LUẬN A TỲ ĐẠT MA THUẬN CHÁNH LÝ
Tác giả: Tôn giả Chúng Hiền
Hán dịch: Đời Đường, Tam Tạng Pháp sư Huyền Tráng
Việt dịch: Cư sĩ Nguyên Huệ

 

QUYỂN 70

Phẩm thứ 6: BIỆN VỀ HIỀN THÁNH, phần 14

Lại do duyên gì các A-la-hán v.v… lìa nhiễm của xứ Hữu đảnh là đồng không thọ sinh sau, nhưng ở trong ấy có vị đối với phiền não đã chứng pháp không sinh, không phải là tất cả?

Có thuyết cho: Do căn có sai biệt.

Giải thích này là phi lý, vì Khế kinh đã nêu rõ phẩm căn của pháp thoái, bất thoái là đồng. như nói năm căn tăng thượng mãnh liệt, rất viên mãn, nên gọi là Câu giải thoát. Nhưng có câu giải thoát là chủng tánh thoái chuyển, không phải là căn thù thắng, nên chứng biết là Hoặc không sinh.

Nếu như vậy thì do chủng tánh nào khiến riêng khác? Sáu thứ chủng tánh chỉ nơi quả ứng có hay là nơi quả khác cũng có? Tu tập luyện căn chỉ nơi vị vô học hay ở nơi vị khác cũng có? Tụng nêu:

Phàm phu, học cũng sáu

Luyện căn không kiến đạo.

Luận nói: Chủng tánh hữu học phàm phu cũng sáu. Sáu thứ quả ứng, hàng hữu học kia làm ưu tiên. Do đã an trụ nơi chủng tánh có sai biệt, nên có vị đoạn trừ Hoặc, nơi đời sau không sinh. Nhất định vào thời gian nào đối với Hoặc đã đoạn, chứng pháp không sinh? Nghĩa là khi đạt được đạo thù thắng có thể dứt trừ loại phiền não.

Nếu như vậy thì pháp không sinh ấy nên là trạch diệt, không phải là phi trạch diệt. Nếu là phi trạch diệt thì phi trạch diệt nên là quả của đạo. Như thế thì cùng với Thánh giáo là trái nhau. Như nói: Thế nào là pháp phi quả? Nghĩa là phi trạch diệt và hư không, tức không có pháp không sinh ấy thành lỗi trạch diệt, vì đạo thù thắng chuyển, không phải là phi trạch diệt này. Đã không phải là đối tượng thực hiện, nên không phải là quả của đạo. Nghĩa là đạo thù thắng chuyển là chứng biết trạch diệt không phải là phi trạch diệt. Lúc đạo chuyển là đã chứng pháp không sinh, nên không gọi là quả của đạo. Như đốt đèn, gốc là để phá tan bóng tối, không phải là làm hết dầu. Nhưng khi đèn phát ra ánh sáng thì không phải chỉ phá tan bóng tối, mà cũng khiến dầu cạn hết. Nhưng dầu này cạn hết, không phải là gốc nơi đối tượng thực hiện. Thế nên không nói là quả của đốt đèn. Quả của đạo này cũng nên như thế, nên không có lỗi. Vì vậy chủng tánh thù thắng, khi đạo thù thắng sinh, cũng chứng đắc pháp không sinh nhưng không phải là quả của đạo.

Nay xem kỹ là do đạo đã chứng pháp không sinh, nhất định không do căn, nên đều đạt được, chỉ do sức của chủng tánh thù thắng đạt được, nên người bất động, Hoặc tất không sinh.

Trước nói pháp thoái của vị vô học có ba: (1) Căn tăng tiến. (2) Thoái trụ nơi hữu học. (3) Trụ nơi tự vị mà bát Niết-bàn.

Bốn pháp như tư v.v…, tùy chỗ ứng hợp có bốn, năm, sáu, bảy, không phải chỉ vị vô học có căn tăng tiến mà hàng hữu học phàm phu cũng có nghĩa này. Chỉ không phải là kiến đạo có khả năng tu luyện căn, vì vị này không cùng khởi gia hạnh. Nghĩa là vị kiến đạo vận chuyển rất nhanh chóng, không có thư thả để ở trong đó lại tu sự việc khác, chỉ ở trong phần vị phàm phu của tín giải, là có khả năng tu luyện căn, như quả vị vô học.

Như nói về bất động thoái chuyển hiện pháp lạc, vì sao pháp bất động cũng thừa nhận có nghĩa thoái chuyển mà không có lỗi trái nhau? Vì sao? Tụng nêu:

Nên biết thoái có ba

Đã, chưa được thọ dụng

Phật chỉ có sau cùng

Lợi giữa, sau, độn ba.

Luận nói: Nên biết các thoái chuyển gồm có ba thứ: (1) Thoái pháp đã được. Nghĩa là thoái chuyển các công đức thù thắng đã được. (2) Thoái pháp chưa được. Nghĩa là chưa thể đạt được công đức nên được. (3) Thoái thọ dụng. Nghĩa là các công đức thù thắng đã đạt được không hiện ở trước.

Trong ba thứ thoái, thì hai thoái trước lấy phi đắc làm thể. Thoái thứ ba chỉ là pháp đã đạt được kia không hiện tiền.

Trong ba thoái này, Đức Thế Tôn chỉ có một là thoái thọ dụng. Do có sự nghiệp của đối tượng tạo tác đã quyết định, lôi kéo, dẫn dắt tâm mình, tuy có vô lượng thứ hy hữu khác, pháp Phật không chung, vì không có thư thả sinh khởi, nên trừ Đức Phật, Thế Tôn, pháp bất động còn lại có đủ thoái pháp chưa được và thoái thọ dụng. Nghĩa là đối với định vô tránh thù thắng v.v…, chưa có thể đạt được công đức nên được, nên có thoái pháp chưa được. Có sự nghiệp khác đã lôi kéo, dẫn dắt tâm mình, công đức đã được, không có thư thả sinh khởi, nên có thoái thọ dụng.

Năm chủng tánh còn lại cùng có đủ ba thứ. Tức cũng cùng có thoái mất công đức đã được. Căn cứ theo thoái thọ dụng, nói là pháp bất động đã thoái chuyển hiện pháp lạc, không có lỗi trái nhau.

Ở đây, Kinh chủ nói như thế này: Căn cứ nơi tông chỉ không có thoái chuyển, thì không nên nêu vấn nạn. Vì sao bất động thoái chuyển hiện pháp lạc, không phải căn cứ nơi tĩnh lự có thoái, không thoái? Kinh nói pháp động và pháp bất động, tất cả quả ứng vô lậu, giải thoát, đều gọi là bất động, tâm giải thoát. Nhưng ở trong tĩnh lự sinh khởi tự tại, có thể có người thoái, gọi là pháp thoái. Người không thể thoái, gọi là pháp bất thoái.

Tư v.v… như thế là nên tư duy như lý.

Nếu như vậy thì bất thoái an trụ nơi bất động có gì sai biệt?

Đều ở trong tĩnh lự dấy khởi tự tại, vì không có thoái mất. Không phải luyện căn đạt được gọi là bất thoái. Đối tượng đạt được của luyện căn gọi là bất động. Hai loại này đã khởi đẳng chí thù thắng. Nếu như có gặp phải duyên thoái cũng không có lý thoái chuyển.

Pháp an trụ chỉ ở nơi đã trụ, trong các đức thù thắng, có thể không có thoái mất, không có khả năng lại dẫn đức thù thắng khác sinh. Nếu như lại dẫn sinh thì từ đức thù thắng ấy có thể thoái, là ba thứ như bất thoái v.v… có sai biệt.

Như thế, kiến lập thoái, bất thoái có sai biệt của quả A-la-hán là không thành. Lại, căn cứ nơi chỗ thoái mất hiện pháp lạc trụ, khởi tánh tự tại, kiến lập pháp thoái. Như vô số thứ suy tìm, nêu hỏi, ở trước đã phá bỏ ba thứ như bất thoái v.v… có lỗi cùng xen tạp.

Lại dựa vào thuyết kia đã chấp về an trụ, bất thoái, hai Thánh giả tương ưng không có sai biệt, vì thừa nhận cả hai cùng không phải do luyện căn đạt được.

Đã được công đức thù thắng, đều cùng không thoái. Chưa được công đức thù thắng, đều cùng có thể khởi. Tuy nói an trụ nơi đức thù thắng mới khởi, tức có thể có lý thoái chuyển khác với bất thoái, mà tên an trụ không dựa vào đức kia để lập, vì tên an trụ là hiển bày về chỗ lìa tiến, thoái.

Lại, tông kia đã thừa nhận an trụ là lợi căn, đâu thể nói là có thoái chuyển đức thù thắng mới khởi?

Nếu thừa nhận có thoái nên gọi là pháp thoái, thì pháp thoái của tông kia, cũng không phải là thoái chuyển hoàn toàn, vì thoái chuyển hoàn toàn tức nên khởi phiền não. Đã nói bất động do luyện căn đạt được, khác với pháp bất thoái, về lý cũng không thành. Do theo Tông kia, đối với hiện pháp lạc, vì sợ mất tự tại, nên tu luyện căn. Căn đã được luyện là thoái hay bất thoái? Nếu thừa nhận có thoái, nên gọi là pháp thoái, vì thuyết kia tự nói: Nếu đối với tĩnh lự, thoái mất tự tại, gọi là pháp thoái. Nếu thừa nhận bất thoái, như do sức của thoái, lập tên pháp thoái, như thế cũng nên do sức của bất thoái, gọi là bất thoái, tức là bất động cùng với bất thoái là đồng. Vì sao ở trong đó cố lập sai biệt?

Nếu cho bản tánh là lợi căn, gọi là pháp bất thoái. Về sau, do tu luyện căn mới thành lợi, gọi là pháp bất động.

Vì hiển bày điều này, nên kiến lập riêng hai tên gọi, tức là nên đồng an trụ, gắng đạt. Thuyết kia thừa nhận bản tánh của an trụ là lợi căn, không phải do luyện căn đạt được, đồng với không thoái. Tuy nói bất thoái, có thể dẫn khởi pháp mới, mà công đức thù thắng, so với an trụ là khác, thì lý cũng không đúng, vì không căn cứ nơi công đức thù thắng mới khởi để lập bất thoái. Nghĩa là tông kia nói chủng tánh này, đối với đức thù thắng mới, hoặc khởi, hoặc không khởi, tánh là lợi căn, nên đối với hiện pháp lạc, không mất tự tại, là tướng của bất thoái, thì an trụ cũng như thế, nên không có riêng khác. Vì gắng có thể đạt, nên được mang tên là gắng đạt. Tông kia không nói từ chủng tánh này, lại đến giải thoát vô lậu của loại riêng, nhất định nên chỉ thừa nhận luyện căn hữu lậu, tức quyết định dựa nơi chủng tánh của pháp thoái trước, tu luyện căn hành chuyển, gọi là gắng đạt, thế thì gắng đạt cũng do luyện căn thành.

Căn được thành này là thoái hay bất thoái?

Nếu thừa nhận có thoái, thì nên gọi là pháp thoái. Nếu không có thoái mất thì nên gọi là bất động, đều cùng do luyện căn đạt được, vì đều bất thoái.

Lại, không nên nói luyện căn hữu lậu, khi được cứu cánh gọi là pháp bất động. Do pháp bất động này, là tánh của quả ứng, nên không phải A-la-hán vì ít kém, vì tạm thời hiện pháp lạc được tự tại, nên khởi gia hạnh lớn, tu tập luyện căn, lần lượt tu khiến đạt đến pháp bất động.

Vì thế Kinh chủ chỉ thuật lại tình mình, không thể nương dựa. Hướng đến lý Thánh giáo, chỉ có chánh lý của Đối pháp là đáng để nương dựa, tỏ ngộ về A-la-hán có thoái chuyển v.v… sai biệt. Nghĩa là căn cứ ở công đức vô lậu đã thành trong thân của quả ứng có hơn kém khác nhau, nhằm kiến lập sáu thứ chủng tánh có sai biệt. Các A-la-hán vì đạt được càng về sau chuyển thắng, chuyển tăng công đức vô lậu, khởi gia hạnh lớn, tu tập luyện căn, rất khó nhọc vất vả, tức có thể có lý này. Không phải vì thế tục như tử thi rữa nát, dễ hoại khó thành, công đức thấp kém, tạm thời hiện khởi, tạo lập rất khó nhọc vất vả. Nên tông kia đã lập là không thể nương dựa. Các A-lahán đã thừa nhận có thoái chuyển quả, là lại sinh nữa chăng? A-lahán kia ở nơi phần vị thoái mang theo Hoặc, mạng chung nên lại thọ sinh. Khi các A-la-hán trụ nơi quả, những sự việc đã không tạo tác, khi thoái chuyển có tạo tác không?

A-la-hán kia đã khởi Hoặc nên có, lại vì quả là trái nhau với sự, tức không có lỗi như thế. Vì sao? Tụng nêu:

Tất cả từ quả thoái

Tất được không mạng chung

Trụ quả chỗ không làm

Tạm thêm nên không tạo.

Luận nói: Không có từ quả thoái, giữa chừng mạng chung. Thoái xong, trong giây lát tất được trở lại. Nếu người có thọ lượng sắp hết, tất không có lý thoái, vì không mất niệm. Chủ yếu có thọ lượng khác mới có lý thoái. Thoái xong không bao lâu, tất chứng đắc trở lại. Như Khế kinh nói: Bí-sô nên biết! Các Thánh đệ tử đa văn như thế, thoái mất chánh niệm, lại nhanh chóng có thể trở lại, khiến thoái chuyển đã khởi hoàn toàn mất hẳn, là diệt lìa.

Nếu cho không như vậy, thì quả của tu phạm hạnh tức nên không phải là xứ an ổn, đáng tin cậy, ủy thác. Lại trụ nơi quả vị không nên làm trái với sự nghiệp của quả, do tạm thời tăng. Tuy tạm thời mất niệm, phiền não hiện hành, như khi trụ nơi quả, tất không có lý tạo tác. Như người thuộc tộc họ cao quý, khi tạm mất địa vị, không như kẻ tầm thường tạo nghiệp thấp kém.

Lại người nào có thoái chuyển? Người nào không thoái chuyển? Người tu quán bất tịnh, nhập Thánh đạo, chấp nhận có thoái mất. Người tu trì tức niệm (Quán sổ tức), nhập Thánh đạo, tất không có thoái mất. Tôn trọng chỉ quán, không có tham si tăng, như thứ lớp nên biết là có thoái không thoái.

Cõi nào, nẻo nào chấp nhận có thoái chuyển?

Chỉ cõi dục, ba châu người là có thoái. Xứ của sáu trời thuộc cõi dục được Thánh quả, có thuyết nói: Vì lợi căn nên không có thoái, do có trí thù thắng, có thể điều phục tâm, khiến dứt bỏ cảnh diệu, nhập Thánh đạo.

Có thuyết nói: Người thoái là do thiếu duyên hỗ trợ. Hoặc đối tượng nương dựa là thân, vì không bình đẳng. Xứ của sáu trời thuộc cõi dục, hai sự đều không có. Tuy có loại độn căn, là tánh của tùy tín hành, sinh nơi trời kia, được quả Thánh cũng không có lý thoái chuyển. Các người có thoái chuyển, là khởi Hoặc thoái hay là trước thoái rồi, hoặc mới hiện tiền? Hoặc có người muốn khiến do khởi Hoặc thoái chuyển. Luận Phẩm Loại Túc tức nên làm sao thông hợp? Như Luận ấy nói: Tùy miên dục tham do ba xứ khởi: (1) Tùy miên dục tham chưa đoạn trừ, nhận biết khắp. (2) Thuận với pháp triền kia đang hiện ở trước. (3) Đối với tùy miên kia đang khởi tác ý phi lý.

Cho đến nói rộng. Không có lỗi cùng trái nhau. Vì sao? Vì phiền não hiện tiền lược có hai thứ: Đã đoạn, chưa đoạn có sai biệt.

Trong đây nói riêng về xứ chưa đoạn, khởi. Lại, phiền não khởi, lược có hai môn: Tâm nhiễm, không nhiễm vô gián khởi. Ở đây là nói riêng về nhiễm vô gián. Hoặc phiền não khởi, gồm có ba duyên, nhưng phiền não sinh thì chỗ nhờ dựa là không nhất định: Hoặc có phiền não chỉ nhờ nơi sức của cảnh giới sinh, hoặc nhờ nhân của cảnh, hoặc gồm cả gia hạnh. Đây là căn cứ theo phần đủ, nên nói là do ba. Hoặc lúc dấy khởi Hoặc, ba duyên tất đủ. Tác ý phi lý đang khởi hiện tiền, tùy miên đã được đoạn tất trở lại thành.

Tâm nào vô gián khởi Hoặc thoái chuyển?

Lại, người từ vô học khởi Hoặc thoái chuyển, nghĩa là nếu khởi triền sắc, triền vô sắc thoái chuyển, thì chỉ từ địa mình, thuận với phần thoái nhất định, tương ưng với tâm thiện vô gián mà khởi, không phải trụ ở cõi dục có địa trên gồm thâu tâm vô phú vô ký hiện tiền, chỉ trừ tâm thông quả, nhưng không có từ địa kia thoái chuyển.

Há không phải là thuận với phần thoái, đều ở nơi địa mình, khi lìa nhiễm, xả. Vì sao người vô học chưa thoái mà đã khởi Hoặc?

Tâm vô học kia hiện ở trước, lý thật là như thế. Nhưng thuận với phần trụ phẩm loại có ba: (1) Ít thuận với thoái. (2) Ít thuận với tiến. (3) Giữ lấy tự vị.

Trước đã nói địa mình thuận với phần thoái nhất định, tức thuận trong phần trụ. Phần ít thuận với thoái, là ít thuận với thoái, nên được mang tên thuận với thoái. Nhưng tâm định này cùng với giữ lấy tự vị, đa số là liên hệ nhau, nên thuộc về thuận với phần trụ.

Các hữu tình chưa mất thuận với phần thoái. Nghĩa là tâm của người kia có phiền não vô gián hiện tiền. Nếu xả bỏ tâm kia, là từ thuận với trụ gồm thâu. Người ít thuận với thoái, thì khởi phiền não thoái chuyển. Nên về văn nghĩa, không có chỗ trái nhau.

Nếu người khởi triền dục mà thoái mất, thì từ tâm thiện, vô phú vô ký của địa mình, hai tâm vô gián đều cùng hiện tiền.

Các người từ vị hữu học khởi Hoặc thoái chuyển, khi khởi phiền não của cõi sắc, vô sắc thoái chuyển nếu trước đã hoàn toàn lìa nhiễm của địa này, thì chỉ từ địa này, thuận với định của phần thoái, tương ưng với tâm thiện vô gián mà khởi. Nếu chưa hoàn toàn lìa nhiễm của địa này, thì từ địa này gồm thâu tâm thiện và nhiễm ô, hai tâm vô gián đều cùng hiện tiền.

Người khởi triền cõi dục mà thoái mất, nếu trước đã hoàn toàn lìa nhiễm buộc của cõi dục, thì từ tâm thiện, vô phú vô ký của địa mình, hai tâm vô gián đều cùng hiện tiền. Nếu chưa hoàn toàn lìa nhiễm của cõi dục, thì từ tâm thiện, nhiễm, vô phú vô ký của cõi dục, ba tâm vô gián đều cùng hiện tiền. Nếu chưa hiện tiền mà đạt được thanh tịnh, thì nơi tĩnh lự, vô sắc tất không thể khởi. Người khởi triền sắc, vô sắc thoái mất pháp đã đắc, thì Hoặc kia từ người ấy vô gián khởi, nên chỉ khởi triền dục thoái mất pháp đã đắc. Nếu tĩnh lự hiện tiền đạt được thanh tịnh, cũng chưa được vô sắc tịnh hiện tiền, tất không thể khởi triền vô sắc thoái chuyển, chỉ khởi triền dục, sắc thoái mất pháp đã đắc.

Nếu đã đạt được tĩnh lự, vô sắc thanh tịnh hiện tiền, thì khởi chung triền cõi dục, sắc, vô sắc thoái mất pháp đã đắc. Khi các hữu tình thoái mất pháp đã chứng đắc từ trước, nếu khởi triền của địa trên hiện ở trước rồi thoái chuyển, thì không mất tâm thiện của địa dưới, vì Hoặc của địa dưới không thành. Nếu khởi triền của địa dưới hiện ở trước rồi thoái chuyển thì nhất định mất tâm thiện của địa trên, vì Hoặc của địa trên nhất định thành.

Lại có người muốn khiến chủ yếu trước thoái chuyển xong, thời gian sau, đối nơi cảnh, Hoặc mới hiện tiền. Đối với luận Thi Thiết Túc nên làm sao giải thích? Như Luận kia nói: Ba triền vô sắc, mỗi mỗi triền hiện khởi, thoái chuyển toàn bộ vô sắc, trụ trong toàn bộ sắc.

Luận Thức Thân Túc lại làm sao giải thích? Như Luận kia nói: Tâm nhiễm hệ thuộc cõi vô sắc hiện tiền, xả bỏ thiện vô học, nối tiếp thiện hữu học, thoái chuyển tâm vô học, trụ nơi tâm hữu học. Những hành này đều không cùng trái nhau, vì dựa vào thời gian nhận biết rõ để nói. Nghĩa là trước tuy thoái nhưng chưa hiểu biết rõ. Sau khi khởi hoặc mới tự nhận biết là thoái chuyển. Như có người trước tụng bốn bộ kinh A-cấp-ma (A hàm), ở giữa chừng đã bỏ nhiều thời gian, tuy quên nhưng không nhận biết. Sau tụng không được, mới tự nhận biết là mình quên. Ở đây cũng nên như thế, nên không có lỗi trái nhau.

Trụ nơi tâm nào thoái chuyển, sau đấy thì khởi Hoặc?

Trụ nơi tâm oai nghi, công xảo, dị thục sinh của vô phú vô ký trong cõi dục, thoái chuyển xong, thời gian sau mới có thể khởi Hoặc. Tuy nhiên, tâm vô phú vô ký hệ thuộc cõi dục này, hoặc có khi trái ngược chung với phiền não của ba cõi. Tâm này đang khởi thì không có nghĩa thoái chuyển do có được Hoặc của ba cõi. Hoặc có khi chỉ trái ngược với phiền não của cõi dục, cõi sắc. Tâm này đang khởi thì cùng có nghĩa thoái chuyển do có được Hoặc của cõi vô sắc. Hoặc có khi chỉ trái ngược với phiền não của cõi dục. Tâm này đang khởi thì cùng có nghĩa thoái chuyển do có được Hoặc của hai cõi. Hoặc có khi không trái ngược với phiền não của ba cõi. Tâm này đang khởi thì cùng có nghĩa thoái chuyển do có được Hoặc của ba cõi.

Tất cả thoái chuyển xong, tùy theo đối tượng ứng hợp của chúng, tâm trước khởi Hoặc đều như trên đã nói. Nơi hai thuyết này thì thuyết trước là tốt.

Như trên đã nói: Có luyện căn đạt được. Nay nên xét chọn về các Thánh đã luyện căn.

Có bao nhiêu đạo vô gián, bao nhiêu đạo giải thoát? Dùng đạo hữu lậu hay là đạo vô lậu? Dựa vào thân nào? Nương nơi địa nào? Tụng nêu:

Vị vô học luyện căn

Chín vô gián, giải thoát

Tập lâu, nên học một

Vô lậu, dựa người ba

Vô học nương chín địa

Hữu học chỉ dựa sáu

Xả quả, đạo quả thắng

Vì chỉ được đạo quả.

Luận nói: Người cầu đạt chủng tánh thù thắng, tu luyện căn, trong vị vô học chuyển mỗi mỗi tánh, đều có chín đạo vô gián, chín đạo giải thoát, như được quả ứng. Vì sao? Vì vị kia tánh là độn căn, do quen hành tập từ lâu, không phải chỉ một ít công sức mà có thể khiến chuyển. Do đạo học, vô học đã thành kiên cố. Trong vị hữu học chuyển mỗi mỗi tánh, đều có một đạo vô gián, một đạo giải thoát, như đắc quả thứ nhất, không phải vì quen hành tập từ lâu. Các vị của đạo gia hạnh kia đều có một. Vị hữu học, vô học lúc tu luyện căn, đều dần dần tu chủng tánh, càng về sau khi đạt được chủng tánh thù thắng, mới xả bỏ phần yếu kém trước. Nên khi các vị vô học tu luyện căn, gia hạnh vô gián là tám giải thoát trước, như ứng hợp đều là gồm thâu pháp thoái v.v… Giải thoát thứ chín là pháp tư v.v… Các người hữu học khi tu luyện căn, gia hạnh vô gián là thuộc về thoái v.v…, thời gian của đạo giải thoát, gọi là pháp tư v.v… Tôi đã vâng mệnh kế thừa các đại Luận sư, cùng nói về luyện căn, đều là ngăn chận loại trừ sức của Hoặc do kiến đạo, tu đạo đoạn, đã dẫn phát vô phú vô ký không nhận biết hiện hành. Nên trong vị hữu học, người tu luyện căn chính là ngăn chận loại bỏ các Hoặc do kiến đạo đoạn đã phát khởi. Trong vị vô học, người tu luyện căn chính là ngăn chận loại trừ các Hoặc do tu đạo đoạn đã phát khởi. Như khi đoạn trừ Hoặc của chủ thể phát khởi kia, đã khởi đạo vô gián giải thoát nhiều ít. Như thế, như thế, đoạn trừ không nhận biết hiện hành của đối tượng phát khởi kia số lượng đạo vô gián giải thoát cũng như vậy. Thế nên khi vị vô học tu luyện căn, dùng chín đạo vô gián, chín đạo giải thoát. Vị hữu học luyện căn, dùng hai đạo kia đều một. Nhưng Hoặc do kiến đạo, tu đạo đoạn trừ đã dẫn phát vô tri (không nhận biết), theo đấy đã chướng ngại nơi nhiều phẩm loại có khác nhau. Nên khi chuyển thoái v.v… thành tư v.v…, thì các đạo hiện tiền đều có đối tượng loại trừ. Do đấy, không có vượt bỏ để đạt được tánh thù thắng.

Có Sư khác nói: Tất cả luyện căn đều có một gia hạnh. Vô gián, giải thoát như trước nói là tốt. Về lý thì như trước.

Như thế, đạo vô gián và đạo giải thoát, tất cả chỉ là thuộc về tánh vô lậu. Về lý Thánh giả tất không dùng đạo hữu lậu để chuyển căn, vì thể của pháp thế tục không phải là tăng thượng, vì không có khả năng. Tất cả gia hạnh đều chung nơi hai thứ.

Như thế là đã nói chỉ căn cứ theo hiện hành, gồm tu vị lai, tức lại có sai biệt. Nghĩa là vị vô học gia hạnh khi tu luyện căn, ở vị lai, cũng tu chung hai đạo: Chín đạo vô gián và tám đạo giải thoát. Tu vị lai cũng chỉ là vô lậu. Giải thoát thứ chín, tu vị lai hai, gồm tu công đức hiện có của ba cõi, cùng với tận trí đầu tiên đã tu là đồng.

Nếu vị hữu học gia hạnh khi tu luyện căn, vị lai cũng tu chung hai đạo vô gián, giải thoát, tu vị lai cũng chỉ là vô lậu, như được quả thứ nhất.

Nếu như vậy há không phải là so với Quảng Luận là trái nhau? Như Quảng Luận nói: Từ tánh của tín giải, tu hành luyện căn, khi được kiến chí, thì mười bốn hóa tâm bấy giờ cũng đạt được.

Đâu thể không thừa nhận hữu học trong đạo giải thoát cũng ở nơi vị lai, tu đạo hữu lậu. Điều này không có lỗi trái nhau. Vì sao? Vì Luận kia chỉ dựa vào câu sinh của đắc để nêu bày. Như đạo của địa dưới khi hiện ở trước, thì hóa tâm của địa trên cũng nói là đắc. Nghĩa là như người đã lìa nhiễm của ba tĩnh lự, dựa vào tĩnh lự thứ nhất, nhập kiến đế, cũng nói là người ấy đã được hóa tâm của bốn định. Tuy nhiên, về lý không nên do kiến đạo của địa dưới hiện tiền thì tu pháp của địa trên.

Văn kia chỉ dựa nơi kiến đạo với câu sinh của đắc kia để nói. Đây cũng nên như thế.

Có Sư khác cho: Các pháp vị lai có đắc, vì đắc nên tức gọi là tu. Đã đắc kia là cùng có, đâu thể không tu đắc kia? Nên các vị hữu học khi tu luyện căn, trong đạo giải thoát cũng tu hữu lậu, nhưng không phải tất cả đều có thể tu chung. Nghĩa là nếu Dự lưu chưa hướng đến quả sau, tu hành luyện căn trong đạo giải thoát, như khi đắc quả chỉ tu vô lậu. Do kiến đạo được Nhất lai, Bất hoàn, khi chưa hướng đến sau, nên biết cũng như thế. Từng phần lìa xứ Hữu đảnh trung gian luyện căn, giải thoát đã tu cũng chỉ là vô lậu. Vị hữu học còn lại khi tu luyện căn, giải thoát đã tu, đều chung nơi hai thứ.

Thuyết trước nói là tốt. Vì sao? Vì không phải đắc kia đều cùng có, đều gọi là tu đắc kia. Chớ cho tất cả pháp đều có thể tu tất cả. Lại, vị hữu học lúc tu luyện căn, chính là nhằm ngăn trừ các Hoặc do kiến đạo đoạn đã phát khởi. So với số lượng đạo đoạn trừ Hoặc kia đã là đồng. Vì sao đối tượng tu lại khác với quả của kiến đạo? Nếu số còn lại hướng đến sau, trung gian luyện căn thì trong đạo giải thoát cũng tu hữu lậu. Phần vị của đạo vô gián vì sao không thừa nhận như vậy? Như khi lìa nhiễm, thì hai đạo là như nhau.

Nhưng vị vô học khi tu luyện căn, thì số lượng đạo đã tu như đoạn trừ nhiễm của xứ Hữu đảnh.

Nếu vị hữu học khi tu luyện căn, số lượng đạo đã tu, như đoạn trừ nhiễm của cõi trên. Đối tượng đoạn của kiến đạo, do vị hữu học kia chỉ cùng với đạo tương tợ khi gần đắc quả. Khi vị hữu học, vô học tu luyện căn, gia hạnh đều chung nơi từng được, chưa từng được. Vô gián, giải thoát chỉ là chưa từng được, tất cả đều chung nơi pháp trí, loại trí.

Người tu luyện căn chỉ là người của ba châu, chỉ dựa vào thân này, vì sợ có thoái chuyển.

Do những gì nên gọi là luyện căn?

Vì điều phục, rèn luyện các căn khiến chúng tăng trưởng. Nghĩa là do sức của đạo, nên khiến căn cùng nối tiếp. Xả bỏ căn của địa dưới được địa giữa. Xả bỏ căn của địa giữa được địa trên, dần dần thêm thù thắng, gọi là luyện căn. Nên luyện căn được gọi là nghĩa chuyển căn. Tuy tám giải thoát dần được căn thù thắng, nhưng do bản tâm cầu tánh thù thắng, nên chưa được tánh thù thắng, thì không bỏ chỗ thấp kém ở trước. Như được quả sau mới xả hướng trước. Như ở nơi chủng tánh của Thánh vị có sáu, có thể tu luyện căn ở trước kiến đạo. Các gia hạnh như noãn v.v… nên biết cũng thế.

Có sai biệt: Là nếu trong Thánh vị được chủng tánh thù thắng, tất bỏ phần thua kém trước.

Trong vị như noãn v.v…, người tu luyện căn chỉ được tánh thù thắng, thì tánh kém không hành, gọi là chuyển căn, không phải đạt được do bỏ kém. Hàng vô học luyện căn thì dựa chung nơi chín địa. Nghĩa là bốn tĩnh lự, vị chí, trung gian và ba vô sắc. Chỉ chín địa này có đạo vô lậu, còn địa khác thì không có.

Hàng hữu học luyện căn, chỉ dựa nơi sáu địa, tức trừ ba vô sắc.

Vì sao? Vì người chuyển căn chấp nhận có xả bỏ quả và đạo của quả thù thắng. Đối tượng chứng đắc chỉ là quả, không phải là đạo của quả thù thắng, vì tâm ưa thích quả, nên không có quả hữu học thuộc về địa vô sắc. Vì thế người hữu học luyện căn, chỉ dựa nơi sáu địa. Nếu như thừa nhận vị hữu học, dựa vào vô sắc luyện căn, nhất định là Bất hoàn trụ nơi vị đạo của quả thù thắng, vì không có quả Bất hoàn thuộc về địa vô sắc, nên không dựa vào vô sắc, tu luyện căn đắc quả. Do quả thứ nhất, thứ hai chỉ thuộc về vị chí, Bất hoàn chỉ chung nơi sáu địa gồm thâu.

Có thuyết nêu: Chỉ có trụ nơi quả luyện căn. Chớ cho có lỗi xả bỏ nhiều, được ít, nên không có lỗi như thế.

Do người luyện căn, tâm mong được quả thù thắng, không cầu được nhiều. Do đấy vị hữu học tu luyện căn, nếu trụ nơi đạo của quả, thì ba đạo như gia hạnh v.v… đều thuộc về đạo của quả. Nếu trụ nơi đạo thù thắng thì đạo gia hạnh, vô gián thuộc về đạo của quả thù thắng, đạo giải thoát thuộc về đạo của quả.

Người trụ nơi vị vô học tu luyện căn, ba đạo như gia hạnh v.v… chỉ thuộc về đạo của quả. Các người trụ nơi vị của quả khi tu luyện căn, thì bỏ quả, được quả. Trụ nơi vị của đạo thù thắng, khi tu luyện căn, thì xả bỏ hai quả đắc. Lại, các Thánh vị khi tu luyện căn, so với quả vốn được nơi địa đồng hoặc khác. Nghĩa là hai quả đầu dựa vào địa tất đồng, vì kia đây đều dựa vào địa vị chí. Quả Bất hoàn, quả ứng (quả A-la-hán) dựa vào địa thì bất định. Hoặc dựa vào địa gốc, hoặc địa trên, dưới.

Có sai biệt: Nghĩa là nếu các Bất hoàn dựa vào địa dưới luyện căn thì không được quả của địa trên. A-la-hán thì không như vậy, vì như vốn được quả. Phần đoạn kiết của xứ Hữu đảnh, khi luyện căn được quả, tuy người kia xả bỏ đoạn, nhưng kiết kia không thành. Như phàm phu sinh nơi bảy địa trên, theo đấy nên xả bỏ đoạn của địa dưới nhưng kiết của địa dưới không thành, vì cùng là khi tiến, không phải là lúc thoái.

Các Bổ-đặc-già-la của vị vô học gồm có bao nhiêu loại? Do sai biệt nào? Tụng nêu:

Bảy Thanh văn, hai Phật Sai biệt do chín căn.

Luận nói: Ở nơi vị vô học, Thánh giả có chín. Nghĩa là bảy Thanh văn và hai bậc giác ngộ. Năm pháp như pháp thoái v.v… và pháp bất động phân hai. Vì sau trước riêng khác, nên gọi là bảy Thanh văn. Độc giác, Đại giác, gọi là hai bậc giác ngộ.

Do chín phẩm căn như phẩm hạ hạ v.v… khác nhau, khiến Thánh vô học thành chín loại sai biệt. Bổ-đặc-già-la hữu học, vô học, tất cả gồm thâu chung không vượt quá bảy loại: (1) Tùy tín hành. (2) Tùy pháp hành. (3) Tín giải. (4) Kiến chí. (5) Thân chứng. (6) Tuệ giải thoát. (7) Câu giải thoát.

Dựa vào gì để lập bảy sự có riêng bao nhiêu? Tụng nêu:

Gia hạnh căn định diệt

Giải thoát nên thành bảy

Sự này riêng chỉ sáu

Vì ba đạo đều hai.

Luận nói: Dựa nơi gia hạnh có khác lập hai loại đầu. Nghĩa là dựa vào thời gian trước, tùy tin vào lời nói của người khác và tự tùy theo pháp, có thể ở nơi đối tượng mong cầu, trong tất cả nghĩa đã tu gia hạnh, nên lập danh xưng Tùy tín hành, Tùy pháp hành.

Dựa vào căn không đồng, lập hai loại tiếp theo. Nghĩa là dựa vào tín căn tuệ căn độn, lợi tăng trưởng như thứ lớp, gọi là Tín giải, Kiến chí. Dựa nơi việc chứng đắc định diệt, lập tên gọi Thân chứng. Do thân chứng được định diệt tận. Dựa vào giải thoát có khác nhau lập hai loại sau. Nghĩa là dựa nơi người chỉ do tuệ lìa phiền não chướng, lập tên gọi Tuệ giải thoát. Dựa vào người gồm được định, lìa chướng giải thoát lập danh xưng Câu giải thoát. Các tên gọi này tuy là bảy nhưng sự riêng chỉ có sáu. Nghĩa là trong kiến đạo có hai Thánh giả: (1) Tùy tín hành. (2) Tùy pháp hành.

Hai Thánh giả này đến tu đạo lập riêng hai danh: (1) Tín giải. (2) Kiến chí.

Hai vị này đến quả vị vô học lại lập hai danh, nghĩa là Thời giải thoát và Bất thời giải thoát. Tuy nhiên, chỉ nên nói có hai Thánh giả tùy tín, tùy pháp hành trì có khác. Tức hai loại này tùy nơi đạo có sai biệt, tuy lập tên khác, nhưng không có Thể riêng.

Như thế là đã nói về Bổ-đặc-già-la, do căn tánh đạo lìa nhiễm, nương dựa riêng khác, theo các môn phân tích số thành nhiều ngàn. Lại như đầu tiên là một tùy tín hành, do căn nên thành ba. Nghĩa là hạ, trung, thượng. Do tánh nên thành năm, nghĩa là như pháp thoái v.v… Vì đạo nên thành mười lăm. Nghĩa là tám nhẫn, bảy trí. Do lìa nhiễm nên thành bảy mươi ba. Nghĩa là loại trói buộc đủ lìa nhiễm của tám địa.

Vì dựa vào thân nên thành chín. Nghĩa là ba châu, trời thuộc cõi dục. Nếu căn tánh đạo lìa nhiễm, dựa vào thân, nhân với nhau hợp thành một ức bốn vạn bảy ngàn tám trăm hai mươi lăm loại pháp hành v.v…, nên tư duy như lý.

Các môn như thế v.v… sai biệt là vô lượng. Nếu muốn dựa vào phần vi tế, mỗi mỗi phân biệt, lập công sức rất nhiều, nhưng đối tượng sử dụng thì rất ít, nên tôi ở đây chỉ lược nêu bày một phần. Những người học có trí nên xét chọn rộng.

Trước nói dựa nơi giải thoát để lập hai loại sau. Lập tướng của hai thứ sau do đâu nên biết? Tụng nêu:

Đều do được định diệt

Khác gọi tuệ giải thoát.

Luận nói: Các A-la-hán được định diệt tận, gọi là câu giải thoát. Do sức của tuệ, định cùng song hành với giải thoát phiền não, giải thoát chướng. Số A-la-hán còn lại chưa đạt được định diệt tận, gọi là tuệ giải thoát, tức chỉ do sức của tuệ đối với phiền não chướng đạt được giải thoát.

Những gì gọi là Thể của giải thoát chướng?

Tâm của các A-la-hán đã giải thoát, nhưng lại cầu giải thoát vì nhằm giải thoát chướng kia. Nghĩa là ở trong các giải thoát đã bị chướng ngại, có thứ tánh vô phú vô ký vô tri thấp kém có thể làm chướng ngại đối với giải thoát, là thể của chướng giải thoát. Đối với chướng kia, ở nơi cõi kia, A-la-hán khi được lìa nhiễm, tuy đã đoạn trừ hoàn toàn để khởi giải thoát, nhưng đến lúc chướng kia không hiện hành, mới gọi là giải thoát khỏi chướng ấy.

Có Sư khác nói: Chướng giải thoát này tức do ở nơi các định không tự tại làm thể.

Có Sư khác cho: Chướng giải thoát này tức do các định không đạt được làm thể.

Có Sư khác nêu: Đối với gia hạnh của giải thoát kia, vì không siêng năng cầu tìm, vì không lắng nghe, vì không thường xuyên hành tập, nên giải thoát không sinh. Tức đây gọi là thể của chướng giải thoát.

Thuyết đầu là hợp lý. Vì sao? Vì tất có một ít sức của pháp có thể làm chướng ngại, khiến cho A-la-hán kia ở nơi định không tự tại chuyển.

Nếu không như vậy thì các A-la-hán kia có duyên gì ở trong các định không được tự tại?

Người không đạt được định, tất có chỗ nhân đấy, không thể nói cho tức nhân không được, vì tự thể không nên trở lại nhân nơi tự thể. Hoặc phiền não chướng cũng nên có thể nói, tức do quả ứng không đạt được làm tánh. Chướng giải thoát kia đã không như thế, thì chướng phiền não này làm sao như thế. Quả A-la-hán cũng do ở nơi gia hạnh, vì không siêng năng mong cầu v.v…, nên thể không được sinh. Há đấy là không có Thể của chướng phiền não riêng khác? Nên ba thuyết sau đều không hợp lý. Lại, tâm vô lậu cũng có từ gia hạnh này, gọi là đạt được giải thoát.

Do căn cứ ở thân và căn cứ theo hành thế gian để nói về giải thoát. Nghĩa là chủ yếu nơi giải thoát, là khi giải thoát khỏi chướng, mới khởi ở thân và hành nơi thế gian.

Các A-la-hán có danh xưng đồng thì căn cũng đồng chăng?

Nên tạo ra bốn trường hợp:

Trường hợp thứ nhất: Trong tuệ giải thoát có thời giải thoát, bất thời giải thoát. Trong câu giải thoát có hai loại cũng như vậy.

Trường hợp thứ hai: Trong thời giải thoát có tuệ giải thoát, có câu giải thoát. Bất thời giải thoát có hai loại cũng như vậy.

Trường hợp thứ ba: Trong tuệ giải thoát có hai. Thời giải thoát tự hỗ tương đối chiếu với hai. Bất thời giải thoát, câu giải thoát cũng như thế.

Trường hợp thứ tư: Trong tuệ giải thoát nhận lấy thời giải thoát. Trong câu giải thoát thì bất thời giải thoát lần lượt đối chiếu nhau, so với đây là trái nhau, nên biết cũng như thế.

Như Đức Thế Tôn nói đoạn năm phiền não. Không thể dẫn dắt, chưa gọi là học mãn. Vị hữu học, vô học đều do bao nhiêu nhân? Ở trong những vị xưng riêng là mãn. Tụng nêu:

Hữu học gọi là mãn

Do căn quả định ba

Vô học được tên mãn

Chỉ do căn định hai.

Luận nói: Học đối với vị học, riêng được mang tên mãn. Chủ yếu là đủ ba nhân, nghĩa là căn, quả, định. Nên kiến chí, thân chứng, riêng được gọi là mãn. Người thiếu có ít hãy còn không phải là học mãn, huống chi là thiếu tất cả mà được mang tên mãn.

Những gì gọi là thiếu có ít?

Nghĩa là tín giải được định diệt tận. Hoặc kiến chí, Bất hoàn chưa được định diệt tận. Hoặc kiến chí chưa lìa dục. Hoặc tín giải, Bất hoàn chưa được định diệt tận.

Những gì gọi là thiếu tất cả? Nghĩa là tín giải chưa lìa dục. Có khi thừa nhận thiếu một ít cũng được mang tên mãn.

Thuyết kia nói thế này: Có người hữu học, chỉ do căn, nên cũng được mang tên mãn. Nghĩa là các kiến chí chưa lìa dục nhiễm. Có người hữu học chỉ do quả nên cũng được mang tên mãn. Nghĩa là tín giải, Bất hoàn chưa được định diệt tận. Có người hữu học do căn quả nên cũng được mang tên mãn. Nghĩa là kiến chí, Bất hoàn chưa được định diệt tận. Có người hữu học do quả, định, nên cũng được mang tên mãn. Nghĩa là các tín giải được định diệt tận. Có người hữu học do đủ ba nên riêng được tên mãn. Nghĩa là các kiến chí được định diệt tận.

Không có người hữu học, chỉ do định và căn, định, nên cũng được mang tên mãn.

Thuyết này không thể nương dựa. Vì sao hữu học ở trong các công đức thù thắng của hữu học, cũng chưa đủ chứng mà thừa nhận gọi là mãn?

Như thuyết trước, về lý nhất định có thể nương dựa.

Trong vị vô học, vì đều là quả mãn, nên không do quả để kiến lập tên gọi mãn.

Tự vị đối chiếu nhau, riêng gọi là mãn, chủ yếu có đủ hai thứ, nghĩa là căn với định, nên chỉ bất thời, câu giải thoát, đối chiếu với vô học khác, riêng được mang tên mãn, tùy theo đấy thiếu một, hãy còn không phải là vô học mãn, huống chi thiếu cả hai mà được mang tên vô học mãn sao?

Những gì gọi là tùy theo đấy thiếu một? Nghĩa là thời giải thoát được định diệt tận. Hoặc bất thời giải thoát không được định diệt tận.

Những gì gọi là cùng thiếu cả hai?

Nghĩa là thời giải thoát không được định diệt tận. Có khi thừa nhận thiếu một, cũng được mang tên mãn.

Thuyết này không thể nương dựa, về lý như trước đã nói.

Như Khế kinh nêu rõ: Có hai A-la-hán: (1) Đủ ba minh. (2) Pháp bất thoái.

Ở trước đã nói thì trong các quả ứng, hai A-la-hán kia thuộc về quả ứng nào?

Lại, pháp bất thoái gồm thâu tại nơi bất động. Nhưng bất động này sai biệt có hai: (1) Chỉ có thể không thoái quả ứng. (2) Không thoái tất cả đức thù thắng.

Trong đây thứ nhất chỉ gọi là bất động, như pháp tư v.v… do luyện căn đạt được, vẫn có thoái mất quả A-la-hán. Vì ở đây khác với kia, nên được mang tên bất động. Tuy nhiên, tất cả các đức thù thắng đối với quả ứng, cũng có thể thoái mất, nên không gọi bất thoái. Thứ hai cũng không có thoái chuyển các đức thù thắng, nên kinh đối với trường hợp này lập tên bất thoái. Do trong bất động, đối với các công đức thù thắng, có người có thể thoái. Thế nên Khế kinh, ở trong bất động, lập pháp bất thoái. Đủ ba minh: Có thuyết cho: Ba minh này gồm thâu ở nơi tuệ giải thoát. Trong câu giải thoát há không phải là túc trụ tử sinh lậu tận. Ba thứ diệu trí gọi là ba minh. Nếu thành đủ ba thứ diệu trí này, thì gọi là đủ ba minh. Nêu bày như thế là muốn hiển bày về điều gì? Nếu đủ ba minh, tất khởi tĩnh lự. Ba minh chủ yếu là dựa vào tĩnh lự phát khởi, nên không phải tuệ giải thoát nơi tĩnh lự hiện tiền. Kinh Tô Thi Ma đã nêu bày rõ ràng, đâu thể nói tuệ giải thoát cũng gồm thâu đủ ba minh? Điều này không trái nhau, vì kinh là căn cứ theo mãn. Tuy nhiên, có người đã được bảy giải thoát, vì chưa được định diệt, nên cũng gọi là tuệ giải thoát. Dựa nơi chỗ không được Thể của định diệt tận để kiến lập hai giải thoát: Tuệ, câu. Về lý tất nên như thế. Vì Khế kinh nói: Có đủ ba minh, không phải là câu giải thoát. Đã có thuyết này, tức quyết định biết có đủ ba minh, không phải là câu giải thoát. Lìa tuệ giải thoát thì đấy là gì? Vì thế đã nói đủ ba minh, là hai giải thoát gồm thâu, nhất định là hợp lý.

Có người nói: Là phi lý. Vì sao? Vì thuyết kia không thấu đạt khi nêu dẫn kinh. Ở nơi Khế kinh khác là có trái nhau. Nghĩa là thuyết kia đã dẫn kinh Tứ Cử nói: Có đủ ba minh, không phải là câu giải thoát. Tức căn cứ theo sự ngăn chận câu giải thoát viên mãn để nói. Nhưng có rất thấp, chỉ được tĩnh lự căn bản đầu tiên hiện tiền, cũng được gọi là câu giải thoát. Như kinh khác nói: Bấy giờ, Ca Mạc Ca hỏi Tôn giả Khánh Hỷ: Đức Thế Tôn nơi xứ xứ nói về câu giải thoát. Danh xưng câu giải thoát này là nói về gì mà Đức Phật thường giảng nói vậy?

Tôn giả Khánh Hỷ đáp: Người câu giải thoát, nghĩa là nhập pháp lìa dục ác bất thiện, có tầm có tứ, ly sinh hỷ lạc, trong tĩnh lự thứ nhất an trụ đầy đủ, cùng do tuệ nên thấy biết các lậu tận.

Ngang với đây mới gọi là người câu giải thoát. Căn cứ theo kinh này nêu bày để nhận biết Kinh Tứ Cử đã dựa vào việc ngăn chận câu giải thoát viên mãn để nói. Tức phần sau kinh này lại nói: Nên biết số còn lại gọi là tuệ giải thoát. Lại, ngăn chận tuệ giải thoát khởi định căn bản thứ nhất. Tiếp theo Tôn giả Khánh Hỷ nói với Ca Mạc Ca: Cụ thọ nên biết! Không phải tuệ giải thoát đã nhập pháp lìa dục ác bất thiện, có tầm có tứ, ly sinh hỷ lạc, trong tĩnh lự thứ nhất an trụ đầy đủ. Nhưng có thể dùng tuệ thấy biết các lậu tận.

Đức Thế Tôn nói là tuệ giải thoát. Do đấy thuyết kia cho Kinh Tô Thi Ma là căn cứ nơi tuệ giải thoát viên mãn để nói. Chỉ căn cứ theo người đã được định diệt tận để lập câu giải thoát. Lý ấy là không thành, nên ý trong kinh này đã làm rõ về nghĩa ấy.

Người đủ ba minh, tất là câu giải thoát. Chủ yếu là khởi tĩnh lự căn bản hiện tiền, mới có được gọi là đủ ba minh. Có câu giải thoát không phải là đủ ba minh. Nghĩa là A-la-hán đạt được tám giải thoát, nhưng chưa thể khởi ba minh hiện tiền.

Nay xét rõ về ý nghĩa sâu xa chân thật của các kinh thì tuệ, câu giải thoát, nếu viên mãn, tức thể của chúng đều khác. Chưa khởi căn bản, đã được vị diệt tận, vì cách xa.

Không viên mãn: Là hai thể cùng xen tạp. Tùy theo thuyết đều thông hợp, không nên vì đấy mà tranh cãi. Nhưng muốn phân biệt, khiến không xen tạp, tức nên căn cứ nơi định diệt không đạt được để nói. Do tuệ giải thoát không đạt được định diệt, nên tĩnh lự căn bản tuy không hiện hành, nhưng đối với quá khứ, vị lai tất thành tựu.

Do đấy, có thể nói người đủ ba minh, về lý là gồm thâu chung ở trong hai giải thoát.

HẾT – QUYỂN 70