LUẬN A TỲ ĐẠT MA THUẬN CHÁNH LÝ
Tác giả: Tôn giả Chúng Hiền
Hán dịch: Đời Đường, Tam Tạng Pháp sư Huyền Tráng
Việt dịch: Cư sĩ Nguyên Huệ

 

QUYỂN 71

Phẩm thứ 6: BIỆN VỀ HIỀN THÁNH, phần 15

Đã nói rộng về các đạo có sai biệt. Nghĩa là kiến đạo, tu đạo v.v… của thế gian, xuất thế gian.

Nay nên xét chọn: Ở trong các đạo, lược nói có bao nhiêu thứ có khả năng gồm thâu khắp? Tụng nêu:

Nên biết tất cả đạo

Lược nói chỉ có bốn

Tức gia hạnh, vô gián

Cùng giải thoát, thắng tấn.

Luận nói: Đạo gia hạnh: Nghĩa là đạo này đã vô gián sinh khởi đạo vô gián. Đạo vô gián: Nghĩa là đạo này có khả năng diệt trừ chướng nên đoạn dứt. Đạo giải thoát: Nghĩa là đạo sinh khởi đầu tiên khi đã giải thoát các chướng nên đoạn dứt. Đạo thắng tấn: Nghĩa là các đạo còn lại, trừ gia hạnh, vô gián, giải thoát.

Nghĩa nào gọi là đạo?

Nghĩa là tìm cầu, nương dựa. Dựa vào đạo này để tìm cầu quả Niết-bàn. Do đạo ấy nên tất cả hành giả tu khổ trí v.v… đều tìm cầu Niết-bàn. Hoặc đạo ấy gọi là nói về con đường của Niết-bàn, nơi các

Hiền Thánh của ba thừa đã dấn bước trên con đường quen thuộc ấy để chóng đến cảnh giới của hai thứ Niết-bàn. Đạo này ở nơi xứ khác lập tên Thông hành, do ở trong đế có thể khéo thông đạt. Lại nhanh chóng đi đến thành Niết-bàn.

Đạo này có bao nhiêu thứ? Dựa vào gì để kiến lập? Tụng nêu:

Thông hành có bốn thứ

Lạc dựa tĩnh lự gốc

Khổ dựa địa còn lại

Chậm, nhanh: Căn độn, lợi.

Luận nói: Kinh nêu rõ thông hành gồm có bốn thứ: (1) Thông hành khổ chậm. (2) Thông hành khổ nhanh. (3) Thông hành lạc chậm. (4) Thông hành lạc nhanh.

Bốn thông hành này có sai biệt: Vì dựa vào địa, dựa vào căn để kiến lập nên có khác.

Thế nào là dựa vào địa để kiến lập có sai biệt? Nghĩa là dựa trong bốn tĩnh lự căn bản, đã xuất sinh Thánh đạo, gọi là Thông hành lạc. Vì tự nhiên chuyển nên như nương theo thuyền bè. Tự nhiên chuyển: Nghĩa là do trong địa này, chỉ quán song hành, không có tăng giảm. Lại nơi các địa này, đẳng trì hiện có, đã thâu nhận năm chi, bốn chi thành. Dựa nơi các địa vị chí, trung gian, vô sắc còn lại đã xuất sinh Thánh đạo, gọi là Thông hành khổ.

Tuy đạo không phải là khổ tương ưng với khổ thọ, nhưng vì chuyển vận gian nan, nên cũng gọi là khổ. Như dựa vào đường bộ để đi bằng cỡi ngựa v.v…

Chuyển vận gian nan: Do trong địa này chỉ quán tuy cùng có, nhưng có tăng giảm. Nghĩa là ở địa vô sắc, quán giảm, chỉ tăng. Nơi địa vị chí, trung gian, thì quán tăng, chỉ giảm. Lại, nơi các địa này, đẳng trì hiện có, không gồm thâu năm chi, bốn chi để thành.

Các Sư khác nói: Nơi địa vị chí đạo khó có thể hoàn thành, nên lập tên khổ. Nghĩa là có người trước nay đều chưa được định, phải khởi nhiều công dụng mới được hiện tiền. Đạo này đã hiện tiền là nhờ gia hạnh thù thắng. Tĩnh lự căn bản thì dễ khởi, nên là lạc. Tĩnh lự trung gian đồng thuộc về một địa. Phẩm tâm khác diệt, phẩm tâm khác sinh, vì rất gian nan, nên cũng gọi là khổ. Ví như dùng gỗ chẻ gỗ thật là khó. Nghĩa là trong một địa có tầm có tứ, phẩm tâm thô diệt, không tầm chỉ có tứ, phẩm tâm vi tế sinh, phải dùng nhiều công sức. Các định vô sắc cũng rất khó thành, nên cũng gọi là khổ, vì rất vi tế. Nghĩa là hành tướng của định vô sắc là nhỏ ít, không dễ lường tính, nên tu khó hoàn thành. Lại, khi từ tĩnh lự khởi định vô sắc, định năm uẩn diệt, định bốn uẩn khởi. Vì rất khó thành tựu đầy đủ, nên lập tên khổ.

Thế nào là dựa vào căn để kiến lập có sai biệt? Nghĩa là tức trong hai thông hành khổ, lạc, độn căn gọi là chậm, lợi căn gọi là nhanh. Hai hành đối với cảnh thông đạt ngăn chận gọi là Thông chậm. Trái với đây gọi là Thông nhanh. Hoặc người độn chậm, đã khởi thông hành, gọi là thông hành chậm. Thông hành nhanh là cùng trái với đây. Hoặc hướng đến Niết-bàn có chậm, có nhanh. Do căn độn, lợi, như phần sau sẽ biện.

Hành này dùng năm uẩn, bốn uẩn làm tánh. Do dựa nơi định sắc, định vô sắc có riêng khác. Nhưng gọi là thông: Tức hiển bày về tuệ thù thắng. Như phần vị kiến đạo tuy đủ năm uẩn, nhưng do tuệ thù thắng, nên lập riêng tên kiến, như các thế tục trí bên cạnh kiến đạo.

Định kim cương dụ cũng dùng năm uẩn, bốn uẩn làm thể, lập tên trí định. Nhưng có kinh trong ấy nói bốn thông hành, dùng năm căn làm tánh, cũng căn cứ theo phần thù thắng để nêu bày. Vì là hơn hẳn trong tuệ thù thắng, nên lập tên thông.

Vì các hữu tình không có căn phẩm trung mà nay chỉ nói hành chậm, nhanh chăng?

Có một loại nói: Người không có căn phẩm trung, như Khế kinh nêu rõ: Trong những người lợi căn, chỉ có Chỉ Man là thứ nhất.

Trong các kẻ độn căn, chỉ có Xà Nô là thứ nhất.

Kinh này không nói có riêng căn phẩm trung, nên biết là không có. Lại đối với ba đạo, đều nói về hai. Nghĩa là trong vị kiến đạo chỉ thấy nói có hai đạo có sai biệt là tùy tín hành, tùy pháp hành. Trong vị tu đạo chỉ thấy nói có hai đạo có sai biệt là tín giải, kiến chí.

Trong đạo vô học, chỉ thấy nói có hai đạo có sai biệt là thời và bất thời. Nếu thừa nhận có căn phẩm trung tức nên đều nói ba đạo.

Nếu như vậy tức nên cùng với Khế kinh là trái nhau. Như nói: Hữu tình thế gian sinh trưởng có ba căn lợi, trung, độn sai biệt.

Điều này không trái nhau. Dựa nơi Đức Phật xuất thế, loài hữu tình kia nhập đạo vào lúc đầu, giữa, sau không đồng, nên nói như thế. Người đầu tiên vào đạo, như A Nhã Đa Kiều Trần Na v.v… Người vào đạo sau như Thiện Hiền v.v… Khoảng giữa nghĩa là những người còn lại. Hoặc căn cứ ở phần giải thoát của chủng loại hữu tình, có thượng, trung, hạ, nên nêu bày không trái. Tuy nhiên, về lý nhất định nên có người căn phẩm trung. Nghĩa là trong một chủng tánh của tùy pháp hành, có Đại Thanh văn, Độc giác, Đại giác, không thể nói là phẩm căn kia không có sai biệt. Lại, trong Khế kinh nói: Tùy pháp hành là thuộc về độn căn. Như nói: Người năm căn tăng thượng mãnh liệt, hoàn toàn viên mãn, gọi là câu giải thoát. Cho đến nói rộng. Nhưng trong thông hành, không nói riêng là có người thuộc hành phẩm trung, vì không hiểu biết sáng rõ. Ở trong sách vở của thế gian, cũng tùy theo chỗ hiểu biết sáng rõ, chỉ thấy hiển bày thượng hạ, không phải trung. Do đấy đã giải thích về đạo chỉ có hai ý.

Lại, thuyết kia đã dẫn căn nơi kinh thứ nhất nêu bày đã nhất định chứng thành có căn phẩm trung. Nghĩa là đã nêu rõ có lợi căn thứ nhất, nên biết lại có lợi căn khác nhưng không phải là tột cùng, chỉ đối với người độn nói đấy là lợi căn. Lại, đã nói là có độn căn thứ nhất, thì biết lại còn có độn căn khác, nhưng không phải là tột cùng, chỉ đối với người lợi căn nói đấy là độn. Thế nên quyết định thừa nhận là có căn phẩm trung.

Vì trong kinh đã nói rõ có ba căn, nên dựa vào căn lập đạo, tất cũng có ba, chỉ vì không phân minh, nên nói là hai. Tuy nhiên, tánh của căn phẩm trung được gồm thâu ở trong hai, do trong lợi độn có loại không phải là cùng cực, nên biết thông hành tùy theo tướng này để nói, chỉ lập chậm, nhanh, không có riêng ở giữa. Nhưng như trên đã nói: Do căn lợi độn, nên đi đến nẻo viên tịch có nhanh, có chậm. Đây là căn cứ theo đồng tu, siêng năng gia hạnh mà nói. Nếu không căn cứ theo chỗ như nhau, thì có căn độn lợi đi đến Niết-bàn chậm, nhanh không nhất định.

Lại, Khế kinh nêu bày: Có bốn trường hợp có sai biệt như hiện pháp chậm, thân hoại nhanh.

Ở đây là căn cứ theo gia hạnh có siêng năng, không siêng năng, không căn cứ theo chuyển căn và có thoái chuyển để nói. Vì các Thánh giả nếu đã trải qua sự sinh, không thoái chuyển thì không chuyển căn, không sinh nơi cõi trên. Bậc Đại giác, Độc giác đạt đến cứu cánh. Còn Thanh văn thì dựa nơi thông hành nào để nhập Thánh?

Bậc Đại giác chứng đắc quả tột cùng, chỉ dựa nơi thông hành lạc nhanh. Nghĩa là dùng tĩnh lự thứ tư làm chỗ nương dựa. Do căn cực lợi, nhập chánh quyết định, chứng đắc Chánh đẳng Bồ-đề vô thượng.

Trong Độc giác thì Lân giác dụ như nói về Đại giác. Ngoài ra thì không nhất định đối với sự việc đạt đến cứu cánh. Trong hai Thanh văn, thì Tôn giả Xá-lợi-tử dựa nơi thông hành khổ nhanh và thông hành lạc nhanh nhập Thánh, chứng quả tột cùng. Tôn giả đã dựa vào địa vị chí nhập chánh quyết định, dựa vào định thứ tư đạt được lậu tận. Tôn giả Mục Liên chỉ dựa vào thông hành khổ nhanh. Nghĩa là dựa vào địa vị chí nhập chánh quyết định và dựa vào định vô sắc đạt được lậu tận.

Hai Thánh từ trước đến nay, vì ưa thích tuệ, ưa thích định, nên chứng quả tột cùng, thì dựa vào sắc, vô sắc. Thừa nhận các Đại Thanh văn đạt đến cứu cánh, theo pháp như thế chỉ nên dần dần đắc quả, nên hai Thánh kia nhập Thánh đạo đều dựa vào địa vị chí.

Đạo cũng gọi là pháp Bồ-đề phần.

Pháp Bồ-đề phần này có bao nhiêu thứ? Danh nghĩa như thế nào? Tụng nêu:

Giác phần ba mươi bảy

Tức như bốn niệm trụ v.v…

Giác là tận vô sinh

Thuận đây gọi là phần.

Luận nói: Kinh nói giác phần có ba mươi bảy, nghĩa là bốn niệm trụ, bốn chánh đoạn, bốn thần túc, năm căn, năm lực, bảy đẳng giác chi, tám Thánh đạo chi. Tận trí, vô sinh trí gọi là giác. Người tùy thuận giác lập riêng ba Bồ-đề: (1) Bồ-đề Thanh văn. (2) Bồ-đề Độc giác. (3) Bồ-đề vô thượng

Vì vô trí tùy miên đều vĩnh viễn đoạn trừ và nhận biết như thật về sự việc mình đã làm, không còn tạo tác nữa, nên hai thứ này gọi là giác. Ba mươi bảy pháp thuận hướng đến Bồ-đề, thế nên đều gọi là pháp Bồ-đề phần.

Thể của ba mươi bảy pháp này đều riêng khác chăng? Không như vậy. Vì sao? Tụng nêu:

Thật này sự chỉ mười

Là tuệ, cần, định, tín

Niệm, hỷ, xả, khinh an

Cùng giới, tầm làm thể.

Luận nói: Danh xưng giác phần này tuy là ba mươi bảy, nhưng thật sự chỉ mười, tức là tuệ, cần v.v… Nghĩa là bốn niệm trụ, tuệ căn, tuệ lực, trạch pháp giác chi, chánh kiến, dùng tuệ làm thể. Bốn chánh đoạn, tinh tấn căn, tinh tấn lực, tinh tấn giác chi, chánh tinh tấn, dùng cần làm thể.

Bốn thần túc, định căn, định lực, định giác chi, chánh định, dùng định làm thể. Tín căn, tín lực, dùng tín làm thể. Niệm căn, niệm lực, niệm giác chi, chánh niệm, dùng niệm làm thể. Hỷ giác chi, dùng hỷ làm thể. Xả giác chi dùng hành uẩn gồm thâu xả làm thể. Khinh an giác chi dùng khinh an làm thể. Chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, dùng giới làm thể. Chánh tư duy dùng tầm làm thể.

Giác phần như thế thật sự chỉ có mười. Năm pháp trước tức là năm căn như tín v.v…, do cảnh v.v… khác nên phân làm ba mươi. Lại thêm hỷ, xả, khinh an, giới, tầm. Giới được phân làm ba, gồm thành bảy, cùng với trước hợp thành ba mươi bảy loại.

Sư Tỳ-bà-sa nói có mười một: Thân nghiệp, ngữ nghiệp, vì không cùng xen tạp, nên giới được chia làm hai. Chín thứ còn lại đồng với trước.

Ba loại như niệm trụ v.v…, danh không có hệ thuộc riêng, vì sao nêu bày riêng là tuệ, cần, định? Tụng nêu:

Bốn niệm trụ, chánh đoạn

Thần túc tùy tăng thượng

Nói là tuệ, cần, định

Thật các gia hạnh thiện.

Luận nói: Pháp thiện của ba phẩm như bốn niệm trụ v.v…, thật thể gồm thâu khắp các gia hạnh thiện, nhưng tùy thuận căn thiện tăng thượng của phẩm đồng, như thứ lớp nói là tuệ, cần và định.

Do đâu ở nơi tuệ lập danh xưng niệm trụ? Vì tuệ do sức của niệm duy trì khiến trụ.

Vì sao nói cần gọi là chánh đoạn? Ở trong phần vị tu, chánh tu tập đoạn trừ, vì sức của cần này có khả năng đoạn dứt biếng trễ. Hoặc gọi là chánh thắng, vì ở nơi chánh đã gìn giữ thúc đẩy. Trong thân, ngữ, ý, cần này là tối thắng.

Vì sao ở nơi định lập tên thần túc? Vì là đối tượng nương dựa của các đức linh diệu. Trong đây, Kinh chủ đã nêu giải như thế.

Có Sư khác cho: Thần tức là túc (chân) của định, nghĩa là dục v.v… Nên sự của giác phần kia có mười ba, vì thêm dục tâm. Lại, trái với kinh đã thuyết giảng. Như Khế kinh nói: Ta nay vì ông thuyết giảng về thần túc v.v… Thần, nghĩa là thọ dụng vô số thứ thần cảnh, chia một làm nhiều, cho đến nói rộng. Túc, nghĩa là bốn Tam-ma-địa như dục v.v… Trong đây, Đức Phật nêu rõ quả của định gọi thần. Đẳng trì đã sinh như dục v.v… gọi là túc. Không có lỗi như thế. Sư kia thừa nhận thể của đẳng trì tức là thần cũng là thần túc. Kinh kia đã nói túc nghĩa là dục v.v…, là hiển bày đẳng trì có bốn thứ, nên nêu lên nhân để làm rõ quả, nói câu như dục v.v… Nhưng các đẳng trì gồm có hai thứ: (1) Đối với phần vị gia hạnh của căn thiện là hơn. (2) Đối với phần vị thành mãn của căn thiện là hơn.

Trước gọi là thần túc, sau gọi là thần. Nên Khế kinh nói: Do dục tăng thượng, định thù thắng đã đạt được, gọi là đẳng trì dục. Câu nói này tức nói về định của vị gia hạnh.

Lại nói: Phương tiện là đoạn trừ pháp ác bất thiện đã sinh, cho đến vì khiến pháp thiện đã sinh, an trụ tăng rộng. Do trước dục định sinh khởi ở nơi dục, phát khởi siêng năng, tinh tấn gồm thâu tâm, gìn giữ tâm. Đây là nói về định nơi vị thành mãn của căn thiện gồm thâu tâm. Nghĩa là tuệ gìn giữ tâm. Nghĩa là định có thể thâu giữ tâm, là tướng của tuệ kia.

Lại nói: Dục, cân, tinh tấn như thế, gồm thâu tâm, gìn giữ tâm, cho đến nói rộng.

Thế nào là dục v.v… do đẳng trì dục?

Câu nói này là nêu rõ về phần sau khởi dục v.v…, là người đẳng dẫn tu đẳng trì dục, khi gia hạnh thành, là nghĩa của quả đã chứng.

Lại nói vị này, hoặc dục, hoặc cần, hoặc tín, hoặc khinh an, hoặc niệm, hoặc chánh trí, hoặc tư, hoặc xả, đều gọi là thắng hành.

Dựa vào tu nào để tạo lập tên gọi thắng hành? Vì dựa vào tu tạo thần, nên gọi là thắng hành.

Do lý như thế, nên tiếp theo nói: Thắng hành như vậy cùng dục định ở trước, hợp gọi là Dục định thắng hành thần túc.

Nói thần túc: Là nghĩa đối tượng nương dựa của thần, vì dục định ở trước là nhân của định sinh trước, sau khởi dục v.v…, là nhân của định cùng sinh, nên trong thắng hành không nói lại. Nhân của định, quả của định, nhất định không chấp nhận đều cùng có. Dục câu sinh v.v… ở nơi định đã tu có công năng gì?

Nếu lìa dục câu sinh v.v…, thì các pháp nhất định không sinh, do định ở trong tụ câu sinh kia là rất thù thắng, nên nói rõ về đối tượng tu này, khởi dục định trước là gốc của người gia hạnh, vì cầu đạt được thắng định sau.

Do lý như thế, nên thuyết kia nói thể của đẳng trì tức là thần, cũng là thần túc, nên không có lỗi giác phần thêm dục tâm. Lại, thuyết kia cũng không có lỗi trái với Khế kinh, nên thuyết kia tự giải thích văn của Khế kinh này nói: Dùng tiếng thần để nói về quả của thần, như quả nhận biết khắp, nói tiếng nhận biết khắp. Đã nói như thế, nhất định là hợp lý.

Do đấy, kinh nêu: Thế nào gọi là hướng đến tu đạo thần túc? Nghĩa là tám chi Thánh đạo thuận với thanh tịnh. Kinh nói: Đại đức! Tôi nay nói nhất định có thần như thế. Nhưng tánh của thần như thế là thấp kém, là pháp vốn được tạo thành do các loại phàm phu, không phải là Thánh, không phải là tánh của Thánh, không phải là thông, không phải là tánh của thông, không thể đạt được Bồ-đề, không thể đạt được Niết-bàn. Do đấy, không nên tu thần túc này. Tám Thánh đạo ấy là đối tượng nên hướng cầu, chính là đoạn trừ chướng của định, có khả năng chứng đắc tĩnh lự căn bản, tức là hợp lý. Tuy định tức thần, nhưng kinh này nêu rõ: Quả của thần biến hiện sự tướng gọi là thần. Dục khiến cho tầm thô ngộ nhập nơi tế, gồm để làm rõ định là nhân gần của thần kia, nên nói lời ấy là không có lỗi trái với kinh.

Do đâu tín v.v… lập tên căn, lực? Do tăng thượng, vì khó khuất phục.

Vì sao năm pháp này, trước nói là căn, sau gọi là lực? Do năm pháp này dựa nơi phẩm hạ, thượng, phân ra trước, sau. Lại dựa vào tính chất có thể khuất phục, không thể khuất phục. Tín v.v… của phẩm hạ, thế dụng là yếu kém, nên cũng bị đồng loại đã đối trị khuất phục. Phẩm thượng thì trái với đây nên được mang tên lực.

Nói giác chi là có nghĩa gì? Nghĩa có thể giác ngộ, gọi là giác chi.

Nếu như vậy, giác chi chỉ nên có một. Không phải như thế. Vì niệm v.v… là phần của trạch pháp, đều thuận với trạch pháp, từ thù thắng đặt tên. Hoặc chi của giác là nghĩa giác chi.

Nếu như thế thì nên thừa nhận giác chi chỉ có sáu. Không phải như thế. Vì trạch pháp là giác, cũng là giác chi. Sáu thứ còn lại là giác chi, không phải là giác.

Nói đạo chi là có nghĩa gì? Nghĩa tìm cầu, nương dựa, gọi là đạo chi.

Nếu như thế thì đạo chi chỉ nên có một. Không phải như thế. Vì bảy pháp còn lại là phần của chánh kiến, đều thuận với chánh kiến, từ thù thắng được mang tên.

Hoặc chi của đạo là nghĩa đạo chi.

Nếu như thế thì nên thừa nhận đạo chi chỉ có bảy. Không phải như vậy. Vì chánh kiến là đạo, cũng là đạo chi. Bảy thứ còn lại là đạo chi, không phải là đạo.

Nên nói là ở nơi vị nào, giác phần nào tăng? Tụng nêu:

Nghiệp đầu thuận quyết trạch

Cùng vị tu kiến đạo

Bảy phẩm như niệm trụ

Nên biết thứ lớp tăng.

Luận nói: Vị mới tu nghiệp, nói là niệm trụ tăng. Nghĩa là trong vị này là dứt bỏ điên đảo. Do uy lực của niệm nên đối với cảnh như thân v.v…: tự tướng, cộng tướng, đều có thể xét kỹ nhận biết rõ, trừ diệt hai thứ ngu, vì dụng của tuệ là hơn.

Đối với vị pháp noãn thì nói chánh đoạn tăng. Nghĩa là trong vị này, nhận thấy lỗi lầm của sinh tử, công đức của Niết-bàn, bèn có thể dũng mãnh, phát khởi siêng năng tinh tấn, không rơi vào sinh tử, nhanh chóng đi đến Niết-bàn, vì dụng của cần là hơn.

Ở nơi vị pháp đảnh thì nói thần túc tăng. Nghĩa là trong vị này, có thể điều phục tâm thức, hướng đến vị bất thoái, hoàn toàn không thiếu thốn căn thiện như tín v.v…, vì dụng của định là hơn.

Đối với vị pháp nhẫn tức nói năm căn tăng. Nghĩa là trong vị này, vĩnh viễn dứt bỏ nẻo ác, chung quy không thoái đọa, nhanh chóng nhập ly sinh, nghĩa tăng thượng thành nên nghĩa của căn là hơn.

Nơi vị pháp thế đệ nhất thì nói năm lực tăng. Nghĩa là trong vị này, không bị phiền não làm cho khuất phục, vì nghĩa của lực là hơn.

Tuy trong vị nhẫn cũng chấp nhận như thế, nhưng không phải là quyết định, thế nên không nói. Hoặc trong vị này không bị tất cả pháp phàm phu khác khiến phải khuất phục. Nên ở vị này, nghĩa của lực riêng tăng.

Trong vị tu đạo, gần với vị Bồ-đề, vì trợ giác thắng, nên nói giác chi tăng. Hoặc trong vị này đoạn trừ chín phẩm Hoặc, thường thường giác, nên nghĩa giác chi tăng.

Trong vị kiến đạo, nghĩa của đạo hiện có, vì đều đầy đủ, nên nói đạo chi tăng. Nghĩa là cầu tìm nương dựa cùng thông hợp đi đến nẻo, hai nghĩa đầy đủ nên gọi là đạo.

Trong vị kiến đạo, hai nghĩa là tối thắng. Nghĩa là nơi vị kiến đạo, Thánh tuệ mới sinh, vì như thật tìm cầu đế lý thù thắng. Lại, ở nơi vị này, không khởi tâm trông mong, vì có thể nhanh chóng đi tới nẻo thù thắng, nên theo đấy thường tăng.

Ở trong Khế kinh, trước nêu bảy, sau nói tám, không phải là thứ lớp tu. Có vị khác, ở đây lập thứ lớp nói: Hành giả đầu tiên do uy lực của tuệ, đối với tự tướng, cộng tướng của cảnh như thân v.v…, đã như thật nhận biết rõ dẫn khởi chúng thiện. Như người có mắt dẫn dắt các người mù. Vì thế trước hết là nói về bốn niệm trụ. Do bốn niệm trụ hiểu rõ về các cảnh xong, đối với việc đoạn ác, tu thiện, có thể phát khởi chánh cần, nên ở nơi thứ hai, nói về bốn chánh đoạn. Do sức của chánh cần, khiến trong phần cùng nối tiếp, lỗi lầm tổn giảm, công đức tăng thịnh. Đối với định thù thắng mới có khả năng tu tập. Vì vậy thần túc được nói ở lượt thứ ba.

Định thù thắng là chỗ nương dựa, liền khiến cho tín v.v… cùng với pháp xuất thế làm tăng thượng duyên. Do đấy năm căn được nói là thứ tư.

Nghĩa của căn đã lập. Phiền não có thể chiêu cảm nẻo ác, nghiệp ác là không thể làm cho khuất phục. Do đấy, năm lực được nói là thứ năm.

Nghĩa của lực đã thành, có thể giác biết như thật về cảnh của bốn Thánh đế, vì không có nghi ngờ, lo nghĩ, nên nói bảy giác chi ở nơi thứ sáu.

Đã biết rõ như thật về cảnh của bốn Thánh đế, chán bỏ sinh tử, ưa hướng đến Niết-bàn, nên nói về đạo chi, là ở nơi thứ bảy. Trong đó, mỗi mỗi đều biện về thứ lớp. Như giải thích kinh luận, nên chánh tư cầu đạt. Nay trong luận này, là xét chọn về pháp tướng, đối với thứ lớp, về lý không nhọc công thuật lại.

Nay ở đây nên biện về giác phần: Bao nhiêu thứ chỉ là vô lậu? Bao nhiêu thứ là hữu lậu? Tụng nêu:

Bảy giác, tám đạo chi

Hoàn toàn là vô lậu

Ba, bốn, năm căn lực

Đều chung nơi hai thứ.

Luận nói: Trong đây, bảy giác chi, tám Thánh đạo chi chỉ là vô lậu. Chỉ ở trong vị tu đạo, kiến đạo mới kiến lập. Nghĩa là nơi vị tu đạo thì bảy giác chi tăng gần gũi nơi Bồ-đề. Nghĩa là vì đối trị xứ Hữu đảnh, nên Thể của giác chi hoàn toàn là vô lậu. Tất cả giác phần đều hỗ trợ Bồ-đề. Chỉ ở đây riêng nêu rõ danh xưng giác chi, vì rất gần gũi với quả Bồ-đề. Do diệu lý này chứng tỏ bảy giác chi, nên biết là chỉ dựa nơi sự việc đối trị xứ Hữu đảnh để nói. Đây là loại hàng đầu để đối trị địa dưới, tức chỉ ở nơi vô lậu lập tên giác chi.

Nếu không thừa nhận như thế thì đâu thể không chung nơi hai?

Hoặc ở trong tất cả Bồ-đề phần, dựa vào phần gần với Bồ-đề để lập danh xưng giác chi. Vị tu đạo trong đạo, gần với tánh Bồ-đề, là gần với Bồ đề, chỉ là vô lậu, nên tu đạo vô lậu mới lập tên giác chi.

Trong vị kiến đạo, vì tám đạo chi là thù thắng, nên tám đạo chi này hoàn toàn thuộc về tánh vô lậu. Tuy chánh kiến v.v… cũng chung nơi hữu lậu, nhưng chánh kiến ấy không được mang tên Thánh đạo chi. Danh xưng Thánh đạo chi là nói về vô lậu.

Lại, các Luận giả đều thừa nhận nơi pháp giác phần, thì giác chi là nói sáu, nhất định là vô lậu. Nếu nói ở trước, là chung nơi hai thứ.

Đã thấy sau giác chi mới nói về đạo chi, nên tám đạo chi hoàn toàn là vô lậu. Pháp còn lại thì chung nơi hai nghĩa. Căn cứ theo đấy là đã thành. Nghĩa là trong giác phần, vị trước tăng, tức giác phần kia đối với thế dụng của vị sau cũng tăng. Vị sau tăng do không phải ở nơi vị trước. Nên Tỳ-bà-sa nêu bày như thế này: Từ vị nghiệp đầu tiên, đến tận trí vô sinh trí, niệm trụ thường tăng, cho đến nói rộng.

Ba mươi bảy pháp này nơi địa nào có bao nhiêu thứ? Tụng nêu:

Tĩnh lự đầu: Tất cả

Vị chí trừ hỷ căn

Hai tĩnh lự trừ tầm

Trong ba bốn trừ hai

Ba trước, địa vô sắc

Trừ giới, hai thứ trước

Nơi cõi dục Hữu đảnh

Trừ giác và đạo chi.

Luận nói: Trong tĩnh lự đầu có đủ ba mươi bảy. Ở nơi địa vị chí trừ giác chi hỷ. Vì đối với pháp của địa dưới, cũng còn hoài nghi, lo nghĩ, vì chưa có thể bảo hộ tín, nên không sinh hỷ.

Lại, định vị chí khi đầu tiên hiện tiền, chưa có khả năng đoạn trừ phiền não của địa dưới. Về sau tuy đã đoạn, nhưng về loại thì đồng với trước, nên lúc khởi định kia đều không có hỷ.

Có thuyết nói: Tất cả đạo của địa cận phần đều do gắng sức chuyển, nên không có nghĩa của hỷ.

Tĩnh lự thứ hai, trừ chánh tư duy, do trong tĩnh lự kia đã không có tầm. Vì như Khế kinh nêu rõ: Địa của tĩnh lự kia không có tầm.

Đẳng trì của địa trên kia đã chuyển theo tĩnh lặng. Do đấy hai địa đều có ba mươi sáu.

Tĩnh lự thứ ba, thứ tư, tĩnh lự trung gian, đều cùng trừ hỷ tầm, nên đều có ba mươi lăm. Ba vô sắc trước, trừ ba chi giới và trừ hỷ tầm, nên đều có ba mươi hai.

Cõi dục, xứ Hữu đảnh, trừ giác chi, đạo chi, vì không có vô lậu, nên đều có hai mươi hai.

Như thế, các địa tùy theo đối tượng ứng hợp với mình, giác phần hiện tiền ít nhiều là không nhất định. Nghĩa là tùy vị sau riêng, tất gồm vị trước, có thể nơi nghĩa trên một thể, được phân làm nhiều thứ, nên có nghĩa nhiều thứ cùng lúc khởi. Chỉ bốn niệm trụ tất không cùng sinh, vì căn cứ theo đối tượng duyên nên phân làm bốn. Hãy còn không có hai tuệ cùng thời mà sinh, huống chi là có một lúc bốn tuệ đều khởi? Không thể một tuệ căn cứ nơi cảnh, phân ra nhiều, vì nếu duyên chung thì thuộc về pháp niệm trụ. Tất không có một tuệ ở nơi một sát-na duyên nơi bốn cảnh, sinh bốn hành tướng.

Do nghĩa lý này trong tĩnh lự thứ nhất gồm chung mà nói là đủ ba mươi bảy. Ở một niệm tức khắc hiện tiền là rất nhiều, nhưng chỉ cùng có ba mươi bốn. Như thế, vị chí, tĩnh lự thứ hai rất nhiều, chỉ cùng có ba mươi ba. Ba, bốn trung gian rất nhiều, chỉ cùng có ba mươi hai. Ba vô sắc trước rất nhiều, chỉ cùng có hai mươi chín. Cõi dục, xứ Hữu đảnh rất nhiều, chỉ cùng có mười chín. Vì tất cả đều trừ ba niệm trụ. Trong đó giảm, nghĩa là tùy theo vị nên tư duy.

Vì sao tâm vương không lập làm giác phần?

Về lý cũng gồm thâu ở trong niệm trụ v.v… Tâm vương kia thật sự gồm thâu các gia hạnh thiện. Nhưng không lập riêng như tuệ v.v…, do tâm ở trong phần thanh tịnh, tạp nhiễm, thế dụng đều quân bình, không thiên về phần nào. Do giác phần chỉ ở trong phần thanh tịnh, thế dụng tăng mạnh. Vì vậy nên không lập.

Có Sư khác cho: Giác phần đa số duyên nơi cộng tướng của các pháp. Tâm vương phần nhiều duyên nơi tự tướng sinh. Thế nên không lập.

Có Sư khác lại nêu: Tu tập giác phần, gốc là để đối trị tất cả phiền não. Nhưng các phiền não là tâm sở, không phải là tâm. Nên pháp có thể đối trị không phải là tâm, chỉ theo đối tượng bị chướng ngại để đối trị. Tức cùng trái nhau mà kiến lập.

Có thuyết nói: Giác phần là phụ tá cho giác. Giác là tâm sở, tuệ làm thể. Không thể cho tâm vương phụ tá tâm sở, như vua không thể phụ tá cho quan. Do đấy tâm vương không lập làm giác phần.

Có Sư khác nêu: Tâm dẫn dắt thế gian ở nơi cõi nẻo, sinh khởi luân hồi không dứt. Tu tập giác phần là đoạn trừ sinh tử. Do đấy tâm vương không lập làm giác phần.

Có Sư khác cho: Từ vô thủy đến nay, tâm bị rất nhiều phiền não tạp nhiễm, nên dong ruổi, phân tán nơi các cảnh, hết sức khó điều phục. Vì điều phục tâm, nhưng tu tập giác phần, không phải là đối tượng điều phục, tức là có thể điều phục. Thế nên tâm vương không lập làm giác phần.

Do đâu trong các pháp đại tâm sở chỉ lập bốn pháp làm Bồđề phần?

Thật sự thì gồm thâu chung ở trong niệm trụ v.v… Tâm sở kia thật sự gồm thâu các gia hạnh thiện, nhưng kiến lập riêng niệm, định, tuệ, là do ba thứ này thuận với phẩm thanh tịnh. Vì thế dụng tăng mạnh, có thể lập giác phần. Tưởng, tư, xúc, dục thì ở trong phần nhiễm, thế dụng tăng mạnh, nên không lập riêng. Đối với quán giả tưởng thì thắng giải riêng tăng, giác phần thì chỉ gồm thâu thuận với quán chân thật, do đấy thắng giải không phải thuộc về giác phần.

Có Sư khác nói: Đến vị vô học thì thắng giải mới tăng. Vì kinh chỉ lập làm chi vô học, còn pháp Bồ-đề phần thì vị hữu học tăng. Do đấy làm sức của nhân có thể dẫn khởi ba Bồ-đề phần, vì thế thắng giải không thuộc về giác phần. Uy lực của tác ý có thể phát động tâm, khiến ở nơi đối tượng duyên dễ mất mát không định. Giác phần đối với cảnh thì quán xét kỹ, khiến tâm chuyên nhất, cùng với tác ý kia là trái nhau. Thế nên tác ý không phải thuộc về giác phần.

Nếu như vậy thì vì sao lập tầm làm giác phần?

Vì tầm ở nơi cảnh giới, tuy có thúc đẩy phát khởi tâm, nhưng muốn khiến tâm suy tìm, mong đạt đến lý, thì không phải khiến ở nơi cảnh nổi trôi dễ rơi mất. Tầm đối với đế, quán sát có công năng thúc đẩy phát sinh, thì nói lực này có thể thúc đẩy chánh kiến. Do đấy tác ý không thể so sánh với tầm.

Có Sư khác cho: Hoặc nhiễm, hoặc tịnh, ở nơi phần vị đầu nhận lấy cảnh, do sức của tác ý tăng, nói là phi lý. Tác ý như lý thì dẫn đến cảnh cùng nối tiếp. Vì uy lực của tác ý đó vi tế, nên không lập làm phiền não nơi giác phần. Phiền não nơi giác phần chủ yếu ở nơi dẫn đến cảnh, và trong vị cùng nối tiếp mới tăng thạnh. Thọ ở trong phần thanh tịnh, tạp nhiễm, thế dụng đều cùng tăng, nên lập làm giác phần. Do đấy, trong chi duyên khởi của lưu chuyển lập làm chi thọ và trong Bồ-đề phần của hoàn diệt lập giác chi hỷ.

Có Sư khác luận: Thọ đối với tạp nhiễm, tuy là tăng thượng, nhưng cùng với phẩm tịnh thì tạo nên sự việc lợi ích, cũng có công năng. Như hạng Chiên-đồ-la, tánh tuy thô bỉ, thấp kém, nhưng vẫn có thể tạo sự việc lợi ích cho hạng hào tộc. Nên thọ đối với tĩnh lự, làm chi tạo lợi ích, trong Bồ-đề phần lập danh xưng giác chi.

Do đâu ba thọ (lạc hỷ xả) đều chung nơi vô lậu. Còn nơi giác phần chỉ có hỷ, không phải là hai thứ kia?

Do giác phần, đối tượng thực hiện là hành tướng mạnh mẽ. Hành tướng của lạc, xả vì chậm chạp, nên không phải.

Có Sư khác nói: Hai thọ lạc xả là lạc của khinh an, tướng ấy đã bị hành xả che lấp, nên không sáng rõ, vì thế không lập.

Vì sao trong pháp đại thiện tâm sở chỉ lập bốn pháp làm Bồđề phần?

Thật sự thì cũng được gồm thâu chung là niệm trụ v.v… Các tâm sở thiện kia thật sự là đã gồm thâu chung gia hạnh thiện, nhưng lập riêng tín, cần, khinh an, xả, là do bốn thứ ấy thuận với giác mạnh mẽ.

Vì sao bốn thứ ấy là thuận với dụng của giác mạnh mẽ?

Vì phát khởi hướng đến Bồ-đề, thì tín là đứng đầu. Sắp tu chúng hành, tín là cơ sở đầu tiên. Nhân của quả thanh tịnh, lấy tín làm gốc. Nếu không có tín thì người tu hướng đi đến không thành, nên lập tín căn dùng làm giác phần.

Có Sư khác nói: Như viên ngọc thanh thủy đặt trong nước đục, nước liền lắng sạch, khiến các người có mắt thấy rõ các sắc tượng. Như thế, dùng tín đặt trong phẩm tâm, có thể khiến cùng sinh phẩm tâm lặng sạch. Do đấy có thể thấy rõ lý của bốn Thánh đế lần lượt tăng trưởng thành ba Bồ-đề, nên tín rất nên lập làm giác phần.

Cần, đối với chúng hành có khả năng thúc đẩy phát khởi khắp, khiến hành giả kia nhanh chóng hướng đến Bồ-đề của ba thừa. Nếu không có chánh cần thì tuy đã phát khởi hướng đến, nhưng giữa chừng thì biếng trễ bỏ dở, chung cuộc là không thành. Thế nên lập cần dùng làm giác phần.

Có Sư khác luận: Từ vô thủy đến nay, sở dĩ không thể thấy rõ về bốn Thánh đế, là đều do biếng trễ, không ưa thích lắng nghe, tư duy như lý về lý của bốn Thánh đế. Cần có thể đối trị chứng biếng trễ kia, khiến vui thích lắng nghe, tư duy như lý về lý của bốn Thánh đế, nên có thể kiến bốn đế, nhanh chóng chứng đắc Bồ-đề. Vì vậy cần cũng được lập làm giác phần.

Khinh an thì dứt trừ các thứ vướng bận, khiến tâm điều hòa thuận hợp. Hành xả chánh trực, khiến tâm bình đẳng, nên có thể tăng trưởng các hành xuất thế, khiến hành giả kia nhanh chóng đi đến Bồđề của ba thừa. Thế nên lập khinh an, xả làm giác phần.

Có Sư khác nêu: Từ vô thủy đến nay, hôn trầm, trạo cử làm rối loạn tâm, khiến không kiến đế lý, do đấy không chứng đắc Bồ-đề của ba thừa. Khinh an thì xả bỏ hôn trầm. Hành xả thì ngừng dứt trạo cử, do đấy kiến đế nhanh chóng đi đến Bồ-đề, nên khinh an hành xả này cũng lập làm giác phần.

Nếu như vậy thì tự tánh của tàm quý (hổ thẹn) là thuộc về thiện, đối với các phẩm thiện được mang tên pháp trắng, cũng nên lập làm pháp Bồ-đề phần. Tàm quý kia không nên lập. Do không tàm không quý (không hổ, không thẹn) chỉ tương ưng với tất cả tâm ác. Ở trong giới bị buông bỏ, chúng là chướng ngại mạnh nhất. Đối với sự việc kiến đế lý, chúng là sức chướng ngại vi tế. Cùng với đây trái nhau gọi là tàm quý, tự tánh thuộc về thiện, được mang tên là pháp trắng. Tuy đối với giới bị buông bỏ, tàm quý đã có công sức ngăn trừ mạnh mẽ. Nhưng ở nơi định thiện làm trợ lực thì yếu kém. Trong pháp Bồ-đề phần luôn nhận lấy thuận với định thiện, hỗ trợ cho việc giác ngộ đế lý, nên tàm quý kia không lập.

Nếu như thế tức nên lập vô tham, vô sân chăng?

Vô tham, vô sân ấy là căn thiện, tự tánh là thiện, cũng không nên lập. Do các tham, sân tương ưng với sáu thức, thông hợp khắp năm bộ, là tánh tùy miên, phát khởi nghiệp thô ác là gia hạnh mạnh nhất. Đoạn dứt căn thiện làm chướng ngại căn thiện sinh khởi buông bỏ thiện, thì tham sân đều mạnh mẽ, tà ác. Nhưng kiến đế thì yếu kém. Trái với tham, sân kia, nên lập vô tham, vô sân, được mang tên căn thiện, tự tánh thuộc về thiện.

Đối với nghiệp thiện bị buông bỏ, vô tham, vô sân có công sức ngăn trừ tuy mạnh mẽ, nhưng trong việc hỗ trợ định thiện thì thế dụng yếu kém. Pháp Bồ-đề phần luôn nhận lấy thuận với định thiện, hỗ trợ cho việc giác ngộ đế lý, nên vô tham vô sân kia không lập.

Nếu như vậy thì không phóng dật nên lập làm giác phần?

Vì không phóng dật, nên chúng hành đều thành. Đức Phật thường khuyên khiến tu không phóng dật, cũng không nên lập làm giác phần. Ở trong phần vị tán động, phóng dật khiến tâm dong ruổi phân tán nơi năm dục. Có thể trái bỏ thí cho, hủy tán pháp thiện là công dụng mạnh. Ở trong phần vị định, công dụng làm chướng ngại của phóng dật này không phải là hơn hết. Vì trái đối với phóng dật kia, nên lập không phóng dật. Chỉ đối với năm dục có thể phòng hộ, tâm khiến không dong ruổi phân tán, chuyên tu thí v.v… Nên ở nơi việc hủy tán pháp thiện công sức ngăn trừ tuy mạnh, nhưng trong phần hỗ trợ định thiện thì thế dụng yếu kém. Pháp Bồ-đề phần luôn nhận lấy thuận với định thiện, vì trợ lực cho việc giác ngộ đế lý, nên không phóng dật kia không lập.

Nếu như thế thì bất hại nên lập làm giác phần?

Hại có thể bức não vô lượng hữu tình, khiến rơi vào ba đường ác. Vì bất hại kia có thể đối trị hại, nhưng cũng không nên lập làm giác phần. Hai duyên nơi sự sinh bức não các hữu tình, làm chướng ngại việc tu tập, hủy tán pháp thiện. Bất hại thì trái với các thứ này, nhưng sức hỗ trợ cho định thì yếu kém, nên cũng không lập làm giác phần.

Có Sư khác biện: Trong đại thiện pháp, nếu đối tượng đối trị mạnh, tự tánh thù thắng, thì lập làm giác phần. Pháp khác thì không như thế.

Đối tượng đối trị mạnh: Nghĩa là cùng với tất cả tâm nhiễm tương ưng.

Tự tánh thù thắng: Nghĩa là hỗ trợ kiến đế, như trước đã nêu rõ: Tín, cần, an, xả đầy đủ hai nghĩa.

Sáu thứ như hổ, thẹn (tàm quý) v.v… thì không có đủ hai nghĩa. Tức năm thứ tàm (hổ) v.v… hai nghĩa đều không có. Một thứ không phóng dật chỉ thiếu tự tánh thù thắng.

Do đâu ưa thích, nhàm chán không phải giác phần?

Về lý thật sự cũng là thuộc về niệm trụ v.v… Hai thứ kia thật sự là đã gồm thâu chung gia hạnh thiện, nhưng không lập riêng làm giác phần, là do hành tướng của hai thứ này là trái nhau, đều cùng không duyên khắp nơi cảnh của bốn Thánh đế, không có phần vị của một địa nào chấp nhận luôn hiện tiền. Phẩm tâm hẹp, ít, thế nên không lập.

Có Sư khác cho: Phàm nói về người ưa thích, nhàm chán, do uy lực của tuệ quán cảnh dẫn sinh giác phần, nghĩa là có thể thuận sinh giác tuệ. Vì nghĩa của hai thứ kia là trái nhau, tức không nên lập riêng.

Do đâu hai thứ tầm tứ đều cùng có gia hạnh thiện và có vô lậu, nhưng ở nơi giác phần, một thứ thì có, một thứ thì không có? Thật sự thì cũng cùng có nghĩa chung, như trước đã nói. Nhưng lập riêng tầm, không lập tứ, vì tầm đối với Thánh đạo đã thúc đẩy chánh kiến. Do khi tầm kia khởi, thì hành tướng mạnh mẽ hơn hẳn. Tìm cầu đế lý, có hỗ trợ kiến, có thể lập làm đạo chi. Tứ thì không như thế, do hành tướng khi khởi thì rất yếu kém.

Có Sư khác nói: Thời gian cả hai đều cùng hành thì hành tướng của tầm là thô, lấn át che lấp nơi tứ. Chỉ mỗi vị tứ khởi chuyển thì hành tướng yếu kém, nên trong giác phần không lập riêng tứ.

Thúc đẩy phát khởi chánh kiến, tự có chánh cần, vì sao còn lập tầm làm giác phần?

Siêng năng thúc đẩy chánh kiến có khác với tầm, nên trong đạo chi, tức nên cùng kiến lập. Nghĩa là siêng năng (cần) thúc đẩy hành giả kia, khiến nhanh chóng tiến tu. Còn sức của tầm thì thúc đẩy khiến nhanh chóng quán xét Thánh đế.

Do đâu biểu nghiệp không lập làm giác phần?

Vì giác phần chỉ là thuận với định thiện pháp, tâm đều cùng có vô biểu, có khả năng thuận hợp thù thắng. Biểu nghiệp thì không như vậy, thế nên không lập.

Vì sao không lập bất tương ưng hành dùng làm giác phần?

Do bất tương hành kia đối với việc hỗ trợ cho giác ngộ, không có công năng thù thắng riêng, vì không tương ưng. Không phải như vô biểu, tuy không tương ưng, nhưng vì đối với bánh xe đạo có làm công dụng như trục bánh xe. Nên đối với giác phần không kiến lập riêng bất tương ưng hành.

Có Sư khác nêu: Hai định không tâm, vì có thể diệt bỏ tâm, nên cùng với giác là trái nhau.

Bốn tướng và đắc, ở nơi đối tượng cùng thành có công dụng dời chuyển thành tựu. Các thứ bất tương ưng hành này, đối với nhiễm tịnh đều khởi dụng bình đẳng. Pháp Bồ-đề phần luôn thuận với công dụng tịnh tăng, nên không lập riêng.

Vì sao không lập tín làm giác chi và đạo chi?

Khi đầu tiên phát khởi hướng đến, thì dụng của tín tăng thượng. Đã nhập Thánh vị để lập giác đạo chi, bấy giờ thế dụng của tín thì yếu kém, nên không lập ở trong giác đạo chi.

Do đâu ở nơi giác chi lập hỷ, khinh an, xả, không phải cũng lập ba pháp kia ở trong đạo chi? Do ba pháp đó riêng thuận với giác, không thuận với đạo.

Thế nào là thuận với giác?

Nghĩa là như trong tu đạo, địa địa đều tu chín phẩm giác thù thắng, như như đối với đế, luôn luôn giác ngộ. Như thế, như thế, phát sinh hỷ thù thắng. Do sinh hỷ thù thắng nên lại ưa thích quán đế. Như người đào xới đất, được vật báu, sinh hỷ. Do sinh hỷ nên lại ưa thích đào xới nữa. Cho nên hỷ ở nơi giác thì sức tùy thuận tăng.

Chủ yếu do khinh an đã dứt trừ các sự việc bận rộn, và do sức của xả khiến tâm bình đẳng mới có thể đối với cảnh đã quán xét kỹ, nhận biết đúng. Nên lập khinh an, xả ở trong giác chi.

Thế nào là ba thứ này không thuận với đạo chi?

Vận chuyển nhanh chóng là nghĩa của Thánh đạo. Ba thứ này đối với hành tướng vận chuyển nhanh có một ít trái nhau, đều có thể khiến cho tâm trụ an ổn.

Vì sao đối với đạo lập chi tầm, giới. Còn ở trong giác chi không phải cũng lập hai thứ kia? Vì hai pháp kia riêng thuận với đạo không thuận với giác.

Thế nào là thuận với đạo?

Là như trong kiến đạo, tầm thúc đẩy chánh kiến, khiến ở trong cảnh của tám đế trên dưới mau chóng quán xét. Giới thì có thể làm trục bánh xe để thành bánh xe kiến đạo, khiến ở trong đế nhanh chóng xoay chuyển. Nên tầm và giới đều cùng lập làm đạo chi.

Tầm giới này vì sao lại không thuận với giác?

Lại, tầm ở nơi đế chuyển biến không tĩnh lặng. Vì đối với lý của Thánh đế đã tìm cầu tướng. Giác thì đã kiến đế, chuyển biến an tĩnh. Nên tầm đối với giác có một ít trái nhau. Giác là tương ưng với cảnh có đối tượng duyên. Còn đối tượng nương dựa, hành tướng nơi giới thì trái nhau với các pháp này. Nên ở nơi giác chi không kiến lập giới kia. Vì vận hành thông hợp gọi là đạo, không thể đem so sánh.

Vì sao giác phần không gồm thâu Thánh chủng?

Luận giả của phái Phân biệt thừa nhận giác phần đã gồm thâu Thánh chủng, nên Tông kia đã kiến lập bốn mươi mốt giác phần. Tôi thì thừa nhận gồm thâu ở trong niệm trụ v.v…, nhưng không lập làm giác phần riêng. Do các giác phần này, đối với người tại gia, xuất gia đều có thể thọ nhận, hành trì và có vui thích. Thánh chúng thì chỉ có những người xuất gia thọ nhận hành trì vui thích. Người tại gia có ưa thích, tất không thọ hành, nên không lập riêng.

Có Sư khác cho: Nếu thừa nhận Thánh chủng gồm chung là vô tham, thì như trước đã giải thích. Nếu thừa nhận Thể thứ tư tức là cần, tức ở trong giác phần thì không nhọc công nêu hỏi tạo vấn nạn.

Vì sao chứng tịnh không phải thuộc về giác phần?

Thật sự thì cũng gồm thâu ở trong niệm trụ v.v…, nhưng không lập làm giác phần riêng, do nơi các giác phần thì nghĩa tiến tu tăng, vì phải thường xuyên hành tập mới có thể chứng đắc Bồ-đề. Bốn thứ chứng tịnh thì nghĩa chứng đắc tăng. Khi kiến Thánh đế thì đạt được dần dần hoặc tức khắc (Tiệm, đốn). Do đấy, chứng tịnh không phải thuộc về giác phần.

Có Sư khác nói: Chứng tịnh này tức tín, giới tùy thuận thích hợp, cũng gồm thâu ở trong giác phần.

HẾT – QUYỂN 71