Want create site? Find Free WordPress Themes and plugins.

MA HA CHỈ QUÁN

SỐ 1911

QUYỂN 02

Đại sư Trí Giả ở núi Thiên Thai đời Tùy giảng.
Đệ tử là Quán Đảnh ghi chép.

Phần Đầu

Hai là khuyến tấn, bốn thứ Tam-muội nhập Bồ-tát vị, nói Chỉ Quán này, là muốn bước lên địa vị Diệu giác chẳng phải tu hành không có thềm bậc, khép hiểu biết dùi mài thì đề hồ có thể được. Kinh Pháp Hoa chép: Lại thấy Phật đệ tử tu các hạnh để cầu Phật đạo. Hành pháp rất nhiều lược nêu ra có bốn: 1. Thường ngồi; 2. Thường đi; 3. Nửa đi nửa ngồi; . Chẳng đi chẳng ngồi. Thông thường gọi chung Tam-muội là điều trực định. Đại luận chép: Khéo an trụ tâm một chỗ bất động, ấy gọi là Tam-muội. Pháp giới là nhất xứ (một chỗ), chánh quán năng trụ bất động, bốn hạnh làm duyên, quán tâm nương nhờ duyên điều trực, cho nên gọi là Tam-muội.

1. Thường ngồi: Nghĩa là Văn-thù thuyết Bát-nhã và Văn-thù vấn Bát-nhã gọi là Nhất hạnh Tam-muội. Ở đây trước nêu rõ phương pháp, kế đến nói về khuyến tu. Về phương pháp: Thân nói về khai ngăn, miệng nói về nói nín, ý nói về Chỉ Quán. Thân khai thường ngồi, ngăn đi đứng nằm, hoặc có thể ở riêng chúng thì càng tốt, ở trong một ngôi nhà yên tĩnh hoặc chỗ vắng lặng, xa lìa nơi ồn ào ngồi trên giường dây bên cạnh không có các chỗ ngồi khác, như vậy chín mươi ngày làm một kỳ hạn, ngồi ngay ngắn không lay động, không cong người, không dựa kề, phải ngồi tự thệ, hông không dựa vào giường, huống là nằm như thây chết mà đứng vui chơi, trừ kinh hành, ăn uống, tiện lợi, ngồi thẳng mặt ngó về phía bất cứ một Đức Phật nào, thời khắc nối nhau không để phí một khoảnh khắc, chỗ khai là chuyên ngồi, chỗ ngăn cấm thì chớ phạm, không khinh thường Phật, không phụ tâm mình, không lừa dối chúng sinh.

Miệng thì luận về nói năng hay im lặng, nếu ngồi mỏi mệt, hoặc tật bệnh khốn khổ, hoặc bị ngủ nghỉ che lấp, nghiệp chướng trong ngoài xâm đoạt, tâm chánh niệm không thể xua tan, thì phải chuyên niệm danh hiệu một Đức Phật, hổ thẹn mà thành tâm sám hối quy mạng, cùng xưng danh hiệu các Đức Phật trong mười phương, công đức cũng bình đẳng. Vì sao? Vì như người buồn vui uất ức trong lòng mà nói ra được, hoặc khóc hay cười thì thoải mái, người tu hành cũng giống như vậy, gió xúc phạm vào bảy chỗ thì thành thân nghiệp, âm thanh phát ra khỏi môi gọi là khẩu nghiệp, hai thứ có thể trợ giúp lẫn nhau, ý cảm đến Đức Phật ứng xuống, như người kéo nặng tự sức không thể kéo tới trước được, phải nhờ người bên cạnh giúp mới nâng lên nổi, người tu hành cũng giống như vậy. Tâm yếu đuối không thể dứt bỏ nghiệp chướng, xưng danh thỉnh các Ngài che chở, để duyên ác không thể phá hoại. Nếu đối với pháp môn chưa hiểu thì phải gần gũi để được giảng lý Bát-nhã, như nghe tu học có thể chứng nhập Tam-muội Nhất hạnh, tận mặt thấy các Đức Phật, các Bồ-tát, tụng kinh tụng chú còn làm ồn ào chỗ thanh tịnh, huống gì nói chuyện thế tục ư!

Ý thì luận về Chỉ Quán: là ngồi thẳng chánh niệm, dứt bỏ ác giác, xả các loạn tưởng, chớ suy nghĩ lăng xăng, không chấp tướng mạo, chỉ duyên vào pháp giới, nhất niệm pháp giới. Nhiều duyên là chỉ, nhất niệm là quán, tin tất cả pháp đều là Phật pháp, không trước không sau, không còn bờ mé. Về không biết, không nói, nếu không biết không nói thì chẳng phải có chẳng phải không. Chẳng biết, chẳng phải không biết là lìa hai bên, trụ vô sở trụ, như các Đức Phật an trụ trong pháp giới vắng lặng. Nghe pháp sâu xa nhiệm mầu này chớ nên kinh sợ, pháp giới này cũng gọi là Bồ-đề, cũng gọi cảnh giới bất khả tư nghì, cũng gọi là Bát-nhã, cũng gọi là bất sinh bất diệt. Tất cả pháp như vậy cùng pháp giới không hai không khác. Nghe không hai không khác chớ nên nghi ngờ, có thể như vậy mà quán thì gọi là quán mười hiệu của Như Lai, khi quán Như Lai không cho Như Lai là Như Lai, không có Như Lai là Như Lai, cũng không có trí Như Lai hiểu biết Như Lai, Như Lai và trí Như Lai không có hai tướng, không có tướng động, không có tướng tác, không ở tại phương hướng, không lìa phương hướng, chẳng phải ba đời, chẳng phải không có ba đời, chẳng phải hai tướng, chẳng phải không có hai tướng, chẳng phải tướng cấu uế, chẳng phải tướng thanh tịnh, quán Như Lai như thế rất là ít có, giống như hư không chẳng có lầm lỗi, thêm vững chánh niệm. Thấy tướng tốt của Phật như soi gương, soi nước, tự thấy hình bóng mình. Ban đầu thấy một Đức Phật, kế đến thấy các Đức Phật khắp mười phương, không dùng thần thông để thấy Phật, chỉ trụ ở đây thấy được các Đức Phật, nghe Phật nói pháp, chứng được nghĩa như thật, vì tất cả chúng sinh thấy Như Lai mà không chấp tướng Như Lai; giáo hóa tất cả chúng sinh hướng đến Niết-bàn mà không chấp tướng Niết-bàn, vì tất cả chúng sinh phát đại trang nghiêm mà không thấy tướng trang nghiêm. Vô hình vô tướng, không thấy nghe hiểu biết, Phật không chứng đắc gọi là ít có. Vì sao? Vì Phật tức là pháp giới, nếu dùng pháp giới chứng pháp giới tức là tranh luận, vô chứng vô đắc, quán tướng chúng sinh như tướng các Đức Phật, giới lượng chúng sinh như giới lượng các Đức Phật, giới lượng các Đức Phật không thể suy nghĩ bàn luận, giới lượng chúng sinh cũng không thể suy nghĩ bàn luận. Cõi chúng sinh trụ như cõi hư không trụ, vì pháp bất trụ, vì pháp vô tướng nên trụ trong Bát-nhã. Không thấy có pháp phàm phu thì làm sao xả, không thấy Thánh pháp thì làm sao chấp, sinh tử Niết-bàn, cấu tịnh cũng giống như vậy, không bỏ không chấp chỉ trụ thật tế. Quán chúng sinh như thế mới là pháp giới Phật chân thật, quán các phiền não, tham dục, sân nhuế, thường là hạnh vắng lặng, là hạnh bất động, chẳng phải pháp sinh tử, chẳng phải pháp Niết-bàn. Không xả các kiến, không xả vô vi, mà tu Phật đạo, chẳng tu đạo chẳng phải không tu đạo, đó gọi là chánh trụ phiền não pháp giới.

Quán nghiệp trọng: Không ngoài năm tội nghịch. Năm tội nghịch tức là Bồ-đề, Bồ-đề và năm tội nghịch không có hai tướng. Vô giác, là vô tri, vô phân biệt là tướng tội nghịch, tướng thật tướng đều bất khả tư nghì, không thể phá hoại, vốn không có bản tánh, tất cả nghiệp duyên đều trụ trong thật tế, không đến không đi, chẳng nhân chẳng quả, đó gọi là quán nghiệp, tức là pháp giới ấn. Pháp giới ấn, bốn ma không thể phá hoại được, không thể tìm dịp làm hại được. Vì sao? Vì ma tức là pháp giới ấn, pháp giới ấn làm sao hủy hoại pháp giới ấn được. Do ý này, đối với tất cả pháp cũng có thể hiểu. Những điều nói trên là văn kinh. Về khuyến tu, là công đức xứng thật khen thưởng đối với người tu hành. Pháp giới pháp là pháp chân thật của Phật, là ấn Bồ-đề. Người nghe pháp này mà không kinh sợ, là người ở chỗ trăm ngàn muôn ức Phật đã gieo trồng gốc đức, thí như Trưởng giả mất ngọc ma-ni sau tìm lại được tâm rất vui mừng. Bốn chúng không nghe pháp này thì tâm khổ não, hoặc nghe tin hiểu vui mừng cũng giống như vậy, phải biết người ấy tức là thấy Phật, đã từng nghe pháp này với ngài Văn-thù. Thân Tử nói: Xét hiểu nghĩa này gọi là Bồ-tát Ma-ha-tát. Ngài Di-lặc nói: Người ấy được gần gũi Phật, ngồi tòa Phật, giác ngộ được pháp này. Cho nên Vănthù nói: Nghe pháp này không sợ hãi tức là thấy Phật. Phật dạy: Liền trụ địa vị không lui sụt, đầy đủ sáu ba-la-mật, đầy đủ tất cả Phật pháp. Nếu người muốn được tất cả Phật pháp, tướng tốt oai nghi, âm thanh nói pháp, mười Lực vô úy thì phải thực hành yam muội Nhất hạnh này, khuyên răn thực hành không biếng nhác thì sẽ được đắc nhập, như sửa mài ngọc ma-ni cho sáng đẹp, chứng đắc công đức bất khả tư nghì. Bồ-tát có khả năng hiểu biết, mau chứng đắc Bồ-đề, Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni nghe không kinh sợ, liền xuất gia với Phật. Tín sĩ, tín nữ nghe không sợ hãi liền quy y chân thật, lời khen tặng này nằm ngoài hai kinh kia.

2. Thường hành Tam-muội: Trước hết là phương pháp, kế đến là khuyến tu. Phương pháp: Thân khai già, miệng nói năng im lặng, ý Chỉ Quán. Pháp này rút ra trong kinh Bát-chu Tam-muội, dịch là Phật lập. Phật lập có ba nghĩa: 1. Phật uy lực; 2. Tam-muội lực; 3. Hành giả bản công đức lực. Có thể ở trong định thấy các Đức Phật mười phương đứng ở trước mặt, như mắt người trong sáng ban đêm thấy sao, thấy các Đức Phật trong mười phương cũng nhiều như vậy, cho nên gọi Tam-muội Phật lập. Kệ trong luận Thập trụ Bà-sa chép: Tam-muội trụ xứ ấy, trong ít nhiều sai biệt. Các tướng như vậy cũng phải luận về nghĩa. Trụ xứ: hoặc ở Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền, phát huy thế lực có thể sinh Tam-muội, cho nên gọi là Trụ xứ. Sơ thiền ít, Nhị thiền vừa, Tam thiền, Tứ thiền nhiều. Hoặc trụ trong thời gian ngắn gọi là thiểu (ít), hoặc thấy thế giới thiểu, hoặc thấy Phật thiểu, cho nên gọi là thiểu (ít), trung nhiều cũng giống như vậy. Thân khai thường hành, khi thực hành pháp này thì tránh ác tri thức và người si, thân thuộc hàng xóm, thường ở một chỗ, không được hy vọng người khác, có mong cầu gì, thường khất thực không nhận thỉnh riêng, trang sức đạo tràng, sắm đầy đủ các thứ hương thơm, quả hoa cúng dường, tắm gội thân sạch sẽ, hai bên ra vào thay đổi y phục, chỉ chuyên thực hành chín mươi ngày làm một kỳ hạn, thỉnh cầu minh sư giỏi luật nội ngoại, có khả năng dứt bỏ chướng ngại, nghe được pháp Tam-muội như được thấy Thế tôn, không nghi ngờ, không tức giận, không thấy ngắn dài, phải lóc da thịt cúng dường thầy, huống là các thứ khác ư? Hầu thầy như đầy tớ hầu chủ, đối với thầy sinh tâm ác thì cầu pháp Tam-muội cuối cùng khó được, phải che chở bên ngoài như mẹ nuôi con, phải đồng hành như cùng đi vào đường nguy hiểm, cần phải thệ nguyện trong kỳ hạn, khiến cho gân cốt của ta khô mục, học Tam-muội này không được thì không bao giờ dừng nghỉ, khởi đại tín tâm, không thể hủy hoại, khởi đại tinh tấn không ai sánh bằng, thâm nhập trí tuệ không ai sánh bằng, thường thực hành theo thầy tốt, trong suốt ba tháng không được nghĩ đến sự ham muốn của thế gian, dù chỉ trong khoảnh khắc, trong ba tháng không được nằm, dù chỉ trong chốc lát, suốt ba tháng đi không được dừng nghỉ, trừ ngồi ăn. Nói kinh cho người nghe không được mong cầu cơm áo. Kệ trong luận Bà-sa nói rằng: Gần gũi Thiện tri thức, tinh tấn không biếng nhác, trí tuệ rất vững chắc, sức tin không vọng động.

Về miệng nói nín: Trong chín mươi ngày thân thường thực hành không dừng nghỉ, chín mươi ngày miệng thường xưng niệm danh hiệu Phật A-di-đà không dừng nghỉ, hoặc vừa xướng vừa niệm, chín mươi ngày tâm thường niệm Phật Được-di-đà không dừng nghỉ. Hoặc trước niệm sau xướng, hoặc trước xướng sau niệm, xướng niệm nối nhau không lúc nào dừng nghỉ. Hoặc xướng Di-đà tức là xướng công đức của các Đức Phật khắp mười phương… chỉ chuyên lấy đức Di-đà làm chủ pháp môn, nêu lời cốt yếu. Từng bước từng niệm, từng tiếng chỉ duyên theo Đức Phật A-di-đà.

Ý luận về Chỉ Quán, Niệm Đức Di-đà ở cõi Tây phương cách đây mười muôn ức cõi Phật, ở nơi đó có đất báu, ao báu, cây báu, nhà báu, ngồi nói kinh giữa chúng Bồ-tát, ba tháng thường niệm Phật. Niệm như thế nào? Niệm ba mươi hai tướng, từ tướng bánh xe ngàn căm dưới chân, mỗi mỗi nghịch duyên lại niệm các tướng cho đến tướng vô kiến đảnh, cũng nên từ trên đảnh, tướng thuận duyên cho đến bánh xe ngàn căm, khiến cho ta cũng bằng tướng ấy; lại nghĩ ta sẽ từ tâm thành Phật, từ thân thành Phật. Phật không dụng tâm để đắc, không dụng thân để đắc, không dụng tâm đắc Phật sắc, không dụng sắc đắc Phật tâm. Vì sao? Vì tâm là Phật vô tâm, sắc là Phật vô sắc, cho nên không dụng sắc tâm để chứng đắc Tam-bồ-đề. Phật sắc đã hết cho đến thức đã hết, lời Đức Phật nói cũng hết, người si không biết người trí hiểu rõ. Không dụng thân miệng thành Phật, không dùng trí tuệ thành Phật. Vì sao? Vì cầu trí tuệ không thật có, tự tìm cầu ta hoàn toàn không thật có, cũng không thật thấy, tất cả pháp vốn không bị hoại diệt, vốn đã bặt gốc, như mộng thấy bảy báu thân thuộc vui mừng, thức dậy rồi tìm nhớ không biết ở đâu! Niệm Phật cũng giống như vậy. Lại, như ở nước Xá-vệ có người nữ tên Tu-môn nghe việc này tâm rất vui mừng, ban đêm mộng làm việc gì khi tỉnh dậy nhớ đến việc đó, nghĩ rằng kia không đến, ta cũng không đi mà sự vui rõ ràng, phải biết niệm Phật cũng giống như vậy. Như có người đói khát lạnh lẽo, mộng thấy ăn đồ ngon ngọt, khi thức dậy thì bụng vẫn đói, tự nghĩ tất cả pháp sở hữu đều như mộng, phải niệm Phật như vậy, thường niệm không được dừng nghỉ, nhờ công lực của sự niệm này sẽ sinh về cõi nước của Phật A-di-đà, đó gọi là như tướng niệm. Như người dùng vật báu để gần ngọc lưu ly thì vật báu ảnh hiện trong đó, cũng như Tỳ-kheo quán hài cốt mà sinh ra các ánh sáng, đây không phải người đem đến, cũng không có hài cốt, chỉ do ý khởi mà thôi! Như hình tượng trong gương không phải từ ngoài đến, cũng không phải ở trong sinh, do gương trong sáng cho nên tự thấy hình kia. Người tu hành sắc thanh tịnh thì tất cả thanh tịnh, muốn thấy Phật liền thấy Phật, thấy liền hỏi, hỏi liền báo, nghe kinh rất vui mừng.

Tự nghĩ Phật từ chỗ nào đến, ta cũng không có chỗ đi, ta niệm liền thấy, các tưởng Phật tâm, tự thấy tâm, thấy Phật tâm, do Phật tâm này là tâm ta thấy Phật, tâm không tự biết tâm, tâm không tự thấy tâm. Tâm có tưởng gọi là si tâm, không tưởng gọi là Nê-hoàn, pháp này không thể chỉ bày, nếu chỉ nghĩ việc làm thì dù có niệm cũng hoàn toàn không được gì. Kệ nói rằng: Tâm không hề biết tâm, có tâm không thấy tâm, tâm khởi tưởng tức si, không tưởng tức Nê-hoàn. Các Đức Phật từ tâm mà được giải thoát, tâm ấy không cấu nhiễm gọi là thanh tịnh. Năm đường trong sạch, không thọ sắc, có người hiểu ý này mới thành đại đạo, đó gọi là Phật ấn, không tham không đắm, không cầu không tưởng, tất cả hết, sở dục hết, không từ đâu sinh, diệt không đi về đâu, không bị bại hoại, đạo quan trọng là gốc đạo, đó là ấn mà Nhị thừa không thể phá hoại, huống chi ma ư!…

Luận Bà-sa nói Bồ-tát tân phát ý trước niệm sắc tướng Phật thể tướng của tướng, tướng nghiệp, tướng quả, tướng dụng được chút ít thế lực, kế niệm bốn mươi pháp bất cộng của Phật, tâm được thế lực bậc trung, kế niệm thật tướng của Phật, chứng đắc thế lực, kế là niệm thật tướng của Phật chứng đắc thế lực tối thượng, nhưng không đắm chấp sắc thân và Pháp thân. Kệ nói rằng: Không tham đắc sắc thân, Pháp thân cũng không đắm, khéo biết tất cả pháp, vắng lặng như hư không.

Về khuyên tu: Nếu có người muốn được trí tuệ như biển lớn, khiến cho người không thể làm thầy ta, thì ngồi đây không vận thần thông đều thấy các Đức Phật, đều nghe nói, đều thọ trì, Tam-muội thường hành, đối với các công đức thì công đức này là bậc nhất trên hết. Pháp Tammuội này là mẹ của các Đức Phật, Phật nhãn là cha của Phật, vô sinh là mẹ của đại bi, tất cả các Đức Phật đều từ hai pháp này mà sinh, nghiền nát cả đất và cỏ cây trong đại thiên thành bụi vi trần, một hạt bụi là một cõi Phật, vật báu đầy khắp trong thế giới đem bố thí thì phước kia rất nhiều, nhưng không bằng không kinh sợ pháp Tam-muội này, huống chi kính tín, thọ trì, đọc tụng, giảng nói cho người nghe, huống chi định tâm tu tập, như thời gian cấu tạo thành sữa bò, huống chi có thể thành tựu pháp Tam-muội này, cho nên là vô lượng vô lượng. Luận Bà-sa chép: Kiếp hỏa mà quan tặc oán độc, rồng thú dữ các bệnh xâm tổn người ấy thì không có việc ấy, người ấy thường được tám bộ trời, rồng, các Đức Phật đều cùng hộ niệm khen ngợi, đều cùng muốn thấy, cùng đến chỗ người ấy. Nếu nghe pháp Tam-muội này thì được bốn lần công đức đều tùy hỷ, các Đức Phật, Bồ-tát ba đời đều tùy hỷ, lại thù thắng hơn bốn lần công đức trên, nếu không tu pháp này thì như đánh mất vô lượng vật báu quý giá, trời người đều lo buồn, như người nghẹt mũi cầm chiênđàn mà không biết hương thơm, như con nhà nông treo ngọc ma-ni trên đầu bò…

3. Nói về bán hành bán tọa (nửa đi nửa ngồi): Cũng trước là phương pháp, kế là khuyến tu. Phương pháp: Thân khai già, miệng nói nín, ý Chỉ Quán. Pháp này xuất xứ từ hai kinh: Kinh Phương Đẳng chép: Đi nhiễu một trăm hai mươi vòng rồi trở về ngồi tư duy. Kinh Pháp Hoa chép: Người kia hoặc đi, hoặc đứng mà đọc tụng kinh này, hoặc ngồi tư duy kinh này, thì ta cỡi voi trắng sáu ngà hiện trước mặt người ấy, cho nên biết tất cả đều lấy nửa đi, nửa ngồi làm phương pháp. Phương đẳng chí tôn không thể như vậy, nếu muốn tu tập thần minh làm chứng, trước hết cầu mộng vương, nếu được thấy một lần thì cho phép sám hối, ở nơi đạo tràng thanh tịnh trang nghiêm, dùng bùn đất thơm tô trét ngoài trong nhà, tạo lập đàn tràng, họa vẽ cờ phướn năm màu, đốt hương chiên-đàn hải ngạn, trải tòa cao, thỉnh hai mươi bốn tôn trượng, nhiều hơn cũng không ngại, thiết lập thực phẩm quý giá phải hết lòng, phải đắp mang y phục, giầy dép sạch mới, ra vào cởi mặc không để cho lẫn lộn, bảy ngày ăn chay, mỗi ngày ba lần tắm gội, ngày đầu cúng dường tăng tùy ý nhiều ít, thỉnh riêng một vị luật sư thông giỏi nội ngoại làm thầy, thọ hai mươi bốn giới và chú Đà-la-ni, đối trước thầy xưng tội, chủ yếu hàng tháng vào ngày tám, ngày mười lăm, phải lấy bảy ngày làm một kỳ hạn, quyết không thể giảm bớt, nếu có thể càng tăng tiến thì tùy ý chịu đựng được. Mười người trở lại không được vượt hơn, người thế tục cũng được, cần phải may riêng đầy đủ ba y đúng với nghi thức Phật pháp.

Miệng nói nín, tụng trước một thiên chú Đà-la-ni để cho lợi lạc, vào ngày mùng một đều trì tụng khác miệng đồng lời, ba biến triệu thỉnh Tam bảo và các Đức Phật mười phương, Phương đẳng phụ mẫu, Thập pháp vương tử, triệu thỉnh pháp trong bộ Quốc Thanh bách lục, thỉnh xong đốt hương chí thành niệm ba nghiệp cúng dường. Cúng dường xong lễ lạy trước rồi thỉnh Tam bảo, lễ xong tâm chí thành buồn rơi lệ, bày tỏ sám hối tội lỗi xong, đứng dậy đi nhiễu một trăm hai mươi vòng, một vòng tụng một bài chú không chậm không nhanh, không cao không thấp, đi quanh tụng chú xong, lễ Thập Phật Phương Đẳng, Thập pháp vương tử, làm như vậy xong rồi, trở về ngồi tư duy, tư duy xong lại đứng dậy đi nhiễu tụng chú, đi quanh tụng chú xong lại trở về ngồi tư duy, vòng quanh rồi trở lại từ đầu, suốt trong bảy ngày, pháp ấy như vậy, từ thời thứ hai lược triệu thỉnh, các thời khác đều như thường.

Ý Chỉ Quán: Kinh dạy tư duy, tư duy Ma-ha đãn trì Đà-la-ni, Hán dịch là Đại bí yếu ngăn ác giữ thiện. Bí yếu còn là thật tướng Trung đạo chánh không. Kinh dạy: Ta từ trong chân thật đến. Chân thật là tướng vắng lặng, tướng vắng lặng ấy không có sở cầu, người cầu cũng không, được là dính mắc, thật là đến ngữ là hỏi, thảy đều không, Niết-bàn vắng lặng cũng đều là không, tất cả hư không phân giới cũng lại đều không. Đối với vô sở cầu ta cố ý cầu, pháp không không chân thật như vậy, phải làm sao để cầu! Cầu trong sáu Ba-la-mật, ở đây đồng với thập bát không của Đại phẩm. Đại kinh chép: Thành Ca-tỳ-la không, Như Lai không, đại Niết-bàn không, không có gì khác. Do không tuệ này trải qua tất cả sự việc đều thành quán.

Phương Đẳng: Hoặc nói là rộng lớn bình đẳng, ở đây nói phương là pháp. Bát-nhã có bốn phương pháp, nghĩa là bốn môn nhập vào ao mát mẽ tức là phương, lý sở khế bình đẳng, đại tuệ tức là bình đẳng. Khiến cầu mộng vương tức là nhị quán phương tiện trước. Đạo tràng tức là cảnh giới thanh tịnh. Diệt trừ được vỏ bọc năm trụ phiền não, hiển bày nguồn gốc thật tướng, cũng là định tuệ dùng để trang nghiêm Pháp thân. Hương xoa tức vô thượng Thi-la (giới). Lọng năm màu: Quán năm ấm tránh khỏi sự trói buộc, sinh khởi tâm đại Từ bi, bao trùm khắp pháp giới. Đàn tròn: Tức thật tướng bất động địa. Phướn thêu vẽ năm màu tức trở lại trên pháp giới mê lầm, sinh hiểu động xuất, cờ phướn và đàn tràng không lìa nhau, tức động xuất, bất động xuất không lìa nhau. Hương đèn tức giới tuệ. Tòa cao tức các pháp không, tất cả các Đức Phật đều dừng nơi không này.

Hai mươi bốn tượng, tức là trí quán mười hai nhân duyên nghịch thuận rõ ràng. Thức ăn ngon: Tức là vô thường, khổ, đáp lại trợ đạo quán. Y mới sạch, tức là tịch diệt nhẫn, vì sân nên hoặc nghiệp chồng chất chứa nhóm, lại bỗng nhiên sân khởi nên gọi là tâm. Bảy ngày tức là bảy giác chi, một ngày tức nhất thật đế, ta tắm gội ba lần tức quán nhất thật, tu ba quán, sạch ba chướng, tịnh ba trí.

Nhất sư: Tức nhất thật đế. Hai mươi bốn giới, Quán nghịch thuận mười hai nhân duyên phát sinh đạo cộng giới. Chú: Là dặn dò. Kinh Anh lạc nói mười hai nhân duyên có mười thứ, tức có một trăm hai mươi chi, một chú một chi, tóm lại mà nói chỉ là ba đường, đó là: Nghiệp, khổ, phiền não. Nay chú nhân duyên này tức là chú nơi ba đường mà luận về sự sám hối. Sự sám hối khổ đạo, nghiệp đạo, lý sám hối phiền não. Văn chép: Phạm giới Sa-di cho đến giới Tỳ-kheo nếu không sinh lại thì không có việc đó, tức là văn sám hối nghiệp đạo. Các căn nhãn, nhĩ thanh tịnh tức văn sám hối khổ đạo. Đến ngày thứ bảy thấy các Đức Phật trong mười phương nghe pháp được không lui sụt, tức văn sám phiền não đạo. Ba chướng dứt thì cây mười hai nhân duyên gãy đổ, cũng là nhà năm uẩn trống không, tư duy thật tướng chính là phá điều này đây, cho nên gọi là thật pháp sám hối của các Đức Phật.

Khuyến tu: Các Đức Phật đắc đạo đều do pháp này, gọi Phật là cha mẹ, là vật báu vô thượng của thế gian. Nếu tu hành chứng được toàn phần bảo, chỉ đọc tụng thì đắc trung phần bảo, dùng hương hoa cúng dường đắc hạ phần bảo. Đức Phật cùng ngài Văn-thù nói hạ phần bảo không thể cùng tận, huống chi là trung phần, thượng phần ư? Hoặc có người chứa nhóm vật báu từ dưới đất lên đến cõi Phạm thiên để cúng dường Phật, thì phước đức cũng không bằng hành trì kinh này, một bữa ăn no đủ thân thể, như kinh có nói rộng. Theo kinh Pháp Hoa cũng nói rõ phương pháp khuyến tu. Phương pháp: Thân khai già, khẩu nói nín, ý Chỉ Quán. Thân khai làm mười: 1. Nghiêm tịnh đạo tràng, 2. Tịnh thân, 3. Ba nghiệp cúng dường, . Thỉnh Phật, . Lễ Phật, . Sáu căn sám hối, 7. Đi nhiễu, . Tụng kinh, 9. Ngồi thiền, 10. Chứng tướng. Riêng có một quyển tên là Pháp Hoa Tam-muội do Đại sư Thiên Thai soạn để truyền bá ở đời, làm tông chỉ cho người tu hành, bộ này bao gồm cả nói nín, không phải luận bàn riêng. Về ý Chỉ Quán, Phổ Hiền Quán chép: Chuyên tụng Đại thừa không nhập Tam-muội, ngày đêm sám hối tội của sáu căn. Phẩm An Lạc Hạnh chép: Đối với các pháp vô sở hành, cũng không hành, không phân biệt, hai kinh vốn nương nhau thành, đâu thể chấp văn chống trái nhau, vì duyên trước sau xen nhau nêu ra, nên chẳng khác nhau nhiều. Phẩm An Lạc Hạnh chép: Hộ trì đọc tụng, giải thích dốc lòng lễ bái v.v… há chẳng phải sự ư? Quán kinh nói về vô tướng sám hối, tâm ta tự không tội phước vô chủ, mặt trời trí tuệ có công năng làm tiêu trừ, há chẳng phải lý ư? Ngài Nam Nhạc nói: Hữu tướng an lạc hạnh, vô tướng an lạc hạnh đâu chẳng phải căn cứ sự lý mà được tên như vậy ư? Đặc biệt người tu hành trải qua sự tu sáu căn sám hối, ngộ nhập cho nên gọi là hữu tướng. Như trực quán tất cả pháp đều không làm phương tiện, cho nên gọi là Vô tướng. Khi chứng được điều vi diệu thì cả hai đều xả bỏ, nếu hiểu được ý này thì đối với hai kinh không còn nghi ngờ. Ở đây nói về văn tu quán: Nói voi trắng sáu ngà: Là Bồ-tát vô lậu, chứng sáu thần thông, có ngà bén nhọn, thông suốt nhanh nhẹn; voi có sức mạnh tiêu biểu Pháp thân gánh vác, vô lậu là không ô nhiễm gọi là bạch. Có ba người, một người cầm chày Kim cương, một người cầm vòng Kim cương, một người cầm hạt ngọc như ý, là tiêu biểu ba trí ở trên đảnh vô lậu… chày so sánh với voi năng hành, tiêu biểu cho trí tuệ dẫn dắt tu hành, vòng luân chuyển tiêu biểu vượt ra ngoài giả, như ý tiêu biểu cho trung. Trên ngà có ao là tiêu biểu tám giải thoát đó là thể của thiền, thông là dụng của định, vì thể dụng không lìa nhau. Trong ngà có ao, trong ao có hoa, hoa tiêu biểu cho diệu nhân. Dùng năng lực thần thông làm thanh tịnh cõi Phật, lợi ích chúng sinh tức là nhân. Nhân từ sự thông suốt mà sinh, như hoa từ trong ao mọc lên. Trong hoa có người nữ là tiêu biểu cho lòng từ. Nếu không có lòng từ vô duyên thì đâu có thể hối thúc thân khiến vào trong Ta-bà này. Thông do vận lòng từ, như người nữ dơ cao cành hoa, người nữ cầm nhạc khí là tiêu biểu cho bốn nhiếp pháp, từ tu thân miệng hiện các đồng sự lợi hành, tài thí pháp thí dắt dẫn chúng sinh nhiều mối, như trăm ngàn âm thanh nhạc khí vô lượng. Nếu bày hỷ kiến thân, là phổ hiện sắc thân Tam-muội. Tùy theo sở thích của chúng sanh mà hiện, chưa hẳn đều là tạo tượng bạch ngọc.

Nói Đà-la-ni, là từ bi huân tập miệng nói các pháp, đều là tên khác của Pháp Hoa Tam-muội . Hiểu được ý này thì đối với thân voi được tự tại thực hành pháp môn.

Khuyến tu: Phổ Hiền Quán chép: Nếu bảy chúng phạm giới, muốn dứt trừ tội nặng sinh tử trong trăm ngàn muôn ức a-tăng-kỳ kiếp trong khoảng thời gian búng ngón tay, muốn phát tâm Bồ-đề không dứt phiền não mà nhập vào Niết-bàn, không lìa năm dục mà thanh tịnh các căn. Thấy việc chướng bên ngoài, muốn thấy phân thân của Phật Thích-ca và Phật Đa Bảo, muốn đắc Pháp Hoa Tam-muội nhất thiết ngữ ngôn Đà-la-ni, vào nhà Như Lai, mặc áo Như Lai, ngồi tòa Như Lai, ở trong chúng tám bộ trời, rồng, v.v… Nói pháp, muốn được ngài Văn-thù, Dược Vương, các Đại Bồ-tát cầm hương hoa trụ giữa hư không hầu hạ cung phụng thì phải tu tập kinh Pháp Hoa, đọc tụng kinh Đại thừa, nghĩ nhớ việc Đại thừa, khiến cho không tuệ này cùng tương ưng với tâm, nghĩ nhớ mẹ các Bồ-tát, vô thượng phương tiện thù thắng từ tư duy thật tướng sinh ra, các tội như giọt sương mai, trí tuệ mặt trời có công năng tiêu trừ, thành tựu các việc như đây thì không gì là không đầy đủ. Người trì kinh này được thấy, ta cũng thấy được nơi ông, cũng cúng dường Phật Đa Bảo và Phật phân thân, khiến các Đức Phật vui mừng, như kinh nói rộng. Ai nghe pháp như vậy, mà không phát tâm Bồ-đề, trừ hạng người không ra gì, người si, người mê mờ vô trí tuệ.

4. Phi hành phi tọa Tam-muội: Trên chuyên thực hành đi và ngồi, ở đây đã khác trên, làm thành bốn câu cho nên gọi là phi hành phi tọa. Sự thật thông suốt đi, ngồi và tất cả việc mà ngài Nam Nhạc gọi là tùy tự ý. Ý khởi tức tu Tam-muội, đại phẩm gọi là giác ý Tam-muội, ý nghĩa thú hướng đều hiểu biết rõ ràng. Tuy có ba tên gọi mà kỳ thật chỉ là một pháp.

Nay y vào kinh mà giải thích tên gọi. Giác là chiếu rõ, ý là tâm sở, Tam-muội như trước đã giải thích. Hành là khi tâm sở khởi trở lại soi chiếu quán sát, không thấy động tĩnh căn nguyên chung cực, chỗ đến chỗ đi, cho nên gọi là giác ý. Các số vô lượng, vì sao đối ý mà nói về giác, cùng tột nguồn gốc các pháp đều do ý tạo ra, cho nên dùng ý làm đầu mối của lời nói. Đối cảnh hiểu biết khác với gỗ đá gọi là tâm. Kế đến tâm tính gọi là ý. Phân biệt biết rõ gọi là thức. Như vậy phân biệt tùy tâm tưởng thấy có sự trái ngược bên trong thì đâu thể gọi là giác được, giác là hiểu biết trong tâm chẳng phải có ý, cũng chẳng phải không có ý, trong tâm chẳng có thức cũng chẳng phải không có thức, trong ý chẳng phải có tâm cũng chẳng phải không có tâm, trong ý chẳng phải có thức, cũng chẳng phải không có thức, trong thức chẳng phải có ý cũng chẳng phải không có ý, trong thức chẳng phải có tâm cũng chẳng phải không có tâm. Tâm, ý, thức chẳng phải một cho nên đặt ba tên, chẳng phải ba cho nên nói một tánh. Nếu biết danh chẳng phải danh thì tánh cũng chẳng phải tánh. Chẳng phải danh nên không phải ba phi tánh, cho nên chẳng phải một, chẳng phải ba nên không tán, chẳng phải một nên bất hợp, bất hợp nên bất không, vì bất tán nên bất hữu, vì chẳng phải hữu nên bất thường, vì chẳng phải không nên bất đoạn. Nếu không thấy thường đoạn thì rốt cuộc không thấy một khác, nếu quán ý thì thâu nhiếp tâm thức, tất cả pháp cũng vậy. Nếu phá ý thì vô minh hoại, các kiến sử đều còn sót lại hết, cho nên các pháp tuy nhiều nhưng chỉ nêu ý để nói về Tam-muội. Quán sát thì điều hòa thẳng ngay cho nên nói giác ý Tam-muội. Tùy tự ý phi hành phi tọa y cứ theo đây có thể hiểu. Ở đây chia làm bốn: 1. Y cứ vào các kinh; 2. Y cứ vào các điều lành; 3. Y cứ vào các điều ác; . Y cứ vào các điều vô ký. Hành pháp của các kinh, ba thứ trên không thâu nhiếp, tức thuộc tùy tự ý. Vả lại y cứ vào thỉnh Quán Âm chỉ bày tướng kia, ở nơi yên tịnh trang nghiêm đạo tràng, dùng phướn lọng, hương đèn thỉnh tượng Di-đà và tượng hai vị Bồ-tát Quán Âm, Thế Chí đặt ở phương Tây, lập nhành dương nước sạch, nếu tiện lợi hai bên thì dùng hương xoa thân, tắm gội sạch sẽ, đắp mặc y mới, ăn chay, phải hướng về phía Tây năm vóc gieo sát đất lễ lạy Tam bảo bảy vị: Thích Tôn, đức Di-đà, ba Đà-la-ni, hai vị Bồ-tát Thánh chúng, lạy rồi quỳ gối chắp tay đốt hương rải hoa, dốc lòng vận tưởng như thường pháp, cúng dường rồi thân ngồi kiết già ngay ngắn, buộc niệm quán sổ tức, mười hơi thở làm một niệm, mười niệm thành tựu rồi đứng dậy thắp hương, vì chúng sinh ba lần xướng thỉnh Tam bảo, thỉnh rồi ba lần xưng danh Tam bảo, rồi lại xưng danh hiệu Bồ-tát Quán Thế Âm. Chắp mười ngón tay, tụng bốn hàng kệ xong lại tụng ba biến chú, hoặc một biến hoặc bảy biến, xem thời sáng chiều, tụng chú xong bày tỏ sám hối, tự mình nhớ tội đã phạm, tắm rửa sạch sẽ sám hối rồi lễ lạy các tượng đã thỉnh ở trên. Lễ rồi, một người bước lên tòa cao, hoặc xướng hoặc tụng văn kinh này, các người khác lắng nghe, trước ngọ đầu hôm phương pháp kia cũng giống như đây, các thời khác nghi thức như thường. Nếu có gì nghi ngờ thiếu sót thì có thể tìm xem trong kinh có bổ túc thêm…

Kinh chép: Nhãn tương ưng với sắc, thì làm sao nhiếp trụ! Cho đến ý tương ưng với phan duyên làm sao nhiếp trụ! Kinh Đại Tập chép: Như tâm trụ, như tức không. Văn này mỗi mỗi đều nhập mé thật, tức là tên khác của như không! Đất không vững chắc, hoặc cho đất là hữu, hữu tức thật, thật là nghĩa vững chắc, hoặc nói đất là không, là vừa có vừa không, chẳng hữu chẳng vô, là sự thật, đều là nghĩa vững chắc. Nay nói rốt cuộc không thể quên được tánh vững chắc kia. Tánh nước không trụ, cho nước là hữu, hữu tức là trụ, cho đến cho rằng nước là chẳng hữu chẳng vô, cũng tức là trụ. Nay không trụ hữu bốn câu, cũng không trụ trong vô bốn câu, cũng không trụ trong thể nói, cho nên nói tánh nước bất trụ. Tánh gió vô ngại; Quán gió là hữu, hữu tức là ngại, cho đến nói gió là chẳng hữu chẳng vô, cũng vô vô bốn câu, cho nên nói tánh gió vô ngại. Hỏa đại không thật. Hỏa không tự mình sinh cho đến không từ vô nhân sinh, vốn không tự tánh, nương duyên mà có, cho nên nói không thật. Quán sắc đã vậy, thọ, tưởng, hành, thức mỗi ấm đều nhập vào mé như thật. Quán ấm đã vậy, mười hai nhân duyên những tiếng vang dội trong hang cốc, như cây chuối đứng vững giữa sương mù… Một lúc vận niệm, khiến không quán thành, khuyên cần phải tu tập cho được tương ưng, quán gốc tuệ không thể thiếu. Tiêu trừ hàng phục độc hại Đà-la-ni năng phá chướng. Người Tỳ-xá-ly bình phục như cũ, phá ác nghiệp Đàla-ni, năng phá nghiệp chướng, phá người phạm hạnh tiêu trừ phân uế, khiến được thanh tịnh. Chương cú sáu chữ Đà-la-ni năng phá, phiền não chướng thanh tịnh, đối với ba độc căn thành Phật đạo không nghi ngờ. Sáu chữ tức là sáu Quán Thế Âm, năng phá ba chướng trong sáu đường, có chỗ nói đại bi Quan Thế Âm phá địa ngục đạo ba chướng. Đường này khổ nặng phải dùng đại bi. Đại từ Quán Thế Âm phá ba chướng trong đường ngạ quỷ, đường này đói khát phải dùng Đại từ. Sư tử vô úy Quán Thế Âm phá ba chướng A-tu-la đạo, đường này hay sinh nghi ngờ, ganh tị thiên chấp nên dùng phổ chiếu. Trời, người, trượng phu, Quán Thế Âm phá ba chướng cõi người, cõi người có sự lý, sự hàng phục tâm kiêu mạn, gọi là trời người, lý thì thấy Phật tánh nên gọi Trượng phu. Đại Phạm thâm viễn Quán Thế Âm phá ba chướng cõi trời, Phạm là chủ cõi trời, tiêu biểu cho sự làm chủ thần dân. Quảng lục Quán Thế Âm tức là hai mươi lăm Tam-muội. Đại bi tức vô cấu Tam-muội. Đại từ tức tâm lạc Tam-muội, Trượng phu tức bốn Tam-muội như huyễn v.v… Đại phạm tức mười bảy Tam-muội như bất động, v.v… Tự suy tư có thể biết. Kinh này chung cho hàng Tam thừa sám hối. Nếu tự mình điều phục, tự dứt trừ các kết tặc thì thành A-la-hán, hoặc phước dày lợi căn quán vô minh, hành v.v… Thành Duyên giác đạo; hoặc khởi đại bi thân sáng như lưu ly, trong lỗ chân lông thấy Phật, đắc Thủ-lăng-nghiêm, trụ không lui sụt. Các kinh Đại thừa có lưu loại này, hoặc Thất Phật, Bát Bồ-tát sám, hoặc Bồ-tát Hư không tạng tám trăm ngày ở nơi nhà xí như thế đều là tùy tự ý nhiếp…

2. Nói rõ các điều lành chia làm hai; Trước phân biệt tứ vận, kế nêu rõ các điều lành. Ban đầu nói về tứ vận. Tâm thức không có hình tướng, không thể thấy, y cứ vào bốn tướng để phân biệt. Đó là Vị niệm, Dục niệm, Chính niệm, Dĩ niệm. Vị niệm là tâm chưa sinh khởi. Dục niệm là tâm sắp sinh khởi, chính niệm là đang duyên cảnh mà trụ, niệm dĩ là đã duyên cảnh rồi. Nếu thấu đạt được bốn ý này, tức nhất nhất tướng vô tướng.

Hỏi: Chưa niệm chưa khởi, đã niệm đã khởi, hai thứ này đều vô tâm, vô tâm thì vô tướng, làm sao quán được? Đáp: Chưa niệm tuy chưa khởi, nhưng chẳng phải rốt ráo không, như người tuy hiện tại chưa tạo tác nhưng về sau thì tạo tác, không thể vì chưa tạo tác mà nói là không có người làm. Nếu nhất định không có người, thì sau đó ai làm, do có người mà chưa làm đó thôi! Thì sẽ có người làm, tâm cũng giống như vậy. Nhân vì chưa niệm nên nói sắp có niệm, nếu không chưa niệm tại sao có sắp niệm được. Vì vậy nên chưa niệm chưa có nhưng chẳng phải rốt ráo không niệm. Niệm rồi tuy diệt cũng có thể quán sát được, như người đã làm xong không được nói là không làm. Nếu nhất định không có người thì trước ai làm. Niệm rồi tâm diệt cũng giống như vậy, không được nói diệt hẳn, nếu cho rằng diệt hẳn thì đó là đoạn kiến không nhân không quả, vì vậy cho nên niệm rồi tuy diệt cũng có thể quán được.

Hỏi: Quá khứ đã qua, vị lai chưa đến, hiện tại không dừng, nếu lìa ba đời thì không có tâm riêng, vậy phải quán tâm nào? Đáp: Ông hỏi sai, nếu quá khứ diệt hẳn thì rốt cuộc không thể biết, vị lai chưa sinh khởi không thể biết, hiện tại không trụ không thể biết, thì làm sao mà các bậc Thánh biết tâm ba đời. Quỷ thần còn biết tự tha trong ba đời, vì sao trong Phật pháp người tu hành khởi kiến chấp đoạn diệt lông rùa sừng thỏ! Phải biết tâm ba đời tuy không nhất định là thật nhưng cũng có thể biết được, cho nên kệ nói rằng: Điều các Đức Phật nói, tuy không cũng không đoạn, nối nhau cũng không thường, tội phước cũng chẳng mất. Nếu khởi đoạn diệt thì như người mù nhìn sắc, đối với Phật pháp không có chánh quán, mắt không đạt được gì, hành giả đã biết tâm có bốn tướng, tùy tâm sinh khởi các niệm thiện ác, dùng trí không chấp trước trở lại soi chiếu quán sát.

Kế đến là nêu rõ việc lành, việc lành rất nhiều, nên căn cứ sáu Độ, nếu có các trần phải xả bỏ sáu thọ, hoặc không có tài vật thì phải vận sáu tác. Xả vận luận chung có mười hai việc. Trước nói khi nhãn thọ sắc, chưa thấy, sắp thấy, đang thấy, thấy rồi, bốn vận tâm đều không thể thấy, cũng không thể không thấy, lại quán giác sắc tâm, không phải từ ngoài đến, bên ngoài đến đối với ta không liên quan, không từ bên trong ra, bên trong ra thì không đợi nhân duyên, đã không trong ngoài, cũng không ở giữa, không thường tự có, phải biết hiểu rõ sắc ấy rốt ráo vắng lặng. Sắc sở quán bình đẳng với không, sắc Năng quán đồng với người mù cho đến ý duyên pháp, chưa duyên, sắp duyên, đang duyên, duyên rồi, bốn tâm đều không thật có. Trở lại quán biết tâm pháp không từ ngoài đến, không phải ở trong ra, không có pháp trần, không pháp tức bình đẳng với không, đó gọi là quán giác sáu thọ v.v… Nhãn căn, sắc trần, không minh, mỗi duyên đều không thấy, cũng không phân biệt, do nhân duyên hòa hợp sinh ra nhãn thức, nhãn thức nhân duyên sinh ý thức, khi ý thức sinh thì có khả năng phân biệt. Nương ý thức thì có nhãn thức, nhãn thức có khả năng thấy, thấy rồi sinh lòng tham, tham nhiễm nơi sắc, làm hủy hoại giới đã thọ, đây là bốn vận địa ngục. Ý thật ưa thích sắc mà che giấu không nói, đây là bốn vận quỷ đạo. Đối diện sắc sinh tham đắm rồi chấp ngã sở là thuộc về bốn vận súc sinh. Sắc ta, sắc người, ta hơn, người thua là thuộc bốn vận A-tu-la. Người tặng biếu sắc cho ta, ta không cho, không lấy, đối với sắc trên khởi lòng nhân nhượng tin hiểu v.v… là thuộc năm giới mười điều lành thuộc bốn vận trời người. Quán bốn vận tâm, tướng tâm sinh diệt, tâm tâm bất trú, tâm tâm ba thọ, tâm tâm không tự tại, tâm tâm thuộc nhân duyên. Bốn vận Nhị thừa. Bốn vận quán mình thì có lỗi như đây, bốn vận quán người cũng giống như vậy, liền khởi từ bi mà thực hành sáu Độ. Vì sao? Vì tánh tướng sáu thọ như đây từ vô lượng kiếp đến nay ngu si ôm chấp không xả bỏ được, có xả cũng không thể quên; Nay quán trần chẳng phải trần, đối với trần không thọ, quán căn chẳng phải căn đối mình không chấp, quán người không thật có, cũng không thọ, ba việc đều không thì gọi Đàn ba-la-mật.

Kinh Kim Cương Bát-nhã chép: Nếu trụ sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp mà bố thí, đó gọi là trụ tướng bố thí, như người vào nhà tối thì không thấy gì, không trụ thanh vị bố thí, đó là vô tướng bố thí, như người có mắt sáng, mặt trời chiếu soi thì thấy các mầu sắc, nói thẳng không thấy tướng lược còn khó hiểu. Nay không thấy sắc, có tướng không tướng, cũng là tướng hữu vô, chẳng phải tướng hữu vô. Hoặc mỗi nơi đều chấp tướng, dẫn khiến ra khỏi, không khởi sáu mươi hai kiến chấp chính gọi là vô tướng đàn ba-la-mật đến bờ bên kia. Tất cả pháp hướng đến đàn ba-la-mật thành Đại thừa gọi là bốn vận của Bồ-tát, lại quán bốn vận đồng với hư không tức là thường, không thọ bốn vận đồng với hư không tức là thường, không thọ bốn vận tức là lạc, không vì bốn vận khởi nghiệp tức là ngã, bốn vận không ô nhiễm tức là tịnh, đó gọi là Phật pháp bốn vận. Như vậy bốn vận tuy không, trong không thấy có đủ bốn vận, cho đến thấy khắp hằng sa Phật pháp thành Đại thừa, đó gọi là giả danh bốn vận. Hoặc không nên lẽ ra không đủ thập pháp giới, pháp giới từ nhân duyên sinh, thể lại chẳng phải hữu, chẳng phải có cho nên không, chẳng phải không cho nên có, chẳng thể không hữu, song chiếu không hữu, ba đế rõ ràng, đầy đủ Phật tri kiến, đối với bốn vận tâm đầy đủ rõ ràng. Quán thanh hương vị xúc pháp, năm thọ bốn vận tâm, viên giác ba đế, không thể suy nghĩ bàn luận, cũng lại như vậy, y cứ theo trước có thể biết, không phiền ghi chép lại.

 

Phần Cuối

Kế đến là quán sáu tác hành đàn, quán chưa niệm hành, sắp hành, đang hành, hành rồi. Bốn vận nhanh chậm đều không thật có, cũng không thấy không thật có, trở lại quán biết tâm không từ bên ngoài đến, không ở bên trong ra, không ở giữa, không thường tự có. Vô hành, vô hành là rốt ráo vắng lặng. Do tâm vận sai khiến cho nên có khứ lai, hoặc vì phá hủy giới, hoặc lừa dối người khác, hoặc quyến thuộc, hoặc vì thắng người kia, hoặc vì nghĩa nhượng, hoặc vì thiện thiền, hoặc vì Niết-bàn, hoặc vì từ bi. Xả sáu trần, vận sáu tác, phương tiện khứ lai, giở chân lên đặt chân xuống đều như huyễn hóa, mơ màng không thật, bỗng quên năng quên sở. Đường ngàn dặm không gọi là xa, vài bước chân không cho là gần, hễ có tạo tác đều không luống uổng công lao kia, không hy vọng họ đền ơn, trụ đàn như thế nhiếp thành tất cả hằng sa Phật pháp, đầy đủ Đại thừa có khả năng đến bờ bên kia, lại quán một vận tâm đầy đủ mười pháp, một không hẳn là một cho nên được gọi là mười, mười không hẳn là mười cho nên được gọi là một, chẳng một chẳng mười, song chiếu một mười. Trong một niệm tâm đầy đủ ba đế, đứng, ngồi, nằm, nói, nín tạo tác cũng giống như vậy, căn cứ theo trước có thể biết. Cho nên kinh Pháp Hoa nói: Lại thấy Phật tử sắm áo quần tốt đem dùng bố thí để cầu Phật đạo chính là nghĩa này.

Trước đã căn cứ mười hai việc mà nói chung về Đàn. Nay y cứ mỗi việc đều nói về sáu độ. Hành giả khi thực hành dùng mắt đại bi quán chúng sinh, không thấy có tướng chúng sinh, chúng sinh đối với Bồ-tát không có tâm sợ hãi, đó gọi là hành đúng Đàn ba-la-mật. Đối với chúng sinh không bị tổn thương, không thấy có tướng tội phước, đó gọi là Thi ba-la-mật. Khi thực hành tâm tưởng không khởi, cũng không lay động, không có trụ xứ, ấm giới nhập, v.v… cũng đều bất động, đó gọi là Nhẫn nhục ba-la-mật. Khi đi không thấy có giở chân lên, đặt chân xuống, tâm không phải trước suy nghĩ sau mới hiểu biết, đối với tất cả pháp không có sinh trú diệt, đó gọi là Tinh tấn ba-la-mật. Thân tâm không thấy có sinh tử, Niết-bàn, đối với tất cả pháp không thọ niệm chấp đắm, không mùi vị, không loạn động, đó gọi là Thiền ba-lamật. Khi đi, sáu phần như đầu, v.v… Như mây, như hình bóng, mộng, huyễn, tiếng vang, không sinh diệt đoạn thường, ấm giới nhập vắng lặng, không buộc không thoát, đó gọi là Bát-nhã ba-la-mật. Đầy đủ như trong kinh Thủ-lăng-nghiêm có nói rộng. Lại nữa, trong khi đi thì vắng lặng có tướng định, nếu không xem xét thì nơi định thì sinh nhiễm, tham đắm thiền vị. Nay quán định tâm, tâm còn vô tâm định ở chỗ nào? Phải biết định này từ điên đảo sinh, như vậy khi quán chẳng thấy không và bất không, tức phá tướng định, không sinh tham đắm, do phương tiện sinh đây là giải thoát của Bồ-tát Bồ tát giải. Hành giả chưa ngộ hoặc chấp ngã có thể quán tâm, gọi là diệu tuệ. Chấp tuệ tự cao, đó gọi là trí chướng, đồng với ngoại đạo kia không được giải thoát, liền soi chiếu trở lại tâm năng quán không thấy trụ xứ, cũng không khởi diệt. Rốt ráo không có quán và chẳng quán, quán ấy đã không, thì ai quán các pháp. Không có quán tâm tức là lìa quán tưởng. Đại luận chép: Niệm tưởng quán rồi, dứt tâm hý luận, trừ vô lượng tội, tâm thanh tịnh thường nhất, người tài giỏi như vậy tôn trọng có khả năng thấy Bát-nhã. Kinh Đại Tập chép: Quán sát tâm tâm tức là ý này. Như vậy trong khi đi đầy đủ ba Tam-muội, ban đầu quán phá tất cả các hữu tướng, không thấy trong ngoài, tức không Tam-muội, kế đến là phá hoại Không tướng, gọi là Vô tướng Tam-muội, sau cùng quán không thấy tạo tác, tức vô tác Tam-muội, lại phá ba đảo ba độc vượt dòng ba hữu, hàng phục bốn ma oán, thành Ba-la-mật, nhiếp thọ pháp giới, thêm lớn đầy đủ tất cả pháp môn, đâu chỉ sáu Độ, ba Tam-muội mà thôi! Nếu trong khi đi đầy đủ tất cả pháp, mười một việc còn lại cũng giống như vậy. Kế đến lại nắm giữ sáu trần như để dầu vào bát, không nghiêng để đổ ra ngoài một giọt. Lại trong sáu tác uy nghi nghiêm túc tiến lùi có thứ lớp, chỉ gọi là trì giới, trì giới quả báo vượt ngoài sự thọ vui, chẳng phải Tam-muội thì không gọi là Ba-la-mật. Nếu được quán tuệ thì mười hai việc Thi-la tự thành, nghĩa là quán chưa thấy sắc, muốn thấy, đang thấy, thấy rồi, bốn vận tâm, các thứ tìm cầu không được, tâm sinh khởi cũng không thật, tâm năng quán, không trong ngoài, không đến đi, vắng lặng không sinh diệt. Có thể quán bảy chi thân miệng thanh tịnh tợ hư không, như vậy là do giữ giới không thiếu sót, không phá giới, không xuyên tạc ba thứ luật nghi giới, phá bốn vận các ác giác quán, tức giữ giới không lầm lẫn, không bị bốn vận làm loạn tức là giữ gìn định cộng giới. Bốn vận tâm không khởi tức là giữ đạo cộng giới. Phân biệt các thứ bốn vận không dính mắc, tức giữ giới vô trước. Phân biệt bốn vận không lầm lẫn, tức là giữ giới mà người trí khen ngợi. Biết bốn vận thâu nhiếp các pháp, tức giữ giới tự tại của Đại thừa. Hiểu rõ bốn vận thâu nhiếp các pháp, tức là giữ giới rốt ráo. Tâm đã thanh tịnh, ngăn che hai biên, chính nhập Trung đạo, song chiếu nhị đế, cảnh giới bất khả tư nghị của các Đức Phật đầy đủ không thiếu sót. Sắc ấy là sắc pháp, người thọ không thật có, ba việc đều quên tức là Đàn, đối với sắc, sắc giả thì an tâm bất động gọi là Nhẫn, đối với sắc sắc giả không ô nhiễm, không xen hở gọi là Tỳ-lê-da, không bị sắc sắc giả làm loạn động gọi là thiền, sắc sắc giả như huyễn như hóa gọi là Bát-nhã, sắc sắc giả như hư không gọi là Không Tam-muội, không thấy có không này gọi là Vô tướng Tam-muội, vô năng vô sở gọi là Vô tác Tam-muội, đâu chỉ ba đế sáu Độ ba không, tất cả Hằng sa các Đức Phật đều lệ theo đây có thể hiểu. Quán sắc trần đã như vậy, thì năm trần còn lại cũng vậy, sáu thọ sáu tác cũng vậy. Kinh Pháp Hoa chép: Lại thấy Phật tử, oai nghi đầy đủ để cầu Phật đạo, tức là nghĩa này.

Kế đến nói nhẫn thiện, lại y cứ vào tác thọ đều có nghịch thuận, thuận thì vừa ý, nghịch thì không vừa ý, đối với nghịch trái không sân, đối với thuận không ưa đắm. Vô kiến vô kiến giả, vô tác vô tác giả, đều như trên đã nói. Kế nữa là tinh tấn thiện. Người xưa nói: Tinh tấn không có tự thể riêng, chỉ đốc thúc các hành, theo nghĩa mà suy xét thì nên có tự thể riêng. Chẳng hạn như vô minh có chung trong các sử, lại có vô minh riêng, nay lại nhờ vào tâm siêng năng tụng kinh, do tinh tấn ngày đêm không bỏ sót mà được lợi ích, nhưng chẳng phải trí tuệ Tam-muội. Nay quán hơi thở tiếp xúc bảy chỗ, hòa hợp phát ra âm thanh như tiếng vang, không trong không ngoài, không năng tụng sở tụng, đều dùng bốn vận tìm xét, đối với trần, bất khởi thọ giả, với duyên không sinh người làm ra, phiền não không làm đứt quãng việc đọc tụng, giảng nói, niệm niệm chảy vào biển đại Niết-bàn, đó gọi là tinh tấn…

Kế là nói về các thiền, căn bản là chín tưởng, tám bối xả v.v… chỉ là thiền, chẳng phải ba-la-mật. Quán nhập định bốn vận còn không thấy tâm, chỗ nào có định, tức là đạt thật tướng thiền, dùng thiền thâu nhiếp tất cả pháp, cho nên nói về giải thứ năm, tưởng thứ tám xong. Nêu rõ mười Lực, bốn Vô úy, tất cả pháp, các Luận sư không thấu đạt tôn chỉ mầu nhiệm, đều cho rằng luận lầm lẫn chưa nên nói điều này. Đây là luận chủ nêu tám tưởng để tác, tướng Ma-ha diễn (Đại thừa), cho nên giải thích rộng các pháp đó thôi, v.v…

Kế là nói về trí tuệ: Thích luận nói có tám thứ giải Bát-nhã. Nay lại y cứ vào thế trí để quán sáu thọ sáu tác, bốn vận suy tìm thế trí để quán sáu thọ sáu tác, bốn vận suy tìm thế trí không thật có, đều như trên nói, y cứ vào tất cả pháp lành cũng giống như vậy.

Hỏi: Nếu một pháp thâu nhiếp tất cả pháp, chỉ dùng quán là đủ, tại sao cần phải dùng Chỉ? Một độ là đủ, đâu cần năm độ kia? Đáp: Sáu Độ uyển chuyển thành tựu cho nhau, như mặc áo giáp vào trận không thể không bí mật v.v… Quán như đèn, chỉ như nhà tối, giặt y cắt cỏ, v.v… lại Bát-nhã là pháp giới, trùm khắp thâu nhiếp tất cả, cũng không cần các pháp khác, các pháp khác là pháp giới, cũng thâu nhiếp tất cả, cũng không cần Bát-nhã. Lại nữa, Bát-nhã tức các pháp, các pháp tức Bát-nhã, không hai không khác, v.v…

Vì tùy tự ý, trải qua các việc ác: Xét rằng thiện ác không nhất định, như các điều xấu là việc ác, vượt qua được là việc lành, quả báo trời người hết sẽ đọa vào ba đường trở lại là ác. Vì sao? Vì xấu ác vượt qua được thì đều chẳng động xuất, thể đều là ác, hàng Nhị thừa thoát khỏi khổ gọi là thiện. Hàng Nhị thừa tuy thiện nhưng chỉ tự độ, chẳng phải tướng thiện nhân. Đại luận chép: Thà bị bệnh, có tâm dã can chứ không sinh làm Thanh văn, Bích-chi-phật, phải biết sinh tử, Niết-bàn đều là ác, sáu Độ Bồ-tát từ bi bao gồm cứu giúp, đây chính gọi là thiện. Tuy có thể bao gồm cứu giúp, như đồ độc chứa thức ăn, người ăn vào thì chết, cũng lại là ác, ba thừa đồng dứt, đây mới gọi là tốt, nhưng không thấy lý riêng, lại thuộc về hai bên, vô minh chưa hết thì còn gọi là ác, Biệt giáo là thiện, tuy thấy lý riêng nhưng còn nương phương tiện không thể gọi là lý. Đại kinh chép: Từ trước đây chúng ta đều là người tà kiến. Tà đâu chẳng phải ác, chỉ pháp Viên giáo gọi là thiện; Thiện thuận với thật tướng gọi là Đạo, trái thật tướng gọi là Phi đạo. Nếu thấu hiểu các điều ác chẳng phải ác, đều là thật tướng, tức thực hành phi đạo mà thông đạt Phật đạo. Nếu đối với Phật đạo sinh chấp, không tiêu cam lộ, đạo thành phi đạo. Như thế mà nói về nghĩa thiện ác thì thông, nay y cứ vào biệt để nói về thiện ác. Sự suy tính là thiện, các điều tệ xấu là ác, pháp lành dùng quán như trên nói, y cứ vào điều ác nói về quán, ở đây sẽ nói. Trước tuy quán thiện mà xấu ác kia không dứt, phiền não cuồn cuộn không lúc nào không khởi, nếu quán điều ác của người khác cũng vô lượng, cho nên khi tu tất cả pháp thế gian không thể tưởng vui, thì không thấy người tốt, không có cõi nước tốt, toàn các việc xấu ác mà tự trói buộc bên trong, dù cho không hoàn toàn có điều xấu ác nhưng riêng khởi bất thiện, hoặc nhiều san tham, hoặc thường phạm giới, thường sân hận, thường biếng nhác, thường thích vị rượu, căn tánh dễ bị đoạt mất ắt có lỗi lầm, ác không có lỗi, người xuất gia lìa thế gian, tu hành còn không đầy đủ, bạch y thọ dục chẳng phải người hành đạo, người kia gọi là ác, bậc La-hán còn xét lại thói quen, huống gì phàm phu. Nếu phàm phu buông thả theo điều xấu ác, tinh thần suy bại, không có kỳ hạn thoát khỏi, phải ở trong đường ác mà tu quán tuệ, như thời Phật còn tại thế người tại gia mang vợ nách con, chăm lo công việc thế tục hoàn thiện đều có thể đắc đạo. Ương-quật-ma-la càng sát sinh càng từ bi. Kỳ-đà Mạt-lợi chỉ có uống rượu làm giới, Hòa-tu-mật-đa dâm mà phạm hạnh, Đề-bà-đạt-đa tà kiến tức chánh. Nếu trong các điều ác một bề là ác, thì người ấy không được tu đạo, những người này mãi mãi làm phàm phu. Do trong ác có đạo, tuy làm các việc xấu, mà được thành Thánh, cho nên biết điều ác không chướng ngại đạo. Lại đạo không ngăn được ác. Bậc Tu-đà-hoàn dâm dục chuyển thạnh, rốt ráo còn mạn, thân tử sinh sân, đối với vô lậu kia có tổn ích gì, thí như trong hư không sáng tối không trừ diệt nhau, hiển xuất Phật Bồ-đề, tức là ý này. Nếu tánh người nặng về tham dục, uế trược hừng hẫy, dù đối trị chiết phục lại càng thêm mạnh mẽ, chỉ muốn theo xu hướng của mình. Vì sao? Vì điều xấu không khởi thì không cần phải tu quán, thí như dây câu, cá mạnh dây yếu thì không thể kéo lên được, chỉ khiến mồi vào miệng cá, thì tùy theo xa gần mặc cho cá dẫy dụa chìm nổi dưới nước, không lâu sẽ bắt nó được, đối với việc xấu tu quán cũng giống như vậy, xấu tức là cá dữ, quán tức là mồi câu, nếu không có cá thì không dùng mồi câu, chỉ khiến được cá thì phần lớn đều thích dùng mồi câu, tùy thích không bỏ, điều xấu này không bao lâu theo đà phát triển thì làm sao mà quán! Nếu tham dục, sắp tham dục, đang tham dục, tham dục rồi. Vì đang chưa tham thì dục diệt, sắp tham thì dục sinh, vì đang chưa tham thì dục không diệt, sắp tham thì dục sinh, cũng diệt cũng không diệt, sắp tham thì dục sinh, chẳng phải diệt chẳng phải bất diệt, sắp tham thì dục sinh, nếu chưa diệt thì dục sinh, đó tức là lìa, ngay nơi diệt mà sinh, sinh diệt trái nhau, hoặc lìa mà sinh, sinh thì không có nhân. Chưa tham thì không diệt mà dục sinh thì đó tức là lìa, nếu tức tức hai sinh tướng đều là sinh thì không cùng, nếu lìa sinh cũng vô nhân, hoặc vừa diệt vừa bất diệt mà dục sinh, hoặc từ diệt sinh không cần cũng không diệt, nếu từ bất diệt sinh thì không cần cũng diệt. Nhân bất định làm sao sinh quả định. Nếu thể kia là một thì tánh kia trái nhau, nếu thể kia là khác thì vốn không liên quan. Hoặc chẳng phải diệt chẳng phải bất diệt mà muốn tham dục sinh, cả hai đều chẳng thể có là vô, nếu cả hai chẳng phải là có thì vì sao nói cả hai đều phi! Nếu cả hai phi thì vô vô làm sao sinh. Bốn câu như vậy không thấy dục tham, dục sinh, xoay vần bốn câu, không thấy chưa tham sắp diệt, dục tham thì dục sinh, bất sinh, vừa sinh vừa không sinh, chẳng sinh chẳng không sinh, cũng như trên nói. Quán tham dục xấu ác rốt ráo vắng lặng, song chiếu rõ ràng đều như trên nói, đó gọi là mồi câu. Nếu việc xấu thường khởi thì quán này thường chiếu, cũng không thấy khởi, cũng không thấy chiếu, mà khởi mà chiếu, lại quán điều xấu này do đâu mà trần khởi! Sắc ư? Hay các thứ khác ư? Do đâu mà tác khởi! Hành ư? Hay các thứ khác ư? Nếu do sắc là chưa thấy, sắp thấy, đang thấy, thấy rồi, nếu do hành, là chưa hành, sắp hành, đang hành, hành rồi, vì sao sự khởi! Vì hủy giới ư? Vì quyến thuộc ư? Vì luống dối ư? Vì ganh ghét ư? Vì nhân nhượng ư? Vì khéo thiền ư? Vì Niết-bàn ư? Vì bốn đức ư? Vì sáu Độ, vì ba Tam-muội ư? Vì hằng sa Phật pháp ư? Như vậy khi quán đối với trần không thọ, đối với duyên không tác, nhưng đối với trần thọ căn nguyên, song chiếu phân biệt. Huyễn hóa và không, cho đến pháp tánh không ngăn ngại nhau. Vì sao? Vì nếu điều xấu ngăn ngại pháp tánh, pháp tánh lẽ ra bị phá hoại, nếu pháp tánh ngăn ngại điều xấu, thì điều xấu lẽ ra không được sinh khởi, phải biết điều xấu tức là pháp tánh, điều xấu khởi tức pháp tánh khởi, điều xấu dứt tức pháp tánh dứt.

Kinh Vô Hành chép: Tham dục tức là đạo, nhuế si cũng như vậy, trong ba pháp như vậy đầy đủ tất cả các pháp, như người lìa tham dục mà lại cầu Bồ-đề, thí như trời và đất, tham dục tức Bồ-đề. Kinh Tịnh Danh chép: Thực hành phi đạo, thông đạt Phật đạo, tất cả chúng sinh tức là tướng Bồ-đề, không còn đắc nữa, tức là tướng Niết-bàn, không còn diệt nữa, vì tăng thượng mạn nói lìa dâm nộ si gọi là giải thoát, không tăng thượng mạn nói tánh dâm nộ si tức là giải thoát. Tất cả trần lao là hạt giống Như Lai, núi biển sắc vị không hai không khác, tức quán các việc ác, lý không thể suy nghĩ bàn luận. Thường tu quán tuệ, tương ưng với lý xấu, thí như hình bóng, đó gọi là quán hạnh vị, đối với tất cả pháp ác, sản nghiệp thế gian, đều không chống trái với thật tướng, gọi là tương tự vị. Tiến nhập lần lượt phá cội rễ xấu, gốc là vô minh, gốc nghiêng đổ thì cành lá gãy, hiển hiện Phật tánh, đó gọi là phần chứng chân thật vị, cho đến các Đức Phật diệt hết nguồn gốc xấu ác, gọi là cứu cánh vị. Ở trong tham xấu đầy đủ sáu tức, ngang đầy đủ các độ, tất cả pháp nêu bày như trên… Tiếp đến quán sân tệ xấu, nếu người nặng nề sân hận, chứa đầy trong lòng, nối nhau thường sinh khởi, muốn dứt không dứt được, muốn hàng phục cũng không hàng phục được, phải nhậm vận theo sự khởi chiếu để quán, quán bốn thứ tướng sân từ đâu sinh, hoặc không thấy kia sinh cũng không thấy kia diệt, lần lượt mười hai việc sân từ đâu sinh, ai là người sân, sân là gì? Như vậy khi quán không được sân, dấu vết qua lại, tướng mạo vắng lặng. Quán sân mười pháp giới, quán sân bốn đức như trên nói… Đó gọi là đối với sân phi đạo mà thông đạt Phật đạo. Quán các thứ tệ: Phạm giới, biếng nhác, loạn tà, ngu si, v.v… và ngoài ra tất cả việc ác cũng giống như vậy.

Quán chẳng thiện chẳng ác, tức là pháp vô ký như mới mở mắt chào đời, do đó phải quán như đây. Có người căn tánh, tánh không làm lành, cũng không làm ác thì không tùy tự ý, nhân duyên xuất thế người này phải làm sao? Đại Luận chép: Trong vô ký có Bát-nhã ba-la-mật, tức được tu quán. Quán vô ký này cùng với thiện ác là khác hay đồng ư? Đồng thì chẳng phải vô ký, khác thì là ký diệt vô ký sinh, ký không diệt vô ký sinh, ký vừa diệt vừa bất diệt vô ký sinh, ký chẳng diệt, chẳng bất diệt vô ký sinh, ký vừa diệt vừa bất diệt vô ký sinh, ký chẳng diệt chẳng bất diệt vô ký sinh. Cầu ký không thể được, huống gì là vô ký, cùng với ký là đồng hay khác. Chẳng đồng cho nên không hợp, chẳng khác cho nên không tán, chẳng hợp cho nên không sinh, chẳng tán cho nên không diệt. Lại lần lượt trong mười hai việc từ chỗ nào sinh vô ký? Vì sao sinh vô ký? Cái gì là vô ký! Như đây khi quán đồng với tướng hư không. Lại một pháp vô ký sinh ra mười pháp giới và tất cả pháp. Lại nữa, vô ký tức pháp tánh, pháp tánh thường vắng lặng, tức là nghĩa chỉ, tịch mà thường chiếu tức là nghĩa quán. Đối với Vô ký phi đạo, mà thông đạt Phật đạo. Vô ký là pháp giới theo chiều ngang đạt được các pháp, dọc đạt được sáu vị, cao rộng đầy đủ, giống như trên nói. Lại nữa, chỉ y cứ vào điều lành tối hậu để nói về tùy tự ý, đây là thứ đệ ý. Nếu thiện ác đều nói tùy tự ý thì tức là đốn ý, nếu y cứ vào điều lành để nói về tùy tự ý, thì đây là bất định ý…

Lại nữa, bốn thứ Tam-muội phương pháp đều khác nhau, lý quán thì đồng, nhưng phương pháp tam hành phần nhiều phát sinh pháp môn trợ đạo. Lại động chướng đạo, tùy tự ý đã ít phương pháp, ít phát khởi việc đó, nếu chỉ giải phương pháp để phát sinh trợ đạo thì sự tướng không thể thông đạt, hoặc giải lý quán sự thì đều thông suốt. Lại không đắc lý quán ý, thì sự tướng trợ đạo cũng không thành, đắc lý quán ý thì sự tướng Tam-muội nhậm vận tự thành. Nếu sự tướng hành đạo nhập đạo tràng được dụng tâm, vượt ra thì không thể, tùy tự ý thì không gián đoạn. Phương pháp hạn cuộc có ba, lý quán không có bốn…

Hỏi: Ba thứ Tam-muội trên đều có khuyến tu, sao riêng ở đây lại không có? Đáp: Sáu tế phi đạo tức là giải thoát, độn căn chướng nặng nghe rồi quên mất. Nếu càng khuyến tu thì càng mất tôn chỉ, cứ theo phía Bắc dòng sông có người thực hành Đại thừa không, không cấm bắt rắn, nay sẽ nói vị Tiên sư kia đối với pháp lành thực hành quán trải qua thời gian lâu mà không thấu suốt, tâm buông thả hướng về pháp ác thực hành quán, đạt được chút định tâm mỏng manh không giải, không hiểu căn duyên, không thấu đạt ý Phật, toàn đem pháp này một bề dạy người khác, dạy người khác đã lâu nhưng chỉ có một hai người được lợi ích, như sâu ăn lá tình cờ thành chữ, liền cho là chứng cho là việc thật, còn ngoài ra là nói dối, cười nhạo người giữ giới tu điều lành, cho là phi đạo, chỉ dạy người làm nhiều việc ác, mắt mù không phân biệt phải trái, thần căn lại chậm phiền não lại sâu dày, nghe lời người nói, thuận theo dục tình, đều tin phục nghe theo, phế bỏ giới cấm, đều tạo tội chất chứa như núi, khiến cho trăm họ tiêu diệt như cỏ, Quốc vương đại thần nhân đó phá diệt Phật pháp, khí độc thâm nhập đến nay vẫn chưa sửa đổi. Sử ký chép rằng: Cuối đời nhà Chu, có người trùm đầu tóc, hở thân không nương theo lễ độ, thường đem binh xâm lấn các nước không dứt, hay bị thua do đó mà tổn thất, nhà Chu dần dần diệt vong. Lại họ Nguyễn đến, chiếm đoạt tài sản, tịch thu đất đai của nhà Chu, về sau con cháu trong làng đều học theo lễ độ, bọn tôi tớ bị nhục mới hiểu được lẽ tự nhiên, theo lễ phép trở về với ruộng vườn nhà cửa. Đó gọi là họ Tư Mã, dùng văn tự ghi chép việc xưa, sự hủy diệt đó cũng do nghiệp ma cao ngạo của nhà Chu. Đây chính là yêu quái phá diệt Phật pháp, cũng là thời đại yêu quái, đâu có liên quan gì đến ý tùy tự ý. Vì sao? Vì như người ngu tâm không có trí tuệ hiểu biết nên tin Bổn sư mình nói, lại mến chuộng sự thấu hiểu trước quyết cho là đạo, lại thuận tình cho là dễ, buông thả tâm ý, chọn lựa sự vui thích mà không sửa đổi mê lầm. Thí như Tây Thi vốn bị tâm bệnh, thường ưa nhăn mặt, trăm nét đẹp đều chuyển lại càng đẹp thêm. Có người nữ ở gần đó vốn rất tệ xấu, mà bắt chước Tây Thi nhăn mặt thì lại càng đáng ghét, người nghèo đi từ xa đến, người giàu đóng cửa. Người từ dưới huyệt sâu bay lên cao mà đi qua, những người kia cũng giống như vậy. Người ngông cuồng tạo nghiệp nặng, đọa vào địa ngục thật đáng thương thay! Đã ưa thích dục lạc không thể tự ngừng dứt, cũng như con ruồi vì bãi nước nhổ mà bị dính vào, người buông thả việc tu hành đại khái cũng giống như việc ấy, vị Bổn sư kia có lỗi không thấu đạt căn tánh, không hiểu ý Phật, Phật dạy tham dục tức là đạo. Đức Phật thấy căn cơ nên biết một hạng chúng sinh thấp kém phước mỏng, quyết không thể ở trong đường lành tu đạo; hoặc mặc cho tội kia trôi mãi không dứt, khiến cho đối với việc tham dục tu tập Chỉ Quán, không thể dừng được, cho nên đặt ra thuyết này. Thí như cha mẹ thấy con bị bệnh, không thích ứng với các thứ thuốc khác, phải là thuốc rồng vàng uống vào bệnh mới lành. Đức Phật cũng giống như vậy, nói pháp thích nghi với căn cơ chúng sinh, ngựa giỏi thấy bóng rọi thì liền chạy theo đường chính, tham dục tức là đạo, ý Phật như đây; nếu có chúng sinh không thích nghi với điều ác mà tu Chỉ Quán thì Phật dạy các điều lành gọi là Đạo. Phật có hai thuyết, nay ông tại sao quở trách thiện và ác, nếu như vậy thì ông hơn Phật, cùng ở trước Phật rõ ràng trái ngược, lại nữa thời tiết khó sinh khởi, việc vua buộc ràng không thể tu điều lành, khiến đối với điều ác mà tu tập Chỉ Quán. Nay ông không có nạn, không câu chấp, vì sao ý toàn dùng thuốc sữa để đầu độc tuệ mạng người khác? Trong kinh A-hàm chép: Người khéo biết việc chăn trâu khiến cho đàn trâu an ổn. Nếu ưa cứu giúp có nạn gấp mà không đạt được cho mình, nên theo giúp việc ác, giúp việc ác khó gấp trăm lần, không bằng một lần của việc lành. Nay ông không có việc may mắn đối với việc tốt cứu giúp điều lành như đuổi trâu, vì sao trong đường ác mình và người đều đắm chìm, phá hoại Phật pháp, làm tổn mất uy quang, lầm lẫn hệ lụy đến chúng sinh. Đại ác tri thức không hiểu ý Phật có lỗi lầm như vậy. Lại nữa, hai đường đều có năng thông, vì khó theo đường hiểm, thiện ác đều thông, quán xét căn cơ đi vào đường xấu, ông bỏ thiện chuyên ác, năng thông đạt phi đạo, sao không dẫm đạp trên nước lửa xuyên qua vách núi, đường hiểm thế gian còn không thể thông, huống gì hành ác, không hợp chánh đạo, đâu thể được ư? Lại không thể biết căn duyên ngay nơi một người, tức thời ưa thiện, tức thời ưa ác, sự ưa thích không nhất định, huống chi vô lượng người ư? Mà toàn dùng tham dục để giáo hóa người.

Kinh Tịnh Danh chép: Ta nghĩ hàng Thanh văn không quán căn cơ của người không nên nói pháp, hàng Nhị thừa không quán còn tự lầm chọn căn cơ, huống chi ông mù tâm loạn mắt không thấy ư? Tự mình trái với kinh, không thích ưng căn cơ nghĩa lý, vì sao lại mê hoặc ngu độn đến nỗi như vậy? Nếu thấy có người không biết cơ nghi, thực hành thuyết này thì đó là thây chết trong biển giới, phải y luật để tẫn trị, không để cho cây độc lớn lên nương gá. Lại nữa, xem xét hành động việc ác kia tức là thiên về tà, ông cho rằng tham dục tức là đạo rồi lăng nhục tất cả người nữ, mà không biết sân nhuế tức là đạo hại, tất cả người nam chỉ ưa thích xúc chạm trơn láng là đạo, sợ sự xúc chạm đánh tát thô rít thì không có đạo. Hành một không hành một, một có đạo, một không có đạo, si ám như bôi sơn cho dơ bẩn tổn hại, thí như thây chết làm hôi vườn hoa thơm v.v… khó mà thực hành khắp như trước; trước đem nước lửa, dao gậy đến trước người kia, người kia liền im lặng. Hoặc đáp rằng: Ông không thấy ta thường vào, đây là trái với tâm, lời nói không hổ thẹn, cũng không chứng đắc ý sáu tức, do đó phải thuyết như thế.

Ba hành pháp trên khuyên bảo sách tấn việc khó, cần phải khuyến tu, tùy tự ý hòa nhập vào việc ác, một phen đến thì dễ, cần phải răn cấm, như uống thang thuốc đại hoàng, được đầy đủ bổ khoẻ, v.v…

Hỏi: Trung đạo Chỉ Quán dùng một tâm ấy để hành dụng là đủ, đâu cần rắc rối bốn thứ Tam-muội, trải qua các việc thiện ác trải qua mười hai việc, nước đục thì ngọc mờ tối gió nhiều sóng vỗ, đâu có ích gì đối với sự lắng tĩnh ư? Đáp: Thí như người nghèo được chút ít tiện nghi cho là đủ, không còn ham muốn gì. Như một thứ quán tâm, nếu tâm có nhiều thứ thì sẽ không biết làm sao! Đây là tự hành là lỗi, nếu dùng để dạy người thì người đó căn tánh sai khác nhau, một người phiền não đã tự vô lượng, huống chi nhiều người. Thí như thầy thuốc gom tất cả các thứ thuốc để trị tất cả bệnh, một loại người bệnh thì cần một thứ thuốc để trị một thứ bệnh nhưng quái lạ thay nhiều thầy thì nhiều thuốc. Câu hỏi của ông cũng giống như vậy. Phiền não tâm bệnh vô lượng vô biên, như một người thì nhiều người cũng như vậy. Vì sao một người? Như người muốn nghe bốn thứ Tam-muội, nghe rồi vui mừng nói lại cho mọi người nghe, gọi là thế giới Tất đàn. Do nghe bốn thứ lần lượt tu hành, sinh ra pháp lành, tức nói đủ bốn, gọi là các các vị nhân. Hoặc nên thường ngồi để đối trị các việc ác, cho đến trong tùy tự ý đối trị các việc ác, đó gọi là đối trị Tất đàn. Người ấy phải đầy đủ bốn pháp, hoát nhiên chứng ngộ, gọi là Đệ nhất nghĩa Tất đàn. Chỉ vì một người còn phải nói bốn pháp, vì sao không dùng ư? Nếu vì nhiều người, một người ưa thường ngồi, ba người chẳng muốn, một người muốn thường đi, ba người chẳng muốn, muốn khắp đến mọi người, tức thế giới Tất-đàn, ba thứ Tất-đàn còn lại giống như vậy, lại y cứ một thứ Tam-muội, cũng đầy đủ ý của bốn Tất-đàn. Nếu ưa đi thì đi, ưa ngồi thì ngồi, khi đi nếu gốc lành khai phát nhập các pháp môn, khi ấy nên đi; nếu khi ngồi tâm địa mát mẻ, vui vẻ sung sướng thì khi ấy nên ngồi. Nếu khi ngồi mà hôn trầm thì nên đi cho phấn chấn, khi đi tán loạn làm động mệt nhọc khổ sở thì nên ngồi. Nếu khi đi mà tinh thần vắng lặng yên tịnh thì nên đi, nếu khi ngồi mà vắng lặng sáng suốt lợi lạc thì nên ngồi, ba thứ còn lại cũng giống như vậy… Hỏi: Khéo nâng đỡ lý có thể tu Chỉ Quán, ác trái ý làm sao tu Chỉ Quán? Đáp: Đại luận nói căn ngăn che có bốn: 1. Căn lợi không ngăn. 2. Căn lợi có ngăn. 3. Căn độn không ngăn. . Căn độn có ngăn. Câu đầu thuộc thượng phẩm, khi Phật còn tại thế ngài Thân Tử v.v… là hạng người ấy vậy. Người tu hành đối với pháp lành tu Chỉ

Quán, vì khuyến tu pháp lành đời vị lai không ngăn, thường tu tập Chỉ Quán khiến hạng lợi căn kia, hoặc quá khứ đầy đủ hai nghĩa này. Đời nay tu ít thì được tương ưng, từ quán hạnh vị nhập vào tương tự chân thật. Đời này không được nhập, đời trước không có hai nghĩa, nay y cứ vào sự tu điều lành khiến đời vị lai mau nhập, câu kế là đắc đạo, lợi căn mà tội chứa nhóm chướng sâu nặng, Xà Vương, Ương-quật thời Phật còn tại thế, rõ ràng là hạng người ấy. Tội nghịch ngăn trọng, phải vào địa ngục, gặp Phật nghe Pháp Hoát nhiên thành Thánh, do lợi căn cho nên ngăn che không bị chướng. Thời nay người tu hành đối với pháp ác tu Chỉ Quán, tức là ý này. Do khởi niệm ác cho nên đời vị lai có sự ngăn che, nhờ tu Chỉ Quán nên đời sau được lợi căn, nếu gặp được Thiện tri thức thì mau nhập chánh đạo, vì sao nói pháp ác trái lý, không chịu tu Chỉ Quán ư? Kế nữa độn căn không bị ngăn che, Châu-lợi-bàn-đặc khi Đức Phật còn tại thế là chỉ cho hạng người ấy. Tuy ba nghiệp không lỗi nhưng căn tánh quá chậm lụt, chín mươi ngày tụng kệ của Cưu-ma-la, người trí thân, miệng, ý không gây ra các nghiệp ác, thường buộc niệm hiện tiền không ham đắm các thú vui, cũng không chịu khổ hạnh vô ích của thế gian. Thời nay tuy giữ giới hành thiện nhưng không học Chỉ Quán thì đời vị lai tuy không bị ngăn che nhưng rất khó ngộ đạo .

Câu cuối: Tức chỉ tất cả người làm ác, lại không tu Chỉ Quán. Không tu Chỉ Quán nên không đắc đạo, người độn căn cho dù vì họ mà nói ngàn lần họ cũng ngớ ngẩn chẳng hiểu gì cả, phần nhiều gây ra tội ác, ngăn chướng nhiều mối, như người bị ghẻ lở dùng kim châm chích tận xương tủy mà vẫn không hay biết, chỉ dùng các việc ác mà tự trói buộc bên trong, do nghĩa này điều lành tuy trợ giúp lý đạo, nhưng do Chỉ Quán, điều ác tuy trái lý nhưng lợi căn phá sự ngăn che, chỉ có đạo là tôn quý, đâu thể cho rằng ác mà bỏ Chỉ Quán. Đại Kinh chép: Đối với giới mà hoãn thì không gọi là hoãn, nương vào hoãn mới gọi là hoãn. Lẽ ra nên nói đầy đủ rõ ràng thong thả gấp gáp bốn câu, hợp với thượng căn ngăn nghĩa, v.v…

Lại kinh chép: Thà làm Đề-bà-đạt-đa chứ không làm Phật Uấtđầu-lam-phất tức là nghĩa ấy. Nên siêng năng lắng nghe suy nghĩ tu tập, lúc đầu không dừng nghĩ, như người Bà-la-môn say cạo tóc, gái điếm đắp ca-sa…

Thứ ba là nói về đại quả báo thanh tịnh của Bồ-tát: Nói Chỉ Quán này, nếu tu hành trái với Trung đạo thì có quả báo hai bên, nếu tu hành thuận lý Trung đạo thì có quả báo cao quý nhiệm mầu, cho dù chưa thể vượt ngoài phần đoạn sinh tử nhưng có thể đạt được hoa báo cũng khác với bảy thứ phương tiện, huống chi quả báo chân thật ư? Bảy lớp thành thơm cầu bến như họa vẽ tức là tướng ấy. Nghĩa này ở trong lớp thứ tám, sau sẽ phân biệt rộng.

Hỏi: Theo thứ lớp thiền môn nêu rõ sự tu chứng và quả báo này tại sao có đồng có khác? Đáp: Tu gọi là tập hành, chứng gọi là phát đắc, lại tu gọi là tập nhân, chứng gọi là tập quả, đều tức sinh có thể đạt được. Nay nói về quả báo cách đời sau, do đó gọi là khác, hàng Nhị thừa chỉ có tập quả không có báo quả, hàng Đại thừa có đủ cả… Thứ tư là nêu chung đại cương các kinh luận. Nói là Chỉ Quán: Như người khéo dụng Chỉ Quán quán tâm, thì bên trong trí tuệ sáng suốt, thông đạt các giáo tiệm đốn, như chỉ một hạt bụi lấy ra quyển kinh Đại thiên, hiểu rõ hằng sa các Đức Phật trong nhất tâm, hoặc muốn bên ngoài lợi ích chúng sinh, phù hợp căn cơ để nói giáo, tùy theo người có khả năng lãnh nạp xứng với kia mà nói, cho đến khi thành Phật giáo hóa chúng sinh. Hoặc làm Pháp vương nói pháp đốn tiện, hoặc làm Bồ-tát, hoặc làm Thanh văn, trời, người, ma, quỷ, mười pháp giới hình tượng dối dương phát khởi, hoặc bị Phật hỏi mà đáp rộng nghĩa tiệm đốn; hoặc y cứ căn cơ hỏi Phật, Phật đáp chuyển pháp luân đốn tiệm, nghĩa đây đến lớp thứ chín sẽ nói rộng, trong nhiếp pháp cũng lược chỉ bày.

Thứ năm quy về chỗ rộng lớn, các pháp rốt ráo không. Nói là Chỉ Quán này, xét rằng keo dễ dính tay, mộng mị khó tỉnh, đối văn ngang ý tự cho là đúng, cạnh tranh chấp ngói cho là ngọc lưu ly, việc gần nói rõ mà còn không biết, huống chi mật giáo lý xa đâu thể không lầm, vì ý này cho nên phải luận về chỉ quy. Chỉ quy là tôn chỉ, ý nghĩa của văn, như các dòng nước chảy hướng ra biển, hơi lửa bốc cháy hướng lên hư không, hiểu được mật ý sâu xa thì không gì chướng ngại. Thí như vị đại thần có trí hiểu được mật ý của vua, nghe nói gì đều hiểu biết, đến địa vị Nhất thiết trí, hiểu được ý này tức là hiểu được chỉ quy. Chỉ là tự hướng đến ba đức, quy là dẫn dắt người khác đồng nhập vào ba đức, cho nên gọi là chỉ quy. Lại nữa, tự nhập ba đức gọi là quy, khuyên bảo người khác nhập ba đức gọi là chỉ cho nên gọi chỉ quy. Nay lại nói chung, nói riêng về chỉ quy, các Đức Phật vì một việc nhân duyên lớn mà xuất hiện ở đời, thị hiện các hình tượng, đều muốn chúng sinh đồng thấy Pháp thân, thấy Pháp thân rồi, Phật và chúng sinh đồng trở về Pháp thân. Lại, Phật nói các pháp đều giúp cho chúng sinh rốt ráo được Nhất thiết chủng trí của Như Lai, chủng trí đầy đủ rồi, Phật và chúng sinh đồng trở về Bát-nhã. Lại nữa, Phật hiện các thứ phương tiện thần thông biến hóa giải thoát các sự trói buộc, không muốn chỉ riêng một người được diệt độ, đã diệt độ rồi Phật và chúng sinh đồng trở về giải thoát.

Đại Kinh chép: Đặt các con trong kho bí mật, không bao lâu nữa ta cũng an trụ trong đó, đây gọi là tướng chung về chỉ quy. Tướng riêng: Thân có ba thứ. 1. Sắc thân. 2. Pháp môn thân. 3. Thật tướng thân. Nếu dứt hóa mà nói về quy thì Sắc thân quy giải thoát, thân Pháp môn quy Bát-nhã, thân Thật tướng quy Pháp thân. Bát-nhã thuyết có ba thứ: 1. Thuyết đạo chủng trí; 2. Thuyết Nhất thiết trí; 3. Thuyết Nhất thiết chủng trí. Nếu dứt hóa mà nói về quy thì trí Đạo chủng quy giải thoát, nhất thiết trí quy Bát-nhã, nhất thiết chủng trí quy về Pháp thân. Giải thoát có ba thứ: 1. Giải phược vô tri; 2. Giải phược thủ tướng; 3. Giải phược vô minh. Nếu dứt hóa mà quy chân thì giải mở phược vô tri quy về giải thoát, giải mở phược thủ tướng quy về Bát-nhã, giải mở phược vô minh quy về Pháp thân. Do nghĩa này nên tướng riêng chỉ quy cũng quy về ba đức trong bí mật tạng. Lại nữa, ba đức chẳng phải ba, chẳng phải một, không thể suy nghĩ bàn luận. Vì sao? Vì nếu nói Pháp thân chẳng Pháp thân là chẳng phải Pháp thân, nên biết Pháp thân vừa là thân vừa là chẳng thân, chẳng phải thân, chẳng phải chẳng phải thân. Trụ trong Thủ-lăng-nghiêm, thị hiện các thứ, làm ra các sắc tượng, cho nên gọi là Thân. Những điều đã làm đều quy về giải thoát. Trí tuệ chiếu soi các sắc, phi sắc, cho nên gọi là phi thân. Những điều đã làm đều quy về Bát-nhã, thân thật tướng chẳng phải thân sắc tượng, chẳng phải thân pháp môn, vì vậy cho nên chẳng phải thân chẳng phải chẳng phải thân. Những điều đã làm đều quy về Pháp thân, hiểu rõ ba thân không có tướng một khác, đó gọi là quy. Nói ba thân này không phải tướng một, đó gọi là chỉ, đều nhập bí tạng, cho nên gọi chỉ quy. Nếu nói Bátnhã thẳng Bát-nhã là chẳng phải Bát-nhã. Nên biết Bát-nhã vừa biết vừa chẳng biết, chẳng phải biết chẳng phải chẳng biết. Đạo chủng trí Bát-nhã biết khắp thế tục nên gọi là biết. Những điều đã làm đều quy về giải thoát, nhất thiết chủng trí Bát-nhã biết khắp chân đế nên gọi là chẳng biết. Những việc đã làm đều quy về Bát-nhã, nhất thiết chủng trí Bát-nhã biết khắp trong đó, cho nên gọi là chẳng phải biết, chẳng phải chẳng biết. Những điều đã làm đều quy về Pháp thân, thấu đạt ba Bátnhã không có tướng một khác, đó gọi là Quy. Nói ba Bát-nhã không có tướng một khác đó gọi là Chỉ, đều nhập vào bí tạng cho nên gọi là chỉ quy. Nếu nói giải thoát thẳng giải thoát là chẳng phải giải thoát. Nên biết giải thoát vừa giải thoát vừa chẳng giải thoát, chẳng phải giải thoát, chẳng phải chẳng giải thoát, phương tiện tịnh giải thoát điều phục chúng sinh không bị ô nhiễm nên gọi là Thoát. Những điều đã làm đều quy về giải thoát. Viên tịnh giải thoát không thấy chúng sinh và tướng giải thoát, cho nên gọi là chẳng phải giải thoát. Những việc đã làm đều quy về Bát-nhã, tánh tịnh giải thoát thì chẳng giải thoát, chẳng phải chẳng thoát, những điều đã làm đều quy về Pháp thân, hoặc thấu đạt hoặc giảng nói, ba thứ giải thoát này chẳng phải tướng một khác, đều nhập bí tạng cho nên gọi là chỉ quy.

Lại nữa, ba đức chẳng mới chẳng cũ mà mới mà cũ. Vì sao? Vì ba chướng làm chướng ngại ba đức, vô minh chướng ngại Pháp thân, thủ tướng chướng ngại Bát-nhã, vô tri chướng ngại giải thoát. Vì ba chướng trước có tên gọi, nên ba đức phá ba chướng. Nay mới bắt đầu được hiển hiện cho nên gọi là mới, ba chướng tức ba đức, ba đức tức ba chướng, ba chướng tức ba đức, ba chướng chẳng phải cũ, ba đức tức ba chướng, ba đức chẳng phải mới. Chẳng mới mà mới thì có phát tâm chứng đắc ba đức, cho đến rốt ráo đắc ba đức. Chẳng cũ mà cũ thì có phát tâm đối trị ba chướng, cho đến rốt ráo đối trị ba chướng. Mới chẳng mới, cũ chẳng cũ thì có ly tánh ba đức, nếu đạt chung ba đức chẳng mới chẳng cũ mà mới mà cũ, không có tướng một khác, vì người khác cũng như vậy, tức là chỉ quy về bí mật tạng. Lại nói ấy: Vô minh trước có tên gọi, Pháp thân là minh phá tan vô minh gọi là mới, vô minh tức minh, minh tức vô minh, vô minh tức minh, vô minh chẳng phải cũ, minh tức vô minh, minh thì chẳng phải mới. Vì thủ tướng trước có tên gọi là cũ, nên vô tướng phá tướng, vô tướng gọi là mới, tướng tức vô tướng, vô tướng tức tướng, đâu có gì mới, đâu có gì cũ. Nếu thấu đạt chung riêng mới cũ không có tướng một khác, nếu nói cho người khác nghe cũng giống như vậy, đó gọi là chỉ quy nhập bí mật tạng. Dọc ngang khai hợp đầu cuối v.v… cũng đều như vậy. lại nữa, chỉ quy cũng giống như vậy. Nghĩa là chỉ, chẳng phải chỉ, chẳng phải chỉ chẳng phải chẳng chỉ; quy, chẳng phải quy, chẳng phải quy chẳng phải chẳng quy, mỗi mỗi đều nhập vào bí mật tạng, lệ như trên có thể biết, chỉ là tự mình thực hành, chẳng phải chỉ là giáo hóa người khác, chẳng chỉ chẳng phải chẳng chỉ là không có tự tha, chỉ quy ba đức vắng lặng như thế có danh tự nào để nói bày, không biết dùng tên gì, gượng gọi Trung đạo thật tướng Pháp thân chẳng phải Chỉ chẳng phải Quán v.v… cũng lại gượng gọi Nhất thiết chủng trí bình đẳng đại bi Bát-nhã ba-la-mật quán v.v… cũng lại gượng gọi Thủ-lăngnghiêm định Đại Bát-niết-bàn bất khả tư nghị giải thoát chỉ v.v… Phải biết các thứ tướng, các thứ thuyết, các thứ thần lực, mỗi mỗi đều nhập vào Bí mật tạng. Thế nào là chỉ quy, chỉ quy về chỗ nào! Ai là người chỉ quy? Đường ngôn ngữ bặt, chỗ tâm hành diệt, vắng lặng hoàn toàn như hư không, đó gọi là chỉ quy, đến lớp thứ mười sẽ nói rộng.

Print Friendly, PDF & Email
Did you find apk for android? You can find new Free Android Games and apps.