Want create site? Find Free WordPress Themes and plugins.

LUẬN ĐẠI THỪA TẬP BỒ TÁT HỌC
(Luận Đại thừa tập hợp các Học xứ của Bồ-tát)
Bồ-tát Pháp Xứng tạo luận
Sa-môn Pháp Hộ v.v… dịch
Nguyên Hồng dịch tiếng Việt

 

QUYỂN 21

Phẩm 16: HỌC XỨ VỀ TĂNG TRƯỞNG THẮNG LỰC 2

Luận nói:

Sao gọi là thâm tâm giác liễu ?

Kinh Vô Tận Ý nói:

Lại nữa, tâm này đối vói các việc ra làm lìa dối trá. Lìa dối trá thì không khởi siểm nịnh, không khởi siểm nịnh thì có thể quyết định, có thể quyết định thì trừ lừa dối không thật, trừ lừa dối không thật thì trụ thanh tịnh, trụ thanh tịnh thì thường ngay thẳng, thường ngay thẳng thì không tà vạy, không tà vạy thì tính sáng tỏ, tính sáng tỏ thì hiểu ngộ tốt, hiểu ngộ tốt thì được chân thật, được chân thật thì không thể hư hoại, không thể hư hoại thì được bền chắc, được bền chắc thì được bất động, được bất động thì không bỏ chúng sinh.

Cho nên nói là thâm tâm giác liễu.

Kinh ấy lại nói:

Tu tập thâm tâm tối thượng thù thắng, an trụ nơi vắng lặng dùng tâm từ che chở chúng sinh, cung kính tôn trọng bậc hiền thiện, đem tâm bi cứu vớt kẻ không hiền thiện, cứu hộ kẻ không ai cứu hộ, làm chỗ nương tựa cho kẻ không nơi nương tựa, làm nơi cồn bãi cho kẻ nổi trôi, làm người chủ cho kẻ vô chủ, làm bạn cho kẻ cô đơn, làm cho người tà vay trở nên ngay thẳng, làm cho kẻ tà ác thành nhu thuận, làm cho kẻ nịnh bợ thành trung chính, làm cho kẻ dối gạt trở nên thành thật, kẻ gian ngoan thành thuần chất, kẻ vong ân thành biết ơn, kẻ khổ não được an ổn, kẻ không lợi ích làm lợi ích, ngạo mạn thành khiêm tốn, chê bai thành khen ngợi, dạy dỗ kẻ sai lầm, bảo vệ kẻ không ai che chở, làm cho kẻ mâu thuẫn nhau không thấy trái chống, khởi hạnh thanh tịnh đối với sư trưởng, đem tâm phương tiện thiện xảo cung kính, ghi nhớ không quên những điều dạy bảo.

Luận nói:

Như vậy dần dần tu tập thâm tâm tức có thể tăng trưởng thắng lực, đại bi hiện tiền.

Như Kinh Pháp Tập nói:

Khi ấy Bồ-tát Quán Thế Âm bạch Phật rằng: Thế Tôn: Bồ-tát tu học không cần phải nhiều pháp. Nếu thụ trì một pháp tức có thể biết rõ tất cả Phật pháp. Một pháp đó là đại bi. Nếu Bồ-tát có thể thực hành đại bi thì có thể nhiếp thủ Phật pháp như nắm trong tay.

Thế Tôn ! Như Chuyển luân vương có các xe báu, tùy theo đi đâu đều có thể đi. Bồ-tát nếu khởi đại bi tức đối với Phật pháp có thể đạt được một cách tự nhiên như vậy.

Thế Tôn ! Ví như mặt trời xuất hiện ánh sáng chiếu thế gian, các loài hữu tình tùy theo công việc làm đều được kết quả. Bồ-tát đem đại bi chiếu soi nơi tất cả Bồ-đề phần pháp thì cũng dễ tu hành như vậy.

Thế Tôn ! Ví như các căn lấy ý làm gốc, đều có thể thủ lấy tự phần cảnh giới, Bồ-tát trụ nơi đại bi tức đối với tất cả Bồ-đề phần pháp, mỗi mỗi tu tập thực hành như lý.

Thế Tôn ! Ví như dựa vào mạng căn có các căn khác, Bồ-tát nếu có đại bi tức có thể tu các Bồ-đề phần pháp.

Lại nữa, Kinh Vô Tận Ý nói:

Ví như mạng sống con người lấy hơi thở ra vào làm gốc. Cũng như vậy, Bồ-tát tu học Đại thừa tức lấy đại bi làm gốc.

Lại như trưởng giả chỉ có một người con, rất mực yêu thương chưa bao giờ tạm bỏ, Bồ-tát đạt được đại bi, đối với các chúng sinh yêu thương như con cũng giống như vậy.

Luận nói:

Đây quán như thê nào ? Nghĩa là tu tâm từ. Đối với chúng sinh yêu như con mình. Quá khứ có vô lượng khổ não. Hiện tại đang ở trong biển bệnh khổ. Vị lai dài lâu luân hồi hiểm nạn.

Như Kinh Thập Địa nói:

Hạng phàm phu ngu si vô trí, có vô số thân đã diệt, hiện đang diệt và sẽ diệt. Như vậy thân diệt rồi không sinh chán chê, trở lại chuyển tăng thêm cơ quan các khổ, theo dòng sinh tử không thể thoát ly, không thể xả bỏ. Các uẩn chấp chứa không thể xa lìa rắn độc đại chủng, không thể quán sát sáu xứ không tụ, không thể đoạn trừ ngã và ngã sở, không thể rút ra mũi tên độc ngã kiến ngã mạn, không thể dập tắt ngọn lửa tham sân si, không thể phả trừ vô minh tăm tối, không thể làm khô kiệt con sóng lớn khát ái, không cầu mười lực của Đại thánh đạo sư, vào trong rừng tà, chạy theo đảng ma, cứ một bề chìm nổi trong biển luân hồi, bị cái vỏ dày vô minh bao bọc, cái khổ già bệnh chết thường bức bách rất ngặt.

Ta nay vì thương xót hữu tình làm việc cứu hộ, tích chứa vô lượng phúc trí tư lương, dùng thiện căn này làm cho được rốt ráo thanh tịnh.

Kinh ấy lại nói:

Các hữu tình này rong ruổi trên đường ác hiểm nạn địa ngục bàng sinh và Diêm-ma-la giới. Ngu si che tối, thiếu đại đạo sư, cho đến chìm trong biển ái xoay vần lưu chuyển, không rảnh thức tỉnh diệt dục, nhuế, hại, tầm, không làm sao xả bỏ tập khí tham dục, thân bị La-sát bắt giữ, ngã mạn nên không có cồn bãi làm chỗ nương tựa, không siêu vượt được sáu chỗ như xóm làng, không có chút thiện căn để được tế độ. Cho nên ta nay dùng sức đại bi vớt chúng sinh kia khiến thoát khổ nạn lìa cấu uế được tịch tĩnh, phải làm cho được an trụ nơi đại châu lục quý báu của trí nhất thiết trí. Các hữu tình này ưu sầu khổ não tùy chuyển liên tục, trói buộc trong ngục hình của tham ái, vô minh siểm nịnh trường thời gian che khuất, không cầu ra khỏi ngục ba cõi. Ta phải làm cho thoát khỏi các thứ sợ hãi khổ não hiện tiền, khiến được an ổn khoái lạc không chướng ngại.

Luận nói:

Như vậy thâm tâm kiên cố đối với người có thể làm tăng trưởng đại bi phúc hạnh.

Lại nữa, Kinh Tối Thượng Vấn nói:

Ngày đêm sáu thời mặc áo mới sạch sẽ, thường sinh tôn trọng lễ kính chư Phật. Lần lượt tu tập hoàn thành hạnh Phổ Hiền.

Lại Kinh Tam Tụ nói:

Đầu mặt sát chân, lễ kính chư Phật, có thể sám trừ tất cả tội cấu. Tam tụ là sám hối, khuyến thỉnh và phúc tùy hỷ.

Lại nữa, trong Kinh Ưu Ba Li Sở Vấn chỉ nói một thứ nghĩa lợi là khuyến thỉnh, cởi được các lưới ma, ngộ vô thường, nên cũng lễ kính tất cả chư Phật.

Như Kinh Vô Tận Ý nói:

Tự tha sám hối được phúc hạnh, như có nói trong bốn Già-đà của hạnh Phổ Hiền. Tùy hỷ phúc hạnh như kinh Nguyệt Đăng nói trong Phẩm tùy hỷ. Trong các kinh khác nói rõ có ba thứ.

Tiếp đến nói về hành tướng hồi hướng cúng dường rộng lớn.

Như Kinh Bảo Vân nói:

Nếu các Bồ-tát dùng hoa tươi và hương đốt, như cây hương chiên đàn, cây Kiếp-ba, các loại cây báu, cho đến các thứ vô chủ, không ai giữ lấy, ngày đêm sáu thời vận tâm cúng dường Phật Bồ-tát . Lại nữa, Kinh Tam Tam Muội Da nói:

Các cõi nước trong mười phương thế giới, có núi báu từ đất sinh, có núi báu từ nước sinh, nơi đó tất cả loại thuốc hay, nước trong sạch, các thứ ẩm thực ngon, các thứ vàng báu cho đến ở châu Bắc Câu-lô có những hương rừng, vị đất, hương lúa tự nhiên, các thứ thụ dụng yêu thích nhất, thời gian dài vận tâm cúng dường như trước.

Luận nói:

Như trên đã nói thân cận thừa sự cúng dường rộng lớn chư Phật Bồ-tát. Nghe như vậy rồi, hoàn toàn nhất tâm y theo giáo pháp phụng hành, phát nguyện hồi hướng, như có nói trong Kinh Phổ Hiền Hạnh, Kinh Kiến Kim Cương Tràng, hoặc Kinh Thập Địa.

Lại nữa, Bồ-tát Ma-ha-tát trụ Cực hỷ địa, dẫn phát mười thứ thệ nguyện rộng lớn. Đó là thừa sự cúng dường tất cả Như Lai mà thành tựu được thắng giải thanh tịnh. Hành tướng như vậy đồng với pháp tính hết cõi hư không, tất cả số kiếp, hết đời vị lai có chư Phật ra đời đều cúng dường rộng lớn không thôi nghỉ.

Đó là phát khởi đại nguyện thứ nhất.

Vì muốn thụ trì tất cả pháp nhãn Như Lai đã nói, bảo vệ tốt chính giáo của chư Phật, đồng với pháp tính hết cõi hư không, tất cả số kiếp hết đời vị lai nhiếp thụ chính pháp không thôi nghỉ.

Đó là phát khởi đại nguyện thứ hai.

Vì nơi chư Phật xuất hiện thế gian, trước tiên an trụ cung trời Đâu-suất, rồi giáng thần, thác ấm, trụ thai, đản sinh, trưởng thành, xuất gia, tu khổ hạnh, ngồi Bồ-đề tràng, hàng phục các ma, chuyển bánh xe chính pháp, thị hiện tướng Niết-bàn. Trước tiên gia công tu hành đi đến cúng dường tất cả các nơi, đồng thời chuyển bánh xe pháp cao tột, đồng với pháp tính hết cõi hư không, tận cùng kiếp số đời vị lai những nơi Phật xuất hiện trên thế gian, thỉnh chuyển phâp luân không thôi nghỉ.

Đó là phát khởi đại nguyện thứ ba.

Vì muốn dẫn phát các hạnh rộng lớn vô lượng của Bồ-tát và viên mãn thanh tịnh các Ba-la-mật không phân biệt, thâu nhiếp tướng chung tướng riêng của các địa, tướng giống nhau tướng khác nhau, tướng thành tựu tướng hoại diệt như thật không điên đảo, làm rõ sự dạy dỗ các hạnh Bồ-tát khiến phát tâm, đồng với pháp tính hết cõi hư không, tận cùng kiếp số đời vị lai làm các chính hạnh không thôi nghỉ.

Đó là phát khởi đại nguyện thứ tư.

Vì muốn thành thục các loại hữu tình, như loài có hình sắc loài không hình sắc, loài biết suy tưởng loài không biết suy tưởng, loài chẳng phải biết suy tưởng chẳng phải không biết suy tưởng, loài sinh trứng, sinh thai, sinh nơi ẩm ướt, loài hóa sinh trói buộc trong ba cõi sáu đường, gồm trong danh sắc, đều làm cho dứt trừ vĩnh viễn, tất cả mọi loài đều vào trong pháp Phật, rốt ráo an trụ trong trí nhất thiết trí, khiến không thừa sót, đồng với pháp tính hết cõi hư không, tận cùng kiếp số đời vị lai thành thục hữu tình không thôi nghỉ.

Đó là phát khởi đại nguyện thứ năm.

Vì muốn liễu giải ngộ nhập mười phương thế giới, hoặc rộng hoặc hẹp hoặc thô hoặc tế, hoặc trụ tạp loạn hoặc úp hoặc ngửa, giống như lưới của cung trời Đế-thích có các phần vị đều khác nhau, đem trí tương ưng hiện tiền biết rõ, đồng với pháp tính hết cõi hư không, tận cùng kiếp số đời vị lai đều có thể hiểu rõ ngộ nhập thế giới như vậy không thôi nghỉ.

Đó là phát khởi đại nguyện thứ sáu.

Vì muốn làm trang nghiêm thanh tịnh các cõi Phật, từ một cõi Phật đến một cõi Phật đều dùng ánh sáng trang sức khắp giáp, lìa các phiền não thành cõi thanh tịnh trong đó đầy cả hữu tình có trí tuệ lớn, vào khắp cảnh giới rộng lớn của chư Phật, tùy theo ý muốn quy hướng của các hữu tình mà hiển thị bình đẳng khiến được hoan hỷ, đồng với pháp tính hết cõi hư không, tận cùng kiếp số đời vị lai và số cõi Phật đều làm cho trang nghiêm thanh tịnh không thôi nghỉ.

Đó là phát khởi đại nguyện thứ bảy.

Vì muốn cùng với các chúng Đại Bồ-tát đồng một ý muốn tích tập thiện căn, đồng một sở duyên, trụ tính bình đẳng, thường được gặp chư Phật Bồ-tát, tùy theo ý muốn không lìa bỏ nhau, hiển thị oai lực của Phật, đồng phát tâm, được thần thông không thoái chuyển tức có thể đi đến tất cả thế giới, hiện thân đồng loại trong đại chúng, tu tập các chính hạnh của Bồ-tát, ngộ nhập diệu pháp Đại thừa không thể nghĩ bàn, đồng với pháp tính hết cõi hư không, tận cùng kiếp số đời vị lai bình đẳng với các Bồ-tát ngộ nhập Đại thừa không thôi nghỉ.

Đó là phát khởi đại nguyện thứ tám.

Vì muốn điều khiển bánh xe không thoái chuyển của các hạnh Bồ-tát, nên không làm mất nghiệp thân ngữ ý. Nếu vừa thấy đó là việc làm trong Phật pháp thì liền quyết định. Nếu vừa nghe âm thanh liền sinh lòng tin thanh tịnh có thể khởi chính trí, vĩnh viễn dứt trừ phiền não thì nguyện thân này làm cây thuốc lớn cứu chữa các bệnh khổ, như ngọc báu như ý giúp các người nghèo thiếu, tu hạnh Bồ-tát rộng lợi ích chúng sinh, đồng với pháp tính hết cõi hư không, tận cùng kiếp số đời vị lai các hạnh không trống rỗng và không thôi nghỉ. Đó là phát khởi đại nguyện thứ chín.

Vì sẽ chứng vô thượng chính đẳng Bồ-đề, trong số các chúng sinh phàm phu được hóa độ dù một dù nhiều, đều có thể thị hiện giáng sinh, xuất gia, thành đẳng chính giác, chuyển đại pháp luân và nhập Niết-bàn, hiển thị cảnh giới Phật, oai lực của trí tuệ, tùy theo ý muốn của các hữu tình, trong một sát-na đều làm cho giác ngộ, hết cả cảnh giới chúng sinh chân thật hồi hướng Bồ-đề duy nhất, Niếtbàn rộng lớn. Đều dùng một âm thanh tuyên thuyết pháp yếu, làm cho các hữu tình tâm sinh vui mừng, dùng sức thần thông đều làm cho tất cả thế giới sung mãn, thị hiện sức đại trí có thể thiết lập tất cả các pháp, thị hiện đại Niết-bàn mà không tuyệt mất các hạnh, đồng với pháp tính hết cõi hư không, tận cùng kiếp số đời vị lai thành tựu Tam-bồ-đề và không thôi nghỉ.

Đó là dẫn phát mười thệ nguyện rộng lớn.

Luận nói:

Như vậy quán tưởng thâm tâm tinh tiến, tất cả mọi chỗ đều làm hồi hướng này.

Như Kinh Quán Âm Giải Thoát nói:

Đem tất cả thiện căn ta đã làm, hồi hướng bình đẳng cho các chúng sinh lìa khỏi sợ hãi của sự đọa lạc, làm cho chúng sinh thoát khỏi nỗi sợ ân ái của các quyến thuộc, làm cho chúng sinh diệt được sự lo sợ của ngu si, làm cho chúng sinh dứt trừ nỗi sợ của sự trói buộc, làm cho chúng sinh lìa khỏi sự lo sợ của đoạn mạng, làm cho chúng sinh lìa khỏi cái lo sợ của sự nghèo cùng, làm cho chúng sinh lìa khỏi lo sợ chết yểu, làm cho chúng sinh lìa khỏi lo sợ của sự hủy báng, làm cho chúng sinh lìa khỏi nỗi sợ của sự luân hồi, làm cho chúng sinh lìa nỗi sợ oai đức của đại chúng, làm cho chúng sinh lìa khỏi nỗi sợ chết, làm cho chúng sinh lìa khỏi nỗi sợ các đường ác, làm cho chúng sinh lìa khỏi nỗi sợ của sự tối tăm, làm cho chúng sinh lìa khỏi nỗi sợ phải gặp cảnh oán ghét, làm cho chúng sinh lìa khỏi nỗi sợ chia lìa với những người thương yêu, làm cho chúng sinh lìa khỏi nỗi sợ của sự oán ghét tật đố, làm cho chúng sinh lìa khỏi nỗi sợ bức bách sầu não của thân tâm, làm cho chúng sinh đoạn trừ nỗi sợ của sự lo buồn khổ não.

Lại nữa, ở đây sơ lược nói về hồi hướng, như bài kệ trong Kinh Phổ Hiền Hạnh nói:

Thanh tịnh dũng mãnh đức Văn-thù,

Phổ Hiền thắng đức cũng như vậy.

Hai vị Đại sĩ nói hồi hướng,

Con nay thuận theo mà tu học.

Mười phương ba đời các Như Lai,

Đã nói thanh tịnh dạy hồi hướng.

Con nay tích tập các thiện căn,

Đồng với Phổ Hiền hạnh tối thượng.

Phẩm 17: HỌC XỨ VỀ CUNG KÍNH TÁC LỄ 1

Luận nói:

Đây nói về tuần tự lễ kính chư Phật được tăng trưởng phúc hạnh. Phải biết như thế nào ?

Như Kinh Quán Sát Thế Gian có kệ rằng:

Nếu trong một sát-na,

Thừa sự nơi chư Phật,

Ta nói được phúc báo,

Hằng lìa khỏi tám nạn.

Hình sắc rất đẹp đẽ,

Thành tựu tướng trang nghiêm.

An trụ trong Phật pháp,

Không còn các biếng nhác.

Người này trong hiện tại,

Thụ dụng đều đầy đủ.

Thường được người tôn kính,

Không bệnh, thân sáng sạch.

Sau sinh nhà trưởng giả,

Tôn sùng không ai bằng.

Rộng làm việc bố thí,

Của báu không lẫn tiếc.

Lại làm Chuyển luân vương,

Ngự trị bốn thiên hạ.

Nhân dân đều quy thuận,

Nước giàu sung túc vui.

Sức oai đức đầy đủ,

Bảy báu nhiều vô lượng.

Trong tất cả mọi thời,

Thường siêng tu cúng dường.

Được sinh trời Đao-lợi,

Tự tại trên đỉnh cao.

Làm Đế-thích thiên chủ,

Phụng trì thanh tịnh giáo.

Nếu ai nơi tháp Phật,

Chấp tay nhiễu bên phải,

Thì trong câu-chi kiếp

Hưởng phúc không thể hết.

Nếu cũng nơi tháp Phật,

Phát tâm cung kính lễ,

Thì trong vô lượng kiếp,

Không mù lòa què quặc.

Kiên cố các thiện căn,

Đủ dũng mãnh tinh tiến.

Mau được thành Bồ-đề,

Do lễ tháp Phật này.

Nếu ở trong đời ác,

Hướng về quy mạng Phật,

Tức là đã gần gũi,

Trăm ngàn câu-chi Phật.

Người này ở thế gian,

Cao tột chẳng ai hơn,

Tự tại tiên trên đời,

Đoan chính không ai sánh.

Nếu ai đem tràng hoa,

Dâng cúng nơi tháp Phật,

Sau khi mãn kiếp người,

Sinh trời Ba mươi ba.

Đi xe giá tốt đẹp,

Trang sức các ngọc báu,

Ở lầu gác cung điện,

Có thiên nữ hầu hạ.

Có ao hồ trong sạch,

Đầy nước tám công đức.

Đáy ao lót cát vàng,

Bờ lưu ly pha lê.

Hưởng khoái lạc thượng diệu,

Thọ mạng được dài lâu.

Hết thọ mạng cõi trời,

Sinh vào nhà hào quý.

Trong trăm ngàn ức kiếp,

Hưởng thắng phúc tột bậc.

Thường dùng tràng hoa tốt,

Đem cúng dường khắp nơi.

Làm Chuyển luân thánh vương,

Và Đế-thích thiên chủ.

Thiên tử Đại Tự Tại,

Làm vua Đại Phạm vương.

Do hành bố thí đây,

Được công đức như trên.

Đem áo lông thượng diệu,

Thí Phật Đại đạo sư,

Người này ở trên đời,

Đều thành tựu nghĩa lợi.

Dùng y phục, anh lạc,

Đem cúng dường tháp Phật,

Xa lìa dòng hạ tiện,

Không còn sinh nơi ấy.

Bà con thường sum vầy,

Không có khổ biệt ly.

Thường được Đại quốc vương

Cúng dường và ca ngợi.

Hoặc sinh hàng thiên long,

Và người trí thế gian,

Đủ oai thần dũng mãnh,

Phúc báo chẳng ai bì.

Nếu quốc thành chủng tộc,

Nơi tháp miếu Thế Tôn,

Chỉ dùng một tí hương,

Nhỏ bằng một hạt cải,

Khởi tín tâm quyết định,

Mà đem đến cúng dường,

Thì công đức đạt được,

Nay nghe ta nói đây:

Vĩnh viễn lìa cấu uế,

Tâm kiên cố thanh tịnh,

Trừ tật bệnh lo buồn,

Dung nghi thật cao đẹp.

Được làm Chuyển luân vương,

Đủ oai đức đại trí.

Tùy chỗ đi đến đâu,

Phúc lực đều thành tựu.

Nào vua nào nhân dân

Đều vui thường phụng thờ.

Đem y phục thượng diệu,

Dâng cúng nơi tháp Phật,

Người ấy vào đời sau,

Thân thể rất sáng sạch.

Áo trời Ca-thi-ca,

Đồng thời cùng hiển hiện.

Thường toát ra hương thơm,

Người nghe sinh hoan hỷ.

Lại còn dùng chỉ vàng

Dệt thành áo rất đẹp,

Bố trí rất khéo léo,

Các hình tướng sư tử.

Sau sinh vào cõi trời,

Nguyện nào cũng kết quả.

Các trân bảo anh lạc,

Theo ý nghĩ có ngay.

Nếu người dùng phướn báu,

Đem treo cúng tháp Phật,

Tùy ý nguyện người kia,

Vãng sinh các nước Phật.

Sẽ được thân sắc vàng,

Các tướng đều đầy đủ.

Các mỹ vị thịnh soạn

Đều mang đến hiến cúng.

Lại dùng lụa lông thú,

Dệt thành y phục quý.

Bông vải Ca-thi-ca

Làm tràng phan cúng Phật.

Người này vào đời sau,

Kho tàng đều dư dật.

Lìa quyến thuộc não hại,

Kiên cố vô lượng trí.

Trên dưới đều đoan nghiêm,

Chúng thường ưa chiêm ngưỡng.

Không bị lửa thiêu đốt,

Và đao gậy làm hại.

Nếu đem một đèn sáng

Cúng dường nơi tháp Phật

Do làm cúng thí này

Được thọ mạng dài lâu.

Tâm thanh tịnh sáng tỏ,

Hình sắc đều viên mãn.

Người này thân đời sau

Sinh cõi tịnh Kim Hà.

Cánh tay phát ánh sáng

Có sức kiên cố lớn.

Du hành trong thế gian,

Mà không các sợ hãi.

Giả sử na-do-tha

Bao nhiêu các cõi Phật

Trong chứa đầy hạt cải

Tính kể biết số lượng.

Ta nói phúc báo này,

Cùng kiếp không thể hết.

Dùng lọng lớn bằng lụa

Đem cúng thí tháp Phật.

Người này không lâu được

Đủ ba mươi hai tướng.

Thường phát ra ánh sáng,

Khôn sánh khó nghĩ bàn.

Ánh sáng kia rực rỡ

Trong sáng như Kim Hà.

Như hoa Câu-tô-ma

Đua nở cùng trang điểm.

Tiếng đồn khắp các nơi

Đủ thần thông đặc biệt.

Thụ dụng không giới hạn,

Được an ổn cao tột.

Thường được người cõi trời

Thân cận để thừa sự.

Đủ oai nghi thiểu dục,

Kiên trì giữ tịnh giới.

Ở trong rừng tĩnh lặng

Ưa tu tập thiền định.

Trí tuệ không khuyết giảm,

Không bỏ tâm Bồ-đề.

Biết đủ không cầu nhiều,

Tu hạnh từ bình đẳng.

Nếu người diễn tấu nhạc,

Cúng dường Nhân Trung Tôn.

Lìa phiền não buồn lo ,

Được thanh tướng viên mãn.

Mắt cực kỳ sáng suốt,

Thấy rõ không tạp loạn.

Tai thường nghe tiếng hay,

Tâm thanh tịnh vui thích.

Mũi cao đẹp và thẳng,

Đầy đủ tướng trang nghiêm.

Lưỡi kia thường mềm mại,

Sắc hồng như san hô.

Tiếng vang như người trời

Nghe đến một câu-chi.

Lìa báo không lưỡi, hôi

Hằng không sinh loài rắn.

Thân tối thượng thù thắng

Ngay thẳng không cong quẹo.

Thường sinh ý thiện tịnh

Không lúc nào gián đoạn.

Các người trời, long thần,

Với Ma-hầu-la-ca

Thường đi trong thế gian,

Để an ủi bảo hộ.

Do hành thí như vậy,

Được phúc báo như trên.

HẾT QUYỂN 21

Did you find apk for android? You can find new Free Android Games and apps.