Want create site? Find Free WordPress Themes and plugins.

LUẬN ĐẠI THỪA TẬP BỒ TÁT HỌC
(Luận Đại thừa tập hợp các Học xứ của Bồ-tát)
Bồ-tát Pháp Xứng tạo luận
Sa-môn Pháp Hộ v.v… dịch
Nguyên Hồng dịch tiếng Việt

 

QUYỂN 2

Phẩm 1: TẬP HỢP HỌC XỨ VỀ BỐ THÍ 2

Luận nói:

Cho nên biết rằng sức của tự mình tập hợp, tùy theo hành tướng với một thiện đạo cũng phải giữ gìn.

Như Kinh Địa Tạng Thập Luận nói:

Như vậy con đường mười thiện nghiệp Phật đã chứng quả nếu ai không chân thật gìn giữ hộ trì một con đường thiện nghiệp cho đến khi lâm chung mà tự xưng rằng mình là người chân thật tu hạnh Đại thừa, mình là người cầu A-nậu-đa-la Tam-miệu Tambồ-đề, phải biết người đó là cực kỳ dối trá, là đại vọng ngữ, đối trước mười phương Phật Thế Tôn dối gạt thế gian, nói không, nói đoạn kiến lừa dối người ngu si, thân hoại mạng chung đọa các đường dữ.

Luận nói:

Cho đến khi mạng chung, có thể trong chốc lát nói về sự tích tập các thiện phẩm và cũng phải tu tập tạo tác.

Như Kinh Dược Sư Lưu Ly Quang nói:

Nếu thấy chúng sinh có tâm Đại Bồ-đề, như nghe khổ hạnh khó làm và trí tuệ thắng diệu của Bồ-tát, cho đến hiểu sâu, phát đại dũng mãnh, gánh vác gánh nặng cứu hộ chúng sinh hết các gốc khổ, lễ bái cúng dường, nói về tội lỗi và phúc đức tùy hỷ, khuyến thỉnh chư Phật trụ thế thuyết pháp, cho đến hồi hướng Bồ-đề, vì thiện tri thức khuyến thỉnh thuyết pháp, hoặc vui vẻ tự giảng nói, phải biết người như thế gọi là kẻ chỉ đường.

Như Kinh Văn Thù Sư Lợi Trang Nghiêm Phật Sát Công Đức nói:

Thế Tôn ! Diệu Cát Tường này kiếp xưa khi có nhân duyên bản hạnh phát tâm Bồ-đề cũng phát tâm như đã nói. Cho tới trước tiên tu hạnh xa lìa biên tế của luân hồi, rồi làm lợi ích chúng sinh như vậy. Tôi ở nơi Thế Tôn phát tâm Bồ-đề, hiện tiền khuyến thỉnh làm cho các thế gian thoát khỏi khổ báo bần cùng, và các tâm phẫn nộ giận hờn tham lam tật đố khi ta được Bồ-đề đều không hiện khởi, cho đến thường tu phạm hạnh thoát các tội lỗi ham muốn, theo Phật học giới thanh tịnh, yêu thích tôn trọng Đại Bồ-đề, không mau chóng thủ quả chứng. Tôi ở đời sau trong các chúng sinh một tướng không khác. Bấy giờ mười phương thế giới tuy chưa nghe tên tôi mà vô lượng không thể nghĩ bàn các quốc độ thảy đều nghiêm tịnh. Đó là vì nghiệp thân khẩu ý thanh tịnh, vì các việc làm đều thanh tịnh. Hơn nữa tất cả mọi thời, kiên trì tịnh giới cho đến tận cùng sinh tử không các tội ác.

Lại nữa, Kinh A Súc Như Lai Bản Nguyện Thụ Ký nói:

Thời xa xưa khi A-súc Như Lai làm Bồ-tát có nói như thế này: Nếu đời đời kiếp kiếp ta không xuất gia tức ta dối gạt tất cả chư Phật Như Lai.

Xá-lợi tử ! Như vậy Bồ-tát cũng phải theo học nơi A-súc Như Lai.

Lại nữa Xá-lợi tử ! Các Bồ-tát Ma-ha-tát đời đời xuất gia, dù gặp chư Như Lai ra đời hay không ra đời cũng đều bỏ nhà thế tục xuất gia và tu học như vậy.

Sở dĩ vì sao ? Xá-lợi tử ! Nếu bảo rằng việc xả tục xuất gia là tối thượng, cho đến không sinh ái nhiễm đắm trước nam nữ quyến thuộc như ta lúc sinh thời là không các tội lỗi.

Luận nói:

Hãy tạm ngưng những điều nói trên. Nếu nói tội tướng của thí và giới giống nhau và những việc tương ưng với tội tướng nên tự xả bỏ, thì nếu là hành tướng riêng biệt cũng không phải không tội. Nhưng trong hành tướng riêng biệt không nhiếp thụ mà Bồ-tát đối với chúng sinh có thể khiến được giải thoát tất cả khổ não đời vị lai, khiến được tăng trưởng tất cả diệu lạc. Nếu thân ngữ ý không siêng năng tinh tiến, thuần thục các phương tiện, gặp duyên thuận lợi không thích khuyến hóa, hoặc tiêu tan cũng chẳng tìm cầu, phiền não nhiều ít cũng không khởi đối trị, đối với nghĩa lợi lớn, nghĩa lợi nhỏ hoặc chẳng phải nghĩa lợi không có tâm làm tổn giảm hay tăng ích, sát-na đều bỏ hết. Vậy là tội. Còn sơ lược nói về không tội, nghĩa là tự lực có thể ở nơi cảnh giới sự, đều không quả báo. Còn nếu chấp như vậy nơi cái học biểu thị thể tính của tướng, thì đó là tội. Nếu như tự lực có thể cảnh giới tương ưng thì không có tội. Cũng như nói tội đối với tướng giải thoát. Đó là nói về cái học của Bồ-tát đối với thân bình đẳng rộng lớn vô lượng kiếp về sau.

Lại nữa ở đây lược nói Bồ-tát có hai thứ tội. Nếu như thành biện tương ưng phi tương ưng, khả tác bất khả tác đều không lựa chọn hay bỏ, cho nên là tội. Nghĩa là rốt ráo siêu xuất tầm tứ, hiểu lầm nghĩa như Chiên-đà-la nô v.v…, cho nên là tội.

Đó là thế nào ?

Kinh Thâm Tâm Giáo Giới nói:

Từ Thị ! Bốn thứ biện tài trong nhân là lời chư Phật. Những gì là bốn ?

  1. Chọn lấy pháp có nghĩa lợi, loại bỏ pháp phi nghĩa lợi.
  2. Chọn lấy chính pháp này, loại bỏ phi pháp kia.
  3. Phá trừ phiền não, chẳng làm tăng trưởng phiền não.
  4. Ưa thích công đức Niết-bàn, không thích công đức trong luân hồi. Đó là bốn thứ.

Nói tóm lại, nếu vậy sao Từ Thị trong nhân nói là bốn thứ biện tài ? Nghĩa là thiện nam tử thiện nữ nhân có lòng tin phát sinh ý tưởng về chư Phật, ý tưởng về nghị luận mà nghe thiện pháp.

Sở dĩ vì sao ? Nghĩa là nếu Từ Thị khéo nói lời nói của chư Phật thì ai đối với biện tài này của Từ Thị mà sinh phỉ báng, cho rằng chẳng phải lời chư Phật nói, rồi không tôn trọng, tức những kẻ ác kia phỉ báng biện tài của chư Phật. Do hủy diệt thiện pháp chiêu cảm tội báo phải đọa vào các ác thú.

Luận nói:

Lại nữa tu tập thiện xảo phát khởi ái lạc, vì mong cầu quả lớn cần phải tu học tập học tác dụng tối thắng trong pháp môn tu hành này. Như Kinh Tịch Tĩnh Quyết Định Thần Biến nói:

Lại nữa Văn-thù-sư-lợi ! Nếu Bồ-tát ở nơi chư Phật nhiều như cát sông Khắc-già, mỗi chư Phật có số cõi Phật nhiều như cát sông Khắc-già, dùng ngọc báu ma-ni Tự tại vương đầy trong đó đem bố thí trải qua số kiếp nhiều như cát sông Khắc-già, nếu các Bồ-tát đối với pháp tướng như vậy nghe rồi nhất tâm tư duy rằng ta phải tu học.

Văn-thù-sư-lợi ! So với phúc báo vô học trước thì chưa bằng thí cho Bồ-tát còn ở trong học địa đang muốn cầu học này. Phúc báo này rất lớn.

Luận nói:

Bồ-tát ấy tuy thấy công đức này chưa nói đến việc theo đó tu tập, lại như kinh ấy nói:

Văn-thù-sư-lợi ! Giả sử giáo hóa chúng sinh như vi trần trong ba ngàn đại thiên thế giới, mỗi mỗi chúng sinh trở thành vua của Diêm-phù, hoặc dùng các âm thanh khen ngợi người thụ trì đọc tụng kinh Đại thừa theo đó tu hành, trong một ngày một đêm cắt đứt thịt thân thể cho đến khi mạng chung nhất tâm phụng hành.

Văn-thù-sư-lợi ! Do nhân duyên Bồ-tát ấy bố thí tâm không khiếp nhược, không sợ không hãi, hoàn toàn nhất tâm, sinh ý tưởng gần gũi, không hối không nghi cũng không phân biệt, nhiếp thụ tương ưng chính pháp tối thượng, tâm ý vui thích đọc tụng theo đó tu hành.

Văn-thù-sư-lợi ! Vì Bồ-tát ấy tâm dũng mãnh nên bố thí dũng mãnh, giữ giới dũng mãnh, tinh tiến dũng mãnh, thiền định dũng mãnh, trí tuệ dũng mãnh, tất cả Tam-ma-địa dũng mãnh.

Văn-thù-sư-lợi ! Bồ-tát ấy dẫu ở trong đám người xấu ác cũng không sinh tâm giận dữ, tâm chán ghét và các lầm lỗi.

Văn-thù-sư-lợi ! Bồ-tát ấy dẫu cho Đế-thích, Phạm vương cũng không làm lay động.

Luận nói:

Nay chính là lúc phải nhất tâm tu học mong cầu quả báo lớn.

Kinh Nguyệt Đăng Tam Muội có kệ rằng:

Nếu trong hằng sa nhiều ức kiếp,

Cúng dường trăm ức na-do Phật

Thanh tịnh tín tâm cúng trai phạn,

Cũng cúng hoa đèn cùng phướn lọng,

Nếu khi chính pháp thời suy mạt

Là lúc Phật pháp sắp tiêu diệt

Ngày đêm tu học giữ hạnh này

Thì phúc báo này thắng hơn kia.

Luận nói:

Cho nên một lòng siêng tu theo nghĩa Bồ-tát học, được nói trong kinh Phật.

Như Kinh Bảo Vân nói:

Thiện nam tử ! Bồ-tát trong sự tu học của Bồ-tát kiên trì tịnh giới, tu tập giác quán như vậy. Nếu không ở trong giới biệt giải thoát của Bồ-tát, ta làm sao có thể chứng được A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề ?

Lại nữa sao không ở trong các kinh Đại thừa của Như Lai mà rõ được hạnh của Bồ-tát, tập họp được cái học của Bồ-tát ? Ta phải tu tập rộng lớn như vậy.

Luận nói:

Chúng ta không biết, ở đây nói rộng Bồ-tát ngăn cấm không cho khởi tư tưởng tà ác. Sao không phải lý này? Trong chỗ tu tập hoàn toàn không có lỗi lầm, sao nói nơi tu tập nếu ở nơi thân có sự thụ dụng ba đời ? Hành thanh tịnh xả, hộ các chúng sinh khiến thanh tịnh tăng trưởng. Thụ giới Bồ-tát ấy rồi, nếu Bồ-tát nầy bám trụ vào chỗ tu tập gọi đó là tội tướng.

Như Kinh Bồ Tát Biệt Giải Thoát nói:

Con đường của Bồ-tát là nhiếp thụ tất cả chúng sinh làm cho hết các nẻo khổ, con đường của Bồ-tát nhiếp thụ trụ vững quá vô số kiếp duy chỉ một phát tâm là thân cận và làm an ổn. Bồ-tát phát tâm như vậy phải biết đối với các chúng sinh hoàn toàn nhiếp thụ nhiều thứ trụ xứ.

Như Luật Văn Thù Thanh Tịnh nói:

Bấy giờ Văn-thù-sư-lợi nói với Thiên tử Tịch Âm rằng: Bồ-tát đầy đủ năm thứ không gián đoạn này, sẽ mau được quả A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề. Những gì là năm ? Bồ-tát tác ý sâu xa vững chắc cầu đạo vô thượng. Phát tâm không rơi vào địa vị Thanh Văn Duyên Giác, đó là phát tâm không gián đoạn đầu tiên. Bỏ tất cả những gì sở hữu của mình, không chung cùng với tâm keo kiệt, đó là tâm không gián đoạn thứ hai. Ta phải cứu độ tất cả chúng sinh, không sinh tâm biếng nhác muốn thoái lui, đó là tâm không gián đoạn thứ ba. Hiểu rõ tất cả pháp là chẳng phải không, chẳng phải có, không sinh, không diệt, trong đó không rơi vào các kiến chấp, đó là tâm không gián đoạn thứ tư. Đối với các pháp trí hòa hợp một tướng. Như vậy trong phát tâm không trụ ở một chỗ nào, do không trụ lại ở một chỗ nào nên đối với tất cả trí đều gọi là vô sở đắc, đó là tâm không gián đoạn thứ năm.

Luận nói:

Nói thân thụ dụng phúc báo không dứt, nghĩa là đối với sự xả, hộ khiến thanh tịnh tăng trưởng.

Như trong Du Già Quán Tưởng nói:

Trong nghĩa của xả kia là chấp nhận chịu tội lỗi. Trong pháp môn quán tưởng, xả bỏ lìa bỏ ý tưởng tham, đó là công đức của quán xả.

Như Kinh Nguyệt Đăng Tam Muội có bài kệ rằng:

Thân không chắc, thế mà,

Người ngu tâm yêu thích.

Tuổi thọ nào có thường,

Sát-na như mộng ảo.

Vì tạo các nghiệp ác,

Tội báo thường theo đuổi.

Do nhân vô minh này,

Chết đọa vào đường dữ.

Lại như Kinh Vô Lượng Môn Đà La Ni nói:

Vì sao chúng sinh bị nhân đấu tranh ? Vì căn bản là tham đắm tài lợi. Phải xả bỏ. Nếu lìa tham ái tức được Đà-la-ni này.

Lại nữa, Kinh Bồ Tát Biệt Giải Thoát nói:

Lại nữa, Xá-lợi tử ! Bồ-tát đối với tất cả pháp không sinh tha tưởng cho dù một phần nhỏ hết sức vi tế.

Sở dĩ vì sao ? Vì sợ chấp thủ.

Kinh Tối Thượng Thụ Sở Vấn nói:

Nghĩa là nếu là kẻ bố thí thì không keo kiệt, người chấp trước thì thường giữ lấy. Lại nữa người bố thí thì hết tham ái, người chấp trước thì tăng trưởng tham ái. Người bố thí không có các biến kế, người chấp trước có các biến kế. Người bố thí không có sợ hãi, người chấp trước có nhiều sợ hãi. Ngứời bố thí trụ ở đạo Bồ-đề, người chấp trước trụ ở cảnh giới ma. Người bố thí thường tưởng không bao giờ hết, người chấp trước thường tưởng có ngày hết.

Lại nữa người bố thí được các diệu lạc, người chấp trước thường bị bức bách. Người bố thí xả lìa phiền não, người chấp trước tăng trưởng phiền não.

Lại nữa người bố thí được giàu có sung túc, người chấp trước thường rất nghèo thiếu.

Người bố thí là người hiền lành có sự nghiệp, người chấp trước là người dữ hay cố chấp.

Người bố thí được chư Phật khen ngợi, người chấp trước chỉ người ngu ca tụng.

Cho đến người bố thí sinh con ra không khởi đắm trước, không có sự yêu thương như các chúng sinh khác. Phải biết tự tâm có ba loại. Những gì là ba ?

1. Bồ-tát đối với đạo Bồ-đề tương ưng với chân chính, chẳng phải tương ưng với tà vạy sai trái.

2. Bồ-tát đối với đạo Bồ-đề khởi tâm bình đẳng, chẳng phải tâm cao thấp.

3. Bồ-tát đối với đạo Bồ-đề không có các thứ hạnh khác nhau, chẳng phải có hạnh khác nhau.

Đó là ba loại tự tâm đã nói.

Luận nói:

Nghĩa là đối với con mình sinh ra khởi ý tưởng chẳng phải bạn lành. Đã chẳng phải bạn lành nên chẳng phải bạn của ta. Nếu vì lợi ích theo Phật dạy là gánh lấy gánh nặng, cho nên đối với con mình sinh ra không sinh đắm trước ái lạc chẳng phải như các chúng sinh khác mà sinh khởi lòng lân mẫn. Nên biết rằng đã phát tâm này rồi, nếu phát sinh từ ái đối với con mình thì đối với tất cả chúng sinh cũng tùy thuận phát sinh từ ái. Như vậy thâm tâm quán sát hiểu ngộ con mình đã không khác với tất cả chúng sinh, thì tất cả chúng sinh đều là con mình. Có chúng sinh hoặc mình hoặc người cho đến cư sĩ, tại gía, Bồ-tát đối với tài lợi, hoặc chẳng phải chúng sinh nhiếp thụ, chớ nên đắm trước. Chẳng phải pháp xuất ly lại chẳng nên ái lạc tùy thuận nhiễm dục.

Lại nữa Bồ-tát tại gia nếu có kẻ đến xin điều gì thì tùy theo nhu cầu của họ mà phát tâm dũng cảm bố thí cho họ. Lại nữa suy nghĩ như thế này: Tài lợi này của ta dù xả thí hay không xả thí, rốt cuộc rồi cũng tiêu tan mất, làm sao khi xả thụ mà được vô dục. Nghĩa là ngã và ngã sở đều được nhẫn rốt ráo, với vật xả thí lìa thai tạng khổ, tâm trụ chính niệm hoan hỷ ái lạc không sinh tùy chuyển.

Lại nữa có thể xả thí được như vậy, nghĩa là vật xả thí và người xin phải biết có bốn thứ tưởng. Những gì là bốn ? Nghĩa là vì khiếp nhược nên không thể thuần thục thiện căn, các nghiệp tạo trước trong Đại thừa tâm không tự tại vì thấy có thủ có xả.

Lại nữa, nếu ngã và ngã sở trụ nơi sức an nhẫn, tự mình với người lành tốt không khởi hối não, tu tập như vậy, phấn khởi như vậy, tinh tiến như vậy, vì thỏa mãn chỗ mong cầu của tất cả chúng sinh. Như vậy Bồ-tát tại gia đối với người đi xin kia nên nghĩ tưởng như vậy. Nếu người đi xin trở lại tăng thêm tội lỗi, Bồ-tát ấy nên dùng lời lẽ khéo léo an ủi khuyên bảo.

Lại nữa, kẻ đi xin không biết ơn, Bồ-tát ấy cũng không khởi keo kiệt tật đố là không tội. Đó là Thế Tôn vì các Bồ-tát hạ chủng.

Như trong Bồ Tát Biệt Giải Thoát có nói:

Xá-lợi tử ! Bồ-tát có bốn pháp. Những gì là bốn ?

  1. Bồ-tát không có tâm không tin.
  2. Bồ-tát không có xan tham.
  3. Bồ-tát không có hai lưỡi tật đố.
  4. Bồ-tát không có tâm biếng nhác trễ nãi.

Nghĩa là nói ta không thể chứng được quả A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề.

Xá-lợi tử ! Nếu ta có bốn pháp này thì những người trí kia biết như thế rồi sẽ cho là tà mạng, siểm nịnh cầu phi pháp, nhiễm pháp, nặng tài lợi thế gian. Đó là thứ nhất ăn trộm của tín thí.

Lại nữa Xá-lọi tử ! Bồ-tát có tâm dũng mãnh như vậy cho đến đầu mắt tay chân các phần trong thân thể nam nữ quyến thuộc là những thứ diệu lạc yêu thích nhất, tất cả những sở hữu nhà cửa làng xóm đất nước đều có thể xả bỏ hết.

Lại nữa, như Kinh Na La Diên Sở Vấn nói:

Nếu đối với của cải phát tâm xả như vậy thì nên biết rằng tài lợi không sinh chấp thủ, xả mà chưa khởi trí, nếu đối với nhiếp thụ không khởi tâm xả, thì đối với phi nhiếp thụ cũng thường chấp trước. Nếu tùy theo ý của kẻ ăn xin, đối với nhiếp thụ phát sinh trí, với quyến thuộc cũng không chấp thủ, cái mình quý trọng tôn sùng nhất cũng không chấp thủ, của báu thụ dụng cũng không chấp thủ. Bồ-tát nếu đối với của cải không khởi tâm xả, cho đến phần nhỏ nhặt nhất, phải biết đó là chấp thủ.

Lại nữa, thiện nam tử ! Bồ-tát Ma-ha-tát nên phát tâm như vậy, nghĩa là thân phần của ta đây còn có thể xả bỏ cho chúng sinh huống chi là của cải vật dụng bên ngoài. Lại nữa, nếu đối với chúng sinh nếu cần gì đều có thể thí cho. Nghĩa là nếu có kẻ hành khất đến xin cần tay thì lấy tay cần chân lấy chân cần mắt lấy mắt, cho đến máu thịt và các thân phần tùy đó mà thí cho.

Sao lại gọi là của cải vật dụng bên ngoài ? Nghĩa là kho lẫm của cải tư sinh các thứ, vàng bạc báu vật đẹp đẽ trang nghiêm, voi ngựa xe cộ đất nước cung điện, thành ấp làng xóm quan lại dân chúng nô tì người làm việc sĩ phu nam nữ quyến thuộc, nếu các chúng sinh có những việc mà chúng sinh kia cần có những thứ ấy ta sẽ cấp cho họ mà không hối tiếc hay phiền não.chán nản, không mong cầu quả báo và sự nịnh bợ giả dối. Lại nữa, ta bố thí đây là vì tùy thuận tất cả chúng sinh, vì thương tất cả chúng sinh, vì làm lợi ích chúng sinh, vì nhiếp thụ tất cả chúng sinh, như ta nhiếp thụ chúng sinh vì biết pháp đó là được Bồ-đề. Nói tóm lại, thiện nam tử ! Ví như cây thuốc, nào rễ, thân, nhánh, lá, hoa, quả, vỏ, hạt, hoặc toàn thể hoặc từng phần tùy người lấy, không sinh phân biệt.

Lại nữa, khi độ thoát chúng sinh khỏi nạn bệnh khổ cũng không phân biệt tính thượng trung hạ.

Thiện nam tử ! Bồ-tát Ma-ha-tát cũng như vậy, phải biết đối với cái thân do bốn đại chủng họp thành, nên sinh tưởng như cây thuốc có thể làm lợi ích cho chúng sinh kia, cần tay lấy tay cần chân lấy chân, tùy người lấy như cây thuốc nói ở trước không sinh phân biệt.

HẾT QUYỂN 2

Did you find apk for android? You can find new Free Android Games and apps.