Want create site? Find Free WordPress Themes and plugins.

LUẬN XÁ LỢI PHẤT A TỲ ĐÀM
Hán dịch: Đời Dao Tần, Tam Tạng Đàm Ma Da Xá và Đàm Ma Quật Đa, người nước Kế-tân v.v…
Việt dịch: Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh
Hội Văn Hóa Giáo Dục Linh Sơn Đài Bắc Xuất Bản

 

QUYỂN 13

Phẩm 6: PHẨM NIỆM XỨ THUỘC PHẦN PHI VẤN

Thực hành một đạo, chúng sinh thanh tịnh, xa lìa ưu bi, diệt hết khổ não, được chứng Niết-bàn, dứt trừ năm cái, tu bốn niệm xứ.

Sao nói là một đạo?

Đáp: Một mình ở chốn vắng lặng, ưa siêng năng, tinh tiến không ưa các nghiệp, không ưa chẳng phải nghiệp, không thực hành ngữ vô nghĩa, không ưa ngữ vô nghĩa, không hành ngủ nghỉ, không ưa ngủ nghĩ, không thực hành tập ngữ, không ưa tập ngữ, không thực hành y chỉ, không ưa y chỉ, không hành buông lung, không ưa buông lung, không hành gần gũi, không ưa gần gũi. Như thế đạo sinh chánh, sinh khởi chánh, khởi xúc chứng, gọi là một đạo.

Lại nữa, một mình lìa, bỏ việc ác, xa lìa không xen lẫn cấu uế, các dục ác, như thế là đạo sinh chánh, sinh khởi chánh, khởi xúc chứng. Đó gọi là một đạo.

Lại nữa, không chung với các phiền não như tham dục, sân hận, ngu si, với các hạnh ác bị ràng buộc do cái, chướng ngăn ngại. Như thế là đạo sinh chánh, sinh khởi chánh, khởi xúc chứng, gọi là một đạo.

Lại nữa, một mình không buông lung, siêng năng nhớ nghĩ, biết tu hạnh xa lìa, như thế là đạo sinh chánh, sinh khởi chánh, khởi xúc chứng, gọi là một đạo.

Lại nữa, ở một mình nơi vắng lặng, gần gũi tùy ngồi, hoặc nơi hoang vắng hang núi, cụm rừng, trong gò mả, ngồi trên bãi cỏ nơi trống trải, hay bên dòng nước, xa lìa xóm làng. Đạo như thế sinh, chánh sinh, khởi, chánh khởi, xúc chứng, gọi là một đạo.

Lại nữa, tâm trụ riêng, chánh trụ, chánh chỉ, một nhập định, gọi là một đạo.

Lại nữa, hoàn toàn nhu hòa, điều phục thanh tịnh, gọi là một đạo.

Lại nữa, phiền não tham dục, giận dữ, ngu si chướng ngại, cái che

lấp, hành ác ràng buộc đều dứt hết, đó gọi là một đạo.

Lại nữa, lìa dục, vắng lặng, tu chánh giác, diệt ác, được Niết-bàn, gọi là một đạo.

Sao nói là Đạo?

Đáp: Một chi đạo cho đến mười một chi đạo, đó gọi là đạo. Đạo là cầu, là nhân, là cửa, là căn, là hướng đến, là đầu mối, là biện minh, sinh chánh, sinh khởi, chánh khởi, xuất chánh, xuất pháp thiện hòa hợp, thành tựu, gọi là Đạo.

Sao nói là chúng sinh thanh tịnh?

Đáp: Chúng sinh, là năm đường sinh. Vì chúng sinh của người, trời, nên nói gần gũi bốn niệm xứ, tu hành nhiều học, được tâm thanh tịnh, giới thanh tịnh, kiến thanh tịnh, thọ ký thanh tịnh, vượt qua nghi thanh tịnh, thấy biết đạo, phi đạo thanh tịnh, hướng đến tri kiến thanh tịnh của đạo, được tri kiến thanh tịnh. Như khiến cho chúng sinh không thanh tịnh được thanh tịnh, khiến cho chúng sinh cấu uế được không cấu uế, gọi là chúng sinh thanh tịnh.

Sao nói là xa lìa ưu, bi? Thế nào là ưu? Chúng sinh tiếp xúc với biết bao pháp khổ. Nếu lo, càng lo, cháy sém bên trong, bên trong nóng bức, tâm ray rứt, gọi là ưu.

Thế nào là bi? Nghĩa là nỗi ưu tư của chúng sinh ràng buộc, ép ngặt, như bị trúng mũi tên ưu, đầy đủ các ưu sầu, tâm ưu não rối loạn, thở than khóc lóc tột cùng, vừa hồi ức, vừa kể lể, hoặc tự giày vò tự đánh đập, miệng nói lung tung, gọi là bi.

Nếu gần gũi bốn niệm xứ, tu học xa lìa bi, ưu, gọi là xa lìa ưu, bi.

Hỏi: Thế nào là diệt hết khổ não?

Đáp: Khổ là nếu thân biết khổ, như từ thọ khổ của nhãn xúc cho đến thọ khổ của thân xúc, gọi là khổ. Não là gì? Nếu tâm biết khổ là thọ khổ của ý xúc, gọi là não. Nếu gần gũi bốn niệm xứ tu học diệt khổ não, gọi là diệt hết khổ não.

Hỏi: Thế nào là được Niết-bàn?

Đáp: Niết-bàn là bốn quả Sa-môn, gần gũi bốn niệm xứ tu học, được bốn quả Sa-môn, gọi là được Niết-bàn.

Nói dứt năm cái là sao?

Đáp: Nếu diệt năm cái đó là dứt năm cái.

Sao nói là tu bốn Niệm xứ?

Đáp: Nghĩa là thân trong, quán hành thân, siêng năng, tinh tiến, đúng với chánh trí, niệm, trừ tham ưu của thế gian: Thân, ngoài quán hành vi của thân, siêng năng, tinh tiến, đúng với chánh trí, niệm, trừ tham ưu của thế gian. Thân trong, ngoài, quán thân hành vi siêng năng, tinh tiến đúng với chánh trí, niệm trừ tham ưu thế gian. Thọ, tâm, pháp cũng như thế.

Hỏi: Thế nào là thân quán hành của thân?

Đáp: Thân, là sắc thân bốn đại, do nhân duyên cha, mẹ có ăn uống, nuôi lớn, y phục, vừa ý, thoa dầu nhuận thân, là pháp vô thường hư hoại, đổi thay, gọi là thân.

Lại nữa, gọi là thân: tức sắc thân.

Lại nữa, thân địa, thân thủy, hỏa, phong, gọi là thân.

Lại nữa, chúng voi, chúng ngựa, chúng xa, chúng bộ, gọi là thân.

Lại nữa, sáu thức thân, thân sáu xúc, thân sáu thọ, thân sáu tưởng, thân sáu tư, thân sáu ái, thân sáu giác và thân sáu quán, gọi là Thân.

Hỏi: Thế nào là thân trong quán hành của thân?

Đáp: Nếu Tỳ-kheo, tất cả pháp thuộc về sắc thân bốn đại bên trong. Nếu pháp thuộc về sắc thân bốn đại của một xứ trong, thì sẽ tư duy vô thường, biết vô thường, giải vô thường, thọ vô thường. Như thế, quán không buông lung, được tâm định, trụ chánh trụ, gọi là thân trong quán hành thân.

Lại nữa, Tỳ-kheo, tất cả pháp thuộc về sắc thân bốn đại của thân trong, nếu pháp thuộc về sắc thân bốn đại của một chỗ trong, tư duy bệnh khốn khổ ung nhọt, mũi tên, bệnh tham vị, là duyên dựa vào pháp hư hoại, không nhất định, không đầy đủ, có thể hoại, là khổ, không, vô ngã, tư duy duyên biết duyên, hiểu duyên, thọ nhận duyên, tức vô minh duyên hành, cho đến danh sắc duyên sáu nhập, cho đến gọi là thân trong quán hành thân.

Lại nữa, Tỳ-kheo tất cả pháp thuộc về sắc thân bốn đại của thân trong, nếu pháp thuộc về sắc thân bốn đại của một chỗ trong, tư duy diệt biết diệt, giải diệt, thọ diệt, tức vô minh diệt, thì hành diệt, cho đến danh sắc diệt thì sáu nhập diệt, cho đến gọi là thân trong quán hành của thân.

Lại nữa, Tỳ-kheo đi vui, biết đi vui, cho đến nằm vui, biết nằm vui, thân trụ vui, biết như thật, cho đến gọi là thân trong quán hành của thân.

Lại nữa, Tỳ-kheo đến, đi, co duỗi, xoay trở, chánh biết, cho đến ngủ, thức, nói nín, biết hành, cho đến đó gọi là thân trong quán hành của thân.

Lại nữa, Tỳ-kheo, hơi thở ra dài, biết dài, hơi thở vào dài, biết dài, hơi thở ra ngắn, biết ngắn, hơi thở vào ngắn biết ngắn. Như thợ quấn dây ngắn biết ngắn, dài biết dài, cho đến thân trong của danh gọi là quán hành thân.

Lại nữa, Tỳ-kheo, từ đầu đến chân, từ chân đến đầu, thấy các bất tịnh, quán trong thân có lông, tóc, móng, răng, da mỏng, dạ dày, máu thịt, gân mạch, lá lách, thận, tim, phổi, tạng nhơ, đại tiểu tiện lợi, nước mắt, mũi dãi, mủ, máu, mở lá, não, mô, mồ hơi, tủy xương. Như người mắt sạch, quan sát về hai môn thức ăn, thấy các thứ lúa, mè, gạo, đậu to, đậu nhỏ, đậu ép, lúa mì to, lúa mì nhỏ. Như thế, Tỳ-kheo quán trong thân, từ đầu đến chân, từ chân đến đầu, đủ các bất tịnh, cho đến thân trong của danh gọi là quán hành thân.

Lại nữa, Tỳ-kheo, quán các đại của thân: trong thân này chỉ có các đại đất, nước, lửa, gió, như thợ mổ bò khéo, học trò của thợ mổ bò, xẻ con bò ra làm bốn phần. Nếu ngồi, đứng, đi, dừng chỉ thấy bốn phần. Cũng thế, Tỳ-kheo quán các đại này, thân này chỉ có địa đại, thủy, hỏa, phong đại, nhưng các đại này chỉ dựa vào tánh nước, lửa sinh, trái nhau. Thức ăn uống nuôi lớn thân, ốm yếu, không có sức, không vững, không mạnh, niệm niệm không dừng, cho đến thân trong của danh gọi là quán hành thân.

Lại nữa, Tỳ-kheo, quán thân, thức ăn dừng, thức ăn nhóm họp, nhờ ăn mà được sống còn, không có cái ăn, không có sự tồn tại, như lửa duyên củi được cháy, không có củi thì lửa tắt. Cũng thế, Tỳ-kheo, quán thân do thức ăn trụ, do thức ăn nhóm hợp, duyên thức ăn được trụ, không có ăn, không trụ, như Phật nói:

Quán khổ do thân nhóm,
Tất cả do nhờ ăn
Nếu trừ diệt được ăn
Thì không các khổ ấy
Biết tai hại như thế
Ăn là tạo nỗi khổ
Tỳ-kheo diệt ăn rồi
Chắc chắn đạt Niết-bàn.

Gọi là thân trong quán hành của thân.

Lại nữa, Tỳ-kheo! Quán thân đều không, thảy là không, do niệm biết khắp giải hạnh, cho đến là thân trong của danh quán hành của thân.

Lại nữa, Tỳ-kheo! Quán thân là ung nhọt: Thân này có chín mụt nhọt, có miệng tiết ra chất nước dãi, nếu thấm nhuần chảy ra, đều là bất tịnh, cho đến như Ma ha Ca-diếp nói: Sắc thân bốn đại là sự suy yếu, hao hụt, trái với dịch vị tiết ra, cho đến mạng sống, gấp rút ngắn ngủi, cho đến gọi là thân trong của danh quán hành của thân, và các hành khác, tất cả pháp thuộc về sắc thân bốn đại bên trong, pháp thuộc về sắc thân bốn đại bên trong của một chỗ, tư duy, được tâm định trụ nơi chánh trụ, gọi là thân trong quán hành thân.

Hỏi: Thế nào là trong?

Đáp: Thân, thân nếu thọ, nghĩa là nếu tự tánh của duyên sinh trong, phần mình, gọi là trong.

Quán là sao?

Đáp: Như người thật có sự quan sát vi tế, giác ngộ đúng, duyên quán giải, gọi là quán.

Hỏi: Thế nào là hạnh?

Đáp: Quán vi tế như thế, thành tựu, không trái với pháp, gìn giữ, thực hành hạnh tinh vi, gọi là hạnh.

Hỏi: Thế nào là siêng năng, tinh tiến?

Đáp: Như người thật, hoặc thuận với pháp, thường hành tinh tiến, gọi là siêng năng, tinh tiến.

Lại nữa, nếu thân, tâm phát khởi, sáng tỏ, vượt qua, không lùi lại, gọi là siêng năng, tinh tiến.

Hỏi: Thế nào là chánh trí?

Đáp: Như người thật, thấy biết phương tiện giải thoát, đó gọi là chánh trí.

Niệm là gì?

Đáp: Như người thật có nhớ nghĩ, nghĩ tinh vi duyên niệm, trụ không quên, niệm nối tiếp nhau không mất, không đoạt, gọi là niệm.

Thế gian là gì?

Đáp: Có hai thứ thế gian: chúng sinh thế gian, và hành thế gian. Năm đường thọ sinh gọi là chúng sinh thế gian, năm thọ ấm gọi là hành thế gian.

Hỏi: Thế nào là tham?

Đáp: Căn bất thiện tham, gọi là tham.

Ưu là sao?

Đáp: Xúc khổ thọ của ý, gọi là ưu.

Hỏi: Thế nào là trừ?

Đáp: Che lấp, giải tỏa, bỏ hẳn, gọi là trừ.

Thế nào thân ngoài quán hành của thân?

Đáp: Nếu Tỳ-kheo, tất cả pháp thuộc về sắc thân bốn đại, nếu pháp thuộc về sắc thân bốn đại của một chỗ ngoài, nếu tư duy vô thường, biết vô thường, giải vô thường, thọ vô thường. Như thế, quán không buông lung, được tâm định, trụ nơi chánh trụ, gọi là thân ngoài quán hành của thân.

Lại nữa, Tỳ-kheo, tất cả pháp thuộc về sắc thân bốn đại bên ngoài, nếu pháp thuộc về sắc thân bốn đại bên ngoài của một chỗ, nếu quán khổ đau, ung nhọt, tên độc, bệnh chấp mắc tham vị, dựa vào duyên làm hư hoại pháp, không nhất định, không đầy đủ, có thể hủy hoại, khổ, không, vô ngã, tư duy về duyên biết, duyên giải, duyên thọ, duyên tức vô minh duyên hành, cho đến danh sắc duyên sáu nhập, cho đến gọi là thân ngoài quán hành của thân.

Lại nữa, Tỳ-kheo, tất cả pháp thuộc về sắc thân bốn đại bên ngoài, pháp thuộc về sắc thân bốn đại của một chỗ ngoài, tư duy diệt, biết diệt, giải diệt, thọ diệt. vô minh diệt thì hành diệt, cho đến danh sắc diệt, thì sáu nhập diệt, cho đến gọi là thân ngoài quán hành của thân.

Lại nữa, Tỳ-kheo, nếu thấy đốt xương của chết thi liền nhau, gân mạch được che chở do da, máu khác chưa dứt, cho đến gọi là quán thân của thân trong ngoài.

Lại nữa, Tỳ-kheo, nếu thấy đốt xương của chết thi đã hư hoại, chưa rời chỗ cũ, cho đến gọi là thân trong ngoài quán hành của thân.

Lại nữa, Tỳ-kheo nếu thấy đốt xương của chết thi đứt, rã ra, lìa chỗ cũ, các xương ống chân, xương chân, xương đùi, xương sống, xương sườn, xương hông, xương tay, chân, vai, cánh tay, cổ, đầu lâu, đều tự di chuyên ở vị trí khác, cho đến gọi là thân trong ngoài quán hành của thân.

Lại nữa, Tỳ-kheo nếu thấy đốt xương của chết thi vì đã lâu, nên có màu trắng giống như màu vỏ ốc, xanh như chim bồ câu, mục rã tan nát, cho đến gọi là thân trong ngoài quán hành của thân.

Lại nữa, nếu Tỳ-kheo thấy chết thi ở trên đống lửa, tóc, lông, da, máu, thịt, gân, mạch, xương, tủy, tất cả tóc, lông, bị đốt cho đến tuỷ xương tiêu rụi dần. Quán pháp này, không đến dừng lại ở phương Đông, Nam, Tây, Bắc, bốn duy trên dưới, pháp này vốn không mà sinh, đã sinh lại diệt, cho đến gọi là thân trong ngoài quán hành của thân, và tất cả pháp thuộc về sắc thân bốn đại của các hành khác. Nếu pháp thuộc về sắc thân bốn đại bên trong, ngoài của một chỗ, thì sẽ tư duy được tâm định trụ ở chánh trụ, gọi là thân trong ngoài quán hành của thân.

Hỏi: Thế nào là thân trong, ngoài?

Đáp: Nếu thọ, hoặc chẳng phải thọ, gọi là thân trong, ngoài, về nghĩa khác như trên đã nói.

Tỳ-kheo quán hành duyên khởi của thân, pháp, quán hành duyên diệt của thân, pháp. Tỳ-kheo, như thế, quán hành của duyên diệt, duyên khởi của thân, pháp, có thân khởi niệm trong, dùng trí, dùng minh, thức không dựa vào thân, không có hành nương tựa, không thọ nhận ở đời. Như thế, Tỳ-kheo, thân trong quán hành của thân, siêng năng, tinh tiến với chánh trí, chánh niệm, trừ tham ưu của đời, thân ngoài, thân trong ngoài cũng như vậy.

Hỏi: Thế nào là thọ quán thọ hành?

Đáp: Thọ, là sáu thọ: xúc thọ của mắt, cho đến xúc thọ của ý, gọi là thọ.

Thọ trong quán hành của thọ là sao?

Đáp: Như tất cả thọ trong của Tỳ-kheo, nếu thọ trong của một chỗ, tư duy vô thường, biết vô thường, giải vô thường, thọ vô thường. Như thế, quán không buông lung, được tâm định trụ chánh trụ, gọi là thọ trong quán hành của thọ.

Lại nữa, tất cả thọ trong của Tỳ-kheo, hoặc thọ trong của một chỗ, tư duy bệnh khổ, ung nhọt, tên độc, bệnh tham vị, dựa vào pháp duyên hư hoại, bất định, không viên mãn, có thể làm hư hoại, khổ, không vô ngã, tư duy duyên biết duyên, hiểu duyên. Thọ duyên tức vô minh duyên hành, cho đến xúc duyên thọ, cho đến gọi là thọ trong quán hành của thọ.

Lại nữa, Tỳ-kheo, nếu tất cả thọ trong, hoặc thọ trong của một chỗ, tư duy diệt, biết diệt, giải diệt, thọ diệt, tức vô minh diệt thì hành diệt, cho đến xúc diệt thì thọ diệt, cho đến gọi là thọ trong quán hành của thọ. Và thọ trong của một chỗ của tất cả thọ của các hành khác, tư duy được tâm định trụ chánh trụ, đó gọi là thọ trong quán hành của thọ.

Sao nói là trong?

Đáp: Thọ, nghĩa là trong, là trong, là duyên, là tự tánh, là phần mình, đó gọi là trong, về nghĩa khác, như trên đã nói.

Hỏi: Thế nào là thọ ngoài của Tỳ-kheo quán hành của thọ?

Đáp: Như tất cả thọ ngoài của Tỳ-kheo, hoặc thọ ngoài của một chỗ, tư duy vô thường, biết vô thường, giải vô thường, thọ vô thường. Như thế, quán không buông lung được tâm định trụ chánh trụ, đó gọi là thọ ngoài quán hành của thọ.

Lại nữa, tất cả thọ ngoài của Tỳ-kheo, hoặc thọ ngoài của một chỗ, tư duy bệnh khổ, ung nhọt, tên độc, bệnh tham vị, dựa vào duyên pháp hư hoại bất định, không viên mãn, có thể hủy hoại, khổ, không, vô ngã, tư duy về duyên, biết duyên, giải duyên, thọ duyên, tức vô minh duyên hành, cho đến xúc duyên thọ, cho đến gọi là thọ ngoài quán hành của thọ.

Lại nữa, tất cả thọ ngoài của Tỳ-kheo, hoặc thọ ngoài của một chỗ tư duy diệt, biết diệt, giải diệt, thọ diệt, tức vô minh diệt thì hành diệt, cho đến xúc diệt thì thọ diệt, gọi là thọ ngoài quán hành của thọ, và tất cả thọ ngoài của các hành khác, hoặc thọ ngoài của một chỗ tư duy được định, tâm trụ, chánh trụ, đó gọi là thọ ngoài quán hành của thọ.

Ngoài là gì?

Đáp: Hành của thọ, thọ, chẳng phải thọ, nghĩa là ngoài, không phảitrong, không phải duyên, không phải tự tánh, không phải phần mình, gọi là ngoài, về nghĩa khác, như trên đã nói.

Hỏi: Thế nào là thọ trong, ngoài quán hành của thọ?

Đáp: Như tất cả thọ trong, ngoài của Tỳ-kheo, nếu thọ trong ngoài của một chỗ, tư duy vô thường, khổ vô thường, xúc vô thường. Như thế, quán không buông lung được tâm định, trụ chánh trụ, gọi là thọ trong, ngoái quán hành của thọ.

Lại nữa, Tỳ-kheo, nếu tất cả thọ trong, ngoài, hoặc thọ trong, ngoài, của một chỗ, tư duy bệnh khổ, ung nhọt, mũi tên, bệnh tham đắm vị, dựa vào duyên pháp hư hoại không nhất định, không viên mãn, có thể hủy hoại, khổ, không, vô ngã, tư duy về duyên, biết duyên, hiểu duyên, thọ duyên, tức vô minh duyên hành, cho đến xúc duyên thọ, cho đến gọi là thọ trong, ngoài quán hành của thọ.

Lại nữa, tất cả thọ trong ngoài của Tỳ-kheo, hoặc thọ trong, ngoài của một chỗ, tư duy diệt, biết diệt, giải diệt, thọ diệt, tức vô minh diệt, cho đến xúc diệt thì thọ diệt, cho đến gọi là thọ trong, ngoài quán hành của thọ.

Lại nữa, Tỳ-kheo, nếu thọ nhận lạc thọ, biết lạc thọ của ngã, thì thọ nhận bất khổ bất lạc thọ cũng như thế. Nếu thọ có nhiễm lạc thọ, thì biết ta có nhiễm lạc thọ. Nếu thọ không có nhiễm lạc thọ, thì biết ngã không có nhiễm lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ cũng như thế, đó gọi là thọ trong, ngoài quán hành của thọ và các hành khác, tất cả thọ trong, ngoài, hoặc thọ trong, ngoài của một chỗ, tư duy được tâm định, trụ chánh trụ, đó gọi là thọ trong ngoài quán hành của thọ.

Hỏi: Thế nào là thọ trong, ngoài?

Đáp: Nếu thọ chẳng phải thọ, đó gọi là trong, ngoài, về nghĩa khác, như trên đã nói.

Như thế, Tỳ-kheo quán hành, duyên khởi của pháp thọ, quán hành duyên diệt của pháp thọ. Như thế, Tỳ-kheo quán hành khởi, diệt của pháp thọ, có thọ niệm trong do trí, do minh, thức không dựa vàothọ, không có hành, đối tượng nương tựa, không thọ nhận tất cả thế gian. Như thế, thọ trong của Tỳ-kheo quán hành của thọ, siêng năng, tinh tiến, chánh trí, chánh niệm, trừ tham ưu của đời, thọ ngoài, thọ trong ngoài cũng như thế.

Hỏi: Thế nào là tâm quán hành của tâm?

Thế nào là tâm?

Đáp: Là tâm, ý, thức, là sáu thức thân, bảy thức giới, đó gọi là tâm.

Thế nào là tâm trong, quán hành của tâm?

Như tất cả tâm trong của Tỳ-kheo, hoặc một chỗ tâm trong tư duy vô thường, biết vô thường giải vô thường, thọ vô thường. Như thế quán không buông lung, được định, tâm trụ chánh trụ, gọi là tâm trong quán hành của tâm.

Lại nữa, tất cả tâm trong, hoặc một chỗ tâm trong tư duy như bệnh khổ, ung nhọt, tên độc, bệnh tham vị, dựa duyên, hoại pháp, bất định, không đầy đủ, có thể hoại, khổ, không, vô ngã. Tư duy về duyên, biết duyên, giải duyên, thọ duyên, tức vô minh duyên hành, hành duy thức, cho đến gọi là tâm trong quán hành của tâm.

Lại nữa, tất cả tâm trong của Tỳ-kheo, hoặc tâm trong của một chỗ, tư duy diệt, biết diệt, giải diệt, thọ diệt, tức vô minh diệt thì hành diệt, hành diệt thì thức diệt, gọi là tâm trong của Tỳ-kheo quán hành của tâm và tất cả tâm trong của hành pháp khác, nếu tâm trong của một chỗ, tư duy được định tâm, trụ ở chánh trụ. Như thế, tâm trong Tỳ-kheo quán hành của tâm.

Tâm trong là sao?

Đáp: Nếu tâm thọ gọi là trong, là trong, là duyên, là tự tánh, là phần mình, gọi là nội, nghĩa khác, như trên đã nói.

Tâm ngoài của Tỳ-kheo quán hành của tâm, như tất cả tâm ngoài của Tỳ-kheo, nếu tâm ngoài của một chỗ, tư duy vô thường, biết vô thường, giải vô thường, thọ vô thường. Như thế, quán không buông lung được định tâm, trụ chánh trụ, gọi là tâm ngoài quán hành của tâm.

Lại nữa, tất cả tâm ngoài của Tỳ-kheo, hoặc tâm ngoài của một chỗ, tư duy bệnh khổ, ung nhọt, mũi tên, bệnh tham đắm vị, dựa vào duyên pháp hư hoại, bất định, không viên mãn, có thể hoại, khổ, không, vô ngã, tư duy về duyên, biết duyên, giải duyên, thọ duyên, tức vô minh duyên hành, hành duyên thức, cho đến gọi là tâm ngoài quán hành tâm.

Lại nữa, tất cả tâm ngoài của Tỳ-kheo, tâm ngoài một chỗ, tư duy diệt, biết diệt, giải diệt, thọ diệt, tức vô minh diệt thì hành diệt, hành diệt thì thức diệt, cho đến gọi là tâm ngoài quán hành tâm. Và tất cả tâm ngoài của hành tâm khác, tâm ngoài của một chỗ, tư duy được định tâm, trụ ở chánh trụ, đó gọi là tâm ngoài quán hành tâm.

Tâm ngoài là sao?

Đáp: Tâm chẳng phải thọ, gọi là ngoài. Chẳng phải trong chẳng phải duyên, chẳng phải tự tánh, chẳng phải phần mình, gọi là ngoại, về nghĩa khác, như trên đã nói.

Hỏi: Thế nào là tâm trong ngoài của Tỳ-kheo quán hành tâm?

Đáp: Như một chỗ tâm trong ngoài của tất cả tâm trong ngoài của Tỳ-kheo, tư duy vô thường, biết vô thường, giải vô thường, thọ vô thường. Quán không buông lung như thế, được định tâm, trụ chánh trụ, đó gọi là tâm trong ngoài quán hành tâm.

Lại nữa, Tỳ-kheo, nếu tất cả tâm trong ngoài tâm trong ngoài của một chỗ quán bệnh khổ: ung nhọt, mũi tên, bệnh tham vị, dựa vào duyên pháp hư hoại, bất định, không hoàn mãn, có thể hoại, khổ, không, vô ngã, tư duy về duyên, biết duyên, giải duyên, thọ duyên, tức vô minh duyên hành, hành duyên thức, cho đến đó gọi là tâm trong ngoài quán hành tâm.

Lại nữa, Tỳ-kheo tất cả tâm trong ngoài tâm trong ngoài của một chỗ, tư duy diệt, biết diệt, giải diệt, thọ diệt, tức vô minh diệt thì hành diệt, hành diệt thì thức diệt, cho đến gọi là tâm trong ngoài quán hành tâm.

Lại nữa, Tỳ-kheo có tâm dục, biết như thật có tâm dục, không có tâm dục, biết như thật không có tâm dục, cho đến có tâm vượt hơn, biết như thật có tâm vượt hơn, không có tâm vượt hơn, biết như thật không có tâm vượt hơn.

Quán không buông lung như thế, được tâm định, tâm trụ chánh trụ, gọi là tâm trong ngoài quán hành tâm. Và tất cả tâm trong ngoài của các hành khác, nếu tâm trong ngoài của một chỗ, tư duy được định tâm, trụ chánh trụ, đó gọi là tâm trong ngoài quán hành của tâm.

Hỏi: Thế nào là tâm trong ngoài?

Đáp: Nếu tâm thọ, chẳng phải thọ, nghĩa khác, như trên đã nói.

Tỳ-kheo như thế, quán hành, duyên khởi của tâm, pháp. Như thế, duyên diệt hành của tâm, Tỳ-kheo, duyên khởi diệt hành của tâm, có tâm khởi niệm bên trong, do trí, do minh, thức không dựa vào tâm, không có đối tượng nương tựa hành, không thọ nhận thế gian. Cũng thế Tỳ-kheo, nội tâm quán hành của tâm, siêng năng, tinh tiến, chánh trí, chánh niệm, trừ tham ưu của đời. Tâm ngoài, tâm trong ngoài cũng như thế.

Hỏi: Thế nào là pháp quán hành của pháp?

Đáp: Pháp, nghĩa là trừ pháp thuộc về sắc thân bốn đại, tâm thọ, và ngoài ra, hoặc sắc, chẳng phải sắc có thể thấy, không thể thấy, có đối, không có đối, Thánh, chẳng phải Thánh, đó gọi là pháp.

Pháp trong của Tỳ-kheo quán hành của pháp là thế nào?

Đáp: Nếu Tỳ-kheo, trừ tâm thọ pháp thuộc về sắc thân bốn đại, hoặc tất cả pháp trong khác, hoặc pháp trong của một chỗ tư duy vô thường, biết vô thường, giải vô thường, thọ vô thường.

Như thế, quán không buông lung, được tâm định, trụ chánh trụ, gọi là pháp trong quán hành của pháp.

Lại nữa, Tỳ-kheo, trừ tâm thọ của pháp thuộc về sắc thân bốn đại, hoặc tất cả pháp trong khác, hoặc pháp trong của một chỗ, tư duy bệnh ưu khổ, ung nhọt, mũi tên, bệnh tham vị, dựa vào duyên hoại pháp, bất định, không viên mãn, có thể hoại, khổ, không, vô ngã, tư duy về duyên, biết duyên, giải duyên, thọ duyên, tức vô minh duyên hành, cho đến sinh duyên các khổ nhóm họp, già chết, ưu, bi, khổ não, cho đến gọi là pháp trong quán hành pháp.

Lại nữa, Tỳ-kheo, trừ tâm, thọ, pháp thuộc về sắc thân bốn đại và tất cả pháp bên trong khác, nếu pháp trong của một chỗ, tư duy diệt, biết diệt, giải diệt, thọ diệt, tức vô minh diệt thì hành diệt, cho đến sinh diệt thì các nhóm khổ não, tư, ưu, bi, khổ não diệt, cho đến đó gọi là hạnh nội pháp quán pháp, và các hành khác, trừ tâm thọ pháp thuộc về sắc thân bốn đại. Nếu tất cả pháp trong, hoặc pháp bên trong của một chỗ, tư duy được tâm định trụ chánh trụ, gọi là pháp trong quán hành của pháp.

Pháp trong là gì?

Đáp: Pháp thọ, nói là trong, là trong, là duyên, là tự tánh, là phần mình, gọi là trong, nghĩa khác như trên đã nói.

Hạnh pháp ngoài quán pháp của Tỳ-kheo là sao?

Đáp: Như Tỳ-kheo, trừ tâm, thọ, pháp thuộc về sắc thân bốn đại, nếu tất cả pháp ngoài, hoặc pháp của một chỗ ngoài, như tư sự duy vô thường, biết vô thường, giải vô thường, thọ vô thường. Quán không buông lung như thế, được tâm định, trụ chánh trụ, gọi là pháp ngoài quán hành pháp.

Lại nữa, Tỳ-kheo, trừ tâm thọ pháp thuộc về sắc thân bốn đại, tất cả pháp ngoài khác, nếu pháp ngoài của một chỗ, như tư duy khổ não, bệnh tham vị, ung nhọt, tên độc, dựa vào pháp hư hoại của duyên không nhất định, không viên mãn, có thể làm hoại, khổ, không, vô ngã, tư duy về duyên, biết duyên, giải duyên, thọ duyên, tức vô minh duyên hành, cho đến sinh duyên nhóm tập các khổ: già chết, ưu, bi, khổ não, cho đến gọi là pháp ngoài quán hành pháp.

Lại nữa, Tỳ-kheo, trừ tâm thọ pháp thuộc về sắc thân bốn đại, và tất cả pháp ngoài khác, hoặc pháp ngoài của một chỗ, như tư duy diệt, biết diệt, giải diệt, thọ diệt, tức vô minh diệt thì hành diệt, cho đến sinh diệt thì nhóm họp các khổ: già chết, ưu, bi, khổ não, diệt, cho đến gọi là pháp ngoài quán hành của pháp. Và các hành khác, trừ tâm, thọ pháp thuộc về sắc thân bốn đại, tất cả pháp ngoài khác, hoặc pháp ngoài của một chỗ, như sự tư duy được tâm định trụ chánh trụ, đó gọi là pháp, ngoài quán hành của pháp.

Pháp ngoài là gì?

Đáp: Pháp chẳng phải thọ, gọi là ngoài, không phải trong, không phải duyên, không phải tự tánh, không phải phần mình, đó gọi là ngoại, về nghĩa khác, như trên đã nói.

Hỏi: Thế nào là pháp trong, ngoài của Tỳ-kheo quán hành của pháp, như Tỳ-kheo, trừ tâm, thọ pháp thuộc về sắc thân bốn đại, tất cả pháp trong, ngoài, khác hoặc pháp trong, ngoài của một chỗ, như tư duy vô thường, biết vô thường, giải vô thường, thọ vô thường.

Quán không buông lung như thế, được tâm định trụ chánh trụ, gọi là pháp nội, ngoài quán hành pháp.

Lại nữa, Tỳ-kheo, trừ tâm thọ pháp thuộc về sắc thân bốn đại, tất cả pháp trong, ngoài khác, nếu pháp trong, ngoài của một chỗ, như sự tư duy khổ não: ung nhọt, mũi tên, tham đắm vị, dựa vào duyên hư hoại, duyên pháp bất định, không viên mãn, có thể hoại, khổ, không, vô ngã, tư duy về duyên, biết duyên, giải duyên, thọ duyên, tức vô minh duyên hành, cho đến Sinh duyên nhóm họp các khổ: già chết, ưu, bi, khổ não, cho đến gọi là pháp nội, ngoại quán hành pháp.

Lại nữa, Tỳ-kheo, trừ tâm, thọ pháp thuộc về sắc thân bốn đại. Và tất cả pháp trong, ngoài khác, nếu pháp trong, ngoài của một chỗ, như sự tư duy diệt, biết diệt, giải diệt, thọ diệt, tức vô minh diệt thì hành diệt, cho đến sinh diệt thì nhóm họp khổ: già chết, ưu, bi, khổ não, cho đến gọi là pháp trong, ngoài quán hành của pháp.

Lại nữa, Tỳ-kheo, trong ta có dục, biết như thật trong ngã có dục,

trong ngã không có dục, biết như thật trong ngã không có dục. Nếu dục chưa sinh, biết như thật dục chưa sinh, nếu dục sẽ sinh, biết như thật dục sẽ sinh, nếu dục đang sinh, biết như thật dục đang sinh, nếu dục dứt rồi, biết như thật không sinh lại, giận dữ, ngu si, thùy miên, trạo cử, hối, nghi cũng như thế, cho đến gọi là pháp trong, ngoài quán hành pháp.

Lại nữa, Tỳ-kheo, trong ngã có nhãn thức, sắc dục giận dữ, biết như thật trong ngã có nhãn thức, sắc dục, giận dữ, trong ngã không có nhãn thức, sắc dục, giận dữ, như thật biết trong ta không có nhãn thức, sắc dục, giận dữ. Như nhãn thức, sắc chưa sinh, dục, giận dữ, biết như thật chưa sinh, như nhãn thức, sắc chư sinh dục, giận dữ, biết như thật sẽ sinh, như nhãn thức, sắc hiện tại, sinh ra dục, giận dữ, biết như thật sẽ dứt, như nhãn thức, sắc đã dứt dục, giận dữ, biết như thật không sinh lại. Nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý cũng như thế, cho đến gọi là pháp trong, ngoài quán hành pháp.

Lại nữa, Tỳ-kheo, trong ngã có niệm giác, biết như thật trong ngã có niệm giác, trong ngã không có niệm giác, biết như thật trong ngã không có niệm giác. Như niệm giác chưa sinh, biết như thật chưa sinh, như thật biết sẽ sinh, như niệm giác sinh rồi, biết như thật có đầy đủ, tu sáu giác còn lại cũng như thế, cho đến đó gọi là pháp trong, ngoài quán hành pháp.

Lại nữa, Tỳ-kheo, biết như thật về khổ, tập khổ, diệt khổ, đạo diệt khổ, biết như thật lậu, tập lậu, diệt lậu, đạo diệt lậu, cho đến gọi là pháp trong, ngoài quán hành pháp.

Lại nữa, Tỳ-kheo đã chán lìa tất cả hành, nhập cõi cam lộ, là vắng lặng, sự vượt hơn này diệt tất cả hành, được Niết-bàn vắng lặng, cho đến gọi là pháp trong, ngoài quán hành của pháp, và các hành khác, trừ tâm thọ pháp thuộc về sắc thân bốn đại và trừ tất cả pháp trong, ngoài, nếu pháp trong, ngoài của một chỗ, như tư duy tâm định, trụ chánh trụ, gọi là pháp trong, ngoài quán hành pháp.

Hỏi: Thế nào là pháp trong, ngoài?

Đáp: Nếu pháp thọ, hoặc không thọ, gọi là pháp trong, ngoài, về nghĩa khác, như trên đã nói.

Như thế, Tỳ-kheo quán pháp, hành của pháp duyên khởi, quán pháp, hành của pháp duyên diệt. Như thế, Tỳ-kheo quán hành của pháp khởi, diệt, có pháp khởi niệm trong, do trí, do minh, thức không có pháp nương tựa, không có hành, nương tựa, không thọ nhận thế gian. Như thế, pháp trong của Tỳ-kheo quán hành pháp, siêng năng, tinh tiến, chánh trí, chánh niệm, trừ tham ưu của thế gian, pháp ngoài, pháp trong, ngoài cũng như thế. Tu học như thật bốn niệm xứ, sẽ có sự sợ sệt này: Hành thường vô ngã của tất cả thế gian, tâm không cao, không thấp, cũng không có trú xứ. Nếu có tưởng ngã, tưởng chúng sinh, tưởng mạng, tưởng nhân, thì không có việc ấy. Thường thích ứng với hành không bậc nhất. Nếu được tâm sau này, sẽ không vô ích. Không thọ nhận, không đắm sắc, thanh, hương, vị, xúc, không có trở ngại đối với ba đời, giải thoát cõi Dục, giải thoát cõi Sắc, Vô sắc, diệt, không sinh lại, đây là biên vực khổ. Như thời tiết cực nóng oi bức vào tháng cuối xuân, không có mây, sương mù, một ít nước đọng lại trong chậu sành, bị bốc hơi, khô cạn một cách nhanh chóng. Cũng thế, Tỳ-kheo, nếu được tâm sau, thì sẽ không hóa ra vô ích, không thọ nhận, không mê đắm sắc, thanh, hương, vị xúc, cho đến diệt không sinh lại, đây gọi là bờ mé khổ.

Như gió thổi lửa dữ
Lúc tắt không dời chỗ
Do quạt giác danh sắc
Đều không đến đâu cả
Như thợ rèn sắt nóng
Sao chuyển tắt, không hình
Nắn, đúc dần về không
Cầu, tin nhau khó được.
Như mưa tuôn xuống biển
Giọt cũ há lại còn
Giải thoát cũng đâu có
Vì không, vắng lặng vui.
Xả thân, lìa các tưởng
Các thọ không có biết
Chỗ hành đều vắng lặng
Thức cũng tự nhiên diệt.

Phẩm 7: PHẨM CHÁNH CẦN THUỘC PHẦN PHI VẤN

Hỏi: Có bao nhiêu chánh cần?

Đáp: Có bốn.

Chánh cần là gì?

Đáp: Nếu Tỳ-kheo, pháp ác bất thiện chưa sinh, thì làm cho không sinh, khởi dục (muốn), tự cố gắng thắng tiến, thâu nhiếp tâm chánh dứt. Pháp ác bất thiện đã sinh, thì sẽ dứt, khởi dục, tự cố gắng tiến vượt hơn, thâu nhiếp tâm chánh dứt.

Pháp thiện chưa sinh, muốn cho nó sinh thì khởi dục, tự cố gắng tiến vượt hơn, thâu nhiếp tâm chánh dứt. Pháp thiện đã sinh, thì muốn cho nó trụ lại, tu đầy đủ, không quên rộng thêm, khởi dục, tự cố gắng tiến vượt hơn, thâu nhiếp tâm chánh dứt.

Hỏi: Thế nào là pháp ác chưa sinh, muốn cho không sinh?

Đáp: Hành vi ác của thân, miệng, ý, gọi là pháp ác bất thiện.

Lại nữa, mười đạo nghiệp bất thiện, gọi là pháp ác bất thiện.

Lại nữa, căn bất thiện tương ưng với căn bất thiện, là pháp mà căn bất thiện khởi, không phải duyên, chẳng phải thọ, đó gọi là pháp ác bất thiện.

Lại nữa, tham dục, giận dữ, ngu si, phẫn nộ, oán thù, ngờ vực, nói dối, ganh ghét, keo kiệt, dua nịnh, lừa dối, che giấu việc xấu ác, không có hổ, không có thẹn, tự cao, kiện tụng, thô bạo, buông lung, ngã mạn, tăng thượng mạn v.v…, đều gọi là pháp ác bất thiện.

Lại nữa, mười pháp tà, gọi là pháp ác bất thiện. Như thế, pháp ác bất thiện chưa sinh, chưa khởi, chưa hòa hợp, ta không để cho sinh, không khởi, không hòa hợp, gọi là pháp ác bất thiện chưa sinh, muốn cho không sinh.

Sao nói là khởi dục?

Đáp: Nếu muốn lại muốn, muốn làm, muốn khởi, muốn biểu lộ rõ ra, muốn vượt qua, muốn được, muốn xúc, muốn chứng, gọi là khởi dục.

Nói tự cố gắng là gì?

Đáp: Tự cố gắng chịu đựng, chưa được, muốn được, chưa hiểu muốn hiểu, chưa chứng, muốn chứng, gọi là tự cố gắng.

Sao nói là thắng tiến?

Đáp: Thân, tâm phát khởi, tỏ rõ ra, vượt qua, có thể chịu đựng, không lùi sụt, ra sức siêng năng, tu tiến, gọi là tiến. Tinh tiến này khởi chánh khởi, chánh sinh, xúc chứng, gọi là thắng tiến.

Sao nói là nhiếp giữ tâm?

Đáp: Sáu thức thân, tâm, ý, thức, bảy thức giới, gọi là tâm, tâm này nhiếp chánh, nhiếp duyên, thâu nhiếp khuyến khích, cố gắng, cố gắng chánh, hăng hái vui mừng, gọi là nhiếp giữ tâm.

Sao nói là chánh?

Đáp: Chánh nhân, chánh tư duy, chánh phương tiện, gọi là chánh.

Sao nói là dứt?

Đáp: Bỏ pháp ác, sinh pháp thiện, pháp thanh bạch, hạnh vui hiện đời, huệ tri kiến phân biệt dứt, lậu tận tất cả bờ mé khổ, đó gọi là dứt.

Pháp ác bất thiện đã sinh, thì phải dứt, khởi dục, tự cố gắng thắng tiến, thâu nhiếp tâm. Chánh dứt cũng nói như thế, chỉ khác ở chỗ đã sinh.

Nói là pháp thiện chưa sinh, muốn cho sinh, hành vi thiện của thân, miệng ý, gọi là pháp thiện, cho đến: Sao nói là dứt? Bỏ pháp ác sinh pháp thiện, thực hành niềm vui hiện đời của pháp thanh bạch, huệ tri kiến phân biệt dứt lậu tận bờ mé tất cả khổ, đó gọi là dứt.

Sao nói là pháp thiện sinh rồi, muốn cho trụ?

Đáp: Hành vi thiện của thân, miệng, ý, gọi là pháp thiện, cho đến lại có mười chánh pháp, chánh kiến, cho đến chánh trí và những pháp, tùy chánh khác, đó gọi là pháp thiện. Như pháp thiện này sinh hòa hợp, khiến ta trụ không mất, không quên, khiến ta được rốt ráo, nên gọi là pháp thiện sinh rồi trụ.

Đầy đủ là gì?

Đáp: Các giới chưa đầy đủ, muốn cho đầy đủ, cho đến giải thoát tri kiến, các giới chưa đầy đủ, muốn cho đầy đủ, gọi là đầy đủ.

Hỏi: Thế nào là Tu?

Đáp: Nếu gần gũi pháp thiện, gần gũi chân chánh, nương theo sự chân chánh, siêng năng hành trì, tu học, gọi là tu.

Hỏi: Thế nào là không quên?

Đáp: Là muốn cho pháp thiện không mất, không bị đoạt, nối tiếp nhớ nghĩ không quên, gọi là không quên.

Hỏi: Thế nào là thêm rộng?

Đáp: Là muốn cho pháp thiện tăng trưởng, rộng tiến đó gọi là thêm rộng, cho đến thế nào gọi là dứt? Là bỏ pháp ác, sinh pháp thiện, pháp thanh bạch, pháp vui ở đời, tri kiến tuệ phân biệt, dứt các lậu, hết tất cả bờ mé khổ, gọi là dứt.

Phẩm 8: PHẨM THẦN TÚC THUỘC PHẦN PHI VẤN

Hỏi: Có bao nhiêu thần túc?

Đáp: Có bốn. Là dục định dứt hành thành tựu tu thần túc, tinh tiến định, tuệ định dứt hành thành tựu tu thần túc.

Hỏi: Thế nào là dục?

Đáp: Là dục trọng, dục tạo tác, dục phát khởi, dục hiện ra, dục vượt qua, dục được, dục xúc, dục giải, dục chứng, đó gọi là dục.

Định là gì?

Đáp: Nếu tâm trụ, chánh trụ, đó gọi là định. Dục như thế, định như thế, đó gọi là dục định. Lại nữa, quý trọng, dục hướng đến, dục nương tựa, dục hướng về, dục tăng thượng, lấy dục làm chính được định, tâm trụ, chánh trụ, đó gọi là dục định.

Lại nữa, khéo muốn phát khởi được định, tâm trụ, chánh trụ, mong muốn bất thiện khởi được định, tâm trụ, chánh trụ, mong muốn vô ký phát khởi được định, tâm trụ, chánh trụđó gọi là dục định.

Lại nữa, không muốn làm thiện, tức tự tư duy: Đây không phải những điều thiện của ta, không phải điều tốt đẹp, không phải điều thích ứng, không phải điều thực hành, không phải thời gian ta tu hành. Vì sao ta không muốn làm thiện? Bèn dùng dục là trên hết để được định, tâm trụ, chánh trụ, đó gọi là dục định.

Lại nữa, muốn thực hành pháp thiện, liền tự suy nghĩ: Là việc thiện của ta, là điều tốt đẹp, là việc thích ứng, là điều được thực hành, là thời gian để tu hành. Ta muốn làm việc thiện, lấy dục là trên hết để được định, tâm trụ, chánh trụ, đó gọi là dục định.

Lại nữa, khéo muốn thiện không sinh, muốn thiện không sinh rồi, muốn bất thiện sinh, hành vi chung với tham dục, giận dữ, ngu si, liền tự suy nghĩ: Đây không phải là việc thiện của ta, không phải điều tốt đẹp, không phải việc thích ứng đúng làm, không phải thời gian ta tu hành, vì sao ta không muốn hành thiện mà hành vi chung với sự tham dục, giận dữ, ngu si. Sự muốn thiện là trên hết để được định, tâm trụ, chánh trụ, đó gọi là dục định.

Lại nữa, muốn bất thiện không sinh, muốn bất thiện không sinh rồi, muốn thiện sinh, hành vi không chung với tham dục, giận dữ, ngu si, liền tự suy nghĩ: Là việc thiện của ta, là điều tốt đẹp, là việc thích ứng, đáng làm, là thời gian ta tu hành. Ta muốn hành thiện, không hành vi chung với tham dục, giận dữ, ngu si, lấy muốn thiện là trên hết để, được định, tâm trụ, chánh trụ, đó gọi là dục định.

Hỏi: Thế nào là Dứt?

Đáp: Dùng pháp thiện dẫn tâm, dẫn chánh, dẫn điều phục, điều phục thích đáng, chỉ thích đáng, chỉ không mất, không dời đổi, đó gọi là dứt.

Lại nữa, thân, tâm phát khởi, hiện ra rõ ràng, vượt qua, có khả năng chịu đựng, ra sức siêng năng tiến lên không lùi sụt, đó gọi là dứt.

Lại nữa, tu bốn chánh dứt, đó gọi là dứt.

Lại nữa, từ bỏ pháp ác bất thiện, sinh pháp thiện, hạnh vui hiện đời, với huệ, tri kiến phân biệt, dứt trừ hết các lậu, bờ mé tất cả khổ, đó gọi là dứt.

Hỏi: Thế nào là hành dứt?

Đáp: Vui, mừng, tín, xả, niệm, chánh trí, gọi là hành dứt.

Lại nữa, hành dứt của dục định, thành tựu, tu thần túc, trừ dục, huệ tâm, tinh tiến, còn lại các tùy pháp: thọ, tưởng, tư, xúc, tư duy, giác quán, giải thoát, thuận với tín, tâm vui mừng, tùy tín, tâm niệm không buông lung, xả, trừ, thân tiến và tùy sắc khác, gọi là hành dứt.

Thành tựu là gì?

Đáp: Dục định dứt và hạnh dứt, chung khởi thích đáng, chung khởi thọ, chánh thọ, sinh chánh, sinh đầy đủ, gọi là thành tựu.

Hỏi: Thế nào là tu?

Đáp: Hạnh dứt, dục định này thành tựu thần túc, gần gũi, gần gũi thích đáng, dựa vào chánh, dựa vào siêng năng thực hành tu học, gọi là tu.

Thần là gì?

Đáp: Thông như ý, hóa như ý, tự tại như ý, tạo ra vô số thứ biến hóa, gọi là Thần.

Lại nữa, như Tỳ-kheo có đại thần lực, có thể biến hóa vô lượng, làm rung chuyển mặt đất, dùng một làm nhiều, lấy nhiều làm một, hoặc vật gần, vật xa, hoặc tường, vách, núi cao, đều xuyên suốt qua, không có trở ngại, như đi trên hư không, ngồi kiết già, bay vào hư không, như chim, vào, ra trong đất, như vào ra trong nước, đi trên nước như đi trên đất liền, thân tỏa ra lửa khói, trông như đống lửa to. Với oai đức, dùng tay sờ chạm mặt trời, mặt trăng, cho đến thân Phạm thiên được tự tại, gọi là Thần.

Sao nói là Túc?

Đáp: Như dục định, hạnh dứt, là túc, là bằng nhau, là nhân, là cửa, là dụng, là đạo, là đến, là duyên, là đầu mối, là thể. Thần sinh chánh sinh khởi, chánh khởi, xuất, chánh xuất, như ý, chánh như ý, gọi là túc.

Nếu Tỳ-kheo, dục định, hạnh dứt thành tựu tu thần túc, khiến cho sự ước muốn của ta không cao, không thấp, không chìm, không phân tán, hành của tưởng thường trước, sau, trước như sau, sau như trước, ngày như đêm, đêm như ngày. Tâm Tỳ-kheo khai ngộ, không bị che lấp, tu hành sáng rõ, dùng thân định tâm, dùng tâm định thân, tưởng ưa thích, tưởng xem thường, được nêu thân hành.

Dục thấp là sao?

Đáp: Nếu dục tương ưng chung với lười biếng, không siêng năng tinh tiến, không tự cố gắng, bỏ việc thiện, lui sụt pháp, gọi là dục thấp. Hỏi: Thế nào là lười biếng? Là biếng nhác đối với pháp thiện, bỏ bê, lui sụt. Nếu dục tương ưng với lười biếng, thì sẽ không siêng năng, tiến bộ, không tự cố gắng, lùi sụt pháp thiện, gọi là dục thấp.

Hỏi: Thế nào là dục cao?

Đáp: Nếu dục tương ưng với trạo cử, không tương ưng với sự vắng lặng, thành hành vi rối loạn, gọi là dục cao.

Hỏi: Thế nào là trạo cử?

Đáp: Nếu tâm rối loạn không vắng lặng, gọi là trạo, nếu muốn tương ưng với trạo thì không tương ưng với vắng lặng, thành tựu loạn hạnh, đó gọi là dục cao.

Dục chìm là gì?

Đáp: Nếu dục tương ưng với thùy miên, không diệt chung với niệm huệ, không thành tựu, không là pháp thiện riêng, đó gọi là dục chìm mất.

Hỏi: Thế nào là thùy?

Đáp: Phiền não chưa dứt, thân không ưa thích, không điều hòa, không nhẹ nhàng, không mềm mại, không trừ, gọi là thùy.

Miên là gì?

Đáp: Phiền não chưa dứt, tâm u mê, bị che lấp, gọi là miên.

Nếu dục tương ưng với thùy miên, không tương ưng với diệt niệm, huệ không thành tựu, không là pháp thiện riêng, gọi là dục chìm.

Hỏi: Thế nào là dục lìa tan?

Đáp: Khởi dục nhiễm tương ưng với dục nhiễm, nhiều dục thấy tịnh, không quán lỗi lầm, tâm phân tán đối với năm dục ngoài, mê đắm sắc, thanh, hương, vị, xúc, gọi là dục lìa tan.

Dục nhiễm là sao?

Đáp: Nếu mỗi dục: dục vết bẩn, dục ái, dục hỷ, dục chi, dục lưới, dục nhẫn, dục đắc, dục tập dục hy vọng, đó gọi là dục nhiễm.

Nếu dục hướng về dục nhiễm, với dục nhiễm, tương ưng với dục nhiễm, nặng về dục thấy tịnh không quán lỗi lầm, đối với năm dục ngoài, tâm phân tán, mê đắm sắc, thanh, hương, vị, xúc, gọi là dục lìa tan.

Hỏi: Thế nào là hành của tưởng thường trước sau?

Đáp: Nếu Tỳ-kheo lại thực hành như sự tư duy nhập pháp thiện, xuất thế gian, nhập Niết-bàn, lìa tướng dục định, nên lại hành rồi, đi giữa ngày, đi giữa ngày rồi, đi quá trưa, đi quá trưa rồi, kinh hành trên, kinh hành trên rồi, kinh hành dưới, kinh hành dưới rồi, nhập thất, nhập thất rồi, đi vào đầu hôm, đi vào đầu hôm rồi, đi vào gần sáng, đi vào gần sáng rồi, như tư duy nhập pháp thiện, xuất thế gian nhập Niết-bàn, lìa tương ưng của dục định, gọi là hành của tưởng thường trước sau.

Trước như sau, sau như trước là sao?

Đáp: Như Tỳ-kheo, như sự căn, lực, thiền giác, giải thoát định, nhập hành trước của định, như sự căn, lực thiền giác, giải thoát định, nhập hành sau của định, như sự căn, lực, thiền giác giải thoát định, nhập hành sau của định. Đã như sự căn, lực, giác thiền định giải thoát, nhập định hành trước sau, nói là trước như sau, sau như trước.

Hỏi: Thế nào là ngày như đêm, đêm như ngày?

Đáp: Như Tỳ-kheo, nếu nhận lấy tưởng ánh sáng, thọ nhận tốt tưởng ban ngày. Sau đó, như ban ngày, tư duy tưởng ánh sáng, ban đêm cũng như thế. Như ban đêm, ban ngày cũng như vậy. Đó gọi là ngày như đêm, đêm như ngày.

Tâm Tỳ-kheo kia khai ngộ, không có cái che lấp là gì?

Đáp: Nếu cấu uế của tham dục, giận dữ, ngu si, cấu uế của phiền não, cái che lấp, chướng ngại, buộc ràng, cấu uế của hành vi bất thiện, là tâm chướng ngại, tâm không khai mở, tâm của cái che lấp, là tâm che lấp, là khởi hướng đến tâm bất tịnh, bị ràng buộc, là không trong sạch, tâm không sáng rõ, gọi là tâm của cái che lấp. Nếu tâm không có cấu uế của tham dục, giận dữ, ngu si, cho đến tâm sáng rõ, thì gọi là tâm Tỳ-kheo kia đã khai ngộ, không có cái che lấp.

Hỏi: Thế nào là tu có tâm sáng suốt?

Đáp: Nếu Tỳ-kheo tu tâm sáng suốt với ánh sáng huệ tu có tâm sáng suốt, tu với tâm tưởng sáng suốt, tu có tâm sáng suốt.

Hỏi: Thế nào là tu tâm sáng suốt với ánh sáng huệ?

Đáp: Nếu ba huệ soi sáng, nghĩa là văn, tư, tu huệ, gọi là tu tâm sáng suốt chung với ánh sáng huệ. Nếu gần gũi, chánh gần gũi siêng năng thực hành tu học, thì nói là tu tâm sáng suốt chung với ánh sáng huệ, tu có tâm sáng suốt.

Tâm tưởng sáng suốt chung là sao?

Đáp: Nếu Tỳ-kheo nhận lấy các tướng ánh sáng, như ánh sáng của lửa, ánh sáng của mặt trời, mặt trăng, ánh sáng của ngọc, ánh sáng của các vì sao, nhận lấy tướng của các thứ ánh sáng rồi, nếu ngồi ở chỗ trống trải, dưới tàng cây, tư duy về ánh sáng, biết ánh sáng, hiểu ánh sáng, thọ nhận ánh sáng. Như người thật, hoặc nhớ tưởng, biết nhớ tưởng gọi là tâm tưởng sáng suốt. Nếu tưởng chung sinh, trụ chung, diệt chung, gọi là tâm tưởng sáng suốt chung. Nếu gần gũi, chánh gần gũi, siêng năng thực hành tu học, gọi là tu tâm tưởng sáng suốt chung, tu tâm có ánh sáng.

Lại nữa, Tỳ-kheo, nếu ngồi ở chỗ trống dưới cội cây dùng tâm thanh tịnh khắp giải hành hữu nói về tâm thù thắng. Như người thật, hoặc tâm nhớ tưởng biết tưởng, gọi là tâm tưởng sáng suốt. Nếu cùng tưởng sanh, cùng trụ, cùng diệt, gọi là tâm tưởng sáng suốt. Nếu gần gũi, chánh gần gũi, siêng năng thực hành tu học, gọi là tu tâm tưởng cùng sáng rỡ, tu có tâm sáng rỡ.

Lại nữa, Tỳ-kheo, nếu dưới một cội cây, hoặc hai, ba, hoặc cho đến mười tàng cây, dùng tâm thanh tịnh giải khắp, chuyển vận tâm có ánh sáng vượt hơn, cho đến gọi là tu tâm tưởng ánh sáng chung, tu tâm có ánh sáng.

Lại nữa, Tỳ-kheo, nếu ở một khu vườn, dùng tâm thanh tịnh hạnh giải khắp, cho đến gọi là tu tâm tưởng ánh sáng chung, tu tâm có ánh sáng.

Lại nữa, Tỳ-kheo, ở một khu vườn, hoặc hai, hoặc ba, cho đến mười khu vườn, dùng tâm thanh tịnh, hạnh giải khắp, cho đến gọi là tu tâm tưởng ánh sáng chung, tu tâm có ánh sáng.

Lại nữa, Tỳ-kheo, ở một thôn xóm, hoặc hai, hoặc ba, cho đến mười thôn xóm, do tâm thanh tịnh, hạnh giải khắp, cho đến gọi là tu tâm tưởng ánh sáng, tu tâm ánh sáng.

Lại nữa, Tỳ-kheo, cho đến nước, đất liền bao quanh, dùng tâm thanh tịnh hạnh giải khắp, cho đến gọi là tu tâm tưởng ánh sáng chung, tu tâm có ánh sáng.

Hỏi: Thế nào là dùng thân định tâm, dùng tâm định thân?

Đáp: Nếu Tỳ-kheo dùng tâm sửa cho đúng trên thân, nêu lên trên, nêu lên thích đáng, như người ôm bát khất thực, dùng giỏ lưới đựng bát, đựng thích đáng, nêu lên đựng nêu lên thích dáng. Như thế, Tỳ-kheo dùng tâm sửa cho đúng trên thân, nêu lên, nêu lên thích đáng.

Tỳ-kheo dùng thân định tâm là thế nào?

Đáp: Nếu Tỳ-kheo tư duy thân vô thường, biết vô thường, giải vô thường, thọ vô thường, quán không buông lung như thế, được định, tâm trụ, chánh trụ, thân vui, thân điều hòa, thân nhẹ nhàng, thân mềm mại, thân trừ, gọi là dùng thân định tâm.

Lại nữa, Tỳ-kheo, thân khổ não, ung nhọt, tên độc, tham vướng vị, dựa vào duyên pháp hư hoại bất định, bất mãn, có thể hoại, khổ, không, vô ngã, tư duy về duyên, biết duyên, giải duyên, thọ duyên, tức vô minh duyên hành, cho đến danh sắc duyên sáu nhập.

Quán không buông lung như thế, được định, tâm trụ, chánh trụ, thân lạc, thân điều hòa, thân nhẹ nhàng, thân mềm dịu, thân trừ, gọi là dùng thân định tâm.

Lại nữa, Tỳ-kheo, tư duy thân diệt, biết diệt, giải diệt, thọ diệt, tức vô minh diệt thì hành diệt, cho đến danh sắc diệt thì sáu nhập diệt. Quán không buông lung như thế, sẽ được định, tâm trụ, chánh trụ, thân vui, thân điều hòa, thân khinh an, thân mềm mại, thân trừ, gọi là dùng thân định tâm.

Lại nữa, Tỳ-kheo, đi biết, vui đi, đứng biết, vui đứng, ngồi biết, vui ngồi, lấy biết, vui lấy. Như thế, thân trụ vui, biết như thật trụ vui. Quán không buông lung như thế, sẽ được định, tâm trụ, chánh trụ, thân vui, thân điều hòa, thân khinh an, thân mềm mại, thân trừ, gọi là dùng thân định tâm, cho đến. Lại nữa, Tỳ-kheo, nếu thấy chết thi bị đốt ở trên đống lửa, tóc, lông, da, máu thịt, gân, mạch, xương tủy, tiêu tan, dần hết. Quán pháp này không đến đông, tây, nam, bắc, bốn duy trên dưới, không đến trụ chỗ khác. Pháp này vốn không mà sinh, đã có lại diệt. Quán thân, quán pháp không buông lung như thế, được định tâm trụ, chánh trụ, được thân yên vui, thân điều hòa, thân khinh an, thân mềm mại, thân trừ, gọi là dùng thân định tâm (chương này có 24 khoa. Lại nữa, giải thích dùng thân định tâm, không khác với nói về chi đạo, nên lược).

Dùng tâm định thân là sao?

Đáp: Như Tỳ-kheo tư duy tâm vô thường, biết tâm vô thường, giải tâm vô thường, thọ tâm vô thường. Quán không buông lung như thế, liền được định, tâm trụ, chánh trụ được tâm yên vui, tâm điều phục, tâm khinh an, tâm mềm dịu, tâm trừ, gọi là dùng tâm định thân.

Lại nữa, Tỳ-kheo, quán tâm khổ não: bệnh ung nhọt, tên độc, tham đắm vị, dựa vào duyên pháp hư hoại không nhất định, không đầy đủ, có thể hoại, khổ, không, vô ngã, tư duy về duyên, biết duyên, giải duyên, thọ duyên, tức vô minh duyên hành, hành duyên thức. Quán không buông lung như thế, được định, tâm trụ, chánh trụ, được tâm yên vui, tâm điều hòa, tâm khinh an, tâm mềm dịu, tâm trừ, gọi là dùng tâm định thân.

Lại nữa, Tỳ-kheo, tư duy tâm diệt, biết diệt, giải diệt, thọ diệt, tức vô minh diệt thì hành diệt, hành diệt thì thức diệt. Quán không buông lung như thế, sẽ được định, tâm trụ, chánh trụ, được tâm yên vui, tâm điều hòa, tâm khinh an, tâm mềm mỏng, tâm trừ, gọi là dùng tâm định thân.

Lại nữa, Tỳ-kheo, có tâm dục, biết như thật có tâm dục, không có tâm dục, biết như thật không có tâm dục, cho đến có tâm vượt hơn, không có tâm vượt hơn, biết như thật. Quán không buông lung như thế, được định, tâm trụ, chánh trụ, được tâm yên vui, tâm điều hòa, tâm khinh an, tâm mềm mỏng, tâm trừ, gọi là dùng tâm định thân.

Hỏi: Thế nào là tưởng vui, nhớ tưởng hành vi của thân trên?

Thế nào là tưởng vui?

Nếu Tỳ-kheo đã lìa pháp dục ác bất thiện, có giác có quán ly sinh hỷ lạc, thành tựu hành Sơ thiền. Nếu thân ly sinh hỷ lạc, sự thấm nhuần đầy khắp, thân này đều lìa, sinh ra nỗi mừng vui, sự thấm nhuần đầy khắp, không có giảm ít. Như thầy khéo tắm gội, đệ chết của thầy khéo tắm gội, dùng nước táo đậu mịn để tắm gội cho kỹ, đựng trong chậu, dùng nước rưới rồi, khuấy cho đều, khuấy sự thấm nhuần này đầy khắp, không khô, không ướt, trong ngoài nhuận hòa. Như thế, thân Tỳ-kheo ly sinh hỷ lạc, sự thấm nhuần đầy khắp, thân đều ly sinh hỷ lạc, sự thấm nhuần đầy khắp, không có giảm ít. Như người thật, hoặc nhớ tưởng, tưởng biết tưởng, gọi là tưởng vui. Thân của tưởng này, thọ vi tế, thọ vi tế thích đáng, duyên thọ vi tế, vì sao thân thọ? Vì ý lấy thân làm thể thọ, gọi là hành vi thân trên tưởng vui.

Lại nữa, Tỳ-kheo diệt giác quán, lòng tin tịnh bên trong, không có giác, không có quán định sinh hỷ lạc, thành tựu hạnh Nhị thiền. Nếu thân này định sinh hỷ lạc, sự thấm nhuần đầy khắp, thân đều định sinh hỷ lạc, sự thấm nhuần đầy khắp, không có giảm ít, như hồ chứa nước lớn có núi bao quanh, nước từ đáy hồ vọt lên, nước không đến từ hướng Đông, Tây, Nam, Bắc. Nước hồ tự động từ đáy vọt lên, sự thấm nhuần của nước chứa trong hồ này đầy khắp, không có giảm ít. Như thế, Tỳkheo, định sinh hỷ lạc, sự thấm nhuần đầy khắp thân này. Thân ấy đều định sinh hỷ lạc, sự thấm nhuần đầy khắp, không có giảm ít, nếu người thật sự hoặc tưởng nhớ tưởng gọi là tưởng vui. Thân của tưởng này, thọ vi tế, thọ vi tế thích đáng, duyên thọ vi tế, vì sao thân thọ, vì ý lấy thân làm thể thọ, gọi là hành của thân trên tưởng vui.

Lại nữa, hạnh ly hỷ, lạc xả niệm của Tỳ-kheo, chánh trí, thân thọ vui, như các bậc Thánh hạnh giải xả, niệm lạc, thành tựu hạnh Tam thiền. Nếu thân này vô khổ có hỷ lạc, nước thấm nhuần thấm nhuần đầy khắp, không có giảm ít. Như ao sen ưu-bát-la, ba-đầu-ma, câu-mâuđầu, phân-đà-lợi và các hoa ấy từ đáy bùn vươn lên chưa lên khỏi mặt nước. Hoa này từ gốc đến đầu ngập tràn trong nước thấm nhuần, từ gốc đến đầu, từ đầu đến gốc nước tân dịch thấm nhuần đầy khắp, không có giảm ít. Như thế, Tỳ-kheo hoặc không có hỷ lạc, sự thấm nhuần đầy khắp, hoặc toàn thân này hỷ lạc với sự thấm nhuần đầy khắp, không có giảm ít. Như người thật hoặc tưởng, nhớ tưởng, biết tưởng gọi là lạc tưởng. Nếu thọ vi tế của thân tưởng, thọ vi tế thích đáng, duyên thọ vi tế, thì thân nào thọ? Là ý lấy thân làm thể thọ, gọi là hành thân trên tưởng vui.

Lại nữa, Tỳ-kheo! Dứt khổ, vui, trước diệt ưu, hỷ, xả niệm tịnh, bất khổ bất lạc, thành tựu hạnh Tứ thiền. Nếu thân này do hành tâm thanh tịnh đầy khắp, thân này không gì không thanh tịnh đầy khắp. Ví như con trai, con gái mặc y phục trắng sạch, trên dưới đầy đủ, từ đầu đến chân, từ chân đến đầu, không chỗ nào không phủ kín. Như Tỳ-kheo, thân này hạnh giải tâm thanh tịnh đầy khắp thanh tịnh, thân này không chỗ nào không đầy khắp. Như người thật nếu có tưởng, nhớ tưởng, biết tưởng gọi là lạc tưởng. Thọ vi tế của thân này, thọ vi tế thích đáng, duyên thọ vi tế thì thân nào thọ? Là ý lấy thân làm thể thọ, gọi là hành thân trên tưởng vui.

Tưởng nhẹ nhàng là sao?

Đáp: Nếu Tỳ-kheo tư duy thân nhẹ nhàng, biết nhẹ nhàng, giải nhẹ nhàng, thọ nhẹ nhàng, nhẹ nhàng như Đâu-la-miên, nhẹ như kiếp bát, rải khắp trên đất bằng, gió nhẹ thổi đến, là sẽ được rời khỏi mặt đất. Như thế, Tỳ-kheo, tư duy thân nhẹ nhàng, biết nhẹ, giải nhẹ, thọ nhẹ nhàng. Như thế, quán không buông lung được định, tâm trụ, chánh trụ, liền được định rồi, rời khỏi mặt đất bốn tấc, đi ở trên. Như người thật nếu nhớ tưởng, tưởng biết tưởng, gọi là tưởng nhẹ nhàng. Thân thọ vi tế của tưởng này, thọ vi tế thích đáng duyên thọ vi tế thì thân nào thọ? Do thọ của thân, ý, gọi là hành vi của thân trên tưởng nhẹ nhàng.

Nếu Tỳ-kheo gần gũi định này, thường tu học, nếu lìa mặt đất một thước đi lên trên, hoặc hai thước đi lên, như người thật hoặc nhớ, tưởng, tưởng biết tưởng, gọi là tưởng nhẹ nhàng. Thọ vi tế của thân này tưởng, thọ vi tế thích đáng, duyên thọ vi tế, do thọ của thân nào? Thọ của thân ý, nói là hành thân trên tưởng nhẹ nhàng.

Nếu Tỳ-kheo hoặc gần gũi định này, thường tu học có thể đi ở cách mặt đất cao bằng nửa thân người, một, hai thân người, cho đến bảy thân người. Như người thật hoặc tưởng, biết tưởng này gọi là tưởng nhẹ nhàng. Nếu thân tưởng thọ vi tế, thọ thích đáng, duyên thọ vi tế thì thân nào thọ? Là ý lấy thân làm thể thọ, gọi là hành thân trên tưởng nhẹ nhàng.

Nếu Tỳ-kheo gần gũi định này, thường tu học, nếu đi trên hư không cách mặt đất nửa, nhiều cây Đa-la hoặc một cây Đa-la cho đến bảy cây Đa-la, như người thật, nếu tưởng, tưởng nhớ, biết tưởng, gọi là tưởng nhẹ nhàng, thọ vi tế, thọ vi tế thích đáng của thân tưởng này duyên thọ vi tế, do thọ của thân nào? Thọ của thân ý, gọi là hành thân trên tưởng nhẹ nhàng.

Nếu Tỳ-kheo gần gũi định này, thường tu học, như ý được muốn, đi trên, hư không cách mặt đất, không có hạn lượng, xa gần đều có thể đi đến. Như người thật, hoặc tưởng nhớ, tưởng biết tưởng, gọi là tưởng nhẹ nhàng. Nếu thọ vi tế của thân tưởng này, thọ vi tế thích đáng duyên thọ vi tế, thì do thọ của thân nào? Thọ của thân ý, gọi là hành thân trên tưởng vi nhẹ nhàng.

Nếu Tỳ-kheo tưởng vui, tưởng nhẹ nhàng kia, gần gũi, chánh gần gũi, thường tu học, muốn cho điều phục tâm mình vắng lặng, do lực tư tại, như ý mình muốn, thành tựu các thần túc. Nếu gần gũi, chánh Thân cận tưởng vui, tưởng nhẹ nhàng kia, thường tu học rồi, tâm được điều hòa, vắng lặng, do lực tự tại, như ý mình muốn, được thành tựu các thần túc. Thọ nhận đủ vô lượng các thần túc kia, có thể làm rung chuyển mặt đất, dùng một làm nhiều, dùng nhiều làm một, hoặc gần, hoặc xa, cao khỏi tường, vách, đều xuyên suốt qua không có ngăn ngại, như đi trên hư không, ngồi kiết già, bay trên hư không như chim, hiện mất ở đất cũng như lên xuống nước, đi dưới nước, như đi trên đất liền, thân phát ra khói, lửa, như đống lửa lớn, có oai đức lớn, tay có thể sờ chạm mặt trời, mặt trăng, cho đến thân Phạm Thiên được tự tại, như phẩm Định đã nói rộng, gọi là dục định, hành dứt, thành tựu, tu thần túc, hạnh tinh tiến, định tâm, định huệ, định dứt, thành tựu tu thần túc, cũng nói rộng như thế.

Did you find apk for android? You can find new Free Android Games and apps.