Want create site? Find Free WordPress Themes and plugins.

LUẬN THÍCH KINH NĂNG ĐOẠN KIM CANG BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA
Bồ-tát Vô Trước viết kệ tụng
Bồ-tát Thế Thân viết lời bình luận giải thích
Hán dịch: Đời Đường -Tam Tạng Pháp sư Nghĩa Tịnh
Việt dịch: Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh
Hội Văn Hóa Giáo Dục Linh Sơn Đài Bắc Xuất Bản

 

QUYỂN THƯỢNG

Văn nghĩa thứ lớp của Kinh này,

Không trí tuệ sáng không hiểu nổi,

Chúng con cúi đầu trước giáo pháp,

Vô biên công đức thân nầy được.

Đầy đủ phước đức nên kính lạy,

Tôn thờ giáo pháp trên đỉnh đầu,

Cửa giác khó vào Ngài đến được,

Hết lòng giúp ích khắp chúng sinh.

Kinh nói: Có khả năng làm lợi ích tối thắng, đây là căn cứ vào hàng Bồ-tát đã thành thục; có thể đem phó chúc những điều tối thắng, đây là căn cứ vào hàng Bồ-tát chưa thành thục. Vì sao đối với các Bồ-tát thì nói là lợi ích tối thắng? Lại vì sao mà nói phó chúc tối thắng? Để giải thích câu hỏi nầy, nên có lời tụng:

Lợi ích hơn nên biết

Cho mình và người thân,

Được-chưa được không thoái

Là phó chúc tối thắng.

Vì có lợi ích cho chính bản thân Bồ-tát và cũng có khả năng làm cho những người thân thuộc cùng loại với Bồ-tát đó, cũng được lợi ích nên gọi là lợi ích tối thắng. Và chính thân người ấy, giúp cho Phật pháp được thành thục và thâu phục chúng Sinh. Tức là bản thân họ được lợi ích mà còn dạy bảo, hóa độ các người khác, cũng đủ sức thực hiện để mọi việc được thành công. Ấy là làm cho những kẻ thân thuộc có được lợi ích. Nên biết như thế.

Còn đối với những người chưa đạt đạo, thì giúp họ có nhiều công đức để làm nhân cho quả vị bất thoái. Do đó, mà gần gũi để gửi gắm, khuyên bảo bạn lành. Thế nên dùng phó chúc cao quí mà căn dặn cho nhau.

Trong đấy có nói: “Được bất thoái”, là muốn làm cho người ấy, đừng bỏ pháp Đại Thừa. “Những ai chưa được thì chẳng thoái lui”; tức là làm cho họ ở trong pháp Đại thừa càng đặc biệt tiến phát cao hơn.

Còn những người phát tâm hướng đến quả vị Bồ-tát thì phải trụ như thế nào? Để giải đáp câu hỏi nầy, có lời tụng:

Nơi tâm rộng tối thắng,

Tột cùng không điên đảo,

Nơi ý vui lợi ích,

Thừa nầy công đức đủ.

Ở đây nói rõ nghĩa gì? – Là nếu Bồ-tát thực hiện bốn thứ lợi ích ý vui thì trước hết là phát tâm trụ, với đầy đủ niềm vui Đại thừa, mới gọi là công đức vẹn toàn

Bốn thứ vui lợi ích là gì? Đó là:

  1. Rộng lớn.
  2. Tối thắng.
  3. Tột cùng.
  4. Không điên đảo.

Kinh nói: Các cõi phát tâm, hướng về quả vị Bồ-tát, nên sinh tâm như thế, từ: “rộng nói…” đến “tất cả như thế”, đấy là nói Ý vui lợi ích rộng lớn.

“Ta đều làm cho họ được chứng nhập Niết-bàn Vô dư mà diệt độ”, đấy là nói Ý vui lợi ích tối thắng.

“Tuy độ vô lượng chúng sinh như thế…” đến “chẳng gọi là Bồ-tát”, đấy là nói Ý vui lợi ích tột cùng. Ý này là thế nào?

Là nói, có bao nhiêu chúng sinh đều giúp họ (xem họ) đồng với Bồtát. Khi mình được vắng lặng tịch diệt rồi, thì mình và chúng sinh (hữu tình) không khác chi nhau. Nếu còn ý tưởng cho chúng sinh có chỗ khác với mình, thì không được gọi là Bồ-tát. Còn như coi chúng sinh, chính là thể tánh của mình, tức là triệt để rốt ráo, cứ thế mà chẳng bỏ, thì gọi là Ý vui lợi ích tột cùng.

Nếu Bồ-tát còn có tưởng về ta, tưởng chúng sinh, tưởng thọ giả và càng mong muốn hướng về các tưởng đó thì không gọi là Bồ-tát. Đây là nói Ý vui Lợi ích không điên đảo. Đấy là do thấy có thân mình, nên sinh ra tưởng có ta v.v… Nếu đã đoạn dứt hết các tưởng đó rồi, thì không còn điên đảo nữa.

Sau đây, sẽ trình bày rõ ràng về các cõi phát tâm hướng về quả vị Bồtát, nên tu hành như thế. Kinh nói: Bồ-tát chẳng trụ vào sự việc khi Bố thí. Rộng nói như thế, trong đấy có ý gì? Chỉ dùng một tiếng “Thí” mà gồm hết thảy cả sáu pháp Đáo Bỉ Ngạn (Ba-la-mật) kia vậy? Đáp:

Sáu độ đều gọi là Thí

Là tài-vô úy-pháp thí

Khi thí ba thứ đó

Nên tu hạnh không bám trụ.

Ở đây nói cả sáu pháp Ba-la-mật đều gồm tướng Bố thí. Tánh chất của Bố thí nầy là gồm tài thí, vô uý thí và pháp thí.

1. Tài thí đứng đầu.

2. Vô úy thí, cũng gọi là giới-nhẫn. Đối với chỗ không thù oán thì là giới Ba-la-mật. Đối với nơi có thù oán thì là Nhẫn Ba-la-mật, vì chẳng làm cho họ sợ, tức là vô uý thí.

3. Pháp thí tức là tinh tấn-định-tuệ v.v.. Nói pháp để người quên mệt mỏi biếng lười là tinh tấn Ba-la-mật. Với kẻ đã hiểu rõ giáo lý để tu, là định Ba-la-mật; và giảng nói Pháp Như thật là tuệ Ba-la-mật. Chính đấy là chỗ tu hành của bậc Đại Bồ-tát, tức là dùng một chữ Thí mà bao gồm cả sáu hạnh.

Kinh nói: Bồ-tát chẳng trụ nơi sự mà Bố thí như thế v.v.. Trong đó, nói về tính không bám trụ là gì? –Tụng đáp:

Phải tự mình báo ân,

Quả báo không vướng mắc.

“Nói không trụ vào sự”, đây là muốn chỉ rõ rằng không tham đắm vào thân mình; không trụ vào chỗ nào cả để Bố thí, đấy là chỉ rõ sự không tham đắm về đền ân bằng lợi dưỡng và cung kính v.v.. Chỉ mong cầu vào các ân và lợi ích đó thì sinh ra nhiều việc không tốt. Nên mới nói: Không nên tham đắm vào chỗ nào cả, khi Bố thí. – “Không trụ vào sắc v.v…” tức là chẳng tham đắm quả báo. Hỏi: Vì sao cần phải không trụ vào đâu khi Bố thí? Tụng đáp:

Để lìa tâm chẳng khởi,

Và lìa các hạnh khác. Ở đây chỉ rõ, chính mình không Bố thí, mà muốn xa lìa, để không khởi tâm. Chớ nên tham đắm thân mình, mà phải Bố thí nhanh chóng. Tâm mong ứơc sự báo ân và quả báo, nên từ bỏ quả vị Chánh giác Bồ-đề, là cũng vì tham đắm vào các việc khác khi Bố thí. Thế nên cần phải từ bỏ việc mong cầu các việc khác khi Bố thí.

Sau đây, sẽ nói việc hàng phục (làm chủ) tâm mình, việc đó như thế nào? Tụng nói:

Thâu phục cả ba thứ,

Với tướng-tâm dứt bỏ,

Các nghi hoặc sau nầy,

Tùy Sinh đều trừ hết.

Kinh nói: Bồ-tát nên như thế mà thực hành Bố thí.. cho đến …cũng chẳng chấp trước vào các tướng tưởng. Đây là nói rõ vật được xả bỏ, kẻ nhận và người Bố thí. Đối với ba thứ đó, tâm không có ý tưởng tham đắm. Sau đây, nói về lợi ích của việc Bố thí. Có kẻ nghi vấn: Đã nói khi Bố thí phải lìa bỏ các tướng, tại sao lại còn nói Bố thí được nhiều phước đức, lợi ích? Đáp: Ở đấy nên nói: Sinh phước đức rất nhiều.

Hỏi: Vì sao nói đối với sự tu hành phần phúc lợi về sau không gây chướng ngại, còn đối với sự thâu phục, thì ở chỗ thấp mới nói? Đáp: Vì muốn làm sáng tỏ việc, nếu người nào không còn ý tưởng chấp tướng, thì mới có thể làm việc Bố thí mà không tham đắm vào nó.

Từ đây trở đi, những điều trong kinh nói đều là để dẹp trừ các nghi hoặc sau này. Nhân đó có điều nghi, hỏi: Nếu đã không chấp trước vào pháp khi Bố thí, thì tại sao, làm việc Bố thí mà còn mong cầu quả vị Chánh giác cao quí? Để đáp điều nghi ngờ này, kinh nói: Ông nghĩ sao? Có thể lấy thân tướng đẹp đẽ để nhìn thấy Như Lai không? Nói rộng là như thế.

Có bài Tụng đáp:

Nếu cùng tập hợp tạo,

Diệu tướng chẳng thắng tướng,

Ba tướng luôn đổi khác,

Không chúng là Như Lai.

Nếu cho: Như Lai là do Bố thí v.v.. các nhân duyên lành tạo nên thì đối với tướng Hữu Vi, sẽ được tánh tối thắng, liền có thể nhìn thấy Như Lai với hình tướng đẹp đẽ. Nếu trông mong chứng được tánh Chân như của Như Lai thì không còn tướng đẹp đó nữa. Do vậy, không nên lấy tướng đẹp cao quí mà nhìn thấy Như Lai, vì pháp thân đó không làm sáng tỏ chỗ nghiệp tập tạo nên.

Lại nói: “Vì sao, Như Lai nói tướng đẹp ấy là ba tướng luôn đổi khác? Do tướng đẹp đó tức chẳng phải tướng đẹp”. Ở đấy ý muốn nói là thể của ba tướng luôn chuyển dời khác nhau.

Nầy Diệu Sinh! Những thắng tướng có được đều là giả dối, nên coi tướng đẹp là chẳng phải tướng mà nhìn thấy Như Lai. Ý ấy muốn nói, từ nhân sinh ra các pháp đều là hư giả, cho nên tất cả là không. Gọi là Như Lai, vì Ngài hoàn toàn không có ba thứ tướng đó. Vì lìa tướng này, nên lấy vô tướng làm tướng. Ở trong chỗ không, có tính sinh-trụ-diệt-đổikhác, cần phải hiểu rõ. Ý nầy chỉ bày Như Lai không phải là tánh tạo tác của hữu vi, do nhân duyên hội hợp mà thành. Như thế, là đã hiểu rõ thật tánh của Như Lai.

Do vậy, nên cầu quả Phật mà Bố thí, thì không phải là Bố thí có chấp pháp, vậy là đã trừ bỏ các điều nghi. Kế sau đây, Diệu Sinh lại có những điều nghi: Nếu như thế mà thực hành hạnh Bố thí không trụ tướng thì nhân ấy rất là sâu thẳm. Vả lại, nói Như Lai là tánh vô vi thì quả đó lại càng sâu thẳm. Như thế, người đời sau này làm sao tin được? Khiến quả báo kia không luống uổng? Để dẹp nghi này, có bài tụng:

Nhân và quả sâu thẳm,

Nêu bày không đúng lúc,

Chẳng phải không lợi ích,

Do ba Bồ-tát khác.

Giả sử ở đời sau, có Bồ-tát đầy đủ cả Giới-Đức và Tuệ nói pháp, thì sự nói pháp đó rất có kết quả, lợi ích không hề luống uổng. Có bài tụng:

Do trước ở chỗ Phật,

Thọ trì những giới học,

Và gieo trồng căn lành,

Nên gọi đủ giới, đức.

Kinh nói: Nhưng vị Bồ-tát đó không phải chỉ tu hành, cung kính, phụng thờ một đức Phật; không phải chỉ gieo trồng căn lành từ một đức

Phật. Đây là chỉ rõ đời trước, được ở bên Phật, đã trì giới, đã tu hành, đã cung kính hầu hạ và gieo trồng căn lành. Thứ lớp như vậy, người đó sẽ có đủ giới, đủ đức, tiếp đến là đủ tuệ. Tụng nói:

Đoạn dứt hẳn ngã tưởng,

Và với cả pháp tưởng,

Đấy gọi là đủ tuệ,

Hai bốn khác thành tám.

Ý đây nói là ngã tưởng có bốn, pháp tưởng cũng có bốn nên thành tám tưởng. Lời tụng nói:

Thể riêng liên tục khởi,

Trụ đến hết tuổi thọ,

Lại cầu sinh cõi khác,

Ngã tưởng có bốn thứ.

“Ngã tưởng có bốn thứ”: Tức là ý tưởng về ta, về hữu tình, về thọ giả, về cầu xin cõi khác. Bốn thứ đó chẳng đồng nhau. Riêng đối với năm uẩn có khác, khi họp lại thì tạo nên loài hữu tình, rồi tự phân chia ra mà có ý tưởng về ta, và nó liên tục hoạt động tạo nên ý tưởng về hữu tình. Đối với loài hữu tình thì đó là nghĩa liên tục. Cho đến lúc già, vẫn còn ý tưởng sống mãi trong khi ý tưởng về một đời sống đã chuyển thành sự mong cầu một đời sống khác ở kiếp sau, từ đó sinh khởi ý tưởng cầu tìm cõi khác. Về pháp tưởng thì có bốn. Tụng nói:

Đều không nên chẳng có,

Có nên không thể nói,

Đó là nhân nói năng,

Pháp tưởng có bốn thứ.

Bốn thứ “Pháp tưởng” gồm:

  1. Ý tưởng về pháp.
  2. Ý tưởng về không pháp.
  3. Ý tưởng.
  4. Không có ý tưởng.

Đây gọi là chủ thể chấp, đối tượng bị chấp, các pháp đều là không. Ý tưởng về pháp là không sinh tức là không có ý tưởng về pháp. Đó chẳng phải là có pháp không tự tánh. Tánh không có rồi, nên chẳng có ý tưởng về không pháp, tức là nó chẳng phải có và có tánh chẳng phải có. Không nói pháp đã diễn giải (sở thuyên) nên chẳng phải là ý tưởng đó. Ấy là do nhân tố nói năng, cho nên chẳng phải là không có ý tưởng. Do sức hoạt động của ý tưởng, dù không nói rõ ra, nhưng vì có lời nói, cho nên có tám nghĩa khác nhau. Vì tám thứ ý tưởng của Ngã và Pháp đã dứt hết cho nên gọi đó là người có đủ Tuệ. Sao ý nghĩa nầy, chỉ nói đến người đầy đủ tuệ mà không nói tới những người đầy đủ giới hạnh, đầy đủ công đức? Đáp: Vì muốn làm sáng tỏ thật tưởng, vì nó có những điều sai khác. Đó là những điều gì? Lời tụng nói:

Do sức tin hiểu đó,

Tin nên sinh thật tưởng,

Không chấp lấy lời nói,

Theo nghĩa nhận lấy lời.

Do nghĩa nầy cho nên nói: Người có đầy đủ trí tuệ, sau nầy được gọi là người, khi nghe kinh này, có khả năng phát sinh lòng tin. Do có đầy đủ trí tuệ nên chẳng chấp chặt vào lời nói và cũng do có trí tuệ tùy thuận với nghĩa cao tột giữ lấy lời nói đúng chánh pháp, gọi đó là thật tưởng. Vì vậy nên sau đó nói: Không nên chấp là pháp, cũng không nên chấp là chẳng phải pháp, không nên coi nói năng là pháp, lại cũng không chấp là phi pháp. Nhưng do có trí tuệ tùy thuận với nghĩa cao tột ấy, nên cho đó là lời nói đúng chánh pháp. Tức là kinh đã nói: Khi nghe nói kinh này, có sinh lòng tin thật hay không? Kinh nói: Nầy Diệu Sinh! Như Lai đều biết và thấy người ấy v.v.. điều nầy có ý nghĩa gì? Tụng nói:

Phật rõ quả không so,

Do nguyện trí mà biết.

Những kẻ đã đầy đủ giới ấy, nếu được quả báo nào, Phật đều biết rõ, không cần so sánh mới biết, chính do hiện lượng của Trí mà rõ, nên không nói là thấy; hoặc nói là so sánh mà biết, nên không nói là biết vì e bảo rằng Phật đã dùng nhục nhãn mà thấy. Thế nên, nói chung là biết và thấy. Tại sao Thế Tôn nói lời như thế? Lời tụng nói: Vì cầu lợi-cung kính, Ngăn việc đó tự nói.

Những kẻ có đầy đủ giới kia, vì mong cầu lợi dưỡng và cung kính, mà tự khen công đức của mình, liền nghĩ: Như Lai đã nhìn thấy biết ta từ xa, do đó mà không tự khen nữa.

Kinh nói: Nầy Diệu Sinh! Các loài hữu tình có đời sống mầu nhiệm ấy, sẽ phát sinh và sẽ được vô lượng phước đức. Chính phần nầy, có nghĩa gì? Đây ý nói làm cho phước đức ấy sẽ phát sinh, và chính phước đức đó sẽ được liên tục huân tập, phát triển-thêm mãi-không dứt.

Nói có ngã chấp v.v.. là ý nói có tánh tùy miên, chứ chẳng phải là chấp hiện hành.

Kinh nói: Thế nên Như Lai có ý nói kín đáo, pháp môn như chiếc

bè. Các người có trí tuệ, đối với pháp còn phải bỏ, huống là phi pháp.

Trong đó ý kín là gì?

Tụng nói:

Không trụ vào pháp: Chứng,

Ấy tức là tùy thuận,

Cũng như bỏ chiếc bè,

Mật ý đó! Nên biết.

Nghĩa là, đối với các giáo pháp kinh điển, không có quả vị được chứng, khi đã chứng thì phải lìa bỏ pháp môn, như đã đến bờ thì phải bỏ lại chiếc bè kia. Chứng càng cao, chính là tuỳ thuận, cần phải nắm giữ, giống như chưa đến bờ thì phải nương nhờ chiếc bè, nên nói là ý kín đáo. Cũng một chiếc bè đó, mà lúc nương-lúc bỏ, nên gọi đó là kín đáo. Còn đối với các pháp không hợp lý, không đúng pháp chứng thì phải bỏ. Sau đó, là diệt trừ các điều nghi.

Vì sao như ở trên, kinh văn đã nói: Không nên lấy tướng đẹp để nhìn thấy Như Lai, vì Như Lai từ Vô Vi mà hiện bày tánh chất đó. Nếu như thế tại sao lại nói: Thích-ca Mâu-ni Như Lai đã chứng Chánh đẳng Bồ-đề Vô Thượng và có cả việc tuyên dương giảng nói giáo pháp. Nếu cứ theo lý trên vừa nói, thì Như Lai đâu đã chứng Chánh Giác, cũng không có nói pháp. Đáp nghi này, nên có lời tụng nói:

Hóa thể chẳng Chân Phật,

Cũng không người nói pháp.

Có ba loại Phật:

  1. Là Phật pháp thân
  2. Là Phật thọ dụng thân (Báo thân Phật)
  3. Là Phật hoá thân (ứng Phật)

Nói về Phật Thích-ca Mâu-ni, đó là Hóa thân, thì đúng là không có chứng Chánh giác, cũng không có nói pháp độ sinh. Văn kinh lại nói: Vì sao? Vì Phật có nói pháp v.v.. Là vì muốn ngăn trừ sự bác bỏ hết thảy các việc thuyết pháp. Cho nên nói Hóa thể chẳng phải là chân Phật, cũng chẳng có nói pháp. Nhưng chẳng phải là không tất cả (tổng). Lời tụng nói:

Thuyết pháp chẳng hai chấp,

Điều được nói, lìa lời.

Hai chấp đó là pháp tánh và phi pháp tánh. Đây là ý nói chẳng có tai có thể nghe, chẳng phải lời có thể nói. Thế nên cần biết. Phi pháp, chẳng phải là phi pháp. Đấy là căn cứ vào đạo lý Chân như mà nói. “Đó chẳng phải là pháp”, vì pháp đó thuộc tánh Vô Vi, “cũng chẳng phải phi pháp”, là vì nó không có tự tánh, nên thể là có vậy. Tại sao chỉ nói đến pháp đã nói, mà không nói đến người chứng quả? Đáp: Chỉ nói các pháp có thể chứng, thì nghĩa sáng ra, chứ chẳng phải là không biết được điều đã nói. Kinh nói: Các Thánh giả đều từ chỗ vô vi mà hiển hiện; nói như vậy là để làm sáng tỏ cái nguyên nhân của Pháp.

Vì các bậc Thánh nhân đều do pháp thanh tịnh Chân như mà được hiện bày, nên nói do vô vi hiện ra, rồi trở lại nói đó là pháp Vô Vi.

Phàm là có những sự việc không thể nói ra được, thì làm sao có thể chấp lấy; do tự tánh của nó không phải chỗ hoạt động của lời nói. Điều đó chỉ rõ, không phải là tánh của ngôn thuyết. Tại sao trong đấy, lại không có những tách biệt rõ ràng, mà chỉ chung là Thánh nhân chứ không chỉ nói riêng Phật? Đáp: Đây là chỉ rõ Thánh nhân đều từ Chân như thanh tịnh mà hiển bày, là vì cũng có được một phần nào, trong toàn phần thanh tịnh và chính do nó tự ứng hiện ra, nên không có lỗi gì. Còn nói phước đức kia có sai khác nhau, là muốn trình bày điều gì? Đáp: Pháp tuy thật mà không thể chấp lấy tánh và chẳng thể nói, nhưng nó có lợi ích. Lời tụng nói:

Tự thọ vì người nói,

Không tích phước vô ích!

Vì sao kinh nói: Thế Tôn nói này, tức chẳng phải là phước đức thế nên Như Lai mới nói là phước đức, phước đức tích tụ? Tụng nói: Phước không giữ Bồ-đề Hai thứ, giữ được cả.

Nói phước đối với Bồ-đề, không thể giữ gìn gánh vác được. Hai cái đó, đối với Bồ-đề là có thể giữ được. Ý của lời tụng gọi hai thứ đó là gì? Hai thứ đó là: Tự mình thọ trì và vì người khác giảng nói. Kinh nói: Chính tự mình thọ trì và nói cho kẻ khác nghe hiểu. Chưa biết lời nói đó, nêu ra ý nghĩa gì, vì chính do tiếng tích tụ ấy.

(Lời chú: Tiếng Phạm gọi là Tắc-kiến-đà, chữ nầy có rất nhiều nghĩa, gồm chứa nhóm-đống-gánh vác-chia ra nhiều phần. Nếu y theo, thì Trung Quốc dịch chữ Tụ, chỉ có nghĩa là chứa nhóm-khối mà thôi, không có nghĩa nào khác. Ở đây căn cứ vào hai cái này: Là vì người xưa chưa biết rõ tiếng Phạm nên dịch là tiến sâu vào, thành nơi xa xôi. Lại cần biết Tụ có nghĩa là chứa nhóm hay gánh vác, lúc đó rất khó hiểu.) Chữ Tụ có hai nghĩa:

  1. Là chứa nhóm
  2. Là gánh vác, đảm trách.

Cũng như lấy vai mà gánh vật nặng. Do lý đó, ở đây gọi gánh vác là Tụ (nhóm). Chứa nhóm phước đức nên gọi là khối phước đức. Bởi vì không thể gánh vác đạo Bồ-đề, nên nói là không phải khối (Tụ). Tức chẳng phải là nghĩa gánh vác mà là nghĩa chứa nhóm.

Hai việc này, có thể làm nhân cho quả Bồ-đề, thì phước đức mới rất nhiều được.

Hỏi: Vì sao nói hai việc này, có thể gìn giữ, gánh vác quả Bồ-đề? Để trình bày nghĩa này, nên kinh nói: Vì sao Diệu Sinh! Vì chư Phật, Như Lai, Vô thượng Bồ-đề, đều từ Kinh này mà ra v.v.. Vì sao với Bồ-đề thì nói là xuất (ra), mà với chư Phật, thì nói là sinh? Lời tụng nói:

Được cái nhân tự tánh

Khác đấy, gọi là sinh.

Nói Bồ-đề, tức là pháp nhân, đó là tánh Vô Vi, cho nên gọi là tự tánh. Vì thế hai việc này, được làm nhân cho quả Bồ-đề, chứ không phải là sinh nhân. Nếu còn mong mỏi những gì khác hơn Hóa thân thọ dụng, thì đó là sinh nhân. Do đích thân có thể gánh vác, giữ gìn đạo Bồ-đề, nên phát sinh ra phước đức rất nhiều.

Vì muốn nói rõ nghĩa đó, nên kinh nói: “Vì sao? Vì sao phải là điều này, mới lập nên nhân?” Tụng nói:

Chỉ là Phật pháp đó,

Mới được phước tối thắng.

Nói: “Như Lai nói là chẳng phải Phật pháp”. Ở đây ý nói, pháp giác ngộ chỉ có Phật mới chứng được, vì tánh bất cộng, nên gọi là tối thắng (tột bậc). Đó chính là tính nhân của phước đức tối thắng, cho nên có được phước đức rất nhiều. Ý chỉ rõ đây là cái nhân gần gũi, có thể tạo nên số phước đức cao cả. Đoạn kinh trên có nói: Thánh nhân đều không phải là sự biểu hiện, không phải tạo nên do nghiệp, vì quả vị chứng được của các thánh nhân, đều không thể chấp, không thể nói. Những hàng Thánh nhân Dự Lưu đều luôn chấp chặt cái quả vị của mình. Như thế, thì làm sao việc đó không biến thành tánh chấp chặc được! Đối với sự chấp trước đó, mà nói ra, thì đó chẳng phải là tánh không thể nói. Nhưng vì để xua tan điều nghi này, nên phải nói ở đoạn văn sau. Tức là làm sáng tỏ, tánh không chấp trước vào quả vị mình chứng, để khéo thành tựu lý.

Tụng nói:

Không chấp quả vị mình,

Chẳng thể chấp và nói.

Vì nó do pháp Vô Vi mà hiển bày tánh chất, cho nên đối với sáu cảnh giới, không có một chút pháp nào mà có thể đạt được. Nhưng kẻ đã không được dự vào quả vị, gọi là Dự lưu, cho đến bậc A-la-hán, cũng không có một pháp lý nào, được đồng với cái pháp thể Vô Vi này. Không thể chấp là bậc Thánh nhân này; đối với quả vị của mình lại không thể chấp, cũng không thể nói.

Nếu bậc Thánh nhân nào nghĩ: “Ta đã được chứng quả”, tức là người ấy còn chấp ngã v.v.. Ý nói, đây là còn các hoặc-tùy miên, chứ không phải hiện hành. Do chưa chứng quả, nên khi quán tưởng, thì còn chấp ngã và cho là ta đã chứng. Diệu Sinh tự cho mình được quả A-lahán Ý đó là gì? Là làm cho một phần hữu tình biết, mình đã được chứng quả. Rồi lại tự bảo là ta đã trụ được vào quả vị Vô tránh.

Là muốn chỉ rõ chính mình, cùng với phước đức đi đôi ứng hợp với nhau; là muốn cho người khác sinh lòng cung kính và tin tưởng. Với ý hướng nào mà bảo: Trưởng lão Diệu Sinh không trụ vào đây, mà nói là ta đã trụ được Vô tránh, được an trụ Vô tránh? Tụng nói:

Giải thoát khỏi hai chướng,

Nói Diệu Sinh Vô tránh.

Hai thứ chướng đó là:

  1. Phiền não chướng.
  2. Định chướng.

Ở đây đã thoát khỏi, không còn trụ vào hai chướng ấy nữa, đó là lời nhắc lại. Hai lần nói Vô Tránh, tức là không có sự tranh dành.

Nhân đây có điều nghi: Thuở xưa, khi Thế Tôn ở chỗ Phật Nhiên Đăng, có pháp nào có thể chấp lấy chăng? Thế Tôn cũng vì người khác mà nói các pháp yếu? Vậy thì tại sao lại nói là đã được chứng mà không chấp, không nói? Để trả lời thắc mắc đó, nên mới nói: Thật ra không có pháp nào mà Như Lai chấp lấy cả. Đây có ý gì? Tụng nói:

Ở chỗ Phật Nhiên Đăng,

Nói không pháp thủ chứng.

Đây là nói đức Thế Tôn khi ở chỗ Phật Nhiên Đăng, cũng chẳng hề có lời nào nói về chứng pháp cả. Tụng nói:

Do đấy thành chứng pháp,

Chẳng có chỗ chấp-nói.

Nếu nói các Thánh nhân đều do pháp Vô Vi hiện bày ra, thì pháp đó chẳng phải là chỗ chấp, cũng chẳng phải là chỗ nói. Tại sao các Bồtát lại chấp là có trang nghiêm cõi nước Phật? Vả lại thân thọ dụng như vậy, làm sao lại tự cho mình là Pháp Vương, hay chúng sinh đối với mình cho là Pháp Vương? Vì để dẹp bỏ nghi này nên mới có ý trong văn sau đây. Tụng nói:

Trí lưu tánh Duy thức,

Cõi nước chẳng chỗ chấp.

Do không thật có cõi Phật để mình trang nghiêm và chấp lấy, trừ trường hơp từ Tịnh Trí của chư Phật soi chiếu hiện ra trong thức. Đây tức là chẳng thể có chỗ để chấp lấy. Nếu bảo là thật có hình tướng vật chất, có thể chấp lấy được tánh và cho, ta sẽ thành tựu được cõi nước trang nghiêm, thì đó là nói dối. Như Lai nói, đó chẳng phải là trang nghiêm. Do đấy mà nói là cõi nước trang nghiêm hơn cả. Điều nầy có nghĩa gì?

Tụng nói:

Không hình tướng nên hơn,

Chẳng nghiêm thuận trang nghiêm.

Nói trang nghiêm, có hai nghĩa:

  1. Là hình tướng.
  2. Là thắng tướng.

“Tối thắng này” là đệ nhất nghĩa. Đây là do không có hình chất; cho nên trang nghiêm cõi Phật, chẳng phải là trang nghiêm. Vì đó chẳng phải là trang nghiêm chân thật, nên nói đó là tối thắng. Sự tập họp các pháp thì thắng đó cũng gọi là tối thắng. Nếu chấp có cõi Phật, có hình tướng đẹp đẽ, trang nghiêm, và cho là ta sẽ thành tựu nó… tức là đối với cảnh giới của sắc v.v.. tâm đã vướng mắc; để ngăn ngừa cái thấy đó, nên mới có từ ngữ “chẳng trụ”. Hỏi: Vì sao Báo thân thọ dụng Phật lại tự cho mình là Pháp vương, người cũng bảo thế?

Để giải đáp câu hỏi khó này, nên lấy thân thọ dụng mà dụ đồng với núi Diệu Cao. Lời văn đó, muốn nói rõ nghĩa gì?

Tụng nói:

Ví như núi Diệu Cao,

Không chấp thân thọ dụng.

Như núi chúa Diệu Cao, được coi là to lớn, đẹp nhất trong các núi, nên gọi là Diệu Cao, nhưng chẳng tự chấp cho mình là núi Chúa, vì núi không có tính phân biệt. Báo thân thọ dụng Phật cũng như thế, vì đầy đủ tánh chất của Pháp Vương, do có được tính chất tôn quí hơn hết, nên gọi là Đại thắng; nhưng không tự chấp lấy tánh Pháp Vương của mình, không có phân biệt ta là Pháp Vương.

Như thế nào mới được gọi là không phân biệt? Để chỉ rõ ý nghĩ đó, nên văn kinh có nói: Như Lai nói là chẳng phải thân, do đó chẳng phải có, mới nói là có thân. Điều nầy có ý gì? Tụng nói:

Chẳng phải tánh hữu lậu,

Cũng không do nhân tạo.

Nhưng Báo thân thọ dụng, chẳng phải là tánh hữu lậu, do đó chẳng phải là có thân, mới nói là có thân. Nó do tự thể trong sáng tinh khiết, thuần tịnh, mà có cũng không phải là do nhân tạo ra, thân nầy không phải là nhờ vào các nhân duyên khác Sinh ra. Tại sao trước đây, khi hiển bày tánh chất phước đức, đã nói đến thí dụ đó. Nay sao lại còn nói?

Tụng nói:

Hiển bày nhiều sai khác,

Và dễ thành thù thắng,

Phước trước sau khác nhau,

Lại cần thêm thí dụ.

Trước đã ví dụ ba ngàn thế giới là để chỉ rõ phước đức rất nhiều. Nay nói vô số ba ngàn, là để chỉ số đó càng rộng lớn. Vì sao trước đây chẳng nói thí dụ này?

Vì kẻ thọ nhận sự giáo hóa, nghe pháp ưa thích có khác nhau, nên có ý nói trước ít, sau nhiều dần. Phước trước có nhiều sai khác, nên không nói đến nhân tố thành lập. Vì phước đức đối với đạo Bồ-đề, không có ý sử dụng để gánh vác giữ gìn. Nay muốn nói rõ nhân tướng mà nó có thể lập nên, do vậy phải lấy ví dụ riêng để tùy việc mà nói.

Pages: 1 2 3
Did you find apk for android? You can find new Free Android Games and apps.