LUẬN
ĐẠI TRÍ ĐỘ

Nguyên tác: Bồ tát Long Thọ
Hán dịch: Pháp sư Cưu Ma La Thập
Việt dịch: Tỳ kheo ni THÍCH NỮ DIỆU KHÔNG

 

TẬP V
QUYỂN 93

Phẩm thứ tám mươi hai
(tiếp theo)
Tịnh Phật Quốc Độ
(tiếp theo)

KINH:

Lại nữa, này Tu Bồ Đề ! Bồ Tát còn chấp tướng sắc. tướng thọ, tưởng, hành, thức, tướng nhãn, nhỉ tỷ, thiệt, thân, ý, tướng sắc, thanh, hương, vị, xúc Pháp, tướng nam, tướng nữ, tướng cõi Dục, tướng cõi Sắc, tướng cõi Vô Sắc, tướng thiện pháp, tướng bất thiện pháp, tướng hữu vi, tướng vô vi v.v… thì cũng gọi là thô nghiệp của Bồ Tát.

Bồ Tát phải xa rời các tướng ấy mà bố thí, cũng dạy người khác bố thí, rồi đem công đức bố thí để dạy cùng với hết thảy chúng sanh đồng hồi hướng tịnh Phật quốc độ.

Bồ Tát đem trân bảo cúng dường Tam Bảo, phát nguyện rằng, “Do nhân duyên thiện căn này, mà quốc độ của tôi sau này cũng sẽ được thành tựu bảy báu”.

Lại nữa, này Tu Bồ Đề ! Bồ Tát đem kỹ nhạc trời cúng dường Phật và tháp Phật, phát nguyện rằng, “Do nhân duyên thiện căn này, mà quốc độ của tôi sau này cũng thường được nghe nhạc trời như vậy”.

Lại nữa, này Tu Bồ Đề ! Bồ Tát đem hương trời cúng dường Phật và tháp Phật, phát nguyện rằng. “Do nhân duyên thiện căn này, mà quốc độ của tôi sau này cũng thường được hưởng hương trời như vậy”.

Lại nữa, này Tu Bồ Đề ! Bồ Tát đem cả trăm thức ăn, uống, cúng dường Phật và Tăng, phát nguyện rằng, “Do nhân duyên thiện căn này, mà chúng sanh ở quốc độ của tôi sau này cũng sẽ được đầy đủ trăm thức uống như vậy”.

Lại nữa, này Tu Bồ Đề ! Bồ Tát đem 5 dục lạc cúng dường Phật, Tăng cùng hết thảy chúng sanh, phát nguyện rằng, “Do nhân duyên thiện căn này, mà chúng hết thảy chúng sanh ở quốc độ của tôi sau này cũng sẽ được tùy ý hưởng 5 diệu dục như vậy”.

Lại nữa, này Tu Bồ Đề ! Bồ Tát hành Bát Nhã Ba La Mật, tự mình tu vào sơ thiền, nhị thiền, tam thiền và tứ thiền, tu 4 vô lượng tâm … dẫn đến tu 37 Phẩm Trợ Đạo, Cũng dạy người khác tu vào sơ thiền, nhị thiền, tứ thiền, tu 4 vô lượng tâm … dẫn đến tu 37 Phẩm Trợ Đạo. Bồ Tát phát nguyện rằng, “Khi tôi được Vô Thượng Bồ Đề, tôi sẽ làm cho hết thảy chúng sanh ở quốc độ của tôi sau này chẳng xa rời 4 thiền … dẫn đến chẳng xa rời 37 Phẩm Trợ Đạo”.

Này Tu Bồ Đề ! Như vậy là Bồ Tát thường tịnh Phật quốc độ, vì suốt quá trình hành Bồ Tát đạo, Bồ Tát thành tựu đầy đủ các hạnh nguyện, làm đầy đủ các thiện pháp, và cũng dạy chúng sanh làm đầy đủ các thiện pháp.

Do nhân duyên tịnh Phật quốc độ như vậy. nên Bồ Tát được thân hình đoan chánh, cũng khiến chúng sanh được thân hình đoan chánh, Bồ Tát sẽ trọn chẳng đọa vào 3 đường ác, chẳng khởi các tà kiến, chẳng khởi 3 độc, chẳng lạc về Thanh Văn và Bích Chi Phật địa; Tai chẳng nghe nói đến vô thường, khổ, không, vô ngã, chẳng nghe nói đến phiền não, kiết sử, cũng chẳng nghe nói đến phân biệt các quả.

Ở quốc độ của Bồ Tát sau này sẽ có những cây bằng 7 báu. Gió thổi qua các cây ấy, tùy theo chỗ đáng độ, thường phát ra những âm thanh thuyết về không, về vô tướng, về vô tác, về thật tướng các pháp. Dù có Phật hay chẳng có Phật, thì các pháp tướng vẫn là không. Đã là không, thì là vô tướng ( chẳng có tướng); Đã là vô tướng, thì là vô tác ( chẳng có tác ) vậy.

Do cây thường phát ra pháp âm, nên suốt ngày đêm, trong khi đứng nằm ngồi, Bồ Tát vẫn thường được nghe pháp. Mãi như vậy cho đến khi được Vô Thượng Bồ Đề, được chư Phật trong khắp 10 phương tán tán.

Khi được Vô Thượng Bồ Đề, Bồ Tát vì chúng sanh thuyết pháp. Chúng sanh nghe pháp, chẳng có ai chẳng tin, chẳng có ai nghi đó là pháp hay là phi pháp (chẳng phải pháp). Vì sao ? vì các pháp ở nơi thật tướng đều là pháp, chẳng phải là phi pháp vậy. Có những người phước mỏng, chẳng gieo trồng thiện căn nơi các đức Phật và nơi chư đệ tử của Phật, chẳng theo chư thiện tri thức, chìm đắm trong ngã kiến cùng các kiến chấp khác, nên mới bị đọa vào biên kiến, hoặc là đoạn kiến, hoặc là thường kiến. Do tà kiến như vậy, nên hạng người ấy cho lời Phật dạy là chẳng phải Phật dạy, cho lời chẳng phải là Phật dạy là do Phật dạy, cho thật pháp là phi pháp, và cho phi pháp là thật pháp. Do phá pháp như vậy, nên hạng người ấy khi mạng chung sẽ phải bị đọa vào ba đường ác.

Bởi vậy nên Bồ Tát khi được Vô Thượng Bồ Đề rồi, liền dùng phương tiện giáo hóa chúng sanh, khiến họ rời được tà tụ và an lập trong chánh định tụ, chẳng đọa vào các đường ác nữa.

Bồ Tát tịnh Phật quốc độ như vậy, nên chúng sanh chẳng còn tâm uế tạp, chẳng còn phân biệt các pháp là thế gian, là xuất thế gian, là hữu lậu, là vô lậu, là hữu vi, là vô vi nữa. Dẫn đến trong quốc độ, hết thảy chúng sanh chắc chắn sẽ được Vô Thượng Bồ Đề.

Này Tu Bồ Đề ! Như vậy gọi là Bồ Tát Ma Ha Tát tịnh Phật quốc độ.

LUẬN:

Ở nơi các pháp rốt ráo không mà còn chấp tâm, chấp tướng, như chấp tướng sắc, chấp tướng thọ tưởng hành thức, chấp tướng nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý, chấp tướng sắc thanh hương vị xúc pháp, chấp tướng nam, chấp tướng nữ, chấp tướng 3 cõi, chấp tướng thiện ác, chấp tướng hữu vi hay vô vi, chấp tướng hữu lậu hay vô lậu v.v… thì đó gọi là thô nghiệp vậy.

Hỏi : Trước đây nói “chẳng thủ tướng thiện pháp, cũng chẳng thủ tướng bất thiện pháp”. Nay vì sao lại nói phải nhàm chán hết thảy sắc pháp, để thành tự thiện pháp?

Đáp : Pháp Phật có nói đến “chúng sanh không” và “pháp không”. Nói “chúng sanh không” nhằm phá các tướng về chúng sanh, như tướng nam, tướng nữ v.v…

Nói “pháp không” nhằm phá các tướng về sắc pháp, là các tướng hư vọng. Khi phá hết thảy các sắc pháp thì sẽ được “không”. Bởi vậy nên quán sắc, quán thọ, tưởng hành, thức, quán thiện pháp, quán bất thiện pháp v.v… đều là như huyễn, như hóa, đều chẳng có định tướng vậy. Lúc bấy giờ các hý luận về thường, về vô thường v.v… đều chẳng còn, nên chẳng gọi là chấp tướng nữa; Và các thiện pháp đã hoà hợp với tánh không, nên chẳng còn sanh phiền não nữa

Hỏi: Các pháp hữu vi chỉ là giả danh hòa hợp, chẳng nên chấp. Còn các pháp vô vi là chân thật pháp, là như pháp tánh thật tế, vì sao cũng chẳng nên chấp?

Đáp : Chẳng thủ tướng là vô vi; Pháp vô tướng là pháp vô vi. Nếu có thủ tướng thì trở thành hữu vi. Bởi vậy nên có thủ tướng là hư vọng, là chẳng thật vậy.

Bồ Tát xa lìa các thô nghiệp ở thân khẩu và ý, mới tịnh Phật quốc độ; xa lìa các tướng chấp, mới hành 6 pháp Ba La Mật, cũng dạy người khác hành 6 pháp Ba La Mật cùng các thiện pháp khác … dẫn đến tịnh Phật quốc độ.

Ở đoạn kinh trên đây, trước nói về tổng tướng, rồi sau mới nói với biệt tướng. Như nói Bồ Tát đem các trân bảo cúng dường Phật và chúng Tăng, phát lời nguyện rằng, “Do nhân duyên cúng dường này mà chúng sanh ở quốc độ của tôi sau này sẽ được đầy đủ bảy báu trang nghiêm như vậy; mỗi chúng sanh có một tịnh độ của mình”.

Hỏi : Chư Thánh Hiền đều thiểu dục, tri túc; chỉ có phàm phu tham quý trân bảo. Như vậy vì sao chư Phật và chư Thánh Hiền lại thọ nhận sự cúng dường trân bảo?

Đáp : Bồ Tát trú trong pháp tánh thân, thường đầy đủ các thần thông Ba La Mật, nên hóa hiện ra các trân bảo để cúng dường chư Phật và chư đại Bồ Tát vậy. Các trân bảo do thần thông lực hóa hiện ra, nên nhẹ nhàng, chẳng có gây chướng ngại. Ví như ở cõi Biến Tịnh có hiện tượng 60 người ngồi chung một chỗ để nghe pháp mà chẳng có ngăn ngại nhau.

Có Bồ Tát thâm nhập thần thông biến hóa ra đủ thứ  châu báu để cúng dường Phật và tháp Phật; Lại có Bồ Tát biến thân thành núi Tu Di, đốt đèn cúng dường Phật và tháp Phật ở khắp 10 phương, và phát nguyện ràng, “Ở quốc độ của tôi sau này thường có quang minh chiếu sáng, chẳng phải nhờ đến ánh sáng của mặt trời, mặt trăng, chẳng phải nhờ đến ánh sáng của đèn đuốc vậy”.

Lại có Bồ Tát làm ra mưa hương hoa và anh lạc để cúng dường Phật và tháp Phật, phát lời nguyện rằng, “Ở quốc độ của tôi sau này, hết thảy chúng sanh đều được đoan chánh, được thân tướng, trang nghiêm, thanh tịnh, chẳng có xấu xa”.

Lại có Bồ Tát tự dùng thần thông làm ra nhạc trời, hoặc làm thân A Tu La, làm thân Long Vương đem nhạc trời cúng dường Phật và tháp Phật, phát lời nguyện rằng, “Ở quốc độ của tôi sau này sẽ có những âm thanh như vậy”.

Hỏi : Các đức Phật và chư Thánh Hiền đã được ly dục. Như vậy vì sao còn thích âm nhạc, thích ca vũ?

Đáp: Các đức Phật tuy chẳng còn tâm chấp đắm đối với hết thảy pháp, nhưng ở thế gian có tất cả các pháp đó. Vì thương xót chúng sanh nên Phật tùy thuận theo sự cúng dường của họ, để họ được tùy nguyện hưởng phước đức. Chẳng phải Phật thích âm nhạc, thích ca vũ, nhưng vì lợi ích cho chúng sanh mà Phật thọ sự cúng dường các thứ âm nhạc, ca vũ của họ vậy.

Bồ Tát muốn tịnh quốc độ, nên cầu diệu âm thanh, muốn ở quốc độ của mình sau này chúng sanh thường được nghe các diệu âm thanh như vậy, khiến tâm họ được nhu nhuyến. Khi tâm chúng sanh được nhu nhuyến rồi, thì rất dễ hóa độ họ, nên Bồ Tát dùng nhân duyên âm thanh để cúng dường Phật và tháp Phật.

Lại có Bồ Tát dùng hương hoa cúng dường Phật và tháp Phật, phát lời nguyện rằng. “Ở quốc độ của tôi sau này, chúng sanh sẽ thường được hưởng các hương hoa như vậy. hương hoa sẽ tự nhiên có, chẳng phải do ai làm ra cả”.

Ở nơi thân Phật thường có diệu như hương tỏa ra, đến hàng chư Thiên cũng chẳng sao bì kịp, nhưng vì lợi ích chúng sanh mà Phật thọ sự cúng dường hương hoa của họ vậy.

Lại có Bồ Tát đem cả trăm thức ăn uống cúng dường Phật và chúng tăng, phát lời nguyện rằng, “Ở quốc độ của tôi sau này, chúng sanh sẽ được hưởng trăm vị thức ăn uống như vậy. Các đồ ăn uống sẽ tự nhiên đến với chúng sanh, chẳng do ai làm ra cả”.

Có thuyết nói các thứ cỏ thuốc, hoa thuốc, quả thuốc, hoặc các hoàn hoan hỷ làm bằng các thứ cỏ và hoa quả thuốc đó cũng nhiếp trong 100 thức ăn uống đó

Có thuyết nói 100 vị thức ăn uống có nghĩa là các thức ăn uống đầy đủ.

Có thuyết nói hàng chư Thiên ăn uống đến cả trăm ngàn vị.

Có thuyết nói do phước báo mà Bồ Tát thọ dụng được các thứ ăn uống đầy đủ, và dùng thần thông biến hóa các thức ăn uống thành vô lượng vị, có thể chuyển hóa được tâm chúng sanh, khiến họ được tâm thanh tịnh, ly dục.

Bồ Tát dùng 4 lối ăn, tùy nhân duyên cúng dường Phật và chúng Tăng, nên ở quốc độ của Bồ Tát sau này sẽ tự nhiên có đầy đủ cả trăm vị thức ăn uống như vậy.

—o0o—

Lại có Bồ Tát dùng các loại hương trời để cúng dường Phật và chúng Tăng. Bên Thiên Trúc, do trời nóng bức, nên phải dùng hương hoa xoa vào thân. Do vậy mà Bồ Tát đem các thứ hương trời để được cúng dường Phật và chúng Tăng, phát lời nguyện rằng, “Ở quốc độ của tôi sau này, chúng sanh sẽ được thọ hưởng các hương trời mịn màng như vậy”.

Hỏi : Các người thường thọ giới Sa Di hoặc giới Bát Quán Trai còn chẳng thọ hương xoa thân. Vì sao lại đem hương xoa thân để cúng dường Phật và chúng Tăng?

Đáp : Bồ Tát đem tát cả những vật quý giá để cúng dường Phật và chúng Tăng, như đem nước thơm rải trên vách, đem hương thơm xông chỗ ngồi v.v… để thể hiện lòng tôn kính vậy. Ví như có Bồ Tát đem cả xe ngựa, vàng, bạc, trăn bảo, y áo v.v… để cúng dường. Nếu người xuất gia chẳng thọ dụng, thì bố thí lại cho chúng sanh. Lại có Bồ Tát đem 5 dục để cúng dường, phát lời nguyện rằng, “Ở quốc độ của tôi sau này, chúng sanh tùy ý hưởng 5 dục đầy đủ”.

Hỏi : 5 dục ví như hầm lửa, như phường giặc cướp … chướng ngại thiện căn, nên Phật quở trách người rong ruổi theo 5 dục. Vì sao Bồ Tát lại muốn chúng sanh được thọ hưởng đầy đủ 5 dục?

Lại nữa, Phật và chúng đệ tử thường bận áo rách vá, ngồi gốc cây để tọa thiền. Vì sao Bồ Tát lại cầu được 5 dục?

Đáp : Người tu nhân phước thiện sẽ được hưởng phước báo đầy đủ 5 dục; đời nay và đời sau chẳng làm việc trộm cướp, chẳng nói dối, chẳng sát hại chúng sanh, chẳng hành 10 bất thiện đạo. Do bần cùng mới hành 10 bất thiện đạo. Nếu tùy ý được 5 dục đầy đủ, thì chẳng còn hành 10 bất thiện đạo nữa.

Bồ Tát nguyện ở cõi nước của mình sau này, chúng sanh được giàu có, chẳng còn thiếu thốn, chẳng còn làm được các điều ác. Như vậy, tuy còn ái, còn mạn mà kiết sử đã được mỏng. Trong hoàn cảnh đó nếu được nghe Phật hoặc chư đệ tử Phật thuyết pháp thì tâm họ sẽ được nhu nhuyến, rất dễ được đạo. Tuy tâm chấp còn nhiều nhưng đã được lợi căn, nên vừa nghe nói về vô thường, khổ, không, vô ngã, thì họ liền được đạo, thì liền được tẩy sạch.

Bồ Tát chẳng muốn sanh đắm chấp 5 dục, nên bố thí cho họ đầy đủ các vật dụng cần thiết. Bồ Tát chỉ muốn chúng sanh thọ 5 dục trong một thời, để sau đó dạy họ tự xả 5 dục vậy.

Phật khuyên các đệ tử nên mặc áo rách vá, đi khất thực, để họ biết rằng do tội đời trước mà đời nay phải sanh vào đời “ác 5 trược” vậy. Nếu được ăn ngon, mặc đẹp, thì tâm chấp càng thêm sâu dày, … dẫn đến bỏ phế đạo nghiệp.

Bồ Tát thành tựu chúng sanh, thanh tịnh Phật độ, nên được vô lượng phước đức; Quán 5 dục bình đẳng, nên chẳng còn tham đắc, chẳng còn tầm cầu. Trái lại, có nhiều người tu ly dục, tu khổ hạnh, mà tâm hờn giận vẫn tăng trưởng; họ thường tưởng nhớ 5 dục, nên sanh phiền não, chẳng sanh tâm hướng thượng vậy.

Phật dạy, “Phải bỏ cả khổ lẫn lạc, dùng trí huệ tu trung đạo”. Bởi vậy nên Bồ Tát có thể phương tiện bố thí cho chúng sanh 5 dục, khiến họ chẳng còn thiếu thốn, mà chẳng có gì ngăn ngại.

Hỏi : Trong luật Tỷ Kheo có ghi rõ, nếu một vị Tỷ Kheo nói rằng thọ 5 dục chẳng có ngại đạo, thì vị ấy sẽ bị quở trách. Nếu ba phen chẳng thôi, thì sẽ bị trục xuất ra khỏi Tăng đoàn”. Như vậy vì sao lại cầu 5 dục?

Đáp : Trong Phật pháp phân biệt có Đại Thừa và Tiểu Thừa. So với hàng Đại Thừa thì hàng Tiểu Thừa phước mỏng và ba độc sâu dày.

Trong kinh Bà Sa, Phật dạy: “Ta có các đệ tử bạch y, chẳng phải 1 chẳng phải 2, mà có đến cả 500 người thọ hương chiên đàn thoa thân, thọ các diệu hương hoa khác, ở chung với vợ con, sai khiến các nô tỳ, gần gũi vợ, mà vẫn đoạn được các kiết sử, được quả Tu Đà Hoàn, đoạn được các khổ trong 3 đời, … dẫn đến tiêu dần 3 độc được quả Tư Đà Hàm”. Tỷ Kheo A Lê Tra nghe Phật nói như vậy, liền hỏi, “Phật vì ai mà nói các sự việc ấy?”.

Phật vì hàng đệ tử bạch y mà nói ra như vậy, chẳng phải vì hàng xuất gia. Tỷ Kheo là người thọ pháp xuất gia, ở trong chúng Tăng, tự phát lời nguyện rằng, “Suốt đợi tôi chẳng thọ dâm dục”. Bởi vậy nên người xuất gia phạm dâm dục, thì phải ra ngoài Tăng chúng. Vì sao ? Vì đã thệ nguyện rồi mà còn phạm tội là cố tình.  Đã thọ giới cấm của Phật mà còn trái là phạm hai tội. Vì nếu Tỷ Kheo thấy người bạch y được đaọ mà xem tự thân mình đồng với người kia thì phải bị thêm 1 tội nữa vậy.

Nên phân biệt có 2 hạng Bồ Tát tịnh Phật quốc độ:

  1. Hàng Bồ Tát tại gia.
  2. Hàng Bồ Tá xuất gia.

Bồ Tát tại gia thọ 5 dục chẳng có tội. Ví như ở cõi trời Đâu Suất và cõi Uất Đan Việt, người tuy có thọ 5 dục mà chẳng khởi trọng tội. Còn người đã xuất gia theo Phật chẳng được thọ 5 dục như người tại gia vậy.

Trong pháp Tiểu Thừa, vị Tỷ Kheo A Lê Tra có nói rằng, “Nếu thấy có người phạm trọng tội mà sanh tâm hối hận nhiều, thì phải biết người đó đã tịnh Phật quốc độ, đời đời hành 6 pháp Ba La Mật và tu 3 giải thoát môn, Người ấy tuy có thọ 5 dục, mà chẳng bị nhiễm trước”.

Trong kinh nói, “Bồ Tát hành Bát Nhã Ba La Mật phải tự tâm niệm vào 4 thiền, tự tu 37 Phẩm Trợ Đạo để giáo hóa chúng sanh. Bồ Tát lại phải tự nguyện làm Phật, suốt đợi hành 4 thiền … dẫn đến hành 37 Phẩm Trợ đạo”.

Do nhân duyên phước đức như vậy, nên Bồ Tát vì chúng sanh thọ 5 dục, mà chẳng bị chướng ngại, Vì sao ? Vì trong vô lượng kiếp, Bồ Tát đã phát nguyện, “Ta phải tùy thời, tùy nơi mà hành đạo, thành tựu đầy đủ các thiện pháp”.

Bồ Tát tự thành tự hết thảy các biện pháp, cũng dạy chúng sanh thành tựu hết thảy các biện pháp. Do thành tựu các thiện pháp mà Bồ Tát được thân đoan chánh, và cũng khiến chúng sanh được thân đoan chánh.

Bồ Tát tịnh Phật quốc độ như vậy, nên trọn chẳng còn sanh vào 3 đường ác.

Hỏi : Các đức Phật vì thấy chúng sanh khổ, mà thị hiện sanh ở trong thế gian, trải rộng đại từ đại bi thương xót chúng sanh và cứu vớt chúng sanh ra khỏi các khổ. Nếu chẳng có khổ não, chẳng có ba đường ác, thì làm sao phát tâm thương xót chúng sanh được?

Đáp : Phật ra đời vì muốn độ chúng sanh. Thế nhưng chúng sanh ở trong 3 đường ác chẳng thể độ ngay được, Phật chỉ khiến chúng sanh ở trong 3 đường ác kết thiện duyên, gieo trồng thiện căn mà thôi. Bởi vậy nên Phật được gọi là bậc Thiên Nhiên Sư (bậc thầy của hàng trời và hàng người).

Hỏi : Nếu Phật vì thương xót chúng sanh mà tịnh Phật quốc độ, thì vì sao vẫn có chúng sanh ở trong 3 đường ác?

Đáp : Phật thương xót chúng sanh bình đẳng chẳng có sai khác. Ở nơi đây nói đến các nhân duyên thanh tịnh, nên nói ở trong quốc độ chẳng có 3 đường ác.

Bồ Tát tịnh Phật quốc độ, phải thanh tịnh cả tạp quốc độ lẫn tịnh quốc độ. Ở trong tạp quốc độ có đủ 5 đạo chúng sanh. Ở trong tịnh quốc độ chẳng có hàng Trời, Người tu hành. Có tịnh quốc độ chẳng có hàng Trời, Người, mà chỉ riêng có Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát và Phật.

Ví như ở cõi nước của Đức Phật quá khứ Thiên Vương, chỉ có Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, và có đức Phật Thiên Vương làm vị pháp vương.

Có tịnh quốc độ chẳng có 3 đường ác, vì nơi đây chẳng có tà kiến.

Hỏi : Các đức Phật chỉ vì muốn trừ tà kiến, phiền não cho chúng sanh mà thị hiện ra đời. Nếu chẳng có 3 độc, chẳng có các phiền não khác, thì chư Phật ra đời để làm gì?

Đáp : Có thuyết nói, “nếu ở trong cõi nước có các nhân duyên, phước đức lớn, thì ở nơi đó chẳng còn có ba độc cùng các tà kiến.

Có thuyết nói, “Các Bồ Tát được vô sanh pháp nhẫn, được công đức lớn, vẫn thường tu tập 6 pháp Ba La Mật, thường đi khắp 10 phương để độ thoát chúng sanh, Càng gần Phật đạo bao nhiêu, thì Bồ Tát lại càng làm lợi ích cho chúng sanh bấy nhiêu”.

Hỏi : Phật pháp dùng 3 thừa đạo để giáo hóa chúng sanh. Như vậy, vì sao chỉ nói “nhất thừa” mà thôi?

Đáp : Ý Phật muốn nói ở nới “nhất thừa” mà phân biệt ra có 3 thừa vậy.

Hỏi : Vì sao các Đức Phật A Súc Bệ, A Di Đà chẳng ở trong đời “ác 5 trược”? Vì sao các Đức Phật này chẳng ở trong đời “ác 5 tược”, mà cõi nước của các ngài cũng vẫn có thừa 3 đạo?

Đáp : Tất cả các đức Phật ở quá khứ, ở hiện tại đều dùng 3 thừa giáo để độ thoát chúng sanh, Các đức Phật ở vị lai cũng sẽ làm như vậy.

Phật chẳng có chấp vô thường, khổ, vô ngã, nhưng khi chúng sanh điên đảo chấp thường, lạc, ngã, thì Phật mới phải vì họ nói đến vô thường, khổ và vô ngã vậy. Nếu chúng sanh chẳng còn các chấp thường, lạc và ngã, thì Phật chẳng cần nói đến vô thường, khổ, vô ngã. Vì sao ? Vì chẳng có bệnh, thì chẳng cần phải cho thuốc. Lại nữa, Phật dạy chẳng có ngã sở, chẳng có các phiền não kiết sử, chẳng có Thị Thừa, nên cũng chẳng có các quả Thanh Văn, chẳng có đạo Bích Chi Phật vậy.

Bồ Tát được vô sanh pháp nhẫn rồi, nhất tâm hướng về thật tướng pháp, được các đà la ni tam muội, tu lên các địa. Bồ Tát muốn cho chúng sanh được nghe pháp, nên khiến các cây vang ra tiếng pháp vi diệu. Ở khắp cõi nước đều có các cây quý đó, nên ở đâu đâu, đi đứng nằm ngồi, chúng sanh đều được nghe pháp, khiến họ chẳng sanh tạp tâm, mà chỉ sanh “pháp nhẫn” mà thôi.

Hỏi : Các đức Phật có vô lượng thần lực bất khả tư nghì. Như vậy vì sao các ngài chẳng hiện thân để thuyết pháp độ sanh, mà phải nhờ đến các cây pháp ra tiếng pháp?

Đáp : Chúng sanh có rất nhiều, nếu chỗ nào Phật cũng hiện thân thuyết pháp, thì chúng sanh sẽ chẳng tin, cho là huyễn hóa, chẳng có kính trọng. Vì chẳng có kính trọng, nên nghe thuyết pháp mà họ chẳng được, khai ngộ. Trái lại, nếu họ nghe loài cây, hoặc nghe loài súc sanh nói pháp, thì họ lại dễ sanh tâm tín thọ.

Trong kinh Bổn Sanh có chép mẩu chuyện sau đây”

Phật Thích Ca Mâu Ni, khi còn là Bồ Tát, hiện thân súc sanh để vì người nói pháp. Người cho đó là rất ít có, nên sanh tâm tín thọ.

Súc sanh là loài hữu tình mà người nghe còn tín thọ, chẳng có khinh nhờn, huống nữa cây là loài vô tình, mà phát ra diệu âm thanh thuyết pháp, ắt người nghe phải tín thọ nghĩa của “không, vô tướng, và vô tác” vậy. Vì sao ? Vì có Phật hay chẳng có Phật, thì hết thảy các pháp vẫn thường là không. Vì là thường không, nên là vô tướng. Vì là vô tướng, nên là vô tác. Vì là vô tác, nên tiếng pháp thường vang lên, cả ngày lẫn đêm, ở cõi nước của Bồ Tát, là do các thần thông khẩu lực, tự nhiên biến hóa ra các diệu âm thanh đó. Như vậy gọi là tịnh Phật quốc độ.

Các âm thanh vang ra cũng thường tán thán công đức của các đức Phật. Người nghe danh hiệu các đức Phật như vậy sẽ được đạo … dẫn đến cũng sẽ được thành Phật. Như vậy cũng gọi là tịnh Phật quốc độ.

Hỏi : Phật tu khổ hạnh, vì chúng sanh thuyết pháp, mà nghe chúng sanh chẳng còn được đạo, huống nữa là chỉ nghe danh hiệu các đức Phật mà họ có thể được đạo hay sao?

Đáp : Ở các cõi nước có rất nhiều lối thuyết pháp. Người nghe danh hiệu các đức Phật lâu ngày cũng có thể được đạo vậy. Ví như trong kinh Pháp Hoa có nói, “Làm phước đức dù lớn hay nhỏ, cũng đều có thể được thành Phật”.

Người nghe danh hiệu Phật mà sanh được hết thảy trí, thì sẽ được đạo. Nếu nghe mà chẳng kính trọng, nghe mà sanh tâm Nhị Thừa, thì chẳng trồng được thiện căn nơi “pháp tánh sanh thân” của Phật vậy.

–o0o–

Lại nữa, thân Phật  có vô lượng vô biên quang minh. Quang minh của Phật sáng tỏ hơn ánh sáng của mặt trời, mặt trăng rất nhiều. Khi Phật thuyết pháp, quang minh của Phật tỏa ra khắp cõi nước.

Vì căn cơ và đức độ của chúng sanh có sai khác nhau, nên có chúng sanh thấy được quang minh của Phật mà được đạo; có chúng sanh nghe được pháp Phật dạy mà được đạo.

Như vậy, có thấy, có nghe mới thâm tín công đức của Phật. Vì sanh tâm thâm kính Phật, nên mới trồng thiện căn. Vì đã trồng thiện căn, nên quyết định sẽ được làm Phật.

Lại nữa, pháp Phật là chân thật pháp. Bởi vậy nên người nghe được pháp Phật, dù chẳng phải từ kim khẩu của Phật thuyết ra, cũng vẫn tín thọ vậy.

Hỏi : Vì sao có người theo Phật Thích Ca Mâu Ni nghe pháp, mà vẫn khởi tâm nghi?

Đáp : Có rất nhiều nhân duyên:

– Hoặc có người phước mỏng, chẳng trồng thiện căn, chẳng gần gũi  các bậc thiện tri thức, nên nghe pháp mà khởi tâm nghi.

– Hoặc có người thâm chấp ngã kiến, biên kiến cùng các tà kiến khác, bị các phiền não che tâm, nên nghe lời Phật nói mà cho là chẳng phải do Phật nói, nghe lời chẳng phải Phật nói ra mà cho là lời của Phật . Do vậy mà khởi tâm nghi.

– Hoặc có người bị 3 độc che tâm, chẳng tùy thuận các bậc thiện tri thức, chỉ tùy theo ý riêng của minh, mà tự giải. Hạng người này khi nghe nói hết thảy pháp đều là rốt ráo không, thấy chẳng thùy thuận theo ý mình, bèn cho đó là chẳng phải lời Phật dạy, chẳng phải là pháp. Do vậy mà khởi tâm nghi; Pháp thì cho là phi pháp (chẳng phải pháp), còn phi pháp thì cho là pháp.

Những hạng người như vậy, do tội phá pháp, nên khi mạng chung sẽ phải bị đọa vào 3 đường ác.

—o0o—

Bởi vậy,  nên Bồ Tát khi được Vô Thượng Bồ Đề, thấy chúng sanh qua lại trong các đường sanh tử, liền dùng Phật lực dẫn dắt họ ra khỏi đường ác, khiến họ được an trú trong chánh định tụ. Như vậy gọi là tịnh Phật quốc độ.

Ở nơi Tịnh Độ chẳng có lỗi lầm, vì ở nơi đây hết thảy pháp, dù là thế gian, dù là xuất thế gian, dù là hữu lậu, dù là vô lậu, dù là hữu vi, dù là vô vi v.v… đều là bình đẳng, chẳng có chướng ngại. Ở cõi nước này, đất thường sanh bảy báu, chúng sanh đều được thân đoan chánh, được tướng tốt trang nghiêm thân, thường chẳng xa rời 6 pháp Ba La Mật … dẫn đến chẳng xa rời 18 bất cộng pháp. Ở cõi nước đó chúng sanh quyết định sẽ được Vô Thượng Bồ Đề.

Hỏi : Trước nói, chúng sanh nào nghe được danh hiệu Phật quyết định sẽ được thành Phật. Nay lại nói, chúng sanh nào nghe thuyết rằng “ở nơi thật tướng, các pháp chẳng ngăn ngại nhau”  mà sanh tâm tín thọ cũng quyết định sẽ thành Phật. Các trường hợp này có gì sai khác nhau chăng ?

Đáp : chúng sanh nào thường thấy Phật, thường nghe pháp, thường gieo trồng thiện căn, thường tu tập Phật pháp, sẽ mau được thành Phật. Còn người nghe danh hiệu Phật mà sanh tâm tín thọ, mặc dù quyết định cũng sẽ được thành Phật, nhưng lâu hơn, chẳng bằng được hạng người nói trên vậy.

Tất cả đều là tướng tịnh Phật quốc độ cả.

***

Phẩm thứ tám mươi ba
Tất Định

KINH:

Ngài Tu Bồ Đề bạch Phật : Bạch Thế Tôn ! Bồ Tát quyết định làm Phật hay chẳng quyết định làm Phật?

Phật dạy : Này Tu Bồ Đề ! Bồ Tát quyết định, chẳng phải chẳng quyết định làm Phật vậy.

Ngài Tu Bồ Đề bạch Phật : Bạch Thế Tôn ! Quyết định ở nơi đâu ? Quyết định trong đạo Thanh Văn, trong đạo Bích Chi Phật, hay trong đạo Phật ?

Phật dạy : Này Tu Bồ Đề ! Bồ Tát chẳng phải quyết định ở trong đạo Thanh Văn, đạo Bích Chi Phật, là quyết định ở trong đạo Phật.

Ngài Tu Bồ Đề bạch Phật : Bạch Thế Tôn ! Là sơ phát tâm Bồ Tát quyết định, hay là tối hậu thân Bồ Tát quyết định?

Phật dạy : Này Tu Bồ Đề ! Sơ phát tâm Bồ Tát quyết định, bất thối chuyển Bồ Tát quyết định, tối hậu thân Bồ Tát cũng quyết định.

Ngài Tu Bồ Đề Bạch Phật : Bạch Thế Tôn ! Quyết định Bồ Tát có bị đọa vào trong 3 đường ác chăng?

Phật dạy : Chẳng vậy, này Tu Bồ Đề ! Ý ông nghĩ sao? Người được 4 quả Thanh Văn được đạo Bích Chi Phật có bị đọa vào 3 đường ác chăng?

Ngài Tu Bồ Đề bạch Phật : Bạch Thế Tôn ! Chẳng vậy.

Phật dạy : Này Tu Bồ Đề ! Cũng như vậy. Từ sơ phát tâm, Bồ Tát tu bố thí, trì giới. nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định. Trí tuệ đoạn hết thảy các bất thiện pháp …., thì chẳng có lý nào phải bị đọa vào 3 đường ác, hoặc phải sanh vào những nơi biên địa, vào những nhà ác tà kiến, những nơi chẳng nghe nói đến Phật Pháp Tăng.

Này Tu Bồ Đề ! Từ sơ phát tâm, Bồ Tát đã hướng về Vô Thượng Bồ Đề, nên chẳng có lý nào lại thâm tâm hành 10 bất thiện đạo.

Ngài Tu Bồ Đề bạch Phật : Bạch Thế Tôn ! Như có nói trong kinh Bổn Sanh, nếu Bồ Tát nào đã thành tựu được các thiện căn công đức như vậy, thì chẳng thể thọ các quả báo bất thiện vậy.

Phật dạy : Này Tu Bồ Đề ! Vì lợi ích chúng sanh, mà Bồ Tát thọ các thân thích ứng. Ví như khi thọ thân súc sanh, Bồ Tát có lực phương tiện rất lớn, nên khi có ai muốn đến để giết hại mình, thì Bồ Tát liền dùng tâm nhẫn nhục vô thượng, tâm từ bi vô thượng xả bỏ thân mình, mà chẳng làm não hại kẻ oán tặc. Hàng Thanh Văn và Bích Chi Phật có được các lực phương tiện này chăng?

Ngài Tu Bồ Đề bạch Phật  : Bạch Thế Tôn ! Chẳng được vậy.

Phật dạy : Này Tu Bồ Đề ! Bởi vậy nên phải biết rằng, Bồ Tát muốn được đầy đủ tâm đại từ bi, mà thọ thân súc sanh, để làm lợi ích cho chúng sanh vậy.

Ngài Tu Bồ Đề Bạch Phật : Bạch Thế Tôn ! Bồ Tát an trú trong các thiện căn nào mà thọ các thân như vậy?

Phật dạy : Này Tu Bồ Đề ! Từ sơ phát tâm cho đến khi tọa đaọ tràng, chẳng có thiện căn nào mà Bồ Tát chẳng đầy đủ. Vì sao ? Vì phải đầy đủ các thiện căn mới được Vô Thượng Bồ Đề. Phải học đầy đủ các thiện căn rồi mới được nhất thiết chủng trí; Được nhất thiết chủng trí rồi mới đoạn sạch các phiền não tập khí vậy.

Ngài Tu Bồ Đề Bạch Phật : Bạch Thế Tôn ! Bồ Tát đã thành tựu được các thiện pháp vô lậu thanh tịnh như vậy, mà sao lại còn sanh làm thân súc sanh?

Phật dạy : Này Tu Bồ Đề ! Ý ông nghĩ sao ? Phật có thành tựu các thiện pháp vô lậu thanh tịnh chăng?

Ngài Tu Bồ Đề Bạch Phật : Bạch Thế Tôn ! Hết thảy các thiện pháp vô lậu thanh tịnh, Phật đều thành tựu cả.

Phật dạy : Này Tu Bồ Đề ! Nếu Phật hóa thân súc sanh để làm Phật sự, thì đó có phải thật là thân súc sanh chăng?

Ngài Tu Bồ Đề Bạch Phật : Bạch Thế Tôn ! Chẳng phải vậy.

Phật dạy : Này Tu Bồ Đề ! Bồ Tát thành tựu các thiện pháp vô lậu để hóa độ chúng sanh, nên thọ thân súc sanh và dùng thân ấy để làm lợi ích chúng sanh cũng là như vậy.

Này Tu Bồ Đề ! Như A La Hán biến hóa ra các thân có thể làm cho chúng sanh được hoan hỷ chăng?

Ngài Tu Bồ Đề bạch Phật : Bạch Thế Tôn ! Có thể được.

Phật dạy : Đúng như vậy, đúng như vậy ! Này Tu Bồ Đề ! Bồ Tát dùng các thiện pháp vô lậu thanh tịnh, tùy theo từng đối tượng chúng sanh mà thọ thân thích ứng, dùng thân ấy làm lợi ích cho chúng sanh, mà chẳng thọ các khổ.

Này Tu Bồ Đề ! Ý ông nghĩ sao? Như nhà huyễn thuật, huyễn tác ra các hình tướng, nào là voi, ngựa, trâu, dê, người nam, người nữ v.v… để trình bày cho mọi người xem, thì các hình tướng ấy có thật chăng?

Ngài Tu Bồ Đề bạch Phật : Bạch Thế Tôn ! Chẳng thật vậy.

Phật dạy : Này Tu Bồ Đề ! Bồ Tát thành tựu các pháp vô lậu thanh tịnh, hiện làm thân các loài chúng sanh, rồi dùng thân ấy để làm lợi ích cho chúng sanh, mà chẳng thọ các khổ.

Ngài Tu Bồ Đề bạch Phật : Bạch Thế Tôn ! Bồ Tát được trí huệ vô lậu thanh tịnh, dùng lực phương tiện quán loài chúng sanh nào cần được độ, thì tùy theo loài đó mà hiện thân thích ứng để độ họ vậy.

LUẬN:

Hỏi: Trước đây nói về tướng “bất thối chuyển” là đã nói về tướng “quyết định” rồi. Nay vì sao ngài Tu Bồ Đề còn hỏi nữa?

Đáp: Bát Nhã Ba La Mật rất thậm thâm, nên có nhiều môn, nhiều đạo. Trước đây nói về môn “bất thối chuyển. Nay ngài Tu Bồ Đề hỏi về môn “quyết định”.

Trong tâm Phật thì hết thảy chúng sinh, hết thảy các Pháp đều quy định, nhưng vì trí thế gian chẳng đến kịp, nên nói là “ chẳng quyết định”.

Trong vô lượng kiếp đã chứa nhóm vô lượng công đức, nên nay dù hiện thân Tiểu Thừa mà Bồ Tát dùng lực trí huệ, cũng vẫn biết rõ hết thảy chúng sanh, cho đến các vi trùng nhỏ bé, tuy nay chưa có thiện tâm nhưng trải qua bao nhiêu kiếp nữa về sau cũng sẽ phát tâm làm Phật. Bồ Tát được vô ngại ở nơi hết thảy pháp, nên quyết định biết như vậy.

Vì ở trong kinh Pháp Hoa nói rằng, Ở nơi Phật, dù làm một công đức nho nhỏ,như vẽ hình Phật, như có một lần niệm Nam Mô Phật v.v… thì quyết định về sau cũng làm Phật”; Vì ở nhiều kinh khác lại nói có “bất thối chuyển” và có “thối chuyển”, nên ngài Tu Bồ Đề nêu lên câu hỏi: Bồ Tát quyết định làm Phật, hay chẳng quyết định làm Phật?

Phật dạy: Bồ Tát quyết định làm Phật.

Ngài Tu Bồ Đề hỏi : Quyết định ở trong đạo nào?

Vì ngài nghĩ rằng, “ Vào Niết Bàn là quyết định”  mới hỏi như vậy.

Phật dạy : chẳng phải quyết định ở trong Nhị Thừa, mà đây là quyết định ở trong Đại Thừa.

Vì sao ? Vì người cầu Phật đạo, từ khi sơ phát tâm, khi được bất thối chuyển … dẫn đến ở tối hậu thân đều quyết định làm Phật.

Ý ngài Tu Bồ Đề nghĩ rằng, “sau  khi được bất thối chuyển rồi, Bồ Tát mới quyết định an lập trong Phật đạo”. Do vây mà Phật đáp lại rằng, “Ở cả ba giai đoạn Bồ Tát đều quyết định. Người đã quyết định như vậy, ắt sẽ được làm Phật”.

Hỏi : Ở các phẩm trước có nói rằng, “Phật dùng Phật nhãn quán thấy trong khắp 10 phương thế giới, số người cầu Phật đạo nhiều như số cát sông Hằng, mà số người được bất thối chuyển thì rất ít”. Nay vì sao lại nói rằng, “ở cả ba giai đoạn, Bồ Tát đều quyết định làm Phật”.?

Đáp : Phật có dạy rằng “Trước đây, ta có nói Bát Nhã Ba La Mật rất thậm thâm, có vô lượng môn. Bởi vậy nên có khi nói Bồ Tát thối là chẳng quyết định; Có khi nói Bồ Tát quyết định là chẳng thối”.

–o0o–

Ngài Tu Bồ Đề muốn hỏi Phật, “Thối là thối ở chỗ nào? Sắc … dẫn đến hết thảy pháp đều là rốt ráo không, đều chẳng thối. Như vậy, thối là thối ở chỗ nào?”.

Ý ngài Tu Bồ Đề muốn hỏi về hai nghĩa ấy là thật hay là chẳng thật. Cả hai trường hợp đều từ kim khẩu của Phật nói ra, nên đều là thật. Ví như có khi Phật dạy, “Hết thảy pháp là không, là vô sở hữu”; Có khi Phật dạy, Bố thí, trì giới v.v… đều là những pháp hữu vi”. Như vậy, vì người mới phát tâm thì Phật nói các pháp hữu vi; Vì người đã tu học lâu ngày mà còn chấp các thiện pháp, thì Phật nói các pháp là không, là vô sở hữu; Vì người đã giải đãi ở nơi Vô Thượng Bồ Đề, tâm chẳng kiên cố, thì Phật lại nói tu theo pháp Thanh Văn sẽ được độ, nếu chẳng cầu Thanh Văn sẽ phải ở lâu trong các đường sanh tử, phải thọ khổ lâu dài.

Bởi vậy nên Phật nói, “Người phát tâm nhiều như số cát sông Hằng, mà người được bất thối chuyển thì rất ít”.

Nếu người nào tu Bồ Tát hạnh mà kham nhẫn thọ khổ. Thì người ấy quyết định sẽ được Vô Thượng Bồ Đề. Nếu người nào chẳng có kham nhẫn được, thì thường chấp Thanh Văn đạo và Bích Chi Phật đạo.

Lại có người tuy kham nhẫn được, tuy nhất tâm cầu làm Phật, nhưng tâm đại bi mỏng, ái chấp thân quá nặng, thì cũng rất khó được Vô Thượng Bồ Đề. Hạng người này phần nhiều tâm thối tâm vì nghĩ rằng, “Ta chẳng thể làm Phật được; Ta hãy sớm thủ Niết Bàn, cần gì phải đời thọ đời thọ khổ”.

Vì hạng người như vậy, Phật nói, “Hết thảy Bồ Tát … dẫn đến người sơ phát tâm đều quyết định thành Phật”. Kinh Pháp Hoa có nói rõ như vậy.

Hỏi : Nếu hết thảy Bồ Tát quyết định thành Phật, thì vì sao Phật lại quở trách những người tu theo Nhị Thừa muốn nghe pháp Bồ Tát, mà chỉ muốn thủ chứng Nhị Thừa?

Đáp : Người tu theo Thanh Văn, khi đã lậu tận rồi, thì chẳng còn có các nghiệp nhân duyên dẫn sanh vào 3 cõi nữa. Khi tịnh Phật quốc độ rồi, thì vị này vẫn ở trong 3 cõi mà chẳng còn sanh phiền não.

Ở nơi tịnh độ, vị A La Hán nghe Phật thuyết kinh Pháp Hoa mới được đầy đủ Phật đạo. Nếu tự cho mình đã chứng A La Hán, đã rốt ráo diệt độ, mà chẳng nghe Phật thuyết kinh Pháp Hoa, thì chẳng được đầy đủ Phật đạo1.

Phật dạy : Ở nơi các cõi khác, ta cũng nói với chúng sanh, phải đầy đủ tất cả các điều trên mới được thành Phật.

Hỏi : Nếu A La Hán vãng cõi Tịnh Độ, thọ pháp tánh thân, thì sẽ mau được làm Phật, Sao chẳng nói thẳng như vậy, mà phải nói dần dà, quanh co trong Phật đạo?

Đáp : Người chấp pháp Tiểu Thừa bỏ chúng sanh, bỏ Phật đạo, lại thường tự cho mình là đã được đạo, Bởi nhân duyên vậy, nên hạng người này chỉ muốn thủ Niết Bàn, chẳng muốn thọ khổ sanh tử. Đây là hạng người độn căn, chẳng có thể mau thành Phật được. Hạng này chẳng có thể bằng được hạng Bồ Tát trực vãng Vô Thượng Bồ Đề

Lại nữa, trong Phật pháp có nói những việc bất khả tự nghi, như:

-Việc A La Hán có thể làm Phật hay không, chỉ có chư Phật và chư đại Bồ Tát mới biết được;  Hàng phàm phu chớ nên hý luận.

-Việc Bồ Tát có quyết định dọa vào trong 3 đường ác hay không, chỉ có chư Phật và chư đại Bồ Tát mới biết được; Hàng phàm phu dù có tin, cũng chẳng sao biết được.

–o0o–

Ngài tu Bồ Đề nghe nói trong kinh Bổn Sanh, Phật đã từng làm thân chim thú, thọ các khổ, nên ngài hỏi Phật: – Nếu Bồ Tát thọ thân súc sanh như vậy, thì làm sao nói hết thảy Bồ Tát quyết định được bất thối chuyển, vì bất thối chuyển là chẳng còn đọa vào đường ác?

Phật hỏi lại : Người vào được thánh đạo rồi, còn bị đọa vào 3 đường ác chăng ?

Ngài tu Bồ Đề nghĩ rằng, các bậc Thánh Hiền chẳng còn bị đọa vào 3 đường ác, nên đáp : Chẳng vậy.

Phật dạy : Cũng như vậy. Do các nhân duyên  đọa vào ba đường ác đã đoạn đứt, nên Bồ Tát chẳng còn đọa vào ba đường ác vậy. Bồ Tát, từ khi sơ phát tâm cho đến nay, thường tu tập bố thí Ba La Mật cùng 5 pháp Ba La Mật khác, nên chẳng có lý nào phải bị đọa vào 3 đường ác nữa.

Bồ Tát đã tận diệt các bất thiện đạo, nhưng vì thâm tâm thường bi niệm chúng sanh mà thị hiện thọ thân trong 3 đường ác. Đây chẳng phải là Bồ Tát bị đọa vào 3 đường ác vậy.

Lại nữa, vì thương xót chúng sanh mà Bồ Tát hành 6 pháp Ba La Mật, vào các thiền định hòa hợp với hạnh từ bi, nên chẳng chấp thiền vị.

Khi muốn xả thọ mạng, thì Bồ Tát Xả niệm về các pháp ở cõi Dục, lui về trong thiền định, nhập vào vô sở hữu xứ, nên chẳng có khổ não, chẳng tham trước thiền vị, cũng chẳng sanh về các nơi biên địa, hạ tiện, chẳng sanh về cõi trời Trường Thọ… là những nơi chẳng có Phật Pháp Tăng.

Bồ Tát thường ưa “trung đạo”. Xa lìa cả 2 biên, nên chẳng sanh về biên địa. Biên địa, nói ở đây là những nơi chẳng được nghe danh Tam Bảo, chẳng có 7 chúng, chẳng có tôn quý phước đức, chẳng có tôn quý đạo pháp. Còn nơi nào biết Tam Bảo, biết tội phước, giải thật tướng pháp, thì gọi là “trung quốc”, hoặc gọi là “Trung Diêm Phù Đề’.

Bồ Tát thường ưa vì người nói pháp, cũng thường thâm ái các thiện pháp, nên sanh ở “trung quốc” vì ở đây chẳng có sanh tà kiến. Vì sao ? Vì Bồ Tát đời đời thường tu hành chánh kiến, cũng dạy người khác hành chánh kiến.

Hỏi : Bồ Tát có đầy đủ các lực phước đức trí huệ. Như vậy vì sao Bồ Tất chẳng sanh vào các nhà có tà kiến để giáo họ?

Đáp : Nên phân biệt có 2 hạng Bồ Tát. Đó là:

-Hàng đại Bồ Tát đã thành tựu đại lực.

-Hàng sơ phát ý Bồ Tát.

Các đại Bồ Tát có đại nguyện độ hết thảy chúng sanh, nên thị hiện thọ các thân, kể cả sanh thân vào nơi biên địa, nơi có nhiều tà kiến. Còn Bồ Tát sơ phát ý thì chẳng dám sanh vào những nơi chẳng có người có thể độ được. Ví như kim loại quý đã tinh luyện, thì dù ở trong bùn lầy cũng chẳng có thể bị hoại; Còn các kim loại khác thì rất dễ bị sét rỉ.

–o0o–

Có 62 tà kiến, trong đó “chấp vô tác” là nặng nhất. Vì sao ? Vì phái “vô tác” nói nên cầu trời, nói trời sanh ra muôn vật, nói chẳng nên làm công đức cầu Niết Bàn, Phái này tuy chẳng ngăn làm phước đức, nhưng vì “vô tác” là đại ác, nên chẳng sanh tà kiến này. Vì sao ? Vì Bồ Tát nhất tâm quý trọng Vô Thượng Bồ Đề, chẳng quý pháp thế gian; dù chưa hoàn toàn ly dục, chưa đoạn sạch phiền não, mà chẳng khởi tâm làm ác, chẳng lấy của người, chẳng hại mạng người. Bồ Tát đoạn hết thảy các bất thiện pháp, thường hành các thiện pháp, nên chẳng đọa vào 3 đường ác.

Ngài Tu Bồ Đề hỏi : Nếu Bồ Tát chẳng đọa vào 3 đường ác, thì vì sao lại sanh làm súc vật.

Phật dạy : Bồ Tát thật đã đầy đủ thiện căn, chẳng còn đọa vào 3 đường ác. Thế nhưng, chỉ vì muốn thành tựu lợi ích cho chúng sanh mà Bồ Tát thọ thân súc sanh, chẳng phải vì có tội mà phải đọa làm súc sanh vậy.

Phật lại dạy tiếp : Bồ Tát thọ thân súc sanh mà thường khởi tâm từ bi thương xót cứu khổ mọi loài súc sanh, dù có súc sanh muốn giết hại mình, là kẻ oán tặc của mình. Còn chư vị A La Hán và Bích Chi Phật chẳng có các hạnh đó; dù các ngài chẳng làm hại chúng sanh, nhưng chẳng có thương xót kẻ muốn đến ác hại mình.

Kinh Bổn Sanh có kể mẩu chuyện sau đây:

Phật Thích Ca Mâu Ni, khi còn là Bồ Tát, có một lần thọ thân voi ngà. Khi có một thợ săn đến bắn, voi đã dùng vòi quyets sạch các tên độc, chẳng để các mũi tên có thể làm hại đàn voi. Voi bèn hỏi người thợ să rằng,  “vì sao ngươi lại khởi ác tâm?”.

Người thợ săn đáp, “Đó là tội do phiền não gây nên.

Chẳng phải tội của tôi”.

Voi đáp, “Khi được ta vô Thượng Bồ Đề, ta sẽ đoạn trừ các tội phiền não cho ngươi. Nhưng nay ngươi bắn ta để làm gì?.

Người thợ săn đáp, “Tôi muốn lấy các cặp ngà”.

Voi bèn đến bên khe đá, rút các cặp ngà giao cho người thợ săn. Máu tuôn ra lênh láng, nhưng voi chẳng thấy đau nhức gì cả.

Xong voi lại cho người thợ săn các thức ăn uống, và còn chỉ đường cho người thọ săn ra về.

Tâm từ bi ấy chỉ các Đại Bồ Tát mới có được. Còn chư vị A La Hán và Bích Chi Phật chẳng sao có đươc, nên các ngài chẳng muốn thọ thân súc sanh. Bồ Tát thị hiện làm thân súc sanh chẳng phải do nghiệp duyên mà bị đọa làm súc sanh vậy.

Hỏi : Vì sao Bồ Tát chẳng dùng thân người để thuyết pháp, mà phải làm thân thú?

Đáp : Vì có nhiều người nghe  người thuyết pháp chẳng có khởi lòng tin. Đối với hạng người ấy, Bồ Tát thường thị hiện làm thân súc sanh để hành Bồ Tát đạo. Các người ấy nghe thấy súc sanh mà hành đạo như vậy sẽ dễ sanh tín tâm, khiến trở thành dễ được giáo hóa vậy.

Lại có các Bồ Tát muốn đầy đủ từ bi, muốn hành thật pháp, khiến chúng sanh nghe thấy, hoặc sanh sợ hãi, hoặc sanh hoan hỷ. Có sợ hãi, có vui mừng… như vậy, thì họ mới chịu vào đạo.

(Hết Quyển 93)

CHÚ THÍCH

  1. Trong kinh Pháp Hoa, phẩm Phương Tiện, Phật nói với ngài Xá Lợi Phất rằng, “Nếu đệ tử của ta tự cho mình là A La Hán, là Bích Chi Phật, mà chẳng nghe chẳng biết chư Phật Như Lai giáo hòa về Bồ Tát sự, thì chẳng phải đệ tử Phật, chẳng phải là A La Hán, chẳng phải là Bích Chi Phật”.
    Cũng trong kinh Pháp Hoa, phẩm “500 vị đệ tử được thọ ký”, có nói về 500 vị đại A La Hán được thọ ký xong, vui mừng, hớn hở, từ chỗ ngồi đứng vậy, đến trước Phật, lạy dưới chân Phật, và tự trách rằng, “Bạch Thế Tôn ! Chúng con thường tán niệm tự cho mình là đã được rốt ráo diệt độ. Nay mới biết người vô trí mới làm như vậy. Vì sao ? Vì chúng con đáng được trí huệ của Như Lai, mà lại tự chấp lấy trí huệ nhỏ của mình, cho là đủ rồi vậy”.