LUẬN TAM PHÁP ĐỘ
Tác giả: Tôn giả Sơn Hiền
Hán dịch: Tam tạng Pháp sư Cù-đàm-tăng-già-đề-bà nước Kế Tân dịch vào đời Đông Tấn
Việt dịch: Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh

 

QUYỂN THƯỢNG

Phẩm thứ nhất: ĐỨC

Biết sinh: Khổ Vô lượng,
Khéo tĩnh mới an lạc,
Tâm bi với chúng sinh,
Luân chuyển trong nhiều kiếp.
Xả thân rất khéo diệu,
Nói pháp cho hết thảy,
Trí diệt khắp mọi nẻo,
Cúi lạy Đấng Giác ngộ!
Mở ba pháp môn này,
Chỗ về mọi công đức,
Chúng sinh được an vui,
Lìa xa mọi khổ não.
Kính lạy đấng Thiện Thệ,
Pháp và Chúng Vô thượng,
Nay nói pháp chân đế,
Từng nghĩa của ba pháp.

Lời nêu: Nay nói ba pháp môn.

Hỏi: Tôn giả nói ba pháp môn, ba pháp môn ấy có nghĩa gì?

Đáp: Kinh này là nguyên nhân của pháp nói ở đây. Suy nghĩ liên tục về ba pháp mà tuyển chọn ra. Ba pháp này là giả tưởng.

Hỏi: Tại sao gọi là chọn ba pháp?

Đáp: Kinh Phật nương vào Vô lượng tưởng, chúng sinh bị cõi đời ác làm hư hỏng. Mạng sống do ăn mà sống. Muốn tìm ý nghĩa chân thật cho đời sống, nên phải mở bày tư tưởng cho họ, và để họ Thọ trì, nên lựa ra ba pháp. Hết thảy cõi đời này, đều nương vào giả tưởng và chân tưởng.

Do mở tư tưởng, cho nên lựa ba pháp ấy.

Hỏi: Tôi muốn nghe ba pháp này?

Đáp: Điều ác nương vào đức; sự tỉnh biết chính là pháp môn cao đẹp.

Hỏi: Nếu biết ác nương vào đức, tức là đã biết được pháp môn đó cao đẹp. Ba pháp này, nằm trong chín phẩm kinh. Mỗi phẩm có ba môn chân độ, có thể nói ba phẩm, chỉ vì nói mà có lỗi.Tại sao? Vì cái thiện cao đẹp như trước nói, đã nói đến nó rồi, nhưng sau lại nói là điều ác nương vào đức, nên tỉnh biết?

Đáp: Đã tham thích về một hướng thì không nên nói. Hết thảy thế gian này, đều hướng về đạo cao thượng, cho đến loài giun, dế cũng biết hướng về chỗ an vui. Tại sao? Do vì ăn nên có mong cầu. Điều thiện cao đẹp là sự an lạc, đáng yêu mến và tuyệt diệu. Nghĩa điều thiện cao đẹp là vậy. Đời sống trần thế, ai nấy đều tham vui, đều hướng đến cái vui, nhưng họ đi ngược lại nguyên nhân của cái vui. Vui là đại Niết-bàn, là không bệnh, là vui nhiều. Nhưng mọi người một mực đi ngược lại nguyên nhân của cái vui. Khổ đã có thì hướng đến cái vui, cần gì phải nói. Như kẻ đi đường đến nơi nào, nếu đã rõ biết rồi thì đâu cần chỉ đường nữa. Đâu cũng vậy, cho nên không có lỗi.

Hỏi: Thế nào là ác nương vào đức mà tỉnh biết thì liền được điều thiện cao đẹp? Nhiều lần thấy được vàng là giàu, thấy thuốc là hết bệnh chăng? Cho nên không thể tỉnh biết ác nương vào đức thì liền có điều thiện cao đẹp.

Đáp: Tuy có lời nói như vậy, nhưng nghĩa không hẳn thế. Phải giữ lấy thí dụ về cây đèn: Thắp đèn thì bóng tối lui ngay. Nhưng không phải thắp đèn, rồi sau đó bóng tối mới tan. Như vậy, trí phát sinh thì liền có trí giác tốt lành cao đẹp. Đó là một nghĩa.

Hỏi: Gọi là đức thì gồm những gì? Vì chúng sinh thường bị sắc-vịhương đè bẹp hơn là họ tóm thâu nó?

Đáp: Ta không muốn nghĩ đến những chuyện tạo tác. Đức là phước không có gốc ác. Đức không có gốc ác là ba ý tưởng về đức. Pháp tịnh trắng và pháp quả; tôi cho là ý tưởng về đức, mọi thứ đều gồm thâu trong ba thứ này. Nay lần lượt sẽ chỉ bày.

Hỏi: Đã nói gốc của phước là không có điều ác, những gì là phước?

Đáp: Phước là thí, giới, tu tập điều lành cao đẹp, cũng là xua mạnh những kẻ ác đi. Đó là ba thứ tu, thí, giới, như đã nói.

Hỏi: Đã nói tu, thí, giới là phước. Vậy những gì là thí?

Đáp: Là thâu gồm được người khác, bằng cách ban cho của cải với suy nghĩ, nguyện đầy đủ và không bám víu. Đó là ba thứ thí.

Hỏi: Điều ấy ra sao?

Đáp: Thí là gồm pháp, Vô úy và của tiền, là thí pháp, thí Vô úy, thí của tiền. Pháp thí là nói kinh để ra khỏi thế gian. Vô úy thí trước hết là tám chánh đạo, ba quy y, như Đức Thế Tôn nói: Quy y Phật, là vì chúng sinh Vô lượng mà bố thí Vô úy, không kết thù gây ác, ai nấy đều làm như vậy.

Hỏi: Như kẻ Thọ tam quy, cũng sát sinh thì sao? Thế nào là hàng đầu Vô úy thí?

Đáp: Không nói hết thảy chúng sinh, chỉ nói tà kiến là ngu si. Sát sinh, ăn trộm của người ta là ác. Những ai theo tam quy thì không được làm những chuyện đó, vì họ đã có chánh kiến; nếu không có chánh kiến, thì không phải là tam quy y. Thế nên, hàng đầu là phải bố thí Vô úy cho Vô lượng chúng sinh. Không bỏn sẻn việc bố thí tiền của, nghĩa là lo cho ăn uống là trước, vì muốn gồm thâu kẻ khác về với đạo, nên bố thí. Cúng dường thì hương hoa là trước hết, đó là vì mình, hoặc vì người. Chính điều ấy làm cho mình có đầy đủ đức, cho nên đạt quả lớn. Đó là thí thanh tịnh, nên phân biệt rộng như điều đã nói.

Như cây nhờ gốc sống,
Lúc nào cũng đứng vững,
Có khi nhờ gốc cành,
Chuyện đời thường như vậy.
Phương tiện thế mới thành,
Bố thí được quả lớn,
Từ nhân duyên trong sạch,
Công đức cũng gồm đủ.

Hỏi: Thế nào là giới?

Đáp: Giữ thân miệng, không gây hại cho người khác. Giới làm lợi cho người, có ba tướng, từ thân miệng phát sinh.

Hỏi: Việc đó là sao?

Đáp: Gồm thâu kẻ khác và không hại đến họ. Đem lợi ích gồm thâu kẻ khác, là khi họ đói khổ, thiếu thốn, ta yêu mạng sống của họ mà thương cho, không làm tổn hại. Không ăn cắp, không phá hoại vợ người, tất cả đều như vậy, đó là gồm thâu kẻ khác. Từ bỏ nói hai lưỡi, lời ác, nói dối, nói thêu dệt. Đó là không hại người. Lại nữa, bảy chi không bức bách người khác. Đó là không làm hại người khác. Bao kẻ bị khổ vây ngặt, không nơi nương tựa, mà mình cứu giúp, là gồm thâu họ, giữ và làm hai chuyện ấy. Nếu phước phát sinh, đó là làm tăng ích lợi. Tự hứa: Từ nay ta bỏ sát sinh, phát tâm làm ích lợi thêm lên. Như mỗi ngày, ban cho đồ đạc là đem cái ích đến cho đời sống của họ. Thọ giới, tâm phát sinh điều lành, thì hãy vâng giữ mãi. Hạt diệt thì mầm sinh, sẽ có ích lợi. Không bỏ điều lành, cứ làm mãi, cho đến trong giấc ngủ cũng không bỏ chuyện phước đức, ích lợi. Làm mọi chuyện hữu ích như vậy, gọi là giới.

Hỏi: Thế nào là tu?

Đáp: Là tu thiền Vô lượng, Vô sắc. Ở đây là tu hạnh lành, như dưỡng nuôi bông, mè, tập là luyện cho quen, như quan gần vua. Như quen luyện tập gần vua, ắt có kết quả. Như vậy, ai tập rèn tu hành thì được quả tịnh trắng. Nói tu thiền, là nói bốn nghĩa về niệm.

Hỏi: Là sao?

Đáp: Thiền là ly Dục, quán xét việc khổ vui. Ban đầu của bốn thiền là lìa ác, lìa pháp bất thiện. Duyên vào điều thiện, cột tâm trụ vào đó gọi là ly Dục. Thứ hai là ly quán. Quán là cái rất nhỏ của tỉnh biết, như tiếng vang của cái linh yếu dần, ở đó không có gì gọi là ly quán, do trước đã lìa Dục rồi. Thứ ba là ly Hỷ. Hỷ là tâm vui trào như sóng biển, trong ấy không còn gì Dục quán, nên gọi là ly Hỷ. Thứ tư là lìa khổ vui. Vui là thân- tâm không bị vây ngặt, còn khổ là bị vây ngặt, ở đấy không có gì, kể cả Dục, quán, Hỷ; nên gọi là lìa khổ vui.

Hỏi: Vô lượng là sao?

Đáp: Vô lượng là gồm: Từ Bi Hỷ Hộ (xả), là bốn giả tưởng làm Vô lượng. Vô lượng chúng sinh duyên vào đó, nên gọi là Vô lượng. Công đức ấy không thể kể, nên cũng là Vô lượng. Từ là hoạt động của tâm thương xót đối với mọi chúng sinh, làm cho hết thảy chúng sinh đều thấm nhuần trước ý nghĩ của mình, đó là Từ. Bi là cứu vớt mọi khổ não của chúng sinh ngay bây giờ, khiến họ lìa khỏi ý tưởng buồn rầu, lo lắng, gọi đó là Bi. Hỷ là gắn liền các chúng sinh vào những niềm vui, đó là Hỷ. Hộ (xả) là không tìm kiếm những lỗi lầm của chúng sinh, lúc nào cũng dũng mãnh thương xót họ. Nếu họ làm ác, thì không lấy đó làm vui, mà luôn xem xét để thấy đó là nghiệp của họ. Tha thứ lỗi lầm như vậy, gọi là Hộ (xả).

Hỏi: Đã nói Vô lượng. Thế nào là Vô sắc?

Đáp: Vô sắc là Không Thức, là Vô sở hữu, là Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Xứ là nương tựa vào bốn thứ. Không là trừ sắc kiến, sắc lỗi lầm, đó là ly Dục. Một lòng duyên lấy không, cột ý tưởng mình vào không, gọi là Không xứ. Không phải dựa vào không, thì chỉ có Thức, duyên vào Thức nên liền có Thức xứ, đó cũng là nơi dựa. Không dựa mới là thắng. Nếu không sở hữu, là Vô sở hữu xứ. Nghĩ thấy lỗi lầm mà diệt nó thì hết lo sợ. Nhất tâm là Phi tưởng phi phi tưởng xứ, là Vô sắc đạo.

Đó gọi là hết thảy phước.

Hỏi: Căn là gì?

Đáp: Căn là không ttham, không sân, không si. Đó là ba tướng của căn.

Hỏi: Nó là gốc của cái gì?

Đáp: Không phải là gốc của đức nói ở trước, mà là gốc của hết thảy pháp lành ở các cõi. Tùy theo nghĩa nào đó vượt lên, thì những cái khác cùng đi theo. Như không ttham thì bố thí tăng. Không giận thì giới tăng theo. Không si thì tu hành tăng thêm.

Lại nữa, không ttham thì tăng tài thí, không giận dữ thì tăng Vô úy thí, không ngu si thì tăng pháp thí, nghĩa là cả ba thứ bố thí đều tăng. Lại nữa, không ttham thì tăng việc gồm thâu người về với ta. Không giận dữ thì tăng việc không hại người. Không ngu si thì tăng việc làm lợi ích cho người. Nghĩa là ba thứ giới đều tăng. Lại nữa, không ttham thì thiền định tăng, không giận dữ thì Vô lượng tăng, không ngu si thì Vô sắc tăng. Đó là ba thứ tu đều tăng. Lại nữa, không ttham thì không tăng làm ác, không giận dữ thì nhẫn nhục tăng, không ngu si thì tăng học rộng. Như vậy căn, lực là gốc của mọi hạnh lành. Không ttham thì đối với mọi của cải, không tham lợi, không tham vướng mắc. Ý không nổi giận, thì cơn giận bị dập tắt, không ngu si, thì diệt ngu si, cho nên nói là gốc.

Hỏi: Thế nào là không ác?

Đáp: Không ác là nhẫn nhục, là học rộng. Không ác, không có điều ác là những giả tưởng quen thuộc trong đời thường. Lại nữa, ác là không ưa điều không ác, ghét càng tăng thêm. Không ác mới là lời diệu thiện. Nhẫn nhục là khó làm. Kẻ hèn, người sang phải dùng sức mình chế ngự để không nổi giận mà còn khoan thứ, nên nhẫn nhục là khó làm. Kìm chế là đòi hỏi một sức mạnh, cố gắng chịu đựng. Người có tâm hồn cao thượng thì biết kìm chế, cho nên dù có giận, vẫn không trả thù. Người ác nổi giận, thì phải dùng sức mạnh lớn mới chế ngự được, cho nên hèn kém thì sức tha thứ nhỏ. Cả thảy đều là nhẫn nhục. Nhưng họ có thể báo thù. Nếu không báo thù là tha thứ. Lỗi lầm và tạo ra lỗi lầm của chúng sinh là như vậy. Đó là nói về nghĩa chịu đựng. Còn như khổ, là làm việc vất vả, chịu nóng lạnh, đói khát, nắng gió, bị bao thứ khổ vây ngặt thì phải biết tự chế ngự khổ ấy. Có hai việc khởi phiền não là đối với thân không ngăn giận dữ, giận dữ đối với Vô tình. Hai thứ nầy vây khổ bức bách thân, phải biết chế ngự, chịu đựng.

Hỏi: Đã nói nhẫn nhục; thế nào là học rộng?

Đáp: Học rộng là phải trừ dâm-nộ-si, học rộng về kinh- luật- luận. Đó là học rộng, ngoài ra thì không phải học rộng. Kinh chỉ dạy những điều chắc chắn, để ta biết thế nào là nhơ, sạch, cho ta hiểu rõ Tứ Đế, lìa khỏi Vô lượng điều ác. Luận thì chỉ cho biết cách phân biệt rõ về kinh điển. Luật là nói đến những oai nghi lễ tiết, khiến ta thanh tịnh. Đó là ba thứ học rộng, trong ấy, luật gọi là chế phục, luận gọi là chế ngự giận dữ. Luận nói về tính chất của nghiệp, nhờ đó mới biết chế ngự nghiệp. Do giận dữ mà phạm giới. Do phạm giới mà bị đọa địa ngục, nên kinh gọi là phải chế ngự. Kinh còn nói đến mười hai nhân duyên.

Hỏi: Đã nói học rộng, còn không ác là sao?

Đáp: Không ác là người có tri Thức đúng đắn, biết chế ngự ý mình. Do chân tri Thức đúng đắn, chế ngự đúng đắn làm cho ý được chân chánh, nên không làm ác. Có tri Thức chân thật là có lòng thương, là giỏi giang, có khả năng thầy trò cùng học. Nếu có lòng thương, giỏi giang, có khả năng thì được gọi là chân tri Thức. Ba thứ ấy, cả thầy lẫn trò cùng nhau học.

Hỏi: Có phải là: Thầy thì có lòng thương, đệ tử là giỏi giang, đồng học thì có khả năng chăng?

Đáp: Không phải. Tại sao? Vì không khác nhau. Lòng thương, giỏi giang và khả năng là tướng của chân tri Thức. Nên suy nghĩ những điều nói, thầy và đệ tử cùng học như vậy. Trong đó, tướng lòng thương là hơn hết, nhưng cũng phải có đủ hai thứ kia. Nếu chỉ có lòng thương không, thì không thành giỏi biết sự việc, cũng không có khả năng nói, như cha già không có đức. Hoặc có khả năng, nhưng lại không có sự giỏi giang, hoặc ông ta có lòng thương nhưng không giỏi giang.

Trong khi đó, nhóm Lục sư thì chỉ dạy điều ác. Do vậy, phải thành tựu đầy đủ ba tướng đó, mới là chân tri Thức. Hoặc có khi thầy lỗi lầm làm hư hỏng, hoặc đệ tử lầm lỗi, hay đồng học lỗi lầm. Thế nên phải đầy đủ ba tướng đó cho trọn vẹn. Người chân tri Thức là nên tìm cầu.

Hỏi: Chân tri Thức đã vậy, còn chân chế ngự ý là sao?

Đáp: Chân chế ngự ý là ngưng và mạnh dạn hộ trì ý tưởng, cũng như mạnh mẽ ngưng dứt ý nghĩ. Mạnh dạn hộ trì ý tưởng là một mực dũng mãnh, trong đó ngưng là ngưng tâm ý buông lung. Phải xem xét về tướng của nó. Mạnh dạn dựng dậy và làm cao lên những ý tưởng nhu nhược. Ở đấy phải xem xét về tướng của nó. Hộ trì là làm mọi việc, phải lấy ý bình đẳng mà làm. Như người giỏi đánh xe, nếu xe chạy chậm, thì thúc cho nhanh; nếu xe chạy mau, thì kìm bớt lại. Giữ mực ngang bằng là hộ trì. Mọi việc nói trên cũng vậy. Nơi bốn thứ Vô lượng, biết hộ trì ý là không thể! Đem lòng thương che chở chúng sinh, lấy ý bình đẳng mà che chở, là hộ trì.

Hỏi: Thế nào là biết? Ý nổi lên thì phải chế ngự và hộ trì nó ra sao?

Đáp: Không phải giỏi chạy theo tham muốn, mà gọi là chân chế ngự ý đâu. Phải tự mình làm chủ điều mình mong muốn, biết nghĩa tùy thời, tùy phương tiện. Nếu còn bốc cao, hạ xuống thì không phải là chân ngự ý.

Hỏi: Chân chế ngự ý đó, là lý do chân chánh nào?

Đáp: Lý do chân chánh đó là đầy đủ quả phương tiện. Chân là do chánh. Người ấy nếu một mực luyện nói pháp hay tu tập, thì đó là lý do chân chánh, đầy đủ kết quả phương tiện.

Hỏi: Ai làm đầy đủ?

Đáp: Trước đã nói đó là điều lành cao cả.

Hỏi: Đầy đủ gọi là những thứ gì?

Đáp: Đầy đủ là giỏi làm cho các căn phục xuống, đến gần với hành thiền. Đó là chất liệu cần cho hạnh lành, nên gọi là đầy đủ. Như làm đầy đủ hạnh cụ túc, thì đầy đủ có nghĩa là giúp thêm sức. Do vậy mới được ba thứ lành, do chế phục được các căn (giác quan) nên đến gần với hành thiền.

Hỏi: Thế nào là giỏi làm tổn hại (chế ngự giác quan)?

Đáp: Là sống bằng y phấn tảo, khất thực, Vô sự. Làm giảm mọi tụ tập của các thứ gọi là giỏi làm tổn hại. Giỏi làm tổn, nghĩa là giỏi làm cho trong sạch, nhẹ mỏng đi. Thợ chạm làm pho tượng theo hai cách, tượng có chỗ nào nổi lên thì ông đẽo bớt xuống, hay ngược lại. Thợ đục đá, thợ đẽo gỗ cũng đều làm như vậy. Thêm lên là thêm hồ, thêm công; thợ vẽ, họ cũng làm pho tượng theo hai cách. Việc tăng hay tổn là nhằm làm cho pho tượng chịu đựng được gió mưa, chứ sắc dầu tốt đẹp cũng không chịu đựng được mưa gió. Cũng như hai kẻ xuất gia, tại gia, thì kẻ xuất gia là cởi bỏ mọi phiền toái, để lòng ý giải thoát. Bỏ hết mọi thứ tức giỏi làm tổn nên tuyệt diệu. Còn người tại gia, do tăng thêm bà con, vợ con tăng thêm bao chuyện, nên phải làm cho xong. Người tại gia có đủ mọi thứ đẹp đẽ, ngon ngọt, nhưng lại yêu lấy tướng biệt ly, lo buồn, tranh cãi, nên chẳng cần gió mưa làm họ hư hoại, mà ngay nơi ý họ không chịu đựng nổi, đâm ra hư hoại như tượng vẽ luôn bị gió mưa bào mòn hư hoại. Họ không như người xuất gia, giỏi chịu đựng, như Phật nói:

Như chim bỏ vẻ,
Cổ xanh sắc đẹp,
Trọn không gì bằng,
Ngỗng, nhạn cùng bay,
Tại gia cũng vậy,
Không bằng Tỳ-kheo,
Vắng lặng, xa lìa,
Tọa thiền thanh vắng.

Đó là giỏi làm tổn giảm, mà mặc y phấn tảo, khất thực, Vô sự. Đó là ba công đức trong sạch, là mười hai gốc, ngoài ra còn có chín quyến thuộc. Nói rõ cho, Đức Thế Tôn muốn giúp cho Nan- đà hoan Hỷ, nên nói ba điều ấy bằng kệ:

Nan- đà! Ông thấy gì?
Vô sự, y phấn tảo,
Biết rồi, vui càng cao,
Lìa bỏ, không nhiễm Dục.

Ngoài coi ba việc trên là gốc, lại còn phát sinh bốn điều yêu mến, về y phục, ăn uống, ngồi nằm, nơi chốn. Trong đó vì yêu mến y phục tốt, nên nói đến việc giữ y phấn tảo. Do tham mê ăn ngon, nên mới nói đến việc giữ hạnh khất thực. Do tham nơi ngồi tốt, nên nói giữ hạnh Vô sự. Nếu thành tựu ba công đức này thì đó là phương tiện diệt hữu ái, là giỏi làm tổn giảm.

Lại nữa, có hai thứ tà chấp, là chấp những việc mình làm và chấp có ngã. Trong đó vì tham mê y, thực, tọa xứ, nên phát sinh chấp những gì ta làm, ta sống. Vì thế, nên ba công đức trong sạch không còn. Nếu chấm dứt được một thứ, thì cắt bỏ được ngã chấp, từ đó mà có công đức trong sạch.

Hỏi: Y phấn tảo là gì?

Đáp: Y phấn tảo là một trong ba y, y này dùng trải ngồi dưới đất. Y phấn tảo là một trong ba y, bằng vải xấu nhất. Sống với ba y đó sẽ được chín công đức sạch. Nếu vậy thì trái với kinh chăng? Vì theo kinh nói, y phấn tảo là may lại từ những tấm vải lượm được nơi bãi tha ma, nơi các ngõ hẻm, nó hư cũ bị người ta vất bỏ. Còn ba y là: Tăng- già- lê, Uất- đa- la- tăng, An- đà- hội. Đã có được ba y ấy, mà không bằng lòng sống với ba y, lại tham y tốt khác, cứ vội vàng đi tìm, vì vậy mà sinh bao thứ phiền não! Do đó, chỉ nên thích với ba y này, như ở đời, đâu cần tìm cả ngàn người con gái, họ chỉ cần một người đẹp nhất mà họ vừa ý. Thế nên, Phật nói: Giữ ba y, thì đã có sáu thứ, nào là loại may bằng vải thô, được dệt bằng gai, dây, các loại sợi thô v.v…, chỉ cần một loại gai nào đó, cuối cùng vẫn là giữa ba y xấu thô, dù ở giữa chúng hay nơi thanh vắng. Nếu ai trải chỗ ngồi bằng đồ tốt thì đổi, ngồi sang chỗ khác, còn như trước đã lỡ ngồi rồi, nhìn lại mới thấy đồ tốt, thì khỏi phải đổi nơi khác. Làm vậy, để tránh cho ta là lớn, bao kẻ khác sẽ ngồi theo ta. Có đủ ba y phấn tảo là vậy.

Hỏi: Vô sự là sao?

Đáp: Là ngồi bên gốc cây trống trải, là thích ngồi ngay ngắn nơi gốc cây đó, và cảm nhận được sự chánh tọa ấy. Đủ ba việc trên, nên Vô sự. Điều thứ tư, là trừ việc ham thích ngồi mãi nơi một cây nào đó. Điều này đưa đến việc tín thí có thể cất nhà, trang hoàng, làm nơi thuyết pháp, người đến giáo hóa dễ sinh lòng tham thích. Biết việc có thể xảy ra như vậy, nên Thế Tôn nói đến việc này: Không nên sống với tâm trạng bỏ nhà mình, đi ở nhà kẻ khác. Cần phải bỏ lối đó mà sống Vô sự. Đã Vô sự, mà còn sống nơi lầu cao gác lớn, dù do mình làm đều là điều không nên. Nếu Vô sự mà tham ở nhà cao gác lớn, thì khác nào cưỡi ngựa mà còn dắt theo lừa! Do vậy nên phải giữ việc ở bên gốc cây, và cũng không nên buồn, khi ở bên những gốc cây không được tốt, rồi bỏ nơi đó, đi tìm cây to có hoa trái. Thế nên, Đức Thế Tôn nói, phải ở nơi trống trải. Thí chủ nuôi dưỡng thân thầy, là dùng vào việc gì? Thế nên phải học cái vui của thần tiên, ở nơi trống vắng, mình là người không nhà, sẽ không bị cái gì yêu thích thúc ép. Khi sống nơi đồng trống, nên nghĩ như vầy: Ta làm được chuyện khó làm, nếu bỏ chánh tư duy, sẽ nằm ngủ thẳng cho đến mặt trời lên. Đức Thế Tôn dạy người tu nhớ lấy điều ấy. Không nên làm như kẻ bị cắt tai mà còn đeo bông trang điểm. Do vậy, các ông phải Thọ trì chánh tọa (ngồi thẳng…) kết già trên nệm cỏ hay vải, nhìn xem chuyện đời như thật mà tự tạo nghiệp cho mình. Làm vậy là có đủ Vô sự.

Hỏi: Vô sự là vậy, còn khất thực thì sao?

Đáp: Khất thực là ăn một bữa, quá ngọ không ăn, uống. Người xuất gia sống nơi gò mả, có hai thứ ăn, ăn theo chúng Tăng và xin ăn. Ăn theo chúng Tăng là ăn đầy đủ, do tín thí cúng, hoặc để tín thí khỏi vất vả, họ làm phòng nấu ăn ngoài xa. Còn khất thực, thì đi xin Thức ăn từng nhà, được rất ít, nên gọi là khất thực. Ngoài lối sống đó thì đều là tà mạng. Khi ăn theo chúng Tăng, dễ nghĩ như vầy: Ta có khả năng đến nhà thí chủ để ăn. Nghĩ vậy thì nổi lên kiêu mạn. Thế nên Đức Phật dạy là phải đi khất thực, khất thực rồi, cứ mãi lo ăn sẽ bỏ phế việc học, do vậy Đức Thế Tôn dạy chỉ ăn một bữa, như nói:

Người nên giữ ý niệm,
Mỗi khi ăn, biết đủ,
Tức là Thọ dụng ít,
Dễ tiêu hóa, sống lâu.

Nếu ăn một bữa, mà còn tham mê ăn, thì nghĩ như vầy: Đức Thế Tôn chỉ cho phép ăn uống để sống, sao lại tìm cầu ăn uống, bỏ phế sự học, nên Đức Thế Tôn dạy: Các ông bị khổ vì uống, (Thức uống ngon) có thể bỏ uống. Nếu khát thì uống nước lã cũng hết khát. Nên giữ cho chắc, sau giờ ngọ thì không ăn hay uống nước ngon. Do có thiểu Dục và tri túc như vậy, thì mới có niềm vui tràn ngập nơi thân thể. Đức Thế Tôn dạy: Nếu chỉ nghĩ đến ăn thì đó cũng là cao ngạo. Tại sao? Vì thân này, đang sống đây, dù có lo cho nó mập béo ra, rồi cũng quăng vào bãi tha ma mà thôi. Thế nên, các ông phải biết vui sống thanh bần nơi gò mả, để có dịp tốt mà chiêm nghiệm chuyện của thế gian:

Từ hết thảy Thức ăn, mà cuối cùng là thân rệu rã nơi gò mả, với sự phình trướng lên, máu mủ chảy lan ra. Thấy vậy, thì bao nhiêu cao ngạo tan biến hết. Do vậy, nên khất thực là đủ. Đó gọi là giỏi làm tổn giảm.

Hỏi: Thế nào là giỏi điều phục giác quan các căn?

Đáp: Điều phục là không làm hại chúng, mà chỉ hạn chế, làm chủ các giác quan. Đó là ba thứ không làm hại mà là điều phục.

Hỏi: Không làm hại những gì?

Đáp: Về căn thì trước đã nói. Làm hại căn có nghĩa là đối với giác quan không có khả năng làm chủ và điều phục. Ví như ngựa dù không cho ăn uống nhưng không biết phương pháp, cũng không huấn luyện được. Cho ăn uống đầy đủ, và biết cách thì vẫn điều phục nó được. Như vậy làm hại giác quan là không điều phục được. Gồm thâu giác quan lại là có thể điều phục. Nếu làm hại giác quan mà gọi là điều phục, thì đó chỉ là kẻ ly Dục mù lòa. Thế nên chớ có hại giác quan, chỉ cần làm chủ nơi đối tượng được tiếp xúc của chúng, lấy chánh tư duy gồm thâu chúng lại, thế là biết giữ. Như đã từng nói:

Các căn đến cảnh giới,
Nên xa lìa mọi tưởng,
Không gây hại cảnh giới,
Chỉ trừ chỗ ttham đắm.

Hàng phục các căn, là như thấy một cô gái xinh đẹp thì nảy sinh ý tưởng đó là mẹ ta. Đó là ba cách để làm chủ giác quan. Cận hành thiền thì nhẫn gọi là tưởng. Vì gần với tư duy nên gọi là Cận hành thiền.

Hỏi: Ai là Cận hành thiền?

Đáp: Như trước đã nói đó là người có điều lành cao cả.

Hỏi: Như trước đã nói bốn thiền rồi, sao đây còn lại lặp nữa?

Đáp: Trước nói thiền là nhằm chỉ ra cách vượt khỏi sinh tử, mà Thiền là con đường cốt yếu để ra khỏi, do Thiền giúp ta biết quán xét sự thật theo thứ lớp. Như người lần đầu vượt qua quãng đồng rộng vắng vẻ, nhưng lại thấy mọi thứ hoa trái, hồ ao xinh xắn, với bao nhiêu dòng nước trong đang chảy, những vườn hoa trang trí đẹp đẽ; thấy vậy, người ấy liền biết đó không phải là đồng rọng vắng vẻ, mà nó nằm sát bên kinh thành. Như vậy, hành giả ở trong đồng hoang sinh tử, bị dâm-nộ- si làm cho mệt nhọc bậc bội, rồi được chân tri Thức dạy bảo chánh tư duy, khi quán xét về ấm, giới, nhập, biết chúng là khổ, không, Vô thường, Vô ngã, nên có nổi lên Dục lạc thì cũng liền nhẫn được, khiến ý chánh tư duy không bị lay động. Gọi mọi thứ đều như chiêm bao, như bóng trong gương. Quán nghiệm khổ theo cách ấy, là pháp bậc nhất ở đời này, do Đức Thế Tôn nghĩ tới. Đó gọi là Cận hành thiền. Theo thứ lớp mà tỉnh biết sự đời như giấc chiêm bao, nhìn lại chính mình, sau đó ngộ được quán Thánh đế. Phẩm thứ nhất: Đức chân độ đã nói xong.

Hỏi: Thế nào là phương tiện?

Đáp: Phương tiện là trí ngừng được do giới cao. Phương tiện là con đường, dẫn đến nẻo thiện thắng nên gọi là phương tiện. Đó là trí ngừng được ba ấm do giới cao cả.

Hỏi: Phải chăng lặp lại giới?

Đáp: Trước nói nẻo thiện thắng có hai thứ: Một là Thọ sinh, hai là ra khỏi sinh tử. Giới nói trước là về Thọ sinh. Còn đây nói là giới về xuất ly sinh tử, có nghĩa là rèn luyện.

Hỏi: Việc này là sao?

Đáp: Giới là chánh ngữ, chánh mạng, chánh nghiệp. Ba thứ này gọi là giới. Chánh ngữ là từ bỏ nói hai lưỡi, lời ác, nói dối, nói thêu dệt. Chánh nghiệp là lìa bỏ sát-đạo-dâm. Chánh mạng là Tỳ-kheo Tăng hành khất thực, y phục, dược cụ, đó là chánh mạng. Ngoài lối sống đó, đều là tà mạng. Người Ưu- bà- tắc từ bỏ năm nghề là: đao gậy, chất độc, rượu, ăn thịt chúng sinh. Đó là chánh mạng.

Hỏi: Thế nào là ngừng cao?

Đáp: Là Tinh tấn-Niệm-Định. Ngừng cao là sự đầy đủ, với lại nó dập tắt dâm-nộ-si, nên gọi là ngừng chỉ bậc cao. Hướng vào chỗ trụ cao cũng gọi là ngừng cao. Ba thứ Tấn- Niệm- Định; thì Tấn là sức mạnh quan trọng. Do giỏi thực hành nên gọi là tấn. Tấn là có khả năng đi tới điều lành cao cả.

Hỏi: Nó như thế nào?

Đáp: Là tin, là siêng năng không hề buông bỏ. Đó là ba giả danh gọi là Tấn. Tại sao? Do lòng tin làm gia tăng hạnh lành. Nó đứng trước mọi điều lành, là bậc nhất trong mọi pháp; như thường hay nói:

Kẻ sĩ tin, hành,
Được Thánh khen ngợi.
Vui với Vô vi,
Cởi mọi trói buộc.
Đó là ba thứ lòng tin.

Hỏi: Là ba thứ gì?

Đáp: Lòng tin là tịnh- Dục- giải. Trong ba thứ tin: tịnh- Dục- giải, thì Tịnh là hơn hết, vì nó trừ được cặn đục, đó là những điều ác trong con người. Giận dữ, kiêu ngạo, không biết hổ thẹn của con người, là những cặn đục, như dòng suối trong, bị voi- trâu lội, dẫm, nổi bùn đục ngầu, dừng lại thì lắng trong. Như vậy, giận dữ- kiêu ngạo- không biết hổ thẹn của con người là những ý nghĩ loạn đục, không loạn ý nữa thì trong. Dục là yêu thích điều hơn hết, như kẻ đang mắc bệnh ngặt, thì không thích ăn, dù là đồ ngon. Kẻ bị điều ác vây ngặt, cũng không thích nghe pháp, nhưng rồi được thiện tri Thức dẫn dắt, mới thấy vui thích nơi pháp, kẻ ấy liền nghĩ: Pháp này vi diệu biết bao, đó gọi là Dục.

Giải là nắm giữ chắc chắn. Như kẻ bị rắn độc cắn, khi thầy thuốc chữa trị dùng chú đem nọc ra, thì người này chú ý hết sức, liền nghĩ: Thật là chú linh nghiệm nên được khỏi. Do hiểu, nên mới đi tìm thuốc. Như thế người bị rắn độc dâm-nộ-si cắn cũng vậy. Vì thương xót họ, nên Đức Thế Tôn giảng nói pháp. Nếu họ hiểu thì ý không có gì khác, chắc chắn dâm- nộ- si của họ được trừ hết. Còn những gì không trừ được là do không hiểu.

Hỏi: Lòng tin là vậy, còn siêng năng là sao?

Đáp: Siêng năng là khởi dậy sự tu tập, rèn luyện. Khởi, tập chuyên là ba thứ siêng năng. Khởi là dựng dậy điều lành, như khi nhóm lửa cần có những mồi. Tập là làm đi làm lại mãi. Chuyên là duyên vào một đối tượng, không buông lìa, không phân tán ý, như cứu lửa đang cháy đầu mình.

Hỏi: Thế nào là không buông lìa?

Đáp: Là không ngừng, không chán, không lìa ra. Ba điều ấy gọi là không buông lìa. Không ngừng là bất cứ khi nào cũng không tách xa với nó. Người ấy tự nói: Ta siêng năng Vô hạn, không bỏ phế, không nhàm chán. Ta một mực siêng năng bền bĩ, chịu mọi vất vả. Hoặc có kết quả hay không cũng không bao giờ rời buông. Tinh tấn không buông rời như vậy gọi là không buông bỏ. Có ba việc ấy, chắc chắn đạt kết quả, như kẻ đi đường vui thích nơi mình tới.

Hỏi: Đã nói tinh tấn, còn niệm thì sao?

Đáp: Niệm là thân Thọ nhận pháp tâm, trong ngoài đều không quên lãng. Đó là ba thứ niệm bên trong của mình. Cái khác là bên ngoài, hai sự đều đủ. Lại nữa, bên trong là Thọ-Ấm-Giới-Nhập, bên ngoài là Thọ những cái khác, cùng với không Thọ. Lại nữa, ba phiền não trong ngoài đều kết hợp. Bên trong là tham muốn, bên ngoài là giận dữ. Giận là giận kẻ khác, không phải tự giận. Nếu nghĩ như vậy, thì Dục cũng là kẻ khác. Điều ấy không đúng. Tại sao? Bên trong thì nhiễm, bên ngoài thì cái khác làm phát sinh tham muốn, khiến cho bên trong vướng mắc vào. Kinh nói: Ví như nhìn người nữ, thì nội căn hoạt động cùng lúc với sự si mê. Nếu diệt ba phiền não ấy, còn lại là ba niệm. Thân kẻ ấy, ba Thọ nhận với ba tâm pháp, thành mười hai thứ niệm.

Hỏi: Đã nói niệm, còn định thì sao?

Đáp: Là Không, Vô nguyện, Vô tướng. Với ba thứ định này, mọi việc đều là không, nên gọi là Không.

Hỏi: Có nhiều thứ không, không làng xóm, không nhà, như vậy là nói đến cái không nào, trong những thứ không đó?

Đáp: Không là sự hoạt động của ngã và mọi chuyện ngã làm đều không thấy, do vậy nên gọi là không.

Hỏi: Làm thế nào để không thấy hoạt động của ngã và những việc ngã làm, như Đức Thế Tôn nói: Thuở ấy, ta tên là Phạm- chí Tùy- lam. Lại nữa, như đã nói: Này Tỳ-kheo, tay ta nắm lấy hư không.

Đáp: Không phải ngã hoạt động như vậy. Cái ngã làm là giả hiệu. Chỉ trong năm ấm chấp là ngã và hoạt động của ngã. Đức Thế Tôn không hành động như vậy.

Nếu bám chấp vào cảnh giới, cho là của ta, gọi là ngã tạo tác. Điều này, Đức Thế Tôn cũng không có. Như Kinh Thánh Pháp Ấn nói: Không là quán thế gian không. Thế gian đã là không thì mọi cái thành của ngã hay hoạt động của nó cũng đều là không.

Hỏi: Vô nguyện là gì?

Đáp: Là không lập quá khứ, hiện tại, vị lai, là không lập nghĩa, vì hết thảy đều là pháp hữu vi. Như kinh Thuyết Xứ nói: Nếu nghĩ: Ngã và Niết-bàn cùng gồm thâu nhau thì không đúng, vì Niết-bàn không có hai nghĩa. Niết-bàn lìa hết thảy thế gian, một mực không có điều kiện gì cả. Trong đó, không có ý niệm về ngã, lìa khỏi ba đời, không đây đó không thể nói năng. Do không ghi nhận ba đời, nên gọi là Vô nguyện.

Hỏi: Vô tướng là sao?

Đáp: Vô tướng là lìa cả việc làm có tướng hay không tướng. Lìa xa là Vô tướng; lìa xa hết thảy hữu vi, hết thảy mọi sự việc, hết thảy mọi sự tạo tác. Mọi việc làm là do Vô minh, phước hay không phước, đều không động đến, nó chỉ việc duyên lấy Thức, nối nhau phát sinh. Vô minh và hành là tạo tác, là hữu vi, lìa hết những cái đó, gọi là Vô tướng.

Lại nữa, như kinh Thánh Pháp Ấn nói: Vô tướng là không thấy sắc tướng, những gì trong sắc tướng gồm ba nghĩa thời gian đều lìa cả.

Không, Vô nguyện, Vô tướng là định.

Hỏi: Thế nào là trí?

Đáp: Là hoạt động của lãnh vực Kiến, Tu, Vô học. Trí là tỉnh biết, là ba lãnh vực: Lãnh vực Kiến, lãnh vực Tu, lãnh vực Vô học.

Hỏi: Thế nào là kiến?

Đáp: Là thấy cái chưa từng thấy. Nghĩa là rèn luyện căn- lực- giác đạo chi, thật tu ở lãnh vực Thánh. Như dùng nước tro tốt, giặt áo, dù áo sạch không còn dơ nhưng vẫn còn mùi tro. Sau đó phải dùng nhiều thứ hoa hương xông ướp nó. Như vậy lãnh vực kiến là ý thiền thanh tịnh, là Vô lượng các định, để từ đó đoạn trừ mọi kết sử đen tối nhất, đó là Tu. Còn Vô học là dâm-nộ-si bị diệt sạch, không còn sót chút nào. Đó gọi là Vô học.

Hỏi: Trí kiến địa là gì?

Đáp: Kiến địa là pháp quán trí vị tri, là pháp trí-quán trí-trí vị tri. Đó là trí kiến địa ở trong Pháp trí, thì hiện trí là nghĩa. Ví như thầy thuốc, biết bệnh ung nhọt đã mùi, liền lấy dao mổ nó, ông dùng ngón tay làm cho đường máu huyết lưu thông, không tổn thương gì đến mạch máu, rồi mới mổ. Người tu hành cũng như vậy. Khi chánh tư duy quán khổ nơi cõi Dục, cắt đứt hết phiền não gây khổ, phát sinh trí thứ hai, biết cõi Dục là khổ, Vô thường. Ở cõi sắc, Vô sắc cũng như vậy. Lấy trí này cắt đứt phiền não ở cõi sắc, Vô sắc, đó gọi là trí thấy khổ thứ ba. Ở cõi Dục, yêu mến là nhân của khổ. Pháp trí này tức là quán trí, như vậy cõi sắc, Vô sắc là trí vị tri. Đó là kiến tập ba trí. Cái Diệt ở cõi Dục là pháp trí tức là quán trí; cõi sắc, Vô sắc là trí vị tri, đó gọi là kiến tận ba trí. Đây là con đường diệt khổ ở cõi Dục, là pháp trí tức quán trí mà cõi sắc, Vô sắc là trí vị tri. Đó gọi là ba trí kiến đạo, là mười hai trí kiến địa đã nói rộng nên biết.

Hỏi: Thế nào là lãnh vực Tu?

Đáp: Là làm mãi sự hiểu biết tướng, biết hành, biết chủng. Đó là ba lãnh vực Tu.

Hỏi: Tướng biết là gì?

Đáp: Tướng là nổi lên, trụ rồi hoại. Nổi lên là sinh, trụ là thành, hoại là tiêu tan hết.

Hỏi: Nói rộng về chúng sinh, Niết-bàn thì có điều nghi. Niết-bàn, chúng sinh cũng có tướng này. Nếu có thì đó là một lỗi lớn, vì có là Vô thường. Nếu không phải vậy, thì kinh này có lỗi, bởi nó nói khởi, trụ, hoại là tướng hữu vi.

Đáp: Chúng sinh về tướng thì không thể nói hết được; nếu đã khác tức là có; thường như vậy, tức Vô thường. Hai lỗi đó không thể nói, Niếtbàn cũng như vậy, là bởi có phân biệt mới biết tướng nó, nên hoàn toàn là hữu vi.

Hỏi: Nay nói về công đức, tướng như thế nào là công đức?

Đáp: Nay nói về trí, nếu ở trong ba trí, thì công đức không phải là tướng.

Hỏi: Hành là gì?

Đáp: Hành là Vô thường, khổ, không có ngã kiến. Hành là biết hết nghĩa về hành. Tướng này, do là hành, biết nghĩa là hành, là ấm, Vô thường. Do Vô thường nên khổ, nếu đã khổ là không tự tại cho nên chẳng phải ngã. Vô thường là không dừng lại lâu, như bọt nước, khổ là sự bức bách, như tên cắm vào thân thể. Không phải ngã là không tự tại, như mượn chuỗi ngọc đeo chơi thôi. Đó là hành.

Hỏi: Thế nào là chủng?

Đáp: Chủng là lìa, vị ngọt, hoạn nạn. Chủng là vị ngọt, là hoạn nạn, là lìa.

Hỏi: Là sao?

Đáp: Là hữu vi. Trong đó, vị ngọt là diệu. Hoạn nạn là ác. Lìa là đều ngừng lại. Trời, Người tham thích là vị, ba đường khổ là hoạn nạn, ra khỏi tội phước là lìa. Quán như vậy là công đức của chánh kiến, tức được giải thoát, đó là chủng. Đây là trí của lãnh vực Tu.

Hỏi: Thế nào là Trí của lãnh vực Vô học?

Đáp: Là trí thông đạt khéo biện luận; là trí thông suốt, trí hiểu tận cùng, trí biện luận giỏi. Đó là ba Trí của lãnh vực Vô học.

Hỏi: Thế nào là trí thông đạt?

Đáp: Thông đạt là những gì ở đời trước như sinh tử, hữu lậu đã hết, đều có khả năng thông suốt, nên gọi là thông đạt. Biết về đời trước, biết về sinh tử, biết về lậu tận, đó gọi là thông đạt. Có khả năng đạt tới, cũng gọi là thông tỏ, nên biết đó là nghĩa thông suốt. Đối với trí túc mạng thì nhớ biết mọi việc đã làm trong quá khứ; đối với trí sinh tử thì biết được nghiệp quả; đối với trí lậu tận thì sẽ nói sau. Lại nữa, phiền não có ba thứ, thuộc lãnh vực của quá khứ, hiện tại, vị lai. Quá khứ có mười tám kiến chấp. Vị lai có bốn mươi bốn kiến chấp. Hiện tại đấy là thân kiến. Do vậy mà sinh trong hiện tại. Ở trong sự phân biệt quá khứ, vị lai; nếu có trí biết mọi chuyện đời trước thì không chê bai quá khứ. Nếu được trí biết về sinh tử, thì không còn ngu si. Còn nếu được trí biết về lậu tận ở đời vị lai, là không mê đắm hiện tại.

Hỏi: Thế nào là trí lậu tận?

Đáp: Trí lậu tận là trí biết hết, trí không còn sinh nguyện do ngã, phiền não đã hết sạch. Trí quán biết hết mọi cái đều là như vậy thì không còn sinh trở lại, đó là trí Vô sinh. Như thầy thuốc trị rắn cắn, biết trừ nọc độc, đó là trí thứ nhất. Nó không bị xông ướp do cái gì trước đó, là trí thứ hai. Trí Vô sinh thì cũng như vậy. Nguyện trí là hàng Thanh

Pages: 1 2 3