cũ của một tín đồ đạo Phật chân chính.

Trong rất đơn giản, nhưng thật sự không có chút nào là đơn giản, mà nó có tầm ảnh hưởng rất sâu rộng, chỉ nói đến những người khi đã nghe qua việc thay đổi này, lên tiếng thêm ý kiến, phản hồi. Giữa bên thuận và bên không chấp nhận, gây ra bao nhiêu là khẩu nghiệp v.v…

Lại còn quan trọng hơn nữa là trong khi thực hành. Theo chúng tôi chỉ có thể chấp nhận một khi ai đó to gan lên tiếng phủ nhận và bác bỏ hết câu Phật hiệu “Nam Mô A Di Đà Phật” là sai. Lúc đó câu “Nam Mô A Mi Đà Phật” mới thật sự đuợc thay thế vào. Nếu không, đều là sự khoa trương và phiếm diện, chẳng có giúp ích gì, chỉ là tạo thêm nhiều nghiệp tội, vãng sanh sao nổi khi đưa cho người hai cái tâm? Mà quan trọng nhất trong pháp môn niệm Phật là sự NHẤT TÂM, mới đới nghiệp vãng sanh được.

Đừng bao giờ xem thường, cũng đừng dùng thiền ý hay Duy Thức Học để bảo rằng, “Nhất Thiết Do Tâm Tạo“. Nếu vậy thì không cần phải đeo theo cái phao (Nam Mô A Di Đà Phật) qua biển sinh tử này nữa. Chỉ cần tạo ác nghiệp rồi buông bỏ xuống thì sẽ thoát được luân hồi. Trong thời đại này, có rất nhiều trường hợp mà người vô tình hay cố ý dùng những lời nói này để ru ngủ hay nói cách khác là xuyên tạc, lèo lái để dụ dẫn người Phật tử không rõ giáo lý của Phật dạy, và chưa đủ lòng tin.

Những lời dạy cao quý kia, từ miệng vàng của đức Phật trở xuống đến chư đại tổ sư đều là những bước tu học giúp đỡ lẫn nhau cho một người quay đầu về giác ngộ. Đừng chơi chữ cũng đừng khuyến dụ những tân hành giả, hay những người tự xưng là Phật tử nhưng không học giáo lý.

Câu ” Nam Mô A Mi Đà Phật” được xuất phát từ cuốn, “Hương Sen Vạn Đức” của thầy Thích Trí Tịnh, và được tìm thấy trong cuốn “Ý Nghĩa Hoằng Pháp và Hộ Pháp” của tác giả Diệu Âm – Diệu Ngộ.

Ngoài ra, được ông Thích Ngộ Thông nhất nhất hoằng dương, và cũng có một số Phật tử ở Úc phát động. Cho thấy, sự thay đổi này ngày càng lang rộng, hầu hết trong tâm ý của họ đều muốn thay đổi câu thánh hiệu “Nam Mô A Di Đà Phật” trở thành “Nam Mô A Mi Đà Phật” vĩnh viễn. Ngoài miệng thì họ không dám phủ nhận câu thánh hiệu “Nam Mô A Di Đà Phật ” là sai như trong tâm họ đã là sai từ lâu rồi, nhưng tại chưa có gan để dám lên tiếng khẳng định rằng câu thánh hiệu “Nam Mô A Di Đà Phật” là sai mà thôi.

Học Phật Pháp là cần sự đoàn kết, và thực hành chân thật, nhưng kỳ thật nhóm người này cho và gọi là đang hoằng dương Pháp môn Tịnh Độ, nhưng cũng không biết họ hoằng dương Pháp môn Tịnh Độ ra làm sao? Mà chỉ thấy độc quyền nhãn hiệu, nương danh của PSTịnh Không làm cớ tác oai tác quái (chưa nói đến việc hoằng pháp của vị này chẳng phải là tôn chỉ của Tịnh Độ tông). Chưa đề cập đến những người tự xưng là Cư Sĩ (lạm dụng danh xưng, Cư Sĩ là huy hiệu chẳng phải do chính mình phong cho, mà chỉ được chấp nhận từ người khác gọi đối với bản thân mà thôi) làm những việc chẳng trúng trật vào đâu, bảo trúng thì chẳng trúng chút nào, nói trật thì cũng không phải trật, như vậy là sao? Nội dung là ở chỗ này, khó mà phân biệt được.

Thánh hiệu “A Di Đà” nguyên tiếng Phạn là: “Amitābha” अिमताभA nghĩa là Không, dịch là ,mitā nghĩa là Đo Lường, dịch là Lượngābha tức là (ánh) sáng dịch là Quang. Vậy là câu này dịch là Vô Lượng Quang.

Còn thánh hiệu “Vô Lượng Thọ”, chữ thọ là được dịch theo từ “āyus“, “āyus” nghĩa là đời sống dài, dịch là “Thọ“. Vô Lượng Quang tức dịch từ “Amitābha“, còn thánh hiệu “Vô Lượng Thọ” thì dịch từ “Amitāyus“.

Người Trung Hoa viết thánh hiệu là “阿彌陀”. Chữ “彌” mí là cách phiên âm của Chữ Di, chữ Di là kí âm của tiếng Phạn của những từ như mi/mai/me.

Chữ Di trong thánh hiệu của Phật A Di Đà, được kí âm từ chữ mi/mai/me, khác với chữ Di của người Hán “獼” cũng đọc là mí, mi, di nghĩa một loài khỉ.

Do đó, mà người Trung hoa phiên âm từ mi/mai/me đều là di, di cũng là cách phiên âm của từ mi của tiếng Phạn. Cho thấy, dù phiên âm từ tiếng Ấn Độ hay tiếng Trung Hoa thì đều là Di, chớ không phải là Mi. Việc này cho thấy, các bậc tiền bối đã dịch thuật thật chính xác. Chỉ có phiên âm theo tiếng La Mã thì mới là Mi mà thôi, Amitabha (A-mi-ta-ba (bà)).

Thánh hiệu của đức Phật A Di Đà được phiên âm theo Phạn hay Hoa thì cũng đều là Di. Duy chỉ có thể phiên âm mi từ tiếng La Mã. Nếu vậy thì những người chủ trương và chẳng biết cách dịch thuật của các bậc tiền bối, vốn đã gian nan và gặp trắc trở biết dường nào, để lại cho Phật giáo đồ nói chung một kho tàng như thế này.

Nay có người phát động là nên sửa, không biết hổ thẹn gì mà còn dám lớn tiếng ủng hộ, cùng tư tưởng mới mẻ để tạo bao điều kiện chướng duyên trong Phật giáo. Tuy biết rằng, không ai dám lên tiếng nói là cách dịch thuật của bậc tiền bối là dịch sai vậy mà cũng hùa theo những tư tưởng phá giáo lý của Phật đà. Đã như tự mình chấp nhận cả hai đều đúng, thì tại sao phải khởi động và phát huy nó? Nếu như càng ngày càng phát triển thì không phải từ câu Phật hiệu “A Di Đà” biến mất và trái lại sẽ đổi lại là “A Mi Đà” hay sao? Đây không phải là cách chơi chữ hái trăng hay sao chứ?

Những bậc tiền bối đã tu đã chứng viên mãn như vậy, lịch sử còn lưu lại sờ sờ ra trước đó, có xa đâu mà lấy làm khó hiểu. Đã như lòng tin của chính bản thân mình không đủ, chỉ chuyện đơn giản thế này mà còn chao động, nói chi đến chuyện vãng sanh về thế giới của Phật A Di Đà?

Theo cách kí âm và phiên âm của các từ như mi/mai/me là Di là hoàn toàn chính xác. Chỉ có những người thời nay lượm vặt được vài mớ vốn của tiếng La Mã (tiếng Anh), rồi tự tiện đọc theo âm trại của tiếng Anh mà ra, làm cho nhiều danh từ trong Phật giáo bị biến đổi theo ý riêng của họ.

Chúng ta hãy xem cách phiên âm của những từ bắt đầu từ me/mi/mai, được kí âm thành là Di từ Phạn, Hoa cho đến Hán Việt đều đồng nhất không hề chút sai lệch nào như sau:

Di Lặc (Bồ Tát Di Lặc), Di Lặc là phiên âm của tiếng Phạn Maitreya, và Pali là Metteyya, người Hoa viết là 彌勒 và âm Hán Việt là Di Lặc.

Di Lan Đà là phiên âm tiếng Phạn và Pali Milinda, người Hoa viết là 彌蘭陀 và âm Hán Việt là Di Lan Đà.

Tu Di (núi Tu Di) phiên âm từ tiếng Phạn sumeru, người Hoa đọc là 須彌, âm Hán Việt là Tu Di, dịch ý là Diệu Cao.

Ngoài ra còn rất nhiều chữ đi theo từ mai/di/me, đều được phiên âm là Di từ tiếng Phạn, Hoa và ngay cả Hán Việt cũng là như vậy. Đại khái như từ Sa Di từ tiếng Phạn là Sa Mi, hay từ Mitra (Di Đa La Ni) tức là bằng hữu.

Theo một kho tàng bất hữu trong cách dịch thuật của các bậc tiền bồi đều kí âm và phiên âm theo những từ như mi/me/mai đều là Di. Vậy thì ở đâu mà có cách dịch thuật mới mẻ như thế này, nếu muốn đổi thì phải đổi hết chứ sao lại chỉ muốn đổi chữ Di thành chữ Mi trong thành hiệu của đức Phật A Di Đà? Mà nói cũng bằng không, chắc chắn rằng sẽ không lâu những từ kia sẽ đổi thành Mi hết cho mà xem. Thật là vô lý.

Theo như kí âm và phiên âm trong Kinh Phật giáo đã nói ở trên, vậy là những người chủ trương và người hùa theo đều mang tội phỉ báng, bất kính đối với các bậc tiền bối đức cao đạo trọng. Đã tự mình sai rồi cố ý bảo người cùng sai, dùng lưỡi không xương, chữ viết thế tục để biện giải vô căn cứ, thật tội lỗi, ấy vậy mà chẳng biết còn cố ý biện minh thế này thế nọ. Chẳng cung kính với những bậc tiền bối là những người thật đức thật tài. Những người đời nay chưa ai dám bảo là thật đức thật tài cả. Chỉ có lịch sử mới có thể chứng minh cho việc đó. Những người thời nay phần nhiều thì dùng cái lưỡi không xương để mà biện minh cho những việc làm của mình, dùng cái trí của thế gian hữu lậu mà muốn đo lường biển Phật Pháp, thật sự là tội nghiệp.

Chư đại cổ đức của Phật giáo dùng đức độ để độ người, còn người đời nay dùng lời nói trên đâu lưỡi để khuyến dụ. Thật khác xa với các bậc tiền bối đã đi qua, vậy mà lại cũng có thể kéo được người theo thật sự mới ngạc nhiên. Do đó cũng cho thấy và biết rằng, Phật pháp đã từ từ biến dạng thành tôn giáo mới, lần lượt pha trộn những giáo lý và tư tưởng ở đâu đâu, nhưng lại chiêu sinh mãi mã từ là tín đồ của Phật giáo, đúng là thời Phật suy Ma cường.

Theo như trên đã dẫn chứng và còn rất nhiều danh từ được phiên âm và dịch trong Tam Tạng Kinh trong Phật giáo, với những từ me/mai/me đều được đọc là Di, từ tiếng Phạn hay Hoa và Hán Việt đều không sai.

Còn nếu như muốn đọc theo âm trại của Tiếng Việt thì phải đọc cho đúng là: Nam mô A Mi Ta Ba (Namo Amitabha), đây là cách đọc theo âm Việt, còn nếu không thì không có lý do nào chính đáng để đổi thánh hiệu của đức Phật A Di Đà thành A Mi Đà cả.

Vậy thì những người có ý tưởng cùng chung những người chủ trương nên suy nghĩ lại vấn đề thật quá quan trọng này, có nên dừng bước hay không dừng bước ở chính bản thân. Trong Phật giáo mọi người đều tin tưởng rằng, ai làm nấy chịu, ai trồng nấy ăn, tạo nhân nào thì gặt quả đó không bao giờ sai chạy đâu cả. Do vậy, phần còn lại là ở nơi thân của chính mình không phải ở nơi người khác.

Nam mô A Di Đà Phật,

Trân trọng,

Ban Hoằng Pháp
tangthuphathoc.net

Tham Khảo:

– Niệm A Di Đà Phật hay A Mi Đà Phật? của tác giả Nguyễn Cung Thông

 


 

Kính thưa quí Phật tử,

Như đã thông báo cũng như phổ biến mà chúng tôi cố gắng đã trả lời về việc mà nó đã gây một ảnh hưởng rất lớn đối với người tu hành theo tông Tịnh Độ, giữa câu Phật hiệu ” Nam Mô A Di Đà Phật” và ” Nam Mô A Mi Đà Phật”.

Theo lịch sử của Phật giáo cũng như từ điển Hán – Việt của Phật Học chưa bao giờ có ghi là “A Mi Đà”, chắc cũng có lẻ sẽ không lâu đâu, chúng ta sẽ tìm thấy rải rác đâu đó sẽ được nhóm người tự cho thánh hiệu của Đức Từ Phụ A Di Đà nên sửa đổi là A Mi Đà mới đúng, và chính tay họ sẽ tự đưa vào từ điển. Sự việc trước mắt như vậy rồi, mà có một số người lại vô tri hùa theo tư tưởng cải mới???

Như chúng tôi đã giải thích, Phật thì chẳng có tướng làm gì có danh, mà lại là A Di Đà Phật hay A Mi Đà Phật. Nếu chúng ta là người thực hành chơn chánh, thì với tâm thanh tịnh thì niệm câu Phật nào cũng là Phật thôi, chứ không hề sai khác. Ở thế gian thì trọng cái danh, nhưng trong Phật Pháp thì trọng cái tâm. Còn nữa, mong rằng những ai chủ trương nên cải mới câu Phật hiệu A Di Đà Phật thành A Mi Đà đừng bao giờ mượn chữ chơi chữ nữa nhé. Vì sao? Vì sẽ có người bảo rằng: ” Nhất thiết do tâm tạo?”. Nếu bảo như vậy, thì chính bản thân của người thực hành cũng đừng xưng niệm danh hiệu Phật, hành bái sámtụng kinh….v.v… để làm gì cho phiền toái. Cứ làm những chuyện đảo điên và khi xong rồi thì “Nhất thiết do tâm tạo” thì được rồi.

Đứa bé khi chào đời cũng phải theo thứ trình mà phát triển, từ bò, tập đi, rồi mới chạy, hoàn toàn không có thể nào chạy trước khi đi. Người mới học Phật cũng phải theo từng lớp mà hấp thụ tuỳ theo căn cơ của từng mỗi cá nhân mà chọn những pháp thích ứng cho chính bản thân, rồi tinh tấn hành trì. Nếu như đi đúng phương Pháp mà Đức Thế Tôn đã dạy thì may ra tâm mờ mịt kia sẽ được tỏa sáng đôi chút, chớ đâu thể nào có chuyện” Nhất thiết do tâm tạo”. Người đồ tể sát sanh quá nhiều, khi nghe đượ cngười bảo hãy đọc “Nhất thiết do tâm tạo” là ông sẽ khỏi đọa vào đường ác. Quí vị có cho thật có đạo lý nầy? Người đồ tể kia nếu muốn được “Nhất thiết do tâm tạo” thì trước tiên người này phải hiểu thấu đáo câu “Nhất thiết do tâm tạo” mà quan trọng là ông ta phải biết cái tâm của mình đang ở đâu? Phải hiểu rõ ràng về cái tâm của ông ấy, thì may ra mới “Nhất thiết do tâm tạo”. Còn chỉ biết đọc xuông theo người ta thì chúng tôi tin chắc rằng chỉ có thể là: “Nhất thiết do nghiệp lực” mà thôi.

Chúng tôi sẽ không nói nhiều về ở đâu đâu, những đạo lý thâm sâu như nói: “Nhất thiết do tâm tạo”. Vì chúng tôi chưa lên bờ vẫn còn lênh đênh trên biển sanh tử thì phải ôm thuyền chứ không thể nào bỏ thuyền được. Nhưng nếu là người đã lên bờ thì thuyền cũng chỉ là vật chướng ngạiTuy nhiên, những ai tự cho mình đã lên bờ thì tất nhiên không cần thuyền nữa, nhưng xin nhớ một điều rằng, những người đang trên thuyền không như người đã lên bờ. Đừng bao giờ dùng phương pháp bỏ thuyền để dạy họ. Vì sao? Vì nếu không có thuyền, những người này sẽ rơi vào biển nghiệp, thật tội nghiệp thay. Xin hãy thận trọng.

Vấn đề thật giữa câu Phật hiệu A Di Đà và A Mi Đà thật là đơn giản, nhưng không biết tại sao có quá nhiều người lại hoang man và lo lắng (đối với người tu hành theo Tịnh Độ tông). Theo chúng tôi thì quí vị chưa có đủ lòng tin nơi Phật Pháp cũng như chưa có lòng tin đối với những bậc tiền bối đã đi trướcLòng tin của quí vị chỉ là lòng tin tạm thời và lòng tin ấy phải theo một số đông thì quí vị mới cảm giác an toàn. Thử hỏi chỉ có bao nhiêu đó, thì sao quí vị muốn vãng sanh về thế giới Cực Lạc kia, để vĩnh viễn thoát khỏi vòng luân hồi? Muốn vãng sanh về thế giới kia, quí vị phải có lòng tin chắc chắn, phải hội đủ ba việc: TÍN, HẠNH, NGUYỆN, tròn đầy thì mới mong ra khỏi luân hồi. Thử nghĩ xem, Phật giáo đâu phải mới xuất hiện ở nước ta trong đôi mươi năm, nói cách khác tông Tịnh Độ đâu chỉ mới lập thành tông trong vài mươi năm, mà quí vị lại hoang man, mà Phật giáo và tông Tịnh Độ nói riêng đã là gốc rễ ăn sâu vào lòng của tín đồ Phật giáo, hay rộng ra là khắp mọi người.

Chữ Buddha là tiếng Phạn mà phải gọi cho đủ là Buddhabhardra – Phật đà bạt đà la nghĩa là giác Hiềntóm lại là người giác ngộ. Có người bỏ rất nhiều công sức cũng như thời gian để khảo cứu để chứng minh rằng Phật là sai mà phải là Bụt. Tuy nhiên quí vị thử hỏi mọi người bình thường chẳng biết gì Phật lý chữ Bụt là gì. Tôi tin chắc rằng họ sẽ trả lời; Bụt là một vị thần tiên râu tóc bạc phơ. Vì sao vậy? Vì từ Bụt, trong văn hóa Việt Nam cũng như trong tâm thức của người Việt từ Bụt chỉ để chỉ một vị thần tiên nào đó. Nhưng hỏi về từ Phật thì ai ai cũng biết ngay là Phật giáo. Như vậy, dù là đúng hay sai cũng không cần thay đổi.

Thầy Trí Tịnh bảo trong bài để biện minh cho ý tưởng mới của thầy, khi bảo: “Nhiều năm về trước, trong thời gian niệm Phật theo thông lệ Nam Mô A Di Đà Phật, khi chuyên niệm nhiều (mỗi ngày từ hai vạn câu trở lên), tôi bị sự chướng là trệ tiếng trong lúc niệm ra tiếng và lờ mờ trong lúc niệm thầm. Giữa lúc đó tiếng “Di” là chủ của sự chướng“.

Xin hỏi ngay rằng niệm Phật để làm gì? Để cho vần với âm niệm hay để thoát luân hồi. Nếu như câu trả lời là để vần âm điệu thì hoàn toàn không gì để nói. Còn nếu câu trả lời là vì thoát sanh tử mà trì danh thì cần phải nói. Còn nữa, nếu thuận lòng là nên dùng từ BỤT thì phải niệm là Nam Mô A Mi Đà Bụt mới chính xác, thế thì sao lại đổi một từ mà giữ lại một từ mà không thể giữ nguyên như cũ như bao bậc tiền bối đã làm. Nếu cho chữ “DI” là sai thì hoàn toàn câu Phật A Di Đà phải đổi cho đúng chính xác hết.

Câu Phật hiệu này được người Trung Hoa viết như vậy:南無阿彌陀佛 – Nam Mô A Di Đà Phật, mà ai ai nếu là tín đồ Phật giáo cũng đều biết đến.

Nhưng hãy xem cho kỷ từ Mô (無) từ này không phải là VÔ (Không) sao? nếu nói là sai thì phải niệm như thế này: Nam Vô A Mi Đà Bụt. Nếu như bảo là sai mà sửa lại được như vậy thì hoàn toàn không có gì để nói. Nhưng ở đây chỉ sửa từ DI thành MI mà thôi. Rõ ràng là khi niệm “Nam Mô A Di Đà Phật” thì từ DI này là chướng ngại cho âm điệu, vậy thì đây là sự chướng ngại từ nơi tâm, chớ hoàn toàn không phải chướng ngại do dùng sai danh từ. Quí vị bảo niệm Nam Mô A Mi Đà Phật nhanh hơn là niệm ” Nam Mô A Di Đà Phật”. Kỳ thật niệm Phật mà còn tâm tham ở đây nữa, phải nên biết, không phải niệm nhiều là được vãng sanh, mà người niệm ít thì không được vãng sanh. Phải nhớ cho kỹ điều này. Nếu như quí vị dùng tâm để niệm, xả bỏ vạn duyên chướng ngại, thì chỉ cần niệm 10 niệm cũng được vãng sanh. Ở đây không phải do nhiều hay ít mà được vãng sanh. Mà chú trọng nơi tâm lực của người hành trì. Tuy biết rằng, trong Kinh dạy, niệm danh hiệu của Đức Phật nhiều thì sẽ được sanh vào hoa sen lớn phẩm cao. Nhưng phải rõ rằng, đó là nói việc trì theo tâm lực của người đó. Quí vị niềm nhiều nhưng chẳng hiểu nghĩa của câu Phật hiệu thì cũng bằng không. Tâm tham, tâm sân, tâm si, không xả thì niệm nhiều để làm gì? Nguyện thứ 18 có nói chỉ cần chúng sinh trong mười phương hết lòng tin tưởng, muốn sinh về cõi nước của Ngài thì chỉ trong mười niệm, đều được vãng sanh.

Lại nữa chữ Di Lặc – 彌 (trong thánh hiệu của Phật Di Lặc), đã nói chữ DI là sai thì phải đổi luôn chữ Di Lặc thành Mi Lặc mới đúng. Chớ sao lại đổi hiệu của đức Từ Phụ A Di Đà mà không đổi hiệu của Đương Lai hạ Sinh Di Lặc Phật?

Câu Phật Hiệu A Di Đà Phật, tiếng Phạn là: Namo Amitabha, mà người Trung hoa dịch âm là Namo A Mi Tuo Fo, nếu chúng ta dịch theo âm tiếng Phạn thì có thể dịch như vậy: Nam Mô A Mi Thà (Đà) Phật,còn nếu dịch theo âm Hán thì phải dịch Nam Vô A Di Đà Phật. Do đó, có lẻ cổ đức hòa dung cả hai nên thành Nam Mô A Di Đà Phật.

Ở trên chỉ để giải thích cho xác nghĩa của câu Phật hiệu. Chớ để tâm chú trọng vào việc đúng sai. Ở đây chúng tôi chỉ giải thích để qúi vị có cái nhìn khái niệm. Quan trọng ở đây là những người niệm Nam Mô A Di Đà Phật thuở xưa cũng như ngày nay có được thanh tịnh hay không và có được vãng sanh hay không. Nếu như lịch sử đã chứng minh, sách vở đã ghi chép đều có, thì cần chi họa thêm chữ MI vào? Thật là dư thừa và tội lỗi. Tại sao? Vì gây hoang man cho không biết bao người, còn nữa những người chưa thấu suốt giáo lý, đem ra bàn cãitranh chấp ..v.v… quí vị nghĩ có phải tội lỗi không?

Thầy Trí Tịnh lại mang sự Phật chứng để biện minh không thể thuyết phục được nếu dùng Giáo lý của Phật để đo thì không hợp lý. Phải nên biết giáo lý của Phật Đà là một giáo lý giác ngộ, chẳng phải thần quyền hay mê tín. Khi bảo rằng

Chiều hôm ấy, khi đứng dựa cửa sổ ngó mong về phía mặt trời sắp lặn, tôi bỗng thấy chữ A-mi nổi bậtgiữa khung trời xanh sáng, gần như chữ điện ở trước cửa của những hiệu buôn chiếu sáng trong đêm. Tôi thử ngó qua hướng khác thời không thấy, khi ngó trở lại hướng Tây thời chữ A-mi vẫn nổi y nơi chỗ cũ, khổ chữ lớn lối bốn tất Tây bề cao, và hiện mãi đến trên 30 phút mới ẩn… ”

Chúng tôi không dám bảo là không có thật hay có thật, mà chúng tôi chỉ nói theo nền giáo lý của Phật Đà. Nếu bảo là Phật cũng ấn chứng với ý nghĩ của thầy là nên dùng chữ Mi để thay cho chữ Di thì đức Phật còn là Đức Phật nữa không? Vậy thì những người niệm từ thuở xưa đến nay niệm Phật hiệu gì? Cũng như theo lịch sử những người niệm Phật vãng sanh thì chẳng phải Phật rước hay sao? Còn nếu nói không chấp vào danh tự, thì tại sao Đức Phật lại báo điềm lành cho nổi chữ A -mi trên trời xanh cùng với ý tưởng mới là cổ đức đã sai nên nay phải thay đổi. Trong khi đó, Đức Phật là bậc đại giácvạn Pháp đều không, mà không cũng đều có. Thì tại sao lại còn phân biệt là có, không, sai và đúng …v.v…., trong khi đó Ngài tất phải biết danh hiệu của Ngài là A Di Đà, Vì ai ai cũng niệm danh hiệu này, cho dù có sai, nhưng tâm thức của họ chính là đức Phật của thế giới Cực Lạc về Phương Tây. Quí vị thử nghĩ có mâu thuẫn không?

Lại nữa, nếu cho rằng có sức mầu nhiệm gia hộ của thánh chúng, mà chữ A-mi nổi lên trời xanh và chỉ nổi lên từ phương Tây, khi nhìn về phương khác khi không thấy chỉ thấy ở phương Tây. Nếu đã là điềm lành lẻ tất nhiên phải thấy bất luận ở phương nào, xin đừng bảo rằng vì Phương Tây là thế giới Cực Lạc. Vì Phật đâu còn mê như chúng sanh, và ích kỷ như vậy, nhìn về chỗ ở của mình thì thấy, khi nhìn về quốc độ khác thì không? trong Phật giáo đâu có đạo lý này.

Như chúng tôi đã nói, là không chú trọng vào đúng hay sai, mà là quan trọng ở nơi thật hành và quy cũ. Cổ đức từ xưa đã như vậy, bậy giờ cũng như vậy, vị lai cũng cố gắng như vậy, cần chi thay đổi để thêm rắc rối và gây ảnh hưởng đến nhiều người.

Tóm lại, nếu ai tha thiết muốn thoát vòng sanh tử luân hồi, thì cố gắng giữ tâm của mìinh và theo cổ đứcmà hành, chứ nên đem đề tài này ra phiếm diện, mỗ xẻ đúng sai. Vì tất cả đều là vô ích, chẳng giúp ích gì cho việc tiến tu cũng như việc cầu vãng sanh của mọi người. Mà hãy thật hành y như pháp, hội đủ Tam Lương, TÍN- HẠNH- NGUYỆN, để vĩnh viễn thoát ra khỏi vòng ma lực giăng bủa khắp mọi nơi.

Như đã trả lời, nhưng còn có nhiều Phật tử còn thắc mắc, nên gởi mail về hỏi. Do đó, chúng tôi một lần nữa cố gắng trả lời như trên, hy vọng rằng sẽ giúp ích được một số người nào đó, đang cũng có tâm hoang man và thắc mắc như vậy.

Sau cùng, chúng tôi tha thiết kêu gọi quí vị, những ai đang hành và sẽ theo tông chỉ của Tịnh Độ thì hãy cứ yên tâm hành trì theo cổ đức, cứ việc niệm Phật hiệu là “Nam Mô A Di Đà Phật” hết lòng thành kính, tha thiết cầu vãng sanh, nếu như có một ai làm đúng như lời dạy của Đức Từ Phụ Thích Ca Mâu Ni Phậthành thiện tránh ác, nhưng lại đọa lạc, không được vãng sanh vì niệm Phật hiệu sai, thì tôi nguyện gánh hết những tội lỗi mà hôm nay tôi cố gắng giải thích để duy trì Phật hiệu là “Nam Mô A Di Đà Phật” gây nghịch duyên cho người mới phát chánh tín cầu vãng sanh đối với Phật hiệu.

Chúng tôi tha thiết kêu gọi mọi người rằng; cũng đừng đem đề tài này để bàn cãi nữa, vì sẽ không giúp ích gì cho việc tiến tu của mình. Ai làm sao thì cứ tùy họ vậy, còn đối với bản thân thì cứ y Pháp mà hành. Nếu như còn có người tự thắc mắc cho rằng nếu điều ấy là sai, thì sao lại có người theo v.v…. Thì hãy tự hỏi với mình rằng: ” Hút thuốc thật sự có hại cho sức khỏe hay không? Sao lại có nhiều người dẫu biết là có hại mà vẫn cam tâm tình nguyện vướng vào”. Tất cả cũng chỉ đều do nghiệp lực của mỗi cá nhân khác nhau mà thôi.

Nam Mô A Di Đà Phật!

Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Như LaiỨng CúngChánh Biến TriMinh Hạnh TúcThiện ThệThế Gian GiảiVô Thượng SĩĐiều Ngự Trượng PhuThiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn.

Nam Mô Liên Trì Hội Thượng Phật Bồ Tát Ma Ha Tát!!

Trân trọng,

Tạng Thư Phật Học

Print Friendly, PDF & Email
Did you find apk for android? You can find new Free Android Games and apps.