LUẬN A TỲ ĐẠT MA THỨC THÂN TÚC
Tác giả: A la hán Đề Bà Thiết Ma
Hán dịch: Đời Đường, Tam Tạng Pháp sư Huyền Tráng
Việt dịch: Cư sĩ Nguyên Huệ

 

QUYỂN 1

Kệ đầu: Quy lễ tán.

Lạy bậc Đại giác vua trong giác

Vua giác ban mặt trời ba cõi

Pháp diệu giải thoát nương nơi trí

Bậc trí chỗ dựa các Thánh chúng.

Biển A-tỳ-đạt-ma khó vượt

Lời Phật tuôn chảy ngàn Thánh uống

Đối cảnh biển lớn khéo quyết đoán

Nên nay con chí thành đảnh lễ.

Mặt trời sáng không chiếu nhân gian

Rừng rậm che phủ ai trừ dứt

Nếu không Luận A-tỳ-đạt-ma

Nẻo trí nhận biết, ai diệt mê?

Đèn chánh pháp A-tỳ-đạt-ma

Trong tâm, mắt tịnh, trí căn bản

Rừng sáng, nẻo biết, kiếm luận tà

Uy lực Khai sĩ Như Lai tạng.

Đạo mắt tuệ soi khắp ba cõi

Hết thảy đèn pháp, biển lời Phật

Phát khởi thắng tuệ phá các nghi

Là đường pháp rộng các Hiền Thánh.

Bậc trí ao đầy tràn nước tuệ

Dũng mãnh cầu trí nền tảng vững

Thông sáng tột rõ thắng pháp nầy

Chân Phật tử ngộ Thánh giáo ấy.

Tụng nêu tổng quát về 6 Uẩn:

Trước: Uẩn Mục Kiền Liên

Kế: Bổ Đặc Già La

Nhân, Sở Duyên, Nhiều Loại

Bốn câu là sau cùng.

***

Uẩn thứ 1: MỤC KIỀN LIÊN, phần 1

* Tụng nêu tổng quát thứ nhất:

Căn, hành ác, tưởng

Tầm tứ, giới, lậu

Lửa, ái, sở hữu

Cấu, phược đều ba.

* Sa-môn Mục-liên nói như thế nầy: Quá khứ, vị lai là không, nhưng hiện tại và vô vi là có.1 Theo Đại sư Thế Hữu trong tác phẩm Dị Bộ Tông Luận thì đấy là quan điểm của Hóa Địa Bộ (Xem: Dị Tông Luận, Hth Trí Quang dịch, chú, bản in 1994, tr 108).]/note]

Nên hỏi vị ấy: Ông có cho điều đó là đúng chăng? Nghĩa là trong Khế kinh, Đức Thế Tôn đã khéo giảng nói lời thiện, ngữ thiện, có nói: Có ba căn bất thiện, đó là căn bất thiện tham, căn bất thiện sân, căn bất thiện si.

Vị ấy đáp: Đúng như vậy.

Lại hỏi: Ông có cho điều đó là đúng chăng? Nghĩa là có người có thể đối với căn bất thiện tham đã quán, đang quán, sẽ quán, đó là bất thiện.

Vị ấy đáp: Đúng như vậy.

Lại hỏi: Nên quán như thế nào? Quán về quá khứ chăng? Quán về vị lai, hiện tại chăng?

Nếu nói quán về quá khứ, nên nói là có quá khứ, không nên nói là không có quá khứ. Nếu nói quá khứ là không thì không hợp đạo lý.

Nếu nói quán về vị lai, nên nói là có vị lai, không nên nói là không có vị lai. Nếu nói vị lai là không thì không hợp đạo lý.

Nếu nói quán về hiện tại, nên nói có một Bổ-đặc-già-la không phải trước, không phải sau, hai tâm hòa hợp, nếu cho một bên là đối tượng được quán, một bên là chủ thể quán, điều ấy là không hợp lý. Nếu nói không có một Bổ-đặc-già-la không phải trước, không phải sau, hai tâm hòa hợp, nếu cho một bên là đối tượng được quán, một bên là chủ thể quán, tức không nên nói là quán về hiện tại. Nếu nói quán về hiện tại thì không hợp đạo lý.

Nếu nói không quán về quá khứ, vị lai, hiện tại, tức đối với căn bất thiện tham không thể cho là đã quán, đang quán, sẽ quán, đó là bất thiện. Nếu không thể quán xét thì không thể đã chán bỏ, đang chán bỏ, sẽ chán bỏ. Nếu không thể chán bỏ thì không thể đã lìa nhiễm, đang lìa nhiễm, sẽ lìa nhiễm. Nếu không thể lìa nhiễm thì không thể đã giải thoát, đang giải thoát, sẽ giải thoát. Nếu không thể giải thoát thì không thể đã bát Niết-bàn, đang bát Niết-bàn, sẽ bát Niết-bàn.

Như bất thiện, như thế là kiết, phược, tùy miên, tùy phiền não, triền, là các đối tượng nên dứt, nên bỏ, nên đoạn trừ, nên nhận biết khắp cũng như vậy.

Lại hỏi vị ấy: Ông có cho điều đó là đúng chăng? Nghĩa là có người có thể đối với căn bất thiện tham đã quán, đang quán, sẽ quán, thấy ở nơi đời sau chiêu cảm dị thục khổ.

Vị ấy đáp: Đúng như vậy.

Lại hỏi: Nên quán như thế nào? Quán về quá khứ chăng? Quán về vị lai, hiện tại chăng?

Nếu nói quán về quá khứ, nên nói là có quá khứ, không nên nói là không có quá khứ. Nếu nói quá khứ là không thì không hợp đạo lý.

Nếu nói quán về vị lai, nên nói là có vị lai, không nên nói là không có vị lai. Nếu nói vị lai là không thì không hợp đạo lý.

Nếu nói quán về hiện tại, nên nói có một Bổ-đặc-già-la không phải trước, không phải sau, cũng có thể tạo nghiệp, cũng tức nhận lãnh dị thục của nghiệp ấy, điều đó là không hợp lý. Nếu nói không có một Bổ-đặc-già-la không phải trước, không phải sau, cũng có thể tạo nghiệp, cũng tức nhận lãnh dị thục của nghiệp ấy, tức không nên nói quán về hiện tại. Nếu nói quán về hiện tại thì không hợp đạo lý.

Nếu nói không quán về quá khứ, vị lai, hiện tại, tức đối với căn bất thiện tham không thể cho là đã quán, đang quán, sẽ quán, thấy ở nơi đời sau chiêu cảm dị thục khổ (Dị thục = Quả báo). Nếu không thể quán xét thì không thể đã chán bỏ, đang chán bỏ, sẽ chán bỏ. Nếu không thể chán bỏ thì không thể đã lìa nhiễm, đang lìa nhiễm, sẽ lìa nhiễm. Nếu không thể lìa nhiễm thì không thể đã giải thoát, đang giải thoát, sẽ giải thoát. Nếu không thể giải thoát thì không thể đã Bát Niết-bàn, đang Bát Niết-bàn, sẽ Bát Niết-bàn.

Như nói về căn bất thiện tham, thì căn bất thiện sân, căn bất thiện si cũng như vậy.

*

Hành ác của thân, hành ác của ngữ là bất thiện, không phải là kiết, không phải là phược, không phải là tùy miên, không phải là tùy phiền não, không phải là triền, là các đối tượng nên dứt, nên bỏ, nên đoạn trừ, nên nhận biết khắp, vì chúng ở nơi đời sau có thể chiêu cảm dị thục khổ.

Hành ác của ý là bất thiện, là kiết, là phược, là tùy miên, là tùy phiền não, là triền, là đối tượng nên dứt, nên bỏ, nên đoạn trừ, nên nhận biết khắp, vì nó ở nơi đời sau có thể chiêu cảm dị thục khổ.

*

Các tưởng dục, sân, hại là bất thiện, không phải là kiết, không phải là phược, không phải là tùy miên, không phải là tùy phiền não, không phải là triền, là các đối tượng nên dứt, nên bỏ, nên đoạn trừ, nên nhận biết khắp, vì chúng ở nơi đời sau có thể chiêu cảm dị thục khổ.

*

Các tầm dục, giận, hại là bất thiện, không phải là kiết, không phải là phược, không phải là tùy miên, là tùy phiền não, không phải là triền, là các đối tượng nên dứt, nên bỏ, nên đoạn trừ, nên nhận biết khắp, vì chúng ở nơi đời sau có thể chiêu cảm dị thục khổ.

*

Các giới dục, giới sân là bất thiện, là kiết, là phược, là tùy miên, là tùy phiền não, là triền, là các đối tượng nên dứt, nên bỏ, nên đoạn trừ, nên nhận biết khắp, vì chúng ở nơi đời sau có thể chiêu cảm dị thục khổ.

Giới hại là bất thiện, không phải là kiết, không phải là phược, không phải là tùy miên, là tùy phiền não, không phải là triền, là đối tượng nên dứt, nên bỏ, nên đoạn trừ, nên nhận biết khắp, vì nó ở nơi đời sau có thể chiêu cảm dị thục khổ.

*

Dục lậu, vô minh lậu là bất thiện, là kiết, là phược, là tùy miên, là tùy phiền não, là triền, là các đối tượng nên dứt, nên bỏ, nên đoạn trừ, nên nhận biết khắp, vì chúng ở nơi đời sau có thể chiêu cảm dị thục khổ.

Hữu lậu không phải là bất thiện, là kiết, là phược, là tùy miên, là tùy phiền não, là triền, là đối tượng nên dứt, nên bỏ, nên đoạn trừ, nên nhận biết khắp, vì nó ở nơi đời sau không thể chiêu cảm dị thục khổ.

*

Lửa tham, lửa sân, lửa si là bất thiện, là kiết, là phược, là tùy miên, là tùy phiền não, là triền, là các đối tượng nên dứt, nên bỏ, nên đoạn trừ, nên nhận biết khắp, vì chúng ở nơi đời sau có thể chiêu cảm dị thục khổ.

*

Ái dục là bất thiện, là kiết, là phược, là tùy miên, là tùy phiền não, là triền, là đối tượng nên dứt, nên bỏ, nên đoạn trừ, nên nhận biết khắp, vì nó ở nơi đời sau có thể chiêu cảm dị thục khổ.

Ái sắc, ái vô sắc không phải là bất thiện, là kiết, là phược, là tùy miên, là tùy phiền não, là triền, là các đối tượng nên dứt, nên bỏ, nên đoạn trừ, nên nhận biết khắp, vì chúng ở nơi đời sau không thể chiêu cảm dị thục khổ.

*

Tham hiện có, sân hiện có, si hiện có. Tham cấu, sân cấu, si cấu. Tham trói buộc, sân trói buộc, si trói buộc, là bất thiện, là kiết, là phược, là tùy miên, là tùy phiền não, là triền, là các đối tượng nên dứt, nên bỏ, nên đoạn trừ, nên nhận biết khắp, vì chúng ở nơi đời sau có thể chiêu cảm dị thục khổ.

***

Uẩn thứ 1: MỤC KIỀN LIÊN, phần 2

* Tụng nêu tổng quát thứ hai:

Bộc, ách, thủ, hệ, cái

Dưới, trên, tài, câu ngại

Kiến, ái và tùy miên

Chi tà, kiết, nghiệp đạo.

* Sa-môn Mục-liên nói như thế nầy: Quá khứ, vị lai là không, nhưng hiện tại và vô vi là có.

Nên hỏi vị ấy: Ông có cho điều đó là đúng chăng? Nghĩa là trong Khế kinh, Đức Thế Tôn đã khéo giảng nói lời thiện, ngữ thiện, có nói: Có bốn thứ bộc lưu (Dòng thác), đó là bộc lưu dục, bộc lưu hữu, bộc lưu kiến, bộc lưu vô minh.

Vị ấy đáp: Đúng như vậy.

Lại hỏi: Ông có cho điều đó là đúng chăng? Nghĩa là có người có thể đối với bộc lưu dục đã quán, đang quán, sẽ quán, đó là bất thiện.

Vị ấy đáp: Đúng như vậy.

Lại hỏi: Nên quán như thế nào? Quán về quá khứ chăng? Quán về vị lai, hiện tại chăng?

Nếu nói quán về quá khứ, nên nói là có quá khứ, không nên nói là không có quá khứ. Nếu nói quá khứ là không thì không hợp đạo lý.

Nếu nói quán về vị lai, nên nói là có vị lai, không nên nói là không có vị lai. Nếu nói vị lai là không thì không hợp đạo lý.

Nếu nói quán về hiện tại, nên nói có một Bổ-đặc-già-la không phải trước, không phải sau, hai tâm hòa hợp, nếu cho một bên là đối tượng được quán, một bên là chủ thể quán, điều ấy là không hợp lý. Nếu nói không có một Bổ-đặc-già-la không phải trước, không phải sau, hai tâm hòa hợp, nếu cho một bên là đối tượng được quán, một bên là chủ thể quán, tức không nên nói là quán về hiện tại. Nếu nói quán về hiện tại thì không hợp đạo lý.

Nếu nói không quán về quá khứ, vị lai, hiện tại, tức đối với bộc lưu dục không thể cho là đã quán, đang quán, sẽ quán, đó là bất thiện. Nếu không thể quán thì không thể đã chán bỏ, đang chán bỏ, sẽ chán bỏ. Nếu không thể chán bỏ thì không thể đã lìa nhiễm, đang lìa nhiễm, sẽ lìa nhiễm. Nếu không thể lìa nhiễm thì không thể đã giải thoát, đang giải thoát, sẽ giải thoát. Nếu không thể giải thoát thì không thể đã Bát Niết-bàn, đang Bát Niết-bàn, sẽ Bát Niết-bàn.

Như bất thiện, như thế là kiết, phược, tùy miên, tùy phiền não, triền, là các đối tượng nên dứt, nên bỏ, nên đoạn trừ, nên nhận biết khắp cũng như vậy.

Lại hỏi vị ấy: Ông có cho điều đó là đúng chăng? Nghĩa là có người có thể đối với bộc lưu dục đã quán, đang quán, sẽ quán, thấy ở nơi đời sau chiêu cảm dị thục khổ.

Vị ấy đáp: Đúng như vậy.

Lại hỏi: Nên quán như thế nào? Quán về quá khứ chăng? Quán về vị lai, hiện tại chăng?

Nếu nói quán về quá khứ, nên nói là có quá khứ, không nên nói là không có quá khứ. Nếu nói quá khứ là không thì không hợp đạo lý.

Nếu nói quán về vị lai, nên nói là có vị lai, không nên nói là không có vị lai. Nếu nói vị lai là không thì không hợp đạo lý.

Nếu nói quán về hiện tại, nên nói có một Bổ-đặc-già-la không phải trước, không phải sau, cũng có thể tạo nghiệp, cũng tức nhận lãnh dị thục của nghiệp ấy, điều đó là không hợp lý. Nếu nói không có một Bổ-đặc-già-la không phải trước, không phải sau, cũng có thể tạo nghiệp, cũng tức nhận lãnh dị thục của nghiệp ấy, tức không nên nói quán về hiện tại. Nếu nói quán về hiện tại thì không hợp đạo lý.

Nếu nói không quán về quá khứ, vị lai, hiện tại, tức đối với bộc lưu dục không thể cho là đã quán, đang quán, sẽ quán, thấy ở nơi đời sau chiêu cảm dị thục khổ. Nếu không thể quán thì không thể đã chán bỏ, đang chán bỏ, sẽ chán bỏ. Nếu không thể chán bỏ thì không thể đã lìa nhiễm, đang lìa nhiễm, sẽ lìa nhiễm. Nếu không thể lìa nhiễm thì không thể đã giải thoát, đang giải thoát, sẽ giải thoát. Nếu không thể giải thoát thì không thể đã Bát Niết-bàn, đang Bát Niết-bàn, sẽ Bát Niết-bàn.

Như nói về bộc lưu dục, các thứ bộc lưu kiến, bộc lưu vô minh cũng như vậy.

Bộc lưu hữu không phải là bất thiện, là kiết, là phược, là tùy miên, là tùy phiền não, là triền, là đối tượng nên dứt, nên bỏ, nên đoạn trừ, nên nhận biết khắp, vì nó ở nơi đời sau không thể chiêu cảm dị thục khổ.

*

Như bộc lưu, ách cũng như vậy.

*

Đối với các thứ thủ: Dục thủ, kiến thủ, giới cấm thủ là bất thiện, là kiết, là phược, là tùy miên, là tùy phiền não, là triền, là các đối tượng nên dứt, nên bỏ, nên đoạn trừ, nên nhận biết khắp, vì chúng ở nơi đời sau có thể chiêu cảm dị thục khổ.

Ngã ngữ thủ không phải là bất thiện, là kiết, là phược, là tùy miên, là tùy phiền não, là triền, là đối tượng nên dứt, nên bỏ, nên đoạn trừ, nên nhận biết khắp, vì nó ở nơi đời sau không thể chiêu cảm dị thục khổ.

*

Các hệ thuộc là bất thiện, là kiết, là phược, là tùy miên, là tùy phiền não, là triền, là các đối tượng nên dứt, nên bỏ, nên đoạn trừ, nên nhận biết khắp, vì chúng ở nơi đời sau có thể chiêu cảm dị thục khổ.

*

Đối với các thứ cái (Che ngăn): Cái tham dục, cái giận dữ, cái nghi là bất thiện, là kiết, là phược, là tùy miên, là tùy phiền não, là triền, là các đối tượng nên dứt, nên bỏ, nên đoạn trừ, nên nhận biết khắp, vì chúng ở nơi đời sau có thể chiêu cảm dị thục khổ.

Cái hôn trầm – thùy miên, cái trạo cử – ố tác (Hối) là bất thiện, không phải là kiết, không phải là phược, không phải là tùy miên, là tùy phiền não, là triền, là các đối tượng nên dứt, nên bỏ, nên đoạn trừ, nên nhận biết khắp, vì chúng ở nơi đời sau có thể chiêu cảm dị thục khổ.

*

Đối với các kiết phần dưới: Tát-ca-da-kiến (Hữu thân kiến) không phải là bất thiện, là kiết, là phược, là tùy miên, là tùy phiền não, là triền, là đối tượng nên dứt, nên bỏ, nên đoạn trừ, nên nhận biết khắp, vì nó ở nơi đời sau không thể chiêu cảm dị thục khổ.

Các kiết phần dưới còn lại là bất thiện, là kiết, là phược, là tùy miên, là tùy phiền não, là triền, là các đối tượng nên dứt, nên bỏ, nên đoạn trừ, nên nhận biết khắp, vì chúng ở nơi đời sau có thể chiêu cảm dị thục khổ.

*

Trong các kiết phần trên: Kiết trạo cử không phải là bất thiện, không phải là kiết, không phải là phược, không phải là tùy miên, là tùy phiền não, là triền, là đối tượng nên dứt, nên bỏ, nên đoạn trừ, nên nhận biết khắp, vì nó ở nơi đời sau không thể chiêu cảm dị thục khổ.

Các kiết phần trên còn lại không phải là bất thiện, là kiết, là phược, là tùy miên, là tùy phiền não, là triền, là các đối tượng nên dứt, nên bỏ, nên đoạn trừ, nên nhận biết khắp, vì chúng ở nơi đời sau không thể chiêu cảm dị thục khổ.

*

Năm tâm căn tài là bất thiện, là kiết, là phược, là tùy miên, là tùy phiền não, là triền, là các đối tượng nên dứt, nên bỏ, nên đoạn trừ, nên nhận biết khắp, vì chúng ở nơi đời sau có thể chiêu cảm dị thục khổ.

*

Năm tâm câu ngại là bất thiện, là kiết, là phược, là tùy miên, là tùy phiền não, là triền, là các đối tượng nên dứt, nên bỏ, nên đoạn trừ, nên nhận biết khắp, vì chúng ở nơi đời sau có thể chiêu cảm dị thục khổ.

*

Trong các kiến: Tát-ca-da kiến (Hữu thân kiến), biên chấp kiến không phải là bất thiện, là kiết, là phược, là tùy miên, là tùy phiền não, là triền, là các đối tượng nên dứt, nên bỏ, nên đoạn trừ, nên nhận biết khắp, vì chúng ở nơi đời sau không thể chiêu cảm dị thục khổ.

Tà kiến, kiến thủ, giới cấm thủ là bất thiện, là kiết, là phược, là tùy miên, là tùy phiền não, là triền, là các đối tượng nên dứt, nên bỏ, nên đoạn trừ, nên nhận biết khắp, vì chúng ở nơi đời sau có thể chiêu cảm dị thục khổ.

*

Các thứ ái thân là bất thiện, là kiết, là phược, là tùy miên, là tùy phiền não, là triền, là các đối tượng nên dứt, nên bỏ, nên đoạn trừ, nên nhận biết khắp, vì chúng ở nơi đời sau có thể chiêu cảm dị thục khổ.

*

Trong các tùy miên: Tùy miên hữu tham không phải là bất thiện, là kiết, là phược, là tùy miên, là tùy phiền não, là triền, là đối tượng nên dứt, nên bỏ, nên đoạn trừ, nên nhận biết khắp, vì nó ở nơi đời sau không thể chiêu cảm dị thục khổ.

Các tùy miên còn lại là bất thiện, là kiết, là phược, là tùy miên, là tùy phiền não, là triền, là các đối tượng nên dứt, nên bỏ, nên đoạn trừ, nên nhận biết khắp, vì chúng ở nơi đời sau có thể chiêu cảm dị thục khổ.

*

Trong các chi tà: Tà kiến là bất thiện, là kiết, là phược, là tùy miên, là tùy phiền não, là triền, là đối tượng nên dứt, nên bỏ, nên đoạn trừ, nên nhận biết khắp, vì nó ở nơi đời sau có thể chiêu cảm dị thục khổ.

Tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng là bất thiện, không phải là kiết, không phải là phược, không phải là tùy miên, không phải là tùy phiền não, không phải là triền, là các đối tượng nên dứt, nên bỏ, nên đoạn trừ, nên nhận biết khắp, vì chúng ở nơi đời sau có thể chiêu cảm dị thục khổ.

Các chi tà còn lại là bất thiện, không phải là kiết, không phải là phược, không phải là tùy miên, là tùy phiền não, không phải là triền, là các đối tượng nên dứt, nên bỏ, nên đoạn trừ, nên nhận biết khắp, vì chúng ở nơi đời sau có thể chiêu cảm dị thục khổ.

*

Trong các kiết: Kiết ganh ghét, kiết keo kiệt là bất thiện, là kiết, là phược, không phải là tùy miên, là tùy phiền não, là triền, là các đối tượng nên dứt, nên bỏ, nên đoạn trừ, nên nhận biết khắp, vì chúng ở nơi đời sau có thể chiêu cảm dị thục khổ.

Các kiết còn lại là bất thiện, là kiết, là phược, là tùy miên, là tùy phiền não, là triền, là các đối tượng nên dứt, nên bỏ, nên đoạn trừ, nên nhận biết khắp, vì chúng ở nơi đời sau có thể chiêu cảm dị thục khổ.

*

Đối với các nghiệp đạo: Bảy nghiệp đạo trước là bất thiện, không phải là kiết, không phải là phược, không phải là tùy miên, không phải là tùy phiền não, không phải là triền, là các đối tượng nên dứt, nên bỏ, nên đoạn trừ, nên nhận biết khắp, vì chúng ở nơi đời sau có thể chiêu cảm dị thục khổ.

Ba nghiệp đạo sau là bất thiện, là kiết, là phược, là tùy miên, là tùy phiền não, là triền, là các đối tượng nên dứt, nên bỏ, nên đoạn trừ, nên nhận biết khắp, vì chúng ở nơi đời sau có thể chiêu cảm dị thục khổ.

***

Uẩn thứ 1: MỤC KIỀN LIÊN, phần 3

* Tụng nêu tổng quát thứ ba:

Kiết, cái, giác chi, tâm, thọ, ý Điều luyện trì kiên ở rốt sau.

*

* Sa-môn Mục-liên nói như thế nầy: Quá khứ, vị lai là không, nhưng hiện tại và vô vi là có.

Nên hỏi vị ấy: Ông có cho điều đó là đúng chăng? Nghĩa là trong Khế kinh, Đức Thế Tôn đã khéo giảng nói lời thiện, ngữ thiện, có nói: Nếu có kiết nội nhãn nên nhận biết đúng như thật là ta có kiết nội nhãn. Nếu không có kiết nội nhãn nên nhận biết đúng như thật là ta không có kiết nội nhãn. Như kiết nhãn ấy chưa sinh mà sinh, đã sinh rồi nên khiến đoạn dứt, đã đoạn dứt thì về sau không còn sinh lại nữa. Các việc như thế đều nhận biết đúng như thật.

Vị ấy đáp: Đúng như vậy.

Lại hỏi: Nên nhận biết như thế nào? Nhận biết về quá khứ chăng? Nhận biết về vị lai, hiện tại chăng?

Nếu nói nhận biết về quá khứ, nên nói là có quá khứ, không nên nói là không có quá khứ. Nếu nói quá khứ là không thì không hợp đạo lý.

Nếu nói nhận biết về vị lai, nên nói là có vị lai, không nên nói là không có vị lai. Nếu nói vị lai là không thì không hợp đạo lý.

Nếu nói nhận biết về hiện tại, nên nói có một Bổ-đặc-già-la không phải trước, không phải sau, hai tâm hòa hợp, nếu cho một bên là đối tượng được nhận biết, một bên là chủ thể nhận biết, điều ấy là không hợp lý. Nếu nói không có một Bổ-đặc-già-la không phải trước, không phải sau, hai tâm hòa hợp, nếu cho một bên là đối tượng được nhận biết, một bên là chủ thể nhận biết, tức không nên nói nhận biết về hiện tại. Nếu nói nhận biết về hiện tại thì không hợp đạo lý.

Nếu nói không nhận biết về quá khứ, vị lai, hiện tại, tức như trong kinh Đức Thế Tôn đã khéo giảng nói lời thiện, ngữ thiện, có nói: Nếu có kiết nội nhãn nên nhận biết đúng như thật là ta có kiết nội nhãn. Nếu không có kiết nội nhãn nên nhận biết đúng như thật là ta không có kiết nội nhãn. Như kiết nhãn ấy chưa sinh mà sinh, đã sinh rồi nên khiến đoạn dứt, đã đoạn dứt thì về sau không còn sinh lại nữa. Các việc như thế cũng đều nhận biết đúng như thật.

Như vậy, đối với Khế kinh Đức Thế Tôn đã giảng nói, ông không nên phỉ báng, trái nghịch, vượt bỏ, chống đối. Nếu ông phỉ báng, trái nghịch, vượt bỏ, chống đối các điều Đức Thế Tôn đã giảng nói nơi Khế kinh như thế thì không hợp đạo lý.

Như nói về kiết nhãn, các thứ kiết nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý cũng như vậy.

*

* Sa-môn Mục-liên nói như thế nầy: Quá khứ, vị lai là không, nhưng hiện tại và vô vi là có.

Nên hỏi vị ấy: Ông có cho điều đó là đúng chăng? Nghĩa là trong Khế kinh, Đức Thế Tôn đã khéo giảng nói lời thiện, ngữ thiện, có nói: Nếu có cái tham dục bên trong nên nhận biết đúng như thật là ta có cái tham dục bên trong. Nếu không có cái tham dục bên trong nên nhận biết đúng như thật là ta không có cái tham dục bên trong. Như cái tham dục ấy chưa sinh mà sinh, đã sinh rồi nên khiến đoạn dứt, đã đoạn dứt thì về sau không còn sinh lại nữa. Các việc như thế đều nhận biết đúng như thật.

Vị ấy đáp: Đúng như vậy.

Lại hỏi: Nên nhận biết như thế nào? Nhận biết về quá khứ chăng? Nhận biết về vị lai, hiện tại chăng?

Nếu nói nhận biết về quá khứ, nên nói là có quá khứ, không nên nói là không có quá khứ. Nếu nói quá khứ là không thì không hợp đạo lý.

Nếu nói nhận biết về vị lai, nên nói là có vị lai, không nên nói là không có vị lai. Nếu nói vị lai là không thì không hợp đạo lý.

Nếu nói nhận biết về hiện tại, nên nói có một Bổ-đặc-già-la không phải trước, không phải sau, hai tâm hòa hợp, nếu cho một bên là đối tượng được nhận biết, một bên là chủ thể nhận biết, điều ấy là không hợp lý. Nếu nói không có một Bổ-đặc-già-la không phải trước, không phải sau, hai tâm hòa hợp, nếu cho một bên là đối tượng được nhận biết, một bên là chủ thể nhận biết, tức không nên nói nhận biết về hiện tại. Nếu nói nhận biết về hiện tại thì không hợp đạo lý.

Nếu nói không nhận biết về quá khứ, vị lai, hiện tại, tức như trong kinh Đức Thế Tôn đã khéo giảng nói lời thiện, ngữ thiện, có nói: Nếu có cái tham dục bên trong nên nhận biết đúng như thật là ta có cái tham dục bên trong. Nếu không có cái tham dục bên trong nên nhận biết đúng như thật là ta không có cái tham dục bên trong. Như cái tham dục ấy chưa sinh mà sinh, đã sinh rồi nên khiến đoạn dứt, đã đoạn dứt thì về sau không còn sinh lại nữa. Các việc như thế đều nhận biết đúng như thật.

Như vậy, đối với Khế kinh Đức Thế Tôn đã giảng nói, ông không nên phỉ báng, trái nghịch, vượt bỏ, chống đối. Nếu ông phỉ báng, trái nghịch, vượt bỏ, chống đối các điều Đức Thế Tôn đã giảng nói nơi Khế kinh như thế thì không hợp đạo lý.

Như nói về cái tham dục, các thứ cái giận dữ, hôn trầm – thùy miên, trạo cử – ố tác, nghi cũng như vậy.

*

* Sa-môn Mục-liên nói như thế nầy: Quá khứ, vị lai là không, nhưng hiện tại và vô vi là có.

Nên hỏi vị ấy: Ông có cho điều đó là đúng chăng? Nghĩa là trong Khế kinh, Đức Thế Tôn đã khéo giảng nói lời thiện, ngữ thiện, có nói: Nếu hiện có giác chi như niệm v.v… bên trong, nên nhận biết đúng như thật là ta hiện có giác chi như niệm v.v… bên trong. Nếu không có giác chi như niệm v.v… bên trong, nên nhận biết đúng như thật là ta không có giác chi như niệm v.v… bên trong. Như giác chi niệm ấy chưa sinh nên khiến sinh, đã sinh rồi nên khiến trụ, không quên mất, tu tập viên mãn, càng thêm rộng lớn khiến trí tác chứng. Các việc như thế đều nhận biết đúng như thật.

Vị ấy đáp: Đúng như vậy.

Lại hỏi: Nên nhận biết như thế nào? Nhận biết về quá khứ chăng? Nhận biết về vị lai, hiện tại chăng?

Nếu nói nhận biết về quá khứ, nên nói là có quá khứ, không nên nói là không có quá khứ. Nếu nói quá khứ là không thì không hợp đạo lý.

Nếu nói nhận biết về vị lai, nên nói là có vị lai, không nên nói là không có vị lai. Nếu nói vị lai là không thì không hợp đạo lý.

Nếu nói nhận biết về hiện tại, nên nói có một Bổ-đặc-già-la không phải trước, không phải sau, hai tâm hòa hợp, nếu cho một bên là đối tượng được nhận biết, một bên là chủ thể nhận biết, điều ấy là không hợp lý. Nếu nói không có một Bổ-đặc-già-la không phải trước, không phải sau, hai tâm hòa hợp, nếu cho một bên là đối tượng được nhận biết, một bên là chủ thể nhận biết, tức không nên nói nhận biết về hiện tại. Nếu nói nhận biết về hiện tại thì không hợp đạo lý.

Nếu nói không nhận biết về quá khứ, vị lai, hiện tại, tức như trong kinh Đức Thế Tôn đã khéo giảng nói lời thiện, ngữ thiện, có nói: Nếu hiện có giác chi như niệm v.v… bên trong, nên nhận biết đúng như thật là ta hiện có giác chi như niệm v.v… bên trong. Nếu không có giác chi như niệm v.v… bên trong, nên nhận biết đúng như thật là ta không có giác chi như niệm v.v… bên trong. Như giác chi niệm ấy chưa sinh nên khiến sinh, đã sinh rồi nên khiến trụ, không quên mất, tu tập viên mãn, càng thêm rộng lớn khiến trí tác chứng.

Các việc như thế đều nhận biết đúng như thật.

Như vậy, đối với Khế kinh Đức Thế Tôn đã giảng nói, ông không nên phỉ báng, trái nghịch, vượt bỏ, chống đối. Nếu ông phỉ báng, trái nghịch, vượt bỏ, chống đối các điều Đức Thế Tôn đã giảng nói nơi Khế kinh như thế thì không hợp đạo lý.

Như giác chi niệm, các giác chi còn lại như trạch pháp, tinh tấn, hỷ, khinh an, định, xả cũng như vậy.

*

* Sa-môn Mục-liên nói như thế nầy: Quá khứ, vị lai là không, nhưng hiện tại và vô vi là có.

Nên hỏi vị ấy: Ông có cho điều đó là đúng chăng? Nghĩa là trong Khế kinh, Đức Thế Tôn đã khéo giảng nói lời thiện, ngữ thiện, có nói: Nếu hiện có tâm tham nên nhận biết đúng như thật là hiện có tâm tham. Nếu đã lìa tâm tham nên nhận biết đúng như thật là đã lìa tâm tham.

Vị ấy đáp: Đúng như vậy.

Lại hỏi: Nên nhận biết như thế nào? Nhận biết về quá khứ chăng? Nhận biết về vị lai, hiện tại chăng?

Nếu nói nhận biết về quá khứ, nên nói là có quá khứ, không nên nói là không có quá khứ. Nếu nói quá khứ là không thì không hợp đạo lý.

Nếu nói nhận biết về vị lai, nên nói là có vị lai, không nên nói là không có vị lai. Nếu nói vị lai là không thì không hợp đạo lý.

Nếu nói nhận biết về hiện tại, nên nói có một Bổ-đặc-già-la không phải trước, không phải sau, hai tâm hòa hợp, nếu cho một bên là đối tượng được nhận biết, một bên là chủ thể nhận biết, điều ấy là không hợp lý. Nếu nói không có một Bổ-đặc-già-la không phải trước, không phải sau, hai tâm hòa hợp, nếu cho một bên là đối tượng được nhận biết, một bên là chủ thể nhận biết, tức không nên nói nhận biết về hiện tại. Nếu nói nhận biết về hiện tại thì không hợp đạo lý.

Nếu nói không nhận biết về quá khứ, vị lai, hiện tại, tức như trong Khế kinh, Đức Thế Tôn đã khéo giảng nói lời thiện, ngữ thiện, có nói: Nếu hiện có tâm tham nên nhận biết đúng như thật là hiện có tâm tham. Nếu đã lìa tâm tham nên nhận biết đúng như thật là đã lìa tâm tham.

Như vậy, đối với Khế kinh Đức Thế Tôn đã giảng nói, ông không nên phỉ báng, trái nghịch, vượt bỏ, chống đối. Nếu ông phỉ báng, trái nghịch, vượt bỏ, chống đối các điều Đức Thế Tôn đã giảng nói nơi Khế kinh như thế thì không hợp đạo lý.

Như nói về có tâm tham – lìa tâm tham, các thứ như: Có tâm sân – lìa tâm sân, có tâm si – lìa tâm si, tâm tóm gọn – tâm phân tán, tâm chìm lắng – tâm khởi dậy, tâm quấy động – tâm không quấy động, tâm không tịch tĩnh – tâm tịch tĩnh, tâm không định – tâm an định, tâm không tu – tâm tu, tâm không giải thoát – tâm giải thoát, đều nhận biết đúng như thật cũng như vậy.

*

* Sa-môn Mục-liên nói như thế nầy: Quá khứ, vị lai là không, nhưng hiện tại và vô vi là có.

Nên hỏi vị ấy: Ông có cho điều đó là đúng chăng? Nghĩa là trong Khế kinh, Đức Thế Tôn đã khéo giảng nói lời thiện, ngữ thiện, có nói: Thọ có hai thứ: Một là thân thọ. Hai là tâm thọ.

Vị ấy đáp: Đúng như vậy.

Thưa Tôn giả: Nếu lúc nhận lãnh thân thọ, tâm thọ, bấy giờ nên nói là ở vào đời nào? Là quá khứ, vị lai, hay hiện tại?

Nếu nói ở quá khứ, nên nói là có quá khứ, không nên nói là không có quá khứ. Nếu nói quá khứ là không thì không hợp đạo lý.

Nếu nói ở vị lai, nên nói là có vị lai, không nên nói là không có vị lai. Nếu nói vị lai là không thì không hợp đạo lý.

Nếu nói ở hiện tại, nên nói có một Bổ-đặc-già-la không phải trước, không phải sau, nhận lãnh hai thứ thọ: một là thân thọ, hai là tâm thọ, điều ấy là không hợp lý. Nếu nói không có một Bổ-đặc-giàla không phải trước, không phải sau, nhận lãnh hai thứ thọ: một là thân thọ, hai là tâm thọ, tức không nên nói ở hiện tại. Nếu nói ở hiện tại thì không hợp đạo lý.

Nếu nói không ở quá khứ, vị lai, hiện tại, tức như trong Khế kinh, Đức Thế Tôn đã khéo giảng nói lời thiện, ngữ thiện, có nói: Thọ có hai thứ: Một là thân thọ. Hai là tâm thọ.

Như vậy, đối với Khế kinh Đức Thế Tôn đã giảng nói, ông không nên phỉ báng, trái nghịch, vượt bỏ, chống đối. Nếu ông phỉ báng, trái nghịch, vượt bỏ, chống đối các điều Đức Thế Tôn đã giảng nói nơi Khế kinh như thế thì không hợp đạo lý.

*

* Sa-môn Mục-liên nói như thế nầy: Quá khứ, vị lai là không, nhưng hiện tại và vô vi là có.

Nên hỏi vị ấy: Ông có cho điều đó là đúng không? Nghĩa là trong Khế kinh Đức Thế Tôn đã khéo giảng nói lời thiện, ngữ thiện, có nói: Thọ có ba thứ: Một là thọ lạc. Hai là thọ khổ. Ba là thọ không khổ không lạc.

Vị ấy đáp: Đúng như vậy.

Thưa Tôn giả: Nếu lúc lãnh nhận ba thứ thọ đó, bấy giờ nên nói ở vào đời nào? Là quá khứ, vị lai, hay hiện tại?

Nếu nói ở quá khứ, nên nói là có quá khứ, không nên nói là không có quá khứ. Nếu nói quá khứ là không thì không hợp đạo lý.

Nếu nói ở vị lai, nên nói là có vị lai, không nên nói là không có vị lai. Nếu nói vị lai là không thì không hợp đạo lý.

Nếu nói ở hiện tại, nên nói có một Bổ-đặc-già-la không phải trước, không phải sau, nhận lãnh ba thứ thọ: một là thọ lạc, hai là thọ khổ, ba là thọ không khổ không lạc, điều ấy là không hợp lý. Nếu nói không có một Bổ-đặc-già-la không phải trước, không phải sau, nhận lãnh ba thứ thọ: một là thọ lạc, hai là thọ khổ, ba là thọ không khổ không lạc, tức không nên nói ở hiện tại. Nếu nói ở hiện tại thì không hợp đạo lý.

Nếu nói không ở quá khứ, vị lai, hiện tại, tức như trong Khế kinh, Đức Thế Tôn đã khéo giảng nói lời thiện, ngữ thiện, có nói: Thọ có ba thứ: Một là thọ lạc. Hai là thọ khổ. Ba là thọ không khổ không lạc.

Như vậy, đối với Khế kinh Đức Thế Tôn đã giảng nói, ông không nên phỉ báng, trái nghịch, vượt bỏ, chống đối. Nếu ông phỉ báng, trái nghịch, vượt bỏ, chống đối các điều Đức Thế Tôn đã giảng nói nơi Khế kinh như thế thì không hợp đạo lý.

*

* Sa-môn Mục-liên nói như thế nầy: Quá khứ, vị lai là không, nhưng hiện tại và vô vi là có.

Nên hỏi vị ấy: Ông có cho điều đó là đúng chăng? Nghĩa là trong Khế kinh, Đức Thế Tôn đã khéo giảng nói lời thiện, ngữ thiện, có nói: Ý và pháp làm duyên phát sinh ý thức.

Vị ấy đáp: Đúng như vậy.

Thưa Tôn giả: Lúc ý thức hiện khởi, bấy giờ nên nói ý ở vào đời nào? Là quá khứ, vị lai, hay hiện tại?

Nếu nói ở quá khứ, nên nói là có quá khứ, không nên nói là không có quá khứ. Nếu nói quá khứ là không thì không hợp đạo lý.

Nếu nói ở vị lai, nên nói là có vị lai, không nên nói là không có vị lai. Nếu nói vị lai là không thì không hợp đạo lý.

Nếu nói ở hiện tại, nên nói có một Bổ-đặc-già-la không phải trước, không phải sau, hai tâm hòa hợp với ý và ý thức, điều ấy là không hợp lý. Nếu nói không có một Bổ-đặc-già-la không phải trước, không phải sau, hai tâm hòa hợp với ý và ý thức, tức không nên nói ở hiện tại. Nếu nói ở hiện tại thì không hợp đạo lý.

Nếu nói không ở quá khứ, vị lai, hiện tại, tức như trong Khế kinh, Đức Thế Tôn đã khéo giảng nói lời thiện, ngữ thiện, có nói: Ý và pháp làm duyên phát sinh ý thức.

Như vậy, đối với Khế kinh Đức Thế Tôn đã giảng nói, ông không nên phỉ báng, trái nghịch, vượt bỏ, chống đối. Nếu ông phỉ báng, trái nghịch, vượt bỏ, chống đối các điều Đức Thế Tôn đã giảng nói nơi Khế kinh như thế thì không hợp đạo lý.

*

* Sa-môn Mục-liên nói như thế nầy: Quá khứ, vị lai là không, nhưng hiện tại và vô vi là có.

Nên hỏi vị ấy: Ông có cho điều đó là đúng chăng? Nghĩa là trong Khế kinh, Đức Thế Tôn đã khéo giảng nói lời thiện, ngữ thiện, có nói: “Dùng răng giữ răng, đầu lưỡi để trên nóc họng, lại dùng tâm ấy để hàng phục, thâu giữ, điều luyện tâm”.

Vị ấy đáp: Đúng như vậy.

Lại hỏi: Nên điều luyện ở vào đời nào? Là quá khứ, vị lai, hay hiện tại?

Nếu nói điều luyện ở quá khứ, nên nói là có quá khứ, không nên nói là không có quá khứ. Nếu nói quá khứ là không thì không hợp đạo lý.

Nếu nói điều luyện ở vị lai, nên nói là có vị lai, không nên nói là không có vị lai. Nếu nói vị lai là không thì không hợp đạo lý.

Nếu nói điều luyện ở hiện tại, nên nói có một Bổ-đặc-già-la không phải trước, không phải sau, hai tâm hòa hợp, nếu cho một bên là đối tượng được điều luyện, một bên là chủ thể điều luyện, điều ấy là không hợp lý. Nếu nói không có một Bổ-đặc-già-la không phải trước, không phải sau, hai tâm hòa hợp, nếu cho một bên là đối tượng được điều luyện, một bên là chủ thể điều luyện, tức không nên nói điều luyện ở hiện tại. Nếu nói điều luyện ở hiện tại thì không hợp đạo lý.

Nếu nói không điều luyện ở quá khứ, vị lai, hiện tại, tức như trong Khế kinh, Đức Thế Tôn đã khéo giảng nói lời thiện, ngữ thiện, có nói: “Dùng răng giữ răng, đầu lưỡi để trên nóc họng, lại dùng tâm ấy để hàng phục, thâu giữ, điều luyện tâm”. Như vậy, đối với Khế kinh Đức Thế Tôn đã giảng nói, ông không nên phỉ báng, trái nghịch, vượt bỏ, chống đối. Nếu ông phỉ báng, trái nghịch, vượt bỏ, chống đối các điều Đức Thế Tôn đã giảng nói nơi Khế kinh như thế thì không hợp đạo lý.

*

* Sa-môn Mục-liên nói như thế nầy: Quá khứ, vị lai là không, nhưng hiện tại và vô vi là có.

Nên hỏi vị ấy: Ông có cho điều đó là đúng chăng? Nghĩa là trong Khế kinh, Đức Thế Tôn đã khéo giảng nói lời thiện, ngữ thiện, có nói: “Nay vì Bí-sô Bổ-sắc-yết-la-sa-lợi nên nói: Có mười tám ý cận hành gọi là sĩ phu”.

Vị ấy đáp: Đúng như vậy.

Lại hỏi: Nếu lúc mắt thấy sắc rồi, tùy thuận xứ hỷ, là các sắc cận hành, bấy giờ mười bảy ý cận hành kia nên nói là chúng ở vào đời nào? Là quá khứ, vị lai, hay hiện tại?

Nếu nói ở quá khứ, nên nói là có quá khứ, không nên nói là không có quá khứ. Nếu nói quá khứ là không thì không hợp đạo lý.

Nếu nói ở vị lai, nên nói là có vị lai, không nên nói là không có vị lai. Nếu nói vị lai là không thì không hợp đạo lý.

Nếu nói ở hiện tại, nên nói có một Bổ-đặc-già-la không phải trước, không phải sau, có mười tám ý cận hành đồng thời hiện hành, điều ấy là không hợp lý. Nếu nói không có một Bổ-đặc-già-la không phải trước, không phải sau, có mười tám ý cận hành đồng thời hiện hành, tức không nên nói ở hiện tại. Nếu nói ở hiện tại thì không hợp đạo lý.

Nếu nói không ở quá khứ, vị lai, hiện tại, tức như trong Khế kinh, Đức Thế Tôn đã khéo giảng nói lời thiện, ngữ thiện, có nói: “Nay vì Bí-sô Bổ-sắc-yết-la-sa-lợi nên nói: Có mười tám ý cận hành gọi là sĩ phu”. Như vậy, đối với Khế kinh Đức Thế Tôn đã giảng nói, ông không nên phỉ báng, trái nghịch, vượt bỏ, chống đối. Nếu ông phỉ báng, trái nghịch, vượt bỏ, chống đối các điều Đức Thế Tôn đã giảng nói nơi Khế kinh như thế thì không hợp đạo lý.

***

Uẩn thứ 1: MỤC KIỀN LIÊN, phần 4

* Tụng nêu tổng quát thứ tư:

Vô sở duyên, tĩnh lự

Dị sinh, Đại sĩ, hổ

Nêu chỗ ở hữu tình

Ăn, Thánh đế, đoạn lậu.

* Sa-môn Mục-liên nói như thế nầy: Có tâm không có đối tượng duyên.

Nên hỏi vị ấy: Ông có cho điều đó là đúng chăng? Nghĩa là trong Khế kinh, Đức Thế Tôn đã khéo giảng nói lời thiện, ngữ thiện, có nói: Các Bí-sô nên phân biệt biết rõ. Vì phân biệt biết rõ nên gọi là thức. Phân biệt biết rõ những gì? Tức là phân biệt biết rõ về sắc, phân biệt biết rõ về thanh, hương, vị, xúc, pháp.

Vị ấy đáp: Đúng như vậy.

Lại nói: Ông nên lắng nghe kẻo rơi vào chỗ bị thua. Nếu ông nói là có tâm không có đối tượng duyên, tức không nên nói trong Khế kinh Đức Thế Tôn đã khéo giảng nói lời thiện, ngữ thiện, có nói: Các Bí-sô nên phân biệt biết rõ. Vì phân biệt biết rõ nên gọi là thức. Phân biệt biết rõ những gì? Tức là phân biệt biết rõ về sắc, phân biệt biết rõ về thanh, hương, vị, xúc, pháp. Nếu nói như ông đã nêu thì không hợp đạo lý.

Ông nay nếu nói: Nghĩa là trong Khế kinh, Đức Thế Tôn đã khéo giảng nói lời thiện, ngữ thiện, có nói: Các Bí-sô nên phân biệt biết rõ. Vì phân biệt biết rõ nên gọi là thức. Phân biệt biết rõ những gì? Tức là phân biệt biết rõ về sắc, phân biệt biết rõ về thanh, hương, vị, xúc, pháp, tức không nên nói có tâm không có đối tượng duyên. Nếu nói có tâm không có đối tượng duyên thì không hợp đạo lý.

Vị ấy nói: Tâm không có đối tượng duyên quyết định là có. Vì sao? Vì duyên nơi quá khứ hoặc duyên nơi vị lai.

Nên hỏi vị ấy: Ông có cho điều đó là đúng chăng? Nghĩa là trong Khế kinh, Đức Thế Tôn đã khéo giảng nói lời thiện, ngữ thiện, có nói: Vì Bí-sô Bản-ngư-sư-sa-để nên nói: Nầy các Bí-sô! Do các thứ nhân, do các thứ duyên nên phát sinh ra thức, thức đã sinh rồi thì rơi vào các thứ số. Do mắt (Nhãn căn) và sắc nên phát sinh ra thức, thức đã sinh rồi thì rơi vào số nhãn thức. Do tai, mũi, lưỡi, thân, ý và pháp nên phát sinh ra thức, thức đã sinh rồi thì rơi vào số ý thức.

Vị ấy đáp: Đúng như vậy.

Lại nói: Ông nên lắng nghe kẻo rơi vào chỗ bị thua. Nếu ông nói tâm không có đối tượng duyên quyết định là có, tức không nên nói trong Khế kinh, Đức Thế Tôn đã khéo giảng nói lời thiện, ngữ thiện, có nói: Vì Bí-sô Bản-ngư-sư-sa-để nên nói: Nầy các Bí-sô! Do các thứ nhân, do các thứ duyên nên phát sinh ra thức, thức đã sinh rồi thì rơi vào các thứ số. Do mắt và sắc nên phát sinh ra thức, thức đã sinh ra rồi thì rơi vào số nhãn thức. Do tai, mũi, lưỡi, thân, ý và pháp nên phát sinh ra thức, thức đã sinh ra thì rơi vào số ý thức. Nếu nói như ông đã nêu thì không hợp đạo lý.

Ông nay nếu nói: Nghĩa là trong Khế kinh Đức Thế Tôn đã khéo giảng nói lời thiện, ngữ thiện, có nói: Vì Bí-sô Bản-ngư-sư-sađể nên nói: Nầy các Bí-sô! Do các thứ nhân, do các thứ duyên nên phát sinh ra thức, thức đã sinh rồi thì rơi vào các thứ số. Do mắt và sắc nên phát sinh ra thức, thức đã sinh ra rồi thì rơi vào số nhãn thức. Do tai, mũi, lưỡi, thân, ý và pháp nên phát sinh ra thức, thức đã sinh ra rồi thì rơi vào số ý thức. Như vậy thì không nên nói tâm không có đối tượng duyên quyết định là có. Nếu nói quyết định là có tâm không có đối tượng duyên thì không hợp đạo lý.

*

* Sa-môn Mục-liên nói như thế nầy: Quá khứ, vị lai là không, nhưng hiện tại và vô vi là có.

Nên hỏi vị ấy: Ông có cho điều đó là đúng chăng? Nếu như có biết hổ thẹn, hối hận, phòng giữ và yêu thích việc học, nương thân lâu nơi xứ thiện, chứng được bốn thứ tĩnh lự của thế gian.

Vị ấy đáp: Đúng như vậy.

Khi người kia sắp qua đời, có các bậc trí thức đồng phạm hạnh đến hỏi: Nầy Cụ thọ! Ông có nhớ rõ các quả đã chứng của mình không? Người đó nói: Thưa các vị! Tôi nay đã chứng được bốn thứ tĩnh lự của thế gian. Nên hỏi vị kia: Cụ thọ đã nhớ được những chỗ chứng đắc nào? Ở quá khứ, vị lai, hay hiện tại?

Nếu nói ghi nhớ ở quá khứ, nên nói là có quá khứ, không nên nói là không có quá khứ. Nếu nói quá khứ là không thì không hợp đạo lý.

Nếu nói ghi nhớ ở vị lai, nên nói là có vị lai, không nên nói là không có vị lai. Nếu nói vị lai là không thì không hợp đạo lý.

Nếu nói ghi nhớ ở hiện tại, nên nói có một Bổ-đặc-già-la không phải trước, không phải sau, hai tâm hòa hợp, nếu cho một bên là đối tượng được ghi nhớ, một bên là chủ thể ghi nhớ, lại ở trong định nên nói lời khác, đây là điều không hợp lý. Nếu nói không có một Bổđặc-già-la không phải trước, không phải sau, hai tâm hòa hợp, nếu cho một bên là đối tượng được ghi nhớ, một bên là chủ thể ghi nhớ, lại ở trong định nên không nói lời khác, tức không nên nói ghi nhớ ở hiện tại. Nếu nói ghi nhớ ở hiện tại thì không hợp đạo lý.

Nếu nói không ghi nhớ ở quá khứ, vị lai, hiện tại, tức là không, không có pháp vượt hơn người khác mà tự nói là có, người ấy nên bỏ đi.

*

* Sa-môn Mục-liên nói như thế nầy: Quá khứ, vị lai là không, nhưng hiện tại và vô vi là có.

Nên hỏi vị ấy: Ông có cho điều đó là đúng chăng? Nghĩa là trong Khế kinh, Đức Thế Tôn đã khéo giảng nói lời thiện, ngữ thiện, có nói: Có năm thứ căn, đó là tín căn, tinh tấn căn, niệm căn, định căn và tuệ căn. Nầy các Bí-sô! Nếu như có người đối với năm căn nầy, do nơi phẩm thượng, do sự mãnh liệt, do điều phục căn thiện, do viên mãn nên thành bậc A-la-hán câu phần giải thoát. Từ nay đã được hàng phục nên chuyển đổi những chỗ nhỏ, chậm, thành tuệ giải thoát. Từ nay đã được hàng phục nên chuyển đổi những chỗ nhỏ, chậm, thành thân chứng. Từ nay đã được hàng phục nên chuyển đổi những chỗ nhỏ, chậm, thành kiến đắc. Từ nay đã được hàng phục nên chuyển đổi những chỗ nhỏ, chậm, thành tín giải thoát, thành tùy pháp hành, thành tùy tín hành. Nầy các Bí-sô, như thế nên biết: Do căn Ba-la-mật-đa làm duyên nên quả Ba-la-mật-đa được thành lập có thể nhận biết. Do quả Ba-la-mật-đa làm duyên nên Bổ-đặc-già-la Ba-lamật-đa được thành lập có thể nhận biết. Như thế nên năm căn đều rất có ích. Nầy các Bí-sô! Nếu có người đối với năm căn nầy, thấy tất cả đều vô ngã, nên nói người kia đã trụ ngoài hạng phàm phu.

Vị ấy đáp: Đúng như vậy.

Lại hỏi: Thưa Tôn giả, kẻ hữu học hiện khởi tâm ràng buộc, bấy giờ năm căn ấy nên nói là ở vào đời nào? Là quá khứ, vị lai, hay hiện tại?

Nếu nói ở quá khứ, nên nói là có quá khứ, không nên nói là không có quá khứ. Nếu nói quá khứ là không thì không hợp đạo lý.

Nếu nói ở vị lai, nên nói là có vị lai, không nên nói là không có vị lai. Nếu nói vị lai là không thì không hợp đạo lý.

Nếu nói ở hiện tại, nên nói có một Bổ-đặc-già-la không phải trước, không phải sau, hai tâm hòa hợp, nếu cho một bên là tâm tu học, một bên là tâm bị ràng buộc, đây là điều không hợp lý. Nếu nói không có một Bổ-đặc-già-la không phải trước, không phải sau, hai tâm hòa hợp, nếu cho một bên là tâm tu học, một bên là tâm bị ràng buộc, tức không nên nói ở hiện tại. Nếu nói ở hiện tại thì không hợp đạo lý.

Nếu nói không ở quá khứ, vị lai, hiện tại, tức là kẻ hữu học hiện khởi tâm ràng buộc, nên nói là ở ngoài, nên nói là phàm phu, nên nói là trụ bên ngoài hạng phàm phu.

*

* Sa-môn Mục-liên nói như thế nầy: Quá khứ, vị lai là không, nhưng hiện tại và vô vi là có.

Nên hỏi vị ấy: Ông có cho điều đó là đúng chăng? Nghĩa là trong Khế kinh, Đức Thế Tôn đã khéo giảng nói lời thiện, ngữ thiện, có nói: Vì Tôn giả Vô Diệt, nên đối với tầm tứ của bậc Đại sĩ, nói thiểu dục là pháp, đại dục là phi pháp.

Vị ấy đáp: Đúng như vậy.

Lại hỏi: Thưa Tôn giả! Thiểu dục là pháp thế nào?

Đáp: Tức là tâm sở pháp cùng tương ưng với tâm.

Lại hỏi: Nầy Tôn giả! Nếu bậc A-la-hán thân ở cõi Dục, hiện nhập định diệt tận, như thế thì thiểu dục nên nói là ở vào đời nào? Là quá khứ, vị lai, hay hiện tại?

Nếu nói ở quá khứ, nên nói là có quá khứ, không nên nói là không có quá khứ. Nếu nói quá khứ là không thì không hợp đạo lý.

Nếu nói ở vị lai, nên nói là có vị lai, không nên nói là không có vị lai. Nếu nói vị lai là không thì không hợp đạo lý.

Nếu nói ở hiện tại, tức không nên nói là hiện nhập định diệt. Nếu nói hiện nhập định diệt thì không hợp đạo lý.

Nếu nói không ở quá khứ, vị lai, hiện tại, tức là bậc A-la-hán thân ở cõi Dục, hiện nhập định diệt nên không có thiểu dục.

*

* Sa-môn Mục-liên nói như thế nầy: Quá khứ, vị lai là không, nhưng hiện tại và vô vi là có.

Nên hỏi vị ấy: Ông có cho điều đó là đúng chăng? Nghĩa là trong Khế kinh, Đức Thế Tôn đã khéo giảng nói lời thiện, ngữ thiện, vì Cụ thọ La-hỗ-la nói: Nầy La-hỗ-la! Nếu có thấy biết đúng sự việc lại nói dối, lại không biết xấu hổ, không có ăn năn, Ta nói người ấy không có nghiệp ác nào mà không tạo tác.

Vị ấy đáp: Đúng như vậy.

Lại hỏi: Nầy Cụ thọ! Xấu hổ là pháp như thế nào?

Đáp: Tức là tâm sở pháp cùng tương ưng với tâm.

Lại hỏi: Nầy Cụ thọ! Như bậc A-la-hán thân ở cõi Dục, hiện nhập định diệt, như thế thì xấu hổ nên nói là ở vào đời nào? Là quá khứ, vị lai, hay hiện tại?

Nếu nói ở quá khứ, nên nói là có quá khứ, không nên nói là không có quá khứ. Nếu nói quá khứ là không thì không hợp đạo lý.

Nếu nói ở vị lai, nên nói là có vị lai, không nên nói là không có vị lai. Nếu nói vị lai là không thì không hợp đạo lý.

Nếu nói ở hiện tại, tức không nên nói là hiện nhập định diệt. Nếu nói hiện nhập định diệt thì không hợp đạo lý.

Nếu nói không ở quá khứ, vị lai, hiện tại, tức là bậc A-la-hán thân ở cõi Dục, hiện nhập định diệt nên không có xấu hổ.

HẾT – QUYỂN 1

CHÚ THÍCH