Want create site? Find Free WordPress Themes and plugins.

MA HA CHỈ QUÁN

SỐ 1911

QUYỂN 09

Đại sư Trí Giả ở núi Thiên Thai đời Tùy giảng.
Đệ tử là Quán Đảnh ghi chép.

Phần Đầu

Thứ sáu: Quán Cảnh thiền định: bệnh hành lâu ngày làm ngăn chướng thiền định. Lập Thế A-tỳ-đàm chép: nhiều việc tranh chấp, nhiều việc lăng xăng cũng ngăn chướng thiền định, lại có người đọc tụng nhiều cũng là ngăn chướng thiền định. Kinh Văn-thù-Vấn Bồ-đề chép: thiền định có ba mươi sáu cấu: cấu tức là chướng, các cảnh trên được nhập vào ao mát mẻ, nhập vào dòng ấy rồi thì không cần quán nhiều cảnh, nếu việc ma tuy vượt qua rồi mà chân thật chưa phát sinh, tuy không biệt tu, vì thông tu nên phát lỗi lầm, bỏ sự tu tập thì các thiền hiển hiện lẫn lộn, phải dứt bỏ việc ma để quán các thiền. Vì sao? Vì thiền ưa tốt đẹp, vui vẻ sinh đắm, vì dơ bẩn ngày càng tăng, nếu cho đó là đạo thì rơi vào tăng thượng mạn, nếu chê trách bỏ đi thì hoàn toàn mất phương tiện, các lỗi như thế không thể ghi chép đủ. Tuy tránh khỏi ma hại lại bị định trói buộc, như tránh lửa rơi vào nước, vô ích Tam-muội, do nghĩa này cho nên phải quán cánh nhiều, các định thiền tri có năng lực giúp đạo, kinh Đại thừa Tiểu thừa đều cùng khen ngợi, như bốn thiền tám định Tỳ Đàm, Thành Thật đều nêu rõ ràng xác thực, tự trách của chín thiền, địa trì Thập địa rất là rõ ràng. Nay cũng tóm được chỉ bày tướng kia phát sinh: tướng thô chia làm bốn ý: một Nói về khai hợp. hai Nhân duyên phát sinh. ba Nói về pháp tướng. bốn Tu Chỉ Quán.

1. Nói về khai hợp: thiền môn vô lượng lại y cứ mười môn: một Bốn thiền căn bản. hai Mười sáu đặc thắng. ba Thông minh. bốn Chín tưởng. Năm Tám bối xả. sáu Đại bất tịnh. bảy Từ tâm. Tám Nhân duyên. 9 Niệm Phật. 10 Thần thông. Mười môn nay và năm môn trước cộng thành 11 môn, vì sao lại có đồng có khác? Chỉ có khác khai hợp thôi! Khai năm làm mười ấy: khai sổ tức xuất đặc thắng, thông minh, khai bất tịnh xuất bối xả và Đại bất tịnh, từ tâm nhân duyên giữ gốc, niệm Phật môn, luận Tỳ-Đàm gọi là cõi phương tiện, Thiền kinh xưng niệm Phật, đây cũng giữ gốc, thần thông y cứ vào chín thiền phát sinh không nhân duyên, dựa vào một pháp, hợp mười lăm môn thành mười là: sổ tức, bất tịnh mỗi thứ đều có ba thì không hợp, từ tâm có ba chỉ hợp làm một, tức chúng sinh từ. Mật hai tên: thiền là cửa ngõ giải thích thứ lớp Pháp sự, pháp duyên là Nhị thừa nhập lý quán, vô duyên là Đại thừa nhập lý quán, mất lý bỏ hai, sự chỉ còn một. Nếu khai thì thuộc về hai cảnh Nhị thừa và Bồ-tát. Nhân duyên cũng có ba môn, ba đời luân chuyển thô, quả báo một niệm làm sáng tỏ nghĩa tế, vì tế cho nên phụ lý, vì thô cho nên thuộc sự, nay mất tế còn thô, chỉ gọi môn ba đời. Niệm Phật cũng có ba, chỉ lấy niệm ứng thân Phật. Thần thông chỉ lấy năm thông, nếu chỉ lấy năm thông thì có chỗ không thâu tóm, nếu chấp mười lăm thì nghĩa không xen lẫn nơi lý, cho nên tóm lược lý khai sự, tuy khai hợp khác nhau nhưng mỗi thứ đều có ý riêng. Tiếp đến nói rõ lậu vô lậu, nếu ý theo sự phân tích của luận Tỳ-Đàm thì mười thiền này đều gọi là hữu lậu, duyên đế trí tu gọi là thiền vô lậu, nếu không như vậy, chỉ duyên sự tu thì gọi là thiền hữu lậu, Thành luận cũng vậy! Căn bản v.v… là hữu lậu, không vô tướng tâm tu gọi là Vô lậu, nay có khác kia chút ít, nên thể tướng của mười thiền là hữu lậu, chung là sự thiền. Nếu quả bí ngô có thể chữa bệnh nhiệt mà tạo nhân duyên thì phải phân biệt chút ít, Bốn thiền thế gian vốn có cả phàm phu ngoại đạo, thì duyên tu này chỉ phát hữu lậu, tự thực hành mười hai môn, khen ngợi hóa tha, khen ngợi pháp. Đại kinh chép: bốn mươi tám năm tức là ý này. mười sáu đặc thắng và thông minh: Khi Phật chưa ra đời phàm phu lợi căn cũng tu thiền này mà không phát vô lậu, nếu Đức Như Lai nói cũng phát vô lậu, so với các thiền khác năng lực tuy yếu nhưng mà hơn căn bản, do nghĩa này nên gọi là vừa hữu lậu vừa vô lậu. Chín tưởng v.v… là khách pháp xuất thế, tuy là sự pháp nhưng nhưng có công năng ngăn phòng lỗi của dục, như Ca-Hy-Na năm trăm vị La-hán. Mỗi vị giảng nói cho nghe bảy lần tức đế mà không ngộ đạo, sau Phật nói về pháp bất tịnh, ngài liền sinh tâm vô lậu, nhàm chán bệnh tật, sức khỏe mạnh mẽ, cho nên xếp vào vô lậu. Nếu nói chẳng phải vô lậu thì không nên gọi là Thánh giới định tuệ.

Lời nói của Thánh là chính, chính đâu hơn vô lậu! Đại kinh chép: Thánh hạnh là cảnh giới của các Đức Phật, hàng Nhị thừa chẳng biết được, Phật nói pháp này hàng Nhị thừa vâng làm nên gọi là Thánh hánh hạnh. Nay Phật nói Thánh pháp hành Nhị thừa thực hành thì sao lại gọi là chẳng phải la vô lậu được ư? Lại trong Đại phẩm chép: căn bản là pháp thí thế gian, bất tịnh v.v… là pháp thí xuất thế gian, đã nói xuất thế đâu chẳng phải vô lậu, lại nói ràng; chín tưởng khai bất tịnh, bất tịnh khai thân niệm xứ, thân niệm xứ khai ba niệm xứ, ba niệm xứ khai ba mươi bảy phẩm, ba mươi bảy phẩm khai Niết-bàn, sơ duyên của Niết-bàn đâu chẳng phải vô lậu ư? Nếu nói sự thiền thì lẽ ra là hữu lậu, thí như cầm hai cục đá một nóng một lạnh, tuy đồng là sự thiền mà lậu vô lậu có khác, nếu duyên vô lậu gọi là vô lậu thì Lục địa dứt kiến hoặc, Thất địa dứt tư hoặc, không bao giờ chỉ dùng căn bản hội mà phải đế trí ký khác vào giai vị này phát sinh, riêng dùng căn bản chẳng phải duyên vô lậu, bất tịnh v.v… không phải như vậy. Thẳng dùng bất tịnh có khả năng làm duyên v.v… sở dĩ không chấp mười tưởng là do trước hết là ba kiến đế, giữa là bốn tư duy, sau cùng là ba vô học, đều thuộc lý thâu nhiếp cho nên không chấp. Không chấp tám niệm: có người tu chín tưởng không sợ hãi lại pháp môn niệm Phật đã thâu nhiếp cho nên không chấp, quán từ tâm cả hai đều thuộc, nếu ý căn bản khởi từ thì thuộc hữu lậu, nếu ý bất tịnh v.v… khởi từ thì thuộc vô lậu, từ không có địa vị giai cấp, y cứ vào địa vị giai cấp thì y căn bản thành chúng sinh duyên, y bối xả thành pháp duyên, nhân duyên cũng không có tha vị, niệm Phật ngũ thông đều căn cứ vào giai cấp của người khác, chẳng hạn như từ tâm cả hai đều sơ thuộc, v.v… kế là nguyên nhân phát sinh vấn đề là khác nhau.

Hỏi: trong mười môn này vì sao có chỗ đồng có chỗ khác với thứ lớp thiền môn cho đến đối trị? Đáp: thứ lớp thiền môn là thành thiền bala-mật, vì thiền có gốc lành bén nhạy nên thiền môn trước hết phát, sau mới xem xét thiện ác, trong đây là thành Bát-nhã, thiền thiện căn độn, trước ngăn cản phiền não gặp nghiệp ma, sau mới phát sinh thiền, trong đối trị là phá chướng ngại tu thành trợ đạo, nay đây nhậm vận tự phát sinh nhưng vẫn là quán cảnh, thiền môn tuy đồng nhưng đều có ý này.

1) Kế là nói về sâu cạn khác nhau: Bốn thiền là căn bản ám chứng vị thiền, phàm Thánh cùng tu liền được. Đặc thắng: ít có quán tuệ, không vị không ám chứng, ngang đối niệm xứ , dọc đối căn bản, cho nên trước hết là vị, kế đến là tịnh, thông minh quán tuệ chứng tướng sâu kín, kế là nêu chung, ba thứ này đều là căn bản thật quán, năng lực dứt hoặc yếu kém, chính tưởng chính là môn ban đầu của giả tưởng, trước hết là hàng phục dục cho nên nêu ra theo thứ lớp, chín tưởng chỉ nhàm chán cảnh bên ngoài chứ chưa trị được trong tâm, cho nên kế là tám bối xả. Bối xả tuy phá ba dục trong ngoài nhưng chung mà chưa riêng, duyên bên trong không được tự tại cho nên kế là nói về đại bất tịnh phá sự tham nơi y báo, chánh báo. Tuy chung riêng trị tham mà chưa tu đại phước đức cho nên kế là từ tâm, tuy là trong trị tham năng ngoài tu phước đức nhưng không nhập nhân duyên thì chẳng phải chánh kiến thế gian, cho nên kế là nhân duyên, trôi lăn ba đời, vô chủ vô ngã, thành chánh kiến thế gian. Tuy là chánh kiến thế gian, duyên theo nhân ở dưới năng lực phước đức con người yếu kém, kế là duyên quả ở trên năng lực phước đức rộng lớn, tuy các định từ trước đến nay chưa có lực dụng nhưng chuyển biến tự tại, cho nên kế là nói thần thông v.v… kế là phát sinh lẫn nhau không đồng, về thứ lớp phát sinh lẫn nhau gồm có tám thứ, lệ theo cảnh ấm giới có thể biết v.v…

2) Nói về nhân duyên phát thiền: Đại kinh chép:

Tất cả chúng sinh đều có Sơ địa vị thiền, hoặc tu, không tu, nhất định sẽ đắc, tình gần mà trong kiếp hết không tu, suy tìm lâu xa thì cũng từng lìa cái. Thí như tụng kinh, bỏ gần thì dễ tập, bỏ lâu thì khó tập, nên biết xưa có thứ lớp tập, tức thứ lớp phát, cho đến sự tu, sự phát v.v… Như mặt đất kia chủng loại đầy đủ, được hơi mưa thấm nhuần thì các chủng loại sinh sôi nảy nở, sinh cũng trước sau nên kết quả không đều, mai bốn đào bảy, lê chín hồng mười, duyêm mưa tuy đồng mà thành thục có khác, thói quen cũ như một hạt giống, Chỉ Quán như mưa, thiền phát như quả chín không đều, nói chung là có tám thứ thôi! Đó gọi là nhân duyên phát sinh bên trong. Lại nữa, tuy có điều lành nên sinh, phải nhờ oai thần mới khai phát, đất tuy có hạt giống mà không có mặt trời thì không nảy mầm, Đức Phật không còn thương ghét thiên lệch, tùy duyên làm lợi ích cùng khắp, hoặc thứ lớp duyên tức thứ lớp gia tăng, cho đến sự duyên tức sự gia tăng, chuông lớn mặt tình đánh, lớn nhỏ là do dùi, thêm thường bình đẳng, cạn sâu theo lắng nghe tu đạo, Đại luận chép: Hoa sen trong ao nếu không có mặt trời che chở thì sẽ chết không nghi ngờ gì, người tốt không được che chở thì sẽ chìm đắm không ngoi lên được. Kinh Tịnh Độ chép: chúng sinh tự độ, đức Phật đối với họ không có lợi ích gì. Tịnh Độ Bồ-tát nói: Nếu chúng sinh không nghe mười hai bộ Kinh của Phật thì làm sao được độ, hai lời nói tuy trái nhau nhưhg cùng thành một ý, đó gọi là duyên bên ngoài phát.

3) Nói về tướng phát sinh của các thiền: như bát-chu cũng phát căn bản mà ít, thường ngồi, v.v… Thì nhiều, nay lại căn cứ vào ngồi mà nói. Nếu thân ngay ngắn, tâm thâu nhiếp, hơi thở điều hòa thì biết tâm này rộng lớn nhưng vắng lặng, tùy thuận yên ổn nhẹ bước mà vào, tâm này ở tại duyên mà không chạy rong ruổi tán loạn, đây gọi là thô trụ, từ đây trở về sau tâm thỏa đáng an ổn hơn trước, gọi là tế trụ, hai tâm trước sau trung gian phải có cách giữ thân, cách này khởi tự nhiên thân thể ngay thẳng, không mỏi mệt, không đau đớn, giường như có vật phụ giúp cho thân. Nếu khi điều ác đến thì khẩn cấp gấp rút, khi điều ác đi thì chậm rãi mệt nhọc, đây là hạng người thô ác trì pháp. Nếu ưa trì pháp thì thô tế trụ không quá nhanh quá chậm, hoặc 1-2 giờ, hoặc 1-2 ngày, hoặc 12 tháng, lần lần biết sự sâu nhiệm, hoát nhiên tâm địa thành một phần thông minh, thân như mây nhóm, như bóng hiện rõ ràng sáng suốt thanh tịnh, tương ưng với định pháp, giữ tâm bất động, hoài bão tịnh trừ sáng sủa vắng lặng, thuận theo không tịnh, vẫn thấy tướng thân tâm, chưa có công đức nhiều, đó gọi là dục giới tịnh, Thành luận gọi đây là tâm tương ứng với thập thiện ánh, chớp lóe không được lâu dài. Nay nói dục giới mới phôi thai yếu kém không vững chắc gọi là ánh chớp, chẳng phải định như ngọn lửa. Lại gọi là điện quang: luận kia nói rằng: ngoài bảy còn có định phát sinh vô lậu không? Đáp rằng: có dục giới định năng phát vô lậu, vô lậu phát nhanh như ánh chớp, nếu khi không phát vô lậu trụ thì lâu dài. Kinh Di Giáo chép: nếu thấy ánh chớp thì tạm được thấy đạo. Như A-nan sách tấn tâm không phát, buông thả tân thong thả gối đầu liền nhập vào ánh chớp, cũng như kim cương, kim cương không lẻ loi trơ trọi, nhân cõi Dục mà nhập vô lậu, vô lậu phát nhanh như ánh chớp, chẳng phải định cõi Dục mà được tên gọi này. Trụ định cõi Dục hoặc trải qua năm tháng, định pháp giữ tâm, không biếng nhác, không đau đớn, nhiều ngày không ra ngoài cũng được, từ đó về sau tâm diệt hết, một phen chuyển trống không suốt, không thấy y phục giường chiều đầu thân trong định cõi Dục, cũng như hư không an ổn vững vàng, thân là sự chướng, sự chướng đời vị lai, chướng đi thân không thì vị lại được phát sinh, đó gọi là chưa đạt đến địa tướng, người không biết, đắc định này cho là Vô sinh pháp nhẫn, tánh chướng vẫn còn, chưa nhập Sơ thiền đâu được lầm xưng là vô sinh định cư? Như trò che lấp lửa, người ngu khinh thường dẫm đạp lên bị bỏng chân, nếu theo Thành luận thì không có vị lai thiền, cho nên nói: Ông nói vị lai thiền e chẳng phải định cõi Dục của ta, Tỳ-Đàm thì có Tôn giả Cù-sa, Thích luận nêu ra đầy đủ. Đức Phật nói rõ hai thuyết-mà luận chủ riêng bày tỏ, nay thì tùy theo người phê phán tự có được định cõi Dục, trải qua nhiều tháng trụ mà chưa đạt đến, không bao lâu liền nhập Sơ thiền, đây chỉ gọi cõi Dục chứ không nói chưa đạt đến, có người trú ở cõi Dục không lâu, còn chưa đạt đến, trải qua năm tháng, cho nên nói vị đáo, không gọi là cõi Dục, có người đầy đủ lâu dài hai pháp cho nên nói hai định, không thể phê phán thiên lệch, nay y đại luận nêu ra đầy đủ. Nếu trong mỗi tiếc có tướng tà chánh, như trong tu chứng có nói, nhưng Sơ thiền cách cõi Dục rất gần, như cương giới nhiều tai nạn cần phải lược biết, ban đầu từ thô trụ, rồi đến phi tưởng, có bốn phần chung: Thối hộ trụ tiến. Phần thối lại có hai: một Nhậm vận thối. hai Duyên xúc thối. Duyên có trong ngoài, các phương tiện bên ngoài có hai mươi lăm thứ cho ra nạp vào không chừng đổi, đó gọi là ngoại duyên xúc thối. Về sau hoặc tu đắc, hoặc tu không đắc, hạng người này rất nhiều. Phần Hộ: khéo do phương tiện trong ngoài, sẽ hộ định tâm không để cho tổn mất. Phần trụ: Hoặc nhân giữ gìn yên ổn không mất, hoặc tha hồ tự trụ, tức là phần trụ. Phần tiến: Hoặc mặc sức tiến, hoặc khuyên bảo sách tấn tiến, điều có ngang dọc, ngang dọc điều có tiệm đốn, như mười hai môn, mỗi mỗi tiến lên đó gọi là tiệm tiến, hoặc một thời mà đầy đủ, đó gọi là đốn tiến, đặc thắng và thông minh mỗi phẩm đều phát, đó gọi là ngang tiệm. Trong cùng một lúc đều phát gọi là ngang đốn, trong mỗi một phần điều có bốn phần, đủ như trong phần tu chứng nói v.v… Nay lại y cứ chiều dọc mà luận về phần tiến: Từ khi chưa đạt đến định dần thấy thân tâm rỗng suốt vắng lặng, trong không thấy thân, ngoài không thấy vật, hoặc trải qua một ngày cho đến tháng năm định tâm không hoại, ở trong định này liền thấy thân tâm nhẹ nhàng, xoay vần mà động, hoặc phát sinh biến động, ngứa ngáy nặng nhẹ, lạnh nóng trơn rít. Có người nói: Dụng tâm vi tế, tịnh sắc ở cõi Sắc xúc chạm thân cõi Dục, chẳng hạn như tịnh sắc cõi Dục ở trong các căn thì có tác dụng thấy nghe. Nếu nương nghĩa ấy là sự xúc chạm từ bên ngoài, nếu nói tất cả chúng sinh đều có vị thiền Sơ địa, như đứa trẻ mù nhà giàu, như trong tre có lửa, trong tâm phiền não mà không sinh khởi, thiền cũng giống như vậy. Sự chướng thô ngại không thể phát khởi, nay tu tâm dần dần bén nhạy, tánh chướng đã trừ, pháp tế vẫn khởi, không hẳn từ ngoài đến. Vì sao? Vì quán sổ tức có khả năng chuyển tâm, tâm chuyển lửa, lửa chuyển gió, gió chuyển nước, nước chuyển đất, bốn đại chuyển tế cho nên có tám xúc, như lúa mạch biến thành men rượu, men rượu biến thành cặn rượu, cặn rượu biến thành rượu. Cặn dụ cho dục định, rượu dụ cho Sơ thiền, vì lúa mạch là gốc chẳng phải từ ngoài đến. Nếu nhất định chấp tự xuất từ ngoài đến thì rơi vào lỗi tự tha tánh, nay y theo trung luận phá bốn tánh đã xong mà nói về trong ra ngoài đến. Lại nữa, tám xúc là bốn đại: Động nhẹ là gió, ngứa ấm là lửa, lạnh trơn là nước, rít nặng là đất, thể dụng tướng thêm lên thì có tám xúc. Nếu khi động xúc chạm khởi, hoặc từ đầu lưng xương eo đến chân v.v… dần dần khắp toàn thân, trong thân giác động bên ngoài không tướng động, dường như gió phát, vận chuyển vi tế, từ đầu đến chân nhiều thành thối phần, eo lưng phát thành trụ phần, chân phát nhiều là tiến phần, động xúc có nhiều công đức. Công đức nói lược có mười thứ: không, minh, định, trí, thiện tâm, nhu nhuyến, hỷ, lạc, giải thoát, cảnh giới tương ưng.

Không: Khi động xúc phát thì không tâm rỗng suốt, không đồng với tánh trước khi chướng ngăn mé vị lai. Minh: trong sáng tốt đẹp, sáng suốt không thể ví dụ. Định: Nhất tâm an ổn, không có tán động. Trí: không còn bị mê mờ tối tăm nghi ngờ, tâm được giải thoát vắng lặng. Thiện tâm: biết hổ thẹn kính tin, ta lấy làm hổ thẹn vì không hiểu được pháp này, nay ta còn như vậy, kính tin pháp sâu xa nhiệm mầu tất cả các bậc hiền Thánh, cung kính vái chào vô lượng.

Nhu nhuyến: lìa cõi Dục nước mắt chảy dài như da trâu tùy ý co giãn. Hỷ: đối với pháp đã được sinh tâm vui mừng. Lạc: xúc chạm pháp tâm lặng lẽ vui vẻ ưa thích tốt đẹp. Giải thoát: không còn năm cái. Tương ưng: tâm cùng động xúc, tương ưng các công đức, không loạn động. Lại nhớ nghĩ giữ gìn tương ưng mà không quên mất, hoặc một ngày, một tháng, một năm an ổn lâu dài buộc niệm liền đến, huấn tu đã lâu thì động xúc phẩm trật chuyển sau, đó gọi là dọc phát, bảy thứ còn lại là ngang phát, lệ theo đây có thể biết. Nếu động xúc phát rồi, hoặc tạ hay chưa tạ, lại phát lãnh xúc, hoặc tạ hay chưa tạ, lại phát các xúc còn lại giao nhau ngang dọc như tám thứ trước, đó gọi là ngang phát. Tuy là ngang dọc trước sau, dùng tám xúc mười công đức năm chi quán, không hề tính toán lẫn lộn, cũng không được nhất niệm đều hành. Vì sao? Vì tám xúc, bốn đại nước lửa chống trái nhau, không được đồng thời thành, tên gọi tuy đồng mà sự vui vẻ có khác, vị riêng lại khác, sáu xúc còn lại cũng khác nhau. Nếu trong định cõi Dục, phát tám xúc thì điều là tà xúc, bệnh phiền não xúc đầy đủ nhưng trong tu chứng nói, nay không luận, chỉ căn cứ Sơ thiền tám xúc nên phân biệt tà chánh. Vì sao? một là biên địa cách cõi Dục gần, hai ở cõi Dục tâm tà được tùy nhập, như mở cửa thì giặc liền tiến vào, quỷ nhập trong thiền, thiền chẳng phải quỷ, nếu người không biết thì chánh xúc bị hoại, chỉ còn lại tà ác, tà xúc ấy lại y cứ vào tám xúc, mười công đức nói hoặc lửa, hoặc không bằng, như khi động xúc khởi thì thẳng như vậy uất kết, không chậm, không nhanh, trong thân vận động, nếu xa tự mình nhanh gấp, tay chân quào gãi là thái quá, nếu đều không động, như bị trói buộc cho nên không bằng, ngoài ra lãnh noãn v.v… cũng như vậy. Lại y cứ mười thứ động xúc không minh, luận nếu hơn hoặc không bằng, không trong đây chỉ thông suốt không ngăn ngại, đó là chánh không, nếu vắng lặng hoàn toàn, đều không giác biết là thái quá, nếu âm ĩ làm ngăn ngại là không bằng. Minh: Như trăng trong gương rõ ràng sáng suốt, nếu như ban ngày hoặc thấy các mầu sắc các ánh sáng là thái quá, nếu theo đuổi làm tan động muôn cảnh thì đó là không bằng, cho nên tương ưng cũng như vậy, đó là trong một xúc có mười hai thứ tà tướng, bảy xúc còn lại hợp với trước thì có 10 tà pháp, vốn là chánh thiền không có tà thiền, sở dĩ có ấy là như uống cỏ xương bồ sẽ được năng lực thuốc mà nhiều sân, uống hoàng tinh sẽ được sức khỏe mà nhiều dục, chẳng phải thuốc làm cho như vậy, thuốc suy ra là thô pháp, thô pháp sẽ có ra sự hưng thịnh. Nếu riêng trong cõi Dục chỉ có tà xúc thì làm tăng thêm bệnh, tăng thêm cái, không có công đức chân chánh, nếu nhập định cõi Sắc thì động mười công đức của tám xúc không, minh, lại có 10 pháp tà không thể không biết. Đại luận chép: có loại gió có thể thành mưa, có loại gió có thể làm tạnh mưa, động bắc mây nhóm tây nam mây tán, thiền cũng giống như vậy. Hiểu biết được tám xúc mười công đức này thì thành thiền, biết được 10 phát tà này thì hoại thiền, nếu một pháp tà có tà thì các pháp khác cũng đều đắm nhiễm, thí như có một người bạn làm giặc thì các bạn khác cũng đều bị điều ác huân tập, nếu xúc ban đầu không tà thì các pháp còn lại cũng đều là thiện. Năm chi chánh thiền: Nếu xúc ban đầu chạm thân ở tại duyên thì gọi là giác, tâm vi tế phân biệt tám xúc và mười quyến thuộc gọi là Quán, mừng vui xưa chưa được mà nay được cho nên gọi là hỷ, nét mặt vui vẻ gọi là lạc, vắng lặng gọi là nhất tâm. Luận Tỳ-đàm nói có hai mươi ba tâm sở đồng thời đều phát, chấp kia mạnh phân chia làm năm chi, năm chi đều là định thể, tiền phương tiện của thể như trên nói. Thành luận nói năm chi trước sau theo thứ lớp mà khởi; bốn chi là phương tiện, chi nhất tâm làm định thể. Có người nói: năm chi ở tâm thứ chín cõi Dục, hoặc nói ở cõi Dục trước định, đây thì chẳng phải năm chi. Nay phân biệt giác quán đều là thiền, chính là căn cứ vào Sơ thiền mà phân chia, đâu được như thế ư? Năm chi đồng khởi mà có tướng mạnh yếu che lập thành tựu để phân tích năm chi, như đánh một tiếng chuông ban đầu thô giữa tế khác nhau, năm chi cũng như vậy; duyên ban đầu giác tướng hưng thịnh không ngăn ngừa đã có bốn chi như quán, giác quán mạnh quán chưa rõ ràng, giác dứt quán mới rõ ràng, ban đầu đã có hỷ giác, dứt hỷ chi mới thành, ban đầu đã có lạc, lạc chưa thích hỷ dứt thì lạc thành, ban đầu đã có nhất tâm bốn chi biến động, nay lạc tạ nhất tâm thành, như ban đầu mở kho báu giác là vật báu, cũng biết trân quý hỷ lạc định tưởng, nhưng chưa biết những gì là vật báu. Kế là phân biệt vàng bạc, phân biệt rồi lãnh nạp sinh hỷ, hỷ cho nên thọ lạc, lòng an ổn vui sướng như người ăn no không cần gì nữa, cũng như đối với năm dục rất ham muốn ngủ, cho nên luận nói rằng như người được kho báu v.v… Nếu bốn thiền đồng lấy chi nhất tâm làm thể tại sao có bốn thứ khác nhau? Nay phân biệt Sơ thiền là giác quán nhất tâm cho nên có bốn thứ khác nhau, nên tiến lên Nhị thừa chỉ quở trách giác quán Sơ thiền thì nghĩa hoại biệt càng sáng tỏ, nếu thông cùng dùng nhất tâm làm thể, giải thích năm chi danh nghĩa tương đồng, đầy đủ nơi tu chứng, v.v…

Lại nữa, ban đầu động tám xúc công đức vẫn còn thô, nếu thường thường phát thì chuyển biến rất bén nhạy, phẩm thì nói ba hoặc nói chín, hoặc vô lượng phẩm lẫn nhau vui chơi, công đức nhóm họp, ồn náo không được nhất tâm, như thường đánh đàn, dường như nhiều người khách ứng đối một mình ta, một mình ta lại đến, xuất tán tạm không, thúc liễm lại hiện, nếu muốn bỏ chỉ quở trách giác quán. Sơ thiền hết rồi liền phát đơn định trung gian, cũng gọi là chuyển tịch tâm, cũng gọi là thối thiền địa, cũng gọi là tiết tâm, đối với đơn này trong tịch tâm đã mất phần hạ, chưa phát phần thượng, nếu không hối hận thì bên trong thanh tịnh liền phát, không còn tám xúc thọ nạp phân biệt, cho nên gọi là nhất thức định. Lẫn lộn bốn đại sắc thành một tịnh sắc, chiếu soi tâm chuyển thành thanh tịnh, cùng với hỷ đều phát, không còn tướng tà ma vì chẳng phải biên cảnh, hỷ đã sinh lạc, lạc tạ nhập nhất tâm, thiền này hỷ làm biến động, lạc không yên ổn, nên phải quở trách hỷ, hỷ tạ nhập chưa đều, bỗng phát Tam thiền, cùng với lạc đồng khởi, lại sắc pháp này càng vi diệu, không dựa vào hỷ mà sinh lạc, đây chính là thọ lạc khắp thân, bậc Thánh có thể xả, phàm phu rất khó xả. Đây có năm chi: đó là xả, niệm, tuệ, lạc, nhất tâm, kinh luận nê ra hoặc trước hoặc sau đều là tu hành chỉ có khác chút ít thôi. Lạc này đối với khổ, quở trách lạc thì bỏ cũng có chưa đến, chưa đến bỏ rồi thì phát tịnh bất động, lại sắc pháp này càng diệu, không bị khổ lạc làm xao động gọi là tịnh bất động, định pháp an ổn, hơi thở ra vào dứt, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh nhất tâm chi, tuy vậy cũng là sắc pháp, trách ba thứ sắc, diệt ba thứ sắc, duyên Không, được định, không còn thấy sắc, tâm được thoát sắc như chim ra khỏi lòng, đó gọi là Không định. Định này dứt rồi cũng nhập vi đáo, duyên thức sinh định gọi là thức xứ, định này dứt rồi duyên vô sở hữu, nhập vô sở hữu pháp tương ưng gọi là bất dụng xứ. Xưa nói: duyên ít chấp nhận thức, nếu vậy tức là sở hữu xứ, cũng là dụng xứ, vì sao gọi là bất dụng vô sở hữu ư? Định này qua rồi, chợt phát phi tưởng, phi phi tưởng, định này không duyên thức cho nên phi tưởng, không duyên bất dụng xứ cho nên phi phi tưởng, còn pháp vô thượng có thể duyên theo; đỉnh thiền ba cõi là cực diệu. Ngoại đạo chấp là Niếtbàn, đầy đủ khổ tập, xuống tận ba cõi, lại đọa vào ba đường, ở đây nói thiền căn bản, trước tìm trong phần tu chứng.

2. Nói về đặc thắng phát: nếu y luật dạy thì lẽ ra ở sau bất tịnh, y thật hành thì ở trước bất định. Như luật dạy: Đức Phật vì các tỳ-kheo nói pháp quán bất tịnh, mọi người đều sinh nhàm chán, lo buồn không thể ở chung với thân thể hôi thối, cho họ y bát để họ giết chết giùm, Phật nghe vậy liền giải tỏa pháp bất tịnh, dạy tu đặc thắng, , chúng tỳ-kheo ăn bả đậu để sổ tả nên người yếu đuối thái quá, đến nỗi suy sụp, lại dùng các thuốc gồm bổ dưỡng, bổ cho nên ái thân, vì thế răn nhắc, răn nhắc hơn căn bản, ái hơn bất tịnh, có quán gọi là vừa vô lậu, sức đối trị yếu gọi là vừa hữu lậu, như người ăn heo, đáng khinh bỉ trong chứa phân giải mà còn có thể mạnh ăn, hoặc để sáu tháng hôi thối trùng ruồi bu đậu, không thể ăn được, đặc thăng là thật quán, còn có thể thung dung, bất tịnh là giả tưởng không thể nhẫn nại v.v… Đặc thắng phát bỗng thấy hơi thở ra vào dài ngắn, biết không từ nơi nào đến, đi không chỗ đến, nhập không chứa nhóm, xuất không phân tán, nếu y cứ vào căn bản tức trụ thô tế, hoặc thấy hơi thở đến đi trùm khắp thân, nếu y cứ vào căn bản thì đó là vị đạo địa mà căn bản ám chứng cho là không có thân, giường, chiếu v.v… chẳng phải thật không, như tro che lấp lửa, người ngu coi thường dẫm lên bị phỏng chân, như ăn ban đêm, như người mù gặp đàn bà đều không thích hợp tình đời.

Nay có quán tuệ thấy hơi thở trùm khắp thân mà định tâm sáng tỏ, thanh tịnh an ổn, cho nên khác với ám chứng. Lại thấy ba mươi sáu vật trong thân, như mở kho thấy lúa thóc đậu mè, nếu đối với căn bản tức vị Sơ thiền, tám xúc trước xúc chạm kho thân, tâ mắt không mở, không thấy các thứ bên trong, đặc thắng đã có quán tuệ, xúc mở kho thân, tâm mắt liền thấy ba mươi sáu vật, gan như đậu xanh, tâm như đậu đỏ, thân như đậu đen, tỳ như thóc lúa, ruột già, ruột non lại tương ưng thông, mạch máu chảy lưu thông như dòng sông. Bên trong có mười hai vật: gan, tim, đàm ấm v.v… giữa có mười hai thứ như màng mỡ v.v… bên ngoài có mười hai thứ như lông tóc v.v… hơi thở ra vào đều đến trong đó, bất tịnh, vô thường, khổ không, vô ngã tất cả thân hành đều dừng nghỉ, không hề vì thân mà làm cac việc ác, đó gọi là trừ chư thân hành. Hoặc đối đạo phẩm là thân niệm xứ, hoặc đối căn bản tức là giác quán, hai chi tâm mắt sơ khai là giác chi, tâm là hỷ đối hỷ chi, trước tên gọi hỷ ẩn mất vì có vị cấu, hỷ này không ẩn mất vì không có vị cấu, tức là pháp hỷ, chẳng phải thọ hỷ; tâm thọ lạc cũng như vậy, chẳng thọ lạc mà biết ba thọ trong lạc đều là vô lạc, gọi là lạc chi. Thọ các tâm hành là nhất tâm chi, biết tâm chúng sinh là nhất tâm, khác với căn bản, chấp thật nhất tâm. Nếu đối đạo phẩm đều thọ niệm xứ. Tâm tác hỷ tâm tác nhiếp: Hỷ ở trước từ ba mươi sáu vật sinh, ở đây là thẳng đến tâm tác hỷ, cho nên biết đối Nhị thiền, kinh Đại Tập nói Nhị thiền chỉ cho ba chi, không có nội tịnh, nay tâm tác hỷ ý giống như vậy. Tác nhiếp: Hỷ động thì tán, nếu tác nhiếp được nhập nhất tâm thì căn bản chỉ nội tịnh thọ hỷ, đặc thắng có quán tuệ, thường thâu nhiếp hỷ tâm. Tâm tác giải thoát: ở đây là đối với Tam thiền, lạc căn bản dựa vào hỷ thọ khắp thân, điều này đối với phàm phu rất khó bỏ. Đặc thắng có quán tuệ thì không có ái vị cho nên nói giải thoát. Từ tâm tác hỷ cho đến tâm tác giải thoát đều là tâm niệm xứ, từ quán vô thường là đối với đệ Tứ thiền, các xứ khác cũng quán vô thường chưa phải biệt trị, được bất động định vị là thường. Nay có quán tuệ biết lìa khổ vui mà cuối cùng là sắc pháp, cũng là vô thường, không nên sinh tâm nhiễm đắm cho nên gọi là vô thường. Từ quán xuất tán đối với không xứ, diệt ba thứ sắc, như chim bay ra khỏi lòng, cho nên nói là xuất, duyên không cho nên nói là tán, tuy duyên không cũng có quán tuệ; quán ly dục là đối thức xứ, duyên không nhiều thì tán, tán gọi là dục, Đặc thắng quán tuệ lìa là tán tâm, cho nên gọi là ly dục. Quán diệt đôi vô sở hữu xứ, Đặc thắng quán tuệ, quán thức hoặc nhiều hoặc ít đều không, cho nên gọi là quán diệt; quán nghiệp xả đối phi tưởng xứ, bỏ thức xứ và vô sở hữu xứ, lại có định vi diệu gọi là phi tưởng phi phi tưởng. Phàm phu vọng cho là Niết-bàn, đệ tử Phật biết kia tuy không có phiền não thô nhưng có phiền não tuế, vì không có ái vị cho nên gọi là tịnh thiền, từ vô thường đến khi xả đều gọi là pháp niệm xứ, mười sáu pháp này ngang dọc đối trị pháp, mỗi tiết đều khác nhau, căn bản ám chứng công đức thì mỏng như thức ăn không có muối, công đức Đặc thắng thì dày như thức ăn có muối, luận bàn xác thực phát tướng đầy đủ như trong tu chứng v.v…

3. Thông minh thiền phát tướng: Ở trên nói khi tu Đặc thắng thì có quán tuệ, vẫn thấy tấc cả ba mươi sáu vật, chứng tướng cũng chung, thông minh thì vi tế, chứng thì phân minh, kinh Hoa Nghiêm cũng có tên gọi này. Kinh Đại tập nói bảo cự đà-la-ni chính là thiền này. Thỉnh Quán Âm cũng là ý này. Khi tu thì ba việc thông tu, năng phát ba minh sáu thông, lại khi tu bảo cự cho đến khi nhập định diệt thọ tưởng, phải biết môn này đầy đủ tám giải thoát, ba minh sáu thông cho nên gọi là thông minh, kinh đại tập có nói rõ danh mục năm chi này, gọi là như tâm giác đại giác tư duy đại tư duy, quán sát tâm tánh, đó gọi là giác chi; quán tâm hành, đại hành, biến hành, gọi là quán chi; như thật biết đại, biến tâm, động đến tâm hỷ, đó là hỷ chi; thân an tâm an, thọ nơi lạc xúc, đó là an chi; tâm trụ đại trụ không loạn đối với duyên, đó là định chi. Ban đầu quán ba việc đều dung thông, khi chứng ba việc đều nhất, cho nên gọi như tâm giác, giác đối với chân đế, sắc diết tâm mất, là một không khác, lại biết tục đế da thịt xương… đều có 99 thứ, giác năm tạng, sinh năm khí, cũng thấy trùng ở trong thân, qua lại nói năng, không có điều tế nhị nào không hiểu rõ, biết gá thai sơ ấm, nghiệp vô minh ở quá khứ là sáp ong, tinh huyết của cha mẹ hiện tại là bùn, nghiệp quá khứ không trụ cho nên gọi là ấn hoại, hiện tại gá thức danh sắc đầy đủ nên gọi là văn thành, trụ ở dưới sinh tạng, trên thục tạng, ở trong ruột non hình dáng rất vi tế, chỉ có một niệm vọng tướng sắc tâm nương nhau, như có, như không, như mộng, do năng lực nghiệp hành nên tự nhiên năng khởi nhất niệm tâm tư duy chiêu cảm nơi mẹ, mẹ liền nhớ nghĩ mầu sinh, gọi tiếng xen lẫn mùi vị, nhờ năng lực niệm này sinh một chút hơi biến thành nước, nước biến thành máu, máu biến thành thịt, hơi mẹ ra vào, nhờ đó phụ giúp thấm dần liền thành gan tạng, hướng phía trên thành mắt, hướng phía dưới thành tay chân ngón cái, nếu tư duy mầu trắng tiếng khóc tinh khí vị cay liền hành phổi tạng, hướng lên trên thành mũi, hướng xuống dưới thành tay chân ngón thứ hai; nếu tư duy mầu đỏ, nói năng âm thanh tiêu khí vị đắng liền thành tâm tạng, hướng lên trên thành miệng, hướng xuống dưới thành tay chân ngón thứ ba; nếu tư duy mầu vàng âm thanh ca hát hương khí vị ngọt liền thành tỳ tạng, hướng lên trên thành lưỡi, hướng xuống dưới thành tay chân ngón thứ tư; nếu tư duy mầu đen âm thanh ca ngâm khí hôi vị mặn liền thành thân tạng, hướng lên trên thành tai, hướng xuống dưới thành tay chân ngón thứ năm, biết thân phần vi tế, tất cả đều như vậy. Tư duy đại tư duy: Tức là tư duy chân tục, quán sát tâm tánh tức không, hoặc chân hoặc tục đều nhập tâm tánh. Kinh Thỉnh Quán Âm chép: Mỗi mỗi nhập vào mé như thật: giác chi như thế cùng với trên khác nhau nhiều. Tâm hành, đại hành: giác chi trên là giải, nay tâm hành bỏ gọi là quán hành, tâm thực hành thế đế nên gọi là hành, hành chân đế cho nên gọi là đại hành, ba việc đều hành nên gọi là biến hành. Tâm trụ: Nơi tục đế mà được nhất tâm. Đại trụ: Nơi chân đế mà được nhất tâm. Bất loạn đối với duyên: Tuy thấy chân tục vô lượng cảnh giới mà tâm không lầm lẫn, nói đủ về tướng ấy, đầy đủ như trong thông minh quán có rộng nói: Khi phát định này thì thấy thân, hơi thở, tâm đồng như tướng cây chuối không có chắc thật, đó là tướng vị đáo địa, thấy ba việc này đồng như tướng bọt nước, là Sơ thiền thấy ba việc đồng như tướng mây nổi là Nhị thiền, thấy ba việc đồng tướng ảnh hiện là Tam thiền, thấy ba việc đồng như hình bóng trong gương là Tứ thiền. Diệt ba việc này đều không, diệt không duyên thức, diệt thức duyên vô sở hữu, diệt vô sở hữu duyên phi tưởng phi phi tưởng, diệt phi tưởng phi phi tưởng ba thứ thọ tưởng mà thân chứng pháp diệt thọ, để thành giải thoát, có tục quán cho nên gọi là vừa hữu lậu, có chân quán cho nên gọi là vừa vô lậu, thiền này sự lý đã hoàn bị, giai vị đầy đủ, người tu theo Thành luận nên dùng định minh đạo này mà nhập tám giải thoát, đối với nghĩa thì tiện lợi mà không chịu dùng, người tu theo A-tỳ-đàm y cứ vào tám bối xả có được sự lý đều khác ngoại đạo, thành câu giải thoát, Thành luận chỉ có lý mà không có sự nên không có người câu giải thoát. Y cứ vào ngoại đạo thiền là sự thiền, cũng nên y cứ vào thập thiện làm giới, thế trí làm tuệ, giới tuệ đã khác thì định của ngoại đạo đâu có đồng, vậy thì nhờ thuốc không nhờ định thì tám thuật không thành, bàn luận xác thật tướng kia đầy đủ trong tu chứng nói, v.v…

4. Nói về bất tịnh thiền phát: Trước hết y cứ vào chín tưởng lại chia làm hai: 1) Người hoại pháp. 2) Người không hoại pháp. Nếu người hoại pháp tu chín tưởng: 1) Trướng tưởng. 2) Hoại tưởng. 3) Huyết đồ tưởng. ) Nùng lạn tưởng. ) Thanh ứ tưởng. ) Đạm tưởng. 7) Tán. ) Cốt tưởng. 9) Thiêu tưởng. Người này chỉ cầu dứt khổ, thiêu diệt xương người, gấp đạt đến Vô học không ưa sự quán, đã không có xương người để quán lại không có thiền định thần thông biến hóa nguyện trí đảnh thiền, tuy nói đốt cháy mà thật có thân, chẳng hạn như diệt thọ tưởng mà thân chứng v.v… Người này ưa thối thất như Tỳ-Đàm có tướng thối, bốn quả như cát ở đáy giếng. Kinh A-hàm chép: ba quả thối thất giới, hoàn tục hủy mất luật nghi, không mất đạo cộng giới, người thế tục sinh tâm hủy báng nói không có Thánh pháp. Phật dạy: Dục no đủ khởi tâm nhàm chán, không bao lâu sẽ trở lại cầu xuất gia, các Tỳ-kheo không độ, đức Phật liền độ, chứng đắc A-la-hán. A-nan hỏi rằng: Đại đức! Người này là học thối hay vô học thối? Đáp: Học thối, nếu vậy tức là thế trì dứt hoặc, người trí tuệ giải thoát cho nên được có thối, chẳng phải trí vô lậu dứt một phẩm hoặc tiến lên một phẩm giải thoát mà có thối. Nếu phát chín tưởng này, không có các công đức thiền, đó là hoại pháp nhân, nếu người không hoại pháp chín tưởng, thì từ đầu trướng tưởng đến trụ nơi cốt tưởng, chứ không tiến đến thiêu tưởng, có được dòng ánh sáng bối xả thắng xứ, quán luyện huân tu thần thông biến hóa, đầy đủ tất cả công đức thành người câu giải thoát. Nếu khi tu ưa quán bên ngoài nhiều hơn, thấy phần nhiều quán thân, hoặc nội ngoại quán ái v.v… Nếu khi phát thì y cứ theo đây có thể biết. Trong lúc ngồi thiền, bỗng thấy thây chết trên đất, không còn nói năng, coi như đồ bỏ đi, khí hết thân lạnh, tinh thần bại hoại, thần sắc biến đổi, vô thường hay đổi không phân biệt giàu nghèo sang hèn, già trẻ đẹp xấu, không ai tránh khỏi, cha từ con hiếu cũng không thay nhau được, thây chết trên đất hôi thối, gió thổi ngày càng dữ dội, khác hẳn ngày xưa. Hoặc thấy một thây chết, nhiều thây chết, là tướng quán đại bất tịnh, hoặc đầy cả một ngôi làng, một đất nước, hoặc một thây chết biến sắc, hoặc nhiều thây chết biến sắc hư hoại: Thây chết tuy chẳng phải là số trong chín tưởng nhưng là gốc của các tướng cho nên nói trước hết. Các thây chết này nhan sắc đen sẫm, thân thể to lớn, tay chân đẹp đẽ, hoặc có thây bị sình da mềm nhũn gió thổi lâu phình lên, chín lỗ chảy tràn rất ô uế, hành giả tự nghĩ thân ta như vậy, chia lìa chưa thoát, quán người thương yêu cũng giống như vậy, đó là khi tướng phát được một phần định tâm, rất an vui sung sướng, nhưng chỉ trong chốc lát thấy thân này sình lên gió thổi ngày càng dữ dội, da thịt tan hoại, thân thể nứt nẻ, hình sắc đổi khác rõ ràng không thể biết được, đó gọi là hoại tướng. Lại thấy chỗ nứt nẻ máu từ bên trong chảy ra thành dòng nhơ nhớp, loang lổ khắp nơi, tràn lan trên đất chỗ hôi thối rực rỡ đỏ tươi, đó là tướng huyết đồ, lại thấy máu mủ hôi thối chảy giàn giụa tung tóe như mật ong gặp lửa, đó gọi là tướng nùng lạn. Lại thấy da thịt bị tàn hại dãi dầm mưa gió, khô cháy hôi thối rất dơ bẩn, nửa xanh nửa bị máu ứ bầm tím, đó gọi là tướng thanh ứ. Lại thấy thây này bị cáo sói các loài chim hung dữ đến tranh giành ăn nuốt, đó gọi là tướng đạm. Lại thấy đầu tay một nơi, năm tạng phân tán không thể thu góp lại được, đó gọi là tướng tán. Lại thấy hai đống xương vun vãi, một bên là máu mủ, một bên là xương trắng, hoặc thấy một đống xương, hoặc là vung vãi khắp nơi, như vậy khi các tướng chuyển, định tâm theo đó chuyển, ngấm ngầm yên tĩnh, lắng lặng vui vẻ, tướng an ổn khoái lạc nói không thể hết, sở quán của người bất hoại pháp ngang là ngang đây, khi chưa thấy tướng này thì ái nhiễm rất mạnh, khi thấy tướng này rồi thì dục tâm liền dứt bỏ, không nhẫn nại, nếu không thấy phẩn còn có thể ăn, chợt nghe mùi hôi thì liền ọc nôn, cũng như bà-la-môn nắm giữ pháp tịnh mà ăn bánh bằng bùn ung tủy, tự trách đánh vào đầu mình đó thôi! Nếu chứng tướng này tuy l mi dài mắt biếc, trăng trắng môi đỏ, như một đống phẩn che phủ lên trên cũng như thây mục rửa, nhờ đắp mặc lụa gấm còn không nhìn thấy, huống chi phải gần gũi, thuê lộc Trượng Phạm chí tự hại, huống chi kệu gọi ôm ấp các vui dâm dục, tưởng như vậy đó là thuốc đại hoàng thang (được bào chế từ phân và nước tiểu) để trị bệnh dâm dục, như người tham ăn xét biết là vật phân heo đầy bên trong mà còn gượng ăn, thấy trùng trong heo hôi thối thì có thể ăn không! Đặc thắng trước sức yếu chưa quyết định trừ, nay năng lực quán mạnh lửa dâm mau tắt, cho nên nói rằng chín tưởng quán thành thì sáu tặc tiêu trừ, và biết người thương, kẻ thù, gồm biết giả thật hư, như vậy nhàm chán chẳng những trừ dục mà còn phát sinh vô lậu, cũng thành Ma-ha-diễn, thích luận giải thích thây chết biến tưởng đã xong. Lại nói sáu ba-la-mật, bốn tâm vô lượng, các sư đều dịch lầm, ở đây nói Bồ-tát tu sơ tưởng liền đầy đủ Ma-ha-diễn, cho nên rộng nêu ra các pháp, cho đến sau cùng nói thiêu tưởng cũng như vậy, đâu lại nói sơ sót ư?

5. Nói về tám bội xả phát, ba phen trước là căn bản vị tịnh, chín tưởng đến tất cả chỗ gọi là quán, chín định thứ lớp là luyện, Sư tử phấn tấn là huân, siêu việt là tu, đây là bốn sự định, nay trước nói bội xả, bội xả lại có chung riêng, tổng cộng Nhị thừa, riêng tại Bồ-tát, lại bội xả bất định, hoặc trong nhân nói quả, gọi là bối xả là giải thoát, tự có trong quả nói nhân, gọi giải thoát là bội xả. Nếu quyết định phân biệt, dứt hoặc rốt ráo, sự lý đầy đủ gọi là giải thoát, nếu hoặc chưa hết định chưa đầy đủ chỉ gọi là bội xả, bội là nhàm chán hạ địa và tự địa, trong sạch năm dục, xả là xả bỏ tâm chấp đắm, cho nên gọi là bội xả. Nếu phá ái nhiều thì phát sinh hình tướng bên ngoài như trước nói, nếu phá kiến nhiều thì phát sinh nội tướng, nội tướng tức tám bội xả: 1. Nội hữu sắc ngoại quán sắc cho đến thứ tám là diệt thọ tưởng bội xả. Có chỗ nói nội hữu sắc ngoại quán sắc là không phá, không hoại nội sắc, trong quán xương trắng, da thịt, ngoài quán thây chết v.v… Hoặc tu tướng đầy đủ như thiền môn, nay lược nêu bày phát tướng, hành giả bỗng thấy tự thân ngón tay ngón chân da mong như mụt nước, dần dần đến bắp tay, đến lưng, đến thân, rồi đến đỉnh đầu, ở đây toàn thân phình trướng, năm chi khẳng khiu, hai chân như hai cái cột, lưng bụng như cái vò, đầu như cái chậu, mỗi nơi đều bị sình lên như gió thổi đầy túi da, khi tướng này phát hoặc từ chân đến đầu, hoặc từ đầu đến chân, đầy một giường dây, da thịt nứt nẻ sắp muốn tràn vỡ, đã tràn vỡ rồi thì máu mủ chảy ra, thấm loang ướt đẫm, lại từ đầu đến chân da thịt tự rời ra chỉ còn lại đống xương trắng, xương cốt chống đỡ ngay đơ bất động, da thịt rời rã nhóm lại một đống, giống như đống trùng rút rỉa hôi tanh, nếu phát tướng này rất lo buồn chán ghét thân kia như phẩn uế, huống chi vợ con, tài bảo mà sinh lẫn tiếc, Tất-đỏa mất thân bị Lộc trượng giết hại, đều đắc quán này, trong không chấp ngã, ngoài không ái trước, cúi đầu hổ thẹn nhàm tâm nối nhau v.v… Đại kinh chép: trừ bỏ da thịt quán kỹ xương trắng, đối với mỗi lóng xương đều phải buộc miệng, quán sát nghịch thuận khiến xương trắng sạch, đó gọi là nội hữu sắc tướng.

1- Ngoại quán sắc: Ngoài thấy thây chết phình lên, máu mủ tràn đầy, một ngôi làng, một đất nước, như chỗ quán bất tịnh của chín tưởng ở trước cho nên nói ngoại sắc, vị tại dục giới trước cho nên nói ngoại quán sắc, vị tại định cõi Dục, pháp này tăng tiến thấy xương khởi bốn mầu: xanh, vàng, trắng, cáp, ngọn lửa sáng rực rỡ sẽ phát không phát, mầu xanh ánh sáng xanh, cho đến mầu cáp ánh sáng cáp, trạng thái như dòng nước, ánh sáng bao trùm xương người như mặt trời chiếu sáng sương mù. Nếu tâm duyên ở chân thì ánh sáng theo đó mà hướng xuống, nếu tâm duyên đầu thì ánh sáng theo đó mà hướng lên, dùng năng lực ánh sang xanh thì ánh sáng bao phủ khắp mười phương đều thấy mầu xanh, như núi Tu-di tùy theo phương hướng, một mầu sắc cho đến mầu cáp cũng giống như vậy. Nếu mầu ánh sáng này sẽ phát, không phát, địa vị ở tại định vị đáo địa, như vậy thì có ánh sáng xa lẽ ra tự phát, nếu không phat sẽ nhiếp tâm quán kỹ, giữa hai đầu chân mày phát ra liền phát, hình dáng như lỗ ống tre nhả khói, ban đầu mới nhỏ sau tan dần lớn, bốn mầu uyển chuyển từ giữa hai đầu chân mầy, phát ra ánh sáng chiếu khắp mười phương thông suốt sáng rực, một mầu cũng có các tướng của mười công đức, tám xúc, năm chi chánh tà v.v… Khi sắc mới phát gọi là giác, phân biệt tám mầu gọi là quán, trước tuy biết trong thịt có xương mà không biết tám mầu trong xương, trước chưa thấy vui mừng thường buồn thẹn gọi là hỷ chi, khi mầu này phát thì có tâm pháp lạc vui vẻ gọi là lạc chi, tâm định vắng lặng an trụ bất động, dần dần càng sâu, trống rỗng sáng suốt, trí tuệ thiền định kính tín hổ thẹn, không sinh tâm hủy báng, lìa cái tướng ưng, hoặc lạnh ấm v.v… rừng rậm đều không lầm lẫn nên gọi là tòng lâm, nhưng trong đây chuyển động tướng năm chi không minh v.v… Tâm mắt khai mở sáng suốt, pháp sâu lạc nhiều, căn bản khác nhau, cũng khác với đặc thắng, thông minh, kia có da xương nên xúc chạm không thông suốt, nay xúc chạm người pháp kia rất nhiệm mầu. Nếu luận về tà tướng nhập tám mầu. Hoặc thấy mầu xanh không rõ ràng lắm, loang lổ không tốt đẹp, tức là tướng tà, bảy mầu còn lại cũng giống như vậy, ám chứng không quán tuệ như ban đêm nhiều giặc, nay thiền có quán như ban ngày có mộ ít tà ngụy, dù có dễ chối bỏ, như trong Tam tạng nói: tám mầu là mầu pháp giới, xúc chạm thân người ở cõi Dục cho đến các công đức khởi, đây là nương căn bản hữu lậu mà nói như vậy. Đại thừa nói pháp giới định tuệ đều không thể cùng tận. Vì sao? Vì mạng suy yếu, giới bỏ phế, không tạo tác, không diệt, định tuy hàng phục hoặc, nhưng dứt không được lâu, như trùng độc vào trong thân tàn hại thân mạng, mạng tuy chưa chết nhưng khí lực không còn lâu được, tuệ đạo không mất, Sơ quả bảy phen chết trở lại. Vô lậu vắng lặng, nên biết giới định là pháp vô lậu, nếu vậy thì ánh sáng của tám mầu lại là pháp giới ngoại, nếu phát tướng này thì bội xả ban đầu thành địa vi Sơ thiền. Thành luận chép: Hai bối xả thuộc cõi Dục, tịnh bối xả thuộc cõi Sắc, bối xả thứ bốn thuộc cõi Vô sắc, diệt bối xả vượt quaba cõi. Luận Tỳ-đàm chép: ban hai bối xả đầu chung cho cõi Dục và Nhị thiền, tịnh bối xả ở Tứ thiền, nói Tam thiền lạc phần nhiều không lập bối xả.

Lại có người nói: Tam thiền không có thắng xứ. Tứ thiền không có bội xả, ba nhà khác hẳn nhau, ở đây theo Thích luận: Bối xả đầu, hai thắng xứ thuộc Sơ thiền, đã có năm chi chứng nghiệm là Sơ thiền.

2- Nội vô sắc dùng bất tịnh tâm quán ngoại sắc. Xương người do tinh huyết tạo thành, cần phải quở diệt, phân chia xương làm bốn phần nhỏ, Đại thừa thể pháp biết xương từ tâm sinh, tâm như huyễn hóa, xương người luống giả, xương người tự diệt, như ngựa tốt tùy ý người sử dụng, như người tốt cùng làm việc đi lại ngay thẳng đàng hoàng. Xương người bỏ rồi pháp mới chưa đến, hỷ thường thối thất, do tâm bất tịnh Chỉ Quán ngoại sắc. Ngoại sắc: là các thây chết bên ngoài, v.v… lại ngoại là xương người phát ra tám mầu, cho nên quán ngoại sắc, ở đây cách cõi Dục còn gần, phải quán ngoại bất tịnh, nếu tu để hoại xương người thì có pháp quán riêng, nay chỉ luận pháp phát, bỗng thấy xương người tự nhiên tiêu mòn, chỉ còn tám mầu và ngoại bất tịnh, khi xương người diệt thì vị ở trung gian, lại thấy tám mầu cùng nội tịnh pháp đồng thời đều khởi, ánh sáng xanh vàng v.v… lại một lần nữa thêm sáng, nội tịnh hỷ lạc nhất tâm bốn chi công đức càng thù thắng hơn trước, đó là địa vi nhị bối xả ở Nhị thiền. Tam tịnh bối xả thân tác chứng: Sơ thiền, Nhị thiền chẳng phải khắp thân an vui, Tứ thiền vô lạc thì cái gì là chứng? Người tu theo thành luận nói: Tứ thiền và tịnh bối xả, nay dùng hai thiền và tịnh bối xả, đã nói Tam thiền có toàn thân an vui, có thể dùng làm chứng tức là ban đầu kia, thành tựu tại Tứ thiền được đầy đủ thắng xứ cho nên biết địa vị tịnh bối xả ở Tam thiền. Tịnh: Thích luận giải thích rằng: Duyên tịnh cho nên tịnh, tám mầu đã là tịnh pháp mà chưa được tịnh duyên tôi luyện, tịnh sắc cao nhất là Tứ thiền, khi sắc này khởi thì tám mầu càng sáng suốt thanh tịnh, cho nên nói duyên tịnh nên tịnh. Khắp thân thọ; lại cùng cực cái vui là ở Tam thiền, gọi chung hai thiền này là tịnh bối xả. Tịnh có bốn nghĩa: bất tịnh bất tịnh: Thân cõi Dục đã là bất tịnh mà nay còn bị phình thối cho nên nói bất tịnh bất tịnh. Bất tịnh tịnh: Trừ bỏ da thịt quan sát xương trắng, không có bụng gân huyết, như ngọc quý, như bảo bối cho nên nói bất tịnh tịnh. Tịnh bất tịnh: là giữa hai đầu chân mày phát ra ánh sáng tám mầu, sắc ánh sáng đó là tịnh chưa được tôi luyện, sửa trị cho nên nói tịnh bất tịnh. Tịnh tịnh: là bối xả thứ ba lại bị tịnh duyên luyện trị cho nên nói bất tịnh tịnh. Tứ không bối xả: quá tất cả sắc diệt hữu đối sắc, không niệm các thứ sắc, tất cả sắc là sắc trong ngoài cõi Dục. Hữu đối là sở đối của năm căn, hai sắc này ba đối trước đã xả diệt, chỉ có tám sắc tùy tâm chuyển biến cho nên nói chủng chủng sắc, quở sắc duyên không, chẳng còn có pháp riêng, chỉ nhập không định. Như phàm phu phần nhiễm trước, bảo thủ chấp không định, bạc Thánh tâm sâu xa, trí tụê bén nhạy, đi thẳng không quay đầu trở lại nên nói bối xả, nếu duyên không nhiều thì tán, luống dối không thật, xả không duyên thức, thức pháp tương ưng, gọi là thức xứ bối xả. Lại thức sinh diệt, vô thường luống dối, không có sở duyên, chỉ có năng duyên, cho nên nói vô sở hữu xứ, thức xứ như ung nhọt, vô sở hữu xứ như ghẻ lở, xả thức vô thức tức là phi tưởng phi phi tưởng, vô tưởng này còn có phiền não tế, nay xả năng duyên thọ tưởng chẳng phải tưởng, cũng không còn tưởng năng diệt. Định pháp giữ thân diệt sạch vô tưởng, như có sâu trùng trong nước, nếu lấy diệt đặt tên thì đâu khác gì thích trên chán dưới. Nay từ năng diệt tự địa cũng diệt, tha địa mà được tên, cho nên nói diệt thọ tưởng bối xả, đầy đủ như trong tu chứng nói. Tỳ-đàm nói được diệt định là Câu giải thoát, không đắc định này chỉ gọi là tuệ giải thoát, đắc đầy đủ thế gian thiền gọi là câu giải thoát. Thành Luận nói sau bốn định không còn có pháp khác, dùng tâm vô lậu tu đây có thể như vậy. Ba thứ trước vì sao không có pháp riêng mà căn cứ vào thiền ngoại đạo ư? v.v… Nếu quá khứ từng đắc tám định cho nên phát sinh thói quen đời trước mà diệt một thứ định thì không đắc vô lậu, tu thì không thành, cho nên không về thói quen đời trước. Chín định thứ lớp siêu vượt v.v… cứ vào Tam tạng không có phàm phu tu định đây, cho nên không luận về phát sinh thói quen đời trước, nếu y cứ theo Đại thừa cũng nên có nghĩa này, nay sẽ không nói đến.

6. Đại Bất tịnh quán phát: Cũng gọi là đại bối xả, Sở quán trước đã phá bỏ da thịt, quán sát xương người chết bất tịnh, hoặc một thây, hai thây thành ấp, xóm làng bất tịnh chảy đầy v.v… chỉ căn cứ vào chánh báo tự tha cho nên nói tiểu bất tịnh, y cứ vào đây mà luận nhàm chán quay lưng cho nên gọi bối xả, cũng là tướng chung riêng v.v… Nếu đại bất tịnh quán thì đâu chỉ có chánh báo chảy tràn bất tịnh, y báo nhà cửa, tiền tài, gạo lúa, y phục, ẩm thực, sông núi, vườn rừng, ao hồ, phải nhớ là sắc pháp thảy đều bất tịnh, mủ trùng chảy ra hôi thối tanh tươi, nhà như nấm mồ, tiền như rắn rết, canh như nước phân giải, cơm như trùng trắng, áo như da thú, núi như đống thịt, ao như mủ chảy, sông hồ vườn rừng như xương khô, biển như nước dơ chảy. Đại kinh chép: Canh ngon tưởng nước uế, tức là quán này. Trong lúc ngồi thiền bỗng thấy như trên, thấy cả mặt đất này không một nơi nào tốt đẹp, y báo chánh báo không có đáng tham nữa, đó gọi là đại bất tịnh phát. Cũng như lúc mới đốt lửa, cứ dùi mài thêm có khói bốc lửa nhỏ, lửa đã thành thế thì không còn chọn củi, cho đến sông hồ cũng có thể khô cạn. Ban đầu quán bất tịnh chỉ có một thây, một nước, tâm dâm chợt hưng chợt phế, nay định lực đã thành thì chán ác cũng thịnh, tất cả y báo chánh báo đều bất tịnh, tâm dụt dứt hẳn. Lại nữa, các vật đâu có tướng nhất định gì, tùy theo quả báo của người cảm thấy khác nhau, nghiệp lành cảm sắc tịnh, nghiệp ác cảm sắc bất tịnh, như đất báu, cung báu của các vị trời là giàu sang sung sướng trong cõi người, cầm nắm ngói đá biến thành vàng bạc, năng lực thiện chiêu cảm y báo, chánh báo đều thanh tịnh, như kinh Tăng Hộ nói tướng địa ngục khác nhau, hoặc thấy thân thịt là đất, bị người khác cày bừa, hoặc thấy thân như rừng cây bị bẻ gãy, hoặc thân như núi, như nhà ở, như áo mặc, gồm một trăm hai mươi thứ đều do nghiệp ác chiệu cảm sắc bất tịnh. Nếu chấp tịnh sắc bảo thủ ái vững chắc thì dùng năng lực đại quán để phá bỏ tâm chấp đắm, không còn đại điên đảo, thành đại bất tịnh quán. Vì sao? Vì pháp huyễn thuật phần nhiều là luống đối, pháp thần thông đắc đạo lý kia, tất cả mọi vật đều có thể chuyển biến, như tía tô, sáp ông, vòng sắt gặp hơi ấm liền tan chảy, như nước gặp lạnh thành đất, đây được hiểu là quán đạo khế hợp chuyển biến, do định lực mà được như vậy. Nếu căn bản chỉ trừ chấp hạ địa không thể trừ tự địa, hoặc tiểu, đại bối xả chưa phải vô lậu, chỉ trừ chấp hạ địa, tự địa, nếu vô lậu duyên thông thì hạ địa tự địa trên đều trừ chấp, nếu người phát đại bất tịnh, nhập bối xả cũng đại, thuộc về Sơ thiền, nếu ở trong không có xương người thì ngoại quán tám sắc và y báo, chánh báo, do duyên cảnh lớn gọi là đệ nhi đại bối xả, thuộc về Nhị thừa, nếu dùng đại bất tịnh nhập tịnh thì bối xả cũng đại, cho đến diệt bối xả cũng như vậy. Nếu luận đại thắng xứ lại thục bối xả khiến cho duyên chuyển biến tự tại. Đại luận nói người độn căn tu tám bối xả xong mới tu thắng xứ, nhất thiết xứ, hạng trung căn tu ba bối xả xong thì ở trong Tứ thiền tu thắng xứ v.v… hạng thượng căn chỉ tu sơ bối xả, tức là tu tất cả nhất thiết pháp, nay trong xứ nói, hoặc nhiều hoặc ít; lại căn cứ vào y báo, chánh báo một thây là ít, hai thây là nhiều, như vậy trao truyền có thể hiểu, một manh áo, một miếng cơm, một sông, một núi là ít, vô lượng y phục, thức uống ăn, sông núi là nhiều, ban đầu tu từ ít đến nhiều, nay phát cũng như vậy. Hoặc tốt hoặc xấu: Nghiệp lành đoan chánh là tốt, nghiệp ác xấu xa là xấu, cả hai thứ này đều đối với ta là tốt, đối với ta ác là xấu, hai thứ này phú quý là tốt, nghèo hèn là xấu, tốt xấu như thế đều bất tịnh. Sông núi, cõi nước, y thực, nhà cửa, hoặc tốt hoặc xấu đều bất tịnh, lại y báo, chánh báo đều là xấu, xương người phát ra tám sắc là tốt, lại tám sắc cũng xấu, được tôi luyện thành tốt, tốt xấu đều bất tịnh, hai thắng xứ này thuộc về Sơ thiền. Nếu trong không sắc tướng, ngoài quán sắc, hoặc nhiều hoặc ít, hoặc tốt hoặc xấu, thắng tri thắng kiến ấy, trong diệt xương người, ngoài có tám sắc, lại có y báo, chánh báo nhiều ít tốt xấu, như trước nói, v.v…

 

Phần Cuối

Thắng tri kiến ấy: Tâm này hơn sắc, không bị sắc trói buộc, tâm năng chuyển sắc, cho nên nói thắng tri thắng kiến, tịnh, bất tịnh v.v… đều đối với tâm mình tự tại, quán giải thành tựu cho nên nói thắng kiến, hai thứ này thuộc về Nhị thiền. Nếu thắng xứ thành thì thân còn không tiếc, huống chi tài vật và thân của người khác ư? Các bậc hiền nhân đời thượng cổ nhường ngôi nhường nước, trở về làm người dân thường chăn trâu, đều là việc tu quán này của Kinh Tích Sinh tự nhiên thành tánh, không còn ái nhiễm, không hiểu được ý này thì tham cho đến chết, đâu thể quên vinh hoa bỏ địa vị ư? Bốn thắng xứ sau ở trong Tứ thiền được thành tựu. Tam thiền lạc thường không thể chuyển biến, y cứ vào pháp Thanh văn nói như thế, đối với pháp Bồ-tát thì thiền thiền chuyển biến, đâu được không ư? Đại luận chép: xanh vàng đỏ trắng đây là từ thật pháp. Kinh Anh Lạc chép: đất, nước, lửa, gió, từ đây là từ giả danh, thu nhiếp lẫn nhau, bốn thắng xứ này trong ngoài sắc đều hết, chỉ có tám sắc, nhưng có ít nhiều chuyển biến, không có tốt xấu chuyển biến. Mười nhất thiết xứ ở trong Tứ thiền, Sơ thiền giác quán nhiều, Nhị thiền hỷ động, Tam thiền lạc động, không được rộng lớn trùm khắp mọi nơi, chỉ có bất động niệm tuệ thì có khả năng rộng khắp, dùng mầu xanh biến khắp mười phương, mười phương đều xanh, các mầu sắc khác cũng như vậy, cho nên gọi nhất thiết xứ. Nếu nhất thiết nhập dùng mầu xanh biến khắp nhất thiết thời, vàng đến nhập vào mầu xanh, cũng khắp nhất thiết xứ, tướng gốc xanh vàng không mất tướng nhập, lại không tướng xen lạm, các sắc tướng khác nhập cũng như vậy, đó gọi là nhất thiết thập, đây là nội tâm phóng sắc khắp mọi nơi, đâu được dùng cây lá bên ngoài làm duyên khắp mọi nơi ư? Nội tâm không có pháp đâu thể chuyển biến cây lá bên ngoài ư? Trước hết năng biến tâm mới năng biến lá. Đại luận chọn hoa ưu-bát-la, sợ người không hiểu mượn bên ngoài dụ bên trong, không thể chấp dụ làm nghĩa chính. Nếu thông minh quán trong không có xương người, không phát ra tám sắc, khi tu thắng xứ sẽ nhờ ngoại duyên, hoặc có thể như vậy thì người không hoại pháp bên trong tự phóng ra, không cần bên ngoài.

Lại nữa, Bồ-tát tu thắng xứ đầy đủ các hành, nếu không thấu đạt y báo, chánh báo thì có thể khởi san tham, quán này nếu hiểu rõ thân còn muốn bỏ huống chi tiếc vật của mình mà tham vật của người khác, đó gọi là Đàn. Quán được như vậy sẽ không vì tài sắc mà phá hoại giới, làm hại chủ của vật kia, đem vật về cho mình, dối trá nhiều mà trong cầu lợi lạc, quyết không có lý này, đó gọi là Thi, khi được quán này, nếu bị người khác xúc não và xâm đoạt, thì không bao giờ sinh tâm tức giận gân chiến phẫn nộ, đó gọi là Nhẫn. Khi quán này thành, không dựa vào thây chết bất tịnh, quốc độ bất tịnh mà thối mất tịnh tâm, đó gọi là tinh tấn. Quán này có thể đầy đủ quán luyện huân tu, thần thông biến hóa, nguyện trí đảnh v.v… đó gọi là Thiền. Khi được quán này thì tất cả pháp năng sở đều không thật có, không sinh không diệt, rốt ráo thanh tịnh, đó gọi là tuệ. Tất cả pháp môn đạo định đều ở nơi thắng xứ chuyển biến thành tựu, tâm định tự tại, xoay chuyển qua lại, thực hành các pháp môn, tùy tâm liền thành, như ngựa chạy nhanh phá trận cũng tự kiềm chế đứng lại, bấy giờ sáng suốt thanh tịnh, không còn việc ma, tâm sai khiến ma, ma không thể phá tâm. Người thực hành bốn Tammuội nếu phát được pháp này thì sẽ chuyển giai vị đệ tử ngũ phẩm. Vì sao? Vì sự trợ đạo rộng lớn có thể nhanh gần đến ao mát mẻ, đây là ngang bằng với phát thiền quán, cũng là phát thiền tướng Ma-ha-diễn, nếu rèn luyện huân tu thì phàm phu còn không được học, không có phát để nói, hoặc riêng rút trong kinh luận cho nên không đợi nói.

7. Nói về từ tâm phát: từ là căn bản tựa nương trước sau v.v… chợt duyên theo tất cả chúng sinh chấp lạc tướng kia, không buồn không oán, tâm vui mừng vừa ý, hoặc được an vui cõi người, hoặc thấy được an vui trong cõi trời, khéo tu được giải, định tâm sáng tỏ, không còn một chúng sinh nào không được an vui, ban đầu theo gót vi tế tĩnh lặng, sau chuyển dần vào định sâu hơn, nhưng sở duyên có ba: Nếu duyên gần gũi người được vui gọi là quảng, trong cõi người gọi là đại, oán người gọi là vô lượng, lại duyên chúng sinh một phương được lạc gọi là quảng, bốn phương gọi là đại, mười phương gọi là vô lượng, định này có ẩn mất, không ẩn mất, nếu tâm duyên chúng sinh quyết định tạo được tâm lạc tưởng rất rõ ràng, nhưng chỗ sở duyên không thấy chúng sinh được thọ vui, đó là trong không ẩn mất mà ngoài ẩn mất, lại có người trong tâm thanh tịnh sáng suốt, ngoài thấy được vui, đó gọi là trong ngoài đều không ẩn mất. Nếu trước đắc tịnh này, sau phát sinh công đức năm chi, chúng sinh sơ giác thảy đều được vui, tâm hợp với định, tự tâm cũng vui, khéo tu được giải thoát gọi là giác chi, phân biệt được vui, hoặc trong cõi người, cõi trời có vô lượng phẩm khác nhau thảy đều rõ ràng, gọi là quán chi; oán thân bình đẳng, không còn sợ khổ oán thân, gọi là hỷ chi; Hỷ chi động đã dứt, tâm thần an vui cũng như tướng sở duyên được vui gọi là lạc chi; định phát chuyển sâu, tâm giữ gìn bất động, gọi là nhất tâm chi, tên gọi này đồng với căn bản mà pháp vị thì khác hẳn, như đường và mật hòa với nước lạnh đồng vị mà chất lượng khác. Nếu phát sinh đơn căn bản quả báo chỉ nơi cõi Phạm chúng, Phạm phụ, nếu đắc từ định thì quả báo làm phạm vương, quả kia đã thù thắng, nên nhân cũng lớn, nếu trước đắc căn bản sau thêm từ định thì căn bản càng sâu, lại trong từ định phát Nhị thiền, trong tịnh bốn chi thành tựu, lại phát Tam thiền lạc đủ năm chi thành tựu, lại phát Tứ thiền mỗi thiền tương ưng với các thiền, rừng cây lá đầy đủ mà pháp vị tăng gấp bội, như trước có dụ, nhưng tâm từ vốn duyên nơi người khác mà được vui, trong thọ vui định, ngoài được thấy khác vui, tướng này ngang bằng Tam thiền, Tứ thiền chỉ thấy người khác được vui, trong không thọ vui, do vì xả khổ vui, đó là Tiểu thừa phân biệt như vậy. Đức Phật hoặc có khi phá chấp vì duyên mà nói, phước của tâm từ đến khắp tịnh, phước của tâm bi đến không xứ, phước của tâm Hỷ đến Thức xứ, phước của tâm xả đến Bất dụng xứ, chỉ có Bồ-tát thường đi chung với từ bi, ở địa vị nào mà không từ bi! Từ bi huân tất cả điều lành đâu chỉ ngang Tam thiền ư? Đây nói qua một lần thôi! Nếu trước phát căn bản, sau phát từ định cũng giống như vậy, nhưng đều ám chứng ẩn mất, hoặc trong không ẩn mất mà ngoài ẩn mất v.v… Nếu y theo đặc thắng, thông minh phát từ định thì định sở y tự là một bên, tâm từ năng y phụ khởi không xen lẫn, định này đã có quán tuệ, định từ cũng không ẩn mất, pháp vị năm chi gấp bội căn bản; hoặc nhờ định từ mà phát đặc thắng, thông minh, định từ đây cũng không ẩn mất, thiền vị cũng sậu; hoặc nhân từ định mà phát tiểu đại bất tịnh, bất tịnh chấp chúng sinh phá hoại tướng thì không có chúng sinh để duyên thì ai được lạc này! Tuy không có chúng sinh trong hữu lậu lạc mà có Niết-bàn lạc, đó là phát pháp duyên từ.

Hỏi: Chúng sinh duyên từ thanh tịnh, không có sân hận bực bội, chấp tướng tốt kia, bất tịnh quán phá hoại chúng sinh, chấp tướng ác kia thì làm sao tướng phát? Đáp: Đây cũng không chướng ngại, như tuy thấy bất tịnh, nhưng không ngại thấy tịnh nhân xiêm y ngay ngắn tuy sinh định từ nhưng không ngại bất tịnh, định từ cũng có khả năng trang nghiêm bối xả v.v… khiến công đức càng sâu, hơn đơn phát bất tịnh, hoặc phát lẫn nhau v.v… Ba tâm vô lượng còn lại phát lẫn nhau y theo định từ có thể biết, nếu bốn vô lượng phụ vào căn bản phát thì thành hữu lậu, phụ vào đặc thắng, thông minh phát thì thành vừa hữu lậu vừa vô lậu, phụ vào bất tịnh phát thì thành vô lậu, nhân duyên khác nhau, định từ v.v… có sâu cạn, trăm ngàn muôn thứ không thể nói hết, thí như bốn đại sắc tạo ở cõi Dục có các địa, xanh vàng đỏ trắng cao thấp khác nhau, tạo ra các thứ cây lá, hoa quả ngọt đắng chua cay, độc, thuốc, thơm hôi tạo bao nhiêu người, xấu đẹp ngu trí, giàu nghèo thiện ác, tạo bao nhiêu thứ cầm thú có lông sừng, bay chạy vô biên, chủng loại khác nhau không lẫn lộn, mỗi thứ đều phân chia theo tánh, tùy theo năng lực mà có năng sở, như người phước mỏng chỉ nhờ vào lúa mạ không tin có cam giá bồ đào, tịnh pháp sắc giới cũng giống như vậy, chuyển biến bao nhiêu vị ngon càng thêm lẫn lộn nhau mà không hòa lẫn, cho đến bốn tâm vô lượng càng rộng lớn hơn. Vì sao? Vì chúng sinh vô lượng cho nên tưởng kia được vui cũng lại vô lượng, các pháp vô lượng phụ vào các pháp phát chi vị cũng vô lượng, không thể kể hết, chúng sinh phước mỏng không tin thiền định, dù tin một pháp nhưng không tin vô lượng công đức, như ở bên trái núi đồ ăn ngon, ếch ngồi đáy giếng không thấy biển cả, thật đáng thương xót, người kia có thể tin biết cảnh Thánh khó suy nghĩ bàn luận, không sinh tâm phỉ báng v.v…

8. Nói về nhân duyên phát: Hành nhân có công huân lớn, các Đức Phật ban cho thiền định Tam-muội, hoặc huân tập trong quá khứ mà nhân duyên định phát trước sau… trong khi ngồi bỗng nhiên tư duy chỗ tâm duyên xứ theo, hoặc duyên tâm lành, hoặc duyên tâm ác, năng duyên sở duyên tức là hữu chi, hữu có khả năng bao hàm quả, , hữu này do thủ mà có, do tâm thủ thiện ác mà được có hữu, nếu không thủ, thì cũng không có hữu này, cho nên biết hữu từ thủ sinh, lại biết thủ từ ái khởi, có ái nên có thủ, như ái sắc nên chấp chặt, không ái thì không thủ, ái nhân thọ sinh, do lãnh thọ thiện ác nên ái sinh, nếu không lãnh thọ ái thì bất sinh, lại quán thọ do xúc, sáu trần đến xúc chạm sáu căn cho nên được hữu thọ, không xúc thì không thọ.

Kinh chép: Lục xúc nhân duyên sinh các thọ, cho nên thọ do nơi xúc, lại biết xúc do các nhập môn, nếu không có sáu thức thống lãnh sáu căn thì không thể thiệp nhập vào các trần mà sinh xúc, xúc do nhập, nhập do sinh sắc, nếu chỉ có sắc thì sắc không thể xúc, như người chết, nếu chỉ có danh, thì danh cũng không xúc, như người mù điếc, vì sắc tâm hợp thì có xúc. Sắc tức sắc ấm, tâm tức bốn ấm, phân biệt rõ sắc này gọi thức ấm, lãnh nạp sắc này gọi là thọ ấm, hành khởi tham sân gọi là hai ấm tưởng hành, năm ấm đầy đủ cho nên có giác xúc, phải biết xúc do danh sắc, danh sắc do thức lúc mới gá thai, lúc mới gá thai gọi là ca-la-la, đây tức đủ ba việc: 1. Mạng, 2. Nhu, ba Thức, trong đó có báo phong, y phong, gọi là mạng, tinh huyết không thối, không rữa gọi là nhu, trong tâm ý ấy gọi là thức. Do thức gá thai cho nên có chất lỏng đọng lại thành tô lạc mỏng, sáu mụt phồng lên gọi là sắc hòa hợp, phải biết danh sắc đâu không do thức, thức do nghiệp hành, quá khứ giữ năm giới là nghiệp lành, nghiệp sai sử người thọ danh sắc. Nếu quá khứ phá năm giới là nghiệp ác, nghiệp sai sử thọ trong ba đường, cho nên biết thức do nghiệp, nghiệp tức hành. Hành do vô minh si ái tạo tác các hành, khiến thức trôi lăn từ quá khứ đến hiện tại, từ hiện tại ái thủ duyên hữu, hữu có khả năng bao gồm quả, chiêu cảm sinh tử đời vị lai, nhân duyên ba đời là không, không có chủ, khi tư duy quán trí như vậy khởi thì nhân ngã tà chấp liền phá, định tâm yên ổn từ thô nhập tế, cõi Dục chưa đến, cho đến can bản công đức năm chi thứ lớp mà khởi, biết nhân duyên là không, không có chủ gọi là giác chi, trôi lăn trong ba đời lại nương tựa nhau, hiểu rõ không sai lầm gọi là quán chi, được nhân trí tuệ hiểu rõ ba đời há không vui vẻ may mắn ư? Gọi là hỷ chi, định phát giữ tâm vui vẻ tốt đẹp gọi là lạc chi; định tâm vắng lặng không duyên không niệm, gọi là nhất tâm chi; nhân duyên Tam-muội này là tuệ tánh, do trí tuệ sáng suốt này nên liền phát căn bản, hoặc căn bản cùng nhân duyên hòa vào nhau, pháp vị thuần trong sạch, không đồng đơn phát năm chi. Tam-muội này cũng có ẩn mất, không ẩn mất, nếu trong tâm chỉ hiểu pháp nhân duyên không sinh ngã điên đảo, chỉ tương ưng với căn bản, nếu thầm hiểu như thế gọi là ẩn mất, nếu khi Tam-muội phát thì tâm kia sáng suốt thanh tịnh, thấy ca-la-la năm mụt nước phồng lên, chỗ sinh, chỗ trụ, cũng thấy hành nghiệp thiện ác làm ra tốt xấu, cũng thấy việc sinh tử vị lai ba đời rõ ràng, mười pháp thành tựu, đó là căn bản do nhân duyên phát, cho đến đặc thắng, thông minh bối xả v.v… ẩn mất, không ẩn mất, do nhân duyên phát cũng giống như vậy. Nếu nhân căn bản phát nhân duyên, thì bỗng ở trong định tư duy các định căn bản đều là do nhân duyên mà thành, sở thành năng thành tức là hữu, trụ nơi thô tế này bao gồm Viêm ma ở trời đâu-suất. Có sinh ắt có tử, định cõi Dục cũng là nhân duyên hữu, hữu thì bao gồm quả nên thọ ma thiên, hữu Sơ thiền tương ưng tức bao gồm hữu kia, cho đến phi tưởng phi phi tưởng cũng như vậy. Các hữu như vậy đều do thủ, chấp lấy tướng Sơ thiền như trong hai mươi lăm phương tiện trước, các thứ hy vọng chấp lấy tướng mạo kia, cho nên biết hữu do thủ, thủ lại do ái, vì nghe người nói công đức Sơ thiền mà sinh ái vị, lại biết ái này do thọ, nhờ nghe công đức kia mà lãnh thọ, mà khởi ái, lại biết thọ này do nhập, nhập tức là gốc (căn), không có gốc thì nhập vô sở thọ, thọ lại do xúc trần, vì xúc cho nên có nhập, xúc do sinh sắc, năm ấm hợp cho nên có xúc, danh sắc do sơ thức ba việc, ba việc do nghiệp mà đưa đến thọ thân, nghiệp do vô minh đến hữu sinh thức, cho đến già chết, trên đến phi tưởng, dưới đến thô trụ đều biết mười hai nhân duyên, mỗi mỗi rõ ràng, cho đến đặc thắng, thông minh v.v… Nhân căn bản phát, lệ theo có thể biết, v.v…

Quán này đã phá ngã đảo, đồng giới phương tiện y phá ngã, chỉ y thiền kinh thọ nhân duyên Tam-muội danh thôi! Ba đời suy tìm tuy là tuệ tánh, còn gọi là đình tâm, tâm được dừng trú như nhà tối không có gió, có thể thực hành niệm xứ quán, niệm xứ quán thành mới gọi là văn tuệ, văn tuệ là lý quán, như Phú-Na lãnh giải nói rằng: Ta hiểu rồi, biết ông hiểu thế nào! Nếu biết vô minh không khở thủ hữu, tức là y văn tuệ, quán nhân duyên này ở trước niệm xứ chưa có năng lực cho nên thuộc về sự quán, môn nhân duyên này tùy căn cơ khác nhau. Kinh Anh Lạc nói mười thứ, Đại Tập nói rõ quả báo một niệm, các sư phần nhiều lưu truyền ba đời. Ngài Long Thọ soạn Trung luận, ở đầu nói về phẩm nhân duyên, Luận Sư cho rằng nhiếp pháp không cùng tận, không dùng nhân duyên làm tông, chỉ là thế đế, phá nhân duyên cùng tận, là chân đế, cho nên lấy nhị đế làm tông. Nay nói phẩm nào chẳng phải thế đế mà đều phá hết! Đây là con đường chung chẳng phải ý riêng. Luận ban đầu quán chung nhân duyên, kế là phẩm nhiễm nhiễm v.v… biệt phá chi ái thủ, phẩm lục tình riêng phá chi khổ, cho đến hai phẩm sau riêng nêu nhân duyên Thanh văn quán, các ý Thông biệt v.v… đều quán nhân duyên, sao không lấy nhân duyên làm tông! Các Sư phía Bắc lấy phẩm sau để cứu nghĩa, lấy sáu nhân bốn duyên làm tông, đây là sinh diệt nhân duyên, ý hai phẩm sau chẳng phải nói về chánh tông. Sau khi Phật nhập Niết-bàn, căn tánh con người càng độn, chấp trước nhân duyên có tướng quyết định, không hiểu ý Phật, cho nên soạn luận này nói về mười hai nhân duyên quán môn. Nay đã phát nhân duyên pháp cho nên ý cứ vào đó nói về Chỉ Quán, theo lệ chia làm mười ý.

Cảnh tư nghị: Quá khứ vô minh trong tâm tạo nghiệp đen tối, các hành không lành, thành ba coi ba đường, gây ra bạch nghiệp và bất động nghiệp, thành ba cõi lành, nếu chuyển vô minh thành sinh diệt minh, gọi là hạ trí quán thành đắc Thanh văn Bồ-đề, chuyển thành hữu lậu thành hành xuất thế trợ đạo. Bảy hạng người hữu học, nghiệp còn sót chưa hết, còn sinh vào cõi lành, nếu vô học dùng nghiệp vô lậu và chấp đắm ái chân đế, hợp với căn bản vô minh, sinh phương tiện độ, thọ danh sắc kia, nơi kia do ái sinh mà khởi thủ hữu, gọi là Thanh văn giới. Nếu vô minh trở lại làm minh bất sinh bất diệt, cho nên trung trí được duyên giác Bồ-đề. Kinh Thỉnh Quán Âm chép: Quán mười hai nhân duyên như mộng, huyễn, cây chuối, thành Duyên giác đạo, ý là ở đây; chuyển hữu lậu hành thành vô lậu trợ đạo, kết nghiệp hết, chưa hết đồng như trước, đó là Duyên giác giới. Nếu chuyển vô minh thành Bátnhã, chuyển hạnh bất thiện thành năm độ, do chưa phát chân, vẫn còn giới nội mười hai nhân duyên, gọi là lục độ giới, nếu chuyển vô minh thành không tuệ, chuyển hành thành sáu Độ, Lục địa Thất địa trước dứt hoặc chưa hết đều đồng như trước, dứt hết sinh phước tuệ kia hơn chút ít mà thôi! Đó gọi là trung trí quán đắc Thông giáo Bồ-đề. Nếu chuyển vô minh thành thứ đệ minh, chuyển hành thành lịch biệt hành, Thập tín Thập trụ dứt chưa hết, Thập hành Thập hướng dứt hết đều đồng như trước, đó gọi là thượng trí quán cho nên đắc Biệt giáo Bồ-đề. Nếu chuyển vô minh thành Phật trí minh, từ khi mới phát tâm biết mười hai nhân duyên là Ba Phật tánh, nếu thông quán mười hai nhân duyên chân như thật lý là chánh nhân Phật tánh, mười hai quán nhân duyên trí tuệ làm liễu nhân Phật tánh, quán mười hai nhân duyên, tâm đầy đủ các hành, là duyên nhân Phật tánh. Nếu là quán riêng: Vô minh ái thủ tức liễu nhân Phật tánh, hành hữu tức duyên nhân Phật tánh, bảy chi thức v.v… Tức chánh nhân Phật tánh. Vì sao? Vì khổ đạo là sinh tử, thân sinh tử khắp tức Pháp thân, phiền não là ám pháp chuyển vô minh thành minh, nghiệp hành là pháp trói buộc, biến trói buộc thành giải thoát, tức ba đường là ba đức, khi tánh đắc nhân thì không ngang, không dọc, gọi là Ba Phật tánh, khi tu đắc quả thì không dọc không ngang, như chữ y ở thế gian gọi là ba đức Niết-bàn. Kinh Tịnh Danh chép: tất cả chúng sinh tức đại Niết-bàn, tức là Phật tức là Bồ-đề, chính là ý này, đó gọi là thượng thượng trí quán đắc Phật Bồ-đề. Nếu năm phẩm chưa dứt thì đồng với học nhân, thiết luân giả biệt hẳn biển khổ đồng với vô học, tuy là biến dịch năm căn sinh phước khác xa. Thích Luận chép: Hành Nhị thừa thọ pháp tánh thân, các căn ám độn, do kia đối với Phật đạo quanh co xa xôi. Nếu Biệt, Viên năng phá vô minh thẳng mở khổ đạo như thật pháp, từ thật pháp đắc thật báo, thẳng đối với hành hữu đầy đủ các hành, cảm được y báo chánh báo không có ngăn ngại, căn lợi phước sâu không đồng trung hạ. Nếu Ba hiền Mười Thánh trụ nơi quả báo thì đều thành tựu mười hai nhân duyên kia, Đẳng giác còn còn một lần sinh nhân duyên, nếu sinh rốt cùng tận nguồn vô minh thì ái thủ rốt ráo hết, nên gọi là cứu cánh Bát-nhã, bảy quả như thức v.v… hết, cho nên gọi là cứu cánh Pháp thân, hành hữu hết gọi là cứu cánh giải thoát, tuy nói là dứt hết nhưng không có cái để dứt hết, dứt bất tư nghì, không dứt vô minh ái thủ mà nhập viên tịnh Niết-bàn, không dứt bảy chi danh sắc mà nhập tánh tịnh Niết-bàn, không dứt hành hữu thiện ác mà nhập phương tiện tịnh Niết-bàn. Kinh Tịnh Danh chép: Do tướng năm tội nghịch mà được giải thoát cũng không buộc, không thoát, như đây mà suy tìm; mười hai nhân duyên tức là tất cả vô lượng Phật pháp, đó gọi là cảnh bất khả tư thức.

Lại nữa, mười hai nhân duyên đối với mười như trong kinh Pháp Hoa: tánh như vậy đối với vô minh. Kinh Tịnh Danh chép: nếu biết vô minh tánh tức là minh tánh, tướng như vậy đối với hành, thể đối với thức v.v… bảy chi, lực đối với ái thủ, tác đối với hữu nhân, lại tập nhân của vô minh ái thủ này, duyên đối với hành hữu, quả đối vô minh, sinh trí tuệ tập quả, báo đối với hành hữu năm thứ Niết-bàn, bổn đối với ba đường ba thứ Phật tánh, mạt đối với ba đức Niết-bàn. Lại nữa, đối mười cảnh: Thập pháp giới ấm nhập bệnh hoạn hai cảnh đối với bảy chi thức v.v…, phiền não kiến mạn v.v… cảnh đối với vô minh ái thủ, nghiệp ma thiền, Nhị thừa, Bồ-tát v.v… đối các chi hành hữu. Lại nữa, mười hai nhân duyên, mười như, mười cảnh, trong tâm khác là sinh diệt tư nghị, một niệm trong tâm là bất sinh bất diệt bất khả tư nghị. Kinh Hoa Nghiêm chép: mười hai nhân duyên ở trong một tâm. Kinh Đại Tập chép: mười hai nhân duyên, một niệm của một người thảy đều đầy đủ, ở đây vẫn còn lược, nếu một niệm của một người thảy đều đầy đủ mười giới, mười như, mười hai nhân duyên mới được gọi là Ma-ha-diễn bất khả tư nghị mười hai nhân duyên.

Hỏi: Luận thập Nhị môn chép: Duyên pháp thật vô sinh, nếu cho là sinh thì vì ở trong một tâm hay ở trong nhiều tâm? Cũng có thể được nói ở trong một niệm được chăng? Đáp: Kinh Hoa Nghiêm chép: Một ở trong vô lượng, vô lượng ở trong một. Đại Phẩm chép: Tất cả các pháp hướng về vô minh là hướng về không lầm lỗi, cho đến tất cả pháp hướng về già chết, nay nói một tâm đủ mười hai nhân duyên thì có lỗi gì! Lại nữa, nói một niệm không đồng với người đời chấp thủ một khác, định tướng một niệm, đó là chẳng một chẳng khác mà luận về một. Thí như diệt pháp, che phủ một niệm tâm, mộng vô lượng việc thế gian, như Kinh Pháp Hoa nói, v.v…

Chân chánh phát tâm Bồ-đề: nếu nương sinh diệt, vô sinh diệt giả sinh v.v… mười hai nhân duyên mà khởi từ bi thệ nguyện, đây chẳng phải chân chánh, cho nên Kinh Hoa Nghiêm chép: tâm Bồ-đề ma tức là ý này. Nếu y mười hai nhân duyên bất tư nghì mà khởi từ bi độ khắp tất cả, đó gọi là chân chánh. Nhổ gốc khổ có hai: một Nhổ gốc năm thứ nhận khổ: vô minh, ái, thủ, hành, hữu trong mười pháp giới. 2. Nhổ gốc bảy thứ quả khổ như thức, danh sắc v.v… Trong mười pháp giới, từ và lạc cũng như vậy. Nghĩa là cùng mười pháp giới quán vô minh, ái, thủ thành tuệ hành đạo chánh đạo, chuyển hành hữu thành hạnh hành trợ đạo, đó gọi là cho nhân vui. Quán bảy chi danh sắc trong mười cõi đều là tánh an vui, tức Đại Niết-bàn, không thể trở lại diệt, gọi là cho quả vui. Căn cứ bốn nghĩa này khởi bốn thệ nguyện rộng lớn, người chưa độ khiến được độ, độ khổ sinh tử của bảy chi trong mười cõi, người chưa giải thoát khiến được giải thoát, giải thoát tập của năm chi vô minh, ái, thủ, hành, hữu trong mười cõi, người chưa đắc Niết-bàn khiến đắc, bảy chi như thức v.v… an vu Niết-bàn v.v… Khéo léo an tâm: Khéo quán bảy chi thức v.v… Trong mười cõi tức pháp tánh, không khởi tám đảo mê hoặc vô minh, ái, thủ gọi là hành hữu v.v… Trong mười cõi các thứ điên đảo dứt, cho nên gọi là chỉ v.v…

Phá pháp biến: Phá ngang mười cõi, mười hai nhân duyên đều là một niệm, một niệm không tự không tha, không cộng, không phải vô nhân, phải biết mười cõi đều vô sinh. Dọc phá mười cõi hành, hữu, kiến hoặc, tư hoặc, trần sa hoặc, vô tri, vô minh bất sinh cho đến bốn mươi hai phẩm bất sinh bất sinh, gọi là Đại Niết-bàn. Khéo léo Thông bít: thấu đạt nhân duyên chân chánh gọi là Thông, khởi chấp kiến tư hoặc là bít, đắm chìm vào chân không là thông, thấu đạt việc nhân duyên là không bít, đối với ba đường khởi pháp ái là bít, thấu đạt lý nhân duyên gọi là Thông. Nếu lần lượt sinh khởi vô minh, ái, thủ, hành, hữu là thất, nếu lần lượt đều có trí tuệ gọi là đắc. Nếu thẳng y cứ vào bốn thứ hữu tác, khổ tập nói về bít, bốn thứ đạo diệt là Thông, hoặc thẳng y cứ ba giả nên gọi là bít, phá ba giả vô sinh là Thông, thông hoặc đã vậy biệt hoặc cũng vậy; hoặc thẳng y cứ vào bốn kiến khởi mười sử là bít, phá kiến là thông.

Khéo tu đạo phẩm: nếu nói chung về sắc pháp trong nhân duyên của mười cõi thì đều gọi là thân, tất cả thọ pháp đều gọi là thọ, tất cả thức pháp đều gọi là tâm, tất cả tưởng hành đều gọi là pháp. Nếu nói riêng thì trong chi danh sắc chấp sắc, trong sáu nhập chấp năm nhập, trong xúc nhập chấp năm xúc, năm thọ, hai chi sinh tử mỗi chi đều là chấp sắc phần, đều gọi là nhiếp thân niệm xứ; trong chí danh sắc chấp thức phần, trong sáu nhập chấp ý nhập; hai chi sinh tử mỗi chi đều chấp thức phần, đều gọi tâm niệm xứ nhiếp; trong chi vô minh, hành, danh sắc chấp tưởng hành, trong xúc chấp pháp xúc, trong sự sinh tử của chi ái, chi thủ, chi hữu thì chấp tưởng hành, trong chi xúc thì chấp pháp xúc, trong chi ái, chi thủ, chi hữu, chi sinh thì chấp tưởng hành, trong chi tử cũng chấp tưởng hành đều thuộc về pháp niệm xứ. Hoặc có khi nói: vô minh là pháp ái quá khứ, ái là năm ấm ô uế, nếu hiện tại luận thì vô minh thuộc về pháp niệm xứ, thuộc về hành pháp, thuộc về thức tâm, thuộc về danh sắc và thân tâm; sáu nhập duyên sáu trần, thuộc pháp trần, thuộc về thân, thuộc về xúc pháp, thuộc về thọ lại thọ, thuộc về ái làm ô uế thân tâm, thuộc về pháp thủ, thuộc về hữu hành, thuộc về pháp sinh là sắc khởi, tử là sắc diệt.

Hỏi: Nhiều người nói sinh tử đều là bất tương ưng hành, chỉ nên thuộc về pháp niệm xứ, vì sao chung cho ba niệm xứ được! Đáp: Đại kinh chép: Năm ấm này diệt ngũ ấm kia tiếp tục sinh, như sáp ong ấn ấn bùn, ấn hoại thành văn, cho nên biết pháp sinh tử không lìa năm ấm, có thể nói như thế, v.v…

Nếu không biệt nhân duyên các sắc, chẳng cấu chẳng tịnh, cả hai năng chiếu soi cấu tịnh gọi là thọ niệm xứ; quán các nhân duyên thông biệt các thọ, chẳng khổ chẳng vui, cả hai chiếu soi khổ vui là thọ niệm xứ; quán các nhân duyên thông biệt, tâm thức chẳng phải thường, chẳng phải vô thường, song chiếu thường, vô thường, đó là tâm niệm xứ; quán các nhân duyên thông biệt tưởng hành, chẳng phải ngã, chẳng phải vô ngã, song chiếu ngã, vô ngã, đó là pháp niệm xứ, bốn điều này pháp được tám thứ điên đảo trong mười hai nhân duyên, tám thứ điên đảo chuyển thành bốn khô bốn tươi, cũng là trung gian chẳng khô chẳng tươi, nhập Niết-bàn thấy Phật tánh. Siêng năng quán bốn điều này gọi là chánh cần, cho nên tám đạo như trước nói. Quán căn bản không có bốn câu, không sinh diệt tức rốt ráo không, không này có đủ mười tám không, mười tám không chỉ là một không. Kinh Phương Đẳng chép: Tiểu không, Đại không đều quy về một không. Đại Phẩm nói: Nhật độc không gọi là không giải thoát môn, đều nhập không này không chấp pháp tánh bốn tướng. Bốn tướng, Không thọ không chấp đắm, không niệm, không phân biệt cũ mới, trong ngoài, v.v… Nếu tâm không nương tựa, do không chỗ thấy nên thấy chân tánh Phật, do bất trụ pháp trụ đại Niết-bàn, đó gọi là vô tướng giải thoát môn, là đại Niết-bàn, phi tu phi tác, phi tự cho nên phi nhân, phi tha cho nên phi duyên, bất cộng cho nên phi hợp, phi vô nhân cho nên phi vô ly, vô tu vô đắc gọi là vô tác giải thoát môn.

Đối trị trợ đạo: Đạo phẩm trước thẳng duyên lý, chuyển vô minh ái thủ lấy làm minh, tuy có đủ chánh tuệ mà không thể đắc nhập. Vì sao? Vì vô minh, ái, thủ là lý ác, cùng với lý tuệ giữ gìn cho nhau, lại có hành hữu sự ác trợ che đậy lý tệ, như giặc thì nhiều mà ta chỉ một cho nên phải tu thêm, hành hữu sự khéo giúp mở cửa Niết-bàn. Nếu khởi san tham hành hữu, chuyển thành bố thí hành hữu, thì gốc lành đàn độ sinh, , nếu phá giới hành hữu khởi, chuyển thành giữ giới hành hữu, thì gốc lành thi-la sinh, nếu sân nhuế hành hữu khởi, chuyển thành nhẫn nhục hành hữu, thì gốc lành săn-đề sinh, nếu biếng nhác hành hữu khởi, chuyển thành tinh tấn hành hữu, thì gốc lành tỳ-lê-da sinh, nếu tán động hành hữu khởi, chuyển thành thiền định hành hữu, rừng nhánh công đức sinh, nếu ngu si hành hữu khởi, chuyển thành giác ngộ vô thường khổ không hành hữu, cho nên sự tuệ rõ ràng giúp phá lý hoặc, nếu có một độ nào che lấp thì không thấy được lý, huống chi là sáu ư? Nay chỉ phá mạnh thì yếu bỏ theo, sức giúp đạo mạnh thành tựu tất cả công đức đều phục các căn, đầy đủ sáu Độ, đủ oai nghi Phật, mười Lực vô úy, cho đến tướng tốt v.v… Như trước nói tự tư duy. Lại nói oai nghi Phật: Phật ngồi đạo tràng quay chuyển pháp luân, nhập Niết-bàn đều căn cứ mười hai duyên. Đại phẩm chép: Nếu quán sâu mười hai nhân duyên tức là ngồi đạo tràng. Đạo tràng có bốn: hoặc quán mười hai nhân duyên sinh diệt rốt ráo tức Tam tạng Phật ngồi đạo tràng trên tòa cỏ dưới gốc cây; hoặc quán mười hai nhân duyên tức không rốt ráo Thông giáo, Phật ngồi đạo tràng dưới gốc cây trải tòa bằng áo trời bảy báu; hoặc quán mười hai nhân duyên giả danh rốt ráo Biệt giáo Xá-Na-Phạt ngồi đạo tràng tòa bảy báu; hoặc quán mười hai nhân duyên trung rốt ráo là Viên giáo Viên giáo Tỳ-Lô-giá-Na Phật ngồi đạo tràng tòa bằng hư không, phải biết đạo tràng lớn nhỏ không ngoài quán mười hai nhân duyên, lại các Đức Phật đều y theo quán này mà quay chuyển pháp luân, nếu đạo tràng tịch diệt bảy xứ tám hội vì Bồ-tát lợi căn nói mười hai nhân duyên bất sinh bất diệt, cũng gọi là giả danh, cũng gọi là nghĩa Trung đạo, hoặc ở vườn Nai vì các đệ tử độn căn nói tướng mười hai nhân duyên sinh diệt, hoặc Phương Đẳng mười hai bộ kinh, nói mười hai nhân duyên sinh diệt tức không tức giả tức trung, hoặc Pháp Hoa nói mười hai nhân duyên tức trung, xả ba phương tiện, hoặc Niết-bàn nói mười hai nhân duyên đầy đủ bốn ý, đều có Phật tánh, như sữa có tánh đề hồ, bốn giáo năm vị khác nhau, đều là căn cứ mười hai nhân duyên khéo léo phân biệt, tùy căn cơ dạy bảo dẫn dắt. Lại nữa, bỏ chất độc trong sữa là Niết-bàn y cứ mười hai nhân duyên nói về Bất định giáo, lại nữa, ta nói khi mới thành đạo Bồ-tát trong mười phương đã hỏi nghĩa này, tức là trong Niết-bàn căn cứ mười hai nhân duyên có bí mật giáo. Vì sao? Vì ban đầu vì hàng đệ tử độn căn nói tướng sinh diệt của mười hai nhân duyên, riêng có Bồ-tát lợi căn ở tại tòa, thầm nghe tướng bất sinh diệt của mười hai nhân duyên, liền ngộ Phật tánh, được Vô sinh pháp nhẫn, đây là ý bí mật, đây chính là tướng quay chuyển pháp luân trong cõi đồng hư. Lại các Đức Phật đối với quán này mà Bát-niết-bàn, nếu căn cứ độn căn vô minh diệt, cho đến già chết diệt là Biệt giáo Phật thường lạc ngã tịnh Niết-bàn, Niết-bàn là pháp giới của các Đức Phật, là Viên giáo Giá-Xa Phật, bốn đức Niết-bàn, đây là cõi Đồng tư thị hiện tướng Niết-bàn, có bốn thứ rút ra trong kinh Tượng pháp Quyết Nghi. Hai cõi phương tiện, Thật Báo thành đạo, xoay chuyển pháp luân nhập Niết-bàn cũng có thể hiểu, đó gọi là mười hai nhân duyên thuộc về pháp nghĩa.

Biệt thứ vị: ba ác nặng nhẹ đều do vô minh ác hạnh bất thiện ái thủ gây ra, ba thiện cao thấp cũng do vô minh thiện hành bất động hành ái thủ hữu gây ra. Nếu lại vô minh ái thủ khởi trí sinh diệt, tức là tuệ giải thoát hiền Thánh vị hành cao thấp trong Tam tạng, nếu chuyển thành hữu khởi, quán luyện huân tu hành hạnh công đức, tức là Tam tạng câu giải thoát hiền Thánh vị hành cao thấp, loại ca-la lớn nhỏ ở đây có thể biết. Chuyển năm độ thành hành hữu, Bát-nhã chuyển thành vô minh, ái, thủ, điều phục các căn, tức có ba tăng-kỳ vị, nếu chuyển vô minh ái thủ để thể đạt tức chân, chuyển hành hữu tu sáu Độ như trồng cây trên hư không, tức có bốn nhẫn vị hành cao thấp. Chuyển vô minh ái thủ sinh trí đạo chủng, chuyển hành hữu thành nhiều kiếp tu, hành các độ, thần thông thanh tịnh cõi nước Phật, thành tựu chúng sinh, tức có sáu luận vị hành cao thấp, nếu chuyển vô minh ái thủ tức là đốt cháy đèn tam-bồđề, tức có sáu tức của Viên giáo vị hành cao thấp, mười hai nhân duyên một người một niệm thảy đều đầy đủ. Si như hư không chẳng cùng tận, cho đến giả chết như hư không chẳng cùng tận, hư không chẳng có tận và bất tận, hư không là Đại thừa. Luận thập Nhị môn chép: Hư không là Đại thừa, các đại nhân Phổ Hiền, Văn-thù nương ngồi cho nên gọi Đại thừa. Đại phẩm chép: thừa này bất động bất xuất. Nếu người muốn cho pháp tánh thật tế xuất hiện, thì thừa này cũng bất động, bất xuất. Đại kinh chép: Tất cả chúng sinh tức là Nhất thừa. Các tên gọi ấy lý chính là, do lý chính là nên được có tên gọi chính là, từ mới phát tâm nghe nói Đại thừa liền biết chúng sinh tức là Phật, vì tâm lầm chấp nên không thể quán hành, như sâu ăn lá tình cờ thành chữ, do tên gọi cho nên có được quán hành, như trước nói bảy phen quán pháp, thông đạt không ngăn ngại tức là hành xứ, do quán hành cho nên có được tương tự phát, được sơ phẩm, chỉ là viên tính, nhị phẩm đọc tụng giúp cho tín tâm, tam phẩm nói pháp cũng giúp tín tâm, ba phẩm này đều là thừa gấp giới chậm, tứ phẩm ít giới gấp, ngũ phẩm sự lý đều gấp, tiến phát các Tammuội đà-la-ni được sáu căn thanh tịnh nhập địa vị thiết luân. Do tương tư cho nên được có phần chứng ba đạo đức, ba đức hoắt nhiên khai ngộ, thấy ba Phật tánh trụ ba Niết-bàn, nhập bí mật tạng, Pháp thân thanh tịnh nhiệm mầu vắng lặng, ứng khắp tất cả cho đến Đẳng giác đều là phần chứng tức. Chuyển vô minh sinh trí tuệ sáng như mặt trăng ngày mùng một cho đến trăng ngày mười bốn, chuyển hành hữu sinh giải thoát, như trăng ngày mười sáu cho đến trăng ngày hai mươi chín, tất cả thức, danh sắc, Pháp thân dần dần hiển hiện giống như thể của mặt trăng. Do phần chứng cho nên có được rốt ráo, ba đức viên mãn, rốt ráo Bát-nhã, Pháp thân cực kỳ vi diệu, tự tại giải thoát, vượt thoát tất cả, không ngôn từ nào có thể nói được, cho nên biết thứ vị đại tiểu đều y cứ vào mười pháp giới mười hai nhân duyên.

Nếu là chân như vắng lặng thì đâu có thứ vị gì! Sơ địa tức Nhị địa, địa từ như sinh, như chẳng có sinh, hoặc từ như diệt, như không có diệt, tất cả chúng sinh tức là Đại Niết-bàn, không còn diệt nữa, thì có gì là thứ lớp cao thấp lớn nhỏ ư? Bất sinh bất sinh không thể nói, có nhân duyên cho nên cũng có thể được nói, pháp mười nhân duyên là nhân sinh tác, như vẽ trên hư không, tìm cách trồng cây, nói tất cả vị. Nếu người không biết các thứ vị trên lầm sinh chấp trước, thành tăng thượng mạn, tức Bồ-tát chiên-đà-la. An nhẫn: quán nhân duyên mười cõi, sẽ sinh khởi nhiều chướng ngăn đạo pháp, đó là ba chướng bốn ma, các thứ trái thuận, nghiệp ma thiền Nhị thừa bồ-tát hành hành v.v… đều từ hai chi hành hữu sinh khởi, nếu an nhẫn được tức thành tựu được công đức hành hữu của Như Lai, đó là tướng quả báo sáu lục căn thanh tịnh. Phiền não chướng phát: đó là tham sân tà chấp, tham lợi các kiến mạn Nhị thừa thông biệt Tam tạng tuệ hành của Bồ-tát v.v… đều từ trong các chi vô minh ái thủ phát ra, nếu có thể liễu đạt an nhẫn thì khai mở tri kiến Phật. Báo chướng phát: Đó là các thứ ấm giới nhập, các thứ tám gió, các thứ bệnh hoạn, tức là trong bảy chi phát ra. Nếu biết tức là Phật tánh, không động chuyển, lấy bỏ, giống như hư không, vậy thì không dứt sinh tử mà nhập Niết-bàn, không phá hoại ấm nhập mà hiển bày Pháp thân chân thật, thông đạt được như vậy thì đối với ba đường không ngăn ngại, trụ nhẫn nhục địa nhu hòa khéo, thuận mà không có tâm hung bạo, cũng không sợ hãi đó gọi là an nhẫn tâm thành. Như Thanh văn nếu trụ pháp nhẫn thì không bao giờ lui sụt, gây ra năm tội nghịch xiển-đề, Bồ-tát trú kham nhẫn địa, không bao giờ khởi chướng đạo trọng tội. Không thuận đạo pháp ái: 1. Tự. 2. Chân. Bồ-tát từ sơ phục nhẫn đến nhu thuận nhẫn, phát thiết luân tợ giải, công đức không nhiễm ba pháp, đó là tương tự trí tuệ công đức pháp tánh, do trí tuệ có vô minh ái thủ, do công đức có hạnh hữu nghiệp, do pháp tánh có danh sắc sinh tử nên thảy đều không được chấp đắm. Nếu đối với ba pháp sinh ái, không nhập Bồ-đề vị, không rơi vào Nhị thừa, đó gọi là đảnh đọa, cũng gọi là thuận đạo, quán vô minh ái thủ, thuận tuệ hành đạo, quán thức, v.v… Thuận pháp tánh đạo, vì thuận ba đạo nên không rơi vào Thanh văn địa. Ái ba đường nên không nhập bồ-tát vị, làm sao khởi ái! Như vào rừng chiêu bặc thì không ngửi thấy các mùi hương khác, bồ-tát chỉ ái công các đức Phật, không còn nghĩ đến cõi Nhị thừa và các phương tiên đạo, đó gọi là ái. Ái cho nên không thể biến vô minh ái thủ thành chân minh, không thể biến hành hữu thành diệu hạnh, không thể hiển bày thức sắc thành Pháp thân, ba đường không chuyển làm sao nhập bồ-tát vị. Nếu không chấp ba pháp tương tự, không thuận đạo ái thì vô lượng các tội tiêu trừ, tâm thanh tịnh thường nhất, người đáng kính trọng tuyệt diệu như vậy thì thấy được Bát-nhã, Bát-nhã còn không đắm, huống chi các pháp khác ư? Nhập lý Bát-nhã gọi là trụ, tức là khi mới phát tâm trụ thì liền thành Chánh giác, biết tánh chân thật của tất cả pháp đầy đủ tuệ thân, không do nơi người khác mà ngộ. Thấy Bát-nhã là thật thấy ba đường ba thứ Bát-nhã, từ đây về sau tâm tâm vắng lặng, tự nhiên chảy vào biển tát-bà-nhã, vô lượng vô minh tự nhiên mà bỏ. Đại luận chép: Vì sao mỗi chỗ đều nói Tam-muội phá vô minh? Đáp: Vô minh phẩm số rất nhiều, bắt đầu từ sơ tâm đến Kim cương đảnh đều phá vô minh, đều hiển pháp tánh, còn lại một phẩm, nếu trừ bo phẩm này thì gọi là Phật, thân Như Lai là thể kim cương, các điều ác đã dứt, các điều lành đều nhóm họp, ba đức rốt ráo vượt quá tất cả, không ngôn từ nào diễn đạt được, đó gọi là thừa, thừa báu này thẳng đến đạo tràng, đến trú trong tát-bà-nhã, các điều khác như trên nói, v.v…

9. Nói về niệm Phật phát: Hoặc phát niệm Phật, kế phát các thiền hoặc nhân các thiền mà phát niệm Phật, trong lúc ngồi thiền bỗng nhiên tư duy công đức các Đức Phật vô lượng vô biên, không thể suy nghĩ bàn luận, tín kính hổ thẹn, sinh tâm kính mến, nghĩ tưởng các Đức Phật có thần lực rộng lớn, có trí tuệ rộng lớn, có phước đức rộng lớn, có tướng tốt rộng lớn, các tướng tốt như vậy từ công đức này sinh ra, tướng tốt như thế từ công đức kia sinh ra, tướng tốt như vậy có phước đức như vậy, tướng tốt như vậy có phước đức như vậy, biết tướng thể, biết tướng quả, biết tướng nghiệp, mỗi pháp môn chiếu soi thấu đạt rõ ràng, hiểu sâu tướng hai mà không nghi ngờ dính mắc, định tâm yên tịnh cũng không loạn động, an trụ định này dần dần càng sâu, bỗng phát thô tế, trụ cõi Dục vị đáo tiến nhập Sơ thiền, v.v… Niệm Phật căn bản đều là một bên, giác được cảnh giới niệm Phật này cho nên gọi là giác chi, phân biệt niệm Phật có bao nhiêu tướng, bao nhiêu công đức pháp môn, đều hiểu biết rõ ràng, đó là quán chi. Thấy như vậy rồi trong tâm vui mừng tràn đầy, gọi là hỷ chi, nhất tâm an ổn toàn thân vui mừng gọi là lạc chi, không duyên không niệm, vắng lặng thâm nhập gọi là nhất tâm chi, năm chi như vậy đồng khởi với pháp niệm Phật, huân vị công đức của Như Lai gấp bội hơn các chi không thể nói hết, người chứng tự biết, chỉ có công đức, tướng tốt Phật pháp là vô lượng, năm chi phát sinh cũng vô lượng không thể nói không thể nói. Mỗi năm chi đều đầy đủ mười thứ công đức quyến thuộc rừng nhánh, đó là nhờ Tam-muội niệm Phật mà phát Sơ thiền cho đến Bốn không, đặc thắng thông minh bất tịnh bối xả từ tâm v.v… cũng giống như vậy, v.v…

Vì sao nhờ thiền phát sinh được Tam-muội Niệm Phật! Nếu hành giả phát sinh các thiền căn bản v.v…, ở trong định bỗng nhớ nghĩ các Đức Phật Như Lai, cảm động phước đức do nơi tướng tốt, tướng tốt do nghiệp lành, ba thứ pháp môn tương ưng với tâm thông suốt rõ ràng, khi pháp này phát thì năm chi thiền định tăng lên gấp bội, vô cùng vi diệu, Bốn thiền, đặc thắng, bối xả v.v… cũng giống như vậy. Định niệm Phật này cũng có hai thứ: 1. Ẩn một. 2. Bất ẩn một. Nếu trước được ẩn mất, hiểu công đức các Đức Phật, nhớ biết rõ ràng, sau mới được không ẩn mất, thấy rõ tướng sáng, chiêm ngưỡng thần dung rõ ràng, đây chẳng phải là ma, năng tăng tiến công đức, giữ gìn gốc lành lúc đầu, nhờ niệm Phật có khả năng thông đạt pháp môn sáu niệm, đó là pháp môn niệm công đức Phật, tức là niệm pháp, đệ tử thọ hành niệm tướng nghiệp thể quả, ba việc hòa hợp gọi là niệm tăng, đây là dùng niệm tăng, dùng niệm Phật, dùng niệm pháp khéo dứt các niệm ác tức là niệm xả, niệm như vậy thì kinh tín hổ thẹn tức là niệm giới, niệm trong định này nhánh rừng công đức đồng với các vị trời tức là niệm thiên, ba tự niệm ba niệm tha, cho đến thông đạt tất cả pháp đối với pháp môn niệm Phật, thành Ma-ha-diễn, như Tát-Đà-Ba-Côn thấy Phật thì được vô lượng pháp môn, trong ngoài đều không ẩn mất. Nếu trong tối ẩn mất, không biết một pháp môn công đức, mà ngoài thấy tướng ánh sáng lóa mắt, đây chính là ma, bẻ gãy mầm lành, làm tổn hại hoa quả. Người thời nay thấy Phật tâm không có pháp môn thì đều chẳng phải Phật, nếu hiểu được ý này chỉ chấp pháp chánh, sắc tướng chẳng phải chánh, nếu chấp duyên về sắc tướng thì ma biến thành tướng bùn gỗ hình vẽ đều là Phật, lại Như Lai thị hiện tự tại vô ngại, đâu cần duyên tạo hình dáng, có ánh sáng phát ra một trượng, hình dáng một trượng ấy thị hiện đồng với người xinh đẹp. Đức Phật thị hiện khắp thân vui mừng, toàn thân thích nghi với chúng sinh, thị hiện thân đối trị khắp, khắp thị hiện thân được độ, Sư tăng, cha mẹ, hươu ngựa, khỉ vượn, tất cả sắc tượng thảy đều được thấy, cùng với pháp môn đều phát, lại có thể làm tăng trưởng thêm lớn gốc rễ lành mới gọi là niệm Phật Tam-muội v.v…

10. Nói về thần thông phát: lược có năm thứ: Thiên nhãn, tha tâm, thiên nhĩ, túc mạn, và thần thông. Vô lậu thuộc trong cảnh ở dưới sẽ nói, chỉ được nhờ thiền mà phát thông, không được nhờ thông mà phát thiền. Vì sao? Vì các thiền đều là định pháp, được phát sinh lẫn nhau, các thiền là thể chung, thông là dụng của các thiền, từ thể có dụng, cho nên thông giúp cho thể hưng khởi, dụng không thể sinh khởi một mình thì đâu thể phát sinh thể. Kinh chép: Tu sâu thiền định đắc năm thần thông tức là ý này. Nếu thông luận phát: thì trong mỗi thiền đều phát sinh năm thông, nếu y cứ cho tiện dễ phân biệt luận thì căn bản nhiều không thể phát, dù phát cũng không an vui lợi lạc, Đặc thắng, thông minh thường phát thần thông nhẹ nâng thân. Bối xả thắng xứ thường phát như ý chuyển biến thần thông tự tại. Nếu trong định tâm từ mà duyên sắc mạo của người, chấp được tướng an vui, nhờ sắc mà biết tâm, biết sự khổ vui kia, ở đây thường phát biết tha tâm thông, đã nhờ sắc biết tâm, cũng biết ngôn ngữ âm thanh kia, cũng phát thiên nhĩ thông, nhân duyên quán người ba đời, chiếu soi việc quá khứ, thường phát túc mạng thông, chiếu việc đời vị lai thường phát thiên nhãn thông. Nếu niệm Phật định không ẩn mất thì thường phát thiên nhãn thông, lại các thông nếu tinh tế thì tức là ba minh, nhưng chẳng phải vô lậu minh, thí như người ta điếc mắt mù bỗng nhiên được mở sáng thấy rõ thì rất hoan vui mừng, huống chi từ vô lượng kiếp đến nay năm căn bên trong tối tăm, nay phá năm ế tịnh phát năm thông, trong mỗi thân đều có năm chi, như nhãn chướng phá sự sáng suốt hiểu biết đối với nhãn căn, tác đối với sắc tức giác chi, phân biệt sắc v.v… vô lượng các tướng tức là quán chi, thông hiểu rõ đều này thì rất vui mừng tức là hỷ chi, nội tâm thọ vui tức lạc chi, vô duyên vô niệm vắng lặng tức nhất tâm chi, bốn thông còn lại cũng giống như vậy. Nếu y cứ vào thể các thiền hoặc trong tâm được hiểu, hoặc tướng bên ngoài không rõ ràng, mà có nghĩa ẩn mất, thần thông là dụng của định, thì dụng sẽ rõ ràng sáng suốt, vì vậy cho nên đều không ẩn mất.

11. Nói về tu Chỉ Quán: Nếu hành nhân phát được các thiền, không có phương tiện tham đắm thiền vị, Bồ-tát này trói buộc theo thiền thọ sinh, trôi lăn trong sinh tử, nếu cầu vượt ra thì phải quán sát mười ý v.v… Nếu quán thiền như cây bí ngô có thể vì mười pháp giới mà làm nhân duyên, ban đầu tuy phát định nhu phục thân miệng, như rắn vào ông tre, nhân thiền mà thẳng đến, sau xuất quán đối cảnh, rồi trở lại khúc cong ra sinh phiền não. Ban đầu như nước ít, sau tràn đầy đồ đựng lớn, thiền pháp đã mất, phá giới trái đạo, gây ra nghiệp vô gián, khi Phật còn tại thế, tỳ-kheo đắc Tứ thiền gọi là tứ quả, chính là hùng tử v.v… lại thắng ý đắm chấp thiền, tự cao báng bỏ hỷ căn v.v… lại nhập định vô ác xuất quán, khởi ác thành nghiệp. Nếu người mất định bị ác lôi kéo vào đường ác, người không mất định thọ thiền báo hết thì nghiệp ác hưng khởi, làm thân con chồn bay, ăn các loài cá chim tức là nghĩa ấy. Nếu không đắc thiền danh lợi không đến, đã đắc thiền rồi nhân đó gây ra pháp giới ba đường, nếu ở trong thiền đắm nhiễm tướng định, nếu xuất quán rồi, khởi tâm nhân từ lễ nghĩa, nếu không mất định hễ thiên báo hết thì sinh lên làm người, nếu dùng thiền quán huân tập mười điều lành, nhậm vận tự thành không cần phòng hộ là nghiệp ở cõi trời nghiệp của hai cõi Tứ thiền, tứ không ở trên. Nếu chuyên tu căn bản, chỉ tăng trưởng trời người thì không có kỳ hạn ra khỏi, như thời Đức Phật Đại Thông Trí Thắng các trời Phạm tự nói trải qua 10 kiếp không có Phật, đầy dãy ba đường ác, không có một người được giải thoát sinh tử, nếu chuyên tu bất tịnh bối xả v.v… không đợi đế trí, năng phát vô lậu, thành pháp giới Thanh văn, nếu quán các thiền phá được sáu tế, tế là tập tập chiêu cảm quả khổ, năng phá là đạo đạo năng đi đến diệt, cũng là pháp giới Thanh văn, cũng là sáu Độ pháp giới Bồ-tát. Lại thiền phải bỏ dục gọi là đàn, nếu không thì giữ giới Tam-muội không hiện tiền gọi là thi, đắc thiền cho nên không còn sân gọi là nhẫn, đắc thiền cho nên không còn tạp niệm gọi là tinh tấn, pháp này tự gọi là Thiền, biết các pháp đều vô thường gọi là Trí, đó gọi là nhân thiền mà khởi sáu Độ pháp giới Bồ-tát. Lại quán thiền này là nhân duyên sinh pháp, nếu quán các thiền là hữu chi, hữu chi do thủ cho đến già chết như trước nói, là pháp giới Duyên giác. Lại quán các thiền, pháp do nhân duyên sinh, tức không, sinh pháp tức không là vô sinh đạo đế, là pháp giới của Thanh văn, Bồ-tát thuộc Thông giáo. Lại quán thiền này là pháp do nhân duyên sinh tức không tức giả tức trung, mười pháp giới từ thiền mà sinh, từ thiền mà diệt. Vì sao? Vì nếu nhân thiền mà sinh ra pháp ba nẻo sáu đường tức là tăng trưởng hai mươi lăm hữu, sinh sáu pháp giới, diệt bốn pháp giới, nếu nhân thiền xuất sinh pháp bối xả v.v… hàng phục hai mươi lăm hữu cùng là tiêu diệt sáu pháp giới. Nếu quán bối xả v.v… vô thường là dùng sinh diệt vụng độ phá hai mươi lăm hữu, diệt sáu pháp giới, sinh một pháp giới, nếu quán thiền là pháp do nhân duyên sinh tức không là dùng bất xanh khéo độ phá hai mươi lăm hữu, diệt bảy pháp giới, sinh một pháp giới, nếu quán thiền tức giả là dụng vô lượng vụng độ phá hai mươi lăm hữu và khách trần phiền não, diệt tám pháp giới, sinh một pháp giới; nếu quán thiền là pháp do nhân duyên sinh tức trung là dụng một thật khéo độ phá hai mươi lăm hữu và vô minh hoặc, diệt chín pháp giới, sinh một pháp giới, thành vương Tam-muội, nhiếp khắp tất cả Tam-muội, căn bản bối xả đều nhập trong kia, như các dòng chảy về biển, biến căn bản bối xả đều thành Ma-ha-diễn, nghĩa nhiếp như các dòng chảy về biển, nghĩa diệt như vị lai hết, nghĩa sinh như vị mặn thành, thiền ba-la-mật biến từ định kia thành vô duyên từ bi, biến niệm Phật kia thành biển niệm Phật lớn, các Đức Phật mười phương đều hiện ra trước, biến thần thông kia thành Như Lai vô mưu quyền biến khéo léo. Trong chín pháp giới, các giới định tuệ nhập vương Tam-muội. Biến gọi là Thánh hạnh, Thánh hạnh đã khế hợp an trụ đế lý, tức gọi là thiên hạnh, thiên hạnh có đồng thể vô duyên từ, tức phạm hạnh đơn minh, bi đồng phiền não, muốn nhổ gốc khổ tức là bệnh hạnh, đơn minh từ đồng với tiểu thiện, dục và lạc kia tức anh nhi hạnh, do năm hạnh này sinh mười công đức, cho đến rốt ráo thành Đại Niết-bàn, đó gọi là nhân thiền sinh diệt mười pháp ẩn hiển ba đế, thứ lớp sinh ra xoay vần tăng tiến, nhiếp thành Phật pháp, đầy đủ tức trung trong vương Tam-muội, đây mới là cảnh tư nghì, chẳng phải sở quán ở đây.

Bất tư nghì quán: Nếu phát một niệm định tâm, hoặc vị, hoặc tịnh cho đến thần thông, tức biết tâm này là pháp tánh vô minh, pháp giới mười cõi một trăm pháp vô lượng định loạn một niệm đầy đủ. Vì sao? Vì do mê pháp tánh cho nên có tất cả tán loạn, ác pháp, do hiểu pháp tánh cho nên có tất cả định pháp, định tán đã tức vô minh, vô minh cũng tức pháp tánh, mê giải định tán tánh kia không hai, vi diệu khó suy nghĩ bàn luận, bặt đường ngôn ngữ, tình tưởng vụng độ, chỉ tự uổng công vô ích, đâu phải là cảnh giới của phàm phu Nhị thừa tuy siêu việt thường tình mà không lìa các cõi. Kinh chép: Tất cả chúng sinh tức là định diệt tận, tuy tức tâm gọi là định mà chúng sinh chưa bắt đầu đúng, mà chúng sinh chưa bắt đầu sai. Vì sao? Nếu lìa chúng sinh thì chỗ nào cầu định, cho nên chúng sinh chưa bắt đầu sai, nếu ngay nơi chúng sinh quyết định chẳng phải chúng sinh cho nên chúng sinh chưa bắt đầu đúng, chưa đúng cho nên bất tức, bất phi, cho nên bất ly, bất tức, bất ly vi diệu ở trong ấy, khó so lường như hư không, chỉ Phật và Phật mới có thể rốt ráo cùng tận, một niệm thiền định đã vậy, tất cả cảnh giới cũng giống như vậy. Nếu quán như thế hoát nhiên được ngộ, vừa nghe lời này thì bệnh phiền não liền lành, không cần chín pháp dưới, nếu quán chưa ngộ thì lại khởi từ bi, lý này vắng lặng mà chúng sinh khởi mê, vô minh hý luận che lấp. Như Lai tạng, rừng phiền não dầy đặc, vì vậy cho nên khởi bi, nhổ gốc khổ căn bản. Lại nữa, vô minh tức pháp tánh, phiền não tức Bồ-đề, muốn khiến chúng sinh ngay nơi sự là chân, Pháp thân hiển hiện, cho nên khởi từ, cho vui rốt ráo. Thệ nguyện như vậy thanh tịnh chân chánh, trên cầu Phật đạo, dưới hóa độ chúng sinh, không xen lẫn độc, không thiên về tà, không nương tựa ỷ lại, lìa hai bên, gọi là phát tâm Bồ-đề, khi tâm này phát hoát nhiên đắc ngộ, như ngựa chạy nhanh chỉ thấy bóng roi quất liền chạy theo liền chánh. Nếu không bỏ thì phải an tâm Chỉ Quán, khép léo hồi chuyển, phương tiện tu tập, hoặc chỉ hoặc quán, nếu quán nhất niệm thiền định, hai bên vắng lặng gọi là thể chân chỉ; chiếu pháp, tánh thanh tịnh, không chướng không ngại, gọi là tức không quán, lại quán thiền tâm tức không tức giả, song chiếu nhị đế mà không động chân tế, gọi là tùy duyên chỉ, thông đạt được bệnh cho phù hợp gọi là tức giả quán, lại quán sâu thiền tâm, thiền tâm tức không tức giả tức trung, không hai không khác, gọi là vô phân biệt chỉ, thấu đạt thật tướng Như Lai tạng Đệ nhất nghĩa, không hai không khác, gọi là tức Trung quán, ba quán ba ở một niệm tâm, không trước không sau, chẳng một chẳng khác, vì phá hai bên nên gọi là nhất danh trung, vì phá thiên chấp sinh diệt gọi là viên tịnh diệt, vì phá thứ lớp ba chỉ ba quán gọi là ba quán một tâm, thật không có trung viên, nhất tâm định tướng, dùng Chỉ Quán này mà an tâm kia v.v… Nếu tâm nghiên cứu hai pháp mà chưa nhập thì phải biết chưa phát chân, trước đều là mê loạn, dùng một tâm ba quán phá khắp ngang dọc tất cả mê loạn, mê đi thì tuệ phát, loạn dứt thì định thành, nếu như kia không ngộ thì tắc nghẽn mà không thông, cần phải quán lại, vì sao không thông? Vì sao không bít? Nếu kia không bít thì lẽ ra là thông, nếu kia không thông thì lại phải quán sát, biết chữ, chẳng phải chữ, biết Tứ đế đắc thất, nếu không ngộ là không biết cách điều đình đạo phẩm. Vì sao? Vì một niệm thiền tâm đầy đủ mười cõi năm ấm. Các ấm tức không, phá bốn đảo giới nội thành bốn khô, các ấm tức giả phá giới ngoại bốn đảo thành tứ tươi, các ấm tức trung, phi nội phi ngoại, phi tươi phi khô, ở trung gian kia mà Bátniết-bàn, như bốn niệm này mở cửa đạo phẩm, đạo phẩm mở ba cửa giải thoát, nhập Niết-bàn đạo, định đầy đủ, cớ sao không ngộ! Phải do nghiệp chướng quá khứ che lấp, hiện tại đắm chấp thiền vị, không thể xả bỏ, xưa nay trợ giúp lẫn nhau, cộng thành xen lẫn che lấp thì đạo do đâu mà phát. Phải khổ công sám hối xả thân mạng tài sau, xả vị thiền, tham tu đàn độ, giúp vị sau chướng. Lại đắm các thiền tức phá tùy đạo giới, cho đến phá giới cụ túc, nên khổ công sám hối khiến sự tướng cẩn thận tinh khiết, giúp trị thi-la chướng. Lại như Phạm thiên hắc xỉ còn tự có sân, nay phát sự thiền có sau không sân! Lại chấp có các thiền là có, chẳng phải vô sinh, cũng chẳng phải tịch diệt, chẳng phải hai nhẫn cho nên mặc tình là sân, quá khứ hiện tại giúp nhau cộng thành sân chướng, phải khổ công sám hối thêm tu sự từ, giúp trị nhẫn chướng. Lại chấp đắm thiền vị là buông lung, si mê mù tối, tán động lẫn lộn, quá khứ hiện tại giúp sức lẫn nhau cộng thành biếng nhác, phải khổ công tinh tấn không dứt quãng, phải nối nhau giúp trị tiến chướng. Lại nghiệp tướng phát ra trong thiền làm não loạn thiền tâm, không được vắng lặng, nếu Nhị thừa chỉ dứt phiền não, dứt nghiệp mà đi, không luận dứt nghiệp, Bồ-tát dứt phiền não thọ thân pháp tánh mà các pháp môn có khai không khai, nên biết là bị nghiệp làm chướng ngăn, cần phải khổ công tu các nghiệp lành, thân pháp tánh còn như vậy, huống gì thân sinh tử làm sau không có nghiệp ư? Tu điều lành trợ giúp trị định chướng. Lại vị thiền hoàn toàn không hiểu vô thường sinh diệt, huống chi là hiểu vị đắm bất sinh bất diệt, quá khứ hiện tại giúp nhau cộng thành si chướng, phải khổ công sám hối trị sự mê tà lệch, đây là nói lược đối trị, rộng không thể nói hết. Hành nhân pháp quán cùng cực đến đây nếu không ngộ thì người ấy là đại độn căn, đại ngăn chướng tội, sợ rằng nhân nơi tội chướng lại tạo thành lỗi lầm, cho nên lại nói ba ý ở dưới! Biết thứ vị trong ngăn phòng tăng thượng mạn, an nhẫn ngoài ngăn phòng tám thứ gió, trừ pháp ái, ngăn phòng đảnh đọa, mười pháp thành tựu mau nhập vô sinh, được một cỗ xe lớn, dạo chơi khắp bốn phương, thẳng đến Diệu giác, phá hai mươi lăm cõi, chứng Vương Tam-muội, tự tu hành, giáo hóa chúng sinh, từ đầu đến cuối đầy đủ, ngoài ra đều như ở trên đã nói.

Print Friendly, PDF & Email
Did you find apk for android? You can find new Free Android Games and apps.