Want create site? Find Free WordPress Themes and plugins.

MA HA CHỈ QUÁN

SỐ 1911

QUYỂN 05

Đại sư Trí Giả ở núi Thiên Thai đời Tùy giảng.
Đệ tử là Quán Đảnh ghi chép.

Phần Đầu

Thứ bảy là chánh tu chỉ quán: Sáu lớp trước nương vào kinh điển (Tu-đà-la) để khai thông sự hiểu biết nhiệm mầu, nay y vào sự hiểu biết ấy để lập chánh hạnh, tướng cao xa sáng suốt, nương vào mắt châu. Hành giải đã siêng năng, ba chướng bốn ma lẫn lộn, đua nhau sinh khởi, hôn mê chồng chất, thêm nhiều tán động, che lấp định, không nên thuận theo không nên sợ hãi, nếu thuận theo sẽ làm cho người hướng về đường ác, sợ hãi làm ngăn ngại sự tu chánh pháp, phải dùng quán để quán tối tăm, tức ngay nơi sự tối tăm ấy mà bừng sáng, dùng chỉ để dừng tán, tức tán mà tịch, như chứa nước để lau chùi núi vàng, các dòng chảy về biển, củi cháy mạnh nhở lửa, có gió lại càng lan khắp, pháp quán kim cương này có công năng dẹp giặc phiền não, phương pháp này vững bền, vượt qua cáng đồng hoang sinh tử, tuệ thanh tịnh đối với hạnh, hạnh tinh tấn đối với tuệ, chiếu khắp thấm nhuần, dẫn dắt thông suốt, mọi thứ ngọc soi chiếu dẫn nhau, một thân hai tay, lau chùi chà xát vào nhau. Chẳng những khai mở sự ngăn chướng mà bên trong phải siêng tu đạo, lại tinh thông kinh luận, bên ngoài khai mở những điều chưa nghe, lợi mình lợi người bao gồm lợi ích đầy đủ, quốc bảo là thầy loài người chẳng phải đây thì là ai nữa! Lại học từ bi như Phật không có sự san lẫn, nói pháp chỉ quán lập bày cho họ nghe, tức là mở cửa dốc hết kho báu, xả bỏ ngọc như ý, ngọc này phát ra ánh sáng mà lại tuôn mưa báu, nhiếu sáng tận những nơi tối tăm, như xe hai bánh chạy đi rất xa, hai cánh của chim bay rất cao, ngọc quý trong sáng có thể hơn lời nói. Thành hương xương trắng, núi tuyết gieo mình cũng đâu đủ để báo đức, ngựa chạy nhanh thấy bóng roi quất mà chạy theo đường chánh, kẻ si độn kia khí độc thâm nhập làm mất bổn tâm, kia đã không tin thì không hạ thủ công phu, không nghe Phật pháp cho nên không hiểu biết, thiếu trí tuệ mắt không phân biệt thật giả, thân cử động thì tê liệt, không thể bước tới trước, bất giác không biết lội lớn chứa nhóm, đâu nhọc vì người nói, dù chán đời huân theo thối thấp hèn nương bám cành lá nuôi chó làm việc, kính vượn khỉ làm Đế-thích, tôn gạch ngói làm ngọc quý, hạng người đen tối như vậy đâu thể luận đạo được. Lại có một hạng người tu thiền không thông đạt căn tánh người khác chỉ thuần dạy thuốc sữa, thể tâm dẫm đạp lên tâm, dung hòa so sánh tìm kiếm, hoặc lẫn lộn, hoặc hiểu rõ ý một dấu vết này, chướng nạn muôn nẻo lẫn lộn không hiểu, vừa thấy tướng lạ liền pháp quyết cho là đạo, tự chẳng phải pháp khí lại thiếu thợ giỏi, thầy trò mù què cả hai đều đọa, mùa lòa khập khiểng đi chơi đêm thật đáng thương xót, không nên nói pháp chỉ quán này cho những hạng người trên nghe. Xét rắng pháp chỉ quán ấy dành cho hạnh người cao thượng càng cao thượng, người thấp kém càng thấp kém. Khai chỉ quán thành mười:

  1. Ấm giới nhập.
  2. Phiền não.
  3. Bệnh hoạn.
  4. Nghiệp tướng.
  5. Ma sự.
  6. Thiền định.
  7. Các kiến.
  8. Tăng thượng mạn.
  9. Nhị thừa.
  10. Bồ-tát.

Mười thứ cảnh này đều có thể ngăn che làm chướng ngại.

Ấm ở ban đầu có hai nghĩa:

  1. Hiện tiền.
  2. Nương theo kinh.

Kinh Đại Phẩm chép: Hành Thanh văn nương bốn Niệm xứ để hành đạo, Bồ-tát ban đầu quán sắc cho đến nhất thiết chủng trí, mỗi chương đều như vậy cho nên không trái với kinh. Lại nữa, người tu hành thọ thân mà ai không thọ ấm nhập. Gánh vác hiện tiền cho nên sơ quán, sau phát sinh tướng khác nên có thứ lớp riêng. Xét rằng năm ấm hòa hợp với bốn đại, nếu không quán chiếu xem xét thì bất giác dong ruổi như thuyền trôi thuận nước đâu biết thuyền chạy nhanh. Nếu thuyền kia ngược dòng nước mới biết thuyền chạy nhanh, đã quán ấm quả thì động đến nhân phiền não, cho nên thứ lớp năm ấm mà luận bốn phần. Bốn đại là thân bệnh, ba độc là tâm bệnh, do các thứ ấy cho nên trong lòng bất giác, nay phần lớn đều quán thẳng vào lục phủ ngũ tạng, cho nên bốn rắn (bốn đại) riêng khởi đến nỗi có hoạn sinh, các nghiệp vô lượng không thể kể hết. Tán thiện yếu kém không thể lay động, nay tu chỉ quán mạnh khỏe, bệnh hoạn không suy kém, lay động vòn sinh tử, hoặc điều lành mới nảy mần cho nên động, ác hoại cho nên động, khéo chỉ bày chịu quả báo cho nên động, ác đến trách báo cho nên động, cho nên kế là bệnh nên nói nghiệp. Do ác động cho nên ác dục diệt, do thiện động cho nên thiện dục sinh, ma đuổi ra khỏi cảnh, gây ra các nạn, hoặc phá hoại đạo kia cho nên kế là nghiệp nên nói ma. Nếu vượt qua nghiệp ma thì công đức sinh, hoặc tập nhân quá khứ, hoặc hạnh lực hiện tại, các thiền cạnh tranh sinh khởi, hoặc mùi vị thanh tịnh, hoặc ngang hoặc dọc, cho nên kế ma mà nói thiền, thiền có quán chi, nhân sinh tà tuệ, quán sát các pháp, sinh khởi các điên đảo, phân biệt mạnh mẽ, cho nên kế là nói kiến chấp. Nếu sự thấy biết là trái thì dứt các vọng chấp kia, tham sân lợi độn cả hai đêu không sinh khởi, kẻ vô trí cho là chứng Niết-bàn, hàng Tiểu thừa cũng có chấp ngang có bốn thiền là bốn quả, Đại thừa cũng có ma đến và ghi nhớ, chưa đắc mà cho là đắc đó là người tăng thượng mạn, cho nên kế là nói về mạn. Thấy mạn đã tịnh, thói quen nhỏ đời trước do sự yên tĩnh mà sinh, ngài thân tử xả bỏ mắt tức là việc ấy.

Đại Phẩm chép: Hằng sa Bồ-tát phát đại tâm, hoặc một hoặc hai nhập Bồ-tát vị phần nhiều rơi vào Nhị thừa, cho nên kế là nói rộng về Nhị thừa, hoặc nhớ bổn nguyện nên không rơi vào không, các phương tiện đạo Bồ-tát cảnh giới liền khởi.

Đại Phẩm chép: Có Bồ-tát kông thường thực hành sáu Ba-la-mật, nếu nghe pháp sâu xa nhiệm mầu liền khơi tâm phỉ báng, rơi vào địa ngục đây là sáu Độ của Bồ-tát. Thông giáo phương tiện vị cũng có nghĩa hủy báng, nhập chân đạo không hủy báng. Biệt giáo sơ tâm biết có pháp sâu xa nhiệm mầu, cho nên không hủy báng. Có giáo này từ đầu chánh báo phàm phu sau cùng đến phương tiện bậc Thánh, ấm nhập một cảnh thường tự hiện tiền, hoặc phát, không phát cũng thường gọi là quán. chín cảnh kia phát thì được gọi là quán, không phát sở quán nào. Lại, tám cảnh cách xa chánh đạo, càng thêm phòng hộ được quy về chánh triệt, mười hai cách chánh đạo gần. Đạt đến địa vị này thì không lo vô quán, tu ít là đúng lại nếu không hiểu các cảnh phát khởi lẫn nhau nên sinh nghi ngờ, như ở đường rẽ mà không biết lối ra. Trước nếu nghe sự buông lung biến chuyển lạ lùng ấy tâm an như không. Phát sinh lẫn nhau có mười: đó là thứ không thứ, tạp không tạp, đủ không đủ, tác ý không tác ý, thành không thành, lợi ích không lợi ích, lâu không lâu, khó không khó, lại không lại, ba chướng bốn ma, chín đôi, bảy chiếc.

Thứ lớp có ba nghĩa, đó là pháp, tu, và phát.

Pháp: là dần dần hiểu sâu pháp.

Tu: Đời trước đã từng tu tập theo khứ lớp, hoặc đời này tu theo thứ lớp.

Phát: Là nương thứ lớp tu và thứ lớp phát.

Không thứ lớp cũng có ba nghĩa, đó là pháp, tu, phát:

Phát: Thì không định, hoặc trước phát sinh cảnh của Bồ-tát sau phát ấm nhập, tuy không thứ lớp mười số rõ rằng đầy đủ.

Tu: Nếu bốn đại chống trái nhau thì trước tu bệnh hoạn, nếu bốn phần tăng nhiều thì trước tu phiền não, như vậy mỗi mỗi tùy theo cái nào mạnh mà trước tu.

Về pháp: Thì nhãn nhĩ tỷ thiệt, ấm nhập giới… đều là tịch tịnh môn, cũng là pháp giới, đâu cần bỏ đây đến kia, xuất xứ từ kinh bảo khiếp… nên biết ngoài pháp giới ra không còn có pháp nào mà gọi là thứ lớp. Phiền não tức pháp giới, như kinh vô Hành chép: Tham dục tức là đạo.

Kinh Tịnh Danh chép: Thực hành phi đạo thông đạt Phật đạo. Phật đao đã thông đạt thì không còn có thứ lớp. Bệnh hoạn là pháp giới,

Kinh Tịnh Danh chép: Nay ta bệnh chẳng phải thật chẳng phải có, chúng sinh bệnh cũng chẳng phải thật, chẳng phải có do đó tự điều hòa cũng độ chúng sinh. Phương trượng ngài Duy-ma thị hiện bệnh, ở song lâm Đức Phật thị hiện bệnh tức là nghĩa ấy.

Nghiệp tướng là pháp giới: Nghiệp là hành ấm, kinh Pháp Hoa chép: Hiểu sâu tướng tội phước, chiếu khắp nơi mười phương, pháp thân tịnh vi diệu, đầy đủ ba mươi hai tướng, hiểu rõ nghiệp từ duyên sinh không được tự tại cho nên không, nghiệp này có khả năng phá nghiệp, nếu chúng sinh ứng thì nghiệp này được độ, thị hiện các nghiệp, lấy nghiệp này lập nghiệp. Nghiệp và bất nghiệp, buộc thoát không thật có, phổ môn thị hiện, song chiếu buộc thoát cho, nên gọi là thâm đạt chỉ có khả năng làm thầy phương đẳng việc ma là pháp giới: Kinh Thủlăng-nghiêm chép: Ma giới như Phật giới như, một như không có hai như, trong thật tế Phật còn không thấy, huống chi thấy có ma ư! Dù cho có ma, cũng có thuốc hay để chữa trị… thiền pháp giới: Năng quán tâm tánh gọi là Thượng định, tức Thủ-lăng-nghiêm bất muội bất loạn, nhập vương Tam-muội, tất cả Tam-muội đều nhập vào trong đó.

Kiến là pháp giới: Dùng tà tướng nhập chánh tướng, đối với các kiến bất động mà tu ba mươi bảy phẩm. Lại động tu, bất động cũng động cũng bất động tu, phi động phi bất động tu, tu ba mươi bảy phẩm. Dùng kiến làm môn, dùng kiến làm thị, mạn làm pháp giới, lại là phiền não. Quán mạn vô mạn, mạn đại mạn, phi mạn phi bất mạn, thành bí mật tạng, nhập đại Niết-bàn.

Hàng Nhị thừa là pháp giới: Nếu chỉ có kiến đối với không, bất kiến bất không… người trí thấy không và bất không, quyết hiểu rõ pháp Thanh văn đó là kinh đứng đầu các kinh, nghe rồi tư duy được gần đạo vô thượng.

Cảnh Bồ-tát là pháp giới: Sinh tử là việc ác, Tiểu thừa là thấp kém còn là pháp giới, huống gì pháp Bồ-tát đâu chẳng phải Phật đạo. Lại, Bồ-tát quyền phương tiện tức là quyền mà thật, cũng tức phi quyền phi thật, thành bí mật tạng, nhập đại Niết-bàn, mỗi pháp đều là pháp giới, đó gọi là bất thứ đệ pháp tướng.

Tạp bất tạp: Phát sinh một cảnh rồi lại phát sanh một cảnh nữa, phân biệt rõ ràng, đó gọi là bất tạp. Thích phát ấm nhập, lại khởi phiền não, phiền não chưa diệt, lại nghiệp, lại ma, thiền kiến mạn… giáo tiếp theo chiều ngang và hợp nhau đó gọi là tạp phát, tuy tạp nhưng không ra ngoài mười thứ. Cụ bất cụ: Số mười đầy đủ gọi là cụ, bỏ chín gọi là bất cụ. Thứ bất thứ, tạp bát tạp, đều nói về cụ bất cụ. Lại, tổng cụ tổng bất cụ, biệt bất cụ. Mười số đầy đủ gọi là tổng cụ, mười số không xác thật gọi là tổng bất cụ, thiếu chín số diệt bất cụ, trong chín số xác thật là biệt cụ. Lại hoàng cụ hoàng bất cụ, thụbất cụ, chẳng hạn như phát bốn thiền đến phi tưởng là thụ, đến chỗ không dụng gọi là thí bất cụ. Phát sinh sự thông suốt rõ ràng bối xả… là hoàng cụ, chỉ phát bảy bối xả là hoành bất cụ. Lại phát Sơ thiền đến tứ thiền là thụ cụ Tam thiền về sau là thụ bất cụ. Lại Sơ thiền chín phẩm là thụ cụ, tám phẩm về sau là thụ bất cụ, lại một phẩm năm chi là hoàng cụ, tứ chi về sau là hoàng bất cụ, các pháp còn lại lệ theo đây mà biết…

Tu bát tu: Tác ý tu ấm giới nhập, giới nhập khai giải là tu phát, không tác ý ấm giới nhập, tự phát thông đạt sắc tâm là không tu phát, cho đến cảnh Bồ-tát cũng giống như vậy, phải có bốn cú làm căn bản, mỗi câu dệt thành ba mươi sáu câu, chẳng hạn như trong cảnh phiền não ở dưới nói.

Thành bất thành: Hoặc phát một cảnh rốt ráo, thành tựu, thành tựu rồi lại phát các cảnh khác, các cảnh khác cũng rốt ráo thành tựu, hoặc phát một thứ vừa khởi vừa diệt, không những phẩm số thiếu kém mà đối với mỗi phần cũng mờ mịt không rõ ràng. Trước cụ bất cụ chỉ nêu rõ số đầu, trong đây nói về thể phần đầu cuối, ích bất ích: Hoặc sinh khởi pháp ác, đối với chỉ quán có to lợi lớn ích rõ ràng vắng lặng càng sâu, hoặc phát sinh pháp lành đối với chỉ quán có tổn hại lớn, sự giảm kia tĩnh chiếu, hoặc thêm tĩnh, giảm chiếu, hoặc tổn tĩnh, tăng chiếu, đều tăng đều giảm.

Nan phát bát nạn phát: Hoặc pháp ác khó dễ, hoặc pháp lành khó dễ, hoặc đều khó đều dễ.

Cửu bất cửu: Tự có một cảnh, lâu ngày không bỏ, hoặc có một cảnh vừa khởi liền diệt…

Cánh bất cánh: Tự có một cảnh, một cánh hai cánh cho đến rất nhiều, tự có một cảnh, một khi phát liền dứt, về sau không còn phát, các thứ như vậy… khác nhau, phải khéo phân biệt, hiểu rõ ý này, chớ lầm lẫn láy bỏ, nhưng đều dùng chỉ quán nghiên cứu khiến cho không vướng mắc.

Ba chướng bốn ma: Kinh phổ hiền quán chép: Người ở cõi Diêmphù-đề có ba chướng rất nặng: Ấm nhập bệnh hoạn là báo chướng, phiền não kiến mạn là phiền não chướng, nghiệp ma thiền Nhị thừa Bồ-tát là nghiệp chướng. Chướng ngại chỉ quán không thanh tịnh sáng suốt, lấp bít đạo Bồ-đề khiến cho hành nhân không được thông đến giai vị năm phẩm sáu căn thanh tịnh, cho nên gọi là chướng.

Bốn ma: Ấm nhập chính là ấm ma, nghiệp thiền Nhị thừa, Bồ-tát… là hành ấm, gọi là ấm ma, phiền não kiến mạn… là phiền não ma, bệnh hoạn là nhân của sự chết chóc gọi là tử ma, ma sự là thiên tử ma. Ma nghĩa là đoạt, phá quán gọi là đoạt mạng, phá chỉ gọi là đoạt thân. Lại nữa, diệt quán làm cho tối tăm, diệt chỉ lầm lẫn làm cho tan mất, cho nên gọi là ma…

Hỏi: Vì sao phát khởi lẫn?

Đáp: Tất cả đều do nhân duyên hai đời. Xưa có hạt giống tiệm quán, nay được mưa tu hành, tức thứ lớp phát; xưa có hạt giống quán tức không thứ lớp phát, xưa có hạt giống bất định tức tạp phát; xưa lúc tu thì số đầy đủ, tức cụ phát xưa lúc tu số không đầy đủ tức bất cụ phát; xưa từng chứng đắc nay phát thì thành; xưa nhấn mạnh nay không tu mà phát, nay duyên mạnh đợi tu mà phát. Nhân xưa nay duyên cả hai đều khéo léo hồi hướng đạo vô thượng, nay phát thì càng lợi ích. Xưa trong nhân duyên lẫn lộn độc hại thì dẫn đến sự phát sinh tổn hại nhân yếu kém thì không được lâu dài, chỗ phát sinh nhân mạnh thì được lâu dài, trụ nơi thô tế cho đến tứ thiền truyền thừa phân chia mạnh yếu… điều thiện dễ phát sinh thì ngăn tội nhẹ, điều thiện khó phát sinh thì ngăn ngừa tội nặng, điều ác khó phát sinh do lợi căn, điều ác dễ phát sinh do độn căn. Ác muốn diệt mà cáo tạ, thiện muốn sinh mà tướng biết, thì một mà không thêm nữa, thiện sắc diệt mà cầu cứu, ác sắp khởi mà cầu nhận thì lại càng thêm thêm nữa. Trong đây đều phải khầu quyết, dùng trí tuệ để so tính, không hiểu ý thầy nên bị lầm lẫn phân biệt phải trái. vậy nên cần phải thận trọng siêng năng. Riêng phân biệt: Pháp như cát bụi, cảnh đâu nhất định là mười?

Đáp: Thí như mặt đất có thể sinh ra hạt giống mầm mống, số phương không rộng lược, khiến nghĩa đế hiểu rõ ràng, cho nên nói mười đó thôi.

Hỏi: Mười cảnh chung riêng như thế nào?

Đáp: Lúc mới thọ thân thảy đều có thân, các kinh nói quán thường từ sắc khởi, cho nên ấm là đầu, ấm là gốc, ấm nhân nơi ấm hoạn, ấm đứng đầu thiện ấm, lại ấm nhân biệt ấm…

Chung nói phiền não: Kiến mạn đồng với phiền não, bệnh ấm nhập là quả của phiền não, nghiệp là nhân của phiền não, thiền là nghiệp vô động, nghiệp là dụng của phiền não, ma thống lãnh cõi dục, tức đứng đầu phiền não, hàng Nhị thừa, Bồ-tát tức biệt thâu nhiếp phiền não…

Gọi chung bệnh hoạn: Ấm giới nhập tức là gốc bệnh, phiền não kiến mạn… tức là phiền bệnh não.

Kinh Tịnh Danh chép: Nay ta bệnh đều do vọng tưởng các phiền não đời trước sinh, nghiệp cũng là bệnh.

Đại Kinh chép: Nay vua bệnh nặng, tức chỉ cho năm tội nghịch là bệnh. Ma có thể gây ra bệnh. Ba tai là lỗi lầm tật bệnh bên ngoài, bệnh suyễn hay hỷ lạc là bệnh tật bên trong. Thiền có hỷ lạc tức bệnh hoạn, hàng Nhị thừa, Bồ-tát bệnh không, bệnh không cũng không.

Gọi chung là nghiệp: Ấm nhập là quả của nghiệp, phiền não kiến mạn là gốc của nghiệp, bệnh là nghiệp báo, ma là nghiệp ma, thiền là nghiệp vô động, Nhị thừa Bồ-tát là nghiệp vô lậu.

Gọi chung là ma: Ấm nhập tức ấm ma, phiền não kiến mạn tức ma phiền não, bệnh tức ma chết, ma tức ma trời, các thứ còn lại đều là hành ấm thuộc về ma.

Gọi chung thiền định: Thiền tự nó là cảnh giới kia, các nghiệp ấm nhập, phiền não, kiến mãn… đều thuộc về tâm định trong mười đại địa, ma là chưa đạt đến quả định, cũng thuộc tâm sở định, Nhị thừa, Bồ-tát thuộc về tịnh thiện. Lại nữa, thuộc về ba định: Thượng định thâu nhiếp Bồ-tát, Nhị thừa, trung định, hạ định thâu nhiếp tám cảnh…

Gọi chung là kiến: Ấm nhập tức ngã kiến, chúng sinh kiến. Phiền não đầy đủ năm kiến, bệnh thọ giải mạng giả kiến, nghiệp thiền… là tác giả kiến cũng là giới thủ kiến, ma là kẻ sai sử tạo tác khiến cho thọ nhận, khiến cho sinh khởi. Lại nữa, sinh tử tức thuộc về khúc kiến địa.

Gọi chung là mạn: Ấm nhập thuộc về ngã mạn, phiền não thuộc về mạn mạn, bệnh hoạn bất như ý thuộc về mạn, nghiệp thuộc về kiêu mạn, do kiêu căng cho nên tạo nghiệp. Ma thuộc về đại mạn, thiền thuộc về kiêu mạn, kiến cũng thuộc đại mạn, Nhị thừa, Bồ-tát thuộc về tăng thượng mạn.

Gọi chung Nhị thừa: Pháp bốn Niệm xứ, bốn Đế thuộc về chín cảnh.

Gọi chung cảnh Bồ-tát: Dùng bốn thệ nguyện rộng lớn thâu nhiếp chín cảnh.

Hỏi: Tên của cảnh, pháp đều chung vậy hành chân cũng chung hay không?

Đáp: Đại Kinh chép: Thế nào là chưa phát tâm mà gọi Bồ-tát? Người ở chính cảnh trước cũng gọi chung là hàng Bồ-tát. Chung là Nhị thừa thì có bốn thứ Thanh văn, Thanh văn tăng thượng mạn, thuộc về người của tám cảnh dưới. Thanh văn Phật đạo thuộc về hàng Bồ-tát.

Hỏi: Thông vô thường chăng?

Đáp: luận bảo tánh chép: Bồ-tát trụ trong cảnh giới vô lậu, có kiến chấp kiến chấp điên đảo vô thường.

Hỏi: Thông có hữu lậu chăng?

Đáp: Nghĩa của lậu thì chung, nghĩa của hữu có khác chút ít.

Hỏi: Thông là thiên chân phải chăng?

Đáp: Nghĩa của Thiên thì cung, nghĩa của chân thì khác chút ít.

Hỏi: Nghĩa của thông có thể lãnh hội được, còn biệt thì thế nào?

Đáp: Mười cảnh khác nhau, tức là nghĩa riêng, lại có vừa chung vừa riêng.

Ấm là gốc của sự thọ thân, lại là khởi đầu của sự quán tuệ, do đó không phải đứng đầu. Một cảnh đây vừa chung vừa riêng, chín cảnh su phát sinh tướng khác mà có tên, nhưng được gọi là chung là riêng, không được vừa chung vừa riêng, nếu vậy thì phiền não cũng là gốc của các pháp, vốn là để trị hoặc, cũng là quán ban đầu. Thân bốn đại bệnh cũng là gốc của mọi việc, vốn là bị bệnh, cũng là quán ban đầu.

Hỏi: Vì sao không được vừa chung vừa riêng?

Đáp: Nếu thân phiền não thuộc về đời trước, hoặc phiền não đời này do thân mà có, bệnh không thường khởi là gốc của sự suy yếu, nên các kinh luận không dùng bệnh để làm quán ban đầu, cho nên không được vừa chung vừa riêng. Chẳng phải chung, chẳng phải riêng đều bất khả tư nghì, một ấm tất cả ấm, chẳng phải một, chẳng phải tất cả.

Hỏi: Chính cảnh tướng khởi đặt tên riêng, ấm nhập giải khởi lẽ ra đặt tên riêng chẳng?

Đáp: Khi ấm giải khởi thì chẳng rõ ràng là riêng, lại thuộc về ấm nhập này, hoặc chấp sự hiểu biết này tức thuộc về kiến. Nếu y cứ vào giải khởi ái nhuế thì thuộc phiền não, với bệnh đến ma tùy việc mà phân biệt, hoặc phải phát rõ ràng, nhưng không có tướng chín cảnh, cho nên khí phần của chín quán chỉ được chung riêng, không được vừa chung vừa riêng.

Hỏi: Mười cảnh có riêng biệt rõ ràng không?

Đáp: Bốn Niệm xứ là ấm biệt, quán nhóm không là nhập biệt, vô ngã là giới biệt, năm pháp quán dừng tâm là phiền não biệt, tám niệm là bệnh biệt, mười điều lành là nghiệt biệt, năm phần là ma biệt, sáu diệt môn là thiền biệt, đạo phẩm là kiến biệt, vô thường khổ không là mạn, biệt bốn Đế, mười hai nhân duyên là Nhị thừa biệt sáu Độ là Bồtát biệt.

Hỏi: Năm ấm đều là cảnh, ngoài sắc tâm có quán riêng ư?

Đáp: Bất tư nghì cảnh trí, tưc ấm là quán, cũng có thể phân biệt, bất thiện vô ký ấm là cảnh, năm ấm thiện là quán. Quán đã thuần thục, không ác không vô ký, chỉ có thiện ấm, thiện ấm chuyển thành phương tiện ấm, phương tiện ấm chuyển thành vô lậu ấm, vô lậu ấm chuyển thành pháp tánh ấm, gọi là vô đẳng đẳng ấm, đâu phải ngoài ấm có quán riêng ư? Tiểu thừa còn như vậy, huống chi bất tư nghì ư!

Hỏi: Nếu chuyển ấm thành quán thì lẻ ra báo ấm cũng nên chuyển phải chăng?

Đáp: Đại Phẩm chép: Sắc thanh tịnh cho nên thọ, tưởng, hành, thức, thanh tịnh, Bát-nhã cũng thanh tịnh.

Kinh Pháp Hoa chép: Nhan sắc tốt đẹp sáu căn thanh tịnh, tức là nghĩa ấy. Ấm tuy chuyển nhưng quán cảnh rõ ràng.

Hỏi: Mười cảnh và năm phần như thế nào?

Đáp: Năm phần chia thiền thành mười phát, y cứ vào cảnh, nay sẽ hiểu. Hoặc thứ lớp không thứ lớp, một phát đến sua thì thuộc tiến phần, từ chín về sau thuộc trụ phần, tác ý giữ gìn thuộc hộ phần, một phát thì mất thoái phần, đạt phần có thể biết. Nếu đối với cảnh cảnh đều có năm phần, có thể dùng ý suy xét, không đợi phân biệt, nhưng năm phần mười cảnh đều là pháp tướng, có thể thay nhau có nghĩa kia, sáu tức, mười địa hạnh vị cạn sâu không có tướng loại.

Hỏi: Tánh của niệm là lìa, tánh của duyên cũng là lìa, nếu vô duyên vô niệm cũng vô số lượng, làm sao đủ mười pháp giới ư?

Đáp: Bất khả tư nghì vô tướng mà có tướng, quán trí rõ ràng. Các kinh khác giải thích núi Tu-di chứa trong hạt cải, hạt cải có thể dung chứa núi tu-di, lửa phát ra hoa sen, người có thể qua biển, y cứ vào các việc ít có ấy mà giải thích bất tư nghì. Ở đây giải vô tâm, vô niệm, vô năng hành, vô năng đáo (Không thể đi, không thể đến) không nghĩ bàn lý, lý thì thắng sự.

Hỏi: Mười pháp giới có làm nhân quả cho nhau không?

Đáp: Đều là có nhưng quả cách ngăn khó hiển bày nhân thông suốt dễ biết, như từ đồng nữ dùng thế giới địa ngục để phát tâm Phật, như Bồ-tát chưa được thọ ký là khinh so với Bồ-tát đã được thọ ký, nếu không sinh tâm hối hận thì không có lúc nào hết tội. Lại dẫn các ví dụ, phàm Thánh đều có năm ấm, không thể nói ấm của Thánh như ấm của phàm. Lại nữa, Đức Phật có đủ năm nhãn, đâu thể dùng quả báo trời người giải thích Phật nhãn. Phật có đủ năm hạnh: Bệnh hạnh là thế giới bốn ác, Anh nhi hạnh là thế giới trời người, Thánh hạnh là pháp giới Nhị thừa, phạm hạnh là pháp giới Bồ-tát, thiên hạnh là pháp giới Phật.

Hỏi: Một niệm có đủ mười pháp giới, do khởi niệm mà đủ hay nhậm vận mà đủ?

Đáp: Pháp tánh tự như vậy chẳng phải do tạo tác mà thành, như một hạt bụi có đủ mười phương phần…

1. Quán cảnh âm giới nhập: Đó là năm ấm, mười hai nhập, mười tám giới.

Ấm: Là ấm cái thiện pháp, đây là dựa theo nhân mà đặt tên. Lại ấm là chứa nhóm sinh tử chồng chất, y cứ vào quả mà đặt tên. Nhập là bước vào, cũng gọi là du môn, giới gọi là giới biệt, cũng gọi là tánh phần. Luận Tỳ-bà-sa nói ba khoa khai hiệp. Nếu mê tâm thì khai tâm thành bốn ấm, sắc làm một ấm, nếu mê sắc thì khai sắc làm mười nhập và một nhập thiểu phần, tâm là một ý nhập và pháp nhập thiểu phần, nếu đều mê thì khai thành mười tám giới, số người nói năm ấm đồng thời. Thức là tâm vương, bốn ấm là tâm sở, y cứ vào hữu môn mà nói nghĩa, cho nên tâm vương, tâm sở nương nhau đồng thời khởi. Luận về người nói thức, trước hết hiểu rõ biệt, kế đến thọ lãnh nạp, tướng mạo tưởng lấy, hành khởi trái sư tùy thuận, sắc do hành cảm, y cứ vào không nói về nghĩa, cho nên thứ lớp sinh nhau. Nếu căn cứ năng sinh, sở sinh, sở sinh từ tế đến thô cho nên thức ở trước hết, nếu theo sự tu hành thì từ thô đến tế, cho nên sắc đặt ở trước, đều không được tâm sở cách tâm vương. Nếu nói về bốn Niệm xứ tâm vương ở trong, ở đây y cứ vào ngôn thuyết cho tiện lại phân biệt chín thứ, một là kỳ sắc tâm, gọi là quả báo năm ấm, thường thường tưởng thọ vô ký năm ấm, khởi kiến khởi ái, cả hai đều làm ô uế năm ấm, động thân nhiệp khẩu nghiệp thiện ác thuộc năm ấm, biến hóa thị hiện công xảo năm ấm, người có đủ năm gốc lành phương tiện năm ấm, người chứng bốn quả vô lậu năm ấm, các thứ như vậy vốn từ tâm lưu xuất.

Kinh Chánh Pháp Niệm chép: Như họa sĩ tay họa vẽ năm màu sắc lẫn lộn rực rỡ xanh, đen, vàng, đỏ, trắng. Trắng trắng tay vẽ thí như tâm, màu đen thí như địa ngục ấm, màu xanh thí như quỷ, màu đỏ thí như súc sinh, màu vàng thí như Tu-la, màu trắng thí như người, trắng trắng thí như trời, sáu thứ ấm này chỉ ngang bằng giới nội. Nếu y theo Kinh Hoa Nghiêm thì tâm như người thợ vẽ, vẽ các thứ năm ấm, giới nội giới ngoại tất cả trong thế gian đều do tâm tạo, sắc tâm thế gian, đâu thể đem tâm phàm phu mà biết được. Mắt phàm phu tối tăm gần còn không thấy gần thì làm sao thấy được xa, nhiều đời nhiều kiếp cách một gang tấc còn không thấy giới nội, huống chi là giới ngoại cách xa ư! Như nai khát nước chạy đến chỗ ánh nắng bốc cháy, chó điên cắn sấm sét đâu có đúng lý, dù cho giải ngộ Tiểu thừa cuối cùng chẳng phải là đại đạo. Cho nên kinh đại tập chép: Người thường kiến nói niệm khác dứt, người đoạn kiến nói một niệm dứt, cả hai đều rơi vào hai bên, không hợp với trung đạo, huống chi người đời sau cách Phật quá xa, căn chuyển độn chấp, gọi là khởi tránh, thị phi lnẫ nhau đều rơi vào tà kiến, cho nên ngài Long Thọ phá năm ấm một khác, đồng thời, trước sau, đều như lửa huyễn, âm hưởng biến hóa, thảy đều không thật có, đâu còn chấp âm vương, tâm sở, đồng thời, khác thời ư? Song giới nội, giới ngoại tất cả ấm nhập đều do tâm khởi. Phật bảo các Tỳ-kheo một pháp thâu nhiếp tất cả pháp, chính là Tâm.

Luận chép rằng: Trong tất cả thế gian chỉ có danh và sắc, nếu muốn quán như thật thì chỉ quán danh sắc, tâm là mê hoặc, nghĩa ấy như thế. Nếu muốn quán sát thì phải nhổ bỏ gốc kia, như chữa bệnh trúng huyệt, nay sẽ bỏ trương dùng thước, bỏ thước dùng bốn ấm tấc… chỉ quán thức ấm, thức ấm là tâm.

Quán tâm có đủ mười pháp môn:

  1. Quán đảnh bất khả tư nghì.
  2. Khởi tâm từ bi.
  3. Khéo an tâm chỉ quán.
  4. Phá pháp khắp.
  5. Thức không bít.
  6. Tu đạo phẩm.
  7. Đối trị trợ khai.
  8. Biết thứ vị.
  9. Năm an nhẫn.
  10. Không pháp ái.

Đã tự thông đạt cảnh nhiệm mầu thì khởi thệ từ bi cứu giúp chúng sinh, kế đến khởi hạnh lập nguyện đã khéo léo phá cùng khắp, trong sự phá khắp ấy tinh thông chỗ thông bít, khiến cho đạo phẩm tiến hành. Lại dùng trợ khai đạo, địa vị trong đạo mình và người đều biết, an nhẫn trong ngoài vinh nhục chớ đắm chấp, pháp ái trung đạo, cho nên mau chứng nhập địa vị Bồ-đề. Thí như tỳ-thủ-yết-ma xây dựng thắng đường, không thông không bí, gian nhà không lỗ trống, có thể dung chứa tất cả, đứng sừng sững hùng tráng ở trên trời, thợ vụng về chẳng thể so sánh, đo lường được. Lại như khéo vẽ sữa chữa thành quách kia, vẽ màu sắc tượng chân thật, pháp tinh túy linh thiên, có sinh khí hạch toán nhanh lẹ, đâu thể che lấp màu sắc, con người có thể tô điểm cho đẹp thêm, mười lớp quán pháp này ngang dọc đều thâu nhiếp, đep đẽ khéo léo, ban đầu thì phân biệt cảnh chân ngụy, chặng giữa thì chính giúp đỡ thân, sau cùng thì an nhẫn không chấp đắm, ý tròn đầy pháp, khéo léo bao gồm khuôn phép sợ tâm, sẽ đưa hành giả đến bờ bên kia, thiền sư ám pháp sư tụng văn chẳng thể biết được. Bởi do Đức Như Lai trải qua nhiều kiếp siêng năng tìm cầu, là chỗ đạo tràng chứng ngộ vi diệu, ngài thân tử ba phen thưa hỏi, Đức Phật ba lần nói pháp thí dụ chính là ở đây.

1. Quán tâm là cảnh bất khả tư nghì: Cảnh này khó nói. Trước hết nói rõ cảnh tư nghì, khiến cảnh bất tư nghì dễ hiểu rõ. Pháp tư nghì: Tiểu thừa cũng nói tâm sinh tất cả pháp, nghĩa là nhân quả trong sáu đường ba cõi xoay chuyển, hoặc bỏ phàm ưa Thánh thì bỏ dưới lên trên, nguội thân bặt trí, chính gọi là hữu tác tứ đế, do pháp tư nghi. Đại thừa cũng nói tâm sinh tất cả pháp, đó là mười pháp giới. Nếu quán tâm là có thiện có ác, ác thì nhân quả ba phẩm ba đường, thiện thì nhân quả ba phẩm: Tu-la, trời, người. Quán sáu phẩm này vô thường sinh diệt, tâm năng quán cũng niệm niệm không dừng, lại năng quán sở quán đều do duyên sinh, duyên sinh tức không, đều là pháp nhân quả Nhị thừa. Nếu quán không hữu này rơi vào hai bên, chìm vào không, dính mắc hữu, mà khởi tâm đại Từ bi, nhập giả giáo hóa chúng sinh, thật không có thân giả làm thân, thật chẳng có không giả nói không mà giáo hóa dẫn dắt chúng sinh, tức pháp nhân quả của Bồ-tát. Quán pháp năng độ, sở độ này đều là pháp Trung đạo thật tướng, rốt ráo thanh tịnh, gì là thiện, gì là ác, ai có ai không, ai được độ ai không được độ, tất cả pháp đều như vậy, đó là pháp nhân quả của Phật. Mười pháp này quanh co sâu cạn đều từ tâm lưu xuất chỉ thuộc về vô lượng tứ đế của Đại thừa, vẫn là cảnh tư nghì, chẳng phai chỉ là năng quán, sở quán ở đây.

Cảnh bất tư nghì: Như Kinh Hoa Nghiêm chép: Tâm như người thợ vẽ, vẽ các thứ năm ấm, tất cả pháp trong thế gian cũng đều do tâm sinh. Các thứ năm ấm: Như mười pháp giới năm ấm trước. Mười pháp giới có ba nghĩa: Số mười là năng y, pháp giới là sở y, năng sở gọi chung nên nói mười pháp giới. Lại nữa, mười pháp này cũng đều là nhân, cũng đều là quả, không lẫn lộn nhau, cho nên nói mười pháp giới. Lại mười pháp này mỗi mỗi đương thể đều là pháp giới, cho nên nói mười thời giới… thập pháp giới gọi chung là ấm nhập giới, kỳ thật khác nhau. Ba đường là ấm giới nhập hữu lậu ác, ba thiện là ấm giới nhập hữu lậu thiện, Nhị thừa là ấm giới nhập vô lậu, Bồ-tát là ấm giới nhập vừa hữu lậu vừa vô lậu vừa vô lậu, Đức Phật là ấm giới nhập phi hữu lậu phi vô lậu.

Thích Luận chép: Pháp vô thượng là Niết-bàn, tức là pháp phi hữu lậu, phi vô lậu.

Kinh vô lượng nghĩa chép: Đức Phật không có ấm giới nhập các đại, không có chín ấm giới nhập trước. Nay nói có là có ấm giới nhập Niết-bàn thường trú.

Đại Kinh chép: Nhờ diệt vô thường sắc nên đạt được thường sắc, thọ tưởng hành thức cũng giống như vậy. Thường lạc chồng chất tức là nghĩa nhóm họp, từ bi che lấp tức là nghĩa ấm, do mười thứ ấm giới khác nhau nnê gọi năm ấm thế gian. Năm ấm gọi chung là chúng sinh, chúng sinh khác nhau ba đường ấm là chúng sinh tội khổ, trời người ấm là chúng sinh thọ vui, vô lậu ấm là chúng sinh chân Thánh, từ bi ấm là chúng sinh đại sĩ thường trụ ấm là chúng sinh cực tôn quý.

Đại Luận chép: Chúng sinh vô thượng là Phật, đâu đồng với hàng phàm phu thấp kém.

Đại Kinh chép: Lúc Ca-la-la là tên gọi khác, cho đến lúc già là tên gọi khác, lúc nẫy mầm là tên gọi khác, cho đến khi kết quả thì tên gọi cũng khác. Y cứ vào một kỳ hạn mà mười thời nhau, huống chi mười cõi chúng sinh làm sao không khác được, cho nên gọi là chúng sinh thế gian. Nơi ở của mười thứ gọi chung là cõi nước thế gian. Địa ngục nương màu sắt đỏ mà trụ, súc sinh nương đất nước hư không mà trụ, Tula nương bờ biển, đáy biểu mà trụ, người nương đất mà trụ, trời nương cung điện mà trụ, Bồ-tát sáu Độ người nương đất mà trụ, Bồ-tát Thông giáo hoặc nghiệp chưa hết đồng với người trời nương nước mà trụ. Do người hoặc nghiệp đã hết nương cõi phương tiện trụ Bồ-tát biệt, viên hoặc nghiệp chưa hết đồng với trời, người trụ cõi phương tiện… người dứt hết hoặc nương trụ cõi thật báo, Đức Như Lai nương trụ cõi thường tịch quang.

Kinh nhân vương chép: Tam hiền, thập Thánh trụ nơi quả báo, chỉ có Phật ở cõi tịnh độ, mỗi cõi khác nhau cho nên gọi là cõi nước thế gian. Ba mươi thứ thể gian này đều do tâm tạo ra.

Lại nữa, mười thứ năm ấm mỗi thứ đều có đủ mười pháp, nghĩa là như thị tánh, tướng, thể, lực, tác, nhân, duyên, quả báo, bổn mạt, cứu cánh đẳng. Trước giải thích chung, sau tùy theo loại giải thích. Giải thích chung, tướng y cứ bên ngoài mà giải thích riêng.

Thích Luận chép: Dễ biết nên gọi là tướng, như tướng nước, tướng lửa khác nhau thì dễ biết, như khuôn mặt người có đầy đủ các nét đẹp, xem rõ tướng bên ngoài thì có thể biết được bên trong con ngoài đó. Xưa, tướng của tôn lưu hiển, hiện bên ngoài tướng tào công ẩn bên trong, tướng ấy cất tiếng khóc lớn, bốn biển, ba phần, trăm họ bị độc. Nếu nói có tướng thì người ngu độn không biết, nếu nói không tướng thì người xem bói hiểu thông suốt, phải tùy tướng người tốt, xem sắc mặt bên ngoài của người đầy đủ tất cả tướng, tâm cũng như vậy đầy đủ tất cả tướng. Tướng chúng sinh ẩn khuất, tướng Di-lặc hiển bày, Đức Như Lai khéo biết cho nên xa gần đều ghi nhớ. Người thật có tin tâm mới có tất cả tướng.

Tánh như vậy: Tánh là y cứ bên trong, gồm có ba nghĩa:

1. Không đổi tên họ: Kinh vô hành gọi là bất động tánh, tánh tức là nghĩa không thay đổi. Lại, tánh gọi là tánh phần, nghĩa là chủng loại có nhiều phần khác nhau, mỗi thứ không thể thay đổi. Lại nữa, tánh là thật tánh, thật tánh tức lý cánh, cùng cực của sự thật không có lỗi, tức tên khác của Phật tánh. Bất động tánh giúp đỡ cho không, chủng tánh giúp đỡ cho giả, thật tánh giúp cho Trung. Nay nói rõ tánh bên trong không thể thay đổi, như trong gỗ có tánh lửa, đốt cháy hết tất cả cỏ khô, tâm cũng giống như vậy, có đủ tất cả tánh năm ấm, tuy không thấy được nhưng không thể nói là không, dùng mắt trí tuệ quán sát đầy đủ tất cả tánh. Người thế gian thật đáng chê cười do sự thấy thiên lệchmà phê viên kinh. Kinh Niết-bàn Phật biết chúng sinh có Phật tánh nên phán quyết là cực thường, kinh pháp hoa nói Phật biết tất cả pháp tánh như vậy nên phán quyết là vô thường, đâu thể do hiểu biết một chút ít cho là thường hiểu biết nhiều cho là vô thường được. Lại nữa, kinh Pháp Hoa chép: Đức Phật biết tất cả pháp đều là một chủng loại, một tánh chất, lời nói này cũng thiếu vì sao quán quyết là vô thường, lại có sự phê phán mười như trong kinh hoa pháp hoa, năm như trước thuộc phàm là quyền, năm như sau thuộc Thánh là thật, y vào chỗ ông phán quyết phàm thì không thật, vĩnh viễn không thể thành Thánh, Thánh thì không quyền, chẳng phải Chánh biến tri, đây là thuyết chuyên thường, vu báng Phật, khinh khi kẻ phàm. Lại nữa, kinh Niết-bàn nói tất cả chúng sinh đều có Phật tánh mà nói là thường.

Kinh Tịnh Danh chép: Tất cả chúng sinh tức là tướng Bồ-đề, phán quyết là vô thường. Nếu Phật tánh khác tướng Bồ-đề thì có thể một thường, một vô thường, nếu không khác thì sự phán quyết này là lầm lẫn lớn, như người bói toán thấy tướng vua, tánh vua đều được lên ngôi vua, thì Phật tánh và tướng Bồ-đề vì sao khác nhau?

Thể như vậy: Làm chủ thể chất gọi là thể, mười pháp giới ấm nhập này đều dùng sắc tâm làm thể chất.

Lực như vậy: Có lực dụng gánh vác sự việc, như lực sĩ của vua có ngàn muôn tài năng vô bệnh cho nên nói không bệnh tật hữu dụng, tâm cũng giống như vậy đầy đủ các năng lực, do bệnh phiền não nên không thể vận động, như thật quán đầy đủ tất cả năng lực.

Tác như vậy: Vận động kiến lập gọi là tác, nếu lìa tâm không còn có sở tác, cho nên biết tâm đầy đủ tất cả tác.

Nhân như vậy: Chiêu cảm quả gọi là nhân, cũng gọi là nghiệp, mười pháp giới nghiệp khởi từ tâm, chỉ khiến tâm có đầy đủ các nghiệp nên gọi là nhân như vậy.

Duyên như vậy: Duyên gọi là duyên do sự trợ giúp của nghiệp, đều là nghĩa duyên. Vô minh, ái… năng thấm nhuần nghiệp, tức tâm là duyên.

Quả như vậy: Gặt hái thâu hoạch quả, tập nhân tập đọc ở trước, tập quả gặt hái đạt được ở sau cho nên quả như vậy.

Báo như vậy: Báo đáp nhân gọi là báo, tập nhân tập quả thông suốt gọi là nhân chiêu cảm quả báo đời sau, do quả báo này là đền đáp nhân. Bổn mạt cứ cánh đẳng như vậy: Tướng là gốc, báo là ngọn, gốc ngọn đều từ duyên sinh, duyên sinh cho nên không, gốc ngọn đều không, đây là y cứ vào không mà nói… lại nữa, tướng chỉ có chữ, báo cũng chỉ có chữ, đều là giả thi thiết, đây là y cứ vào giả danh mà nói… lại gốc ngọn là tiêu biểu cờ nêu lẫn nhau, xem xét tướng ban đầu tiêu biểu quả báo về sau, thấy báo về sau biết tướng ban đầu, như thấy bố thí biết giàu, thấy giàu biết bố thí, trước và sau ở trong nhau, đây là căn cứ vào giả mà luận… lại nữa, tướng mà vô tướng, vô tướng mà tướng, chẳng phải tướng chẳng phải vô tướng, báo mà vô báo, vô báo mà báo, chẳng phải báo chẳng phải vô báo, mỗi mỗi đều nhập vào mé như thật, đây là y cứ vào trung mà luận…

2. Loại giải: Tóm lược mười ppá thành bốn loại ba đường, để tiêu biểu khổ là tướng, định ác chứa nhóm làm tánh, bẻ gãy sắc tâm làm thể, bỏ đao vào vạc làm lực, khởi mười bất thiện làm tác, ác nghiệp hữu lậu làm nhân, ái thủ… làm duyên, quả ác tập làm quả, ba đường ác làm báo, gốc ngọn đều si… ba điều lành nêu lạc làm tướng, định thiện chứa nhóm làm tánh, thăng xuất sắc tâm làm thể. Lạc thọ làm lực, khởi năm giới mười điều lành làm tác, bạch nghiệp làm nhân, thiện ái thủ làm duyên, quả thiện tập làm quả, cõi trời, người làm báo. Nên y vào giả danh, tướng trước sau ở trong nhau. Hàng Nhị thừa tiêu biểu Niết-bàn làm tướng giải thoát làm tánh, năm phần làm thể, vô phiền làm lực, đạo phẩm làm tác, vô lậu tuệ hạnh làm nhân, hành hạnh làm duyên, bốn quả làm quạt, trong ruộng hậu hữu bất sinh nên không có báo…

Bồ-tát Phật loại: Nhân duyên làm tướng, liễu nhân làm tánh, chánh nhân làm thể, bốn thệ nguyện sâu rộng làm lực, sáu Độ muôn hạnh làm tác, trí tuệ trang nghiêm làm nhân, phước đức trang nghiêm làm duyên, Tam-bồ-đề làm quả, đại Niết-bàn làm báo…

Nhân duyên có thuận có nghịch, thuận sinh tử lấy nghiệp hữu lậu làm nhân, ái thủ… làm duyên, nghịch sinh tử lấy chánh vô lậu làm nhân, hành hạnh làm duyên, đều tổn sinh phá hoặc; thuận giới ngoại sinh tử tức lấy tuệ trung đạo làm nhân, muôn hạnh làm duyên, vì dều tổn biến dịch sinh tử, nhân duyên đã như vậy, ngoài ra nghịch thuận y cứ theo đây có thể biết. Nếu Thanh văn thì chỉ có chín không có mười, nếu y theo nghĩa ba Phật của Đại thừa thì Phật có báo thân, nếu y theo nghĩa dứt hết hoặc thì không có hậu báo, chín và mười châm chước có thể hiểu. Chúng sinh ở thế gian đã là giả danh có tự thể, phân biệt thật pháp là giả thì thiết mà thôi. Nghĩa là chúng sinh trong đường ác tướng, tánh, thể, lực, cứu cánh đẳng… chúng sinh trong đường lành tánh, tướng, thể, lực, cứu cánh đẳng… chúng sinh vô lậu tánh, tướng, thể, lực, cứu cánh đẳng… Bồ-tát, Phật pháp giới, tướng, tánh, thể, lực, cứu cánh đẳng… y cứ theo đây đều có thể hiểu. Cõi nước thế gian cũng đủ mười thứ pháp, đó là cõi nước xấu ác, tánh, tướng, thể, lực… cõi nước thiện, cõi nước vô lậu. Cõi nước Phật, Bồ-tát tánh, tướng, thể, lực… xét rằng một tâm đầy đủ mười pháp giới, một pháp giới lại đầy đủ mười pháp giới, một trăm pháp giới, một giới có đủ ba mươi thứ thể gian, một trăm pháp giới tức có đủ ba ngàn thứ thế gian. Ba ngàn này ở trong một niệm tâm, nếu vô tâm thì thôi, còn có tâm thì có đủ ba ngàn, cũng không nói nhất tâm ở trước, tất cả pháp ở sau, cũng không nói tất cả pháp ở trước, nhất tâm ở sau, chẳng hạn như tám tướng biến đổi vật, vật ở trước tướng, vật không bị đổi dời, tướng tại trước vật cũng không bị đổi dời, trước cũng không thể sau cũng không thể, chỉ là vật luận tướng biến đổi, chỉ tướng đổi dời luận về vật, nay tâm cũng giống như vậy. Nếu từ nhất tâm sinh tất cả pháp, đây là chiều bề dọc; nếu tâm nhất thời bao gồm tất cả pháp, đây chiều ngang, dọc cũng không thể, ngang cũng không thể. Chỉ tâm là tất cả pháp, tất cả pháp là tâm, chẳng dọc, chẳng ngang, cái không thể dùng thức để hiểu, cái không thể dùng lời để nói, do vậy gọi là cảnh bất khả tư nghì, ý là ở đây…

Hỏi: Tâm khởi phải nương vào duyên, vì đâm có đủ ba ngàn pháp, là duyên đủ, là cộng đủ, là lìa đủ. Nếu tâm đủ thì tâm khởi duyên bất dụng, nếu duyên đủ thì duyên đủ không quan hệ với tâm, nếu cộng đều không cộng làm sao có, nếu lìa đủ thì đã lìa tâm, lìa duyên, làm sao bỗng nhiên tâm đẩy đủ, bốn câu còn không thật có, làm sao đẩy đủ ba ngàn pháp được?

Đáp: Địa nhân nói: Tất cả giải hoặc, chân vọng đều nương tựa vào pháp tánh, páhp tánh giữ gìn chân vọng, chân vọng nương pháp tánh.

Nhiếp Đại thừa chép: Pháp tánh không bị hoặc làm ô nhiễm, không được chân làm cho thanh tịnh, cho nên pháp tánh không giữ gìn. Nói giữ gìn. Nói giữ gìn là A-lại-da. Không ẩn không hiện, giữ gìn đầy đủ tất cả hạt giống, nếu theo địa sư thì tâm đầy đủ tất cả pháp, nếu theo nhiếp sư thì duyên đầy đủ tất cả pháp. Hai vị luận sư này mỗi vị đều y cứ theo một bên. Nếu pháp tánh sinh tất cả pháp, thì pháp tánh là phi tâm phi duyên, phi tâm nên tâm sinh tất cả pháp, phi duyên nên cũng ứng duyên sinh tất cả pháp, đâu được riêng nói pháp tánh là nơi chân vọng nương giữ. Nếu nói pháp tánh chẳng nương giữ, A-lại-da là nương giữ lìa ngoài pháp tánh có A-lại-da riêng nương giữ thì không quan hệ đến pháp tánh, nếu pháp tánh không lìa A-lại-da thì A-lại-da là nương giữ, lại trái với kinh.

Kinh chép: Chẳng phải, chẳng phải, cũng chẳng phải trung gian, cũng không thường tự có, lại trái với ngài Long Thọ.

Ngài Long Thọ nói rằng: Các pháp không tự sinh, cũng không do chỗ khác sinh, không cộng, cũng không phải vô nhân, lại căn cứ vào thí dụ xem xét, vì đang nương tâm cho nnê có mộng, nương ngủ cho nên có mộng, cách ngủ hợp với tâm cho nên có mộng, lìa tâm lìa ngủ cho nên có mộng. Nếu nương tâm có mộng thì không ngủ lẽ ra phải mộng.

Nếu nương ngủ có mộng thì người như ngủ lẽ ra phải có mộng. Nếu ngủ và tâm cả hai hợp lại mà có mộng, thì người ngủ sao lại có lúc không mộng, lại mộng và tâm mỗi thứ đều có mộng, hợp lại để có mộng, mỗi thứ đều không mộng, hợp lại lẽ ra không có. Nếu lìa tâm, lìa ngủ mà có mộng thì hư không lìa cả hai lẽ ra thường có mộng. Bốn câu mọng còn không thật có, vì sao khi ngủ mộng thấy được tất cả việc? Tâm dụ cho pháp tánh, mộng dụ cho A-lại-da. Tại sao chỉ y vứ vào pháp tánh A-lại-da sinh tất cả pháp? Nên biết bốn câu đầu tâm không thật có, cầu ba ngàn pháp cũng không thật có. Đã ngang dọc từ bốn câu sinh ba ngàn pháp không thật có, lẽ ra từ một niệm tâm sinh ra ba ngàn pháp ư? Tâm diệt còn không thể sinh một pháp, làm sao có thể sinh ba ngàn pháp ư! Nếu từ tâm vừa duệt vừa bất diệt sinh ba ngàn pháp, vừa diệt bất diệt kia tánh tướng trái nhau, cũng như nước lửa hai thứ đều không lập, làm sao có thể sinh ba ngàn pháp ư! Nếu nói tâm chẳng phải diệt, chẳng phải bất diệt sinh ba ngàn pháp thì chẳng phải diệt chẳng phải bất diệt, chẳng phải năng chẳng phải sở tại sao năng sở sinh ra ba ngàn pháp ư! Vừa dọc vừa ngang cầu ba ngàn pháp không thật có, chẳng phải dọc, chẳng phải ngang cầu ba ngàn pháp cũng không thật có, đường ngôn ngữ bặt chỗ tâm hành diệt, cho nên ogị là cảnh bất khả tư nghì.

Đại Kinh chép: Sinh sinh không thể nói, sinh bất sinh không thể nói, bất sinh sinh không thể nói, bất sinh bất sinh không thể nói, tức là nghĩa này. Nên biết một pháp trong Đệ nhất nghĩa không thật có, huống chi ba ngàn pháp một tâm trong thế đế còn có đủ vô lượng pháp, huống chi ba ngàn ư!

Như Phật Đức Nữ nói: Có vô minh bên trong hay không?

Đáp: Không.

– Có bên ngoài hay không?

Đáp: Không.

– Có cả trong lẫn ngoài hay không?

Đáp: Không.

– Chẳng có ở trong chẳng có ở ngoài phải không?

Đáp: Không.

Phật dạy: Đúng như vậy.

Ngài Long Thọ nói rằng: Không tự, không tha, không cộng, không phải vô nhân sinh.

Đại Kinh chép: Sinh sinh không thể nói, cho đến bất sinh bất sinh không thể nói, có nhân duyên thì cũng có thể nói, đó là nhân duyên bốn tất-đàn. Tuy bốn câu câu sâu kín vắng lặng, từ bi thương xót đối với tướng giả danh trong vô danh tướng mà nói. Hoặc tạo tác thể giới nói tâm có đủ tất cả pháp, người nghe vui mừng như nói ba cõi không khác, pháp chỉ do một tâm tạo, tức là văn ấy. Hoặc nói duyên sinh tất cả pháp, người nghe vui mừng như nói năm dục làm cho người rơi vào đường ác, Thiện tri thức nhân duyên lớn, nghĩa là giáo hóa dẫn dắt giúp chúng sinh nghe vui mừng, nư nói bạc trắng hòa với vàng ròng có thể phất các sắc tượng, tức là văn ấy. Hoặc nói lìa sinh tất cả pháp, người nghe vui mừng, như nói mười hai nhân duyên chẳng phải Đức Phật tạo tác, chẳng phải trời, người Tu-la tạo tác, tánh nó tự như vậy, tức là văn ấy. Bốn câu này tức thế giới tất-đàn, nói tâm tánh ba ngàn tất cả pháp. Thế nào là vị nhan tất-đàn? Như nói Phật pháp như biển, chỉ người tin mới vào được, lòng tin là nguồn gốc ucả đạo, là mẹ sinh ra các công đức, tất cả pháp lành từ đó mà sinh. Ông chỉ cần phát ba tâm Bồ-đề. Cho nên người xuất gia giới cầm đầy đủ, người nghe sinh lòng tin, tức là văn ấy. Có chỗ nói duyên sinh tất cả pháp, như nói nếu không gặp Phật thì sẽ rơi vào địa ngục khổ trong vô lượng kiếp, nhờ thấy Phật cho nên được vô căn tín, như từ y-lan sinh ra chiên-đàn, người nghe sinh lòng tin tức là văn ấy. Có chỗ nói hợp sinh tất cả pháp, như nói nước tâm lóng trong, tướng châu tự hiện. Từ năng lực gốc lành thấy được việc này, người nghe sinh lòng tin, tức là văn ấy. Có chỗ nói lìa sinh tất cả pháp, như nói chẳng phải quán bên trong mà được trí tuệ ấy, cho đến chẳng phải quán bên trong quán bên ngoài mà được trí tuệ ấy. Nếu có trụ trước thì đầu tiên Ni Phạm chí có chút lòng tin còn không thể được, huống chi bỏ tà theo chánh, người nghe sinh lòng tin, tức văn ấy. Đó là vị nhân tất-đàn bốn câu nói tâm sinh ba ngàn tất cả pháp. Thế nào là đối trị tất-đàn nói tâm trị tất cả điều ác? Như nói được nhất tâm thì muôn điều tà liền tiêu diệt, tức là văn ấy. Hoặc nói duyên trị tất cả điều ác, như nói được nghe bậc đại trí vô thượng, tâm định như đất, không thể động chuyển tức là văn ấy. Hoặc nói nhân duyên hòa hiệp trị tất cả ác, như nói một phần do suy tư phát sinh, một phần theo thầy học mà được, tức là văn ấy. Hoặc nói lìa trị tất cả ác, khi ta ngồi đạo tràng thì không được tất cả pháp, nắm tay rỗng lừa dối đứa trẻ, cho dụ độ tất cả, tức là văn ấy. Đó gọi là đối trị tất-đàn tâm phá tất cả điều ác. Thế nào là Đệ nhất nghĩa tất-đàn tâm thấy được lý? Như nói tâm khai ý giải bỗng nhiên đắc đạo, có chỗ nói duyên năng thấy lý, như nói nghe trong chốc lát liền được Tam-bồ-đề rốt ráo. Có chỗ nói nhân duyên hòa hợp đắc đạo, như ngựa chạy nhanh thấy bóng roi liều chạy theo đường chính. Có chỗ nói lìa có thể thấy lý, như nói vô sở đắc tứ là đắc, đã là đắc vô sở đắc, đó gọi là Đệ nhất nghĩa bốn câu thấy lý, huống gì tâm sinh ba ngàn pháp ư! Ý chỉ của phậ đều thanh tịnh, không do nhân duyên cộng hay lìa, tức thế đế là Đệ nhất nghĩa. Lại bốn câu đều có thể nói, nói nhân cũng đúng, duyên cũng đáng cộng cũng đúng lìa cũng đúng. Nếu vì người mà mà nói mầu sữa như vỏ ốc hoặc gạo, tuyết chim hạc, người mù nghe các thứ ấy liền hiểu được sữa, tức thế đế là Đệ nhất nghĩa đế. Phải biết suốt ngày nói, suốt ngày không nói, suốt ngày không nói, suốt ngày nói, suốt ngày đều ngăn, suốt ngày đều chiếu, ngay nơi phá là lập, ngay nơi lập là phá, các kinh luận đều như vậy. Ngài Long Thọ, ngài Thiên Thân xem kỹ bên trong rõ ràng, bên ngoài thích hợp thời cơ đều y cứ quyền biến, thầy người hiểu lệch, người học câu chấp, liền sinh ra chấp chặt, bảo vệ một bên, cho là Đại thừa Thánh đạo, nếu hiểu được ý này đều không thể nói, đều có thể nói. Nếu tùy tiện nghi thì lẽ ra nói vô minh tánh pháp sinh ra tất cả pháp, như ngủ nghỉ, tâm mỗi pháp có tất cả việc mộng, tâm và duyên hợp thì ba thứ thế gian, ba ngàn tướng tánh đều từ tâm khởi, một tánh tuy ít nhưng không phải là không có, vô minh tuy nhiều mà không có. Vì sao? Vì chỉ cho một là nhiều, nhiều chẳng phải nhiều, chỉ cho nhiều là một, một chẳng phải ít, cho nên nói tâm này là cảnh bất khả tư nghì. Nếu hiểu một tâm là tất cả tâm, tất cả tâm là một tâm, chẳng phải một, chẳng phỉa tất cả. Một ấm là tất cả ấm, tất cả ấm là một ấm, chẳng phải một, chẳng phải tất cả, một tất cả nhập, tất cả nhập thì một nhập, chẳng phải một chẳng phải tất cả, một cõi là tất cả cõi tất cả cõi là một cõi, chẳng phải một, chẳng phải tất cả. Một chúng sinh là tất cả chúng sinh, tất cả chúng sinh là một chúng sinh, chẳng phải một chẳng phải một chẳng phải tất cả. Một tướng là tất cả tướng, tất cả tướng là một tướng, chẳng phải một chẳng phải tất cả. Cho đến một rốt ráo tất cả rốt ráo tất cả rốt ráo thì một rốt ráo, chẳng phải một, chẳng phải tất cả. Trải qua tất cả đều là cảnh bất khả tư nghì. Nếu phpá tánh vô minh hiệp là có thì tất cả pháp ấm giới nhập… tức là tục đế; tất cả giới nhập là một pháp giới, tức là chân đế; chẳng phải một chẳng phải tất cả tức là Trung đạo Đệ nhất nghĩa đế. Như ậy trải khắp tất cả pháp, đều là bất tư nghì tam đế… nếu một pháp là tất cả pháp tức là pháp do nhân duyên sinh, đó gọi là giả danh giả quán, nếu tất cả pháp là một pháp, thì ta nói tức là không, không quán. nếu chẳng phải một chẳng phải tất cả, tức là trung đạo quán, một không tất cả không, chẳng phải giả trung mà cũng chẳng phải không, đều là không quán. một giả tất cả giả, chẳng phải không trung mà không phải giả, đều là giả quán. một trung tất cả trung, chẳng phải không giả mà không phải trung, đều là Trung quán. Tức trung luận đã nói một tâm ba quán bất khả tư nghì, trải qua tất cả pháp cũng như vậy. Nếu tất cả pháp do nhân duyên sinh tức phương tiện tùy tình đạo chủng quyền trí. Nếu tất cả pháp là một pháp ta nói tức là không, tức tùy nhất thiết trí trí. Nếu chẳng phải một chẳng phải tất cả cũng gọi là nghĩa Trung đạo, tức phi quyền phi thật nhất thiết chủng trí. Chẳng hạn như trên một quyền tất cả quyền, một thật tất cả thật, tất cả phi quyền phi thật, trải khắp tất cả, là bất tư nghì ba trí. Nếu tùy tình tức là tùy ý và lời nói của người khác, nếu tùy trí tức trí và lời nói của mình, nếu phi quyền phi thật tức là chẳng tùy ý và lời nói của mình và người, trải khắp tất cả đều là tiệm đốn, bất định, giáo môn bất tư nghì. Nếu hiểu đốn tức là thiểu tâm, tâm còn không thật có thì làm sao có được thú phi thú, nếu hiểu tiệm tức là hiểu thú tâm của tất cả pháp, nếu hiểu bất định tức là hiểu thú này không lỗi. Các thứ đây trên tuy tên khác mà nghĩa thì đồng, làm khuôn phép cho hành quân, gọi là ba pháp, sở chiếu là ba đế, sở phát là ba quán, quán thành là ba trí, dạy người khác gọi là ba ngữ, quy tông gọi là ba thú, hiểu được ý này thì tất cả, đều thành pháp môn, các thứ vị chớ nghi ngờ phiền muộn… như ngọc như ý là của quý báu trên cõi trời hình dạng như hạt lúa, có công năng rất lớn, trong sạch vi diệu, đầy đủ bảy thứ báu, năm thứ dục, chẳng phải chứa bên trong, chẳng phải từ bên ngoài, vào không tính toán trước sau, không chọn ít nhiều, không làm thô diệu, vừa ý đầy đủ giáng mưa xuống thấm nhuần tốt tươi, không thêm không hết. Bởi sắc pháp này còn có thể như thế, huống chi tâm thần linh thiêng mầu nhiệm đầu không đầy đủ tất cả pháp ư! Lại nữa, ba độc mê hoặc tâm, một niệm tâm khởi,còn trở lại thân biên kiến lợi độn tám mươi tám sử, cho đến tám mươi bốn phiền não. Nếu nói trước có vì sao phải đợi duyên, nếu nói vốn không sao duyên đối liền ứng, bất hữu bất vô, nhất định có tức là tà, nhất định không tức là vọng, phải biết có mà không có, không có mà có tâm mê hoặc còn như vậy, huống chi nhất tâm bất tư nghì ư? Lại như ngủ mộng thấy trăm ngàn muôn việc, khi tỉnh giấc không có một việc gì, huống là trăm ngàn việc. Chưa ngủ thì không mộng, không thức, không nhiều, không một, do năng lực của ngủ nên gọi là nhiều, vì năng lực của thứ nên gọi là ít. Trang chu mộng thấy làm bươm bướm, cũng chẳng phải nhiều năm. Vô minh mỗi pháp tánh, một tâm tất cả tâm như người kia ngủ kia ngủ mê, hiểu rõ vô minh tức là pháp tánh, tất cả tâm là một tâm, như người kia thức dậy… lại như người thực hành hạnh an lạc một khi ngủ mộng. Từ khi mới phát tâm cho đến thành Phật ngồi đạo tràng, quay chuyển pháp luân độ chúng sinh, nhập Niết-bàn, hoát nhiên đại ngộ chỉ là một giấc mộng. Nếu tin ba ví dụ thì tin nhất tâm, chẳng phải miệng nói, chẳng phải tâm suy lường, đây là cảnh bất tư nghì không pháp nào mà không thâu nhiếp, cảnh này phát sinh trí tuệ không trí nào mà không phát, nương cảnh này phát sinh thệ nguyện cho đến không có pháp ái, không thể nào không đầy đủ, không hạnh nào không viên mãn, nói thì theo thứ lớp như trên, hành thì nhất tâm bên trong đầy đủ tất cả tâm…

2. Tâm phát Bồ-đề chân chánh: Đã hiểu sâu cảnh bất tư nghị, biết một khổ thì tất cả khổ, tự buồn lo cho nỗi khổ xưa, khởi hoặc đam mê thanh sắc thô tế, buông thả thân, miệng, ý gây ra nghiệp thiện, xoay vần trong đường ác, trói buộc trong các sự bức ngặt phiền muộn, thân tâm đều khổ tự bị tổn thương, mà nay lại lấy ái tự trói buộc, đèn si làm hại, trải qua trăm ngàn muôn kiếp đau đớn vô cùng, dù muốn xa lìa ba đường, ưa thích năm giới, mười điều làm, tướng tâm tu phước, như chợ dễ mua bán, thay đổi càng thêm tội, tợ như cá mắc câu bướm tự bay vào trong đèn, mưu kế điên cuồng gian tà xảo quyệt, càng mê càng xa, khát nướclại uống thêm mới muối, rồng bị trói bỏ trong nước thật đau khổ, trâu bị lọt da phơi dưới ánh nắng mặt trời, người mù đi vào chỗ gai nhọn, bị đắm chìm trong dòng nước xoáy, tay cầm dao ôm đuốc nhiều nổi đau khổ đâu thể nói hết, đuôi hổ đầu rắn thật đáng sợ hãi, tự nghĩ như thế, buốn thương cho người khác cũng vậy. Dài cho đi vào con đường nguy hiểm, làm phản quốc gia, trải qua đủ thứ cay đắng cùng tột, như chết được sống lại, đi đến chỗ nghèo nàn làm thuê đủ việc sống qua ngày, chỉ tá túc nơi am tranh, không chịu tiến tới trước, chỉ ưa làm những việc hèn mọn, không tin không hiểu, thật đáng thương xót. Suy nghĩ mình và người đều đáng thương xót, liền khởi tâm đại bi, phát hai thệ nguyện: Chúng sinh vô biên thệ nguyện độ, phiền não vô tận thệ nguyện đoạn. Chúng sinh tuy như hư không, thề độ chúng sinh như hư không; tuy biết phiền não không thật có nhưng thề dứt phiền não không thật có, tuy biết số chúng sinh rất nhiều mà độ chúng sinh rất nhiều; tuy biết phiền não không bớ bèn mà dứt bỏ phiền não không bờ bến; tuy biết chúng sinh như Phật như, mà độ chúng sinh như Phật như; tuy biết tướng như thật, cửa phiền não mà dứt phiền não như thật tướng. Vì sao? Nếu chỉ diệt nhân khổ mà không diệt quả khố, thì thệ nguyện này xem lẫn với độc, cho nên phải quán không, nếu chỉ quán về không thì không thấy chúng sinh đáng được độ, đó gọi là chấp không, các Đức Phật sẽ không hóa độ. Nếu thấy tất cả chúng sinh đều đáng được độ, thì rơi vào ái kiến đại bi, chẳng phải đạo giải thoát… nay thì chẳng độc, chẳng phải lực ngụy, cho nên gọi là chân, chẳng phải không biên, chẳng phải hữu hiên, cho nên gọi là chánh, như chim bay giữ hư không không dừng lại giữa hư không, tuy không dừng giữa hư không nhưng dấu vết cũng không thể tìm thấy, tuy không mà độ tuy độ mà không, cho nên gọi là thệ, cùng tranh đấu với hư không, đó gọi là chân chánh phát tâm, Bồ-đề, tức là ý này.

Lại nữa, hiểu tâm bất khả tư nghì, một tâm vui tất cả tâm vui, ta và chúng sinh ngày xưa tuy cầu vui mà không biết nhân của vui, như chấp gạch ngói cho là ngọc như ý, vọng chỉ ánh sáng đóm gọi là ánh sáng của mặt trời, mặt trăng, nay mới bắt đầu hiểu biết rõ, cho nên khởi tâm đại bi, phát hai nguyện: Pháp môn vô lượng thệ nguyện học, Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành. Tuy biết pháp môn hoàn toàn vắng lặng như hư không, thệ nguyện tu hành hoàn toàn vắng lặng; tuy biết Bồ-đề không thật có, đối với không thật có ta vẫn cố cầu; tuy biết pháp môn như hư không chẳng thật có, thệ nguyện tô vẽ làm trang nghiêm hư không; tuy biết Phật đạo chẳng phải thành sở thành, như trong hư không trồng cây mà được hoa được quả; tuy biết pháp môn và quả Phật chẳng phải tu chẳng phải không tu, tu chẳng phải chứng, in chẳng phải được, vì không chỗ đứng đắc mà chứng đắc mà chứng mà đắc, đó gọi là chẳng phải hư ngụy chẳng chẳng phải chất độc, gọi là chân, chẳng phải không, chẳng phải kiến ái, gọi là chánh. Thệ nguyện từ bi như vậy cùng với cảnh trí bất khả tư nghì, chẳng trước chẳng sau, đồng thời đều sinh khởi, từ bi tức trí tuệ trí tuệ tức từ bi, vô duyên vô niệm che trùm khắp tất cả. Diệt sạch hết khổ, tự nhiên được vui không đồng độc hại, không đồng đãi không, không đồng ái kiến, đó gọi là nghĩa chân chánh phát tâm Bồ-đề, là nghĩa tự thương xót mình, thương xót chúng sinh, đều như trên nói quán tâm có thể hiểu.

3. Khéo léo an tâm: Khéo dùng chỉ quán an trụ pháp tánh. Trên đã thông hiểu cảnh bất tư nghì vi diệu sâu kín, vận dụng từ bi rộng khắp bày che chở như thế, phải thực hành thệ nguyện, hạnh tức chỉ quán. Vô minh si hoặc vốn là pháp tánh, do si mê cho nên pháp tánh biến chuyển tạo thành vô minh, sinh khởi các sự điên đảo thiện, bất thiện… như mùa động lạnh, nước đóng thành băng cứng, lại như người ngủ, tâm biến chuyển có các thứ mộng mị, nay đương thể các thứ điên đảo ấy tức là pháp tánh, không phải một, không phải khác. Tuy điên đảo khởi rồi diệt như vòng lửa xoay tròn, nhưng không tin điên đảo khởi diệt, chỉ tin tâm đây là pháp tánh, khởi là do pháp tánh khởi, diệt do pháp tánh diệt, thể kia thật không khởi diệt, vọng là khởi diệt, chỉ là vọng tưởng, đều cho là pháp tánh. Dùng pháp tánh buộc trói pháp tánh, dùng pháp tánh nghĩ nhớ pháp tánh, thường là pháp tánh không gì không phải là pháp tánh, thể đạt đã thành, không được vọng tưởng, cũng không được pháp tánh, trở lại nguồn gốc pháp giới đều vắng lặng, đó gọi là chỉ. Chỉ như thế thì từ trước đến đây tất cả sự trôi lăn đều là chỉ, người quán quán sát tâm vô minh đều là pháp tánh, xưa nay đều không, dưới đồng với tất cả vọng tưởng, thiện ác, đều như hư không, không hai không khác. Thí như kiếp tận từ mặt dưới lên đến Sơ thiền bị bốc cháy, tất cả đều là lửa, lại như tướng do Bồ-tát hư không tạng hiện ra tất cả đều không, như tất cả do Hải Tuệ tử đầu đến cuối hiện ra tất cả đều là nước, tất cả đều từ niệm khởi, mỗi niệm đều tức không, không cũng không thật có, như trước nói lửa có thể khiến cho cháy củi, cũng lại tự nhiên, pháp giới thông suốt, thảy đều rộng lớn sáng suốt gọi là quán. Chỉ chính là trí, tri chính là chỉ, bất động chỉ chính là bất động trí bất động trí chính là bất động chỉ. Bất động trí chiếu soi pháp tánh tức là quán trí được an vui cũng là chỉ an, bất động đối với pháp tánh tương ưng tức là chỉ an, cũng là quán an, không hai không khác. Nếu cả hai đều không được an là tại sao? Xét rằng tâm thần mê muội, chợt khởi chợt diệt khó có thể giữ gìn, chợt lui chợt tới không dễ gì ngăn cấm, tuy là ngăn dứt sự rong ruổi, tuy nơi tối tăm đen tối lại quán, càng thêm khổ công, tan hoại mê hoặc, địch sức mạnh cò trai yếu nên tranh nhau giữ chặt chỗ hiểm, đã không được tiến lại không thể lùi, phải bỏ mạng giữ đạo, hiến dâng da thịt xương xốt, thệ khéo léo an tâm phương tiện hồi chuyển, để được tương ưng, thành lập quán hạnh.

An tâm chia làm hai:

  1. Dạy người.
  2. Tự mình thực hành.

– Dạy người chia làm hai:

  1. Thầy là bậc Thánh.
  2. Thầy là kẻ phàm.
1. Thầy là bậc Thánh: có năng lực tuệ nhãn sáng suốt đối với thuộc pháp, có năng lực pháp nhãn hiểu biết đối với bệnh chướng, có năng lực hóa đạo ứng bệnh mà cho thuốc, khiến người bệnh mau lành. Như ngài Cúc-đa biết đệ tử phải dùng tâm tín mà ngộ nên bảo leo lên cây, đáng dùng thức ăn mà ngộ cho nên bảo uống sữa lạc, phải dùng sự quở trách để được bèn hóa thành tượng cô gái, mỗi mỗi khai hiểu, không có mảy may sai lầm, không đợi thời, không quá thời, lời ói ra liền ngộ. Sau khi Đức Phật nhập Niết-bàn, bậc thầy như thế rất khó được, rùa mà làm sao tìm gặp được lỗ hổng của khúc gỗ nỗi, hạt cải rơi chìm xuống đáy biển làm sao dùng mũi kim xâu qua được, đã khó lai càng khó2.

Thầy là người phàm: Tuy không đủ ba năng lực cũng được thi thiết giáo hóa, thí như thầy thuốc giỏi phân biệt được bệnh cho thuốc, thấy sắc nghe tiếng biết bắt mạch cho thuốc liền hết bệnh có người mạng sắp hết cũng không thể chết, nếu không biết bắt mạch hỏi xem tướng trạng của người bệnh, y lời nói của người bệnh mà cho thuốc cũng liền hết bệnh. Thân tử là bậc Thánh đức còn lầm lẫn căn cơ, huống chi phàm phu còn đủ sự ràng buộc mà xưng là thầy chữa bệnh ở đây không luận Thánh sư, chính là nói thầy là người phàm mà dạy người an tâm.

Dạy người có hai thứ:

  1. Tín hạnh.
  2. Pháp hạnh.

Luận Tát-đà-đa nói hai hạng người này địa vị ở kiến đạo, nhân nghe mà nhập, đó gọi là tín hạnh, nhân tư duy mà nhập đó gọi là pháp hạnh.

Đàm vô đức nói: Địa vị ở phương tiện, tự thấy pháp ít nhờ, năng lực nghe nhiều, thời sau cần phải nghe pháp được ngộ, gọi là tín hạnh, nhờ sức nghe ít, tự thấy pháp nhiều, sau cần phải tư duy đựoc ngộ, đó gọi là pháp hạnh, nếu trong kiến đạo vô tướng tâm lợi, một khi phát tức là chân, đâu cần phân biệt tín pháp, nhưng thường y cứ vào hạnh, thành luận y cứ vào căn tánh, mỗi mỗi đều có, do đó không chống trái nhau. Các vị thầy đời nay xa bàn nguyện do nhiều kiếp nghe bọc, nhiều kiếp ngồi thiền thì được hạt giống tín pháp, đời đời huân tập thì thành căn tánh, thảy đều do nghe suy nghĩ mà được khai ngộ. Nếu nói về người căn tánh lợi độn thì do pháp hạnh lợi bên trong tự thực hành pháp quán, tín hạnh độn nhờ nghe nơi người khác. Lại tín hạnh thuộc lợi một phen nghe liền ngộ, pháp hạnh thuộc độn thì phải trải qua pháp quán sát, hoặc vừa lợi vừa độn: Người tín hạnh nghe tuệ lợi tu tuệ độn, người pháp hành tu tuệ lợi nghe tuệ độn. Đã nói người trước căn tánh lợi độn rồi làm thế nào mà an tâm vị thầy nên hỏi rằng: Ông đối với định tuệ ghi nhớ những gì? Nếu người ấy nói tôi nghe Phật nói Thiện tri thức như hình ảnh mặt trăng sáng dần dần tròn đầy, lại như thiền cấp dần dần nân cao, khéo nói chuyển tâm người, đắc đạo hoàn toàn nhờ nhân duyên, ý thích khát uống như trâu con tìm mẹ, phải biết đó là người tín hạnh. Nếu nói tôi nghe Phật nói như gương soi tỏ thân thể sắc tượng rõ ràng bất động, nước trong không sóng thì có cá tự hiện. Ưa xả bỏ ác giác như bỏ gánh nặng phải biết đó là người pháp hạnh. Đã biết căn tánh đối với một người tám lần an tâm. Này người thiện nam! Từ vô lượng kiếp đến nay uống thuốc độc tán loạn, chạy theo năm trần chìm nổi trong ba cõi, cũng như gió mạnh thổi bông đâu-la, như lửa mạnh nấu chảo đậu trồi sụt lên xuống, từ khổ đến não, từ não đến khổ, sao không dừng tâm, thấu đạt nguồn gốc, dùng một ý ấy. Ý nếu là một vì sao không phân biệt khổ tập, được một thì không luân hồi, vô minh được một thì không đến nơi hành, cho đến không đến già chết, bẽ gãy cây đại thọ rồi cho nên không tạo nghiệp mới. Sáu tệ được một thì vượt qua được bờ bên kia, chỉ đây mới là an vui, phương tiện khéo léo, các thứ nhân duyên, các thứ thí dụ, rộng khen ngợi chỉ, sinh khởi tâm ưa thích, đó gọi là tùy lạc dục thể chỉ an tâm.

Lại người thiện nam, trời cao đại hạn sông hồ đều cạn, muôn vật cháy khô, trăm hoa rơi rụng. Vua rồng T-già-la trong bảy ngày giăng mây bốn phương giáng mưa, mặt đất đều thấm nhuần, tất cả hạt giống đều nảy mầm, mọi gốc rễ đều khai phát, hết thảy cánh lá đều xanh tốt, hoa quả đều đầy đủ, con người cũng giống như vậy. Do tán loạn buông lung cho nên đáng lẽ sinh thiện không còn sinh, đã sinh thiện rồi lại lui sụt, sông thiền định khô cạn, cây đạo phẩm tiêu diệt, muôn điều lành cháy khô, trăm phước tàn rụng, nhân hoa quả đạo không còn thanh thục. Nếu có thể rừng nhàn một ý, trong không ra, ngoài không vào thì mây sẽ yên tĩnh nổi vậy. Sinh khởi các thiền định tức thì mưa xuống, công đức đầy đủ phương tiện noãn đảnh, mắt trí sáng suốt tín nhẫn thuận nhẫn vô sinh tịch diệt cho đến vô thượng Bồ-đề thảy đều có thể đạt được, phương tiện khéo léo, các thứ thí dụ nhân duyên, rộng khen ngợi đối với chỉ sinh gốc lành kia, đó gọi là tùy tiện nghi dùng chỉ để an tâm.

Lại nữa, người thiện nam, người tán tâm là ác ở trong ác, như người say không làm chủ được mình dẫm đạp bừa bãi, phá hoại ao hoa, xỏ mũi lạc đà, bắt mang chở nặng, nhanh hơn điện chớp, độc hơn lưỡi rắn, lớp lớp năm thứ bụi, sương, mặt trời, lông mi gần, mây xa, đều không thấy được. Nếu có thể tu định như trong nhà tối thắp đèn thì phá được đêm tối, có thể tìm chọn lựa vàng, đủ mỏng manh như không, sắc rõ ràng, một ngón tay hai ngón tay ba ngón tay đều rõ ràng, bụi trần dù nhiều mưa lớn có thể thấm, đại kinh có thể làm yên tịnh sự cuống tán buông lung, chỉ có công năng phá diệt sự tán loạn luống dối. Các thứ nhân duyên thí dụ phương tiện khéo léo, rộng khen ngợi chỉ, xua tan sự ngủ nghỉ kia, đó gọi là đối trị dùng chỉ để an tâm. Lại người thiện nam, nếu tâm ở trong định thì có thể biết được pháp tướng sinh diệt của thế gian, cũng biết pháp tướng bất sinh bất diệt của xuất thế gian. Như lai thành đạo vẫn còn vui với định, huống chi phàm phu. Người có thiền định như ban đêm thấy ánh điện lóe sáng, tức được thấy đạo, dứt tất cả vô số việc ác, cho đến được thành nhất thiết chủng trí, các thứ nhân duyên, thí dụ, phương tiện khéo léo, rộng khen ngợi chỉ, tức hợp chân như, đó gọi là tùy đệ nhất, nghĩa dùng chỉ quán an tâm. Người kia nếu nói ta nghe vắng lặng đều không ghi nhớ trong lòng, nếu nghe phân biệt thọ nhận không thỏa mãn, tức nên nói ba đường ác thiêu cháy lạc đà, ngạ quỷ đói khát không gọi là khổ, si ám không nghe không biết phương hướng mới là khổ lớn. Học rộng phân biệt lạc, thấy pháp pháp hỷ lạc, dùng thiện xảo ác lạc, không đắm chấp A-la-hán, đó gọi là tối lạc, theo người học rộng, nghe cam lộ vui, đúng như lời dạy cách quan sát, biết rõ đạo phi đạo, xa lìa hầm hố, đi thẳng không trở lại, các thứ duyên dụ, phương tiện khéo léo, rộng khen ngợi quán, sinh tâm vui mừng, đó gọi là tùy lạc dục, dùng quán an tâm.

Lại nữa, người thiện nam, trăng sáng hoa sen nở, mặt trời mọc làm công việc thích ứng theo chủ, vẽ màu phải có keo đồ gốm không nung lửa thì không dùng được, người mù không ai dắt, đường thì không bước tới được một bước, người tu hành không quán trí cũng giống như vậy. Nhất thiết chủng trí dùng quán làm căn bản, trang nghiêm vô lượng công đức, các thứ duyên dụ, phương tiện khéo léo, rộng tán khen ngợi quán sinh ra công đức kia, đó gọi là tùy phương tiện, nên dùng quán an tâm. Lại người thiện nam, người trí biết oán, oán không hại được, võ tướng có mưu chước phá được địch mạnh, không có gió thì may đâu cuộn, không có mây thì cần gì ngăn nhiệt, không có nước lấy gì diệt được lửa, không có lửa lấy gì ngăn trừ bóng tối, dao cởi trói, búa chẻ củi đâu thể vượt quá trí tuệ, các thứ duyên dụ, phương tiện khéo léo, rộng khen ngợi quán khiến phá các điều ác, đó gọi là đối trị dùng quán an tâm. Lại người thiện nam, bảy báu ở đước giếng bình chậu trong nhà tối, đợi ánh sáng mặt trời xuất hiện mới thấy được rõ, cần phải có mắt trí tuệ quán sát thật tướng các pháp, đối với tất cả các pháp đều dùng chỉ quán nhập Bát-nhã Ba-la-mật, chiếu soi rất sáng, các thứ duyên dụ phương tiện khéo léo, rộng khen ngợi quán khiến được giải ngộ, đó gọi là Đệ nhất nghĩa dùng quán tâm. Tám lần như vậy nói pháp an tâm cho người tín hạnh nghe, nếu nói người kia tôi thích dừng tâm, dừng nghỉ yên lặng, tổn hại lại tổn hại, tìm đến nơi vô vi, không ưa phân biệt, rong ruổi vô ích, đây là căn tánh của pháp hành, nên nói chỉ cho họ nghe. Ông chớ tìm cầu bên ngoài mà chỉ giữ gìn bên trong, phan duyên trôi lăn đều do vọng sinh, như vòng lửa xoay tròn ngừng tay thì dứt, sóng lớn giận dữ, gió lặng thì nước đứng trong.

Kinh Tịnh Danh chép: Vì sao gọi là phan duyên? Nghĩa là duyên ba cõi. Làm thế nào để dứt phan duyên? Đó là tâm vô sở đắc.

Kinh Ứng chép: Người kia được nhất tâm thì muôn điều tà sẽ tiêu diệt.

Ngài Long Thọ nói: Thật pháp không điên đảo, quán niệm tưởng đã dứt, pháp ngôn ngữ đều diệt, vô lượng các tội trừ, tâm thanh tịnh thường nhất, người tuyệt diệu như vậy, thì thấy được Bát-nhã. Xét rằng trong núi u tịch thần tiên khen ngợi huống gì là Niết-bàn vắng lặng yên tịnh, thần Thánh tôn sùng.

Kinh Phật thoại chép: Tỳ-kheo ở trong xóm làng thân mộng tinh cần các Đức Phật đều lo, Tỳ-kheo ở núi dứt mọi sự thế gian, an nghỉ, các Đức Phật đều vui, huống gì lại ngồi kiết già, khoanh tay ngậm miệng, tư duy thật tướng tâm chuyên vào chỉ, pháp giới đồng vắng lặng đâu chẳng phải là yếu đạo, chỉ đây là đáng quý, ngoài ra không thể sánh bằng, các thứ duyên dụ, các thứ nhân duyên, rộng khen ngợi chỉ, khởi tâm vui mừng, đó gọi là tùy lạc dục dùng chỉ an tâm. Nếu người kia nói tôi quán pháp tướng chỉ thêm lăng xăng dao động, pháp lành không sáng suốt, nên nói chỉ cho họ nghe. Chỉ là pháp giới bằng phẳng như ruộng tốt, không pháp nào không đầy đủ chỉ, xả bỏ phan duyên tức là đàn, thể của chỉ chẳng phải tức là giới, thể của chỉ bất động tức là nhẫn, chỉ không xen tạp tức là tinh tấn, chỉ quyết định tức là thiền, phàp chỉ này cũng vô, người chỉ cũng vô, tức là tuệ, nhờ chỉ mà liễu phi chỉ, phi bất chỉ, tức là phương tiện. Một chỉ tất cả chỉ, tức là nguyện, chỉ chỉ ái, chỉ chỉ kiến tức là lực, chỉ đây như Phật chỉ, không hai không khác, tức là trí, chỉ đầy đủ tất cả pháp, tức là bí tạng, chỉ an nơi chỉ đâu cần dụng riêng tu các pháp, các thứ nhân duyên thí dụ, phương tiện khéo léo khiến phát sinh gốc lành, tức là tùy tiện nghi dùng chỉ an tâm. Nếu nói tôi quán pháp tướng mà tán loạn, ngủ nghĩ không dứt, thì nên nói chỉ cho họ nghe, phần lớn có công năng, chỉ là bức vách ngăn chặn tám thứ gió ác giác không thể xâm nhập được, chỉ là nước lắng trong lnắg động tám thứ điên đảo tham dâm, cũng như sương sớm thấy ánh nắng mặt trời thì tan biến, chỉ là đại bi oán thân đều thương xót, có thể phá tan sân nhuế phẫn nộ, chỉ là chú đại minh, si mê nghi ngờ đều bỏ. Chỉ tức là Phật trừ chướng đạo, như thuốc A-già-đà trị tất cả các thứ bệnh tật, chú như thầy thuốc giải cứu khỏi khô chết, các thứ nhân duyên thí dụ, phương khéo léo, khiến cho họ bỏ ác, đó gọi là đối trị dùng chỉ an tâm. Nếu người kia nói khi tôi quán sát không được khai ngộ thì pahỉ nói chỉ cho họ nghe, chỉ tức là thể chân, chiếu mà thường tịch, chỉ là tùy duyên, tịch mà thường chiếu, chỉ tức bất chỉ chỉ, ngăn đều chiếu, chỉ là mẹ của Phật, chỉ là cha của Phật, cũng tức là cha tức là mẹ, chỉ tức thầy của Phật, mắt của Phật, tướng tốt của Phật, kho tàng Phật, chỗ ở của Phật, không nơi nào không đầy đủ, không chướng nào không trừ diệt, các thứ nhân duyên thí dụ, phương tiện khéo léo, rộng khen ngợi chỉ, đó gọi là Đệ nhất nghĩa dùng chỉ an tâm. Nếu người ấy nói trạng chỉ là thâm trầm lặng lẽ, chẳng phải là thứ tôi ưa thích, nên vì họ quán xét suy tìm đạo lý. Trong bảy giác phần có trạch giác phần, trong tám chánh có chánh kiến, trong sáu Độ có Bátnhã độ, đối với pháp môn làm chủ, làm người dẫn đường, cho đến thành Phật chánh giác, đại giác, biến giác, đều là tên khác của quán tuệ. Nên biết quán tuệ rất là tôn quý nhiệm màu, rộng khen ngợi như vậy, đó gọi là tùy lạc dục dùng quán an tâm. Nếu siêng tu quán có thể sinh lòng tin giới, định tuệ, tuệ giải thoát, giải thoát tri kiến. Biết bệnh, rõ thuốc là hạnh lớn hóa đạo, các điều lành đều phù hợp chớ trải qua pháp quán, đó gọi là tùy tiện nghi dùng quán an tâm. Quán có khả năng phá tan sự tối tăm, có thể chiếu sáng đạo, trừ diệt oán tặc, có thể được vật báu, làm nghiêng đổ núi tà, khô cạn biển ái đều do năng lực quán, đó gọi là tùy đối trị dùng quán an tâm. Quán pháp quán thì không được thấy năng sở, tâm lo lắng mông lung, muốn khai mở mê mờ, chỉ nên siêng năng quán khai thị ngộ nhập, đó gọi là dụng Đệ nhất nghĩa dùng quán an tâm. Đó là tám lần nói pháp an tâm cho người pháp hành nghe.

Lại nữa, căn của con người là bất định, hoặc có khi xoay chuyển, Tát-bà-đa nói chuyển độn căn thành lợi căn, luận thành thật nói thường tu tập thì lợi. Đây là từ đầu đến cuối nói về lợi độn, không nói trong một lúc. Nay nói chúng sinh tâm hành bất định, hoặc chỉ trong chốc lát mà độn, chốc lát mà lợi, nhâm vận tự như thế, chẳng liên quan đến căn chuyển, cũng không thường tu tập; hoặc nghe lâu mà không hiểu, chỉ tạm thời suy nghĩ rồi liền quyến đoán, cho nên lại nói chuyển căn an tâm, hoặc pháp hành chuyển thành tín hành, tùy căn kia chuyển dụng tám phen tất-đàn, mà trao cho sự an tâm. Nếu tín hành chuyển thành pháp hành cũng theo căn chuyển dụng tám phen tất-đàn, mà trao cho sự an tâm, hiểu được ý này, rộng lược tự tại mà nói. Chuyển, bất chuyển, hợp lại có ba mươi hai thứ án tâm.

Tự hành an tâm: Phải quán sát tâm này làm thế nào để an vui, nếu muốn dứt vọng để niệm tưởng vắng lặng thì gọi là hạnh an lạc. Nếu ưa thích nghe thấu suốt nguồn gốc vô minh thì gọi là hạnh lạc tín. Người ưa yên tịnh như vọng từ tâm sinh, tâm dứt thì các vọng đều tịnh, nếu muốn soi tỏ hiểu biết cần phải biết nguồn gốc của tâm, tâm vốn không hai thì tất cả các pháp đều đồng với hư không, đó gọi là tùy lạc dục tự hành an tâm. Tâm kia tuy rộng phân biệt tâm và các pháp, mà tín niệm tinh tấn mảy may điều lành chẳng sinh, liền phải dừng nghỉ chớ động, công đức các điều lành do tịnh mà sinh, nếu ngừng đọng thì càng am thầm lặng lẽ, đều không có tinh tấn nhẫn nhục, phải suy nghĩ tính toán sách tấn cho sinh khởi, nếu niệm niệm không dừng, như ngựa rong thì phải dùng chỉ đế đối trị sự buông lung. Nếu im lặng vô ký tương ưng với ngủ, thì phải tu quán ngăn phá các sự hôn mê, tu chỉ lâu mà không thể khai phá thì phải tu quán, quán tất cả pháp vô ngại không khác, thảy đêu sáng suốt lợi ích, dần dần giác ngộ như hư không. Nếu tu quán lâu mà ám chướng không hết thì lại phải tu chỉ, dừng các duyên niệm, vô năng vô sở, sở ngã đều vắng lặng, không tuệ sẽ sinh, đó gọi là tự tu pháp hành tám phen khéo léo khắp cùng để được an tâm… tín hành an tâm: Hoặc muốn nghe vắng lặng sáng suốt như núi Tu-di, không sợ tám thứ động thì nên nghe chỉ, muốn nghe sự lợi lạc quán phá các phiền não, như mặt trời xua tan các sự tối tăm, thì nên nghe quán; nghe quán lâu như mặt trời đốt cháy mầm, mống, thì nên nghe chỉ thấm dần nứơc định. Hoặc nghe định ngâm lâu như mần non bị hư thối không mọc, thì nên nghe quán khiến mặt trời gió phát động giúp cho pháp lành hiện tiền, hoặc khi rong ruổi một niệm không dừng thì nên nghe chỉ để đối trị tán tâm, hoặc hôn trầm ngồi dưới sương mù, thì nên nghe quán để phá sự hôn muội này, hoặc nghe chỉ thông suốt thì chuyên nghe chỉ, hoặc nghe quán thông rõ thì chuyên nghe quán, đó gọi là tự tu tín hành tám phen khéo an tâm. Nếu tâm pháp hành chuyển thành tín hành, tâm tín hành chuyển thành pháp hành thì đều tùy theo người kia thích nghi mà khéo léo nghiên cứu. Tự hành có ba mươi hai thứ, hóa tha cũng có ba mươi hai thứ, hợp thành sáu mươi tư thứ an tâm. Lại nữa, tín pháp không cô lập, cần phải nghe suy nghĩ trợ giúp cho nhau, như pháp hành hễ nghe một câu thì thể vắng lặng, sinh tâm vui mừng. Lại nghe chỉ rồi, trở lại tư duy liền sinh thiền định lại nghe chỉ rồi lại tư duy, sáng suốt sắp ngộ, lại nghe quán rồi lại tự duy tâm rất vui mừng, lại nghe quán rồi trở lại tư duy sinh ra điều lành, phá ác gắp ngộ… y cứ như trước có thể biết. Đây là nghe ít tư duy nhiều gọi là pháp hành, chẳng phải đều không nghe pháp. Người tín hành ngồi ngay ngắn tư duy vắng lặng, vui mừng hớn hở chưa sinh khởi đã nghe chỉ, hoan hỷ vui mừng, ngồi ngay ngắn nhớ nghĩ điều lành, điều lành không thể phát, khởi đã nghe chỉ, tín giới tinh tấn, càng tăng thêm gấp bội, ngồi ngay ngắn trị ác, ác chưa thể bỏ đã nghe chỉ tán động phá diệt, ngồi ngay thẳng tức chân, chân thật chưa sinh khởi, đã nghe chỉ hoạt nhiên ngộ vắng lặng, đó gọi là tín hành, ngồi ít nghe nhiều, chẳng phải đều không tư duy. Trước tạo một bề căn tánh, nay tạo căn tánh trợ giúp lẫn nhau, y cứ vào sự trợ giúp này lại nói về chuyển bất chuyển, cũng có ba mươi hai thứ an tâm. Hóa tha giúp nhau, cũng có ba mươi hai thứ an tâm, hiệp lại thành sáu mươi bốn, hiệp thêm trước thành một trăm hai mươi tám thứ an tâm. Xét rằng tâm địa khó an, trái ngược với khổ, thuận với vui, nay tùy theo sở nguyện kia mà an, thí như nuôi sống hoặc ăn hoặc uống, thích hợp với thân lập mạng, nuôi dưỡng pháp thân cũng giống như vậy, dùng chỉ làm uống, lấy quán làm thức ăn, thuốc pháp cũng như vậy. Hoặc hoàn hoặc tán, để trừ bệnh lạnh nóng, trị bệnh vô minh, dùng chỉ làm hoàn, dùng quán làm tán, như pháp âm dương, dương thì trăng gió, âm thì mây mưa, mưa nhiều thì sáng sửa, mặt trới nhiều thì nóng bức. Âm như định, dương như tuệ, định tuệ riêng tư đều không thấy Phật tánh, tám phen điều hòa, quý ở chỗ vừa ý, có một hạng Thiền sư không chịu thực hành quán, chỉ duyên hành chỉ.

Dẫn kệ nói: Tư duy luống tư duy luống tự khổ, dứt tư chính là đạo, có tự trọn không thấy. Lại có hạng Thiền sư không chịu thực hành chỉ, chuyên tâm hành quán.

Dẫn kệ rằng: Chỉ luống tự chỉ, hôn mê không lý do, chỉ chỉ tức là đạo, quán quán được hội lý. Hai vị Thiền sư mỗi vị đều theo một một pháp môn mà vào đạo, tự mình dạy người khác, người học thì không thấy ý, một bề uống sữa còn khó được, huống chi đề hồ. Nếu một bề hiểu biết thì vì sao Đức Phật nói nhiều điều như vậy ư! Trời không thường sáng, thầy thuốc không chuyên tán, thức ăn không thường là cơm, thế gian còn không như vậy, huống chi xuất thế gian ư? Nay tùy căn cơ, tùy bệnh mà xoay chuyển tự hành hóa tha có sáu mươi bốn thứ. Nếu căn cứ ba phen chỉ quán thí có ba trăm tám mươi bốn. Lại nữa, nhất tâm chỉ quán còn có sáu mươi bốn, hiệp lại có năm trăm mười hai. Ba Tất-đàn là an tâm thế gian, thầy thuốc thế gian trị lành bệnh khiến sống trở lại, một Tất-đàn làm an tâm thế gian, Đức Như Lai đã trị rốt ráo không chỗ an, nếu lìa chỉ quán thì không có pháp an tâm, nếu tâm an thì đối với chân đế một câu liền đủ. Nếu kia bày lẫn nhau. Nếu kia không an thì khéo dùng phương tiện khiến cho tâm họ được an. Một mắt lưới giăng không thể bắt được chim, muốn bắt được chim thì phải giăng một mắt lưới. Tâm hành chúng sinh mỗi mỗi đều khác nhau hoặc nhiều người cùng một thứ tâm hành, hoặc một người có nhiều thứ tâm hành, như vì một người, nhiều người cũng như vậy, như vì nhiều người, một người cũng như vậy, phải rộng bố thí pháp, nhiều như mắt lưới để bắt chim tâm hành.

Phần Cuối

4. Nói về phá pháp biến: Pháp tánh thanh tịnh, không hợp không tan, đường ngôn ngữ bặt, chỗ tâm hành diệt, chẳng phá chẳng không phá, vì sao nói phá, chỉ vì chúng sinh thường điên đảo, phá điên đảo khiến cho chúng sinh không còn điên đảo, cho nên nói phá pháp biến. Đoạn trên nói thiện xảo an tâm thì định tuệ khai phát, không đợi phải phá nữa. Nếu chưa tương ưng thì nên dùng tuệ có định để làm cho thanh tịnh, cho nên nói phá. Nhưng cách phá phải y theo pháp môn, kinh dạy pháp môn khác nhau; hoặc quán hành làm pháp môn, trong đại phẩm nói bốn mươi hai tự môn; hoặc quán hành làm môn, thích luận nói Bồtát tu ba Tam-muội duyên thật tướng các pháp; hoặc trí tuệ làm môn, kinh Pháp Hoa chép: Kia là trí tuệ môn; hoặc lý làm môn, đại phẩm nói pháp vô sinh vô lai vô khứ tức là Phật. Y theo giáo môn thông quán, theo quán môn mà thông trí, y theo trí môn mà thông lý. Lý làm môn thì lại thông chỗ nào? Các môn giáo, quán trí… đều y theo lý, năng y là môn, sở y vì sao chẳng phải môn, tuy không có chỗ thông mà rốt ráo thông khắp đó là diệu môn. Tuy đặt ba môn, nay chỉ nói giáo môn. Bốn môn tam tạng trước phá kiến hoặc, sau đó mới phá tư hoặc… bốn môn Thông giáo cũng trước phá kiến hoặc, sau phá tư hoặc, cũng đều phá, chỉ phá bốn trụ không được gọi là biến. Bốn môn Biệt giáo theo thứ lớp dứt năm trụ, đây mới là dọc khắp, ngang không khắp, đều chẳng phải nay mới dụng, nay bất tư nghì một cảnh tất cả cảnh, một tâm tất cả tâm, các pháp ngang dọc đều hướng về tâm, vì phá tâm cho nên tất cả đều phá, cho nên nói là khắp, các môn khác phá không khắp thì không cần nói bốn môn Viên giáo đều có khả năng phá khắp, đó là hữu môn vô môn, vừa hữu vừa vô môn, phi hữu phi vô môn. Nay lại lập ba môn, lại nương không vô sinh môn, vô sinh môn thông với chỉ quán, cùng tột nhân quả. Lại năng hiển bày vô sinh khiến cho pháp môn bừng sáng, vì sao? Vì chỉ quán là hành, vô sinh môn là giáo, y giáo tu hành thông đến vô sinh pháp nhẫn, nhân vị đầy đủ. Kinh tịnh danh nói ba mươi hai vị Bồ-tát mỗi vị đều nói nhập phá môn không hai, đều là Bồ-tát từ môn nhập vị, vô sinh là đầu. Đại phẩm nói tự môn A nghĩa là các pháp vốn bất sinh nay chứng vô sinh thông chỉ quán đạt đến nhân, nghĩa kia có htể thấy. Chỉ quán bừng sáng vô sinh môn, pháp không tự nó hiển bảy, mà do người mở mang, người năng hành hạnh, pháp môn mới bừng sáng, khiến cho giáo pháp vô sinh ngang dọc vô ngại, tất cả đều thông, nghĩa môn mới thành. Thí như người đời ra vào cửa ngỏ, người có địa vị thì môn vinh hoa sáng rực, năng thí đã vậy thì sở thí có thể hiểu.

Môn thông quả: Đại Kinh chép: Bát-nhã là không, bàn là sinh nghĩa là bất sinh gọi là đại Niết-bàn. Lại nói hai pháp lại nói có thể làm lợi ích lớn, cho đến Bồ-đề.

Đại Phẩm chép: Pháp vô sinh không đến không đi, pháp vô sinh tức là Phật.

Kinh Pháp Hoa chép: Phật tự trụ Đại thừa, như phép ngài đắc sức định tuệ trang nghiêm, lấy đó độ chúng sinh, vả lại dẫn ba kinh kết quả nghĩa rõ ràng. Chỉ quán năng hiển bày quả, quả không tự hiển bày, do hạnh cho nên quả mãn, quả mãn cho nên tất cả đều mãn, sừng sững nguy nga như sao, như trăng, chiếu sáng khắp mười núi báu, tỏa khắp bốn biển, quả cũng như vậy vô thượng vô thượng, công cao thập địa dẫn dắt khắp bốn căn cơ. Trong kinh Kim Quang Minh, Phật lễ tháp thờ hai cốt, tức là nghĩa ấy giáo môn vô sinh dọc thâu nhiếp nhân quả, nghĩa kia đã rõ ràng, ngang thau nhiếp ý, nay sẽ nói.

Đại Phẩm chép: Nếu nghe vô môn thì hiểu tất cả nghĩa, đầu tiên là chữ A-thâu-nhiếp bốn mươi mốt chữ, bốn mươi mốt chữ thâu nhiếp chữ A, các chữ khoảng giữa cũng giống như vậy, ngang dọc thâu nhiếp đầy đủ, văn ấy như thế, ý này khó thấy, lại dẫn kinh Phật tạng chỉ bày tướng ấy. Kế là dẫn kinh Niết-bàn giải thích nghĩa ấy, sau nói vô sinh môn phá pháp biến.

Kinh Phật tạng chép: Khi kiếp hỏa khởi Bồ-tát nhổ nước bọt thì lửa liền tắt, một khi thổi thế giới liền thành, chẳng phải là trước diệt sau thành, chỉ một lần nhổ liền diệt liền thành. Kinh ấy nói ngoại dung nội hợp vô sinh môn, tức phá biến, tức lập biến, phá lập không cần hai niệm. Nếu bên trong không có đức ấy thì bên ngoài không có dụng lớn, nương nhờ bên ngoài để hiển bày bên trong, tướng kia như vậy, cần phải hiểu biết quán tâm, chúng sinh một thời kỳ sẽ làm xong, tức là kiếp tận. Ba độc ba tai là nguyên nhân của lời nói, dùng để chỉ chỉ nhổ nước bọt thì lửa tắt, dùng quán quán như thổi mà thế giới thành…

Đại kinh thích nghĩa: Không nghe nghe một câu có nhiều nghĩa, ban đầu nói: Bất sinh sinh, bất sinh bất sinh, sinh bất sinh, sinh sinh, xét bốn câu này nói về vô sinh môn, thâu nhiếp các pháp tự hành nhân quả hóa tha năng sở đều khắp.

Bất sinh sinh: An trú thế đế, lúc mới ra thai thì gọi là bất sinh sinh. Nay giải thích thế đế: Vô minh cùng pháp tánh sinh ra tất cả sự ngăn cách phân biệt, cho nên gọi là thế đế.

An trụ: Dùng chỉ quán an trú thế đế, tức là cảnh bất khả tư nghì, thành quán hạnh vị, nên gọi là an trụ, do an trụ cho nên gá vào Thánh thai, ban đầu khai kiến Phật, đắc vô sinh nhẫn, gọi là ra khỏi Thánh thai, không thấy vô minh thế đế nên gọi là bất sinh, đạt được sự thấy biết như Phật nên gọi là sinh, luận chép các pháp bất sinh mà Bát-nhã sinh, tức là nghĩa ấy. Đây nói tự hành giai vị vô sinh nhẫn, nghĩa nhân thành tựu.

Kinh giải thích bất sinh bất sinh: Bất sinh bất sinh là đại Niết-bàn, vì tướng sinh đã hết,vì tu đạo đắc. Nay giải thích quả do nhân khắc chế, cho nên nói tu đạo đắc đoạn đức đã viên mãn thì vô minh bất sinh, trí đức đã viên mãn thì Bát-nhã bất sinh cho nên nói bất sinh bất sinh. Ở đây nói tự hành tịch diệt, nhân nghĩa quả đã thành. Nhân quả đã viên mãn như kinh Phật tạng nói nhỗ một bãi nước bọt, ngay nơi diệt là lập, chính là nghĩa ấy.

Kinh giải thích sinh bất sinh: đối với thế đế, khi chết gọi là sinh bất sinh. Ở đây, giải thích thế đế: Vô minh là căn bản của kia, đã phá vô minh cho nên nói thế đế chết, thế đế chết cho nên gọi là sinh bất sinh. Đây giải thích câu đầu, trên câu đầu duyên nơi lý, trí đức thành cho nên nói bất sinh sinh, dưới câu này là phá hoặc đoạn đức thành cho nên nói sinh bất sinh. Bất sinh tên gọi tuy đồng nhưng sự lý rất khác. Câu đầu nói trí tuệ khai phát là sinh, câu này là kết nghiệp khởi động gọi là sinh, tên gọi sinh đồng mà sự buộc thoát lại rất khác, chẳng mê gọi là hoặc chỉ cần phải sáng suốt hiểu rõ. Câu đầu khạc trong thổi, câu này như thổi trong khạc, khạc thổi cùng một lúc không thể trước sau.

Kinh lại giải thích câu này rằng: Hàng Bồ-tát tứ trụ gọi là sinh bất sinh, sinh tự tại. Nay giải thích thuyết sinh bất sinh ở trước tự thực hành thì hoặc diệt, giải thích lại sinh bất sinh, nói về sự hưng thạnh của việc hóa đạo. Vì sao? Khi Bồ-tát tứ trụ phá kết nghiệp sinh thì có thể tự tại sinh, huống chi dứt năm trụ ư! Dùng thua hiển bày thắng càng hiện rõ sự hóa đạo, hàng Nhị thừa dứt hoặc đắm vào không chẳng thể như đây, cho nên nêu Bồ-tát, hoặc dứt thì hiển bày, khạc hóa phát khởi thổi.

Kinh giải thích sinh sinh: Là tất cả hữu lậu niệm niệm sinh, nay giải thích câu này nói về chỗ hóa dụng. Vì sao Bồ-tát bất sinh mà sinh, bởi tất cả chúng sinh hữu lậu nối nhau không dứt. Thế nên Bồ-tát khởi tâm đại bi, hiển bày tự tại sinh mà độ thoát, đó gọi là vô sinh môn thâu nhiếp tự hành nhân quả hóa tha năng sở tất cả đều đầy đủ.

Bồ-tát Tứ trụ kinh địa trù chép: từ Sơ Trụ phát tâm đến thập địa, phải thực hành sáu trụ:

  1. Chủng tánh trụ.
  2. Giải hành trụ.
  3. Tịnh tâm trụ.
  4. Hành đạo tích trụ.
  5. Quyết định trụ.
  6. Cứu cánh trụ.

1. Chủng tánh trụ: Nếu người không có chủng tánh tuy sinh vào đường lành nhưng thường thối, thường tiến, không được ở trong số sáu vị Bồ-tát, nếu chủng tánh thành tựu thì hông có lui sụt, thường thường tăng tiến, được làm trong số sáu vị này. Người giải hành là Sơ địa phương tiện, tịnh tâm trụ là nhập vào Sơ địa, được tâm xuất thế gian lìa ngã tướng chướng của phàm phu, cho nên gọi Tịnh tâm trụ. Hành đạo tích trú: Từ Sơ địa trụ tu đạo. Quyết định trụ là Bát địa, cửu địa, đã được báo hành không trở lại, không lui sụt, cho nên gọi là quyết định trụ.

2. Cứu cánh trụ: Đệ thập địa học hành đầy đủ cùng tận, cho nên nói cứu cánh trụ. Kinh gọi bốn trụ, gọi là sinh bất sinh chính là hành đạo tích trụ, từ nhị địa trở lên chính là nhập giai vị giả hóa tha, hiện sinh ở khắp nơi mà chẳng phải thật sinh, dùng biệt hiển bày viên. Khi mới ra thai liền có thể làm lợi lạc cho chúng sinh, hóa sinh tự tại, đối với nghĩa viên cũng không lầm lỗi.

Kinh lại nêu sáu câu: Bất sinh sinh cũng không thể nói sinh sinh cũng không thể nói, sinh bất sinh cũng không thể nói, bất sinh bất sinh cũng không thể nói sinh cũng không thể nói, bất sinh cũng không thể nói. Xét sáu câu này nói về vô sinh môn phá pháp biến, nếu phá tư nghì hoặc nên dùng bốn câu trước. Nếu phá bất khả tư nghì hoặc dùng hai câu sau, vì sao? Vì tư nghì hoặc tuy nhiều nhưng không ngoài giới nội ngoại, giới ngoại hoặc phụ giúp thể phát sinh, cho nên nói bất sinh sinh, giới nội hoặc là nhánh ngọn cho nên nói sinh sinh, hoặc này lăng xăng đều là cảnh sở hóa, vì cảnh này cho nên lập bày tự tại sinh, cảnh sở hóa đã không thật có thì chỗ nào có năng hóa? Năng sở đều mất cho nên bất sinh sinh, sinh sinh đều không thể nói. Nếu phá tư nghì giải thì, giải này tuy nhiều nhưng không ngoài giới nội ngoại, giới nội giải thỉ bỏ sót phần đoạn cho nên nói sinh bất sinh, giới ngoại giải cả hai, đều bỏ phần đoạn, biến dịch, cho nên nói bất sinh bất sinh, giải này có sâu có cạn, cho nên có các thứ tự hành nhân quả, lý còn chẳng phải một, đâu có nhiều thứ. Nay nhổ khắp phá cho nên nói sinh bất sinh không thể nói, bất sinh bất sinh cũng không thể nói bất sinh bất sinh cũng không thể nói. Nếu bất khả tư nghị hoặc, thì chỉ là vô minh. Vô minh cho nên sinh. Sinh cho nên vô minh. Vô minh, vô minh không thật có, sinh cũng không thật có. Nay đều thóa (nhổ) phá, cho nên nói sinh không thật có. Nếu phá bất khả tư nghì giải, chỉ là viên giải,viên giải từ đầu đến cuối phân chia vượt ngoài nhân quả, lý không biến viên, cũng chẳng phải đầu cuối, đâu có nhân quả, nay phá khạc cho nên nói bất sinh không thật có. Đem ý kinh kia giải thích vô sinh môn phá pháp biến, nghĩa ấy rõ ràng, Phật tự giải thích sáu câu.

Thế nào là bất sinh sinh không thể nói? Bất sinh gọi sinh cho nên không thể nói? Bất snah là pháp tánh, sinh là vô minh. Hàng Nhị thừa chứng bất sinh còn thọ pháp tánh sinh, cho nên nói bất sinh gọi là sinh. Nương tôn chỉ này của Phật biết ngoại này phụ giúp cho thể hoặc bất sinh mà gọi à sinh, sinh tức điên đảo, điên đảo tức bất điên đảo, chỗ tâm hành diệt đường ngôn ngữ bặt, cho nên không thể nói.

Thế nào là sinh sinh không thể nói? Sinh sinh cho nên sinh, sinh sinh cho nên bất sinh cho nên không thể nói. Nay giải thích sinh sinh cho nên sinh, tức là đại sinh sinh ra tiểu sinh, tám tướng biến đổi pháp hữu lậu, nương tôn chỉ này của Phật mà biết được giới nội này là hữu lậu hoặc. Sinh sinh cho nên bất sinh là pháp do nhân duyên sinh tức không tức trung, chỗ tâm hành diệt đường ngôn ngữ bặt cho nên không thể nói.

Thế nào là sinh bất sinh không thể nói? Sinh tức gọi là sinh, sinh không tự tại cho nên không thể nói. Nay giải sinh tức gọi là sinh chính là các pháp bất sinh Bát-nhã sinh. Sinh không tự tại sinh Bát-nhã này sinh không từ bốn câu sinh, sinh không tự tại là câu đầu. Nói đủ sinh không phải từ tha sinh, sinh không công sinh, sinh đều do nhân sinh. Lại nữa, khi Bát-nhã sinh thì thế đé đã chết, không còn có sinh mà sinh trong ba cõi, do nhân sinh chẳng phải nghiệp sinh, cho nên nói sinh không tự tại, hoặc Bát-nhã sinh, hoặc tự tại sinh đều nói đường ngôn ngữ dứt cho nên không thể nói, y cứ vào ý này biết đây giải giới nội.

Thế nào là bất sinh bất sinh không thể nói? Do tu đạo mà đắc. Nay giải thích tu đạo đắc chính là chứng quả cùng tột, dưới thập địa chẳng 12 biết được, đâu thể nói năng, y cứ theo đây biết là giải giới ngoại.

Kinh chép: Sinh cũng không thể nói do vô sinh. Nay giải thích phá này bất tư nghị hoặc giới nội sinh sinh cũng là sinh, giới ngoại bất sinh sinh cũng là sinh, chỉ là sinh sinh của vô minh, phải nương gá vào duyên sinh, duyên sinh tức không, tức trung chỗ tâm hành diệt, đường ngôn ngữ bặt, cho nên không thể nói. Kinh dạy bát sinh không thể nói vì có đắc. Nay giải thích phá này bất tư nghì giải, cho đến giải của giới nội cũng do tu đạo đắc, giải giới ngoại cũng do tu đạo đắc, đắc thì đến lý, lý thì bặt tâm miệng, cho nên không thể nói.

Đức Phật dùng sáu câu phá các pháp giải hoặc, đều nói không thể nói, càng hiển bày vô sinh môn phá pháp biến. Theo kinh Phật tạng thì bốn câu trước vừa thổi vừa nhổ, hai câu sau kết bốn câu trước thổi nhổ đó thôi. Sáu câu này chỉ nói về nhổ. Lại nữa, kinh lăng nghiêm chép: Ta từ đêm đắc đạo đến đêm nhập Niết-bàn không nói một chữ. Đức Phật nhân hai pháp mà nói như vậy, nghĩa là duyên tự pháp và pháp bổn trụ. Tự pháp là pháp mà Đức Như Lai kia chứng đắc ta cũng chứng đắc, không thêm không bớt, lìa ngôn thuyết vọng tưởng văn tự hai đường.

Giải thích rằng: Duyên tự pháp là chứng thật tánh của Thánh chân đế. Lìa văn tự là lìa giả danh. Lìa hai đường là lìa thuyết, sở thuyết, tưởng, sở tưởng, danh, sở danh.

Bổn trụ tánh: Nghĩa là đạo pháp giới của bậc tiên Thánh là thường trụ, như đường hướng về thành, đường được người đi, chẳng phải hành giả làm đường, thành từ đường mà đến, chẳng phải người đi đến làm thành.

Kinh chép: Kẻ sĩ phu thấy đường bằng phẳng, liền theo vào thành, được sự an vui như ý, ta pháp giới của Phật trước là thường trụ cũng giống như vậy, vì vậy cho nên Đức Phật dạy từ đêm thành đạo đến đêm Niết-bàn không nói một chữ. Nên biết hai pháp quyết định chẳng phải khẩu ngôn phân biệt năng sở biến đổi, bổn pháp là như lý. Tự pháp là chứng thật. Nghĩa này giống với bốn câu không thể nói của đại kinh. Sinh sinh không thể nói là bổn pháp không thể nói sinh thuận theo duyên sinh, bổn pháp không thể nói, sinh bất sinh không thể nói, tức tự đoạn pháp không thể nói; bất sinh sinh không thể nói tức tự trí pháp không thể nói; bất sinh bất sinh không thể nói tức là pháp cứu cánh tự chứng pháp không thể nói. Hai câu sau mỗi kết sinh không thể nói kết bổn pháp không thể nói. Một câu kết bất sinh không thể nói, kết tự chứng pháp không thể nói.

Đại kinh chép: Pháp mười nhân duyên sinh tác nhân cũng có thể được nói. Nay giải thích, đây tức là nghĩa vô sinh môn biến lập, cũng như kinh Phật tạng nói thổi khắp liền thành thế giới.

Mười nhân duyên là từ chi vô minh cho đến chi hữu lập các pháp.

Lập có ba nghĩa:

  1. Lập chúng sinh.
  2. Lập cơ duyên.
  3. Lập Thanh giáo.

Lập chúng sinh: quá khứ hai nhân, hiện tại năm quả, lại làm nhân duyên lẫn nhau mà lập năm ấm giả danh chúng sinh. Lập căn cơ: Quá khứ hoặc tu hành, tích hạnh, thể hạnh, tiệm hạnh, đốn hạnh, ấy hạnh làm nghiệp thấm nhuần vô minh, đến nay năm quả đối với ấm quả này lại khởi bổn tập, hoặc khởi phân tích ái thủ hữu, hoặc khởi thể ái thủ hữu, hoặc khởi tiệm ái thủ hữu, hoặc khởi đốn ái thủ hữu, thủ hữu khởi cho nên được gọi là cơ duyên.

Lập thanh giáo: Phân tích ái thủ hữu khởi cho nên cảm tạng giáo, đó gọi là sinh sinh bất khả thuyết mười pháp nhân duyên, gọi sinh sinh làm nhân, cũng có thể được nói, nói là sinh sinh. Thể ái thủ hữu chiêu cảm Thông giáo, đó gọi là sinh bất sinh không thể nói mười pháp nhân duyên, là sinh bất sinh làm nhân, cũng có thể được nói, nói sinh bất sinh. Tiệm ái thủ hữu chiêu cảm ở Biệt giáo, đó gọi là bất sinh sinh không thể nói mười pháp nhân duyên, bất sinh sinh làm nhân, cũng có thể được nói, nói bất sinh sinh. Đốn ái thủ hữu chiêu cảm ở Viên giáo, đó gọi là bất sinh bất sinh không thể nói mười pháp nhân duyên, là bất sinh bất sinh làm nhân, cũng có thể được nói, nói bất sinh bất sinh. Nếu lập chúng sinh, thì tất cả hoặc pháp nhân quả đều lập, tất cả sở hóa lập. Nếu lập cơ giáo thì tất cả giải hạnh nhân quả lập. Tất cả năng hóa lập, đó là vô sinh môn, một lập tất cả đều lập. Cho nên, Đại Phẩm chép: Nếu nghe tự môn A thì hiểu tất cả nghĩa kinh.

Phật tạng chép: Một phen thổi thì tất cả đều thành chính là nghĩa này. Kinh địa trì nói bốn thứ thành thục nghĩa là chủng tánh Thanh văn, chủng tánh duyên giác, chủng tánh Phật, và chủng tánh Bồ-tát, không có bốn thứ tánh này để thuần thục đường lành. Chủng tánh Phật tức tức là viên cơ này chủng tánh Bồ-tát tức là biệt cơ này. Văn ấy chép: Chủng tánh Bồ-tát có Phật hay không Phật đều có thể theo thứ lớp dứt bỏ phiền não chướng và sở tri chướng, đâu chẳng phải biệt cơ, chủng tánh Thanh văn sẽ khai mở, khác biệt gốc lành tức tam tạng cơ, thối đại theo Tiểu thừa tánh tức là thông cơ. Bốn thứ kia thành thục tức là nghĩa của bốn thứ cơ duyên này.

Hỏi: Sáu câu trên là vô sinh môn, một phá tất cả đều phá, mười pháp nhân duyên là vô sinh môn, một lập tất cả đều lập. Bốn câu trên là vô sinh môn vừa phá vừa lập, cũng nên có câu thứ bốn chẳng phải phá chẳng phải lập phải không?

Đáp: Trong đại kinh quyển mười chín, phần đầu chép: Công đức của mười việc không thể suy nghĩ, bàn luận, làm người nghe kinh sợ, chẳng khó chẳng dễ, chẳng phải trong chẳng phải ngoài, chẳng phải tướng chẳng phải phi tướng, chẳng vuông chẳng tròn, chẳng phải nhọn chẳng phải tà… tức là nghĩa là văn của câu văn thứ tự chẳng phải phá chẳng phải lập.

Hỏi: Nếu vô sinh môn thâu nhiếp tất cả pháp thì không còn các môn?

Đáp: Vô sinh môn cũng thâu nhiếp các môn, các môn cũng thâu nhiếp vô anh môn, muốn nương nghĩa trí đức tiện cho nên nói vô sinh môn. Ở đây nên có bốn câu sinh môn, vô sinh môn, vừa sinh vừa vô sinh môn, chẳng phải sinh chẳng phải vô sinh môn, mỗi môn đều có bốn môn, bốn lần bốn là mười sáu môn. Nếu theo nghĩa đoạn thức tiện thì lẽ ra có diệt môn, bất diệt môn, vừa diệt vừa bất diệt môn, chẳng phải diệt, chẳng phải bất diệt môn, mỗi môn đều có bốn môn, bốn lần bốn là mười sáu môn, hiệp lại có ba mươi hai môn.

Đại kinh nêu: Ngày mười lăm trăng thêm sáng, chính dị cho trí đức, ngày mười sáu trăng bớt sáng, chính dụ cho đoạn đức, trăng không thêm không bớt là y cứ vào bạch luận, thêm là y cứ vào hắc luận, bớt là thật tướng vô trí vô đoạn, ý cứ vào chiếu luận, trí là y cứ vào tịch luận đoạn. Nếu vô sinh môn thâu nhiếp tất cả pháp cao tột thì dọc này thâu nhiếp tất cả pháp, nếu vô sinh môn thâu nhiếp các pháp rộng khắp thì tức là vô sinh môn ngang thâu nhiếp tất cả pháp.

Hỏi: Vô sinh môn môn gọi là vô sinh, hoặc trí kia đoạn… đều nên gọi là vô sinh, đâu thể nói vô sinh ra sinh, sinh sinh tự tại?

Đáp: Đây lại giúp hiển bày vô sinh môn, vô sinh nhẫn phát cho nên nói vô sinh sinh, nói về sở hóa cho nên nói sinh sinh, nói về ứng dụng cho nên nói sinh tự tại, là vô sinh môn, tức là nhổ cho nên nói vô sinh tức thổi cho nên nói vô sinh sinh… càng hiển bày cô sinh môn, thâu nhiếp pháp biến. Y cứ vào đại kinh giải thích nghĩa môn đã xong… Kế là nói về phá pháp biến, chia làm ba:

  1. Vô sinh môn từ đầu đến cuối, cùng tột nguồn gốc, dọc phá pháp biến.
  2. Trải qua các pháp môn, đương môn, từ đầu đến cuối, cùng tận nguồn gốc, ngang pháp pháp biến.
  3. Ngang dọc không hai từ đầu đến cuối, cùng tận nguồn gốc, chẳng ngang chẳng dọc phá pháp biến: Dọc thì nói về chiều cao, ngang thì nói về chiều rộng. Bề dọc lại vào bề ngang, không rộng mà không cao, bề ngang lại vào bề dọc, không dài mà không rộng.

Kinh Pháp Hoa chép: Xe kia cao rộng, ngang dọc không hai thì chẳng ngang chẳng dọc, cho nên nói: Pháp ấy bình đẳng không cao không thấp.

Vô sinh phá pháp biến lại chia làm ba:

  1. Từ giả nhập không phá pháp biến.
  2. Từ không nhập giả phá pháp biến.
  3. Hai quán làm phương tiện, được nhập trung Đệ nhất nghĩa đế phá pháp biến. Ba quán này thật ở trong một tâm, pháp vi diệu khó hiểu, nương nhờ ba pháp quán để hiển hiện một.

Đại Luận chép: Ba trí thật ở trong một tâm, vì nói cho người nghe khiến dễ hiểu nên chia thuộc ba người.

Kinh Hoa Nghiêm cũng có hai ý: Giảng nói Bồ-tát trải qua nhiều kiếp tu hành, đó là hàng độn căn, lúc mới phát tâm liền thành chánh giác, tất cả thân trí tuệ không do người khác mà ngộ, đó là hàng lợi căn.

Kinh pháp hoa chỉ một ý, chánh bỏ ngay phương tiện, chỉ nói đạo vô thượng. Nay muốn nương riêng bày chung, nêu thứ lớp mà nói không thứ lớp, cho nên trước giải thích ba nghĩa.

1. Từ giả nhập không phá pháp biến, lại chia làm ba: Từ thấy giả nhập không, kế đến từ tư giả nhập không, sau cùng bốn môn giản lược.

Thứ nhất: Từ kiến giả nhập không lại chia làm hai: Trước nói về thấy giả, kế là nói về không quán, kiến hoặc nương vào thể mà sinh, lại làm chướng ngăn thể, như hơi lửa bốc lên nương hư không, lại làm động loạn hư không, giống như mộng do ngủ mê, mộng là do ngủ, mộng nếu không dừng thì ngủ không thức được, hoặc này mà không dứt thì thể không được hiển bày. Nhưng thấy thì thấy lý, thấy thật chẳng phải hoặc, khi thấy lý thì có thể dứt hoặc này, do đó mà hiểu đặt tên, gọi là kiến hoặc.

Kiến hoặc có bốn: Chấp có, chấp không, chấp vừa có vừa không, chấp chẳng phải có chẳng phải không. Đối với nhất hữu kiến lại khởi lợi độn, nghĩa là vó ngã, ngã và hữu đi chung, thường khởi ngã tâm, tương ưng với ngã, tức là ngã kiến, do chấp ngã nên năng sinh biên kiến, do chấp ngã biên cho nên phá nhân quả thế gian, xuất thế gian, tức là tà kiến; chấp đây là con đường trông mong thông đến Niết-bàn, gọi là giới thủ; gọi đây là thật, ngoài ra đều là nói dối, không chấp nhận các kiến khác, gọi là kiến thủ; là pháp mình ưa thích, chẳng phải pháp mình sân, ta hiểu người khác không hiểu, sinh tâm kiêu ngạo, không biết trong hữu kiến khổ tập là si, do dự không quyết định là nghi. Mười sử như vậy trải qua tứ đế cõi dục, thân và biên, từ diệt trở xuống có bảy trừ thân giới thủ và biên giới thủ, hiệp lại thành ba mươi hai sử. Trải qua tứ đế cõi sắc có hai mươi tám sử, cõi vô sắc cũng giống như vậy. Chẳng hạn như trừ một sân thì hiệp hết lại có tám mươi tám sử, ba kiến còn lại cũng đều có đủ tám mươi tám sử. Nếu trải qua sáu mươi hai kiến, mỗi kiếm có đủ tám mươi tám sử điên đảo lãng mạn, không thể tính số, tà càng ràng buộc ẩn mật thì càng chướng ngại đối với lý thể.

Kinh Ngũ Thập Hiệu Kế chép: Nếu mắt thấy sắc tốt thì trong đó có ấm có tập, thấy sắc xấu trong đó có ấm có tập, cho đến ý duyên pháp cũng như thế. một căn có ba, trong ba căn có sáu, sáu căn có đủ ba mươi sáu phiền não, ba đời hiệp lại có một trăm lẻ tám, trải qua sáu mươi hai kiến tám mươi tám sử phiền não , mỗi thứ đều có một trăm lẻ tám. Phải biết cử tâm động niệm mênh mông bờ mé, tối tăm mù mịt, đều không thấy biết…

Theo sự giảng giải của thế tục, thì cho là có cái thấy này chẳng phải không có cái thấy này vừa có vừa không có cái thấy này, chẳng phải có, chẳng phải không có cái thấy này đây nói với kinh, ngượi với tâm.

Kinh chép: Y chỉ các kiến này có đủ sáu mươi hai kiến, như ông hiểu số thì thiếu ít, Trung luận phá tự tha tánh, tánh có tự tánh, đối với có mà nói vô thì vô là tha tánh, hoặc có hoặc không đều là tánh, vì sao có cái thấy này. Lại nữa, vô này đã chẳng phải là cái vô chứng lý, đâu được vô kiến, các ngoại đạo kiếp gốc, kiến gốc kiếp ngọn, kiến ngọn, vì đều chấp là sự thật, còn lại là nói dối, thêm kiến lớn phi, ngô ngã độc thanh, nắm đầu nhổ tóc, cấu tạo sinh tử, như Phạm chí Trường Trảo tuy không thọ tất cả pháp mà thọ nơi không thọ. Không biết khổ tập, Đức Phật liền quở trách, bị đọa vào hai phụ xứ, ngoại đạo cao chấp còn chưa trách khỏi kiến, vì sao thấp kém lầm cho là phải. Nay phân rõ điều này đều thuộc về đơn tứ kiến. phức tứ kiến: Nghĩa là có hữu, vó vô, vô hữu, vô vô, cũng có có vô, cũng không có vô, chẳng phải có hữu vô, chẳng phải không hữu vô. Đây là phức tứ kiến, trong mỗi kiến có đủ tám mươi tám sử, nếu sáu mươi hai kiến mõi kiến lại có đủ tám mươi tám sử, một trăm lẻ tám sử… như trên nói. Đầy đủ tứ kiến. hữu kiến có bốn đó là có hữu, có vô, hữu vừa, có vừa không hữu chẳng phải có chẳng phải vô. Vô có bốn là vô hữu, vôvô, vô vừa có vừa không, vô chẳng phải có chẳng phải vô. Vừa hữu vừa vô có bốn, đó là: Vừa hữu vừa vô hữu, vừa hữu vừa vô vô, vừa hữu vừa vô vừa hữu vừa vô, vừa hữu vừa vô chẳng phải hữu chẳng phải vô. Chẳng phải hữu chẳng phải vô có bốn là: Chẳng phải hữu, chẳng phải vô hữu, chẳng phải hữu chẳng phải vô vô, chẳng phải hữu chẳng phải vô vừa hữu vừa vô, chẳng phải hữu chẳng phải vô chẳng phải hữu chẳng phải vô, đó gọi là đầy đủ bốn kiến. mỗi câu có đủ tám mươi tám sử, sáu mươi hai kiến như vậy, mỗi kiến có đủ tám mưoi tám sử, một trăm lẻ tám sử… như trước nói. Bặt dứt ngôn kiến, ngoài đơn bốn kiến, tuyệt đứt ngôn kiến, ngoài phức bốn câu tuyệt dứt ngôn kiến, ngoài đầy đủ bốn câu tuyệt dứt ngôn kiến, mỗi kiến đều khởi tám mươi tám sử, sáu mươi hai kiến, một trăm lẻ tám sử… như trước nói. Các thứ như vậy y cứ vào pháp ngoại đạo sinh các kiến như vậy. Lại y cứ vào Phật pháp sinh kiến: Bốn môn của tam tạng snh bốn kiến, bốn môn của Thông giáo sinh bốn kiến, bốn môn của Biệt giáo sinh bốn kiến, bốn môn của Viên giáo sinh bốn kiến. Lại nữa, ngoài một thứ bốn môn, mỗi thứ đều có tuyệt ngôn kiến, như vậy trong mỗi kiến đều sinh khởi tám mươi tám sử, sáu mươi hai kiến, một trăm lẻ tám sử… như trước nói. Lại nữa, kiến hoặc chẳng những tùy sự hiểu biết mà có tên, mà còn đương thể được tên gọi là giả, giả là luống dối điên đảo gọi là giả. Chẳng hạn trước cũng nên nói đơn tứ giả, phức tứ giả đầy đủ bốn giả, mỗi thứ đều có tuyệt ngôn giả. Theo Phật nên nói đơn tứ giả, phức tứ giả, đầy đủ bốn giả, mỗi thứ đều có tuyệt ngôn giả. Theo Phật pháp lại có mười sáu giả, mỗi mỗi giả như trước nói. Lại trong mỗi giả lại có ba giả, đó là nhân thành giả, tương tục giả và tương đãi giả, pháp trần đối ý căn sinh, một niệm tâm khởi tức nhân thành giả; niệm trước niệm sau thứ lớp không dứt tức tương tục giả; đối đãi với vô tâm biết có tâm này, tức tương đãi giả. Trên nhân thành y cứ vào ngoại trần nội căn, tương tục chỉ y cứ vào nội căn, tương đãi dọc đối đãi diệt vô của vô. Lại ngang đối đãi với vô tâm của ba vô vi.

Khai thiện nói rằng: Nhân bao gồm hai giả trên, cho nên nói nhân bao gồm, giả trên chưa trừ, giả sau lại khởi cho nên nói là lỗi, đây là y cứ vào tâm mà nóiba giả. Lại y cứ vào sắc nói ba giả, hành nghiệp đời trước gá vào cha mẹ sinh mà có thân này, tức nhân thành giả. Từ lúc gá thai nói nhau cho đến lúc đầu tóc bạc phơ, tức tương tục giả. Dùng thân đối đãi với bất thân tức tương đãi giả. Lại y cứ vào y báo cũng đầy đủ ba giả, như bốn (trụ) cây nhỏ thành cột lớn, thời tiết nối nhau thay đổi không ngừng, trụ này đối đãi với bất trụ, dài ngắn lớn nhỏ… đây là trong tam tạng giáo kinh tùy sự ba giả, gượng giải thích như luận sư. Nhưng tên gọi này thông dụng, không riêng tại Tiểu thừa, Đại thừa cũng gọi ba giả, nương vào vô minh mà khởi, như huyễn như hóa, hỉ có tên gọi, không thật có bốn vi năng thành trong gương không thật có huông chi cột huyễn sở thành cột còn không thật có, huống chi trải qua thời tiết nối nhau, dùng huyễn hóa dài ngắn đối đãi nhau, đâu có thể được. Nêu dễ huống gì là khó mà nói mười ví dụ, ngay nơi sắc là không, chẳng phải sắc diệt không, chính là nghĩa này. Đó gọi là thừa tùy theo lý tam giả. Lại Thích luận nói ba thứ hữu: Tương đãi hữu, giả danh hữu và pháp hữu.

Tương đãi hữu: Dài do ngắn mà có, ngắn cũng do dài mà có, đây kia cũng như vậy, vật không khác mà có khác giữa đông và tây, có danh không thật gọi đó là tương đãi hữu.

Giả danh hữu: Như ưa thích bốn việc sắc, hương, vị, xúc, do nhân duyên hòa hiệp, giả gọi là lạc, tuy hữu nhưng khác với cái hữu của nhân duyên, tuy vô nhưng không phải các vô của lông rùa sừng thỏ, chỉ do nhân duyên hòa hiệp mà có, giả danh gọi là lạc. Lại như sắc, hương, vị, xúc nhỏ nhen bằng vi trần cho nên có phần mao, phần mao (lông) cho nên có lông nhỏ có lông nhỏ cho nên có bện lông, bện lông cho nên có áo, đó gọi là giả danh hữu.

Pháp hữu: Nghĩa tứ vi sắc, hương, vị, xúc hòa hợp, cho nên gọi pháp hữu.

Luận lại chép: Ba giả thi thiết và ba giả như thế nào?

Đáp: pháp giả thi thiết như nhân thành, thọ giả thi thiết như nối nhau, giả danh thi thiết như tương đãi.

Luận chép: pháp của năm chúng là Ba-la-nhiết-đề, năm chúng hòa hợp nên gọi chúng sinh, như do có gốc cành nhánh lá, cho nên có tên cây, gọi là thọ Ba-la-nhiết-đề, dụng ấy gọi là chữ. Chấp hai pháp tướng nói là hai thứ, đó gọi Ba-la nhiết-đề, cho nên biết ba giả nghĩa đồng nhau. Văn trong kinh anh lạc cũng có ba giả.

Đại Phẩm chép: Có duyên thì sinh, không duyên thì tư không sinh, tức nhân thành ý.

Đại Kinh chép: Như pháp đọc tụng tuy niệm niệm diệt, cũng có thể từ một A-hàm đến một A-hàm, cũng như ăn uống tuy niệm niệm diệt cũng có thể ban đầu đói sau no, ý nối nhau.

Kinh Tịnh Danh chép: Vì nói pháp không tương đãi nên một niệm không trụ, phải biết tên của ba giả lớn nhỏ thông dụng, chẳng những tên là Tiểu thừa, mà pháp sinh tử còn cho kiến là giả, như trước nói, Đại thừa cũng gọi sinh tử là kiến, là giả, đó là bốn môn của tam tạng sinh ra bốn kiến, mỗi kiến có ba giả, sáu mươi hai kiến, một trăm lẻ tám phiền não… bốn môn của Thông giáo sinh bốn kiến, mỗi kiến có ba giả, sáu mươi hai kiến, một trăm lẻ tám phiền não… bốn môn của Biệt giáo sinh bốn kiến, mỗi kiến có ba già sáu mươi hai kiến, một trăm lẻ tám phiền não… giáo môn của Như Lai chỉ dạy người pháp không tranh cãi, tiêu thì thành cam lồ, không tiêu thì thành thuốc đọc, vì thật ngữ là hư ngữ nên sinh ngữ kiến, cho nên đối với bốn môn, mười sáu môn khởi kiến, khởi giả…

2. Nói về phá giả quán, chia làm ba:

  1. Phá giả quán.
  2. Nói về đắc thất.
  3. Nói về giai vị.

– Quán lại chia làm bốn:

  1. Phá đơn.
  2. Phá đức.
  3. Phá cụ.
  4. Phá vô môn.

Phá đơn chia làm hai: Đầu lược sau rộng.

Lược: Nếu một niệm tâm khởi đối với đơn bốn kiến thì phải là một kiến, kiến tức ba giả luống dối không thật, tám mươi tám mênh mông như trước nói, các điều ác hiển bày như ở sau sẽ nói, phải đương thể không chỗ nương, hư không còn không, hư không không chỗ nương, hư không còn không có hư không thì làm gì lại còn có như thiêu đót, như gió tung bay cùng khắp. Lại như ngủ nằm mộng có trăm ngàn nỗi lo buồn vui vẻ, gốc ngọn cả hai đều vắng lặng rốt ráo thanh tịnh, đó gọi là chỉ. Lại, quán vô minh tức pháp tánh không hai không khác, pháp tánh xưa nay thanh tịnh, không khởi không diệt, tâm vô minh hoặc cũng lại thanh tịnh, cái gì khởi cái gì diệt. Nếu cho rằng tâm này có khởi diệt thì ngang cho rằng pháp tánh có khởi diệt. Pháp tánh không khởi thì ai sinh lo buồn, pháp tánh không diệt thì ai sinh vui mừng, nếu không lo buồn, vui mừng thì sao lại phân biệt đây là pháp tánh, đây là vô minh, năng quán sở quán đó gọi là từ giả nhập vào không quán, tín hạnh lợi căn một phen nghe liền ngộ, pháp hành tự mình suy nghĩ không ngộ mà còn tăng thêm các lỗi lầm, cho nên Trung Luận chép: Trong đời tương lai người lợi căn chuyển thành độn căn, gây ra các việc ác, không biết do nhân duyên gì cho nên nói rốt ráo không, vì vậy nên rộng thực hành pháp quán nói trong trung luận, nay cũng như vậy, vì hàng độn căn cho nên rộng phá. Đơn phức xong rồi, đến vô ngôn thuyết kiến, thông dụng bốn câu phá của ngài Long Thọ khiến cho sạch hết nếu một niệm râm khởi thì có đủ ba giả, ba giả như trước nói, phải quán một niệm này vì từ tâm tự sinh tâm, vì đối trần mà sinh tâm, vi căn trần cùng sinh tâm, vì căn trần lìa sinh tâm. Nếu tâm tự sinh thì niệm trước là căn, niệm sau là thức, vậy từ căn sinh tâm, hay sinh từ thức sinh tâm. Nếu căn năng sinh thức thì vì có thức cho nên sinh thức hay căn là vô thức cho nên sinh thức? Nếu căn có thức thì căn thức đều có. Lại nữa, không có năng sinh, sở sinh, nếu căn vô thức mà lại năng sinh thức thì các vật vô thức không thể sinh thức. Căn đã vô thức mà lại có thức tánh cho nên năng sinh thức, thức tánh này là có hay không có, có thì đã là thức, đều ở nơi căn, thì vì sao gọi là tánh. Căn không có thức tánh không thể sinh thức, lại nữa thức tánh cùng với thức là một hay là khác? Nếu là một, thì tánh tức là thức, vô năng vô sở, nếu là khác thì lại là tha sinh, chẳng phải tự tâm sinh, tìm cầu rốt ráo như vậy biết tâm không từ tự sinh. Nếu nói tâm không tự sinh, trần đến phát tâm cho nên có tâm sinh.

Dẫn kinh chép: Có duyên thì tư sinh, vô duyên thì tư không sinh. Nếu vậy thì trần ở ngoài ý, đến phát trong thức thì tâm do tha sinh, nay suy tìm trần này là tâm này cho nên sinh tâm, vì chẳng phải tâm cho nên sinh tâm, nếu trần là tâm thì không gọi là trần, cũng chẳng ngoài ý thì đồng với tự sinh. Lại nữa, hai tâm đồng thì không có năng sở, nếu trần chẳng có tâm thì đâu có thể sinh tâm, như ở trước phá. Nếu trong trần có tánh sinh cho nên tâm, vậy tánh này là có hay không? Nếu tánh là có thì tánh và trần đều cũng không có năng sở, nếu không thì có thể sinh, tìm cầu như vậy biết tâm rốt ráo không từ trần sinh. Nếu căn trần hiệp cho nên có tâm sinh, căn trần mỗi thứ đều có tâm cho nên hiệp sinh tâm mỗi thứ đều vô tâm cho nên hiệp sinh tâm, nếu mỗi thứ có hiệp thì cả hai tâm sinh, rơi vào tánh tự tha, nếu mỗi thứ không hiệp thì cũng không, thí như mặt gương đều có hình bóng cho nên hiệp sinh tượng mỗi thứ đều không có hình bóng cho nên hiệp sinh tượng, nếu đều có tượng thì lẽ ra có hai tượng, nếu đều không tượng thì hiệp không thể sinh. Nêu gương và mặt hiệp làm một mà sinh tượng, nay thật không hiệp mà hiệp thì không tượng, nếu gương và mặt lìa nên sinh tượng, thì mỗi thứ ở một phương lẽ ra có hình tượng, nay thật không phải như vậy, căn trần ly hợp cũng được như vậy, suy tìm như vậy biết tâm rốt ráo không từ hiệp sinh. Lại nữa, căn trần mỗi thứ đều có tâm tánh, hợp thì tâm sinh, nêu xét tánh này là có hay là không, như trước phá… nếu căn trần đều lìa mà có tâm sinh thì đây là vô nhân duyên sinh, là có lìa này hay không có lìa này? Nếu có lìa này thì lại từ duyên sinh sao cho là lìa, nếu không phải đây lìa thì không do đâu mà sinh, nếu nói đây lìa có tánh thì tánh là có hay là không, nếu tánh là có thì lại từ duyên sinh, không gọi là lìa, nếu tánh là không thì không do đâu sinh, quy tìm như vậy biết tâm rốt ráo không từ lìa sinh, trung luận chep: Các pháp không tự sinh, cũng không từ tha sinh, không cộng không vô nhân, cho nên nói vô sinh, tức là ý này. Nếu suy tìm nhân thành quả bốn câu cầu sinh không thật có, chấp tánh tức mỏng manh, chỉ có tên gọi là tâm tánh, đảnh không ở trong, không ở ngoài, không ở chặng giữa, cũng không thường tự có, là chữ bất trụ không trụ có bốn câu, cũng không phải bất trụ, không trụ không có bốn câu, cho nên tâm vô trụ, tuy có tên gọi tâm tên gọi tức không. Nếu bốn câu suy tìm tánh không thấy tánh, là thế đế phá tánh cũng gọi tánh không. Nếu bốn câu suy tìm danh không thấy danh là chân đế phá giả, cũng gọi tướng không, tánh tướng đều không gọi là tổng tướng từ giả nhập không quán.

Cho nên, trung luận chép: Các pháp không tự sinh, nếu dụng quán như thế thì giống với y của Trung luận. Nếu căn xem xét không thấy tâm tức là nội không, trần xem xét không tâm tức là ngoại không, căn trần hiệp lại xem xét không được tức nội ngoại không. Lìa xem xét không được tức là không không, bốn tánh xem xét không được tức là tánh không, bốn câu xem xét không được tức là tướng không. Nếu y cứ vào trần kiểm xét không có mười phương phần tức là đại không, cầu tưới thượng thừa sở dĩ không được tức là Đệ nhất nghĩa không, bốn câu nhân duyên không được tức hữu vi không, nhân hữu vi nói vô vi, đã không được hữu vi, cũng không được vô vi, tức vô vi không. Bốn câu tìm tâm sinh vốn không được, tức vô thỉ không, bốn câu tâm diệt không thật có tức tán không, bốn câu tìm tâm sinh diệt không thật có, cũng không được tâm, bất sinh bất diệt tức rốt ráo không. Ba cõi không có pháp riêng, chỉ do một tâm tạo tác, nay tìm tâm không thật có, tức tất cả không. Quán tâm vô tâm, quán không vô không tức vô sở đắc không, quán hữu kiến ba giả không thật có, tức hữu pháp không, quán không thấy ba giả, chẳng thật có, tức vô pháp không. Quán vừa hữu vừa vô thấy ba giả không thật có, tức vô pháp hữu pháp không, quán như thế tức đồng với ý của đại phẩm, đó gọi là mười tám thứ từ giả nhập không quán. nếu người không ngộ thì chuyển nhập nói nhau phá giả, vì sao? Vì tuy nhân thành tứ phá không được tâm sinh, nay hiện thấy tâm, niệm niệm sinh diệt nối nhau không dứt, vì sao lại cho là bất sinh. Niệm niệm này là niệm trước diệt, niệm sau anh, hay là niệm trước không diệt niệm sau sinh? Hay niệm trước vừa diệt vừa không diệt niệm sau sinh? Hay niệm trước chẳng diệt chẳng không diệt sau sinh? Nếu niệm trước không diệt niệm sau sinh thì đây là niệm tự sinh niệm, hai tướng sinh đều cũng không có năng sở, nếu niệm trước có tánh sinh, sinh ra niệm sau, tánh này là có hay là không? Nếu có thì chẳng phải tánh, nếu không thì không sinh như trước. Nếu niệm trước diệt, niệm sau sinh, là trước không diệt sinh gọi là tự tánh, nay do diệt sinh không diệt hy vọng diệt, há chẳng phải tha tánh, trong tha tánh diệt có sinh cho nên sinh, vô sinh cho nên sinh, có sinh là sinh sinh diệt chống trái lẫn nhau, đó gọi là sinh sinh vì sao cho là diệt sinh! Nếu diệt vô sinh thì vô làm sao năng sinh, nếu diệt có tánh sinh thì tánh phá như trước. Nếu niệm trước vừa diệt không diệt mà niệm sau sinh, nếu diệt rồi thì thuộc về diệt, nếu bất diệt thì thuộc về bất diệt, nếu không diệt hiệp với diệt năng sinh, tức là công sinh cộng sinh tự trái ngược nhau. Tự trái ngược nhau thì làm sao có thể sinh? Lại nếu mỗi mỗi có sinh thì có hai lỗi, mỗi mỗi vô sinh hiệp lại cũng bất sinh. Nếu trong diệt bất diệt có tánh sinh thì là có hay là không? Nếu tánh nhất định là có thì tại sao gọi là Diệt bất diệt? Nếu tánh nhất định là không (vô) thì tại sao lại gọi là diệt bất diệt, đây không tránh khởi lỗi đoạn thường, lại rơi vào cộng lỗi. Nếu niệm trước chẳng phải không diệt, thì không đây chẳng phải diệt chẳng phải bắt diệt, nếu có thì chẳng phải vô nhân, nếu vô vô nhân thì không thể sinh. Nếu vô nhân thì có tánh sinh thì tánh đây tức là nhân, tại sao gọi là Vô nhân? Nếu Vô thì vô bất năng sinh. Như thế thì tứ cú thôi tương tục giả cầu tâm không được, không có bốn tánh thậ chấp tâm tức là mỏng manh, nhưng có tên gọi tâm là chữ không trụ trong ngoài, chặng giữa, cũng không thường tự có, nối nhau vô tánh tức thế đế phá tánh, gọi là tánh không, nối nhau vô danh, tức chân đế phá giả, gọi là tướng không, tánh tướng đều không cho đến tạo tác mười tám như trước nói, đó gọi là từ giả nhập không quán. Nếu không đắc nhập thì còn chấp có tâm, đối đãi với vô tâm, hoặc tương đãi khởi, đây khác với trên. Nhân thành chọn lấy hai pháp căn trần hòa hiệp làm nhân thành nối nhau dọc chọn lấy ý căn, trước sau là nối nhau, dọc vọng sinh diệt, đây là biệt diệt, biệt diệt thì hẹp. Nay tương đãi giả, đối với thông diệt, nghĩa này thì rộng. Thông biệt như ba vô vi tuy không cùng là diệt mà được gọi là vô sinh, đối đãi hư không vô sinh mà nói tâm sinh, tức là tương đãi giả. Trên đã không liễu ngộ lại vì hoặc trên cùng khởi hoặc này cho nên nói nhân bao gồm, hoặc trên vẫn còn lại khởi hoặc này, cho nên nói lỗi. Lại nữa, nhân bao gồm là vô sinh pháp trần đối đãi với ý căn sinh, cũng là nhân thành, nhân giả ở trên nối nhau đới đãi, tức là nối nhau cho nên nói nhân bao gồm, lỗi ấy: Hai giả trên không đối với thông diệt khởi hoặc ở đây y cứ vào thông khởi, há chẳng phải lội ư? Giải thích đã khác với xưa mà mượn lời nói kia để chỉ bày tướng tương đãi giả, nay xem xét tâm này là đối đãi với tâm vô sinh mà sinh hay đối đãi với tâm hữu sinh mà sinh, hay đối đãi với tâm vừa sinh vừa vô snah mà sinh, hay đối đãi với tâm chẳng sinh chẳng vô sinh mà sinh? Nếu đối đãi với tâm vô sinh mà sinh thì hữu này vô sinh, vô này vô sinh, nếu hữu sinh có thể đối đãi thì lại là đối đãi mà có sao nói đối đãi vô! Hữu hữu đối đãi nhau tức là tự sinh. Nếu không có vô sinh này thì không chỗ nào đối đãi, nếu chỉ đối đãi với vô vô này mà sinh tâm thì tất cả vô vô cũng nên sinh tâm, vô hy vọng đối với hữu vô tức là tha sinh. Lại vô sinh tuy vô nhưng có tánh sinh, vì đối đãi với tánh này cho nên biết có tâm, tánh đây là đã sinh hay chưa sinh! Nếu đã sinh thì sinh tức là đối với tánh, vì sao gọi là tánh? Nếu tánh chưa sinh, chưa sinh thì làm sao năng sinh, nếu đối đãi sinh mà tâm sinh, thì sinh ấy lại đối đãi sinh trưởng nên đối đãi sinh trưởng, đã không có nghĩa này đâu được tâm sinh. Nếu đối đãi sinh vô sinh cho nên có tâm sinh, như đối đãi dài ngắn mà có dài, đây là rơi vào hai lỗi, nếu đều có thì đồng hai thứ sinh, đều không thì hoàn toàn không thể được như trước. Nếu đối đãi chẳng sinh, chẳng phải vô sinh mà có tâm sinh, luận chép: Từ nhân duyên còn không thể, huống gì không nhân duyên. Lại vô nhân này là có hay là không? Nếu có tức là đối đãi có, nếu không tức là đối đãi không, vì sao gọi là vô nhân? Nếu nói có tánh thì tánh này là có hay là không! Nếu tánh là hữu thì sinh hay chẳng phải sinh, nếu sinh đã là sinh thì vì sao là tánh? Nếu vô sinh thì làm sao năng sinh, bốn câu như vậy suy tìm tương đãi giả, tìm tâm sinh không thật có chấp tâm tức mỏng manh, không khởi thật tánh chỉ có tên gọi. Cái sinh của tên gọi sinh thì chẳng phải sinh, chữ ấy không ở bên trong, bên ngoài, hay ở giữa, cũng không thường tự có, chữ này không thật có, tìm tánh không thật có, thế đế phá tánh, đó gọi là tánh không, tìm tên gọi không thật có chân đế phá giả, đó gọi là tướng không. Lại nữa, trong tánh tướng này cầu ấm nhập giới không thật có, tức là pháp không, trong tánh tướng cầu nhân ngã tri kiến không thật có, gọi là chúng sinh không, cho đến tạo tác mười tám như trước nói, đó gọi là từ giả nhập không tuệ nhãn được khai nở, thấy được Đệ nhất nghĩa, chẳng những thấy ba giả hoặc dứt mà tất cả kiến hoặc đều thanh tịnh, chánh trí hiện tiền, có gọi là vô sinh môn thông với chỉ quán, cũng là chỉ quán thành vô sinh môn, nếu không ngộ phải khéo dùng chỉ quán khéo léo phá kiến giả, tín pháp hồi chuyển thành phương tiện đạo, hàng phục hữu kiến, thì vô lượng phiền não thảy đều bị hàng phục, vì hàng phục nên gọi là năm ấm thiện hữu lậu. Do bị hàng phục cho nên hữu kiến không khởi, độ vào vô kiến chấp, như ở sau phá. Xét rằng do phá kiến nên văn tư bất định, nếu hạng thượng căn nghe quán thì đối với sinh biệt sinh vô sinh phá chấp được ngộ, hạng trung căn chấp nhẹ, thành hàng phục kiến, phương tiện thiện hữu lậu năm ấm, hàng hạ căn chấp nặng vẫn có tâm dính mắc, nghe phá sinh không được sinh, cho vô sinh là thật, lại khởi chấp vô sinh lại sẽ phá chung riêng. Phá chung như trong Đại Phẩm chép: Biết vô sinh, còn không thật có huống chi biết sinh, lại biết sinh còn không thật có, huống chi biết vô sinh, sinh và vô sinh đều không thật có. Trong kinh Lăng-già lại rộng phá kiến chấp vô sinh nhưng lý vô sinh thì thức chẳng biết được.

Thế nào là tình xả hữu duyên, vô duyên? Như loài trùng bộ khuất lại giống như khỉ vượn, không nên luống dối chấp trước kiến chấp này đó gọi là phá chung. Phá riêng: Hành nhân dùng chỉ quán phá nhân thành ba giả không thấy có tánh tướng, rõ ràng nhập định, không thấy trong ngoài, cũng không có trước sau, không hình tướng đối đãi, vắng lặng định trụ, hoặc hoát nhiên quên thân tâm, tất cả đều thanh tịnh, liền phát vô tâm này, tự cho là được vô sinh chỉ quán, định tuệ đã thành mà khởi kiến chấp, chấp không tưởng này, các Phật không hóa độ, vì sao không hóa độ? Vì quán tâm truy tìm giới hạn, phát một phần tế định, sinh một phần không giải, đây là pháp không kiến, trần tương ưng với tâm đâu có liên hệ với vô sinh. Thích luận phân biệt ngoại đạo và Phật pháp cả hai đều quán không, vì sao có khác? Ngoại đạo chấp trước quán không trí tuệ, tức là cho rằng không trần phát sinh vừa rồi là Niết-bàn, tức có năng quán, năng quán ấy liền thành thân kiến, vì thân kiến cho nên liền có lợi căn, độn căn mười sử cho đến tám mươi tám sử… sinh tử mệnh mông như trước nói, tội lỗi như vậy đều do không trần sinh khởi, ngăn chướng chân thật, mất đạo, đâu hơn với Niết-bàn, đó gọi là không quán của ngoại đạo. Đệ tử phât quán vô sinh, hoặc phát không tâm, khi không tâm sinh liền biết đó là ái, vì sao? Vì sinh gọi là ái pháp, ái pháp tức là vô minh, vô minh sinh tám mươi tám sử ngã kiến, mỗi hoặc đều đầy đủ ba giả, cuối cùng không chấp cho là chân thật vô sinh. Thế nào ba giả? Bởi do từ trước đến nay thấy có ba giả bị hàng phục độ nhập vô kiến, vô sinh pháp trần đối đãi với ý căn, một niệm không tâm sinh tức nhân thành giả, do tâm sinh diệt rồi cho nên tâm vô sinh sinh ra, gọi là tương tục giả. Hoát nhiên vô sinh đối đãi với hữu sinh, gọi là tương đãi giả. Phải tìm xét tâm vô sinh này sinh là ý căn sinh, là pháp trần sinh, là hợp là ly nếu ý căn sinh thì là căn sinh, hay là thức sinh. Nếu căn sinh thì trong căn có thức cho nên sinh thức, vì vô thức cho nên sinh thức. Nếu căn có thức, thì là căn hay chẳng phải căn, nếu thức là căn thì không có năng sở, nếu căn vô thức thì làm sao sinh được thức. Nếu căn có tánh sinh thức thi tánh ấy là có hay là không? Nếu tánh có thì thức tánh và thức là một hay là khác? Nếu là một thì tánh tức là thức, nếu là khác, khác làm sao có thể sinh thức, tự sinh bên trong tra xét tâm không thật có, đầy đủ như trên nói. Nếu do trần khởi tâm vô sinh thì trần ấy có tâm hay không có tâm, nếu có tâm thì không có năng sở, nếu không tâm thì không phải không thể sinh. Lại trần là một hay khác. Nếu một thì không có năng sở, nếu khác thì bất năng sinh, xem xét tha tâm không thật có, đầy đủ như trên nói. Nếu căn trần hợp thì có tâm vô sinh ra, dây có hai lỗi, như trước nói…

Lại nữa, lài căn là trần có tâm vô sinh sinh ra, từ duyên sinh còn không thể được huống chi là vô nhân duyên như trước nó. Nên biết tâm vô sinh không tự không tha, không hợp không ly, không có bốn tánh, không có bốn tánh nên gọi tánh không, tánh không tức vô tâm mà nói tâm, chỉ có tên gọi không ở trong, không ở ngoài, đó gọi là tướng không, cho đến mười tám không như trên nói, đó gọi là từ giả nhập không, kiến Đệ nhất nghĩa, chẳng những vô kiến giả phá hoặc trên chướng dưới, tất cả đều trừ, được chánh trí tuệ. Nếu chưa bỏ được cần phải dùng chỉ quán khéo léo tu tập, tin pháp hồi chuyển thành phương tiện đạo, hàng phục khổ tập, tất cả ấm giới nhập… tám mươi tám sử đều bị hàng phục, do bị hàng phục nên gọi là thiện hữu lậu. Do siêng tu tập nên vô kiến trong giả không còn sinh khởi trở lại nữa, độ nhập vào hữu vô giả, như ở sau phá… kế đến phá vừa hữu vừa vô kiến ba giả. Hành nhân khéo dùng chỉ quán hàng phục hoặc vô kiến, vô giả không khởi, hoặc tiến thêm một phần định tuệ, hoát nhiên phát khởi vừa hữu vừa vô tương ưng với tâm, bèn cho rằng nếu vô tâm thì ai biết vô sinh, vô sinh là vô, biết tức là có. Khi phát tâm này thì thọ kiến chấp vừa có vừa vô, nghĩa là sự thật này chấp chặt không thể bỏ, không biết tội lỗi, như Trường Trảo tự cho mình có đạo, thật là khổ tập, vì không thể biết, nhờ Phật khai ngộ, người phát kiến cũng giống như vậy, mê kiến độc này không hiểu biết chân chánh. Nếu nghe chỉ bày chấp tâm chấp liễu thì làm sai chỉ bày? Năm thọ trong đại phẩm đều không thọ, tại sao ông thọ pháp trần vừa hữu vừa vô này? Há chẳng phải thọ ấm ư? Duyên hình tượng dáng mạo này hành pháp này hiểu rõ phân biệt pháp này thì bốn ấm rõ ràng, thọ tưởng này đều gọi là ô uế, kiến ấy nương vào sắc ấm. Lại ý căn thọ là pháp trần vừa có vừa không, tức là giới, căn trần liên quan nhau tức là nhập, đó gọi là khổ. Lại nữa, ngã năng hành, năng thọ, năng biết pháp này là giả danh, tức khởi ngã kiến, ngã kiến đã sinh liền có biên kiến, nếu bác bỏ nhân quả là tà kiến, chấp đây cho là đạo thì gọi là giới thủ, chấp là Niết-bàn thì gọi kiến thủ, trái với sân, thuận với hỷ cho là ta hiểu biết, khinh mạn người khác, không biết khổ tập tức si, về sau sẽ nghi lớn, mười sử này… trải qua ba cõi có tám mươi tám sử, trái với đạo chân thật, thuận với sinh tử, thảy đều sinh ra từ trong tâm chấp vừa có vừa không lại kiến tâm này tức đầy đủ ba giả, lệ theo như trước có thể biết. Nay phá chấp ba giả này trở lại dùng bốn câu, mỗi câu lệ theo trước có thể hiểu, như vậy phá rồi, ba giả bốn câu ấm nhập đều vô thật tánh, tức là tánh không, chỉ có tên gọi, tên gọi tức không, đó gọi là tướng không. Tánh tướng đã không, cho đến mười tám không như trên nói, tức là nhập vào Đệ nhất nghĩa chánh trí hiện tiền, nếu không nhập thì khéo dùng tất-đàn, tín pháp hồi chuyển, khéo tu chỉ quán, hàng phục các kiến chấp khiến thành phương tiện thiện pháp hữu lậu. Kiến chấp vừa hữu vừa vô tuy bị hàng phục không khởi vẫn độ nhập vào chẳng phải có chẳng phải không kiến như ở sau phá.

Kế là phé chẳng phải hữu chẳng phải vô kiến, trên siêng năng dùng phương tiện hàng phục hữu vô kiến, hoát nhiên lại phát tâm là hữu vô, vì sao? Vì nếu tâm quyết định là hữu thì không thể khiến vô, nếu tâm quyết định là vô thì không thể khiến cho hữu, tại sao cho rằng vừa hữu vừa vô, nếu không nhất định hữu thì chẳng phải hữu, nếu không nhất định vô thì chẳng phải vô, chẳng hữu chẳng sinh, chẳng vô là chẳng diệt, vượt ngoài hữu vô gọi là Trung đạ, đồng với Trung luận. Vì sao? Vì hữu ở trước là pháp nhân duyên sinh, vô kiến tức là không, vừa hữu vừa vô tức là gải, ở đây là tức trung, chấp chặc tâm này, chấp cho là thật, người ấy sinh khởi vô lượng tội lỗi.vì sao? Vì nếu ông cho tâm này là thật thì dùng ngôn ngữ luống dối hư vọng làm thật ngữ, sinh ra ngữ kiến, cho nên chẳng phải chân thật. Nếu chân thật thì tâm này lẽ ra là thường lạc ngã tịnh, tâm này sinh diệt nên chẳng phải thường, thọ tâm này nên chẳng phải lạc, không tự tại nên chẳng phải ngã, ô uế nên chẳng phải tịnh. Tâm chấp ngã sinh nên có thân kiến, kiến hữu vô chưa tránh khỏi chẳng phải hũu chẳng phải vô, như loài trùng khuất bộ gọi là biên kiến, cho phi hữu phi vô kiến là trung đạo, chung cho các sinh tử, là ngu si luận, phi đạo phi tự cho là đạo tự, đó gọi là giới thủ; cho tâm phi hữu phi vô là Niết-bàn, có các sử ấm giới nhập, lợi độn… đó là kiến thủ, cho phi hữu phi vô là chánh pháp, phá tất cả nhân quả thế gian nên gọi là phi hữu, phá tất cả nhân quả xuất thế gian nên gọi là phi vô, phá chánh kiến oai nghi còn không phải đạo lý thế gian, làm sao xứng với đạo lý xuất thế? Thà khởi ngã kiến như núi Tu-di chứ không chấp không sai lầm, cho bất chánh là chánh, đó gọi là tà kiến. nếu thuận khen thì thích, trái chê thì nổi sân, không biết tâm ấy là cỏ độc hay thuốc tốt thì là si, tự nhục mạ người khác thì mạn, về sau sẽ rất nghi ngờ, tóm lược lỗi có mười, rộng thì không thể kể hết. Các lỗi như vậy đều từ trong tâm chấp phi hữu phi vô mà có ra, lại mỗi lỗi đều đủ ba giả như trước… nếu phá kiến giả kiến giả này lại dùng bốn câu chỉ quán trước thì tùy theo mà phá như trước…

Lại nữa, chỉ ra các kiến năm ấm là nêu bày sự khổ kia, chỉ ra mười sử là nêu bày tập kia, dùng chỉ quán để phá là nêu bày đạo kia, các kiến hoặc hàng phục hoặc không là nêu bày sự diệt kia. Tất cả ngoại đạo tà giải, Phật pháp tránh chấp, vô lượng tội lỗi, đều dùng bốn Đế để phá, đều đổi phàm Thánh Thánh. Đức như lai ban đầu nói về năng lực của tứ đế trong Kinh A-hàm còn có thể như thế, huống chi ba thứ đế của Đại thừa vì sao không phá ư? Nếu phá phi hữu phi vô kiến thì tất cả các hoặc cũng đều dứt hết, phát sinh trí tuệ chân chánh, đó gọi là từ giả nhập không kiến đệ nhất. Nếu không nhập thì nên dùng chỉ quán tín pháp hồi chuyển, khéo léo tứ tùy phương tiện tu tập, hàng phục các kiến hoặc thì tâm chấp liền mỏng, trụ phương tiện đạo, thành pháp thiện hữu lậu. Kiến này không khởi thì độ nhập vào vô ngôn thuyết, như sau sẽ phá… sở dĩ mỗi tiết nói lỗi của kiến chấp ấy là ân cần khuyên nhắc hành nhân khiến cho họ quán tâm, khéo biết bỏ độc, phân biệt thuốc hay, nếu hiểu được ý này thì không bao giờ lầm chấp, chương tiết tuy nhiều mà không lẫn lộn, có thể hiểu rõ lý này có thể cùng luận đạo, cũng như người mù mà màu sữa. Kế đến phá vô ngôn thuyết kiến giả, nếu phá được như trên, hoặc tiến lên phát sinh định tuệ, hoát nhiên vắng lặng, lại khởi sự hiểu biết khác lạ, nghĩa là thích hợp với hữu này thì có sinh tử. Bốn câu đều giả, luống dối không thật. Lý ở ngoài lời nói, bặt dứt bốn câu, đó là vô sinh, nghĩa là vượt ngoài bốn câu mà thật không vượt ra ngoài. Lược có ba thứ ngoài bốn câu:

  1. Đơn.
  2. Phức.
  3. Cụ túc.

Nếu cho rằng lý ở ngoài lời nói chính là vượt ngoài bốn câu đơn, không vượt ra ngoài câu thứ hai phức kiến, cũng không ngoài câu đầu cụ túc kiến, cho nên biết lưới kiến che lấp bí ẩn khó có thể vượt khỏi được.

Kinh Pháp Hoa chép: Loài yêu quái ma quỷ chỗ nào cũng đều có, phức có các kiến chấp mỗi kiến chấp đều có ba giả khổ tập, quán phá giả đều như trên nói. Nếu người đối với các kiến chấp mà tu tập đạo phẩm đều được liễu ngộ mỗi tiết, từ giả nhập không kiến Đệ nhất nghĩa. Nếu chưa được ngộ nhập thì đơn phức đầy đủ, tất cả các kiến đều bị hàng phục thành năm ấm thiện hữu lậu, kiến không được khởi, hoặc tiến lên phát sinh thiền giải. Lại nói vượt ngoài đơn phức, cụ túc bốn câu đường ngôn ngữ bặt, chỗ tâm hành diệt, hoát nhiên thanh tịnh, tức là đạo vô sinh, bặt dứt ngôn ngữ. Kiến chấp như thế là không thể nói dứt bặt ngôn ngữ, đâu có quan hệ đến chánh dạo, luống cho là dứt bặt ngôn ngữ, ngôn ngữ trọn không dứt. Vì sao? Vì đối đãi với bất tuyệt mà nói về tuyệt, tuyệt lại là đối đãi, đối đãi cho nên sinh khởi, không nên nói tuyệt, như tránh hư không, làm sao thoát khỏi lý.

Lại nữa, dọc phá bất tuyệt: Vì tâm bất tuyệt, nên vô ngôn kiến khởi đủ tất cả nhân quả sinh tử, tại sao gọi là tuyệt? Từ trên đến đây mỗi tiết đều có hai thứ phá dọc ngang, đối với một hữu kiến là phá bề ngang, nhiều lớp bốn kiến là phá chiều dọc, vì giới giả là phá bề ngang, tương tục giả là phá bề dọc, tương đãi giả là vừa phá chiều ngang vừa phá chiều dọc, phá chung là phá chẳng ngang chẳng dọc, nói chung chỉ là phá theo chiều ngang, nay sẽ phá theo chiều dọc. Ông chấp tâm là có, có tức là sinh, ông sinh những gì? Vì là ngũ đình chung riêng niệm xứ, noãn đảnh nhẫn thế đệ nhất sinh, hay là vì khổ nhẫn chân thật sáng suốt sinh, hay là vì suy tư lo lắng sinh, hay vì Can tuệ địa tự đạo sinh, hay vì tám hạng người kiến đế sinh, hay vì thần thông du ký thệ nguyện cứu giúp tập khí sinh, hay vì hàng tam hiền phục đạo tự giải sinh, hay hàng thập Thánh chân thật hiểu biết sinh, hay là thiết luân tự đạo sinh, hay đồng luân chân đạo sinh, là biến khắp pháp giới tự tại sinh, dùng các sự sinh này xét lại tâm chấp của ông toàn không có khí phần mà nói, phi kiến chấp là kiến. nếu chấp tâm là vô sinh thì vô tức là bất sinh ông vì sao bất sinh? Là vì kiến bất sinh, hay vì tư bất sinh, hay thói quen bất sinh, hay vì trần sa bất sinh, hay vì vô minh bất sinh, hay vì nghiệp bất sinh, vì báo bất sinh hay lý bất sinh, hay hạnh bất sinh?

Người đời nói: Bất sinh bất sinh tức là Phật, còn đạo là pháp Phật. Nay giải thích lời nói này tức là ba thân Phật, lý bất sinh tức pháp Phật, vô minh bất sinh tức báo Phật, trần sa, kiến, tư hoặc bất sinh tức ứng Phật. lại nữa, vô minh bất sinh tức pháp Phật, kiến tư hoặc bất sinh tức báo thân Phật, trần sa bất sinh tức ứng thân Phật. lại nghiệp hạnh vị bất sinh tức ứng thân Phật, trí nghiệp bất sinh tức báo thân Phật, lý bất sinh tức pháp Phật. Lại ứng thân Phật tự từ nhân duyên sinh, báo thân Phật từ liễu nhân sinh, pháp thân Phật từ chánh nhân sinh. Ba thân Phật sinh tức vô sinh, vô sinh tức ba Phật sinh, nếu nghe tự môn a liền hiểu nghĩa tất cả, vì sao chỉ có một giải thích ư! Xuổng bén cuốc đất tận đến kim cương một phen nghe bất sinh hiểu khắp pháp giới bất sinh đem các điều bất sinh so sánh với tâm chấp của ông thì hoan toàn không một phần nào chẳng phải kiến là vì sao?

Có người hỏi văn Trung Luận rằng: Bất sinh bất diệt không hề đúng với lý sâu xa, vì sao? Vì phiền não là sinh pháp, ba tướng đổi dời, pháp là diệt, nhưng không có pháp diệt này cho nên nói bất sinh bất diệt, chỉ nhập không, không thấy ý trung.

Các sư trung luận giải thích rằng: Bất sinh bất diệt, không phải là không sinh, không phải là không diệt, để hiển bày Trung đạo, giải thích này phù hợp với Trung đạo mà tổn vấn mất nghĩa. Vì sao? Vì ý của Ngài Long Thọ bao gồm dung, bao gồm riêng, cho nên nói bất sinh bất diệt. Bất sinh là không sinh trong hai mươi lăm hữu, không có ba tướng diệt của biến diệt, phá được hai mươi thứ thân kiến, thành Tu-đà-hoàn cho đến vô học, đâu chẳng phải bao gồm ý chung, cũng bao gồm ý tam tạng giáo, hoặc sinh hoặc diệt, đều thuộc về sinh, Niết-bàn đâu không, chỉ thuộc về vắng lặng không sinh này không diệt này, đều ngăn hai bên, đâu pahỉ bao gồm ý biệt, nếu sinh diệt là pháp do nhân duyên sinh, tức không tức giả tức trung, tức không cho nên không sinh, tức giả cho nên không diệt, bất sinh bất diệt tức là trung đạo. Xét văn giải thích bao gồm nhị trong biệt hiển bốn nghĩa rõ ràng, ngài Long Thọ khéo léo dùng một câu bất sinh bất diệt rộng thâu nhiếp các pháp mới hợp với (Đại thừa) Ma-ha-diễn. Nếu mở môi động lưỡi, nặng về vấn đề ăn nói, rút viết làm nhiễm bút lông chỉ thêm một chấm, chỉ còn được một ý, hoàn toàn mất hết ba môn, chỉ liên quan chút ít bên ngoài, tuy muốn giúp đỡ mà lại thành mất sót. Nay giải thích một câu bất sinh, chẳng những bao gồm bốn nghĩa mà còn lược nêu mười ý bất sinh, chẳng bất sinh.

1. Tất cả pháp có thể phá, có thể hoại, tất cả ngôn ngữ có thể chuyển chẳng phải hữu, chẳng phải vô, bặt lời lìa câu. Không một pháp nhập tâm, đó là một bất sinh, bất sinh cũng bất anh cho nên nói là bất bất sinh. Tuy tình gọi là bất sinh nhưng thật là sinh, như phi tưởng cho là vô tưởng mà thành tựu tế tưởng, đây là bất bất sinh thuộc ngoại đạo tà kiến.

2. Các đạo nhân phái độc tử chấp ngã ở trong tạng không thể nói thứ năm, đây là một bất anh, vì bất sinh. Nếu tam tạng Nhị thừa dứt kiến hoặc, tư hoặc trong ba cõi, một bất bất kiến, một bất bất tư nên gọi là bất bất sinh nhưng thói quen vẫn sinh. Nếu tam tạng, Phật chánh tập đều bất thì gọi là bất bất sinh, một bất bất chính, một bất bất tập, cho nên nói bất bất sinh, pháp phân tích này bất bất sinh. Nếu Thông giáo xét thể hội được kiên vốn bất sinh, thể hội được tư vốn bất sinh cho nên nói bất bất sinh.

Kinh Tư Ích chép: Ngã đối với vô sinh vô tác mà được tác chứng. Hàng Nhị thừa tuy thể hội không có kiến hoặc, tư hoặc nhưng thói quen vẫn sinh, Thông giáo Phật ngồi đạo tràng chánh tập đều hết, cũng là bất bất sinh, đây là phần đoạn bất bất sinh. Nếu hàng biệt giáo dứt hoặc chung riêng, một bất bất thông, một bất bất diệt, gọi là bất bất sinh, một phẩm một phần, hai phẩm hai phần này bất bất sinh, phần trên vẫn sinh. Nếu biệt giáo Phật, phần trên hết gọi là bất bất sinh, đây vẫn là phương tiện quyền nói bất bấtsinh. Nếu hàng Viên giáo một bất bất thông, một bất bất diệt, gọi là bất bất sinh, vẫn còn ở nhân địa, còn có phước báo hành trí sinh ở thượng địa. Nếu Diệu giác trí viên mãn, trí kia không còn sinh thì vô minh rốt ráo hết, hoặc nghiệp không còn sinh, hành trí báo… rốt ráo bất bất sinh. Lại chân lý cùng cực cho nên một bất bất sinh, viên lý cùng cực cho nên một bất bất sinh, lại lý bản bản bất sinh, nay cũng bất bất sinh. Nếu tạo tác đơn, bất sinh ngữ nghiệp, páhp cũng hết như trước nói. Nếu tác bất bất sinh ngữ, nhiếp pháp cũng hết. Ông tác bất sinh thì chỗ nào bất sinh, ông tác bất bất sinh lại ngang bằng chỗ nào bất bất sinh, người khác còn không biết bất bất sinh của ngoại đạo, huống chi biết bất bất sinh tối hậu, đâu được không vừa lòng kiến ấy, phải hết lòng phá bỏ. Phá theo chiều dọc kiến chấp vừa hữu vừa vô, kiếp chấp chẳng phải hữu, chẳng phải vô, như trong, như trong thượng Bồ-đề tâm giải thích danh dứt bặt đối đãi, bên trong nêu bày tướng ấy. Nếu cho rằng tâm vừa sinh vừa bất sinh thì những gì là vừa sinh vừa bất sinh? Hay là thấy bất sinh mà thật sinh, hay là tư bất sinh mà chân sinh, hay là tập bất sinh mà chân sinh, hay trần sa bất sinh mà thông dụng sinh, hay vô minh bất sinh trung đạo sinh, hay nghiệp trong bất sinh nghiệp ngoài sinh, là quả báo bên trong bất sinh quả báo bên ngoài sinh, là tiểu hạnh bất sinh đại hạnh sinh, là thiên lý bất sinh viên lý sinh, mà nói vừa sinh vừa bất sinh. Nếu chẳng phải vừa sinh vừa bất sinh như thế… chẳng phải kiến thì là gì? Nếu nói tâm chẳng phải sinh chẳng phải bất sinh, thì cái gì là chẳng phải sinh chẳng phải bất sinh, là phân tích đoạn thường chẳng phải sinh chẳng phải bất sinh, hay là thể đoạn thường là chẳng sinh chẳng phải bất sinh, hay bát địa đạo quán song lưu là chẳng phải sinh chẳng phải bất sinh, hay sơ địa phá sinh tử đắc Niết-bàn là chẳng phải sinh chẳng phải bất sinh, hay là quả thập địa sau cùng chẳng phải sinh chẳng phải bất sinh, hay sơ trụ ngăn cả hai bên là chẳng phải sinh chẳng phải bất sinh, hay thập hạnh tăng tiến trung đạo là chẳng phải sinh chẳng phải bất sinh, hay thập hồi hướng là chẳng phải sinh chẳng phải bất sinh? Hay thập địa là chẳng phải sinh chẳng phải bất sinh, hay diệu giác cực địa chẳng phải sinh chẳng phải bất sinh. Đã chẳng phải những thứ này chẳng phải sinh thì chẳng phải chấp là gì? Nếu dứt bặt lời nói thì bặt lời nói rất nhiều, những gì là bặt lời nói? Ngoài bốn câu đơn cũng gọi là tuyệt ngôn, ngoài câu phức ngoài câu cụ cũng gọi là tuyệt ngôn. Lại, Trường Trảo tất cả pháp không thọ cũng là tuyệt ngôn.

Độc tử nói: Thế đế hữu ngã ngã tồn tại trong tạng không thể nói, không thể nói cũng là tuyệt ngôn. Tam tạng nhập thật chứng chân cũng không thể nói cho nên Thân Tử nói: Ta nghe trong sự giải thoát không có ngôn thuyết, tam tạng giải thoát gồm có bốn môn nhập thật, tức có bốn thứ không thể nói. Người Thông giáo ba thừa đồng dùng vô ngôn nói đạo dứt bỏ phiền não, cũng có bốn môn không thể nói, hàng biệt giáo, quán lý thường trụ vô ngôn vô thuyết cũng có bốn môn không thể nói. Viên giáo không thể tuyên bày.

Ngài Tịnh Danh ngậm miệng, Văn-thù ấn chứng, đây cũng có bốn môn không thể nói, không thể nói nhiều người, không thể nói mà ông chấp đó là gì? Ông còn không sánh bằng không thể nói của Độc Tử, huống chi bốn không thể nói của tam tạng giáo. Vì sao? Vì Độc Tử gọi không thể nói là thế đế, không chấp là Niết-bàn, ông chấp là thật cho nên không sinh bằng với Độc Tử. Độc Tử còn là kiến, ông đâu chẳng phải kiến, vì kiến này cho nên sinh nhiều phiền não mêng mông, như trước nói. Lại phá tuyệt ngôn, ông cho rằng tuyệt ngôn ở ngoài bốn cú nay nói mười thứ bốn câu tuyệt ngôn mà ông nói là gì ngoài bốn câu.

Mười thứ: Tứ cú là: là nhất vãng tứ cú, vô cùng tứ cú, niếp điệp tứ cú, đắc ngộ tứ cú, nhiếp thuộc tứ cú, quyền thật tứ cú, khai hiển tứ cú, thật ý tứ cú, và đắc ý tứ cú. Nhất vãng tứ cú: Phàm Thánh thông suốt đều luận nói bốn câu, ý này có thể biết.

Vô cùng tứ cú: Tứ tứ lãng mạn không tính kể xiết, như trong bốn mươi tám bày tướng kia… kết vị tứ cú: Phạm vi bốn câu quy định đúng sai, như đơn phức, cụ túc… trụ trước không quên, tức bốn câu của phàm phu. Nếu vô cú nghĩa làm cú nghiã, là bốn câu của bậc thành.

Nhiếp điệp tứ cú: Kết bốn câu phàm phu điệp làm bốn câu điệp, Nhị thừa làm vô cú, điệp Bồ-tát làm vừa hữu vừa vô cú, điệp Phật làm phi hữu phi vô cú.

Đắc ngộ tứ cú: Tùy ái nhập xứ, tức thành ngộ nhập môn, bốn câu tức thành bốn môn.

Nhiếp thuộc tứ cú: Tùy các cú môn ngộ nhập pháp nào, dùng pháp phần thuộc các pháp môn.

Quyền thật tứ cú: Các pháp môn bốn câu, ba bốn làm quyền, một bốn làm thật.

Khai hiển bốn câu: Khai tất cả bốn câu đều nhập một thật bốn câu nếu nhập thật bốn câu đều không thể nói, bằng với Phật giáo bốn câu này.

Thật ý tứ cú: Chấp bốn câu Phật mà khởi sự cạnh tranh, lỗi đồng với phàm phu.

Đắc ý tứ ái: Bồ-tát thấy lỗi của thất ý, làm nhỏ mà nói lớn nói về hai lần bốn câu của Phật, phá chấp bỏ mê thì có đắc ý tứ cú, công tạo luận dứt. Nếu không vừa ý gọi là tuyệt ngôn kiến, các bốn môn trước ông nói chỗ nào ngoài bốn câu mà cho rằng lý ở ngoài lời nói. Trước ngang phá bốn câu nay dọc phá bốn câu ngoài lời nói. Đời này phần nhiều có Tỳ-kheo ác ma, lui sụt giới luật trở về nhà, sợ hãi thôi thúc, lại vượt hơn đạo sĩ, lại ưa thích danh lợi, khoe khoang luận đàm lão trang, dùng nghĩa Phật pháp duyên tạc tà vậy, đem cao để xuống thấp, tìm tôn quý đưa vào nơi thấp kém, đều khiến cho bình đẳng, dùng “Đạo mà nói được thì chẳng phải là đạo thường, danh mà gọi tên được thì chẳng phải danh thường” ngang bằng với Phật pháp không thể nói bày, như loài sâu ăn lá ngẫu nhiên thành chữ, tra xét đạo lý chánh tà xa cách, người ngu tin người trí cười, vì sao? Như trước nói các điều sinh, bất sinh các thứ bốn câu, các thứ không thể nói, ông còn chẳng phải ngoài đơn bốn câu không thể nói, huống chi ngoài phức, ngoài cụ túc, huống chi Độc Tử ư? Độc Tử còn chẳng phải, huống chi tam tạng Thông Biệt viên ư? Lý các pháp vốn cách xa thường danh thường đạo, làm sao ngang bằng được. Giáo tướng cách xa đã không được ngang bằng huống chi dùng khổ để tra xét qua thì lỗi lầm hiện rõ, làm sa ngang bằng được, hướng chi đạo phẩm cách xa, làm sao được ngang bằng chánh pháp thiết yếu. Vốn đã không ngang bằng thì dấu vết cũng không sinh bằng, dấu tích Phật đời đời là chánh Thiên Trúc Kim Luân dòng sát-lợi. Trang tử, lão tử là người nước nhỏ Chấn đán binê địa, có gi trong sử sách là tất viên lại nước tống, vậy làm sao sánh bằng, Đức Phật dùng ba mươi hai tướng tám mươi vẻ đẹp, trói buộc, thân kia, thân Trang Lão như phàm phu, hình tướng phàm phu ngồi tòa nhỏ xấu xí.

Kinh chép: Hình dáng của con người cõi Diêm-phù như quỷ, làm sao sánh bằng Phật. khi Phật phá ra ánh sáng nói pháp trái đất rung chuyển, trời người đều nhóm họp chắp tay nghe pháp, Phật tùy căn cơ thích hợp mà giảng nói, phạm âm như dòng nước, trôi chảy rõ ràng không cùng tận, khiến cho hàng căn cơ thấp kém nếu nghe cũng đều đắc đạo. Lão tử làm chủ một cõi mà bậc trên không biết, kẻ dưới không hay, không dám phát ra một lời nói can ngăn sự tranh chấp, không thể giáo hóa được một người, đi ván mỏng hư, đi ra cửa phía tây, trộm nói người ấy vui mà có công chước gì, gì lại nữa quan viên lại nêu đề bình phẩm chọn câu sửa đổi đầy đủ, quay tròn như trục, ra tạo thiên nội ngoại dùng làm khuôn phép hiển đạt, ai cũng đồng nghe, lại ai đắc đạo, làm sao sánh bằng được. Không sánh bằng như vậy, nghĩa ấy vô lượng, cuốn sách không thể nói hết, làm sao dùng tà ma can thiệp vào chánh được. Lại nữa, Đức Như Lai đi, Đế-thích ở bên phải, phạm vương bên trái, kim cương đi trước, bốn bộ chúng theo sau, bay trên hư không mà đi. Lão tử tự cầm cương đi xe trâu trên tám ván mỏng, hướng ra cửa tây làm ruộng, trang tử bị người khác sai đi giữ cây sơn, làm lụng suốt như vậy làm sao sánh bằng Đức Phật được. Như lai định làm chuyển luân Thánh đế, bốn biển đều ngương vọng đợi thần báu đến, bỗng đạt đến địa vị cao quý, xuất gia thành Phật. Lão tử làm quan đi ra phía đông kính cẩn ghi chép tiểu sử, ra phía Tây khai khẩn ruộng nước, tiếc vài mẫu ruộng, công tư bỗng vội vàng không thể bỏ đây, làm sao nói ngang bằng? Người mù không có mắt tin lời ông nói, người có trí tuệ thương xót quái lạ, cho nên biết ông không thể nói, đó gọi là tuyệt ngôn kiến. ba giả đầy đủ, khổ tập thành tựu, sinh tử rõ ràng, ôm đèn tự thiêu đốt thật đáng thương xót, nếu phá kiến này như trước đã nói… lại nữa, hàng ngoại đạo thỉnh thoảng dùng đạo mà nói được thì chẳng phải đạo thường làm Phật tuyệt ngôn, phá bất sinh bất diệt của Trung Luận gọi là câu thứ tư, tuyệt ngôn vượt ngoài lỗi bốn câu, một phen nghe nói cho rằng lời nói sinh ra lỗi, theo lý thì không như vậy. Nói bất sinh là thấy tâm bất sinh, đã bất sinh tức bất diệt, cho nên nói bất sinh bất diệt, tuyệt ngôn kiến tâm sinh tất cả ái kiến nghi mạn, vì sao dùng sinh diệt phá bất sinh bất diệt của người khác, kẻ ngu si hý luận không nên như thí.

Hỏi rằng khởi kiến chấp bất sinh bất diệt, đây lại như thế nào?

Đáp: Nên có sáu câu, tuyệt ngôn phá bất sinh bất diệt, bất sinh bất diệt páh tuyệt ngôn, tuyệt ngôn tu bất sinh bất diệt, bất sinh bất diệt tu nguyệt ngôn, tuyệt ngôn tức bất sinh bất diệt, bất sinh bất diệt tức tuyệt ngôn… tất cả phàm phu chưa bước vào Thánh đạo, do đó khởi chấp thảy đều là kiến, do có kiến cho nên ba giả khổ tập phiền nào có theo, ngư vương bối mẫu các sử đầy đủ, các nghiệp lẫn lộn, sinh tử mênh mông, một người trải qua còn vô biên bờ mé, huống chi nhiều người, phải biết kiến hoặc thật đáng sợ hãi, siêng năng dụng chỉ quán để dẹp bỏ kiến hoặc. Nếu khởi đơn kiến dụng chỉ quán bốn câu bàn thể hội phá, bỏ hoặc tránh đơn nhập phức, tránh phức nhập cụ, tránh cụ nhập tuyệt ngôn, không hướng tới sự sinh khởi, chỉ quán liền theo thường tịch thường tịch thường chiếu, sửa đổi không dừng, như dao kim cương mọi điều nghi đều chặt đức, lấy sự chứng ngộ làm kỳ hạn. Quán như thế tuy không phát chân nhưng các kiến bị hàng phục, thành phương tiện năm ấm, nếu được nhập không, các kiến tiêu hết cho nên sở quả phá hết bốn mươi dặm nước, công phu rất lớn, sợ người nghe sinh nghi nêu lược bỏ ba kết, dư thừa không hết như một giọt nước, tư duy chưa hết kiến đã không còn, theo số nhiều mà nói cũng được phá hết pháp biến.

Hỏi: Từ giả nhập không phá vô lượng kiến, còn hai quán dưới làm sao phá?

Đáp: Nhập không quán phá kiến hoặc và tư hoặc, tóm lại mà nói chỉ là phá hữu. Kế đến quán chỗ phá chỉ là phá vô, Trung quan sở phá đều chẳng phải hai bên chánh hiển Trung đạo. Cho nên Thích Luận chép: Hai kiến chấp hữu vô dứt sạch không còn dư, cúi đầu trước pháp mà Phật tôn trọng, cho nên biết các kiến tung hoàng còn không phải là cái mà pháp quán thứ hai phá, vì sao lầm cho là pháp chân thật ư!

Hỏi: Tóm lược sinh tử gọi là hữu, tóm lược Nhị thừa gọi là vô, hữu kiến ngang dọc vô lượng, vô cũng nên như vậy sao?

Đáp: Phàm phu vọng chấp, gặp việc thì sinh đắm nhiễm cho nên có nhiều, hàng Nhị thừa đã dứt kiến tư hoặc, không còn chấp ngang, chỉ chứng không, đại thừa phá bỏ gọi là không kiến.

(2) Phân biệt đắc thất:

Hỏi: Chỉ quán như thế tùy theo các kiến, có gì đắc thất?

Đáp: Phân biệt bốn câu:

  1. Hoặc cũ chưa dứt hoặc mới lại sinh.
  2. Hoặc cũ dứt hoặc mới lại sinh.
  3. Hoặc cũ không dứt hoặc mới không sinh.
  4. Hoặc cũ dứt hoặc mới không sinh.
  1. Thí như uống thuốc, bệnh không lành mà thuốc trở thành bệnh.
  2. Bệnh đã được trị lành mà thuốc thành bệnh.
  3. Bệnh tuy không lành mà thuốc không chướng ngại.. Bệnh cũ đã lành, thuốc cũng hết theo.
  1. Hai thứ trước là tướng đắc thất của ngoại đạo, hai thứ sau là tướng đắc thất của đệ tử Phật. vì sao? Vì vốn dụng chỉ quán để trị hoặc sinh tử mà tâm tham dục đều không dừng nghỉ. Nhân chỉ quán này lại phát sinh các kiến, phá nhân phá quả, không nơi chốn, không tạo tác, cho nên các hoặc cũ không dứt mà hoặc mới lại sinh khởi.
  2. Khi tu chỉ quán tham cầu y thực, các người độn căn phiền não dứt nên không khởi, chịu đựng khổ lạnh, dao cắt hương bôi mà không sinh thương ghét, tài vật được mất trong tâm bình đẳng, tâm chấp kiến thật đáng sợ hãi, như ngựa khát nước nhờ nước giúp hết khát mà còn đường đột phá hoại, bác không nhân quả, vậy thì hoặc cũ dứt mà hoặc mới sinh, hai thứ này thuộc về ngoại đạo, chỗ ái sinh á, chỗ sân anh sân, nếu người học chỉ quán bị thế thì đồng với ngoại đạo kia.
  3. Đệ tử Phật tu chỉ quán này làm phương tiện đạo: Hiểu sâu nhân duyên kiến ái vô minh, do đó tâm khởi liền biết ba giả, chỉ quán theo đó phá tánh phá tướng. Tuy còn tham sân mà kiến chấp đã hết. Sáu mươi hai kiến chấp bị hàng phục không sinh khởi, đó gọi là hoặc cũ không dứt mà hoặc mới không sinh, đó là người phương tiện trung đạo.
  4. Nếu được như thế thì ba giả bốn quán tùy niệm xét trách, thể đạt thì tánh tướng luống dối đều không, hoát nhiên phát chân liền được thấy lý, chẳng những bệnh cũ hết hẳn mà bệnh mới cũng không phát sinh, đó gọi là nhập kiến đế đạo thành Thánh nhân…

(3) Nói về phá kiến vị: Nếu tu pháp này hiểu rõ về tứ đế, khéo dụng quán tuệ, các kiến bị hàng phục, nương pháp tam tạng gọi là tổng biệt niệm xứ, chánh hàng phục bốn điên đảo, bốn đảo không sinh thì noãn liền phát, thành địa vị phương tiện… tiến lên phá các kiến, phát chân thành Thánh, tức địa vị sơ quả. Nếu nương giai vị hàng phục kiến của Thông giáo là Căn tuệ địa, nếu hiểu được nước lý thấm nhuần tâm thì thành tánh địa, nếu tiến lên phá kiến tức là giai vị của tám vị kiến địa. Nếu y hàng phục kiến của Biệt giáo là Thiết Luân thập tín vị, phá kiến là lục căn thanh tịnh vị, đoạn trừ, hàng phục tên thì đồng nhưng quán trí có khác. Tam tạng quán tư nghì chân thật, thiết phục pháp quán trí dứt trừ, Thông giáo quán tư nghì chân thể, pháp quán trí hàng phục dứt trừ, Biệt giáo tuy biết Trung đạo thứ lớp quán trí hàng phục dứt trừ, Viên giáo trung nhất tâm quán trí hàng phục dứt trừ, không thể nghe tên, vẫn lẫn lộn nghĩa kia.

Hỏi: Nếu hàng phục kiến giả nhập hiền vị, cho nên hoặc cũ tuy chưa hết hoặc mới không nên sinh, đâu được khi tu chỉ quán mà có cảnh các kiến sinh khởi ư?

Đáp: Đây là do nghiệp cũ phát sinh, kiến cũ lại là hoặc cũ, như người uống thuốc thuốc trị bệnh cũ, bệnh cũ đã biến chuyển trong chốc lát tự lành, chẳng phải thuốc là bệnh mới.

Hỏi: Vì sao không nêu rõ thẳng địa vị Biệt Viên nhập không phá giả, mà nói về địa vị tam tạng Thông giáo… nhập không ư?

Đáp: Trên nói tu phát, không tu phát mười cảnh xem lẫn nhau… vì muốn nêu bày cho hành nhân pháp sâu cạn nên trình bày các giai vị. Lại muốn nói về giai bị bán mãn giúp hành giả hiểu biết, lại pháp bán tự nhập không đều là phương tiện trợ đạo trong biệt giáo và Viên giáo. “Có nhiều đầy tớ theo hầu và bảo vệ”, tức là nghĩa ấy. Lẽ nào lìa phương tiện mà có chân thật riêng, tức ngay nơi bán tự này mà là mãn tự, cho nên nói: Hàng Nhị thừa hoặc trí, hoặc đoạn, tức là Bồ-tát vô sinh pháp nhẫn. Thể giả nhập không kết thành nghĩa chỉ quán, các kiến xoay vần dứt một thọ vị không lui sụt, vắng lặng hoàn toàn gọi là chỉ, thấu đạt kiến vô tánh, tánh không tướng không, gọi là quán. Thấy lý chân đế gọi là bất sinh, lý đã bất sinh lý cũng bất diệt, đó là bất sinh bất diệt, gọi là vô sinh nhẫn. Lại nữa, kiến hoặc bất sinh gọi là nhân bất sinh, không thọ sinh trong ba đường ác gọi là quả bất sinh. Nhân quả bất sinh cũng lại không diệt, không sinh không diệt gọi là vô sinh nhẫn, đó là vô sinh môn chung cho chỉ quán, cũng là chỉ quán thành vô sinh môn, từ giả nhập không, phá kiến hoặc biến đã xong.

Print Friendly, PDF & Email
Did you find apk for android? You can find new Free Android Games and apps.