LUẬN XÁ LỢI PHẤT A TỲ ĐÀM
Hán dịch: Đời Diêu Tần, Đại sư Đàm Ma Da Xá, Đàm Ma Quật Đa
Việt dịch: Phật tử Nguyên Huệ

 

QUYỂN 20

Phẩm thứ 11: PHẦN KHÔNG PHẢI HỎI VỀ PHIỀN NÃO, phần 3

Hỏi: Những gì là mười phiền não sử?

Đáp: Phiền não sử kiến. Phiền não sử nghi. Phiền não sử giới đạo. Phiền não sử ái. Phiền não sử giận dữ. Phiền não sử ganh ghét. Phiền não sử keo kiệt. Phiền não sử vô minh. Phiền não sử kiêu mạn. Phiền não sử trạo cử. Đó gọi là mười phiền não sử.

Hỏi: Những gì là mười phiền não kiết?

Đáp: Phiền não kiết kiến. Phiền não kiết nghi. Phiền não kiết giới đạo. Phiền não kiết dục nhiễm. Phiền não kiết sắc nhiễm. Phiền não kiết sân hận. Phiền não kiết vô sắc nhiễm. Phiền não kiết vô minh. Phiền não kiết mạn. Phiền não kiết trạo cử. Đó gọi là mười phiền não kiết.

Hỏi: Những gì là mười tưởng?

Đáp: Tưởng dục. Tưởng giận. Tưởng hại. Tưởng tham. Tưởng chê trách. Tưởng đây là nội ngoại. Tưởng quốc độ. Tưởng thấp kém. Tưởng bất thiện. Tưởng nương dựa tham. Đó gọi là mười tưởng.

Hỏi: Những gì là mười giác?

Đáp: Giác giận. Giác hại. Giác xóm làng thân thuộc. Giác quốc độ. Giác không chết. Giác phải là người khác. Giác tương ưng với thức. Giác tương ưng với không từ. Giác dựa vào lợi dưỡng. Giác dựa vào tham. Đó gọi là mười giác.

Hỏi: Những gì là mười pháp tà?

Đáp: Tà kiến. Tà giác. Tà ngữ. Tà nghiệp. Tà mạng. Tà tấn. Tà định. Tà tuệ. Tà giải thoát. Tà trí. Đó gọi là mười pháp tà.

Hỏi: Những gì là mười việc xúc não?

Đáp: Nếu đã xâm phạm sinh tâm não. Nay đang xâm phạm sinh tâm não. Sẽ muốn xâm phạm sinh tâm não. Nếu ta không yêu thích, vui mừng, vừa ý, do đã tạo lợi ích nên sinh tâm não. Nay đang tạo lợi ích nên sinh tâm não. Sẽ muốn tạo lợi ích nên sinh tâm não. Do giận dữ ngang bướng nên sinh tâm não. Đó gọi là mười việc xúc não.

Hỏi: Những gì là mười đạo nghiệp bất thiện?

Đáp: Sát sinh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, nói lời thô ác, nói lưỡi đôi chiều, nói thêu dệt, tham, giận, tà kiến. Đó gọi là mười đạo nghiệp bất thiện.

Hỏi: Những gì là mười pháp gây tạo bị đọa nơi địa ngục nhanh chóng như giáo đâm phóng?

Đáp: Sát sinh cho đến tà kiến. Mười pháp này gây tạo tức bị đọa nơi địa ngục nhanh chóng như giáo đâm phóng.

Hỏi: Những gì là mười một tâm cấu uế?

Đáp: Nghi ngờ là tâm cấu uế. Không tư duy là tâm cấu uế. Sợ hãi là tâm cấu uế. Buồn thương là tâm cấu uế. Ác là tâm cấu uế. Ngủ nghỉ nhiều là tâm cấu uế. Tinh tấn quá mức là tâm cấu uế. Tinh tấn yếu ớt là tâm cấu uế. Không có năng lực là tâm cấu uế. Từng ấy tưởng là tâm cấu uế. Chấp nơi sắc là tâm cấu uế. Đó gọi là mười một tâm cấu uế.

Hỏi: Vì sao nói nghi ngờ là tâm cấu uế?

Đáp: Hoặc có người duyên nơi nghi ngờ quá khứ: Hoặc quá khứ của ta là có hay quá khứ của ta là không có. Quá khứ của ta có tánh gì? Nhân gì nên có quá khứ của ta? Hoặc có người duyên nơi nghi ngờ ở vị lai: Vị lai của ta là có hay vị lai của ta là không có? Vị lai của ta có tánh gì? Nhân gì nên có vị lai của ta? Hoặc có người duyên nơi nghi ngờ hiện tại: Hiện tại của ta là có hay hiện tại của ta là không có? Hiện tại của ta có tánh gì? Nhân gì nên có hiện tại của ta? Các chúng sinh từ nơi chốn nào đến? Đi đến nơi chốn nào?

Nếu người kia nghi hoặc đối với Phật Thế Tôn: Là Phật, Thế Tôn hay không phải là Phật Thế Tôn? Đức Thế Tôn đã khéo giảng nói pháp hay không khéo giảng nói pháp? Chúng Thanh văn của Đức Thế Tôn là hành của nẻo thiện hay không phải là hành của nẻo thiện? Hành thường hay không phải là thường? Hành khổ hay không phải là hành khổ? Pháp vô ngã hay không phải là pháp vô ngã? Niết-bàn tĩnh lặng hay không phải là Niết-bàn tĩnh lặng? Có cho, không cho. Có thí, không thí. Có cúng tế, không cúng tế. Có quả báo của nghiệp thiện ác, không có quả báo của nghiệp thiện ác. Có đời nay, không có đời nay. Có đời sau, không có đời sau. Có cha mẹ, không có cha mẹ. Có trời, không có trời. Chúng sinh có hóa sinh, chúng sinh không hóa sinh. Đời có Sa-môn, Bà-la-môn hướng chánh đến chánh. Hoặc đời nay, đời sau tự chứng biết, nêu bày. Đời không có Sa-môn, Bà-la-môn hướng chánh đến chánh. Hoặc đời nay, đời sau tự chứng biết, nêu bày. Nếu đối với pháp kia nghi hoặc, lại nghi hoặc, hoàn toàn nghi hoặc, tâm không quyết định, hai tâm do dự, hoài nghi, không hiểu rõ, vô lượng nghi không dứt hết, không phải giải nói, do dự, lại do dự, hoàn toàn do dự. Đó gọi là nghi là tâm cấu uế.

Hỏi: Vì sao nói không tư duy là tâm cấu uế?

Đáp: Nếu sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, hoặc chúng sinh và pháp, tính kể, so sánh, phân biệt, trù tính, lường xét, nhớ nghĩ bất chánh, đó gọi là không tư duy là tâm cấu uế.

Hỏi: Vì sao nói sợ hãi là tâm cấu uế?

Đáp: Sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, hoặc chúng sinh và pháp, duyên nơi sự sợ hãi hoàn toàn này, sợ hãi, kinh ngạc, rùng mình, biến sắc, đó gọi là sợ hãi là tâm cấu uế.

Hỏi: Vì sao nói buồn thương là tâm cấu uế?

Đáp: Nếu tâm bất thiện khởi buồn thương, đó gọi là buồn thương là tâm cấu uế.

Hỏi: Vì sao nói ác là tâm cấu uế?

Đáp: Thân, miệng, ý ác, đó gọi là ác là tâm cấu uế.

Hỏi: Vì sao nói ngủ nghỉ nhiều là tâm cấu uế?

Đáp: Nếu phiền não chưa đoạn dứt, chìm lặn ở ngủ nghỉ, thân không vui, thân không điều hòa, thân không nhẹ nhàng, thân không hòa dịu, thân không trừ (khinh an), đó gọi là ngủ. Nếu ngủ, như phiền não chưa đoạn dứt, chìm mất ở giấc ngủ, nếu buồn ngủ, mắt nhìn đờ đẫn, ngủ say chiếm giữ tâm, đó gọi là ngủ say. Như thế ham ngủ nghỉ đó gọi là ngủ nghỉ nhiều là tâm cấu uế.

Hỏi: Vì sao nói tinh tấn quá mức là tâm cấu uế?

Đáp: Nếu tinh tấn trạo cử, đó gọi là tinh tấn quá mức là tâm cấu uế.

Hỏi: Vì sao nói tinh tấn yếu ớt là tâm cấu uế?

Đáp: Nếu tinh tấn chìm mất, đó gọi là tinh tấn yếu ớt là tâm cấu uế.

Hỏi: Vì sao nói không có năng lực là tâm cấu uế?

Đáp: Nếu tâm khiếp nhược, đó gọi là không có năng lực là tâm cấu uế.

Hỏi: Vì sao nói từng ấy tưởng là tâm cấu uế?

Đáp: Nếu chúng sinh khác, sự khác, cảnh giới khác, mọi sinh khác, đó gọi là từng ấy tưởng là tâm cấu uế.

Hỏi: Vì sao nói chấp nơi sắc là tâm cấu uế?

Đáp: Nếu thấy sắc, chuyên chấp vướng, đó gọi là chấp nơi sắc là tâm cấu uế. Như thế là mười một tâm cấu uế.

Hỏi: Những gì là hai mươi thứ thân kiến?

Đáp: Hoặc có người cho: Sắc là ngã. Trong sắc có ngã. Ngã là sắc có. Sắc là ngã có. Thọ, tưởng, hành, thức cũng như thế. Đó gọi là hai mươi thứ thân kiến.

Hỏi: Những gì là hai mươi pháp gây tạo bị đọa nơi địa ngục nhanh chóng như giáo đâm phóng?

Đáp: Tự sát sinh, bảo người khác sát sinh, cho đến tự tà kiến, bảo người khác tà kiến, đó gọi là hai mươi pháp gây tạo bị đọa nơi địa ngục nhanh chóng như giáo đâm phóng.

Hỏi: Những gì là hai mươi mốt tâm cấu uế?

Đáp: Trông mong là tâm cấu uế. Giận dữ, ngủ nghỉ nhiều, trạo cử, hối, nghi, não hại, thường nghĩ đến oán, mang tâm ngờ vực, hận, nóng bức, ganh ghét, keo kiệt, lừa dối, gian trá, không hổ, không thẹn, khoe khoang, tranh tụng, tự cao, phóng dật, mạn, tăng thượng mạn, đó gọi là hai mươi mốt tâm cấu uế.

Hỏi: Những gì là ba mươi pháp gây tạo bị đọa nơi địa ngục nhanh chóng như giáo đâm phóng?

Đáp: Tự sát sinh, bảo người khác sát sinh, khen ngợi sát sinh, cho đến tự tà kiến, bảo người khác tà kiến, khen ngợi tà kiến, đó gọi là ba mươi pháp gây tạo bị đọa nơi địa ngục nhanh chóng như giáo đâm phóng.

Hỏi: Những gì là ba mươi sáu hành ái?

Đáp: Nội sinh mười tám hành ái. Ngoại sinh mười tám hành ái.

Hỏi: Những gì là nội sinh mười tám hành ái?

Đáp: Như Đức Thế Tôn nói: Nhân đây có đây, nhân kia mà có. Như thế, nhân có khác với nhân có. Sẽ nhân có, không sẽ nhân có. Ta sẽ có, người kia, ta sẽ có. Như thế, ta sẽ có khác với ta sẽ có. Nhân được, kia được. Như thế, được khác với được. Hy vọng sẽ có, hy vọng người kia sẽ có. Hy vọng sẽ có như thế, hy vọng khác với sẽ có. Đó gọi là nội sinh mười tám hành ái.

Hỏi: Những gì là ngoại sinh mười tám hành ái?

Đáp: Như Đức Thế Tôn nói: Là nhân đây có đây, là nhân kia mà có. Như thế là nhân có là khác với nhân có. Là sẽ nhân có, là không sẽ nhân có. Là ta sẽ có, là người kia, ta sẽ có. Là như thế, ta sẽ có. Là khác với ta sẽ có. Là nhân được. Là kia được. Là được như thế. Là khác với được. Là hy vọng sẽ có. Là hy vọng người kia sẽ có. Là hy vọng sẽ có như thế. Là hy vọng khác với sẽ có. Đó gọi là ngoại sinh mười tám hành ái.

Như thế, nội sinh mười tám hành ái, ngoại sinh mười tám hành ái, đó gọi là ba mươi sáu hành ái.

Hỏi: Những gì là bốn mươi pháp gây tạo bị đọa địa ngục nhanh chóng như giáo đâm phóng?

Đáp: Tự mình sát sinh, bảo người khác sát sinh, khen ngợi sát sinh, thấy người khác sát sinh thì hoan hỷ theo họ, cho đến tự tà kiến, bảo người khác tà kiến, khen ngợi tà kiến, thấy người khác tà kiến thì hoan hỷ theo họ, đó gọi là bốn mươi pháp gây tạo bị đọa địa ngục nhanh chóng như giáo đâm phóng.

Hỏi: Những gì là sáu mươi hai kiến?

Đáp: Như Kinh Phạm Võng nói: Phật bảo các Tỳ-kheo: Lại có pháp khác, pháp lớn, vi diệu, rất sâu xa, sáng tỏ, chỉ có đệ tử của Hiền Thánh mới có thể dùng pháp này để tán thán Như Lai.

Những gì là pháp lớn vi diệu, rất sâu xa, sáng tỏ, đệ tử của Hiền Thánh có thể dùng pháp này để tán thán Đức Như Lai? Các Sa-môn, Bà-la-môn! Nơi vô số thứ loại kiếp gốc, kiến gốc, kiếp ngọn, kiến ngọn, tùy ý mà nói đều nhập nơi sáu mươi hai kiến. Vô số thứ loại kiếp gốc, kiến gốc, kiếp ngọn, kiến ngọn, tùy ý mà nói đều không thể vượt quá sáu mươi hai kiến. Sa-môn, Bà-la-môn kia do những duyên gì ở nơi vô số thứ loại kiếp gốc, kiến gốc, kiếp ngọn, kiến ngọn đều tùy ý nói, đều nhập nơi sáu mươi hai kiến này, không thể vượt qua.

Các Sa-môn, Bà-la-môn! Ở nơi vô số các thứ kiếp gốc, kiến gốc, đều tùy ý nói, đều nhập trong mười tám kiến. Vô số các thứ kiếp gốc, kiến gốc, đều tùy ý nói, đều không thể vượt qua trong mười tám kiến.

Các Sa-môn, Bà-la-môn! Do những duyên gì ở vô số các thứ kiếp gốc, kiến gốc đều tùy ý nói, đều nhập trong mười tám kiến, không có thể vượt qua? Các Sa-môn, Bà-la-môn! Ở nơi kiếp gốc, kiến gốc khởi thường luận nói: Ngã và thế gian là thường còn. Ở đây đều nhập trong bốn kiến. Đối với kiếp gốc, kiến gốc nói: Ngã và thế gian là thường còn, đều nhập trong bốn kiến, không có thể vượt qua.

Các Sa-môn, Bà-la-môn! Do những duyên gì, ở nơi kiếp gốc, kiến gốc khởi thường luận nói: Ngã cùng thế gian là thường còn. Đây đều nhập trong bốn kiến, không có thể vượt qua.

Hoặc có Sa-môn, Bà-la-môn dùng các thứ phương tiện nhập tam muội định ý, dùng tâm tam muội nhớ lại hai mươi kiếp thành, kiếp hoại. Họ tạo ra thuyết này: Ngã và thế gian là thường, đây là thật, các pháp khác là hư vọng. Vì sao? Vì ta đã dùng vô số thứ phương tiện, nhập tam muội định ý, dùng tâm tam muội nhớ lại hai mươi kiếp thành, kiếp hoại, trong đó chúng sinh không tăng, không giảm, thường tụ tập, không ly tán, do đấy ta biết được ngã và thế gian là thường, thường này là thật, các pháp khác là hư vọng. Đó là kiến thứ nhất.

Các Sa-môn, Bà-la-môn nhân kiến này, đối với kiếp gốc, kiến gốc, chấp ngã và thế gian là thường, ở trong bốn kiến, không có thể vượt qua.

Hoặc có Sa-môn, Bà-la-môn dùng các thứ phương tiện nhập tam muội định ý, dùng tâm tam muội nhớ lại bốn mươi kiếp thành, kiếp hoại, nên tạo ra thuyết này: Ngã và thế gian là thường, đây là thật, các pháp khác là hư vọng. Vì sao? Vì ta đã dùng các thứ phương tiện nhập tam muội định ý, dùng tâm tam muội nhớ lại bốn mươi kiếp thành, kiếp hoại, trong đó chúng sinh không tăng, không giảm, thường tụ không tán, do đấy ta biết được ngã và thế gian là thường, đây là thật, các pháp khác là hư vọng. Đó là kiến thứ hai.

Các Sa-môn, Bà-la-môn nhân kiến này, đối với kiếp gốc, kiến gốc, chấp ngã và thế gian là thường, ở trong bốn kiến, không có thể vượt qua.

Hoặc có Sa-môn, Bà-la-môn dùng các thứ phương tiện nhập tam muội định ý, dùng tâm tam muội, nhớ lại tám mươi kiếp thành, kiếp hoại, nên tạo ra thuyết này: Ngã và thế gian là thường, đây là thật, các pháp khác là hư vọng. Vì sao? Vì ta dùng các thứ phương tiện nhập tam muội định ý, dùng tâm tam muội nhớ lại tám mươi kiếp thành, kiếp hoại, trong đó chúng sinh không tăng, không giảm, thường tụ, không tán, ta dùng trí này: Ngã và thế gian là thường, đây là thật, các pháp khác là hư vọng. Đó là kiến thứ ba.

Các Sa-môn, Bà-la-môn nhân kiến này, đối với kiếp gốc, kiến gốc, chấp ngã và thế gian là thường, ở trong bốn kiến, không có thể vượt qua.

Hoặc có Sa-môn, Bà-la-môn có trí tướng mẫn tiệp, khéo có thể quán sát, dùng phương tiện của trí tướng mẫn tiệp để quán sát. Nghĩa là vì thẩm tra chắc chắn, dùng tri kiến của mình, dùng biện tài của mình để nói như thế này: Ngã và thế gian là thường, đây là thật, các pháp khác là hư vọng. Đó là kiến thứ tư.

Các Sa-môn, Bà-la-môn nhân kiến này, đối với kiếp gốc, kiến gốc, chấp ngã và thế gian là thường, ở trong bốn kiến, không có thể vượt qua.

Sa-môn, Bà-la-môn này đối với kiếp gốc, kiến gốc, chấp ngã và thế gian là thường. Như thế, tất cả đều nhập trong bốn kiến: Ngã và thế gian là thường, ở trong bốn kiến này, không có thể vượt qua. Chỉ có Đức Như Lai nhận biết xứ kiến này, giữ như thế, chấp như thế, cũng nhận biết báo ứng, là đối tượng nhận biết của Đức Như Lai. Lại vượt qua đấy, tuy biết rõ là không vướng mắc, nhưng do không vướng mắc nên được tĩnh lặng, nhận biết tập, diệt của ái, lỗi của vị, nẻo xuất yếu, vì dùng bình đẳng để quán giải thoát trọn vẹn, nên gọi Như Lai. Đó gọi là pháp lớn vi diệu rất sâu xa sáng tỏ khác, khiến đệ tử của Hiền Thánh chân thật, bình đẳng, tán thán Đức Như Lai.

Lại có pháp lớn vi diệu rất sâu xa sáng tỏ khác, khiến đệ tử của Hiền Thánh chân thật, bình đẳng, tán thán Đức Như Lai.

Những gì là pháp ấy? Các Sa-môn, Bà-la-môn ở nơi kiếp gốc, kiến gốc khởi ngôn luận: Ngã và thế gian cũng thường, cũng vô thường. Các Sa-môn, Bà-la-môn nhân kiến này, đối với kiếp gốc, kiến gốc, chấp ngã và thế gian là nửa thường, nửa vô thường, ở trong bốn kiến không có thể vượt qua.

Hoặc có thời quá khứ, kiếp này mới bắt đầu thành lập, có chúng sinh khác, phước hết, mạng hết, hành hết, từ trời Quang Âm mạng chung, sinh trong không phạm cung, bèn ở xứ kia sinh tâm ái chấp.

Lại nguyện cho chúng sinh khác cùng sinh nơi xứ này. Chúng sinh ấy đã sinh khởi ái chấp, nguyện rồi, lại có chúng sinh khác, phước của mạng hành đã hết, mạng chung ở trời Quang Âm, sinh đến trong không phạm cung này, chúng sinh sinh trước kia, liền khởi suy nghĩ: Ta ở xứ này là Phạm, Đại Phạm. Ta tự nhiên có, không ai có thể tạo ra ta. Ta đều nhận biết hết các nghĩa sách nơi hàng ngàn thế giới, trong đó tự tại, rất là tôn quý, có thể tạo biến hóa vi diệu bậc nhất, là cha của chúng sinh, riêng một mình ta có trước, về sau mới có chúng sinh khác đến, chúng sinh khác ấy đều do ta hóa thành. Chúng sinh đến sau ấy lại suy nghĩ: Người kia là Đại Phạm, có khả năng tự tạo, người khác thì không thể tạo ra vị kia. Vị ấy đều nhận biết hết các nghĩa, sách nơi hàng ngàn thế giới, trong đó là tự tại, tôn quý nhất, có thể là biến hóa vi diệu bậc nhất, là cha của chúng sinh. Người kia duy nhất có trước, sau mới có chúng ta. Ta và chúng sinh là do người kia hóa thành. Chúng sinh Phạm kia, mạng hành đều hết, sinh đến trong cõi này, dần dần trưởng thành, cạo bỏ râu tóc, xuất gia, mặc pháp phục, tu hành phạm chí, nhập tam muội định ý, theo tâm tam muội, tự nhận thức về gốc sinh, bèn nói như thế này: Người Đại Phạm kia có thể tự tạo tác, không có ai tạo ra người kia, vị ấy nhận biết hết các nghĩa sách nơi ngàn thế giới, ở đó tự tại rất là tôn quý, có thể biến hóa vi diệu bậc nhất, là cha của chúng sinh, thường trụ không đổi. Nhưng vị Phạm kia hóa ra chúng ta, chúng ta là vô thường biến đổi, không được trụ lâu. Thế nên phải biết, ngã và thế gian là cũng thường, cũng vô thường, đây là thật, các pháp khác là hư vọng. Đó gọi là kiến thứ nhất.

Các Sa-môn, Bà-la-môn nhân nơi kiếp gốc, kiến gốc, khởi luận: Ngã và thế gian cũng thường, cũng vô thường, ở trong bốn kiến này không có thể vượt qua.

Hoặc có chúng sinh vui mừng, cười đùa, lười biếng, thường thường vui đùa, lấy sự cười đùa làm thú vui của mình, lúc vui vẻ, thân thể rất mỏi mệt, bèn tự mất ý. Do mất ý nên mạng chung, sinh đến trong cõi này, dần dần trưởng thành, cạo bỏ râu tóc, xuất gia, mặc pháp phục, tu hạnh phạm chí, nhập tam muội định ý, do sức của tam muội ấy, tự nhận biết về gốc sinh bèn nói như thế này: Chúng sinh khác kia, không thường thường cười đùa vui vẻ, thường ở xứ đó, thường trụ không đổi thay. Do ta thường thường cười đùa, nên gây ra pháp biến đổi vô thường này. Thế nên biết ngã và thế gian cũng thường, cũng vô thường, đây là thật, các pháp khác là hư vọng. Đó gọi là kiến thứ hai.

Các Sa-môn, Bà-la-môn nhân nơi kiếp gốc, kiến gốc, khởi luận: Ngã và thế gian cũng thường, cũng vô thường, ở trong bốn kiến này không có thể vượt qua.

Hoặc có chúng sinh lần lượt ngắm nhìn nhau, ngắm nhìn nhau xong, bèn tự mất ý, do đấy mạng chung, sinh đến trong cõi này, dần dần trưởng thành, cạo bỏ râu tóc, xuất gia, mặc pháp phục, tu hạnh phạm chí, nhập tam muội định ý, do sức của tam muội ấy, nên nhận biết được đời sống trước kia của mình, liền nói thế này: Như chúng sinh kia, do không lần lượt ngắm nhìn nhau, vì không mất ý, nên thường trụ không thay đổi, còn chúng ta thường thường ngắm nhìn nhau, bèn mất ý, gây ra pháp biến dịch vô thường này. Ta do đấy nên biết được ngã và thế gian cũng thường, cũng vô thường, đây là thật, các pháp khác là hư vọng. Đó gọi là kiến thứ ba.

Các Sa-môn, Bà-la-môn nhân nơi kiếp gốc, kiến gốc, khởi luận: Ngã và thế gian cũng thường, cũng vô thường, ở trong bốn kiến này không có thể vượt qua.

Hoặc có các Sa-môn, Bà-la-môn, trí tướng mẫn tiệp, khéo có thể quán sát, do trí tướng mẫn tiệp quán sát xong, nói: Ngã và thế gian cũng thường, cũng vô thường, pháp này là thật, các pháp khác là hư vọng. Đó gọi là kiến thứ tư.

Các Sa-môn, Bà-la-môn nhân nơi kiếp gốc, kiến gốc, khởi luận: Ngã và thế gian cũng thường, cũng vô thường, tức ở trong bốn kiến này, không có thể vượt qua.

Các Sa-môn, Bà-la-môn ở nơi kiếp gốc, kiến gốc, khởi luận: Ngã và thế gian cũng thường, cũng vô thường, đều nhập trong bốn kiến, không có thể vượt hơn. Chỉ Đức Phật mới có thể nhận biết xứ kiến này, giữ như thế, chấp như thế, cũng nhận biết báo ứng là chỗ nhận biết của Như Lai, lại vượt qua ở đây, tuy biết không vướng mắc, do vì không vướng mắc nên được tĩnh lặng (Niếtbàn), biết tập, diệt của ái, lỗi của vị cùng nẻo xuất yếu, do quán bình đẳng, giải thoát trọn vẹn, nên gọi Như Lai. Đó gọi là pháp lớn vi diệu rất sâu xa sáng tỏ, khiến đệ tử của Hiền Thánh tán thán Đức Như Lai.

Lại có pháp lớn vi diệu rất sâu xa sáng tỏ, khiến đệ tử của Hiền Thánh chân thật, bình đẳng tán thán Đức Như Lai.

Những gì là pháp ấy?

Các Sa-môn, Bà-la-môn ở nơi kiếp gốc, kiến gốc, khởi luận: Ngã và thế gian là hữu biên, vô biên.

Các Sa-môn, Bà-la-môn nhân nơi kiếp gốc, kiến gốc, khởi luận: Ngã và thế gian là hữu biên, là vô biên, đều ở trong bốn kiến ấy, không có thể vượt qua.

Hoặc có các Sa-môn, Bà-la-môn, dùng vô số các phương tiện nhập tam muội định ý, do sức của tam muội, quán thế gian khởi tưởng biên và nói: Thế gian này là hữu biên, đây là thật, pháp khác là hư vọng. Vì sao? Vì ta dùng vô số loại phương tiện nhập tam muội định ý, do sức của tam muội quán thế gian là hữu biên, nên biết thế gian này là hữu biên, đây là thật, các thứ khác là hư vọng. Đó gọi là kiến thứ nhất.

Các Sa-môn, Bà-la-môn nhân nơi kiếp gốc, kiến gốc bèn khởi luận: Ngã và thế gian là hữu biên, đều ở trong bốn kiến, không có thể vượt hơn.

Hoặc có Sa-môn, Bà-la-môn, dùng vô số các phương tiện nhập tam muội định ý, do sức của tam muội, quán thế gian khởi tưởng vô biên, và nói: Thế gian là vô biên, đây là thực, ngoài ra là hư vọng. Vì sao? Vì ta dùng vô số phương tiện nhập tam muội định ý, do sức của tam muội, quán thế gian là vô biên, thế nên biết thế gian là vô biên, đây là thực, ngoài ra là hư vọng. Đó gọi là kiến thứ hai.

Các Sa-môn, Bà-la-môn nhân nơi kiếp gốc, kiến gốc, khởi luận: Ngã và thế gian là vô biên, đều ở trong bốn kiến, không có thể vượt qua.

Hoặc có Sa-môn, Bà-la-môn dùng vô số phương tiện nhập tam muội định ý, do sức của tam muội quán thế gian: Quán phương trên là hữu biên, bốn phương dưới là vô biên, và nói: Thế gian là hữu biên, vô biên, đây là thực, ngoài ra là hư vọng. Vì sao? Vì ta đã dùng vô số phương tiện nhập tam muội định ý, do sức của tam muội quán biết phương trên là hữu biên, bốn phương là vô biên, thế nên ta nhận biết thế gian là hữu biên, vô biên, đây là thực, ngoài ra là hư vọng. Đó gọi là kiến thứ ba.

Các Sa-môn, Bà-la-môn nhân nơi kiếp gốc, kiến gốc khởi luận: Ngã và thế gian là hữu biên, vô biên, đều ở trong bốn kiến, không thể vượt qua.

Hoặc có Sa-môn, Bà-la-môn có trí tướng mẫn tiệp, khéo có thể quán sát. Các vị ấy do trí tướng mẫn tiệp, quán sát xong và nói: Ngã và thế gian không phải hữu biên, không phải vô biên, đây là thực, ngoài ra là hư vọng. Đó gọi là kiến thứ tư.

Các Sa-môn, Bà-la-môn nhân nơi kiếp gốc, kiến gốc khởi luận: Ngã và thế gian không phải hữu biên, không phải vô biên, đây là thực, ngoài ra là hư vọng. Tất cả đều ở trong bốn kiến, không có thể vượt qua. Các Sa-môn, Bà-la-môn ở trong kiếp gốc, kiến gốc khởi luận: Ngã và thế gian là hữu biên, vô biên, đều nhập trong bốn kiến ấy, không thể vượt hơn. Chỉ có Đức Phật là có thể nhận biết rõ xứ kiến ấy, giữ như thế, chấp như thế, cũng nhận biết báo ứng. Điều Như Lai nhận biết còn vượt quá đấy. Tuy nhận biết nhưng không vướng mắc, vì không vướng mắc nên được tĩnh lặng, biết tập, diệt của ái, lỗi của vị cùng nẻo xuất yếu, do quán bình đẳng giải thoát trọn vẹn, nên gọi là Như Lai.

Lại có pháp lớn vi diệu rất sâu xa sáng tỏ, khiến đệ tử của Hiền Thánh chân thật, bình đẳng tán thán Như Lai.

Những gì là pháp ấy?

Các Sa-môn, Bà-la-môn nhân nơi kiếp gốc, kiến gốc, để hỏi khác, đáp khác. Các Sa-môn, Bà-la-môn nhân nơi kiếp gốc, kiến gốc, để hỏi khác, đáp khác ở trong bốn kiến này, không có thể vượt qua. Hoặc có Sa-môn, Bà-la-môn tạo luận như thế này, nêu kiến như thế này: Ta không biết có báo của nghiệp thiện, ác chăng? Không có báo của nghiệp thiện, ác, vì ta không thấy, không biết. Nếu nói có báo của nghiệp thiện ác, hoặc nói không có báo của nghiệp thiện ác, thì đời có Sa-môn, Bà-la-môn nghe nhiều, học rộng, trí tuệ thông sáng, thường ưa tịch tĩnh, cơ biện tinh vi, được người đời tôn trọng, có thể dùng trí tuệ khéo phân biệt các kiến. Giả như hỏi ta về nghĩa thâm diệu của các kiến, ta nếu không thể trả lời, tức có hổ thẹn, tâm ta mang sợ hãi, nên dùng nghĩa này để đáp, để được làm nơi chốn quy y, làm châu bãi, làm nhà, làm đạo cứu cánh. Nếu người kia hỏi, nên dùng nghĩa này để đáp: Việc ấy như thế là không phải. Việc ấy thật ra là không phải. Việc ấy khác với không phải. Việc ấy không phải khác với không phải, không khác với không phải. Đó gọi là kiến thứ nhất.

Các Sa-môn, Bà-la-môn nhân nơi hỏi khác, đáp khác này ở trong bốn kiến ấy, không có thể vượt qua.

Hoặc có Sa-môn, Bà-la-môn tạo ra luận như thế này, khởi kiến như thế này: Ta không thấy không biết là có đời khác hay không có đời khác? Thế gian có các Sa-môn, Bà-la-môn, dùng thiên nhãn và tha tâm trí, ở nơi xa có thể trông thấy ta, còn ta ở chỗ gần cũng còn không thể thấy. Người như thế có thể nhận biết có đời khác và không có đời khác, còn ta không biết, không thấy có đời khác, hay không có đời khác. Nếu ta nói tức là nói dối, ta sợ nói dối, nên là nơi chốn quy y, là châu bãi, là nhà, là đạo cứu cánh. Người kia nếu như hỏi, ta sẽ dùng nghĩa này để đáp: Việc ấy như thế là không phải. Việc ấy thật là không phải. Việc ấy khác với không phải. Việc ấy không phải khác với không phải không khác với không phải. Đó gọi là kiến thứ hai.

Các Sa-môn, Bà-la-môn nhân nơi hỏi khác, đáp khác ấy, ở trong bốn kiến này, không có thể vượt qua.

Hoặc có Sa-môn, Bà-la-môn tạo ra kiến như thế này, khởi luận như thế này: Ta không biết, không thấy cái gì là thiện, cái gì là bất thiện, vì ta không biết, không thấy. Nếu nói là thiện, là bất thiện, ta tức sinh khởi ái, từ ái sinh giận, có ái, có giận tất có thọ sinh, ta muốn diệt thọ ác, vì sợ thọ, nên dùng làm nơi chốn quy y, dùng làm châu bãi, làm nhà, làm đạo cứu cánh. Nếu như người kia hỏi, ta sẽ dùng nghĩa này để đáp: Việc ấy như thế là không phải. Việc ấy thật là không phải. Việc ấy khác với không phải. Việc ấy không phải khác với không phải không khác với không phải. Đó gọi là kiến thứ ba.

Các Sa-môn, Bà-la-môn nhân nơi hỏi khác, đáp khác ấy, ở trong bốn kiến này, không có thể vượt qua.

Hoặc có Sa-môn, Bà-la-môn ngu tối, ám độn. Vì ngu si, tối tăm, nên người khác có hỏi, bèn theo lời nói của người khác để đáp:

Việc ấy như thế là không phải. Việc ấy thật là không phải. Việc ấy khác với không phải. Việc ấy không phải khác với không phải không khác với không phải. Đó gọi là kiến thứ tư.

Các Sa-môn, Bà-la-môn nhân nơi hỏi khác, đáp khác ấy, ở trong bốn kiến, không có thể vượt qua.

Có các Sa-môn, Bà-la-môn đối với kiếp gốc, kiến gốc, do hỏi khác đáp khác, đều nhập trong bốn kiến, không có thể vượt qua. Chỉ có Đức Phật là có thể nhận biết xứ kiến này, giữ như thế, chấp như thế, cũng nhận biết báo ứng, là chỗ nhận biết của Như Lai, lại vượt quá đây. Tuy nhận biết nhưng không vướng mắc, vì không vướng mắc tất được tĩnh lặng, nhận biết tập, diệt của thọ, lỗi của vị cùng nẻo xuất yếu, dùng bình đẳng quán giải thoát trọn vẹn, nên gọi là Như Lai. Đó gọi là pháp lớn vi diệu rất sâu xa sáng tỏ, khiến đệ tử của Hiền Thánh chân thật, bình đẳng tán thán Như Lai.

Lại có pháp lớn vi diệu rất sâu xa sáng tỏ, khiến đệ tử của Hiền Thánh chân thật, bình đẳng, tán thán Như Lai.

Những gì là pháp ấy?

Các Sa-môn, Bà-la-môn ở nơi kiếp gốc, kiến gốc, cho là không có nhân mà có thế gian này. Họ đều nhập trong hai kiến. Các Sa-môn, Bà-la-môn nhân nơi kiếp gốc, kiến gốc, cho là không có nhân mà có thế gian này, tức ở trong hai kiến ấy, không có thể vượt qua.

Các Sa-môn, Bà-la-môn kia do nhân duyên gì ở nơi kiếp gốc, kiến gốc, cho là không có nhân mà có, tức ở trong hai kiến này, không có thể vượt qua?

Hoặc có chúng sinh không có tưởng, không có thọ, nếu chúng sinh ấy khởi tưởng tức liền mạng chung, sinh đến ở thế gian, dần dần trưởng thành, cạo bỏ râu tóc, xuất gia, mặc pháp phục, tu hạnh Phạm chí, nhập tam muội định ý, dùng sức của tam muội, theo kiến vốn do tưởng sinh, nên có suy nghĩ này: Ta vốn không có tưởng, tự nhiên có tưởng này, là không nhân mà có thế gian, đây là thật, pháp khác là hư vọng. Đó gọi là kiến thứ nhất.

Các Sa-môn, Bà-la-môn nhân nơi kiếp gốc, kiến gốc, cho không nhân mà có, tức ở trong hai kiến này, không có thể vượt qua.

Hoặc có Sa-môn, Bà-la-môn có trí tướng mẫn tiệp, sắc bén, khéo có thể quán sát. Họ do có trí tướng mẫn tiệp, quán sát xong, nói như vầy: Thế gian này không nhân mà có, đây là thật, pháp khác là hư vọng. Đó gọi là kiến thứ hai.

Các Sa-môn, Bà-la-môn nhân nơi kiếp gốc, kiến gốc, cho không nhân mà có thế gian này, tức ở trong hai kiến, không có thể vượt qua. Các Sa-môn, Bà-la-môn đối với kiếp gốc, kiến gốc cho không nhân mà có, đều nhập trong hai kiến, không ai có khả năng vượt qua, chỉ có Đức Phật mới có thể nhận biết xứ kiến này, cho đến giải thoát trọn vẹn, nên gọi là Như Lai. Cũng như trên đã nói: Các Sa-môn, Bà-lamôn ở nơi kiếp gốc, kiến gốc, cùng vô số các thứ tùy ý đã nói, đều nhập trong mười tám kiến. Các Sa-môn, Bà-la-môn nhân nơi kiếp gốc, kiến gốc, đã dùng vô số các thứ tùy ý đã nói, ở trong mười tám kiến này, không ai có thể vượt qua, chỉ có Phật là có thể nhận biết xứ kiến ấy, cho đến giải thoát trọn vẹn, nên gọi là Như Lai, cũng như trên đã nói.

Lại có pháp lớn vi diệu, rất sâu xa, sáng tỏ, chỉ có đệ tử của Hiền Thánh mới có thể dùng pháp này để tán thán Đức Như Lai.

Những gì là pháp lớn ấy?

Các Sa-môn, Bà-la-môn ở nơi kiếp ngọn, kiến ngọn với vô số các thứ tùy ý đã nói, họ đều nhập trong bốn mươi bốn kiến. Nơi kiếp ngọn, kiến ngọn, theo vô số các thứ đều ở nơi bốn mươi bốn kiến, không ai có thể vượt qua.

Các Sa-môn, Bà-la-môn, do nhân duyên gì, ở nơi kiếp ngọn, kiến ngọn, theo vô số thứ loại tùy ý đã nói, đối với bốn mươi bốn kiến, không ai có thể vượt qua.

Các Sa-môn, Bà-la-môn, ở nơi kiếp ngọn, kiến ngọn, có luận có tưởng cho: Tưởng là ngã, là thế gian, đều nhập trong mười sáu kiến. Ở nơi kiếp ngọn, kiến ngọn khởi luận có tưởng cho tưởng là ngã, là thế gian, tức ở trong mười sáu kiến, không có thể vượt qua.

Các Sa-môn, Bà-la-môn, do nhân duyên gì, ở trong kiếp ngọn kiến ngọn, khởi luận có tưởng, cho tưởng là ngã là thế gian, đều nhập trong mười sáu kiến, không có thể vượt qua.

Hoặc có Sa-môn, Bà-la-môn tạo ra luận như thế này: Sắc là ngã, tưởng là thế gian, mạng chung rồi, ngã không còn có nữa. Đây là thật, pháp khác là hư vọng. Đó gọi là kiến thứ nhất.

Các Sa-môn, Bà-la-môn nhân nơi kiếp ngọn, kiến ngọn, khởi luận có tưởng cho: Tưởng là ngã, là thế gian, ở trong mười sáu kiến, không có thể vượt qua. Lại có người nói: Phi sắc là ngã, tưởng là thế gian, mạng chung xong, ngã không còn có nữa. Đây là thật, pháp khác là hư vọng. Đó gọi là hai kiến.

Lại có người nói: Có sắc, không sắc là ngã, tưởng là thế gian, mạng chung xong, ngã không còn có nữa. Đây là thật, pháp khác là hư vọng. Đó gọi là ba kiến.

Lại có người nói: Không phải có sắc, chẳng phải không sắc là ngã, tưởng là thế gian, mạng chung xong, ngã không còn có nữa. Đây là thật, pháp khác là hư vọng. Đó gọi là bốn kiến.

Lại có người nói: Ngã là hữu biên, tưởng là thế gian, mạng chung xong, ngã không còn có nữa. Đây là thật, pháp khác là hư vọng. Đó gọi là năm kiến.

Lại có người nói: Ngã là vô biên, tưởng là thế gian, mạng chung xong, ngã không còn có nữa. Đây là thật, pháp khác là hư vọng. Đó gọi là sáu kiến.

Lại có người nói: Ngã là hữu biên, vô biên, tưởng là thế gian, mạng chung xong, ngã không còn có nữa. Đây là thật, pháp khác là hư vọng. Đó gọi là bảy kiến.

Lại có thuyết nói: Ngã không phải là hữu biên, không phải là vô biên, tưởng là thế gian, mạng chung xong, ngã không còn có nữa. Đây là thật, pháp khác là hư vọng. Đó gọi là tám kiến.

Lại có thuyết nói: Ngã hoàn toàn là an vui, tưởng là thế gian, mạng chung xong, ngã không còn có nữa. Đây là thật, pháp khác là hư vọng. Đó gọi là chín kiến.

Lại có thuyết nói: Ngã hoàn toàn là khổ, tưởng là thế gian, mạng chung xong, ngã không còn có nữa. Đây là thật, pháp khác là hư vọng. Đó gọi là mười kiến.

Lại có thuyết nói: Khổ, vui là ngã, tưởng là thế gian, mạng chung xong, ngã không còn có nữa. Đây là thật, pháp khác là hư vọng. Đó gọi là mười một kiến.

Lại có thuyết nói: Không khổ, không vui là ngã, tưởng là thế gian, mạng chung xong, ngã không còn có nữa. Đây là thật, pháp khác là hư vọng. Đó gọi là mười hai kiến.

Lại có thuyết nói: Một tưởng là ngã, tưởng là thế gian, mạng chung xong, ngã không còn có nữa. Đây là thật, pháp khác là hư vọng. Đó gọi là mười ba kiến.

Lại có thuyết nói: Từng ấy tưởng là ngã, tưởng là thế gian, mạng chung xong, ngã không còn có nữa. Đây là thật, pháp khác là hư vọng. Đó gọi là mười bốn kiến.

Lại có thuyết nói: Ít tưởng là ngã, tưởng là thế gian, mạng chung xong, ngã không còn có nữa. Đây là thật, pháp khác là hư vọng. Đó gọi là mười lăm kiến.

Lại có thuyết nói: Vô lượng tưởng là ngã, tưởng là thế gian, mạng chung xong, ngã không còn có nữa. Đây là thật, pháp khác là hư vọng. Đó gọi là mười sáu kiến.

Các Sa-môn, Bà-la-môn đối với kiếp ngọn, kiến ngọn, khởi luận có tưởng cho: Tưởng ấy là ngã, tưởng là thế gian, ở trong mười sáu kiến này, không ai có thể vượt qua, chỉ có Đức Phật mới có thể nhận biết được xứ kiến ấy, cho đến giải thoát trọn vẹn, nên gọi là Như Lai, cũng như trên đã nói.

Lại có pháp lớn vi diệu, rất sâu xa, sáng tỏ, chỉ có đệ tử của Hiền Thánh mới có thể dùng pháp này để tán thán Đức Như Lai.

Những gì là pháp lớn ấy?

Các Sa-môn, Bà-la-môn đối với kiếp ngọn, kiến ngọn khởi luận vô tưởng cho: Vô tưởng là ngã, là thế gian, họ đều nhập trong tám kiến, ở nơi kiếp ngọn, kiến ngọn, có luận vô tưởng cho: Vô tưởng là ngã, là thế gian, họ đều nhập trong tám kiến, không có thể vượt qua.

Hoặc có Sa-môn, Bà-la-môn tạo ra luận như thế này: Sắc là ngã, vô tưởng là thế gian, mạng chung rồi, ngã không còn có sinh lại. Đây là thật, pháp khác là hư vọng. Đó gọi là kiến thứ nhất.

Các Sa-môn, Bà-la-môn nhân nơi kiếp ngọn, kiến ngọn khởi luận vô tưởng cho: Vô tưởng là ngã, là thế gian, tức ở trong tám kiến này, không có thể vượt qua.

Lại có thuyết nói: Không phải sắc là ngã, vô tưởng là thế gian, mạng chung xong, ngã không còn có nữa. Đây là thật, pháp khác là hư vọng. Đó gọi là hai kiến.

Lại có thuyết nói: Có sắc, không sắc là ngã, vô tưởng là thế gian, mạng chung xong, ngã không còn có nữa. Đây là thật, pháp khác là hư vọng. Đó gọi là ba kiến.

Lại có thuyết nói: Không phải có sắc, không phải không sắc là ngã, vô tưởng là thế gian, mạng chung xong, ngã không còn có nữa. Đây là thật, pháp khác là hư vọng. Đó gọi là bốn kiến.

Lại có thuyết nói: Ngã là hữu biên, vô tưởng là thế gian, mạng chung xong, ngã không còn có nữa. Đây là thật, pháp khác là hư vọng. Đó gọi là năm kiến.

Lại có thuyết nói: Ngã không phải là hữu biên, vô tưởng là thế gian, mạng chung xong, ngã không còn có nữa. Đây là thật, pháp khác là hư vọng. Đó gọi là sáu kiến.

Lại có thuyết nói: Ngã là hữu biên, vô biên, vô tưởng là thế gian, mạng chung xong, ngã không còn có nữa. Đây là thật, pháp khác là hư vọng. Đó gọi là bảy kiến.

Lại có thuyết nói: Ngã không phải là hữu biên, không phải là vô biên, vô tưởng là thế gian, mạng chung xong, ngã không còn có nữa. Đây là thật, pháp khác là hư vọng. Đó gọi là tám kiến.

Các Sa-môn, Bà-la-môn, nhân nơi kiếp ngọn, kiến ngọn, khởi luận vô tưởng cho: Vô tưởng là ngã, là thế gian, họ đều nhập trong tám kiến, chỉ có Đức Phật là nhận biết rõ về xứ kiến này, cho đến giải thoát trọn vẹn, nên gọi là Như Lai, cũng như trên đã nói.

Lại có pháp lớn vi diệu, rất sâu xa, sáng tỏ khác, chỉ có đệ tử của Hiền Thánh mới có thể dùng pháp này để tán thán Đức Như Lai.

Những gì là pháp lớn ấy?

Các Sa-môn, Bà-la-môn nhân nơi kiếp ngọn, kiến ngọn có khởi luận phi tưởng phi vô tưởng cho: Phi tưởng phi vô tưởng là ngã, là thế gian, họ đều nhập trong tám kiến. Nhân nơi kiếp ngọn, kiến ngọn có luận phi tưởng phi vô tưởng cho phi tưởng phi vô tưởng là ngã, là thế gian, họ đều nhập trong tám kiến, không có thể vượt qua.

Hoặc có Sa-môn, Bà-la-môn tạo ra luận như thế này: Sắc là ngã, phi tưởng phi vô tưởng là thế gian, mạng chung xong, ngã không còn có nữa. Đây là thật, pháp khác là hư vọng. Đó gọi là kiến thứ nhất.

Các Sa-môn, Bà-la-môn nhân nơi kiếp ngọn, kiến ngọn, có luận phi tưởng phi vô tưởng, cho phi tưởng phi vô tưởng là ngã, là thế gian, ở trong tám kiến, không có thể vượt qua.

Lại có thuyết nói: Không phải sắc là ngã, phi tưởng phi vô tưởng là thế gian, mạng chung xong, ngã không còn có nữa. Đây là thật, pháp khác là hư vọng. Đó gọi là hai kiến.

Lại có thuyết nói: Hữu sắc, vô sắc là ngã, phi tưởng phi vô tưởng là thế gian, mạng chung xong, ngã không còn có nữa. Đây là thật, pháp khác là hư vọng. Đó gọi là ba kiến.

Lại có thuyết nói: Không phải có sắc, không phải không sắc là ngã, phi tưởng phi vô tưởng là thế gian, mạng chung xong, ngã không còn có nữa. Đây là thật, pháp khác là hư vọng. Đó gọi là bốn kiến.

Lại có thuyết nói: Ngã là hữu biên, phi tưởng phi vô tưởng là thế gian, mạng chung xong, ngã không còn có nữa. Đây là thật, pháp khác là hư vọng. Đó gọi là năm kiến.

Lại có thuyết nói: Ngã không phải là hữu biên, phi tưởng phi vô tưởng là thế gian, mạng chung xong, ngã không còn có nữa. Đây là thật, pháp khác là hư vọng. Đó gọi là sáu kiến.

Lại có thuyết nói: Ngã là hữu biên, vô biên, phi tưởng phi vô tưởng là thế gian, mạng chung xong, ngã không còn có nữa. Đây là thật, pháp khác là hư vọng. Đó gọi là bảy kiến.

Lại có thuyết nói: Ngã không phải là hữu biên, không phải là vô biên, phi tưởng phi vô tưởng là thế gian, mạng chung xong, ngã không còn có nữa. Đây là thật, pháp khác là hư vọng. Đó gọi là tám kiến.

Các Sa-môn, Bà-la-môn, nhân nơi kiếp ngọn, kiến ngọn, có luận phi tưởng phi vô tưởng cho phi tưởng phi vô tưởng là ngã, là thế gian, họ đều nhập trong tám kiến, không ai có thể vượt qua, chỉ có Đức Phật mới có thể nhận biết xứ kiến này, cho đến giải thoát trọn vẹn, nên gọi là Như Lai, cũng như trên đã nói.

Lại có pháp lớn vi diệu, rất sâu xa, sáng tỏ khác, chỉ có đệ tử của Hiền Thánh mới có thể dùng pháp này để tán thán Đức Như Lai.

Những gì là pháp lớn ấy?

Các Sa-môn, Bà-la-môn nhân nơi kiếp ngọn, kiến ngọn, có luận đoạn diệt nói: Chúng sinh đoạn diệt hoàn toàn, họ đều nhập trong bảy kiến. Nhân nơi kiếp ngọn, kiến ngọn, có luận đoạn diệt nói chúng sinh hoàn toàn diệt tận, tức ở trong bảy kiến, không có thể vượt qua.

Các Sa-môn, Bà-la-môn do nhân duyên gì đối với kiếp ngọn, kiến ngọn, có luận đoạn diệt, nói chúng sinh đoạn diệt hoàn toàn, tức ở trong bảy kiến, không có thể vượt qua.

Hoặc có Sa-môn, Bà-la-môn, tạo luận như thế, tạo ra kiến như thế này: Bốn đại nhập của thân ta, xuất sinh từ cha mẹ, cho bú mớm, ăn mặc, nuôi lớn, vỗ về, chăm sóc, giữ gìn, nhưng là vô thường, tất quy về hao mòn, hoại diệt, đều là ngã đoạn diệt. Đó gọi là kiến thứ nhất.

Các Sa-môn, Bà-la-môn nhân nơi kiếp ngọn, kiến ngọn có luận đoạn diệt nói chúng sinh đoạn diệt tức ở trong bảy kiến, không có thể vượt qua.

Hoặc có Sa-môn, Bà-la-môn tạo luận này: Cõi ấy không gọi đoạn diệt, ngã nơi trời cõi dục mới là đoạn diệt, đều là ngã đoạn diệt hoàn toàn. Đó gọi là hai kiến.

Lại có Sa-môn, Bà-la-môn tạo ra luận này: Ở đây không gọi là đoạn diệt, mà chúng sinh hóa thân nơi cõi sắc, các căn đầy đủ mới là đoạn diệt, đều là ngã đoạn diệt hoàn toàn. Đó gọi là ba kiến.

Lại có thuyết nói: Ở đây không gọi là đoạn diệt, mà là không xứ của cõi vô sắc mới là đoạn diệt, đều là ngã đoạn diệt hoàn toàn. Đó gọi là bốn kiến.

Lại có thuyết nói: Ở đây không gọi là đoạn diệt, mà là thức xứ của cõi vô sắc mới là đoạn diệt, đều là ngã đoạn diệt hoàn toàn. Đó gọi là năm kiến.

Lại có thuyết nói: Ở đây không gọi là đoạn diệt, mà là bất dụng xứ của cõi vô sắc mới là đoạn diệt, đều là ngã đoạn diệt hoàn toàn. Đó gọi là sáu kiến.

Lại có thuyết nói: Ở đây không gọi là đoạn diệt, mà là xứ phi hữu tưởng phi vô tưởng của cõi vô sắc mới là đoạn diệt, đều là ngã đoạn diệt hoàn toàn. Đó gọi là bảy kiến.

Các Sa-môn, Bà-la-môn nhân nơi đoạn diệt ấy, ở kiếp ngọn, kiến ngọn, nói loại chúng sinh này là đoạn diệt hoàn toàn, tức ở trong bảy kiến này, không ai có thể vượt qua, chỉ có Đức Phật là có thể nhận biết xứ kiến ấy, cho đến giải thoát trọn vẹn, nên gọi là Như Lai, cũng như trên nói.

Lại có pháp lớn vi diệu, rất sâu xa, sáng tỏ khác, chỉ có đệ tử của Hiền Thánh là có thể dùng pháp này để tán thán Đức Như Lai.

Những gì là pháp lớn ấy?

Các Sa-môn, Bà-la-môn nhân nơi kiếp ngọn, kiến ngọn hiện tại có luận Nê-hoàn nói chúng sinh hiện tại có Nê-hoàn, họ đều nhập trong năm kiến. Nhân nơi kiếp ngọn, kiến ngọn nói hiện tại có Nêhoàn, tức ở trong năm kiến, không có thể vượt qua.

Các Sa-môn, Bà-la-môn do nhân duyên gì ở nơi kiếp ngọn, kiến ngọn nói chúng sinh hiện tại có Nê-hoàn tức ở trong năm kiến, không có thể vượt qua?

Hoặc có Sa-môn, Bà-la-môn tạo ra kiến này, khởi luận này: Ta đều ở nơi năm dục của hiện tại, tự thọ nhận đều là ngã được Niết-bàn ở hiện tại. Đó gọi là kiến thứ nhất.

Các Sa-môn, Bà-la-môn nhân nơi kiếp ngọn, kiến ngọn, nói là hiện đời của ta được Niết-bàn, cho chúng sinh hiện tại theo luận có Niết-bàn, tức ở trong năm kiến không có thể vượt qua.

Lại có các Sa-môn, Bà-la-môn tạo ra thuyết này: Ở đây không gọi là Niết-bàn hiện tại, lại có Niết-bàn hiện tại vi diệu bậc nhất nhưng ông không biết, chỉ riêng ta mới có thể biết, như lìa dục pháp ác bất thiện, có giác có quán, ly sinh hỷ lạc, thành tựu hành của thiền thứ nhất, đều cho là ngã được Niết-bàn hiện tại. Đó gọi là hai kiến.

Lại có các Sa-môn, Bà-la-môn lập ra thuyết này: Đây không gọi là Niết-bàn hiện tại, lại có Niết-bàn hiện tại vi diệu bậc nhất mà ông không biết, chỉ riêng ta là có thể biết, như diệt có giác quán, nội tịnh tín, nhất tâm, không giác không quán, định sinh hỷ lạc, thành tựu hành của thiền thứ hai, đều cho là ngã hiện tại được Niết-bàn. Đó gọi là ba kiến.

Lại có Sa-môn, Bà-la-môn tạo ra thuyết này: Đây không gọi là Niết-bàn hiện tại, vì lại có Niết-bàn hiện tại vi diệu bậc nhất mà ông không biết, chỉ riêng ta là có thể biết, như lìa hỷ hành xả, niệm chánh trí, thân thọ nhận an vui, như hành giải xả, niệm lạc của các Thánh nhân, thành tựu hành của thiền thứ ba, đều cho là ngã hiện tại được Niết-bàn. Đó gọi là bốn kiến.

Lại có Sa-môn, Bà-la-môn lập ra thuyết này: Đây không gọi là Niết-bàn hiện tại, vì lại có Niết-bàn hiện tại vi diệu bậc nhất mà ông không biết, chỉ riêng ta là có thể biết, như có thể đoạn vui, đoạn khổ, trước hết diệt ưu hỷ, xả bất khổ bất lạc, niệm tịnh, thành tựu hành của thiền thứ tư, đều cho là ngã hiện tại được Niết-bàn. Đó gọi là năm kiến.

Các Sa-môn, Bà-la-môn nhân nơi kiếp ngọn, kiến ngọn, có khởi luận Niết-bàn hiện tại, tức ở trong năm kiến, không ai có thể vượt qua, chỉ có Đức Phật mới có thể nhận biết xứ kiến ấy, cho đến giải thoát trọn vẹn, nên gọi là Như Lai, cũng như trên nói.

Các Sa-môn, Bà-la-môn này, nhân nơi kiếp ngọn, kiến ngọn, khởi vô số kiến tùy ý mà nói, ở trong bốn mươi bốn kiến ấy, không ai có thể vượt qua, chỉ có Đức Phật mới có thể nhận biết xứ kiến ấy, cho đến giải thoát trọn vẹn, nên gọi là Như Lai, cũng như trên nói.

Các Sa-môn, Bà-la-môn nhân nơi kiếp gốc, kiến gốc, kiếp ngọn, kiến ngọn, khởi vô số thứ kiến tùy ý nói, đều nhập trong sáu mươi hai kiến này. Nhân nơi kiếp gốc, kiến gốc, kiếp ngọn, kiến ngọn, khởi vô số thứ kiến tùy ý mà nói, ở trong sáu mươi hai kiến, không ai có thể vượt qua, chỉ có Đức Phật mới có thể nhận biết xứ kiến ấy, cho đến giải thoát trọn vẹn, nên gọi là Như Lai, cũng như trên nói.

Các Sa-môn, Bà-la-môn nhân nơi kiếp gốc, kiến gốc, có luận thường nói: Ngã, thế gian là thường. Các Sa-môn, Bà-la-môn ở đây sinh khởi trí, cho là tin khác, dục khác, nghe khác, duyên khác, giác khác, kiến khác, định khác, nhẫn khác. Nhân đấy sinh trí, các Samôn, Bà-la-môn kia do hiện bày, tức được gọi là ái, cho đến Niết-bàn hiện tại cũng lại như thế.

Các Sa-môn, Bà-la-môn sinh khởi luận thường cho thế gian là thường. Các Sa-môn, Bà-la-môn kia nhân thọ, duyên nơi ái sinh ái, nhưng không tự biết, còn nhiễm vướng nơi ái, bị ái khuất phục, cho đến Niết-bàn hiện tại cũng lại như thế.

Các Sa-môn, Bà-la-môn nhân nơi kiếp gốc, kiến gốc, nói thế

gian là thường, vì họ duyên nơi xúc, nếu lìa duyên nơi xúc để lập luận thì không có điều ấy, cho đến Niết-bàn hiện tại cũng lại như thế.

Các Sa-môn, Bà-la-môn nhân nơi kiếp gốc, kiến gốc, kiếp ngọn, kiến ngọn, mỗi thứ đều tùy ý theo kiến mà nói, đều nhập trong sáu mươi hai kiến, đều tùy theo chỗ khởi kiến mà nói, đều dựa vào đó, không ai có thể vượt qua, như thợ bắt cá, dùng lưới dày kín bủa trên ao nhỏ, nên biết các loài thuộc thủy tánh trong ao đều vào nơi lưới, không có chỗ nào tránh khỏi. Các Sa-môn, Bà-la-môn cũng như thế. Nhân nơi các thứ kiếp gốc, kiến gốc, kiếp ngọn, kiến ngọn mà nêu bày vô số thuyết, đều nhập trong sáu mươi hai kiến, không ai có thể vượt qua. Như thế gọi là sáu mươi hai kiến. Đây là phiền não kiết sử, trói buộc chúng sinh, nhận lấy các khổ của sinh, lão, bệnh, tử, ưu, bi, khổ não, là pháp tụ tập, không được giải thoát.

HẾT – QUYỂN 20