LUẬN
ĐẠI TRÍ ĐỘ

Nguyên tác: Bồ tát Long Thọ
Hán dịch: Pháp sư Cưu Ma La Thập
Việt dịch: Tỳ kheo ni THÍCH NỮ DIỆU KHÔNG

 

TẬP I
QUYỂN 4

PHẨM THỨ NHẤT
(Tiếp theo)

Nói về:

Bồ Tát

KINH:

Lại có hàng Bồ Tát

LUẬN:

Hỏi: Vì sao nói đến các Chúng Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di trước, rồi mới nói đến Bồ Tát ?

Đáp: Bồ Tát tuy kế sau Phật, nhưng vì muốn độ chúng sanh nên còn lưu hoặc, để hòa nhập với nếp sống của họ. A La Hán tuy còn ít trí huệ nhưng đã lậu tận. Bồ Tát tuy nhiều trí huệ mà còn lưu phiền não, chưa tận đoạn. Vậy nên tại Hội Bát Nhã này nói đến các vị A La Hán trước.

Phật pháp có hai loại: Đó là

– Bí mật pháp

– Hiển thị pháp.

Về phần Hiển Thị Pháp, thì A La Hán là phước điền, vì đã lậu tận. Về Bí Mật Pháp thì Bồ Tát đã được Vô Sanh Pháp Nhẫn. Tuy đã đoạn phiền não rồi, nhưng vì lợi ích chúng sanh, Bồ Tát vẫn còn phải lưu hoặc để giáo hóa chúng sanh. Bồ Tát phương tiện thị hiện vào 5 đạo chúng sanh, thọ các dục lạc, chỉ nhằm dẫn đạo chúng sanh ra khỏi phiền não.

Hỏi: Nói đến Bồ Tát sau A La Hán còn hợp lý, nhưng vì sao lại nói sau cả các Chúng khác ?

Đáp: Cả 4 Chúng Tỷ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Ni được gọi chung là Chúng Thanh Văn. Nếu đang nói về Thanh Văn mà xen vào nói về Bồ Tát, thì không tiện. Ví như Tỳ Kheo Ni có rất nhiều luật nghi, đáng lẽ phải được xếp ngay sau Tỳ Kheo và trước Sa Di, nhưng vì không tiện cho luật nghi, nên Phật xếp Tỳ Kheo Ni sau Sa Di vậy.

Trường hợp Bồ Tát cũng vậy. Tuy Bồ Tát giáo hóa cả 4 Chúng Thanh Văn, nhưng phải nói sau để tiện việc sắp xếp.

Lại nữa, tuy Bồ Tát có công đức Trí tuệ hơn cả A La Hán cùng Bích Chi Phật, nhưng vì là Mật Hạnh nên phải nói sau.

Hỏi: Trong các kinh khác chỉ nói đến 4 Chúng, vì sao trong kinh Bát Nhã Ba La Mật, lại nói thêm Chúng Bồ Tát nữa?

Đáp: Có hai thứ Đạo, đó là: – Thanh Văn Đạo

– Bồ Tát Đạo.

Vì Bát Nhã cầu Phật Đạo, nên phải nói cả hai Đạo.

Bồ Tát có hai hạng. Đó là: – Hạng xuất gia.

– Hạng tại gia.

Hỏi: Xuất gia Bồ Tát ở trong Chúng Tỳ Kheo và Tỳ Kheo Ni, còn tại gia Bồ Tát ở trong 2 Chúng Ưu Bà Tắc và Ưu Bà Ni. Nay còn riêng nói làm gì nữa ?

Đáp: Tuy Bồ Tát có ở trong cả 4 Chúng rồi, thế nhưng cũng phải riêng nói. Vì sao? Vì trong hàng Thanh Văn, Bích Chi Phật còn có vị cầu sanh làm người, làm trời, có vị lai chỉ cầu trú ở Niết Bàn an lạc. Các vị này chẳng phải là Bồ Tát, vì chẳng phát tâm nguyện thành Phật.

Lại nữa, Bồ Tát đã được Vô Sanh Pháp Nhẫn, đã ra khỏi 3 cõi, nên không còn ở trong số chúng sanh nữa. Chỉ vì lợi ích chúng sanh, mà Bồ Tát thị hiện làm thân chúng sanh. Trong kinh Ba La Diên có ghi bài kệ của Ưu Ba Thi Nan hỏi Phật như sau:

Đã sạch kiết sử, sanh nữa chăng?
Đã vĩnh diệt rồi sanh nữa chăng?
Có vào Niết Bàn thường trú chăng?
Nguyện đấng Đại Trí chỉ dạy cho.

Phật dùng kệ đáp lại rằng:

Tịch diệt ấy chẳng thể nghĩ bàn,
Phá sạch Nhân Duyên cùng Danh Tướng,
Vượt ngoài Ngữ Ngôn cùng Văn Tự.
Hết thảy tận diệt như lửa tắt.

Bồ Tát đã phá sạch hết thảy pháp tướng, đã được Pháp Thân, nên trong các kinh Đại Thừa thường nói riêng về Bồ Tát mà không xếp Bồ Tát chung với 4 Chúng Thanh Văn.

Hỏi: Vì sao trong các kinh Thanh Văn không nói về Bồ Tát, mà trong các kinh Đại Thừa lại có nói về Bồ Tát và Thanh Văn ?

Đáp: Vì muốn biện thuyết về cả hai thừa Bồ Tát và Thanh Văn.

Ví như: – Thanh Văn chỉ lợi ích cho riêng mình, Bồ Tát lợi ích cho tất cả.

– Thanh Văn Thừa chỉ nói đến Ngã Không, Bồ Tát Thừa nói đến Ngã Không lẫn Pháp Không.

Còn biết bao nhiêu sự khác biệt giữa hai thừa này nên các kinh Đại Thừa thường nói về cả hai Chúng Thanh Văn và Bồ Tát. Như bài kệ thuyết :

Vào được Pháp Đại Thừa
Pháp chân thật lợi ích,
Dẫn đến Đạo Vô Thượng
An lạc cho tất cả.
Vào được Pháp Đại Thừa,
Từ Bi với muôn loài,
Đem đầu mắt bố thí,
Như vứt bỏ vỏ cây.
Vào được Pháp Đại Thừa,
Thọ trì Thanh Tịnh giới,
Như trâu đem mến đuôi,
Chẳng hề tiếc thân mạng.
Vào được Pháp Đại Thừa,
Thường hành Vô Thượng Nhẫn,
Dù cho mất thân mạng,
Cũng xem như cỏ rác.
Vào được Pháp Đại Thừa,
Tinh Tấn không mệt mỏi,
Hành Đạo không ngừng nghỉ,
Như người tát biển lớn.
Vào được Pháp Đại Thừa,
Rộng tu vô lượng hạnh,
Thần thông cùng Thánh Đạo
Thanh tịnh và tự tại.
Vào được Pháp Đại Thừa,
Phân biệt rõ các pháp,
Trí kim cương bất hoại,
Đầy đủ hạnh công đức.
Trí huệ chẳng thể bàn,
Tâm từ bi vô lượng,
Chẳng rơi về Nhị Pháp,
Xem muôn pháp bình đẳng.
Những xe lừa, ngựa, voi,
Tuy đồng mà vẫn khác,
Bồ Tát cùng Thanh Văn,
Đại, Tiểu cũng như vậy.
Lấy Từ Bi làm trục,
Trí Huệ làm bánh xe,
Tinh Tấn làm dây cương,
Đi trên đường Giới Định.
Lấy Nhẫn Nhục làm giáp,
Lấy Tổng Trì làm yên,
Ngồi xe Ma Ha Diễn,
Độ hết thảy chúng sanh.

Hỏi: Vì sao kinh Thanh Văn chỉ nói đến các Tỷ Kheo, mà kinh Đại Thừa khởi đầu nói đến Thanh Văn nhưng kế sau lại nói đến Bồ Tát ?

Đáp: Đại thừa còn gọi là Ma Ha Diễn, là Thừa rộng lớn bao la, gồm đủ hết thảy các Thừa, Thanh Văn chỉ là Thừa nhỏ hẹp, ví như sông chẳng sao có thể dung chứa hết lượng nước của biển lớn, trái lại, biển lớn có thể thu nạp hết thảy các nguồn nước từ các sông ngòi chảy đến. Như bài kệ thuyết:

Đại Thừa mênh mông tợ biển lớn,
Tiểu Thừa như vũng nước chân trâu,
Vũng nhỏ làm sao chứa biển lớn
Thí dụ nêu đây rõ hiển bày.

Hỏi: Vì sao gọi là Bồ Đề Tát Đỏa?

Đáp: BỒ ĐỀ (Bodhi) là Đạo, là Giác, tức là Phật Đạo.

TÁT ĐỎA (Sattva) là chúng sanh, cũng gọi là Đại Tâm. Như bài kệ thuyết:

Hết thảy các Phật Đạo
Trí Huệ cùng Giới Định
Lợi ích cho tất cả
Gọi tên là “Bồ Đề ”.
Tâm Kim Cương bất động,
Nhẫn Nhục, thành việc lớn,
Không đoạn cũng không phá
Gọi tên là “Tát Đỏa”.

Người phát Đại Tâm làm việc lợi ích cho mình và hết thảy cho chúng sanh, rõ biết Thật Tướng các Pháp, chứng đạo Vô Thượng Bồ Đề thì được gọi là Bồ Đề Tát Đỏa, gọi tắt là Bồ Tát.

Lại nữa, người dạy cho chúng sanh nhàm chán “Sanh, Già, Bệnh, Chết”, chỉ cho chúng sanh con đường giải thoát, được gọi là Bồ Đề Tát Đỏa.

Lại nữa, có 3 thứ Đạo.

Đó là:

– Thanh Văn Đạo

– Bích Chi Phật Đạo

– Phật Đạo

Cả 3 Đạo đều được gọi là Bồ Đề; duy chỉ có Phật Đạo mới được gọi là Vô Thượng Bồ Đề. Người hành Phật Đạo mới được gọi là Bồ Đề Tát Đỏa.

Hỏi: Phải như thế nào mới được gọi là Bồ Đề Tát Đỏa ?

Đáp: Người có Đại Tâm, phát Đại Nguyện, tinh tấn hành Phật Đạo, tâm kiên cố không thối chuyển, mới gọi là Bồ Đề Tát Đỏa. Như bài kệ thuyết :

Người từ sơ phát tâm,
Đã thệ nguyện làm Phật
Vượt trên cả thế gian
Xứng đáng được cúng dường.

Lại nữa, người tinh tấn tu hành, từ Sơ Địa cho đến Đệ Cửu Địa, được vô ngại, tự tại, nhập vào Kim Cang Tam Muội, thì được gọi là Bồ Đề Tát Đỏa. Những con người thối chuyển, thì chẳng được gọi là Bồ Đề Tát Đỏa.

Hỏi: Làm thế nào để phân biệt Bồ Tát Bất Thối Chuyển với Bồ Tát Thối Chuyển ?

Đáp: Bồ Tát Bất Thối Chuyển thường nhất tâm tu các thiện pháp, thường chánh trực, tinh tấn. Phẩm A Bệ Bạt Trí (Phẩm 55, quyển 73) có nói rõ về các hạnh nguyện và tướng mạo của các vị Bồ Tát Bất Thối Chuyển.

Như khi Phật hỏi Ngài A Nan: Này A Nan! Ngươi thuyết tinh tấn chăng ?

Ngài A Nan thưa: Bạch Thế Tôn! Đúng như vậy.

Phật dạy: Này A Nan! Hãy thường hành, thường tu, và thường niệm tinh tấn, cho đến khi thành tựu quả Vô Thượng Bồ Đề.

Lại nữa, có thuyết nói “Phải đủ 2 pháp mới là Bất Thối Chuyển”. Thế nào là đủ 2 pháp. Đó là:

-Biết tất cả các pháp đều là Tự Tánh “Không”.

– Thường niệm chúng sanh, không rời bỏ chúng sanh.

Lại nữa, có thuyết nói phải đủ 3 pháp mới là “Bất Thối Chuyển”. Thế nào là đủ 3 pháp. Đó là:

  • -Nguyện thành Phật.
  • -Khởi Từ Bi Tâm đối với hết thảy chúng sanh.
  • -Được Ban Châu Tam Muội.

Lại nữa, Bồ Tát Bất Thối Chuyển cũng có nghĩa là người đầy đủ Trí Huệ, từ Trí Huệ sanh, và hộ trì Trí Huệ.

Hỏi: Thế nào gọi là “gieo 32 duyên nghiệp Tướng Hảo” ?

Đáp: Qua 3 A Tăng Kỳ Kiếp thường tu thiện nghiệp, và trải qua 3 A Tăng Tỳ Kiếp vẫn thường tinh tấn, chẳng bao giờ thối chuyển, thì gieo được “32 duyên nghiệp Tướng Hảo”.

A Tăng Kỳ Kiếp, còn được gọi là Vô Số Kiếp, là số kiếp cực kỳ lớn, mà những bậc giỏi toán số trong hàng Trời Người chẳng có thể biết được. Bởi vậy, nên gọi là Vô Số Kiếp.

Bồ Tát hành Đạo trải qua Vô Số Kiếp thứ nhất, rồi trở lại hành Đạo trải qua Vố Số Kiếp thứ hai, thứ ba. Trong Vô Số Kiếp thứ nhất, chưa tự biết “mình sẽ thành Phật”. Trong Vô Số Kiếp thứ hai, tuy đã tự biết “mình sẽ thành Phật”, nhưng chưa nói lên được “mình sẽ thành Phật”. Trong Vô Số Kiếp thứ ba, đã tự biết “mình sẽ thành Phật”, và cũng tự khẳng định rằng “mình sẽ thành Phật”.

Ví như trường hợp Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, khi còn là Bồ Tát, nêu sau đây:

-Qua thời gian, kể từ Phật Thích Ca Văn đến Phật Thi Khí là Vô Số Kiếp thứ nhất. Lúc bấy giờ, Bồ Tát đã vĩnh viễn rời bỏ thân Nữ.

-Qua thời gian, kể từ Phật Thi Khí đến Phật Nhiên Đăng là Vô Số Kiếp thứ hai. Lúc bấy giờ, Bồ Tát dâng 7 cành hoa sen xanh cúng dường Phật Nhiên Đăng; trải áo dạ nai và xõa tóc trên đường bùn lầy để Phật đi qua. Cũng vào lúc bấy giờ, Phật Nhiên Đăng đã thọ ký cho Bồ Tát “Trong thời vị lai sẽ thành Phật, hiệu là Thích Ca Mâu Ni”.

– Qua thời gian, kể từ Phật Nhiên Đăng đến Phật Tỳ Bà Thi là Vô Số Kiếp thứ ba.

Qua 3 Vô Số Kiếp này, Bồ Tát đã thành tựu “32 duyên nghiệp Tướng Hảo”.

Hỏi: 32 duyên nghiệp Tướng Hảo gieo ở nơi nào và lúc nào?

Đáp: Gieo ở cõi Dục, chẳng phải gieo ở các cõi Sắc và cõi Vô Sắc. Trong 5 loài ở cõi Dục, thì gieo ở nơi loài người. Trong 4 Châu Thiên Hạ, thì gieo ở Châu Diêm Phù Đề. Ngoài ra nơi loài người, thì gieo vào thân Nam, chẳng phải gieo vào thân Nữ.

Lại nữa, khi có Phật xuất thế mới gieo, chẳng phải gieo khi không có Phật xuất thế; chỉ duyên Phật thân mà gieo, chẳng duyên thân nào khác mà gieo cả.

Hỏi: 32 duyên nghiệp Tướng Hảo phải gieo vào thân nghiệp, khẩu nghiệp, hay gieo vào ý nghiệp ?

Đáp: Gieo vào ý nghiệp, chẳng phải gieo vào thân hay khẩu nghiệp. Vì sao? Vì ý nghiệp lanh lợi hơn thân nghiệp và khẩu nghiệp. Lại nữa, phải gieo nơi ý thức, chẳng phải gieo nơi 5 thức ngoài, vì 5 thức ngoài không có công năng phân biệt.

Hỏi: Khởi đầu nên gieo tướng gì?

Đáp: Có thuyết nói: Nên gieo tướng bàn chân trước, vì có an lập được thân, thì về sau mới gieo các tướng khác được. Có thuyết nói : Nên gieo tướng mắt trước vì có được tướng mắt mới có thể dùng ánh từ bi mà quan sát chúng sanh. Có thuyết nói : Phải tùy duyên hòa hợp mà gieo tướng đầu tiên cho thích hợp, không bắt buộc phải gieo một tướng nhất định nào trước cả.

Hỏi: Gieo bằng 1 ý tứ, hay gieo bằng nhiều ý tứ?

Đáp: 32 tướng được gieo bằng 32 ý tứ. Mỗi ý tứ gieo 1 tướng. Mỗi tướng có trăm thứ phước đức trang nghiêm.

Có thuyết nói: Làm được Chuyển Luân Thánh Vương là 1 phước đức.

Có thuyết nói: Làm được Đế Thích là 1 phước đức v.v….

Phước đức như vậy chẳng có thể lường, chẳng có thể dùng thí dụ mà biết được. Ví như : Trong khi tất cả mọi người đều mù lòa, mà có một người may mắn thoát được nạn ấy, thì đó là 1 phước đức; trong khi tất cả mọi người đều phá giới, mà có 1 người giữ gìn tịnh giới và chánh kiến, thì đó là 1 phước đức.

Gieo 32 duyên nghiệp Tướng Hảo được vô lượng phước đức. Phước đức như vậy chỉ có Phật mới biết được.

Hỏi: Trong bao nhiêu lâu mới gieo đủ 32 duyên nghiệp Tướng Hảo ?

Đáp: Chậm là 100 kiếp; nhanh là 91 kiếp, như trường hợp của Phật Thích Ca Mâu Ni.

Như trong kinh chép : Vào đời Phật Phất Sa, trong quá khứ xa xăm, có 2 vị Bồ Tát là Thích Ca Mâu Ni và Di Lặc. Phật Phất Sa quán biết “tâm của Bồ Tát Thích Ca chưa được thuần thục rồi; trái lại, tâm của Bồ Tát Di Lặc đã thuần thục rồi, mà tâm của các đệ tử của ngài lại chưa thuần thục”.

Phật Phất Sa tư duy rằng “một người dễ hóa độ hơn nhiều người”. Tư duy như vậy, Phật Phất Sa muốn thấy Bồ Tát Thích Ca chóng được thành Phật, nên đã lên núi Tuyết Sơn, ở trong hang báu, nhập vào Hỏa Định.

Lúc bấy giờ, Bồ Tát Thích Ca Mâu Ni là một vị Tiên nhân Ngoại Đạo, thấy Phật nhập Hỏa Định, tỏa ánh quang  minh rực rỡ, sanh lòng tín kính.

Thấy như vậy rồi, Bồ Tát sanh tâm hoan hỷ, đứng một chân, không chớp mắt, nhất tâm chiêm ngưỡng suốt 7 ngày 7 đêm, và làm bài kệ tán Phật rằng :

Trong trời đất chẳng ai như Phật,
Mười phương thế giới chẳng ai bằng,
Khắp thế giới, tôi đều tận thấy,
Hết thảy đều chẳng được như Phật.

Do nhất tâm chiêm ngưỡng Phật Phất Sa suốt 7 ngày 7 đêm, không hề chớp mắt, mà Bồ Tát vượt qua được 91 kiếp, thành Đạo Vô Thượng Bồ Đề.

Hỏi: Bồ Tát Thích Ca Mâu Ni thông minh, hiểu rộng, biết nhiều. Vì sao suốt 7 ngày 7 đêm mà Ngài chỉ làm được có mỗi một bài kệ tán Phật Phất Sa ?

Đáp: Bồ Tát quí tâm tư, mà chẳng muốn nhiều lời. Trong suốt 7 ngày 7 đêm, ngài đã chuyên chú quán chiếu Phật thân, nhất tâm chánh niệm nhằm thành tựu Đạo quả, mà phương tiện hiển bày nơi một bài kệ vậy.

Hỏi: Vì sao tâm của Bồ Tát Thích Ca Mâu Ni chưa thuần thục, mà tâm của các đệ tử của Ngài lại đã thuần thục rồi, trái lại tâm của Bồ Tát Di Lặc đã thuần thục, mà tâm của các đệ tử của Ngài lại chưa thuần thục?

Đáp: Bồ Tát Thích Ca Mâu Ni phát tâm rộng lớn làm lợi ích cho chúng sanh, vì chúng sanh nhiều hơn là vì mình.

Trái lại, Bồ Tát Di Lặc lại thiên về tự lợi hơn là lợi tha.

Bởi vậy, nên trong thời gian 91 kiếp, kể từ Phật Tỳ Bà Thi đến Phật Ca Diếp, Bồ Tát Thích Ca Mâu Ni đã thành tựu đầy đủ 32 Tướng Hảo, và cũng đầy đủ 6 pháp Ba La Mật.

Hỏi: Thế nào gọi là đầy đủ Đàn Ba La Mật?

Đáp: Là thường vì chúng sanh, bố thí tất cả các vật sở hữu của mình; dẫn đến bố thí thân mạng mình cũng chẳng mảy may luyến tiếc, chẳng mong được đền ơn đáp nghĩa.

Ví như trường hợp vua Thi Tỳ là một vị vua có lòng từ bi rộng lớn. Nhà vua thương xót chúng sanh như mẹ thương con, chẳng tiếc thân mạng mình, nguyện xả thân mình để cứu một con chim bồ câu bị chim ưng đe dọa mạng sống.

Vua Thi Tỳ là tiền thân của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni.

Vào một thời xa xăm trong quá khứ, lúc bấy giờ có một vị Trời Đế Thích, mạng gần dứt, biết mình sắp bị đọa, nên muốn tìm một bậc Nhất Thiết Trí để cứu vớt mình, tìm mãi không được, Đế Thích rất ưu sầu. May thay, có một vị Trời khác nói với Đế Thích rằng “Hiện có vua Thi Tỳ là một vị Bồ Tát đầy đủ bố thí, trì giới, thiền định, trí huệ, chẳng bao lâu nữa sẽ thành Phật”.

Vị Trời Đế Thích dùng kệ đáp rằng:

Bồ Tát phát Đại Tâm,
Như trứng cá, bông xoài.
Người phát tâm rất nhiều,
Chứng quả chẳng bao nhiêu.

Muốn thử tâm Bồ Tát, Đế Thích bảo vị Trời kia rằng : “Ta sẽ tự biến thành chim ưng, còn ngươi hãy biến thành chim bồ câu. Ngươi cứ làm ra vẻ sợ hãi bay thẳng vào nách nhà vua; trong lúc đó ta sẽ đuổi theo bắt ngươi. Rồi Đế Thích nói kệ rằng:

Đây chẳng do ác tâm !
Thật vàng phải nên thử,
Ta thử tâm Bồ Tát,
Để biết thật định chưa.

Nói xong bài kệ, Đế Thích liền tự biến thành chim ưng, và vị Trời kia tự biến thành chim bồ câu mắt đỏ. Chim ưng hùng hổ đuổi theo chim bồ câu, khiến bồ câu sợ sệt run rẩy, bay thẳng đến chỗ vua Thi Tỷ, ẩn núp vào nách nhà vua.

Nhiều người trông thấy, bàn tán với nhau rằng:

Nhà vua đại từ bi,
Bảo vệ cho tất cả
Chim bồ câu bé nhỏ,
Bay đến cầu che chở.
Tướng Bồ Tát như vậy,
Thành Phật chẳng còn lâu.

Chim ưng bắt không được chim bồ câu, bèn nói với nhà vua rằng : “Chim bồ câu đó là con mồi của tôi, là miếng ăn của tôi. Ông đã phát tâm Bồ Tát, sao còn nỡ nhẫn tâm bắt tôi phải chịu đói !”.

Nhà vua đáp: “Ta đã nguyện cứu độ cho chúng sanh nào đến với Ta, nhờ Ta che chở. Ngươi muốn ăn thức gì, ta sẽ cung cấp cho ngay. Chim ưng đáp : “Tôi cần ăn thịt nóng của con vật mới bị giết”.

Nhà vua suy nghĩ “Không thể nào giết một con vật, để làm thức ăn cho một con vật khác”, bèn dùng kệ đáp lại rằng:

Thân thịt của Ta đây,
Hằng thuộc “Sanh, Già, Chết”,
Rồi đây sẽ tan rã.
Ta đổi thịt cứu chim.

Thuyết kệ xong, nhà vua truyền đem dao đến, tự tay lóc thịt của mình, trao cho chim ưng. Chim ưng buộc điều kiện: “Số thịt phải cân nặng ngang với số thịt của chim bồ câu”. Nhà vua lại truyền đem cân đến, đặt chim bồ câu lên cân, rồi lóc thịt mình để lên cân để cân bằng. Nhưng lạ thay ! Nhà vua đã lóc gần hết thịt ở tay, chân, và ở thân, mà số thịt vẫn còn nhẹ hơn số thịt ở chim bồ câu. Các quan sợ dân chúng dị nghị, bèn kéo sáo che vua. Nhà vua từ chối, rồi thuyết kệ rằng :

Trời, Người, A Tu La,
Hãy đến đây xem Ta:
Tâm Ta không thối chuyển,
Dõng mãnh cầu Phật Trí;
Những ai cầu Phật Đạo,
Phải nhẫn nại khổ đau,
Chẳng giữ tâm kiên cố,
Chẳng sao đạt chí mình.

Lúc bấy giờ, toàn thân đẫm máu, nhà vua cố lê mình về phía can, tự nghĩ rằng “Ta nay đã đầy đủ trì giới, tinh tấn, thiền định, trí huệ. Nếu Ta sợ cảnh khổ này, thì làm sao cứu thoát được các chúng sanh, không có trí huệ và hiện đang chịu bao nỗi khổ đau ở chốn địa ngục ?”.

Nghĩ như vậy rồi, nhà vua cố sức leo lên cân để cân bằng với bồ câu.

Thấy tâm Bồ Tát đã quyết định, chẳng gì lay chuyển được nữa, hết thảy hàng Trời, Rồng, Quỷ, Thần, A Tu La đều tán thán “ Vì muốn cứu mạng sống cho chim bồ câu nhỏ bé, mà Bồ Tát phát tâm làm việc hy hữu. Nhất định chẳng bao lâu nữa sẽ thành Phật”.

Lúc bấy giờ, mặt đất dấy lên 6 điệu chấn động, cây khô trổ hoa, hoa trời rơi xuống, thiên nữ múa ca, thần tiên khắp mười phương đồng tán thán “Chẳng bao lâu nữa, Bồ Tát sẽ thành Phật”.

Vị Trời Đế Thích nói với vị Trời kia rằng: “Cuộc thử thách như vậy đã là xong, chẳng còn gì để nghi ngờ nữa”. Xong nói bài kệ tán thán vua Tỳ Thi rằng :

Từ trong đất Từ Bi
Nẩy mầm Nhất Thiết Trí
Ta hãy mau cúng dường
Đứng đề Người ưu não

Chim ưng hỏi nhà vua : “Tâm Ngài có hối hận chăng ?”

Nhà vua đáp: “Tâm tôi rất hoan hỷ. Trong khi máu chảy, thịt tan, tôi không hề hối hận, không hề hối tiếc, tôi chỉ nhất tâm cầu Vô Thượng Bồ Đề”.

Chim ưng lại hỏi: “Ngài lấy gì để làm chứng ?”

Nhà vua đáp: “Nếu tôi chân thật cầu Phật Đạo, thì thân tôi sẽ được hồi phục lại như cũ”.

Vua Tỳ Thi vừa nói dứt lời, thì thân thể của Ngài liền được hồi phục hoàn toàn lại như trước.

Như vậy gọi đầy đủ là Đàn Ba La Mật.

Hỏi: Thế nào gọi là đầy đủ Thi La Ba La Mật ?.

Đáp: Là chẳng tiếc thân mạng để hộ trì Tịnh Giới; dù phải xả thân mạng cũng chẳng phạm Giới Cấm.

Đời xưa có vua Đà Tu Ma là một vị vua tinh tấn trì giới, thường nói lời chân thật.

Vào một buổi sáng, vua cùng các thể nữ đi đến khu vườn thượng uyển dạo chơi.

Giữa đường có một người Bà La Môn đến nói với nhà vua rằng “Tôi nghèo hèn, cúi xin ngài bố thí cho tôi chút ít sự giàu sang của ngài”.

Nhà vua bảo: “Ta sẵn sàng; nhưng ngươi hãy đợi Ta trở về thành, Ta sẽ bố thí ngươi”.

Thế nhưng, khi nhà vua và đoàn tùy tùng vừa vào đến khu vực Thượng Uyển, thì có một con chim Kim Sí Điểu to lớn sà xuống cắp nhà vua mang đi, giữa tiếng khóc than của đoàn thể nữ.

Chim mang nhà vua bay vụt lên không trung, rồi đem về cung điện của Lộc Túc Quỷ Vương. Tại nơi đây đã có sẵn 99 vị vua chúa khác, bị bắt từ trước.

Vua Đà Tu Ma than khóc, khiến Lộc Túc Quỷ Vương phải ngạc nhiên, nói rằng : “Ngài là một vị Đại Vương, dòng Sát Đế Lợi, sao nay ngài lại than khóc thảm thiết như vậy ?”.

Vua Đà Tu Ma đáp: “Ta chẳng bao giờ sợ chết, song ta đã bị thất tín với một người Bà La Môn. Ta đã hứa khi Ta về đến thành thì Ta sẽ bố thí cho người ấy. Nay, vì bị bắt, nên Ta phải mang tội vọng ngữ”.

Lộc Túc Quỷ nói: “Nếu ngài sợ tội vọng ngữ, thì Ta sẽ cho ngài về trong vòng 7 ngày để sắp xếp việc bố thí. Sau 7 ngày, ngài phải trở lại nơi đây. Nếu thất hẹn, Ta sẽ sai Kim Sí Điểu đến bắt ngài mang về nơi đây”.

Vua Đà Tu Ma trở về nước, tùy ý làm việc bố thí. Sau đó, vua lập Thái Tử lên kế ngôi, triệu tập Đại Hội Nhân Dân, sám hối cùng thần dân rằng : “Trong thời gian qua, Ta có rất nhiều lỗi lầm trong việc trị nước, an dân. Ta mong thần dân thứ lỗi cho Ta. Kể từ hôm nay, thân Ta không còn thuộc về ta nữa. Lộc Túc Quỷ Vương đã bắt Ta, và đã khoan hồng cho Ta trở về nước trong thời hạn bảy ngày để làm việc bố thí. Nay kỳ hạn 7 ngày đã hết, Ta phải giữ trọn lời hứa, trở lại chỗ Ta bị bắt giữ”.

Thần dân nghe vua nói, quá xúc động, đồng thanh xin vua cho đem binh hùng, tướng mạnh đê trừng trị Lộc Túc Quỷ Vương.

Vua Đà Tu Ma từ chối và dùng kệ khuyên rằng:

Thật Ngữ, giới hàng đầu
Thật Ngữ, được sanh Thiên
Thật Ngữ, làm Đại Nhân
Vọng ngữ, đọa Địa Ngục
Ta nguyện giữ Thật Ngữ
Dù thọ khổ ngục tù,
Dù phải xả sắc thân
Tâm Ta vẫn chẳng hối.

Ngay sau đó, Vua Đà Tu Ma trở lại chốn ngục tù. Lộc Túc Quỷ Vương thấy nhà vua đúng hẹn, sanh tâm hoan hỷ, khen rằng: “Ngài thật là người quý trọng thật ngữ, không tiếc thân mạng để giữ trọn lời hứa. Ngài thật là một bậc Đại Nhân”.

Lúc bấy giờ, Vua Đà Tu Ma tán thán Thật Ngữ, và đồng thời nêu rõ những lỗi lầm của Vọng Ngữ cho Lộc Túc Quỷ Vương nghe.

Lộc Túc Quỷ Vương nghe xong sanh tâm thanh tịnh, nói với nhà vua rằng: “Ngài thật khéo nói pháp. Nay Ta trả tự do cho ngài. Ta cũng trả tự do cho tất cả 99 vị vua chúa kia, tùy ý trở về nước mình”.

Như vậy gọi là đầy đủ Thi La Ba La Mật ?

Hỏi: Thế nào gọi là đầy đủ Sẵn Đề Ba La Mật ?

Đáp: Là giữ được tâm thanh tịnh, không khởi sân si khi bị người đến đánh đập, mắng nhiếc, hoặc đe dọa mạng sống của mình. Ví như Tiên Nhân Sẵn Đề, tiền thân của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, tu nhẫn nhục, bị vua Ca Lợi cắt tay chân mà vẫn chẳng oán giận.

Hỏi: Thế nào gọi là đầy đủ Tỳ Lê Gia Ba La Mật ?

Đáp: Là có Đại Tâm, vì chúng sanh, mà luôn luôn tinh tấn, không giải đãi.

Ví như trường hợp Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, khi còn là Bồ Tát, do đại nguyện cầu Vô Thượng Bồ Đề để cứu độ hết thảy chúng sanh, mà ngài đã phát tâm dõng mãnh chiêm ngưỡng Phật Phất Sa, trong suốt 7 ngày 7 đêm, không hề chớp mắt, khi Phật nhập Hỏa Định.

Hỏi: Thế nào gọi là đầy đủ Thiền Na Ba La Mật ?

Đáp: Là giữ tâm tự tại, không lay động, khi nhập Thiền Định. Thiền Định của hàng Ngoại Đạo cũng đạt đến chỗ tự tại. Ví như trường hợp Tiên Nhân Xà Lê, khi tọa thiền, đã dứt hết hơi thở, đến độ chim chóc đến làm tổ trên đầu, đẻ trứng, nở con, mà tâm chẳng chút lay động, mãi đến khi chim chóc bay đi hết, mới ra khỏi thiền.

Hỏi: Thế nào gọi là đầy đủ Bát Nhã Ba La Mật?

Đáp: Là có Đại Tâm, tư duy phân biệt, rõ biết Thật Tướng của các pháp. Ví như có vị Đại Thần Bà La Môn Cư Tân Đà phân chia cõi Diêm Phù Đề thành từng phần nhỏ (thành, ấp, tụ lạc,…).

Bồ Tát Thích Ca Mâu Ni, vào thời Phật Ca Diếp, đã đầy đủ 6 pháp Ba La Mật. Do vậy mà Ngài được sanh lên cung trời Đâu Suất.

Hỏi: Vì sao Bồ Tát lại sanh ở cõi trời Đâu Suất ?

Đáp: Do các nghiệp duyên đã thuần thục, nên Bồ Tát được sanh ở cõi trời ấy.

Có thuyết nói: “Ở cõi trời Đâu Suất không quá nặng nề về kiết sử, cũng không quá thông lợi. Thế nên, ở đây trí huệ được an ổn. Lại có thuyết nói : “Cõi trời Đâu Suất ở Trung Đạo, giữa cõi trời Lục Dục Thiên và cõi trời Phạm Thiên. Đây cũng là nghĩa dùng lý Trung Đạo mà thuyết pháp như vậy”.

Bồ Tát sanh ở cõi trời Đâu Suất, dùng 4 pháp quán nhân gian. Đó là: – Quán Thời – Quán Quốc Độ – Quán Chủng Tánh – Quán Sanh Mẫu.

* “Quán Thời” là quán tuổi thọ của loài người.

Có 8 thời: 84000 tuổi; 60000 tuổi; 50000 tuổi; 40000 tuổi; 30000 tuổi; 20000 tuổi; 10000 tuổi và 100 tuổi.

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni quán thời người thọ 100 tuổi mới xuất thế.

* “Quán Quốc Độ” là quán nơi thanh tịnh, yên ổn, đất đai phì nhiêu, dân chúng sinh sống dễ dàng.

* “Quán Chủng Tánh” là quán các dòng họ Sát Đế Lợi và Bà La Môn. Đức Phật Thích Ca Mưu Ni quán sanh vào dòng Sát Đế Lợi.

* “Quán Sanh Mẫu” là quán bà mẹ nào giữ được giới thanh tịnh trong thời kỳ thai nghén.

Bồ Tát tư duy như vậy rồi, từ cõi trời Đâu Suất, chọn hoàng hậu Ma Da của vua Tịnh Phạn, làm vị sanh mẫu. Bồ Tát nhập vào thai mẹ, mà không mất Chánh Huệ.

Hỏi: Hết thảy chúng sanh, do cấu tâm tương tục, mà nhập vào thai mẹ. Vì sao Bồ Tát lại lấy Chánh Huệ mà nhập vào thai mẹ?

Đáp: Do Chánh Ức Niệm, nên Bồ Tát nhớ rõ mọi sự, mọi việc, chẳng bao giờ quên lãng. Khi ở thân trung ấm, biết rõ mình đang ở thân trung ấm. Khi vào thai mẹ, biết rõ mình vào thai mẹ. Khi ra khỏi thai mẹ, biết rõ mình ra khỏi thai mẹ.

Lại nữa, Bồ Tát chẳng phải là hạng người thường, con trai ái nhiễm mẹ, con gái ái nhiễm cha. Bồ Tát chẳng phải vì ái nhiễm mẹ, biết rõ ai là mẹ của mình, ai là cha của mình, cũng biết rõ tinh cha, huyết mẹ làm ra thân mình, để rồi sau này sẽ thành bậc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác trong loài người. Bồ Tát tịnh niệm cha mẹ tương tục như vậy, mà thị hiện vào thai mẹ. Như vậy gọi là Bồ Tát lấy Chánh Niệm nhập vào thai mẹ. Do lấy Chánh Niệm nhập vào thai mẹ, nên khi vừa ra khỏi thai mẹ, thì Bồ Tát đã có đầy đủ 32 Tướng Hảo.

Hỏi: 32 Tướng Hảo gồm những tướng gì?

Đáp: 32 Tướng Hảo là 32 tướng của bậc Đại Nhân. Người có đủ 32 Tướng Hảo, nếu tại gia, sẽ thành Chuyển Luân Thánh Vương, còn nếu xuất ra, sẽ thành Phật.

32 Tướng Hảo gồm những tướng sau đây:

  1. Tướng bàn chân bằng phẳng
  2. Tướng dưới bàn chân có 2 vành xa luân.
  3. Tướng ngón tay dài, thon và thẳng.
  4. Tướng ngón chân rộng và bằng
  5. Tướng ngón tay, ngón chân, khi xòe ra, có màng ra mỏng dính liền, như chân chim nhạn
  6. Tướng bàn chân cao và dày.
  7. Tướng tay và chân mềm mại
  8. Tướng tay dài. Khi đứng thẳng, tay sờ đến đầu gối.
  9. Tướng bắp tay và bắp chân thon như đùi nai chúa.
  10. Tướng âm tàng điều hòa.
  11. Tướng thân cao và rộng.
  12. Tướng lông xoay lên phía trên và mịn
  13. Tướng ở mỗi lỗ chân lông có 1 sợi lông xoay vòng qua phải và xoay lên phía trên
  14. Tướng thân sắc vàng. Sắc vàng của thân chẳng có loại vàng nào sánh kịp.
  15. Tướng ở các phía thân đều có hào quang 1 trượng. Thân Phật ở giữa vòng hào quang, trang nghiêm, rực rỡ vào bậc nhất.
  16. Tướng làn da mỏng và mịn
  17. Tướng có 7 phần trong thân thể bằng phẳng và đầy (2 vai, gáy, 2 bàn tay, 2 bàn chân)
  18. Tướng dưới 2 nách đầy, không cao, không sâu.
  19. Tướng thân to và thẳng
  20. Tướng vai tròn và đẹp
  21. Tướng có 40 cái răng
  22. Tướng răng đều đặn và sít sao
  23. Tướng răng trắng như tuyết
  24. Tướng 2 má như má của sư tử
  25. Tướng được hưởng thượng vị. Đồ ăn vào miệng đều có thượng vị, thơm ngon
  26. Tướng lưỡi rộng và dài
  27. Tướng Phạn Âm. Tiếng nói phát ra trong trẻo, vang dội đi rất xa, nghe chẳng bao giờ nhàm chán.
  28. Tướng mắt xanh biếc như đóa sen xanh.
  29. Tướng lông mi dài, đẹp, không tạp loạn.
  30. Tướng có Nhục Kế ở đỉnh đầu.
  31. Tướng có lông trắng nằm giữa 2 chân mày
  32. Tướng mình trên như mình sư tử.

Hỏi:  Bồ Tát có 32 Tướng Hảo, Chuyển Luân Thánh Vương cũng có 32 Tướng Hảo. Như vậy khác nhau ở chỗ nào ?

Đáp: Bồ Tát có 7 điều thắng hơn Chuyển Luân Thánh Vương. Đó là:

  1. Tịnh Hảo
  2. Phân minh
  3. Không sai chỗ
  4. Đầy đủ
  5. Thâm nhập
  6. Tùy trí huệ hành
  7. Tùy sự mà viễn ly thế gian nhiễm.

Hỏi: Vì sao Bồ Tát có 32 Tướng Hảo, mà chẳng phải có nhiều hơn hay ít thua số đó ?

Đáp: Phật dùng 32 Tướng Hảo để tự trang nghiêm thân cho được đoan chánh, khiến người nhìn thấy Phật liền sanh tín tâm thanh tịnh.

Lại nữa, Phật hơn tất cả chúng sanh, cho nên thân sắc của Phật cũng hiện ra oai lực, khiến người nhìn thấy chẳng bao giờ nhàm chán.

Lại nữa, nếu thân Phật không được trang nghiêm, thì Phật không thể dùng thân ấy để độ chúng sanh được. Vô Thượng Bồ Đề trú trong thân Phật, nên Bồ Tát phải tu 32 Tướng Hảo để tự trang nghiêm. Vì sao ? Vì nếu thân tướng không được trang nghiêm, thì Vô Thượng Bồ Đề chẳng có thể trú trong thân ấy được.

Bồ Tát tu 32 Tướng Hảo để tự trang nghiêm thân rồi, nên khi lớn lên và được tiếp xúc với cảnh Sanh, Già, Bệnh, Chết”, Bồ Tát liền sanh tâm nhàm chán thế gian, nửa đêm bỏ thành ra đi tìm Đạo Giải Thoát.

Sau 6 năm khổ hạnh, Bồ Tát nhận thấy lối tu khổ hạnh chẳng thể đưa đến Giải Thoát, nên Bồ Tát quyết định rời bỏ rừng già, tìm đến gốc cây Bồ Đề, nhập vào thiền định, phá hết 8 vạn 4 ngàn ma quân, được Vô Thượng Chánh Đẳng Giác.

Hỏi:  Có những công đức gì mà được gọi là Phật ?

Đáp: Được Lậu Tận Trí và Vô Sanh Trí, nên được gọi là Phật. Lại có thuyết nói : “Có 10 Phật Lực, 4 Vô Sở Úy, 4 Vô Ngại Trí, 18 Bất Cọng Pháp, 3 Y Chỉ, Đại Từ, Đại Bi, 37 Phẩm Trợ Đạo, rõ biết Tổng Tướng cùng Biệt Tướng của hết thảy các pháp, nên được gọi là Phật.

Nên biết 3 Y Chỉ gồm có:

  1. Được người kính trọng, tán thán vẫn không vui
  2. Bị người phỉ báng, khinh khi vẫn không buồn
  3. Gặp người kính trọng mình, hay người không kính trọng mình vẫn giữ tâm bình đẳng.

Hỏi: Vì sao chưa thành Phật gọi là Bồ Tát?

Đáp: Khi chưa thành Phật thì còn phải tu, còn phải mong cầu chứng Vô Thượng Bồ Đề, nên chỉ được gọi là Bồ Tát. Khi thành Phật rồi mới được gọi là Phật. Cũng như Thái Tử chưa lên ngôi còn gọi là Vương Tử, khi lên ngôi rồi mới được gọi là Vua.

TƯỚNG và NGHĨA của Bồ Tát, trình bày nên bây, do nhóm Thanh Văn đệ tử của Ngài Ma Ha Ca Chiên Diên chủ xướng.

Quan điểm của Thanh Văn và quan điểm của Đại Thừa có nhiều sai khác.

Đại Thừa cho rằng “Sự diễn đạt của hàng Thanh Văn còn có nhiều sai sót, cần phải được bổ cứu lại”.

Phần luận nghị sau đây cho thấy sự khác biệt giữa đôi bên.

Hỏi: Vì sao nói “Trải qua 3 A Tăng Kỳ Kiếp tu hành, mới được gọi là Bồ Tát” ?

Đáp: Nói như vậy là chưa thông suốt. Vì sao ? Vì suốt cả thời gian 3 Tăng Kỳ Kiếp, Bồ Tát đều hành Bố Thí Ba La Mật, bố thí đầu, mắt, tủy, não, mà chẳng hề hối tiếc. Chỉ có Bồ Tát mới làm được những việc như vậy; các hàng Thanh văn, Duyên Giác chẳng có thể làm như vậy được.

Ví như trường hợp Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, ngay trong A Tăng Kỳ Kiếp thứ nhất đã làm thân Đại Tát Bà Na. khi vượt qua biển cả, gặp lúc gió lớn làm vỡ thuyền, Bồ Tát nói với các người trong thuyền rằng: “Các ngươi hãy bám lấy chân, tay và tóc của Ta, Ta sẽ đưa các ngươi ra khỏi nơi hoạn nạn này”. Nói xong, Ngài lấy dao tự sát. Thân Ngài nổi trên mặt biển làm thành một các bè đưa tất cả đến bờ an toàn. Phải là Bồ Tát mới có tâm từ bi rộng lớn như vậy.

Lại nữa, khi gần hết A Tăng Kỳ Kiếp thứ hai, qua A Tăng Kỳ Kiếp thứ ba, Bồ Tát dâng 7 cành hoa sen lên Đức Phật Nhiên Đăng, trải áo da nai, xõa tóc lót đường bùn lầy để Phật đi qua. Đức Phật Nhiên Đăng đã thọ ký cho Bồ Tát rằng : “Trong thời vị lai sẽ được thành Phật, hiệu là Thích Ca Mâu Ni”. Tức thời, Bồ Tát bay lên không trung, tán thán Đức Phật Nhiên Đăng. Phải là Bồ Tát mới được Phật thọ ký như vậy.

Hỏi:  Vì sao nói “Trong 3 A Tăng Kỳ Kiếp chưa có Tướng Hảo, cũng chưa gieo trồng duyên nghiệp Tướng Hảo” ?

Đáp: Nói như vậy là chưa thông suốt. Vì sao ? Ngay sau khi được Phật Nhiên Đăng thọ ký cho “sẽ được thành Phật”, thì Bồ Tát liền bay lên không trung, tán thán Phật Nhiên Đăng. Được thọ ký sẽ thành Phật, lại bay lên không trung thấy khắp mười phương thế giới Phật; như vậy chẳng phải là hiển bày Thật Tướng rồi hay sao? Vì sao lại bỏ Thật Tướng để chỉ chú trọng đến 32 Tướng Hảo đều là các tướng hữu vi ?

Nên biết Chuyển Luân Thánh Vương cũng có đủ 32 Tướng Hảo; Chư Thiên, các Ma Vương cũng có thể hóa hiện ra các tướng đó; ngài Nan Đà cũng có được 30 Tướng Hảo, vợ của ngài Ca Diếp cũng có tướng sắc vàng…; dẫn đến có rất nhiều người trong thế gian cũng có ít nhiều các tướng đó.

Như vậy, vì sao lại nói “trong 3 A Tăng Kỳ Kiếp chưa gieo được duyên nghiệp Tướng Hảo” ?

Chẳng có kinh nào nêu lên sự việc đó cả.

Ví như trường hợp ngài Nan Đà, do công đức tắm rửa Phật Tỳ Bà Thi, nguyện được thân đoan chánh; lại trước tháp của một vị Bích Chi Phật lấy màu đen huyền vẽ tướng của ngài lên vách, nguyện đời sau được thân sắc vàng; lại lo xây bậc thềm ở tháp ngài Ca Diếp; mà đời đời được phước lạc, sanh ở đâu cũng được đoan chánh, được sanh vào dòng họ Thích, được làm đệ tử của Phật, được 30 tướng thanh tịnh của các bậc Đại Nhân, xuất gia, được đắc quả A La Hán. Phật dạy : “trong 5000 đệ tử của Ta, thì Tỳ Kheo Nan Đà là người đoan chánh vào bậc nhất”.

Như vậy, chẳng phải trải qua hết 3 A Tăng Kỳ Kiếp rồi mới gieo được duyên nghiệp Tướng Hảo.

Lại nữa, các tướng ấy chẳng phải quá khó được. Như vậy sao lại nói “Phải 100 kiếp, hoặc nhanh nhất cũng phải 91 kiếp mới gieo đầy đủ 32 tướng hảo”? Nói như vậy thật là không thông suốt.

Hỏi:  Vì sao nói “ Trong A Tăng Kỳ Kiếp thứ nhất, chưa biết mình sẽ thành Phật; trong A Tăng Kỳ Kiếp thứ hai, đã biết mình sẽ thành Phật, nhưng miệng chưa dám nói như vậy; trong A Tăng Kỳ Kiếp thứ ba rõ biết mình sẽ thành Phật, và cũng mạnh dạn khẳng định điều đó” ?

Đáp: Đây là do các đệ tử của ngài Ma Ha Ca Chiên Diên nêu ra. Các vị ấy nói “dù Phật chẳng nói ra, nhưng nghĩa lý phải là như vậy. Trong bộ Tỳ Bà Sa Luận, ở phẩm Bồ Tát, có nói rõ. Nói như vậy thật là không thông suốt.

Nên biết, trong giáo pháp Đại Thừa có ghi rõ Bồ Tát từ sơ phát tâm đã rõ biết “Ta sẽ thành Phật”. Đây là Chân Pháp từ kim khẩu của Phật nói ra. Người trí phải tin nơi lời nói ấy.

Hỏi: Vì sao nói “Duyên nghiệp của 32 Tướng Hảo chỉ được gieo trồng ở cõi Dục, chẳng phải ở các cõi Sắc và Vô Sắc” ?.

Đáp: Nói như vậy là không thông suốt. Vì sao ? Ở cõi Vô Sắc không có sắc thân nên không cần đến các Tướng Hảo để trang nghiêm thân. Điều này là hợp lý. Thế nhưng ở cõi Sắc, hàng Phạm Thiên Vương thường thỉnh Phật Chuyển Pháp Luận; lại nữa, ở đây có trí huệ thanh tịnh, có thể được đạo Vô Thượng Bồ Đề. Sao lại nói “Không gieo được duyên nghiệp Tướng Hảo” ?

Hỏi: Vì sao nói loài người ở cõi Diễm Phù Đề mới được gieo duyên nghiệp Tướng Hảo?

Đáp: Nói như vậy là không thông suốt. Vì sao? Ở cõi Uất Đan Việt, chúng sanh đắm trước khoái lạc, không có lợi căn nên không gieo được duyên nghiệp Tướng Hảo. Điều này hợp lý. Thế nhưng, ở các cõi Cồ Đà Ni và Phất Bà Đề chúng sanh có phước đức, có trí tuệ. Sao lại nói “Không gieo được duyên nghiệp Tướng Hảo”?. Lại nữa loài Rồng cũng có thể gieo được duyên nghiệp Tướng Hảo, như Long Vương A Na Bà Đạt Đa là một vị Đại Bồ Tát. Như vậy sao nói “chỉ có loài người mới gieo được duyên nghiệp Tướng Hảo”?

Hỏi: Vì sao nói “Một tâm tư gieo được một tướng”?

Đáp: Nói như vậy là không thông suốt. Vì sao? Trong một cái khẩy móng tay, tâm tư có đến 60 lần sanh diệt. Tâm tư thay đổi không ngừng như vậy thì làm sao gieo được duyên nghiệp Tướng Hảo?. Nói một tâm tư gieo được một tướng, 100 tâm tư gieo được 100 tướng, là không đúng vậy. Phải do duyên hợp của nhiều tâm tư mới hình thành được một Tướng Hảo.

Hỏi: Vì sao nói “Tâm của Bồ Tát Thích Ca Mâu Ni chưa thuần thục, mà tâm của các đệ tử của Ngài đã thuần thục; còn tâm của Bồ Tát Di Lặc đã thuần thục mà tâm của cá đệ tử của Ngài còn chưa thuần thục” ?

Đáp: Nói như vậy là không thông suốt. Các kinh Ma Ha Ca Diễn không có nêu sự việc ấy. Đây chỉ vì không thông suốt mà suy đoán sai lầm. Do chỉ nghe nói “Bồ Tát Thích Ca Mâu Ni chiêm bái Đức Phật Phất Sa suốt 7 ngày 7 đêm và làm kệ tán thán Phật” mà không biết rằng Bồ Tát Di Lặc cũng chiêm bái, cũng tán thán Đức Phật Phất Sa. Do vì trong kinh A Bà Đà Na 1 không có nói đến nên mới có sự ngộ nhận như vậy.

Hỏi: Bồ Tát vì hết thảy chúng sanh, hành bố thí mà chẳng tiếc thân mạng. Bố thí như vậy đã đầy đủ chưa?

Đáp: Dù cho vì chúng sanh, vì cha mẹ, vì thầy chủ, vì bạn bè… mà hành bố thí chẳng tiếc thân mạng, nhưng nếu không rõ thân mình là “vô ngã”, người thọ thí là “vô nhân”, vật thí là “vô chủ”, thì bố thí như vậy vẫn còn là bất tịnh, chỉ được hưởng phước báo, mà chẳng sao đến được Phật đạo. Phải biết rõ “vô ngã”, “vô nhân”, “vô chủ”, nghĩa là biết rõ “người cho”, “người nhận”, và “vật cho” đều là tự tánh KHÔNG, đều là bất khả đắc, mới thật là đầy đủ Đàn Ba La Mật.

Hỏi: Vì sao lại ví “Bồ Tát hành đầy đủ như vị Đại Thần Bà La Môn phân cõi Diêm Phù Đề thành những phần nhỏ, thành, ấp, tụ lạc….?”

Đáp: Nói như vậy là không thông suốt. Vì sao?. Vì Bát Nhã Ba La Mật là vô lượng, vô biên, mênh mông như nước trong biển cả. Bát Nhã Ba La Mật là mẹ của chư Phật 3 đời, hiển thị Thật Tướng của chư Pháp, chẳng có chỗ đi chỗ đến, chẳng thể tầm cầu mà được; Bát Nhã Ba La Mật là như nhuyễn, như hóa, như bóng trăng in mặt nước liền thấy liền mất là bất khả đắc, chẳng thể nắm bắt được vậy.

Các bậc Thánh Nhân vì thương xót chúng sanh, mà ở nơi một tướng phương tiện dùng đủ danh từ, ngữ ngôn… để diễn tả Bát Nhã Ba La Mật. Thế nhưng Diệu pháp ấy là kho báu Trí Huệ vô cùng, vô tận của chư Phật, chẳng thể nghĩ bàn được.

Hỏi: Vì sao nói “Bồ Tát ở cung trời Đâu Suất quán Thời, quán Quốc Độ, quán Chủng Tánh, quán Sanh Mẫu, để ra đời” ?

Đáp: Nói như vậy là không thông suốt. Vì sao ? Vì Pháp Phật chẳng có đợi Thời. Ví như thuốc hay, uống vào liền lành bệnh. Bởi vậy, nên chẳng có thể nói Phật đã chọn 1 trong 8 thời nêu trên đây để xuất thế.

Thế nhưng, cũng cần biết rằng “Ở những cõi mà thọ mạng quá lâu dài, cũng như ở những cõi mà thọ mạng quá ngắn ngủi, rất khó tu, rất khó được Đạo. Ở các cung Trời mà thọ mạng trên 8 vạn tuổi, chẳng có bệnh hoạn, lại hưởng quá nhiều lạc thú, rất khó tu hành. Cũng như vậy, vào thời mà tuổi thọ dưới 100 tuổi, thì chúng sanh lại có nhiều sân nhuế, kiết sử nên cũng rất khó tu hành.

Nếu nói rằng “Phật chỉ quán trong 8 thời nêu trên đây để xuất thế”, thì sao chẳng nghĩ đến trường hợp các vị Cổ Phật như Phật Oai Âm Vương xuất thế vào thời chúng sanh thọ mạng trên 8 vạn tuổi, hoặc trường hợp Phật A Di Đà thọ đến vô lượng A Tăng Kỳ ?

Lại nữa, kinh Ma Ha Diễn nói đến 3 đời, mười phương chư Phật là ý nói “ở nơi nào có Sanh, Già, Chết, là có Phật xuất thế”. Như trong kinh nói : “Nơi nào không có Sanh, Già, Chết thì không có Phật xuất thế”

Trong bộ Trường A Hàm có ghi bài kệ của vua Tỳ Sa Môn như sau:

Nguyện chí thành đảnh lễ
Chư Phật trong mười phương,
Cùng nhất tâm quy mạng,
Đức Phật Thích Ca Văn.

Như vậy kinh Thanh Văn cũng nói đến 3 đời, mười phương chư Phật. Vua Tỳ Sa Môn nhờ Phật Thích Ca Văn mà được Đạo, nên quy mạng vị Phật này, nhưng đồng thời đảnh lễ 3 đời, mười phương chư Phật.

Hỏi: Phật dạy “Một đời không có hai Phật”, vậy thì ngay ở hiện tại không thể có nhiều Phật hay sao ?

Đáp: Hỏi như vậy là không thông suốt. Vì sao? Phật dạy mỗi Đại Thiên Thế Giới, ở vào một thời không có hai Đức Phật xuất thế, mà không nói ở không có Phật xuất thế trong khắp 10 phương thế giới.

Lại nữa, chúng sanh vô lượng, tạo nên vô lượng nghiệp khổ, thì cũng phải có vô lượng ba, vô lượng Phật ra đời để độ họ vậy.

Hỏi: Những chúng sanh tạo nhiều tội báo, bị đọa vào trong các đường ác, đến danh hiệu Phật còn chẳng nghe được, thì làm sao thấy được Phật ?

Lại nữa, nếu hiện tại có nhiều Phật có nhiều Bồ Tát trong khắp 10 phương, thì vì sao vẫn còn có những chúng sanh đang chịu khổ báo trong các trường ác, chưa được độ thoát ?

Đáp:  Chúng sanh qua vô lượng kiếp đã tạo nên vô lượng tội cấu sâu dày. Những chúng sanh hiện đang thọ nghiệp báo trong các đường ác chẳng có thể nghe, chẳng có thể thấy được Phật. Những chúng sanh khác do đã gieo trồng thiện căn nay được hưởng ít nhiều phước báo, nhưng nếu chưa có đủ công đức thấy Phật, thì cũng vẫn chưa có duyên lành thấy được Phật.

Chư Phật tưới mưa pháp cùng khắp, bình đẳng đối với hết thảy chúng sanh, nhưng vì duyên nghiệp tội phước của chúng sanh có khác nhau. Chỉ những người thượng trí, lợi căn, có tín tâm thanh tịnh tu hành tinh tấn mới được độ. Như bài kệ thuyết:

Phước báo lành chưa đến,
Tội cấu chưa tận trừ,
Hiện tiền chẳng thấy được,
Đấng Đại Lực, Đại Hùng
Như vị Đại Long Vương,
Tùy nguyện làm mưa xuống,
Phật tưới khắp mưa pháp
Để độ thoát chúng sanh
Tâm Phật Đại Từ Bi,
Bình đẳng, không phân biệt,
Chúng sanh, tùy tội phước
Thọ lãnh có khác nhau.
Những ai phước đức nhiều,
Thượng trí và lợi căn,
Nếu gặp được duyên độ,
Tức thì được giải thoát.

Hỏi: Người có phước đức, trí huệ mới được Phật độ, còn người không có phước đức, trí huệ thì không thể được độ. Như vậy thì người có phước đức, trí huệ có thể tự độ được chăng ?

Đáp: Người có phước đức, có trí huệ là người đã từng theo các Đức Phật, trồng duyên lành, thế nhưng, nếu chẳng có Phật xuất thế, thì hạng người ấy cũng chỉ ở trong thế gian, thọ các phước báo, chẳng có thể được Đạo Giải Thoát.

Được Đạo Giải Thoát thì mới được lợi ích lớn. Ví như người có đôi mắt sáng, nhưng nếu không nương theo ánh sáng mặt trời thì chẳng có thể thấy được. Nhờ có ánh sáng mặt trời, người ấy mới thấy rõ được các cảnh vật chung quanh.

Phật thuyết : “Có 2 nhân duyên dẫn sanh chánh kiến, gồm:

  1. Nội nhân duyên là được biết Phật, được nghe Pháp.
  2. Ngoại nhân duyên là biết tư duy về việc thành tựu các công đức.

Phải hội đủ cả hai nhân duyên ấy, mới sanh được thiện tâm lanh lợi, mới có được trí huệ sáng suốt”.

Nếu thấy có người tư duy theo như lời Phật dạy, thì phải biết người ấy đã từng theo các Đức Phật nghe pháp, và đã được độ.

Hàng Thanh Văn, đệ tử của Ngài Ma Ha Ca Chiên Diên, có nhiều điểm chưa được thông suốt, nên cần phải được bổ cứu lại như trên đây.

Sau này Bát Nhã Ba La Mật sẽ giải rộng thêm.

(Hết quyển 4)

CHÚ THÍCH

  1. A Bà Đà Na (Avadàna) dịch là Thí dụ. Kinh Thí dụ gồm những câu chuyện về đời trước của chúng sanh và của các đệ tử Phật, do đức Phật thuật lại trước đại chúng.
    Xà Đà Già (Jātaca) dịch là Bổn Sanh. Kinh Bổn Sanh gồm những câu chuyện về tiền thân của đức Phật; do chính đức Phật thuật lại.