Want create site? Find Free WordPress Themes and plugins.

LUẬN HIỂN DƯƠNG THÁNH GIÁO
Vô Trước Bồ-tát tạo luận
Tam tạng pháp sư Huyền Trang dịch
Nguyên Hồng dịch tiếng Việt

 

QUYỂN 14

Phẩm 3: THÀNH THIỆN XẢO

Lại nữa nơi thể của luận này, trong 9 việc phải hiểu rõ 7 thứ thiện xảo. Những gì là 7?

Tụng nói:

Với các uẩn, giới, xứ,

Và các pháp duyên khởi,

Xứ phi xứ, căn, đế,

Là thiện xảo nên biết.

Luận nói: Đối với các uẩn vì không thiện xảo nên chấp cái thể của các uẩn là thân ta. Đối với các giới vì không thiện xảo nên chấp Tự Tại là nhân sinh ra thân, hoặc chấp không có nhân, thân tự nhiên khởi. Bởi không hiểu rõ là từ nhân của tự chủng, thân mới được sinh. Sở dĩ vì sao? Vì giới là công năng, chủng tử, tộc tính, nhân v.v…các tên sai biệt. Đối với các xứ, vì không thiện xảo nên chấp có thân, dựa vào thân mà trụ lấy cảnh giới bên ngoài. Đối với duyên khởi vì không thiện xảo nên chấp có thân lưu chuyển sinh tử. Do không biết rõ xứ phi xứ nên chấp có thân có thể tạo các nghiệp. Do không biết rõ các căn, các đế nên chấp có 2 thứ thân tăng thượng. Nghĩa là ái phi ái nghiệp quả tăng thượng, và nhiễm ô thanh tịnh tăng thượng. Do biểt rõ khổ tập 2 đế, chấp có nhiễm ô tăng thượng. Do không biết rõ diệt đạo 2 đế, cháp có thanh tịnh tăng thượng. Tụng nói:

Nơi thân là đẳng khởi,

Thật ngã sở trụ trì.

Lưu chuyển là tác giả,

Và các nghĩa tăng thượng.

Nhiễm ô hoặc thanh tịnh,

Khởi 7 thứ ngu si,

Đối trị đây nên biết,

Gồm 7 thứ thiện xảo.

Luận nói: Như trước nói chung 2 thứ tăng thượng phân biệt hiển thị 2 thứ ngu si. Nghĩa là tăng thượng nghĩa ngu si và nhiễm ô thanh tịnh ngu si. Ai dựa váo 7 thứ thân v.v…ngu chuyển?

Tụng nói:

Vọng chấp ngã thân là

Y chỉ các căn trụ.

Xoay vần trong cảnh giới,

Thụ dụng ái phi ái.

Ngôn thuyết sở y trụ,

Tác giả có giác giả.

Do nơi sai biệt uẩn,

Thấy chung là một thân.

Luận nói: Thân là, người ngu do không biết thể của sắc uẩn, nên chấp có một ngã y chỉ vào 5 căn, xoay chyển theo cảnh giới. Do không biết thể của thụ uẩn, nên chấp có ngã y trụ vào ngôn thuyết, không biết tưởng là ngôn thuyết dựa vào, như Bạc-già-phạm nói: Như chỗ tưởng kia khởi ra ngôn thuyết. Do không biết thể của hành uẩn, nên chấp có tác giả. Do không biết thể của thức uẩn, nên chấp có giác giả. Chẳng phải chỉ có thức, bởi các thế gian đối với thể của thức uẩn khởi giác tưởng, nên người ngu đối với các sai biệt trong tự tướng của uẩn khởi chung một thứ thân, ngu si liền chấp thân cho là ngã. Lại nữa đẳng khởi ngu.

Tụng nói:

Mê hoặc nhân ban đầu,

Chấp thường nhân, không nhân.

Luận nói: Người ngu trong thế gian, hoặc đối thân chấp có nhân ban đầu mà sinh mê hoặc, nên chấp nhân bất bình đẳng. Cho rằng có nhân thường trụ Tự Tại thiên, Tì-sắt-noa thiên, tự tính v.v… Hoặc cho là không có nhân. Nghĩa là bác bỏ không có tất cả cái gì là thể của sinh nhân. Lại có kẻ ngu cho là thật ngã gìn giữ.

Tụng nói:

Ngã gìn giữ các căn

Có thể xúc và thụ.

Luận nói: Chấp ngã gìn giữ các căn có thể xúc là thuận khổ thụ xúc, thuận lạc thụ xúc và có thể lĩnh thụ hoặc lạc hoặc khổ.

Lại nữa, lưu chuyển, tác giả, tăng thượng nghĩa và nhiễm ô thanh tịnh ngu, nghĩa là chấp có sự gìn giữ riêng biệt thân là ngã.

Tụng nói:

Từ đây nơi sinh tử,

Chấp có sự lưu chuyển.

Tạo ra pháp, phi pháp,

Và quả tăng thượng kia.

Với tu tập tá hạnh,

Thì chấp là nhiễm ô,

Với tu tập chính hạnh,

Vọng chấp là giải thoát.

Luận nói: Người ngu si ở nơi sinh tử chấp có thật ngã và cái thật ngã này lưu chuyển sinh tử. Thật ngã này tạo tác nhân pháp phi pháp đời sau. Tự tại thụ dụng quả kia, nên quả pháp kia sinh tức là thật ngã này. Y nơi quả pháp tập hành tà hành chấp cho là nhiễm, tu hành chính hạnh vọng cho là giải thoát.

Tụng nói:

Khi Phật chưa ra đời,

Ngu si chuyển như vậy.

Do Phật hiện thế gian,

Nói 7 thứ thiện xảo.

Luận nói: Trong đây hiển thị dựa vào những lúc như vậy, tùy sự ứng hợp mà ngoại đạo ngu si, chúng sinh hoàn diệt. Do đây ngôn thuyết của 7 thứ thiện xảo không chung với tất cả ngoại đạo. Trong đây uẩn thiện xảo, Tụng nói:

Biết các đời sai biệt,

Nên trừ tưởng hợp nhất.

Tức ly và giải thoát,

Chúng sinh không thể được.

Đa chủng và tổng lược,

Cùng có sai biệt chuyển.

Trí tăng ích, tổn giảm,

Uẩn thiện xảo nên biết.

Luận nói: Các đời sai biệt, nghĩa là các uẩn quá khứ vị lai v.v… thể tính sai biệt. Như Bạc-già-phạm nói: “Các sở hữu sắc, hoặc quá khứ, hoặc vị lai, hoặc hiện tại, hoặc trong hoặc ngoài, hoặc thô hoặc tế, hoặc kém hợc hơn, hoặc xa hoặc gần v.v… cho đến nói rộng, đều do thắng trí tuệ biết như thật, cho nên ở trong các uẩn bỏ tưởng hợp nhất tức là hoàn diệt”. Lại ở trong các uẩn, không thể có được tính của Bổ-đặc-già-la. Bởi vì sao? Tức là ở trong các uẩn không thể có được chúng sinh, mà lìa các uẩn cũng không thể có được chúng sinh, giải thoát các uẩn cũng không thể có được chúng sinh. Như Bạc-gìaphạm bảo Tây-nhĩ-ca: ”Nơi sắc uẩn, người có thấy Như Lai chăng? Cho đến người có thấy Như Lai nơi thức uẩn chăng? “ Tây-nhĩ-ca đáp: “Thưa đức Kiều-đáp-ma không !”, như vậy cho đến nói rộng. Trong kinh kia nói sắc v.v… các uẩn dù nói chung dù nói riêng biệt đều không thể có Bổ-đặc-già-la được. Nay trong đây chỉ nói sơ lược chung nơi 5 uẩn là không thể có. Như vậy đã nói biết tướng của sắc v.v… sai biệt nên có thể xa lìa cái chấp tăng ích đối trị chúng, thì trong các uẩn tự tướng cộng tướng đều được thiện xảo.

Lại nữa, uẩn là nghĩa tích tập, hiểu rõ nghĩa tích tập này gọi là uẩn thiện xảo. Nghĩa của tích tập này có 4 thứ là: đa chủng nghĩa, tổng lược nghĩa, cộng hữu chuyển nghĩa, tăng ích tổn giảm nghĩa. Trong đây hiển thị tự thể các uẩn và các chướng đoạn thắng lợi chúng, gọi là uẩn thiện xảo.

Thế nào là giới thiện xảo?

Tụng nói:

Thấy 3 nhân sinh, nên

Gọi là giới thiện xảo.

Tự chủng từ vô thủy,

Sinh khởi ra nhiều thứ.

Do đây và nơi đây,

Thủ lấy không thể được.

Vì y tự trí thành,

Trừ được tính hạ liệt.

Luận nói: Do quán căn, cảnh, thức 3 pháp, từ tự nhân mà sinh, gọi là giới thiện xảo. Sở dĩ vì sao? Bởi các pháp từ vô thủy lưu chuyển từ tự chủng sinh ra nhiều sinh khởi và các thứ sinh khởi.

Phải biết nhiều sinh khởi nghĩa là như kinh nói: “Vì không phải một giới.”, các thứ sinh khởi nghĩa là như kinh nói: “Vì có các thứ giới.” Lại nữa do dựa vào các căn không thể có được cái ngã năng thủ trong các cảnh giới. Cho nên có thể biết rằng cái sở tác là dựa vào tự thành lập, chứ không do trời Đại Tự Tại v.v…Vì vậy cho nên phàm muốn không sinh vào hạ liệt thì tự do tu tập. Trong đây hiển thị tự thể của giới thiện xảo và chướng đoạn thắng lợi chúng, gọi là giới thiện xảo.

Thế nào là xứ thiện xảo?

Tụng nói:

Biết các xúc các thụ,

Do 2 thứ sinh môn.

Vì y chỉ nơi xúc,

Phải biết xứ thiện xảo.

Như pháp xứ, thiên xứ,

Về sau chỗ y chỉ,

Vì do thế tục đế,

Biết có 2 chủng tính.

Luận nói: Do biết rõ thể sinh môn của xúc mà kiến lập 2 xứ là căn và cảnh. Như vậy do nghĩa năng sinh nên gọi là xứ. Như thế gian tu thiện pháp, gọi là pháp xứ. Lại nữa, khéo hiểu rõ các thụ dựa vào xúc cho nên kiến lập xúc là xứ của nó. Như vậy lấy theo nghĩa cư trú nên gọi là xúc. Cũng như thế gian nơi có các hiện tượng thiên nhiên gọi là thiên xứ. Lại nữa khi sinh 2 pháp xúc thụ, dựa vào ghế tục nên biết 2 tính. Nghĩa là xúc, thụ, do xúc có thể chạm đến đối tượng, thụ có thể lãnh nạp. Trong đây hiển thị thắng nghĩa đế, xúc, thụ, đều không thể có được, nhưng thế tục đế thì cả 2 đều được. Cho nên gọi là xứ thiện xảo.

Thế nào là duyên khởi thiện xảo?

Tụng nói:

Biết chưa đoạn vô thường,

Nhân hay sinh các quả.

Tự tướng nối tương tự,

Là duyên khởi thiện xảo.

Chúng sinh không thể được,

Mà có bỏ tiếp nối.

Do hiểu rõ thậm thâm,

Của 4 thứ duyên khởi.

Luận nói: Có khả năng hiểu rõ cái nhân từ chưa vĩnh đoạn vô thường có thể sinh các quả, gọi là duyên khởi thiện xảo. Nghĩa là như kinh nói: “Đây có nên kia có. Đây sinh nên kia sinh.” Như thứ tự của nó. Lại nữa, có khả năng hiểu rõ do nhân này nơi tự tướng nối tiếp sinh các quả pháp. Nghĩa là như kinh nói: “Chẳng phải duyên các đời khác mà có lão tử v.v…” Lại nữa, khéo hiểu rõ từ nhân tương tự sinh các quả pháp. Nghĩa là như kinh nói: “Ác hạnh của thân có thể cảm thân dị thục không thích, không yêu, không vui, không vừa ý. Diệu hạnh thì có thể cảm dị thục ngược lại trên.” v.v… Lại nữa, ngay nơi các uẩn liên tục mà gọi xả mạng và nối sinh là tính của Bổ-đặc-giàla là không thể được. Do hiểu rõ 4 thứ duyên khởi sâu xa, là không do từ tự sinh, không từ tha sinh, chẳng phải tự tha sinh, chắng phải không nhân sinh. Trong đây hiển thị tự thể của duyên khởi và chướng đoạn thắng lợi của nó, gọi là duyên khởi thiện xảo.

Thế nào là xứ phi xứ thiện xảo?

Tụng nói:

Không làm, không đến, được,

Hai thể, khác không chuyển.

Tịnh kiến vô dư nghiệp,

Phi ngã, tự tại hai.

Như vậy trí năng tri,

Xứ phi xứ thiện xảo.

Nơi tự quả định xứ,

Khác đây là phi xứ.

Luận nói: Nếu không thấy ngã nơi ư xứ nhân và quả mà được tự tại, gọi là xứ phi xứ thiện xảo. Nghĩa là không làm, không đến, không được, 2 thể không chuyển, các thể khác không chuyển, tịnh kiến vô dư nghiệp.

Thế nào là không làm? Nghĩa là không chuyên làm các diệu thiện hạnh, nên không có cái ngã tự tại. Thế nào là không đến? Nghĩa là vì lìa diệu hạnh nên không sang đến nẻo thiện. Như kinh nói: “Không có nơi, không dung chứa thân làm ác hạnh, cho đến sinh thiên chắc chăn không thể, cho đến nói rộng.” Thế nào là không được? Nghĩa là lìa thiện phương tiện vô lậu thánh đạo, chắc chắn không thể được đạo quả rốt ráo thanh tịnh. Như kinh nói: “Không có nơi, không dung chứa, không vĩnh đoạn ngũ cái, cho đến không tu 7 biến giác chi mà có thể chính chứng đắc biên tế tận cùng của sự khổ, là chắc chắn không có điều đó.” Thế nào là 2 thể không chuyển? Nghĩa là không có nơi, không dung chứa, chẳng phải trước, chẳng phải sau, có 2 Như Lai xuất hiện ở đời, cho đến nói rộng. Thế nào là các thể khác không chuyển? Nghĩa là lìa thân trượng phu, các thân khác không làm được Chuyển luân vương v.v… Như kinh nói: “Không có nơi nào cả, không dụng nạp nữ nhân được lmf Chuyển luân thánh vương, cho đến nói rộng.” Thế nào là tịnh kiến vô dư nghiệp? Nghĩa là như kinh nói: “Không nơi náo cả, không dụng nạp thánh kiến cụ túc Bổ-đặc-già-la cố đoạn vật mạng, cho dedns thụ đệ bát hữu, chắc chắn không có nơi như vậy. Có, tức là các dị sinh.”

Naybtrong đây nói không làm, nghĩa là chỗ chấp ngã đối với nhân không được tự tại. Không được, là thông nơi nhân quả. Tịnh kiến vô dư nghiệp cũng vậy. Ngoài ra chỉ ở quả. Lại nữa, xứ phi xứ, là nơi tự quả quyết định gọi là xứ. Phải biết ở những nơi khác gọi là phi xứ. Do trí tuệ không điên đảo đối với thiện xảo này, nên gọi là xứ phi xứ thiện xảo. Trong đây hiển thị tự thể của xứ phi xứ thiện xảo và chướng đoạn thắng lợi của chúng.

Thế nào là căn thiện xảo?

Tụng nói:

Nơi năng thủ sinh trụ,

Và nhiễm ô thanh tịnh.

Vô lý ngã quán khác,

Nơi quả tăng thượng kia.

Nơi phương tiện như vậy,

Gọi là căn thiện xảo.

Là nơi thủ sinh trụ,

Nên nhiễm tịnh tăng thượng.

Luận nói: Nếu không thấy ngã nơi năng thủ v.v… là tăng thượng, nên gọi là căn thiện xảo. Bởi vì sao? Chẳng phải chỗ chấp ngã quán các nhân duyên. Nơi năng thủ v.v…tăng thượng tự tại, tức là các nhân duyên nơi năng thủ v.v… là tăng thượng, cho nên nói là chấp ngã, là không hợp lý. Nói các căn đối với năng thủ v.v… là tăng thượng, nghĩa là nhãn v.v… 6 căn đối với thủ 6 cảnh là tăng thượng. nam nữ 2 căn, đối với năng sinh tướng tục là tăng thượng. mạng căn, một thứ, đối với tương tục trụ là tăng thượng. Năm thụ căn đối với nhiễm ô là tăng thượng. Tín v.v…8 căn đối với thanh tịnh là tăng thượng. Trong đây hiển thị tự thể của căn thiện xảo và chướng đoạn thắng lợi của chúng, gọi là căn thiện xảo.

Thế nào là đế thiện xảo?

Tụng nói:

Vì 2 tự tính khổ,

Hợp nên không đúng lý.

Do không nhân có nhân,

Và 5 thứ thí dụ.

Như vậy tùy giác nên

Phải biết đế thiện xảo.

Tùy giác chưa từng thấy,

Chưa thụ nghĩa nhân duyên.

Luận nói: Do có khả năng khéo quán sát cái ngã nơi 2 pháp nhiễm tịnh là chẳng phải thuận đạo lý, gọi là đế thiện xảo. Những gì là 2? Là tự tính khổ và khổ hợp. Thế nào là tự tính khổ? Nghĩa là nếu tự tính của ngã là khổ là không nhân hay có nhân? Nếu không nhân thì phải thường nhiễm ô. Nếu có nhân thì phải trước thanh tịnh sau mới nhiễm ô. Cho nên không thuận lý. Thế nào là cùng với khổ hợp? Nghĩa là dẫn 5 thí dụ đều không thuận lý. Bởi vì sao? Nếu nói khổ hợp với ngã thì không nên như 2 cây hợp lại, vì có cái lỗi không có tính xuất ly. Cũng chẳng phải như hữu tình hợp với cây, vì có lỗi xuất ly. Cũng chẳng phải như lửa với củi hợp lại, vì có tính hủy hoại. Cũng chẳng phải như áo với thuốc nhuộm hợp lại. Trên cái thể của ngã như sắc trắng thì một chút cũng không thể được. Cũng không phải như tâm và tâm pháp hợp. Bởi vì sao? Tâm là năng thủ cùng với đây cùng duyên một cảnh v.v… có thể gọi là tương ưng, nơi ngã không có nghĩa này nên không thuận đạo lý. Lại do quán sát thấy chưa từng thấy nghĩa và nhân duyên của kia. Lại nữa quán sát thấy chưa từng thụ nghĩa và nhân duyên của kia, gọi là đế thiện xảo. Nghĩa là từ xưa nay chưa từng thấy rõ khổ tập 2 đế và nhân duyên của kia. Từ xưa đến nay chưa từng thấy rõ, chưa từng trải qua thụ diệt đạo 2 đế và nhân duyên của kia. Trong đây hiển thị tự thể của trí xuất thế và chướng đoạn thắng lợi kia, nên gọi là đế thiện xảo.

Tụng nói:

Phải biết các thiện xảo,

Sai biệt hai mươi ba.

Dị nhiếp luận làm đầu,

Cuối cùng cực thanh tịnh.

Luận nói: Nên biết uẩn v.v… thiện xảo sai biệt lại có 23 thứ. Đó là: Nhiếp dị luận thiện xảo. Do nghe pháp sinh trí thiện xảo. Do tư duy sinh trí thiện xảo. Do tu tập sinh trí thiện xảo. Thuận quyết trạch phần trí thiện xảo. Kiến đạo trí thiện xảo. Tu đạo trí thiện xảo. Cứu cánh đạo trí thiện xảo. Luyện căn trí thiện xảo. Phát thần thông trí thiện xảo. Bất thiện thanh tịnh thế tục trí thiện xảo. Thiện thanh tịnh thế tục trí thiện xảo. Thắng nghĩa trí thiện xảo. Bất thiện thanh tịnh tướng hữu phân biệt trí thiện xảo. Thanh tịnh tướng hữu phân biệt trí thiện xảo. Thiện thanh tịnh tướng vô phân biệt trí thiện xảo. Thành sở tác tiền hành trí thiện xảo. Thành sở tác trí thiện xảo. Thành sở tác hậu trí thiện xảo. Thanh Văn trí thiện xảo. Độc Giác trí thiện xảo. Bồ-tát trí thiện xảo. Tối cực thanh tịnh trí thiện xảo. Trong đây dị nhiếp luận thiện xảo lại có 2 thứ: một là chủng chủng nhiếp thiện xảo, hai là chủng chủng luận thiện xảo.

Chủng chủng nhiếp thiện xảo có 11 thứ. Đó là giới nhiếp cho đến cánh hỗ nhiếp. Giới nhiếp, nghĩa là các uẩn v.v…thâu giữ tự chủng tử. Tướng nhiếp, nghĩa là các uẩn v.v…thâu giữ tự tướng cộng tướng. Chủng loại nhiếp, nghĩa là các uẩn v.v…thâu giữ khắp chủng loại của chính nó. Phần vị nhiếp, nghĩa là các uẩn v.v…thâu giữ phần vị thuận lạc thụ v.v…Bất tương ly nhiếp, nghĩa là các uẩn v.v…do một pháp thâu nhiếp tất cả uẩn v.v… vì quyến thuộc của chúng không tách rời nhau. Thời nhiếp, nghĩa là các uẩn v.v… quá khứ vị lai hiện tại đều thâu giữ riêng biệt. Phương nhiếp, nghĩa là các uẩn v.v… dựa vào phương hướng mà chuyển. Nếu dựa vào phương này sinh thì phương này thâu giữ. Toàn nhiếp, nghĩa là các uẩn v.v…thâu giữ đầy đủ 50, 82 v.v… Nhất phần nhiếp, nghĩa là các uẩn v.v…đều thâu giữ riêng biệt một phần ít. Thắng nghĩa nhiếp, nghĩa là các uẩn v.v…thâu giữ tướng chân như. Cánh hỗ nhiếp, nghĩa là các uẩn v.v…thâu giữ lẫn nhau.

Chủng chủng luận thiện xảo, nghĩa là đối với uẩn v.v… các câu hỏi đáp phương tiện thiện xảo. Như lấy nhất hành làm câu hỏi thì nên dùng thuận câu trước, thuận câu sau, 4 câu, câu vô sự mà đáp. Như có câu hỏi: Nếu có giới nhiếp tức có tướng nhiếp chăng? Giả như có tướng nhiếp thì lại có giới nhiếp chăng? Hãy nên dựa vào nhãn lấy 4 câu đáp. Hoặc có giới nhiếp không có tướng nhiếp, là trường hợp sinh cõi Hữu sắc mà không có nhãn vị. Giả sử có mà đã hỏng mất như các dị sinh sinh cõi Vô sắc. Hoặc có tướng nhiếp không có giới nhiếp, tức A-la-hán tối hậu nhãn. Hoặc có giới nhiếp cũng có tướng nhiếp, tức trừ các trường hợp nói trên những trường hợp khác có nhãn vị. Hoặc có trường hợp không có giới nhiếp cũng không có tướng nhiếp, tức người hoại mất A-la-hán nhãn, sinh cõi Vô sắc, người đã kiến đế, và đã nhập vô dư bát Niết-bàn giới. Cũng phân biệt giống như nhãn, đối với tất cả cũng vậy tùy chỗ phù hợp phải rộng phân biệt. Cũng giống như dùng giới nhiếp đối tướng nhiếp, thì cũng thế dùng giới nhiếp đối các nhiếp khác. Cứ lần lượt theo nhất hành nên rộng phân biệt. Như vậy dùng các nhiếp đối các nhiếp, trừ trước đối sau, nên dùng đạo lý nhất hành, nếu thích hợp thì nên rộng phân biệt.

Lại nữa, nếu pháp uẩn thâu nhiếp thì pháp giới này thâu nhiếp chăng? Giả như pháp giới thâu nhiếp thì pháp uẩn này thâu nhiếp chăng? Đây nên dùng thuận câu trước mà đáp. Nếu pháp uẩn thâu nhiếp pháp này thì giới cũng thâu nhiếp. Hoặc pháp giới nhiếp không phải uẩn nhiếp thì gọi là pháp vô vi. Giống như dùng uẩn đối giới, cũng vậy dùng uẩn cho đến đối đế cần phải dựa vào đạo lý nhất hành biện luận sự thâu nhiếp. Giống như uẩn đối các cái khác, cũng vậy dùng giới đối xứ v.v… cho đến dùng căn đối đế, cần phải phân biệt rộng.

Trong đây, bất thiện thanh tịnh thế tục trí thiện xảo, tức là thuận quyết trạch phần trí thiện xảo. Thanh tịnh thế tục trí thiện xảo, tức là xuất thế hậu đắc thế gian trí thiện xảo. Thắng nghĩa trí thiện xảo, tức là kiến đạo trí thiện xảo. Như vậy 3 thứ tức là bất thiện thanh tịnh tướng hữu phân biệt trí thiện xảo, thiện thanh tịnh tướng hữu phân biệt trí thiện xảo, và thiện thanh tịnh tướng vô phân biệt trí thiện xảo. Như vậy 3 thứ tức là thành sở tác tiền hành trí thiện xảo, thành sở tác trí thiện xảo, và thành sở tác hậu trí thiện xảo.

Lại nữa, 3 thứ sai biệt trước là sai biệt về chưa đoạn phiền não sinh phi phiền não đối trị, đã đoạn phiền não sinh phi phiến não đối trị, và đã đoạn phiền não sinh phiền não đối trị.

Ba thứ sai biệt giữa tức là 3 thứ này là do có phân biệt, không phân biệt thế tục thắng nghĩa trí tính sai biệt.

Ba thứ sai biệt sau tức là 3 thứ này hiển thị sai biệt của đoạn tiền hành trí tính, chính đoạn đạo trí tính và hậu thời trí tính.

Như vậy 9 trí dựa vào sự tương tục sai biệt của Bổ-đặc-già-la và thành lập ra 4 thứ.

Phẩm 4: THÀNH VÔ THƯỜNG

Lại nữa, như trước đã nói nếu muốn chính tu hành biết khắp các công đức, nghĩa là biết khắp các khổ v.v…

Thế nào là biết khắp các khổ? Nghĩa là khổ đế biết khắp vô thường, khổ, không vô ngã. Nay theo thứ tự nên rộng thành lập. Trong đay thành vô thường, nghĩa là phải hiển thị thể tính của vô thường và sai biệt của vô thường. Thế nào là vô thường? Những gì là sai biệt?

Tụng nói:

Vô thường là hữu vi,

Tương ưng với 3 tướng.

Nghĩa vô thường như ứng

Sáu tám thứ nên biết.

Luận nói: Tính của vô thường nghĩa là pháp hữu vi và tương ưng với 3 tướng hữu vi: 1. Tướng sinh. 2. Tướng diệt. 3. Tính trụ và biến khác. Lại nữa, sai biệt của nghĩa vô thường là như tùy thích hợp hoặc có 6 hoặc có 8. Những gì là 6 và 8?

Tụng nói:

Vô tính, hoại, chuyển khác,

Biệt ly, được, sẽ có,

Sát-na liên tục bệnh v.v…

Vì tâm khí thụ dụng.

Luận nói: Sáu thứ vô thường là: 1. Vô tính vô thường. 2. Hư mất vô thường. 3. Đổi khác vô thường. 4. Biệt ly vô thường. 5. Được vô thường. 6. Sẽ có vô thường. Tám thứ vô thường là: 1. Sát-na môn. 2. Tương tục môn. 3. Bệnh môn. 4. Lão môn. 5. Tử môn. 6. Tâm môn. 7. Khí môn. 8. Thụ dụng môn. Trong đây sát-na tương tục 2 thứ vô thường biến khắp mọi nơi. Bệnh v.v…3 vô thường ở nội sắc. Tâm vô thường chỉ ở noi danh. Khí, thụ dụng 2 vô thường ở ngoại sắc. Trong đây vô tính vô thường, nghĩa là vì không có tính thường nên gọi là vô thường. Ngoài ra các đổi khác vô thường có 15 thứ.

Tụng nói:

Phải biết sự đổi khác,

Mười lăm thứ sai biệt.

Đó là phần vị v.v…

Bị 8 duyên bức bách.

Hạ giới đủ tất cả,

Trung giới lìa 3 môn.

Đủ 3 thứ đổi khác,

Thượng giới lại trừ khí.

Luận nói: Mười sáu thứ đổi khác là: Phần vị đổi khác cho đến tất cả thứ không thể hiện hết sự đổi khác. Phần vị đổi khác, nghĩa là từ lúc ấu nhi cho đến khi già trước sau đổi khác không giống nhau. Hiển rõ đổi khác, nghĩa là từ nhan sắc đẹp đẽ tươi tắn cho đến biến thành thô xấu tiều tụy. Hình dáng đổi khác, nghĩa là béo tốt đổi khác thành gầy còm v.v… Hưng thịnh đổi khác, nghĩa là bà con của cải và giới kiến v.v… hưng thịnh thì ngược lại biến đổi thành suy thoái. Chi tiết biến đổi khác, nghĩa là trước thì chi tiết đầy đủ, sau biền đổi thành thiếu. Lạnh nóng biến đổi khác, nghĩa là khi lạnh thì co ro run rẩy, khi nóng thì uể oải toát mồ hôi, mong cho cái lạnh nóng thay đổi. Bị những thứ khác làm tổn hại biến đổi, nghĩa là tay chân nhảy chụp ruồi muỗi châm chích. Thân thể biến đổi, mệt mỏi biến đổi, nghĩa là do đi chạy nhảy v.v… Thân nhọc biến đổi, oai nghi biến đổi, nghĩa là 4 oai nghi trước sau dễ thoát lạc. Tổn ích biến đổi, xúc đối biến đổi, nghĩa là do thuận khổ lạc v.v… xúc biến đổi nên khổ lạc v.v… thụ biến đổi. Nhiễm ô biến đổi, nghĩa là tâm sở có tham sân v.v… 2 hoặc đại tiểu làm nhiễu loạn biến đổi. Bệnh v.v… biến đổi, nghĩa là trước không có bệnh khổ, sau bị bệnh nặng bức bách thân thể biến đổi. Chết biến đổi, nghĩa là trước có mạng sống, sau không vô thức, trước sau biến đổi. Xanh bầm v.v… biến đổi, nghĩa là sau khi chết thân thể xanh bầm sình chương cho đến xương cốt v.v… biến đổi. Tất cả các thứ không hiện hết sự biến đổi, nghĩa là vị trí xương cốt hư hoại lìa tan biến đổi đều không trông thấy.

Lại nữa 15 thứ biến đổi này là do tương ưng với 8 duyên. Tám duyên là: 1. Khi tích trữ. 2. Cái khác làm tổn hại. 3. Thụ dụng thiếu thốn. 4. Thời tiết tàn tạ. 5. Bị lửa cháy. 6. Bị nước làm hỏng. 7. Bị gió làm khô ráo. 8. Các duyên khác hợp lại. Khi tích trữ, nghĩa là trải qua thời gian lâu các pháp hữu sắc không lìa bản xứ tự nhiên hư hỏng. Cái khác làm tổn hại, nghĩa là các thứ khác làm nhân duyên bức hại trước sau biến đổi. Thụ dụng thiếu hụt, nghĩa là đối với các vật thụ dụng bị các chủ khác ăn dùng làm tổn gỉm biến đổi. Thời tiết làm tàn tạ, nghĩa là mùa đông lạnh tuyết mùa hè nắng mưa làm cây rừng dược thảo hoặc thịnh hoặc suy. Bị lửa cháy, nghĩa là hỏa hoạn thiêu phố xá làng xóm ra tro. Nước làm hại, nghĩa là lũ lụt nhận chìm nhà cửa làng mạc. Gió làm khô ráo, nghĩa là gió to làm mặt đất khô nứt nẻ. Các duyên khác hợp lại, nghĩa là người nhiều tham khi duyên hợp với sân mà cái tham bị ngăn chận thì phát khởi sân giận. Giống như vậy, người nhiều sân nhiều si khi duyên hợp với các phiền não cũng phát khởi như vậy. Giống như vậy, các thức trước các cảnh lạ hiện tiền cũng phát khởi như vậy. Lại nữa, nghĩa vô thường này ơt trong cõi Dục tất cả đều có đủ. Ở trong cõi Sắc trừ bệnh, lão, thụ dụng 3 môn vô thường, lại có xúc, nhiễm, tử 3 thứ biến đổi. Giống cõi Sắc nói các nghĩa vô thường, cõi Vô sắc cũng như vậy chỉ trừ khí môn.

Tụng nói:

Nghĩa vô tính vô thường,

Là biến kế sở chấp.

Các nghĩa vô thường khác,

Đều thuộc y tha khởi.

Luận nói: Nghĩa vô tính trong nghĩa của vô thường là ở trong tướng biến kế sở chấp. Còn các nghĩa của vô thường khác thì đều ở trong tướng y tha khởi. Trong tướng viên thành thật không có nghĩa của vô thường. Như vậy là đã làm rõ nghĩa sai biệt của vô thường và ở trong 3 tướng. Lại nữa như Thế Tôn nói các vô thường đều khổ là có ý gì?

Tụng nói:

Các vô thường đều khổ,

Vì các khổ xen tạp.

Người ngu mê pháp tính,

Bị hại mà không biết.

Luận nói: Do thô nặng xen tạp vô thường thì tính của vô thường này là hành khổ cho nên khổ. Và do nương dựa nơi cái khổ biến đổi hoại diệt cho nên khổ. Vì vậy đạo đế không phải khổ, bởi chẳng phải tướng khổ xen tạp nghĩa vô thường. Cho nên người ngu mê hoặc pháp tính này không thể hiểu rõ nghĩa thường và vô thường. Lại nữa, đã bị hiện tiền vô thường não hại, trước nói sát-na vô thường biến hành tất cả, còn nghĩa vô thường đây chẳng phải thế gian hiện chứng cho nên phải thành lập.

Tụng nói:

Do bởi quả tâm kia,

Sinh rồi tự nhiên diệt

Rồi sau lại biến đổi,

Mỗi niệm mỗi niệm diệt.

Luận nói: Tất cả các hành kia là quả của tâm cho nên tính của nó vừa mới sinh, lìanhan duyên diệt tự nhiên diệt hoại. Rồi lại sau đó biến đổi khác. Phải biết các hành đều diệt từng sát-na.

Làm sao biết các hành là quả của tâm?

Tụng nói:

Tâm huân tập tăng thượng,

Định chuyển biến tự tại.

Ảnh tượng sinh đạo lý,

Và 3 thứ thánh giáo.

Luận nói: Do đạo lý và thánh giáo chứng biết các hành là tính của tâm quả. Đạo lý, nghĩa là pháp thiện bất thiện huân tập nơi tâm. Do sức tăng thượng các tập khí của tâm mà sinh các hành. Lại thoát định chướng, tâm thanh tịnh, thì tất cả các hành chuyển biến theo tâm. Do ý đó hiểu rõ sức tự tại nên các thứ chuyển biến. Lại do sức của định tâm tự tại nên tùy theo ý muốn mà ảnh tượng của cảnh giới định tâm phát sinh. Đó gọi là đạo lý. Thánh giáo, nghĩa là có 3 thứ thánh ngôn như trong kinh nói: “Tâm dẫn dắt thế gian, tâm lực phòng hộ, tùy tâm sinh khởi rồi tự tại đều chuyển.” Lại nói: “Cho nên Bí-sô phải biết ! Nói người chủ thành, tức là tất cả hữu thủ thức uẩn.” Đó là thánh giáo.

Hỏi: Làm sao biết được đạo lý các hành kia tự nhiên diệt hoại?

Đáp: Do 4 thứ nhân duyên.

Tụng nói:

Vì mâu thuẫn sinh nhân,

Không trụ diệt 2 nhân.

Tự nhiên thường trụ: lỗi.

Phải biết tự nhiên diệt.

Luận nói: Không phải cái sinh nhân kia có thể diệt các hành mà vì 2 thứ sinh diệt mâu thuẫn nhau. Lại nữa, cái nhân không trụ khiến các hành trụ. Nếu tất hữu thì phải thành thường trụ. Hành đã không trụ thì cần gì phải dùng đến diệt nhân? Lại nữa, tính của các diệt nhân là không thể có được. Nếu hành sinh đã tự nhiên trụ, thì nó phải là thường, tức trụ thành ra lỗi lớn. Như vậy có trụ diệt nhân và tự nhiên trụ đều có lỗi. Cho nên phải biết các hành tự nhiên hoại diệt.

Tụng nói:

Chẳng nước, lửa, gió diệt.

Bởi vì đều khởi diệt.

Tương ưng kia diệt rồi,

Các biến đổi sinh nhân.

Luận nói: Nếu nước, lửa, gió là nhân của diệt thì không hợp đạo lý. Bởi chúng đều sinh diệt. Nếu nước kia v.v…là nhân của diệt thì vật bị đốt cháy rồi thì không nên tương tục diệt trước rồi lại biến đổi thành tương tục sinh. Bởi vì sao? Tức là cái nhân vô thể thành cái nhân hữu thể, nên không hợp lý. Nhưng nước, lửa, gió cùng với các vật bị đốt cháy v.v…khi tương ưng diệt lại có thể vì các vật ấy sau biến thành nhân của sinh. Trừ công năng này, nước v.v…nơi chúng không còn năng lực nào khác. Lại nữa, nếu chấp cái tướng diệt là nhân của diệt, thì cái tướng năng diệt này với pháp sở diệt là có đồng thời hay không đồng thời? Và nếu vậy thì có lỗi gì?

Tụng nói:

Tương vi, tương tục đoạn,

Hai tướng thành không tướng.

Trái thế gian hiện thấy,

Không pháp và nhân khác.

Luận nói: Tướng năng diệt và pháp sở diệt kia nếu nói đồng thời có thì không hợp đạo lý, vì có lỗi mâu thuẫn nhau. Nếu nói không đồng thời cũng không đúng lý, vì có lỗi gián đoạn sự liên tục. Lại nữa cái nhân của diệt và pháp năng diệt thì thể là diệt hay thể là phi diệt? Nếu thể là diệt thì phải là một thể mà có 2 tướng diệt. Nếu thể là phi diệt thì phải không có tướng diệt. Có lỗi như thế nên không hợp lý. Lại nữa, trái với tướng hiện thấy của thế gian, nên không nên chấp cái diệt là nhân của hoại diệt. Bởi vì sao? Vì thế gian đều thấy các pháp hữu thể là nhân của hoại diệt, không thấy cái pháp diệt là nhân của diệt. Lại nữa, nếu cái pháp diệt là nhân của diệt thì chỉ có diệt tức pháp năng diệt là đợi các việc khác ư? Cả 2 thứ nhân này đều có lỗi. Nếu chỉ có diệt, tức pháp năng diệt thì nếu khi có diệt thể của pháp phải hoàn toàn không có. Nếu lại đợi các việc khác thì các việc khác phải là nhân của hoại diệt, không nên chấp diệt là nhân của hoại diệt. Lại nữa, làm sao biết được sau có thể biến đổi nên các pháp diệt từng sát-na?

Tụng nói:

Chẳng phải thân, sữa, rừng…

Trước không có biến đổi,

Cũng chẳng phải không hoại,

Đến cuối cùng mới diệt.

Luận nói: Tất cả các pháp trong ngoài của thế gian như thân, sữa, rừng v.v…đến cuối cùng mới có biến đổi, nên lúc trước thể không biến đổi là không đúng lý. Lại nữa, chẳng phải lúc trước không có diệt hoại, cuối cùng mới diệt vì không có nhân khác. Như vậy trước không biến đổi thì sau không biến đổi. Trước không diệt hoại thì sau không diệt. Phải biết các hành mỗi niệm mỗi niệm biến diệt. Cho nên thành nghĩa sát-na của pháp kia. Như thế là thành lập xong tính vô thường. Tất cả tà phân biệt của ngoại đạo chấp ngã, tính tự tại, cực vi, giác v.v.. là pháp thường trụ đều không thành lập được. Vì sao ngã là thường, không thành lập được?

Tụng nói:

Vị tư phiền não phần,

Vì phi thường biến đổi.

Nếu đây không biến đổi,

Thụ, tác, thoát phi lý.

Luận nói: Do chấp ngã cho nên có các vị khổ, lạc v.v…có tư duy thiện, ác v,v…, có phiền não tham, sân v.v…, có sai biệt thời phần, cho nên là vô thường. Sở dĩ vì sao? Chỗ chấp ngã đây, do lạc v.v…nên có ít biến đổi thành ra không phải thường. Nếu hoàn toàn không biến đổi thì không nên chấp là thụ giả, tác giả và giải thoát giả, vì pháp ấy không có ngã, không sai biệt. Lại nữa, cũng không có thể tính tự tại thường trụ có thể sinh thế gian. Bởi vì sao?

Tụng nói:

Vì không có công năng,

Nhiếp không nhiếp trái nhau.

Hữu dụng và vô dụng,

Là nhân thành sai lầm.

Luận nói: Chỗ chấp tự tại không có công năng sinh ra thế gian sở dĩ vì sao? Nếu tự tại này sinh thế gian công năng là tự nhiên không nhân duyên mà có, thì sao ông không chấp nhận tất cả thế gian đều không nhân tự có? Nếu cái nghiệp công năng này là nhân, thì sao không tin rằng tất cả thế gian lấy nghiệp làm nhân? Nếu công năng này lấy cầu phương tiên làm sinh nhân, thì sao không tin rằng tất cả thế gian là do công lực của mình làm nhân mà được sinh?

Lại nữa, nếu tự tại ở trong thế gian, đọa tại thế gian mà nói có thể sinh tất cả thế gian, thế là mâu thuẫn với đạo lý. Nếu tự tại này không ở trong thế gian, như thế tức là giải thoát, mà pháp giải thoát có thể sinh thế gian là không hợp lý. Lại nữa, tự tại phải hữu dụng, cho nên các sinh thế gian lìa sinh thế gian dụng là bất thành, tức là tự tại. Ở đây phải dùng cái vô hữu tự tại tự thành sai lầm. Nếu tự tại này tuy sinh thế gian mà không phải điều kiện gì cả thì không nên hóa sinh thế gian. Hoặc tự tại này như có sai lầm như kẻ điên cuồng. lại nữa, tự tại này sinh thế gian là chỉ tự tại làm nhân sinh các thế gian, hay lại phải chờ đợi nhân khác nữa chăng? Nếu chỉ cái thể của tự tại là nhân, nếu như thể của tự tại bản lai là thường hữu thì thế gian cũng vậy.mkhôngnphải sinh nữa. Còn nếu phải chờ đợi một ít nhân khác, nếu cái nhân chờ đợi này là không có nhân thì tất cả thế gian cũng phải như vậy. Nếu có các nhân khác thì thế gian cũng vậy. Đã từ các nhân khác sinh thì cần gí tự tại? Cho nên lập ra tự tại là có nhiều sai lầm. Lại nữa, chấp có tự tính thường trụ là nhân là không hợp lý. Bởi vì sao?

Tụng nói:

Tự tính biến đổi tướng,

Hữu vô không hợp lý.

Không sai biệt: vô thường,

Có sai biệt: 5 lỗi.

Không tướng cũng không nhân,

Phi tự tính hằng biến.

Trước không có biến đổi,

Ngã phải thường giải thoát.

Luận nói: Nếu chấp tự tính là thường thì phải là nhân không biến đổi. Sở dĩ vì sao? Vì chỗ chấp tự tính chẳng có tướng biến đổi, cũng chẳng phải không có tướng biến đổi, nên không hợp lý. Nếu tự tính này không sai biệt với các tướng biến đổi khác, thì phải là vô thường. Nếu có sai biệt thì có 5 lỗi: 1. Lỗi vô tướng. Vì lìa tướng biến đổi, tướng các tự tính khác không thể có một chút gì cả. 2. Lỗi chẳng phải nhân. Vì thế gian không thấy cái pháp thường trụ là thể của sinh nhân. 3. Lỗi chẳng phải tự tính. Vì thế gian không thấy cái gì không phải chủng loại của nó mà là tự tính của nó. 4. Lỗi của tự tính thường trụ là khởi biến đổi trong mọi lúc, vì không phải đợi nhân nào khác. 5. Lỗi là trước khi tự tính này chưa sinh biến đổi thì ngã giải thoát. Nếu đã vậy thì lúc sau không nên khởi các biến đổi.

Lại nữa, chấp cực vi là thường, thì không hợp lý. Bởi vì sao?

Tụng nói:

Thường tạo không hợp lý, Vì do 2, 3 nhân.

Tài hữu tình tăng thượng,

Cực vi phi thường trụ.

Luận nói: Chỗ chấp cho rằng tính của cực vi là thường và tạo tác, đều không hợp lý. Vì sao tính thường là không hợp lý? Vì 2 nhân. Ông cho rằng tính của cực vi là do quá nhỏ nên tính là thường trú, hay vì do tính khác loại mà cho là thường ư? Nếu do quá nhỏ thì chính vì nhỏ, yếu, kém nên không thể thường trụ. Nếu do khác loại thì không thể có được tướng này.

Từ nơi chẳng phải địa vị vị trí v.v… mà tạo ra vật v.v… nơi địa vị vị trí đó là không hợp lý. Thế nào là tạo tác không hợp lý? Do 3 nhân: 1. Do phương sở. 2. Do nhân duyên. 3. Do tự thể. Thế nào là do phương sở mà tạo tác là không hợp lý? Nghĩa là từ cực vi tạo tác ra vật lớn là quá lượng của nó hay không quá? Nếu không quá thì những vật to lớn có chất ngại cũng phải như cực vi không thể chấp lấy. Lại nữa, thế gian không thấy chất ngại và vật không sáng sạch đồng ở một chỗ , nên không hợp lý. Nếu quá lượng của nó thì ở nơi quá lượng, vật thô chất ngại chẳng phải do cực vi làm thành phải là thường trụ. Nếu lại chấp có các cực vi khác sinh, thế thì cực vi phải là không thường trụ.

Thế nào là do nhân duyên? Nghĩa là nếu ông chấp cho rằng do tính hòa hợp làm nhân duyên, nên kiến lập các vật khác khiến hòa hợp, thì tính hòa hợp này là sinh ra rồi có thể làm nhân duyên hay là chưa sinh? Nếu đã sinh rồi, thì cái vật được hòa hợp, sau khi hòa hợp rồi, chẳng khác tí nào với tính hòa hợp nó được, cho nên không hợp lý. Nếu chưa sinh, tức không thể tính. Vô thể mà làm nhân là không hợp lý.

Thế nào là do tự thể? Tính của cực vi này khi tạo thô vật, không phải như hạt giống nảy mầm. Nếu như giống của cực vi phải diệt hoại nên không phải như sữa, cực vi phải biến đổi. Không phải như thợ đồ gốm, cực vi không thể siêng năng cần cù được. Cho nên tạo tác là không hợp lý. Cực vi tuy không thường trụ mà có kiếp sơ, khí thế gian v.v…, thụ dụng vật sinh sức tăng thượng nghiệp các hữu tình, nên không phải do cực vi. Vì vậy cực vi thường trụ là không hợp lý.

Lại nữa, chấp có thường giác là không hợp lý. Bởi vì sao?

Tụng nói:

Vô thường: chỗ dựa kia,

Lần lượt chuyển thành khác.

Vì các thụ v.v…khác,

Nên biết giác: vô thường.

Luận nói: Cái giác của nhãn thức v.v…là dựa vào vô thường mà nhãn v.v… khởi. Cho nên trong nghĩa của sắc v.v…lần lượt chuyển đổi. Chúng chuyển đổi nhiều tướng mạo khác nhau, nên các thụ như lạc v.v…, các hoặc như tham v.v…, các thiện tư vị như thí v.v… thành khác. Chi nên nơi một cái thường giác như vậy mà đổi khác là không hợp lý.

Vì nhân duyên gì hữu tình trong thế gian, tính vô thường là có mà không thủ chấp, tính thường trụ là không mà chấp đủ thứ vậy?

Tụng nói:

Với vô thường vô trí,

Bốn điên đảo căn bản.

Phải biết thế thượng tiến,

Sức ngu si chuyển tăng.

Luận nói: Bởi đối với vô thường vô trí khởi, nên thật có vô thường mà không thủ chấp, thật không tính thường mà sinh chấp đủ thứ. Chẳng phải chỉ có điên đảo đối với thường là do nguyên nhân vô trí, mà 4 điên đảo đều bởi vô trí làm căn bản. Bởi vì sao? Vì không biết như thật đối với vô thường. Đối với pháp vô thường khởi thường điên đảo, đối với khổ khởi lạc điên đảo, đối với bất tịnh khởi tịnh điên đảo, đối với vô ngã khởi ngã điên đảo. Do có nghĩa tuần tự như vậy, đức Bạc-già-phạm nói: “Nếu pháp là vô thường, pháp ấy chắc chắn là khổ. Nếu pháp là khổ, pháp ấy chắc chắn là vô ngã.” Phải biết do thế gian đạo khi tiến lên, bất đoạn vô trí dần tiến lên bậc trên. Đối với tính vô thường sức ngu si chuyển tăng lên. Bởi vì sao? Như trong cõi Dục phá hoại biến dịch và biệt ly v.v… các tướng vô thường hiện có thể biết được không có ở bậc trên. Lại nữa, vì nhân duyên gì khởi vô trí đối với tính vô thường?

Tụng nói:

Do phóng dật, giải đãi,

Kiến, ngu, thiếu tư lương,

Bạn xấu, phi chính pháp,

Đó là nhân vô trí.

Luận nói: Vô trí đối với vô thường có 7 nguyên nhân: 1. Phóng dật. 2. Giải đãi. 3. Đảo kiến. 4. Ngu muội. 5. Chưa tích tập nhiều Bồ-đề tư lương. 6. Do bạn xấu. 7. Nghe phi chính pháp. Bởi đối với cái lạc của cảnh giới với cái lạc của tĩnh lự, do khởi phóng dật nên không biết như thật cái tính vô thường. Giả sử không phóng dật mà giải đãi, giả sử không giải đãi mà đảo kiến, giả sử không đảo kiến mà ngu muội, giả sử không ngu muội mà chưa tích tập Bồ-đề tư lương, giả sử đã tu tập Bồ-đề tư lưong mà theo bạn xấu, lại nữa còn theo họ mà nghe phi chính pháp, cho nên đối với vô thường không biết được như thật.

Lại nữa, có nhân gì mà không rõ vô thường, vọng chấp thường chuyển?

Tụng nói:

Tác ý không như lý,

Nghĩ nhớ chuyện đời trước,

Tương tự tương tục chuyển,

Vô thường chấp là thường.

Luận nói: Do 2 nguyên nhân khởi chấp thường: 1. Do tác ý không như lý. 2. Do nghĩ nhớ việc đời trước. Do các việc đời trước tương tự tương tục chuyển, nên đối với các thế gian cũng chấp là thường trụ. Lại nữa, như trước đã nói tam hữu là tướng chứ chẳng phải chỉ có sát-na. Bởi vì sao?

Tụng nói:

Sinh trước sau và giữa,

Lấy tam hữu làm tướng.

Luận nói: Tam hữu làm tướng do chúng đồng phần gồm thu trong một đời. Nghĩa là khi sơ sinh lấy làm tướng sinh. Sau cùng khi chết lấy làm tướng diệt. Trong khoảng trung gian khi tương tục trụ lấy làm trụ dị. Như vậy thiết lập tam hữu làm tướng.

Tụng nói:

Vô thường trí điều phục,

Phải biết do 2 nhân.

Luận nói: Đối với tính vô thường do 2 thứ nhân nhập vào trí như thật: 1. Do niệm trụ. 2. Do duyên khởi. Do niệm trụ cho nên đối với các cảnh trói buộc, tâm khiến trụ. Do duyên khởi cho nên đạt tới pháp tính kia. Như trong kinh nói: “Thấy pháp tập khởi nơi thân niệm trụ.” Cho đến nói rộng.

Tụng nói:

Kia thấy có 6 thứ,

Và 4 thứ duyên khởi.

Luận nói: Phải biết có 6 thứ thấy tính vô thường: 1. Trí thế tục. Nghĩa là cho đến thuận quyết trạch phần vị. 2ư. Trí thắng nghĩa. Ngiã là cho đến xuất thế đạo vị. 3. Trí Thanh Văn. Nghĩa là trừ nghĩa vô tímh vô thường. 4. Trí Bồ-tát. Nghĩa là trong tất cả nghĩa vô thường. 5. Bất thiện thanh tịnh. Nghĩa là trí của 2 học kia. 6. Thiện thanh tịnh.

Nghĩa là trí của 2 vô học kia. Lại nữa, phải biết pháp duyên khởi có 4 thứ đạo lý. Những gì là 4?

Tụng nói:

Tự chủng: chẳng phải khác,

Đợi duyên: chẳng phải tự.

Vô tác nên chẳng chung,

Dụng nên chẳng vô nhân.

Luận nói: Do 4 đạo lý ngộ nhập tính vô thường. Nghĩa là các hành pháp không từ cái khác sinh, vì di tự chủng khởi. Cũng không phải tự sinh, vì đợi có ngoại duyên. Cũng chẳng phải câu sinh, vì đều vô tác. Cũng chẳng phải không có nhân, vì cả 2 kia đều có công dụng đối với sinh.

QUYỂN 14 HẾT

Did you find apk for android? You can find new Free Android Games and apps.