Want create site? Find Free WordPress Themes and plugins.

LUẬN HIỂN DƯƠNG THÁNH GIÁO
Vô Trước Bồ-tát tạo luận
Tam tạng pháp sư Huyền Trang dịch
Nguyên Hồng dịch tiếng Việt

 

QUYỂN 8

Phẩm 2- 4: NHIẾP TỊNH NGHĨA

Như vậy là đã nói xong phân biệt, văn, quy v.v…Nay tiếp.

Tụng nói:

Thánh hạnh vô thượng thừa,

Đại Bồ-đề công đức,

Dị luận luận pháp thích,

Nên biết có nhiều thứ.

Luận nói: Thánh hạnh có nhiều thứ , tức là có 4 thứ thánh hạnh: 1. Đáo bỉ ngạn hạnh. 2. Bồ-đề phần hạnh. 3. Thần thông hạnh. 4. Thanht thục hữu tình hạnh.

Đáo bỉ ngạn hạnh, nghĩa là như trước đã nói 10 Ba-la-mật-đa là hạnh đáo bỉ ngạn.

Bồ-đề phần hạnh, nghĩa là như trước đã nói 4 niệm trụ v.v…, tất cả 37 pháp giác phần và 4 thứ tầm tư, 4 thư như thật biến trí là hạnh Bồ-đề phần.

Thần thông hạnh, nghĩa là như trước đã nói 6 thứ thần thông gọi là hạnh thần thông.

Thành thục hữu tình hạnh, nghĩa là như trước đã nói 2 thứ vô lượng: một là chỗ điều phục vô lượng, hai là phương tiện điều phục vô lượng. Lại có 6 thứ thành thục: 1. Thành thục tự thể. 2. Đối tượng thành thục. 3. Thành thục sai biệt. 4. Phương btiện thành thục. 5. Người thành thục. 6. Tướng người đã thành thục. Như vậy gọi là hạnh thành thục hữu tình.

Vô thượng thừa có nhiều thứ, nghĩa là có 5 thứ Đại thừa: 1. Chủng tử. 2. Thú nhập. 3. Thứ đệ. 4. Chính hạnh. 5. Chính hạnh quả.

Như thứ đệ là chủng tính phẩm, phát tâm phẩm, trụ phẩm trong Bồ-tát địa. Các phẩm khác gồm trong Đại Bồ-đề thiết lập 2 phẩm.

Đại Bồ-đề có nhiều thứ, tức là 5 thứ Đại Bồ-đề: 1. Tự tính. 2. Công dụng. 3. Phương tiện. 4. Chuyển. 5. Diệt

Tự tính, nghĩa là vượt quá chỗ sở đắc chuyển y của Thanh Văn, Độc Giác. Đây có 4 thứ: 1. Sinh khởi y chỉ. 2. Bất sinh y chỉ. 3. Khéo quán sát biết quả. 5. Pháp giới tịnh tướng.

Sinh khởi y chỉ, nghĩa là Phật tương tục xuất thế gian đạo. Dựa vào đây chuyển y mới được sinh khởi phi bất sinh khởi. Nếu tách rời chuyển y này cũng sinh khởi, tức là đã sinh khởi trước khi chưa chuyển y.

Bất sinh y chỉ, nghĩa là tất cả phiền não và tập khí kia, dựa theo chuyển y này không sinh khởi trở lại. Nếu không như vậy, tức là các duyên hòa hợp trước khi chưa chuyển y. Tất cả phiền não và tập khí kia đã được vĩnh viễn không sinh trở lại.

Khéo quán sát sở tri quả, nghĩa là chuyển y này là khéo thông đạt quả của thật tế sở tri và chân như sở tri. Nếu không như vậy thì tự thể chư Phật phải liễu tri nữa, phải đoạn diệt nữa.

Pháp giới tịnh tướng, nghĩa là chuyển y này không có các tướng nên hiển lộ pháp giới cực thiện thanh tịnh. Nếu không như vậy thì phải là pháp vô thường có thể nghĩ bàn. Nhưng chuyển y này là tướng thường trụ không thể nghĩ bàn, không có 2 hiển lộ.

Tính không thể nghĩ bàn này lại có 5 thứ: 1. Tự tính. 2. Xứ sở. 3. Trụ. 4. Một tính khác tính. 5. Thành lập sở tác.

Tự tính, nghĩa là tính chuyển y này tức sắc ly sắc không thể nghĩ bàn. Cũng như vậy, tức thụ tưởng hành thức ly thụ tưởng hành thức không thể nghĩ bàn. Địa giới thủy giới hỏa giới phong giới hoặc tức hoặc ly không thể nghĩ bàn. Nhãn xứ nhĩ xứ tỹ xứ thiệt xứ thân xứ ý xứ , hoặc tức hoặc ly không thể nghĩ bàn, hoặc có hoặc không không thể nghĩ bàn.

Xứ sở, nghĩa là tính của chuyển y này, hoặc ở Dục giới hoặc ly Dục giới không thể nghĩ bàn. Hoặc ở Sắc Vô sắc giới hoặc ly Sắc Vô sắc giới không thể nghĩ bàn. Cõi người cõi trời hoặc ở hoặc lìa không thể nghĩ bàn. Mười phương thế giới hoặc ở hoặc lìa không thể nghĩ bàn.

Trụ, nghĩa là trụ của chuyển y này trạng mạo trụ an lạc như vậy như vậy là trụ không thể nghĩ bàn. Trạng mạo trụ Xa-ma-tha như vậy như vậy là trụ không thể nghĩ bàn. Trụ hữu tâm là trụ không thể nghĩ bàn. Trụ vô tâm là trụ không thể nghĩ bàn. Trạng mạo Thánh trụ như vậy là trụ không thể nghĩ bàn. Trạng mạo Thiên trụ, Phạm trụ như vậy như vậy là không thể nghĩ bàn.

Một tính khác tính, nghĩa là tất cả chư Phật đồng ở trong một cõi vô lậu, một tính khác tính không thể nghĩ bàn.

Thành lập sở tác, nghĩa là tính của chư Phật Như Lai là bình đẳng, trí tuệ, thế lực, oai đức bình đẳng, trụ cõi vô lậu y chỉ chuyển y, vì lợi ích tất cả hữu tình mà thành lập các việc lợi ích hữu tình như vậy như vậy không thể nghĩ bàn. Nên biết rằng đây lại có 2 nhân duyên nên không thể nghĩ bàn: Một vì nghĩa ly ngôn thuyết, vượt quá đường ngôn ngữ nên không thể nghĩ bàn. Hai vì nghĩa xuất thế gian, thế gian không có gì sánh ví nên không thể nghĩ bàn.

Công dụng, nghĩa là lược nói có 10 thứ tự tại gọi là công dụng. Những gì là 10? 1. Thọ mạng tự tại. 2. Tâm tự tại. 3. Mọi vật dụng tự tại. 4. Nghiệp tự tại. 5. Sinh tự tại. 6. Nguyện tự tại. 7. Thắng giải tự tại. 8. Thần biến tự tại. 9. Trí tự tại. 10. Pháp tự tại.

Phương tiện, là nói sơ lược có 4 thứ biến hóa gọi là phương tiện: 1. Người chưa thành thục thì khiến cho thành thục nên hiện các biến hóa của Bồ-tát. 2. Người đã thành thục thì khiến giải thoát nên đồng thời hiển hiện các biến hóa của Như Lai trong 2 ngàn Đại thiên thế giới, trăm câu-chi Thiệm-bộ châu. 3. Phương tiện nhiếp thụ biến hóa Thanh Văn. 4. Vì điều phục hữu tình, hiển hiện tất cả biến hóa của Độc Giác. Phật Bạc-già-phạm ở trong 4 pháp biến hóa này khởi tác dụng vô ngại trong 10 phương thế giới.

Chuyển, là có 2 thứ chuyển: một là chuyển tạm thời, hai là chuyển rốt ráo.

Chuyển tạm thời, là cho đến hữu tình chưa thành thục, chưa giải thoát chư Phật Như Lai chuyển hóa không nghỉ. Chuyển rốt ráo, là như vô tận không thể nghĩ bàn, oai đức chư Phật minh chuyển, vì các hữu tình làm việc lợi ích lưu chuyển không nghỉ.

Diệt, có 2 thứ: một là diệt tạm thời, hai là diệt rốt ráo.

Diệt tạm thời, là đối với các hữu tình đã thành thục, đã giải thoát chư Phật Như Lai tạm thời thị hiện nhập Niết-bàn chứ chẳng phải cứu cánh.

Diệt rốt ráo, là tất cả phiền não và tập khí kia và sở y khổ đều vĩnh viễn hết rốt ráo.

Công đức có nhiều thứ, là Ôn-đà- nam nói:

Đặc thù chẳng đặc thù,

Tâm bình đẳng lợi ích.

Báo ân và hân tán,

Chẳng luống hành phương tiện.

Luận nói: Đặc thù, nghĩa là khi Bồ-tát tu học vô thượng chính đẳng giác thừa, có 5 pháp đặc thù cần phải biết. Những gì là 5? 1. Đối với tất cả hữu tình chẳng phải có nhân duyên mà khởi thân ái. 2. Chỉ vì lợi ích các hữu tình nên thường ở trong lưu chuyển nhịn chịu khổ lớn. 3. Đối với hữu tình nhiều phiền não khó điều phục, khéo hiểu rõ phương tiện điều phục. 4. Đối với nghĩa lý chân thật rất khó hiểu, có thể tùy theo đó ngộ nhập. 5. Đầy đủ oai đức không thể nghĩ bàn. Năm pháp như vậy chẳng phải các hữu tình khác cũng chung có, cho nên gọi là đặc thù.

Phi đặc thù, nghĩa là khi Bồ-tát tu học vô thượng chính đẳng giác thừa, có 5 thứ pháp phi đặc thù. Bồ-tát Ma-ha-tát do thành tựu 5 thứ pháp này thì 5 thứ pháp đặc thù thành tựu hiển hiện. Những gì là 5? Nghĩa là các Bồ-tát lấy cái nhân lợi tha khổ, tức là mình vui. Vì vậy cho nên Bồ-tát hằng đi khắp làm lợi tha khổ. Đó là pháp phi đặc thù thứ nhất. Lại các Bồ-tát tuy hiểu rõ tội lỗi và công đức của sinh tử Niết-bàn, mà muốn khiến hữu tình rốt ráo thanh tịnh, tức là mình vui. Cho nên Bồ-tát vì làm thanh tịnh sức tăng thượng của hữu tình nên hằng thề chịu hành xứ trong pháp sinh tử. Đó gọi là pháp phi đặc thù thứ hai. Lại các Bồ-tát tuy hiểu rõ niềm vui là mặc nhiên, mà muốn khiến hữu tình rốt ráo thanh tịnh tức là niềm vui của mình. Cho nên Bồ-tát vì làm sức tăng thượng thanh tịnh cho hữu tình hằng dùng phương tiện vì chúng hữu tình thuyết pháp. Đó gọi là pháp phi đặc thù thứ ba. Lại các Bồ-tát tuy đã tích tập thiện căn của 6 Ba-la-mật-đa, mà muốn khiến hữu tình rốt ráo thanh tịnh, tức là mình vui. Cho nên Bồ-tát vì làm sức tăng thượng thanh tịnh cho hữu tình mà đem ý thanh tịnh mà thí cho chúng, cũng không hẹn thí quả dị thục đến bao giờ. Đó gọi là pháp phi đặc thù thứ tư. Lại các Bồ-tát lấy việc làm lợi tha tức là tự lợi. Cho nên Bồ-tát thường hiện làm các việc lợi ích hữu tình. Đó gọi là pháp phi đặc thù thứ năm. Bồ-tát Ma-ha-tát do thành tựu 5 thứ pháp này, nên 5 thứ pháp đặc thù thành tựu hiển hiện.

Tâm bình đẳng, nghĩa là các Bồ-tát đối với tất cả hữu tình có 5

thứ tâm bình đẳng: 1. Bồ-tát Ma-ha-tát lúc mới phát tâm, vì được Đại Bồ-đề nên khởi đại thệ nguyện. Như vậy cũng vì lợi ích các hữu tình nên khởi tâm bình đẳng. 2. Bồ-tát Ma-ha-tát đối với các hữu tình khởi tâm thương yêu bình đẳng. 3. Bồ-tát Ma-ha-tát đối với các hữu tình khởi tâm bình đẳng yêu tất cả như một con. 4. Bồ-tát Ma-ha-tát đối với các hữu tình, theo các duyên đã sinh các hạnh, biết các việc hữu tình tưởng rồi hiểu rõ một pháp tính hữu tình tức là tất cả pháp tính hữu tình, nên đối với tất cả hữu tình khởi tâm bình đẳng pháp tính trí. 5. Bồ-tát Ma-ha-tát làm hạnh lợi ích đối với một hữu tình, thì cũng làm hạnh lợi ích đối với tất cả hữu tình như vậy. Cho nên đối với tất cả hữu tình đều có tâm muốn làm lợi ích bình đẳng. Như vậy gọi là Bồ-tát Ma-ha-tát khởi 5 thứ tâm bình đẳng đối với các hữu tình.

Lợi ích, nghĩa là Bồ-tát Ma-ha-tát đối với các hữu tình làm tất cả việc lợi ích, có 5 thứ tướng. Những gì là 5? 1. Đối với việc làm sai trái, tổn hại thì nói pháp chính mạng mà dắt dẫn chúng. 2. Đối với sự không tùy thuận những việc lợi ích thì nói pháp tùy thuận mà dắt dẫn chúng. 3. Đối với chúng nghèo khổ không nơi nương tựa thì vì chúng làm nơi nương tựa mà dắt dẫn chúng. 4. Giảng nói hướng về nẻo thiện mà dắt dẫn chúng. 5. Giảng nói 3 thừa hướng đến Niết-bàn mà dắt dẫn chúng.

Báo ân, nghĩa là Bồ-tát đối với hữu tình có ân, khởi 5 thứ lợi ích báo đáp. Những gì là 5? 1. Tạo nơi an ổn cho hữu tình khiến học tập cái đức của mình. 2. Tạo nơi an ổn phương tiện khiến học tập cái đức của người khác. 3. Làm nơi nương cậy cho người nghèo khổ không nơi nương tựa. 4. Khuyến khích cúng dường chư Phật Như Lai. 5. Khiến tự sao chép những thuyết pháp của Phật và thụ trì cúng dường.

Hân tán, nghĩa là có 5 thứ Bồ-tát Ma-ha-tát thường phải vui mừng ngợi khen. Những gì là 5? 1. Gặp Phật ra đời và được phụng sự. 2. Ở nơi Như Lai thường nghe Ba-la-mật-đa tương ưng với pháp tạng của Bồ-tát. 3. Kham nhiệm tu tập hạnh thành thục tất cả hữu tình. 4. Mau chứng vô thượng chính đẳng Bồ-đề. 5. Chứng Bồ-đề rồi đại chúng Bồ-tát Thanh Văn hòa hợp.

Không luống hành phương tiện, nghĩa là Bồ-tát Ma-ha-tát đối với các hữu tình có 5 thứ không làm cho các phương btiện thắng hạnh trở thành trống rỗng vô ích. Những gì là 5? 1. Bồ-tát Ma-ha-tát đối với các hữu tình lấy ý an lạc lợi ích làm đầu. 2. Bồ-tát Ma-ha-tát thành tựu giác ngộ không điên đảo, hiểu rõ như thật việc lợi ích an lạc. 3. Dùng phương tiện tùy nghi nói các pháp khiến các hữu tình tùy chỗ kham nhiệm đều được điều phục. Đây chỉ Như Lai là kham năng rốt ráo. 4. Bồ-tát Ma-ha-tát đối với mọi lúc tâm không mỏi mệt. 5. Bồ-tát Ma-ha-tát lòng đại bi bình đẳng, đối với hạ trung thượng các hữu tình tâm không thiên lệch. Lại nữa, Ôn-đà-nam nói:

Phương tiện không điên đảo,

Thoái đọa và thắng tiến,

Tương tự thật công đức,

Khéo điều phục hữu tình.

Luận nói: Phương tiện không điên đảo, nghĩa là Bồ-tát Ma-hatát có 5 thứ phương tiện gồm tất cả chính phương tiện. Những gì là 5? 1. Phương tiện tùy hộ. 2. Phương tiện không lỗi. 3. Phương tiện chọn sức. 4. Phương tiện tịnh thắng ý lạc. 5. Phương tiện nhập quyết định.

Phương tiện tùy hộ, nghĩa là Bồ-tát Ma-ha-tát khéo bảo hộ sự thông minh sáng suốt, dùng trí câu sinh mau nhiếp thụ pháp. Lại khéo bảo hộ ức niệm. Do ức niệm nên các pháp đã nhiếp thụ được gìn giữ không quên mất. Lại khéo bảo hộ trí tuệ. Do trí tuệ nên đối với các pháp đã nhiếp thụ khéo quán sát nghĩa, thông đạt chính tuệ. Do nhân viễn ly, tùy thuận, thông minh sáng suốt, ức niệm, trí tuệ, thoái phần, và do nhân thân cận, tu tập, tùy thuận, trụ phần, thắng phần. Lại khéo bảo hộ tự tâm do khéo phòng hộ các căn môn. Lại khéo bảo hộ tha tâm, do chính phương tiện bảo hộ tha tâm.

Phương tiện không lỗi, nghĩa là Bồ-tát Ma-ha-tát đối với các thiện pháp, dũng mãnh không điên đảo, vô lượng vô gián hồi hướng Bồ-đề.

Phương tiện chọn sức, nghĩa là ở đây tất cả trụ trong thắng giải hạnh địa.

Phương tiện tịnh thắng ý lạc, nghĩa là trụ tịnh thắng ý lạc địa và hành chính hạnh địa.

Phương tiện nhập quyết định, nghĩa là trụ quyết định địa, quyết định hành địa đến cứu cánh địa.

Như vậy 5 thứ phương tiện gồm thâu tất cả chính phương tiện của Bồ-tát.

Thoái đọa, nghĩa là 5 pháp thoái phần của Bồ-tát: 1. Không kính chính pháp và người thuyết pháp. 2. Phóng dật biếng nhác. 3. Tập cận phiền não. 4. Tập cận ác hạnh. 5. So sánh hơn kém với các Bồ-tát khác khởi tăng thượng mạn, và điên đảo đối với các pháp khởi tăng thượng mạn.

Thắng tiến, nghĩa là 5 pháp thắng phần của Bồ-tát. Tức như thứ lớp nghịch lại của 5 thứ hắc phẩm ở trước.

Công đức tưong tự, tức là 5 thứ công đức tương tự của Bồ-tát, phải biết thật tức là tội lỗi: 1. Ở nơi các hữu tình bạo ác phạm giới, vì nhân duyên đó làm không lợi ích. 2. Trá hiện oai nghi đầy đủ. 3. Theo thế gian trau chuốt văn từ và các pháp tương ưng với sách ngoại đạo, được dự vào hàng người trí, người thông minh sáng suốt. 4. Thí v.v…các thiện hạnh tu hành có tội. 5. Giảng nói lập lên chính pháp tương tự, lưu bố rộng rãi.

Thật công đức, là 5 thứ công đức chân thật của Bồ-tát: 1. Ở nơi hữu tình bạo ác phạm giới, do nhân duyên đó khởi bi tâm tăng thượng. 2. Tự tính đầy đủ oai nghi. 3. Với những pháp Như Lai đã nói thanh tịnh chân thật, hoặc dạy hoặc chứng đắc, dự trong sôd người trí, người thông minh sáng suốt. 4. Thí v.v… các thiện hạnh, tu tập không tội. 5. Khai thị chính pháp, ngăn chận pháp tương tự kia.

Khéo điều phục hữu tình, nghĩa là các Bồ-tát lược có 10 nơi giáo hóa hữu tình điều phục không điên đảo: 1. Nơi lìa ác hạnh. . Nơi lìa ái dục. 3. Nơi không có vi phạm, vi phạm rồi đã xuất. 4. Nơi thủ hộ tất cả căn môn. 5. Nơi trụ ở chính tri. 6. Nơi lìa náo loạn. 7. Nơi xa lìa tất cả ác tầm tư. 8. Nơi lìa chướng. 9. Nơi lìa phiền não trói buộc. 10. Nơi lìa phiền não phẩm thô nặng. Lại nữa Ôn-đà-nam nói:

Các Bồ-tát thụ ký,

Rơi vào số quyết định,

Định làm, thường phải làm,

Phải biết pháp tối thắng.

Luận nói: Các Bồ-tát thụ ký, nghĩa là các Bồ-tát trong 6 vị mong nhờ chư Như Lai thụ vô thượng chính đẳng Bồ-đề ký: 1. Ở chủng tính vị chưa phát tâm Bồ-đề. 2. Đã phát tâm Bồ-đề. 3. Hiện tiền trụ. 4. Không hiện tiền trụ. 5. Có thời hạn, nghĩa là bằng với thời gian ấy sẽ chứng vô thượng chính đẳng Bồ-đề. 6. Không thời hạn, nghĩa là không nói nhất định thời hạn.

Rơi vào số quyết định, nghĩa là các Bồ-tát có 3 loại vào quyết định vị: 1. Chủng tính vào quyết định. 2. Phát tâm vào quyết định. 3. Không thực hành trống rỗng vào quyết định.

Chủng tính vào quyết định, nghĩa là các Bồ-tát trụ chủng tính vị, liền vào số quyết định. Bởi vì sao? Do các Bồ-tát thành tựu chủng tính, nếu gặp thắng duyên, quyết định kham nhiệm chứng A-nậu-đala Tam-miệu Tam-bồ-đề.

Phát tâm vào quyết định, nghĩa là các Bồ-tát khởi tâm quyết định đối với A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề cho đến chứng vô thượng chính đẳng giác không thoái chuyển nữa.

Không thực hành trống rỗng vào quyết định, nghĩa là các Bồ-tát đã được tự tại, tùy chỗ muốn mà tu theo đó, các Bồ-tát tu hành không luống qua một cách vô ích. Dựa vào đó cuối cùng vào quyết định vị. Cho nên Như Lai vì các Bồ-tát thụ vào quyết định ký.

Định làm, nghĩa là các Bồ-tát quyết định phải làm 5 chỗ. Nếu không làm chắc chắn không thể chứng vô thượng chính đẳng Bồ-đề. Những gì là 5? 1. Phát tâm Bồ-đề. 2. Đối với các hữu tình khởi tâm lân mẫn. 3. Dũng mạnh tinh cần. 4. Phương tiện tu tập ngũ minh. 5. Tâm không mệt mỏi.

Thường phải làm, nghĩa là Bồ-tát thường phải làm và tu 5 chỗ: 1. Thường phải tu hành không phóng dật. 2. Làm chỗ nương cậy cho hữu tình khổ não không nơi nương tựa. 3. Thường phải tu hành cúng dường Phật. 4. Thường phải biết khắp chỗ sai lầm không sai lầm. 5. Đối với những gì đã làm, hoặc đi hoặc đứng, trng các tác ý thường phải tu hsnhf, lấy tâm Đại Bồ-đề làm dẫn đầu.

Pháp tối thắng, nghĩa là các Bồ-tát đối với 10 thứ đồng ý tối thắng pháp, phải thụ trì, phải xây dựng làm trên hết. Những gì là 10? 1. Chủng tính Bồ-tát đối vois các chủng tính là vượt trội hơn cả. 2. Sơ phát tâm Bồ-đề đối với các chính nguyện là vượt trội hơn cả. 3. Chính cân Bát-nhã đối với tất cả độ là vượt trội hơn cả. 4. Ái ngữ đối với các nhiếp pháp là vượt trội hơn cả. 5. Như Lai đối với các hữu tình là vượt trội hơn cả. 6. Bi đối với các vô lượng là vượt trội hơn cả. 7. Tĩnh lự thứ tư đối với các tĩnh lự là vượt trội hơn cả. 8. Không Tam-ma-địa đối với 3 Tam-ma-địa là vượt trội hơn cả. 9. Diệt tận định đối với 9 thứ lớp của định là vượt trội hơn cả. 10. Thanh tịnh phương tiện thiện xảo đối với các phương tiện thiện xảo là vượt trội hơn cả. Lại nữa Ôn-đà-nam nói:

Các thi thiết kiến lập,

Tất cả pháp tầm tư,

Và như thật biến trí,

Cùng với các vô lượng,

Tuyên thuyết quả lợi ích,

Tính Đại thừa và nhiếp,

Bồ-tát 10 phải biết,

Thiết lập các danh hiệu.

Luận nói: Các thi thiết kiến lập, nghĩa là 4 thứ thi thiết kiến lập của các Bồ-tát chỉ có Như Lai và các Bồ-tát là có thể thi thiết kiến lập đúng. Chứ không phải tất cả trời, người, Sa-môn, Bà-la-môn có thể thi thiết kiến lập được, trừ ra là trộm lấy Phật pháp đem vào trong luận của mình. Những gì là 4? 1. Pháp thi thiết kiến lập. 2. Đế thi thiết kiến lập. 3. Đạo lý thi thiết kiến lập. 4. Thừa thi thiết kiến lập.

Pháp thi thiết kiến lập, nghĩa là Tố-đát-lãm v.v… 12 phần giáo theo thứ tự soạn tập, thứ tự đặt để, thứ tự chế tác. Như vậy gọi là pháp thi thiết kiến lập.

Đế thi thiết kiến lập, nghĩa là hoặc lập 1 đế với nghĩa không hư vọng, chỉ có một không có hai. Hoặc lập 2 đế là: 1. Thế tục đế. 2. Thắng nghĩa đế. Hoặc lập 3 đế là: 1. Tướng đế. 2. Thuyên đế. 3. Dụng đế. Hoặc lập 4 đế là: 1. Khổ đế. 2. Tập đế. 3. Diệt đế. 4. Đạo đế. Hoặc lập 5 đế là: 1. Nhân đế. 2. Quả đế. 3. Năng tri đế. 4. Sở tri đế. 5. Bất nhị đế. Hoặc lập 6 đế là: 1. Chân đế. 2. Vọng đế. 3. Ưng tri đế. 4. Ưng đoạn đế. 5. Ưng chứng đế. 6. Ưng tu đế. Hoặc lập 7 đế là: 1. Ái vị đế. 2. Quá hoạn đế. 3. Xuất ly đế. 4. Pháp tính đế. 5. Thắng giải đế. 6. Thánh đế. 7. Phi thánh đế. Hoặc lập 8 đế là: 1. Hành khổ đế. 2. Hoại khổ đế. 3. Khổ khổ đế. 4. Lưu chuyển đế. 5. Lưu tức đế. 6. Tạp nhiễm đế. 7. Thanh tịnh đế. 8. Chính phương tiện đế. Hoặc lập 9 đế là: 1. Vô thường đế. 2. Khổ đế. 3. Không đế. 4. Vô ngã đế. 5. Hữu ái đế. 6. Vô hữu ái đế. 7. Bỉ đoạn phương tiện đế. 8. Hữu dư y Niết-bàn đế. 9. Vô dư y Niết-bàn đế. Hoặc lập 10 đế là: 11. Bức thiết khổ đế. 2. Sở thụ dụng bất cụ túc khổ đế. 3. Ba cõi tính trái nghịch khổ đế. 4.

Ái hoại khổ đế. 5. Thô trọng khổ đế. 6. Nghiệp đế. 7. Phiền não đế. 8. Thính văn chính pháp như lý tác ý đế. 9. Chính kiến đế. 10. Chính kiến quả đế. Như vậy gọi là Bồ-tát đế thi thiết kiến lập. Phải biết nếu phân biệt rộng thì vô lượng.

Đạo lý thi thiết kiến lập, có 4 thứ đạo lý: 1. Quán đãi đạo lý. 2. Tác dụng đạo lý. 3. Chứng thành đạo lý. 4. Pháp nhĩ đạo lý. Đó gọi là Đạo lý thi thiết kiến lập.

Thừa thi thiết kiến lập, là Thanh Văn, Độc Giác, vô thượng Đại thừa đều có 7 thứ thi thiết kiến lập.

Bảy thứ thi thiết kiến lập của Thanh Văn thừa, là: 1. Các tuệ không điên đảo đối với 4 thành đế. 2. Sở y của tuệ này. 3. Sở duyên của tuệ này. 4. Bạn loại của tuệ này. 5. Tuệ tác nghiệp. 6. Tư lương trợ giúp tuệ. 7. Tuệ chứng quả. Độc Giác thừa cũng có 7 thứ thi thiết kiến lập như Thanh Văn thừa vậy.

Bảy thứ thi thiết kiến lập của vô thượng Đại thừa là: 1. Tuệ duyên ly ngôn thuyết, bình đẳng xuất ly tất cả pháp, chân như không phân biệt. 2. Sở y của tuệ này. 3. Sở duyên của tuệ này. 4. Bạn loại của tuệ này. 5. Tuệ tác nghiệp. 6. Tư lương trợ giúp tuệ. 7. Tuệ chứng quả. Đó gọi là 7 thứ thi thiết kiến lập của 3 thừa. Như thế, 3 đời chư Phật Bồ-tát đều do 4 thứ chính thi thiết kiến lập không tăng không giảm.

Nhất thiết pháp tầm tư, nghĩa là các Bồ-tát đối với tất cả pháp vì muốn chứng được như thật biến trí mà khở 4 tầm tư suy tìm, như trước đã nói.

Các vô lượng, nghĩa là các Bồ-tát dựa vào 5 vô lượng có thể khởi tát cả tác dụng thiện xảo. Những gì là 5? 1. Hữu tình giới vô lượng. 2. Thế giới vô lượng. 3. Pháp giới vô lượng. 4. Sở điều phục giới vô lượng. 5. Điều phục phương tiện giới vô lượng.

Hữu tình giới vô lượng, là 64 thứ chúng hữu tình: 1. Na-lạcca. 2. Bàng sinh. 3. Quỷ. 4. Trời. 5. Người. 6. Sát-đế-lị. 7. Bà-lamôn. 8. Phệ-xá. 9. Thú-đạt-la. 10. Nữ. 11. Nam. 12. Phi nam phi nữ. 13. Hạ phẩm. 14. Trung phẩm. 15. Thượng phẩm. 16. Tại gia. 17. Xuất gia. 18. Khổ hạnh. 19. Luật nghi. 20. Bất luật nghi. 21. Phi luật nghi phi bất luật nghi. 22. Đã ly dục. 23. Chưa ly dục. 24. Tà địng tụ. 25. Chính định tụ. 26. Bất định tụ. 27. Bí-sô. 28. Bí-sô-ni. 29. Thức-xoa-ma-na. 30. Cần sách nam. 31. Cần sách nữ. 32. Ô-basách-ca. 33. Ô-ba-tư-ca. 34. Người tập Tam-ma-địa. 35. Người ôn tụng kinh. 36. Người săn sóc người bệnh. 37. Trưởng lão tôn túc.

38. Trung niên. 39. Thiếu niên. 40. A-giá-lị-da. 41. Ô-ba-đà-da. 42. Cộng trụ. 43. Cận trụ. 44. Khách khứa. 45. Trông coi việc tăng sự. 46. Người thích lợi dưỡng. 47. Người thích được cung kính.

48. Người thích viễn ly. 49. Người học hỏi nhiều. 50. Người có trí. 51. Người có phúc lớn. 52. Người hành động theo pháp. 53. Người trì kinh. 54. Người trì luật. 55. Người trì luận. 56. Người dị sinh.

57. Người kiến đế. 58. Người còn học. 59. Người không còn học. 60. Thanh Văn. 61. Độc Giác. 62. Bồ-đề-tát-đỏa. 63. Chuyển luân thánh vương. 64. Như Lai. Nếu dựa vào thân mà tiếp tục sai biệt thì vô lượng vô biên.

Thế giới vô lượng, là 10 phương vô lượng thế giới vô lượng tên khác nhau. Như thế giới này tên là Sách-ha. Phạm vương cõi này gọi là Sách-ha chủ. Có vô lượng sai biệt như vậy.

Pháp giới vô lượng, là có vô lượng sai biệt môn như thiện pháp, bất thiện pháp, vô ký pháp v.v…

Sở điều phục giới vô lượng, là hoặc lập một thứ để điều phục, nghĩa là trong tất cả hữu tình có một loại có thể điều phục. Hoặc lập ra 2 thứ, một là cụ phược hai là bất cụ phược. Hoặc lập 3 thứ: 1. Độn căn. 2. Trung căn. 3. Lợi căn. Hoặc lập 4 thứ: 1. Sát-đế-lị. 2. Bà-la-môn. 3. Phệ-xá. 4. Thú-đạt-la. Hoặc lập 5 thứ: 1. Tham hành.

2. Sân hành. 3. Si hành. 4. Mạn hành. 5. Giác hành. Hoặc lập 6 thứ:

1. Tại gia. 2. Xuất gí. 3. Thành thục. 4. Chưa thành thục. 5. Giải thoát. 6. Chưa giải thoát. Hoặc lập 7 thứ: 1. Tin kính. 2. Khinh chê. 3. Trung dung. 4. Nói rộng. 5. Lược khai trí. 6. Thường điều phục. 7. Tùy duyên.

Sở dẫn, nghĩa là gặp duyên như vậy như vậy thì chuyển biến như vậy như vậy. Hoặc lập 8 thứ, gọi là bát bộ chúng từ Sát-đế-lị chúng cho đến Phạm chúng. Hoặc lập 9 thứ: 1. Như Lai sở hóa. 2. Thanh Văn sở hóa. 3. Độc Giác sở hóa. 4. Bồ-tát sở hóa. 5. Khó điều phục. 6. Dễ điều phục. 7. Nói nhỏ nhẹ mà điều phục. 8. Quở trác trục xuất mà điều phục. 9. Hoặc xa hoặc gần điều phục. Hoặc lập 10 thứ: 1. Na-lạc-ca. 2. Bàng sinh. 3.Quỷ. 4. Trời cõi Dục. 5. Người. 6. Trung hữu. 7. Sắc hữu, 8. Vô sắc hữu. 9. Hữu tưởng vô tưởng. 10. Phi hữu tưởng phi vô tưởng. Như vậy là lược nói 55 thứ. Nếu dựa vào tương tục sai biệt thì có vô lượng.

Hỏi: Cõi hữu tình vô lượng, cõi phải điều phục vô lượng, có gì khác nhau?

Đáp: Cõi hữu tình là không khác nhau, tất cả hữu tình dù có chủng tính hay không chủng btính. Cõi phải điều phục thì chỉ có các chủng tính khác nhau.

Điều phục phương tiện giới vô lượng, như trước đã nói. Đây cũng có vô lượng thứ phân biệt khác nhau.

Hỏi: Vì sao chỉ lược nói 5 thứ vô lượng này?

Đáp: Các Bồ-tát Ma-ha-tát vì chuyên tu tập hạnh lợi ích chúng sinh, nên trước tiên lập hữu tình giới vô lượng. Các hữu tình này dựa vào xứ sở mà được hóa độ. Vì vậy thứ hai lập thế giới vô lượng. Các hữu tình này ở nhiều thế giới, do nhiều thứ pháp khác nhau mà được sự nhiễm tịnh khác nhau. Vì vậy cho nên thứ ba lập pháp giới vô lượng. Quán trong hữu tình những hạng có khả năng rốt ráo giải thoát khổ nên thiết lập thứ tư sở điều phục giới vô lượng. Nếu các phương tiện thiện xảo có thể khiến hữu tình chứng giải thoát, thì thiết lập thứ năm điều phục phương tiện giới vô lượng. Vì vậy cho nên các Bồ-tát Ma-ha-tát dựa vào 5 vô lượng này có thể khởi tất cả tác dụng thiện xảo.

Tuyên thuyết quả lợi ích, nghĩa là các Bồ-tát Ma-ha-tát vì các hữu tình tuyên thuyết chính pháp, có 5 thứ quả lợi ích rộng lớn. Những gì là 5? 1. Hoặc có hữu tình khi nghe thuyết chính pháp, xa lìa trần cấu, trong các pháp được sinh pháp nhãn. 2. Hoặc có hữu tình ngay khi nói chính pháp này được hết các lậu. 3. Hoặc có hữu tình nhân nói pháp này phát tâm vô thượng chính đẳng giác. 4. Hoặc có hữu tình nghe nói pháp này liền được tối thắng pháp nhẫn của Bồ-tát. 5. Hoặc có hữu tình nghe Phật Bồ-tát thuyết chính pháp rồi thụ trì tu hành lần hồi giảng nói, khiến chính pháp nhãn tồn tại lâu dài không diệt mất. Đó gọi là 5 thứ tuyên thuyết quả lợi ích rộng lớn

Đại thừa tính, nghĩa là Bồ-tát thừa tương ưng với 7 đại tính nên gọi Đại thừa. Những gì là 7? 1. Pháp đại tính, nghĩa là trong 12 phần giáo, Bồ-tát tạng bao gồm giáo pháp Phương quảng. 2. Phát tâm đại tính, nghĩa là đã pháp tâm vô thượng chính đẳng giác. 3. Thắng giải đại tính, nghĩa là đối với pháp trước đã nói, đại tính cảnh khởi tin hiểu tốt. 4. Thắng ý lạc đại tính, nghĩa là đã vượt quá thắng giải hạnh địa, nhập tịnh thắng ý lạc địa. 5. Tư lương đại tính, nghĩa là đã thành tựu phúc trí 2 thứ đại tư lương cho nên có thể chứng vô thượng chính đẳng Bồ-đề. 6. Thời đại tính, nghĩa là thời gian 3 đại kiếp A-tăng-xí-da có thể chứng vô thượng chính đẳng Bồ-đề. 7. Thành mãn đại tính, đây tức là vô thượng chính đẳng Bồđề. Đây là thành tựu viên mãn tự thể của Bồ-đề. So với các thành mãn tự thể khác thì không có cái gì có thể so sánh được. Huống chi trong đây còn vượt hơn pháp đại tính và thời đại tính. Phải biết 6 thứ này là nhân của thành mãn đại tính, còn một thành mãn đại tính là quả của 6 thứ trước.

Nhiếp, là có 8 pháp có thể gồm thâu đầy đủ tất cả Đại thừa: 1. Giáo pháp của Bồ-tát tạng. 2. Giáo pháp hiển thị nghĩa chân thật trong Bồ-tát tạng. 3. Giáo pháp hiển thị oai đức tối thắng quảng đại thậm thâm không thể nghĩ bàn của tất cả chư Phật Bồ-tát trong Bồ-tát tạng. 4. Như lý lắng nghe những điều như trên đã nói. 5. Trước tiên như lý tư duy về thắng ý lạc. 6. Được thắng ý lạc bắt đầu nhập vào tu hành. 7. Do nhập tu hành làm trước nên quả tu hành thành tựu. 8. Do quả tu hành thành tựu nên cứu cánh xuất ly. Bồ-tát Ma-ha-tát do tu học như vậy chứng được vô thượng chính đẳng Bồ-đề.

Bồ-tát, phải biết có 10, nghĩa là tu học như vậy có thể chứng vô thượng chính đẳng Bồ-đề. Phải biết Bồ-tát sơ lược có 10 thứ: 1. An trụ chủng tính. 2. Nhập vào. 3. Bất tịnh thắng ý lạc. 4. Tịnh thắng ý lạc. 5. Chưa thành thục. 6. Đã thành thục. 7. Chưa được quyết định. 8. Đã được quyết định. 9. Một đời sở hệ. 10. Trụ hậu hữu sau cùng.

Trong đây Bồ-tát an trụ chủng tính, nếu phương tiện tu học phát tâm Bồ-đề thì gọi là nhập vào. Đã nhập vào rồi, cho đến chưa nhập tịnh thắng ý lạc địa thì gọi là bất tịnh thắng ý lạc. Nếu được nhập thì gọi là tịnh thắng ý lạc, tức Bồ-tát tịnh thắng ý lạc. Cho đến chưa nhập đến cứu cánh địa thì gọi là chưa thành thục. Nếu được nhập thì gọi là đã thành thục. Tức là trong khi chưa thành thục cho đến chưa nhập quyết định hành địa thì gọi là bất quyết định. Nếu được nhập thì gọi là được quyết định. Trong khi đã thành thục lại có 2 thứ: Một là nhất sinh sở hệ, nghĩa là sau đời này thì chứng đắc A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề ngay không gián đoạn. Hai là trụ hậu hữu sau cùng, nghĩa là tức ngay trong đời này chứng đắc vô thượng chính đẳng Bồ-đề. Như vậy từ trụ chủng tính cho đến vô thượng chính đẳng Bồ-đề, như trước đã nói, 10 thứ Bồ-tát này bao gồm tất cả Bồ-tát. Như trước đã nói học xứ của Bồ-tát bao gồm hết tất cả học xứ của Bồ-tát.

Thiết lập các danh hiệu, nghĩa là các Bồ-tát không có sai biệt, tùy theo đức mà gọi các tên. Như gọi nào là Bồ-đề-tát-đỏa, Ma-hatát-đỏa, thành tựu giác tuệ, tối thượng minh chiếu, tối thắng chi tử, tối thắng sở y, tối thắng sở sử, tối thắng manh nha, cũng gọi dũng kiện, cũng gọi thượng quỹ phạm sư, cũng gọi thương chủ, cũng gọi cụ đại danh xưng, cũng gọi thành tựu từ bi, cũng gọi đại phúc, cũng gọi phú tự tại, cũng gọi đại pháp sư. Như vậy trong 10 phương vô biên thế giới, y vào vô lượng nội đức khác nhau mà thiết lập vô lượng danh hiệu. Trong đó nếu các Bồ-tát tự xưng ta là Bồ-tát mà không siêng tu các học xứ của Bồ-tát.Phải biết đó là tương tự Bồ-tát chẳng phải thật Bồ-tát. Nếu chư Bồ-tát tự xưng Bồ-tát, cũng phài siêng tu học xứ của Bồ-tát. Phải biết thế mới là chân thật Bồ-tát.

QUYỂN 8 HẾT

Did you find apk for android? You can find new Free Android Games and apps.