LUẬN A TỲ ĐẠT MA THUẬN CHÁNH LÝ
Tác giả: Tôn giả Chúng Hiền
Hán dịch: Đời Đường, Tam Tạng Pháp sư Huyền Tráng
Việt dịch: Cư sĩ Nguyên Huệ

 

QUYỂN 69

Phẩm thứ 6: BIỆN VỀ HIỀN THÁNH, phần 13

Như thế là đã phá bỏ phần lập tông của Kinh chủ. Có Sư khác nói: Như giải thoát hiện có do kiến đạo đoạn trừ Hoặc, tất không có lý thoái chuyển, vì quả đã chứng đắc là của đạo vô lậu, nên giải thoát hiện có do tu đạo đoạn trừ Hoặc hệ thuộc địa của xứ Hữu đảnh, cũng không có lý thoái chuyển.

Thuyết của Sư kia là phi lý, vì sức của đạo khác nhau, như trước đã nói.

Ngoài ra, giải thoát đã đạt được của đạo vô lậu thấy có thoái chuyển. Nghĩa là lực dụng của kiến đạo, tu đạo đều khác. Trong phần vị kiến đạo dùng một phẩm đạo đoạn trừ nhiều phẩm Hoặc. Trong phần vị tu đạo thì dùng nhiều phẩm đạo để đoạn trừ nhiều phẩm Hoặc.

Nếu cho sự khác biệt này là do sức của phiền não. Nghĩa là kiến đạo đoạn trừ Hoặc là dựa vào không sự chuyển. Còn tu đạo đoạn trừ Hoặc thì dựa vào có sự. Điều này cũng không đúng. Vì đạo thế tục đoạn trừ phiền não ấy cũng có nhiều phẩm. Hoặc lại chỉ nên nói do kiến đạo đoạn trừ Hoặc dựa vào không sự, nên đoạn không có lý thoái chuyển, vì quả đã đạt được không phải là đạo vô lậu.

Nếu cho phàm phu đoạn trừ Hoặc không sự cũng có thoái chuyển, nên chứng biết giải thoát do kiến đạo đoạn của các Thánh không có thoái chuyển, vị quả đã đạt được là đạo vô lậu, thì không nên nói là do không sự. Tuy nhiều phẩm Hoặc, do một phẩm đạo đoạn, nên biết do đạo lực khác nhau nghĩa ấy là thành, do đấy kiến đạo, tu đạo không nên đem so sánh.

Lại, như trước đã nói. Trước đã nói là thế nào? Nghĩa là kiến đạo đoạn sinh, là do sức quán xét kỹ. Còn tu đạo đoạn trừ Hoặc là do sức của cảnh khởi. Không phải các Thánh giả ở trong đối tượng duyên, không có chút ít gì để dựa vào hy vọng dấy khởi suy tính lường xét. Nên giải thoát do kiến đạo đoạn không có thoái chuyển. Các loại phàm phu cũng chưa kiến chân, nên ở nơi đối tượng duyên đã cùng suy tính lường xét đủ đường. Tuy có Hoặc đã được đoạn, do kiến đạo đoạn trong tám địa dưới, nhưng cũng cùng có thoái chuyển. Thánh đã kiến chân, nên đối với kiến đạo đoạn trừ Hoặc, tất không có thoái chuyển. Nhưng vì mất niệm, nên ở trong cảnh bên ngoài đã nhận lấy các tướng như diệu v.v…, liền có nhiễm chấp, ghét bỏ, đề cao, không hiểu rõ về hành chuyển. Do đạo lý này, nên Thánh giải thoát do tu đạo đoạn cũng có thoái chuyển. Tức như thuyết kia đã nói: “Các người phàm phu đoạn trừ Hoặc không sự cũng có thoái chuyển. Nên chứng biết các Thánh giải thoát do kiến đạo đoạn, không có thoái chuyển, do quả đã đạt được là đạo vô lậu”, về lý nhất định không đúng. Lại, quả vô lậu khác cũng thấy có thoái chuyển. Nghĩa là theo tông của Kinh chủ kia tất không có. Thánh giả đoạn trừ phiền não đạt được quả là đối tượng chứng đắc của đạo thế tục. Vì Luận kia nói: Thánh giả đoạn trừ Hoặc là quả của đạo thế tục, lý ấy là không thành. Kinh Ô Đà Di nêu rõ: Có Thánh giả trước đã được định của xứ Hữu đảnh, sau sinh trong cõi sắc, lìa thoái chuyển đoạn Hoặc của địa trên, không có nghĩa sinh xuống địa dưới.

Tông kia không thừa nhận Thánh dùng đạo thế tục để điều phục Hoặc, không thừa nhận Thánh khởi các hành như tĩnh v.v… Thánh không quán hữu là tĩnh v.v… Không phải tông kia lìa kiến vô thường v.v…, Thánh đạo hiện có có thể thật sự đoạn trừ Hoặc. Phàm phu đoạn trừ Hoặc, đến trong vị Thánh, tất không có lý thoái chuyển, vì có hai đạo trấn giữ. Do đấy, chỉ dựa vào đạo vô lậu đoạn. Kinh thuyết giảng: Trước được định diệt thọ tưởng, sau trở lại thoái chuyển, sinh trong cõi sắc, thế nên là cực thành. Quả đoạn đã được của đạo vô lậu khác cũng có nghĩa thoái chuyển. Nên thuyết kia đã nói, như giải thoát do kiến đạo đoạn trừ Hoặc không có thoái chuyển. Giải thoát do tu đạo đoạn trừ Hoặc của xứ Hữu đảnh cũng như thế, vì là quả đã đạt được của đạo vô lậu, về lý nhất định là không đúng.

Trong đây, Thượng tọa cũng nêu bày như thế này: Nhất định không có A-la-hán thoái chuyển quả A-la-hán. Vì sao? Do lý giáo.

Thế nào là lý? Nghĩa là quả ứng (quả A-la-hán) tất không có tác ý phi lý, tâm sau của A-la-hán tức nên sinh phiền não. Nghĩa là nếu tướng vận hành như trụ v.v…, trong phần vị an hòa của quả ứng thừa nhận thoái chuyển dấy khởi Hoặc, vì sao khi chết hơi thở không điều thuận? Phiền não nhiễu loạn các căn nên không sinh. Nếu phiền não sinh tức nên nối tiếp hữu sau.

Thế nào là giáo? Nghĩa là Khế kinh nói: Tôn giả Tuất Noa liền đến trước Đức Phật bạch: Đại đức! Nếu có Bí-sô các lậu đã hết, thành A-la-hán. Nói rộng cho đến: Có thể không quên mất tánh giải thoát của tâm.

Nếu như có đôi mắt thật tốt đẹp, đã nhận thức sắc đến hiện ở trước, vị kia ở trong tâm giải thoát đã chứng đắc không nhọc sức phòng hộ. Kinh Đấu Chiến Dụ nêu bày như thế này: Các Thánh đệ tử trụ nơi tâm không sợ hãi, chư vị kia vào thời bấy giờ, ma không thể quấy nhiễu. Kinh Lam Bạc Ca cũng nói: Nếu lậu đã hết, thành A-lahán, thì đi đứng nằm ngồi đều an ổn. Vì sao? Vì ma không phá hoại.

Kinh Độc Tiễn Dụ cũng nêu rõ: Đức Phật nói với Thiện Túc: Người ưa thích Niết-bàn thì kiết của xứ phi tưởng phi phi tưởng hiện có, bấy giờ đều được vĩnh viễn đoạn trừ, nhận biết khắp. Như chặt đứt rễ cây, đoạn dứt ngọn Đa la, vì không còn sót, nên về sau lại không sinh. Các kinh biện về sự thoái chuyển đều nói: Nếu cùng với đệ tử cùng trụ xen tạp, Ta nói do đấy, tức từ trước đến nay bốn thứ tâm sở tăng thượng đã chứng, hiện pháp lạc trụ, theo đấy một thứ có thoái chuyển. Nếu do xa lìa chốn riêng một mình ở không, tinh tấn dũng mãnh, không phóng dật, trụ nơi pháp bất động đã chứng đắc tâm giải thoát, thân tác chứng, thì ta quyết định nói không có nhân duyên nào từ đấy thoái chuyển.

Lại, Khế kinh thuyết giảng: Nếu có Bí-sô các lậu đã dứt hết, thành A-la-hán, thì ta trọn không nói A-la-hán đó nên không phóng dật. Vì sao? Vì Cụ thọ ấy đã không phóng dật, không còn có thể làm việc phóng dật.

Nêu ra các đối tượng chấp của Thượng tọa kia như thế, lý lại phi lý, vì tác ý phi lý, như trước đã nói. Trước đã nói là thế nào? Nghĩa là trước đã nói: Không nên cho Hoặc khởi đều do tác ý phi lý làm trước. Văn của luận lại nói là từ nhiễm sinh. Tức nếu các nhiễm khởi, tất nhiễm làm trước, thì tâm tánh khác nên không có nghĩa của hành. Lại, thuyết kia đã lập nhân, nghĩa ấy là không thành, vì so với tông đã lập phẩm loại là đồng. Nghĩa là tác ý nhiễm, được mang tên là phi lý. Nhân đã lập kia, chứng tỏ A-la-hán là không khởi nhiễm, nên không sinh phiền não. Do không có phiền não nên gọi là A-la-hán.

Nay muốn suy cứu phiền não của tâm A-la-hán đã không có, hay là có thoái chuyển sinh chăng?

Thuyết kia lập tông cho là tất không thoái sinh. Lại lập nhân nói vì không khởi nhiễm.

Đã như thế há không phải là phẩm loại đã đồng? Đây là nhân không thành, người trí đã phán quyết. Lại, thuyết kia đã nói, không có câu phi lý, vì đã không sinh, vì không đang khởi. Hai thứ như thế đều cùng không cực thành.

Hoặc ý của thuyết kia nói: Vì không có chủng loại Hoặc, nên các A-la-hán không thoái chuyển dấy khởi Hoặc. Điều này trước đã đáp rộng. Chủng loại có lý không có, nên tất cả chủng loại nơi nhân kia là có lỗi. Do đấy cũng loại trừ không còn điên đảo. Nhân nơi điên đảo cùng với Hoặc là không có tánh riêng. Tâm sau khởi Hoặc cũng không thành nhân. Vì sao? Vì tâm sau của A-la-hán không là đẳng vô gián duyên, vì sao có nghĩa có thể dẫn khởi tâm khác? Vì hướng đến bát Niết-bàn vô dư y, nên dứt bỏ các sự lưu chuyển của sinh tử, hoàn toàn ở trong đó tự nhiên chuyển biến.

Nếu người ở nơi phần vị này khởi phiền não, tức nên làm chướng ngại việc đoạn dứt hoàn toàn các uẩn. Nên trong phần vị tử hữu của A-la-hán, quyết định không thể thoái chuyển dấy khởi phiền não. Lại trụ nơi vị này là rất thuận với tâm nhàm chán. Nếu như ở vào thời gian trước, người có phiền não được đến nơi vị này, hãy còn đoạn trừ rốt ráo. Như Khế kinh nói: Bí-sô kia ở nơi hiện pháp, phần nhiều đã hoàn thành Thánh chỉ, hoặc khi lâm chung, huống chi là các A-la-hán kia thời trước đã không có phiền não, nay có hướng nhập Niết-bàn vô dư, tác ý hiện tiền, đâu thể mới khởi Hoặc. Tức không có lỗi tâm sau nên khởi Hoặc.

Lại nói: Tướng vận hành như trụ v.v… trong phần vị an hòa của quả ứng, thừa nhận thoái chuyển dấy khởi Hoặc, là cũng không hợp lý, vì không phải là đối tượng được thừa nhận. Nghĩa là ta chỉ thừa nhận trong phần vị an hòa, có tâm thuận với Hoặc, mới có thể dấy khởi Hoặc. Nếu tâm của tướng vận hành như trụ v.v… đang vững chắc, thì có thể làm chướng ngại Hoặc sinh, vì sao khởi Hoặc? Nên thuyết kia đã lập nhằm ngăn chận lý có thoái chuyển là không thể chứng thành. Quả ứng không có thoái chuyển, về giáo cũng không phải chứng. Lại như kinh Tuất Noa đối với quả có thoái chuyển đều không có trái giảm. Vì dựa nơi sự ngăn chận thọ dụng dục để nói kinh này. Nghĩa là Tôn giả kia một mình ở nơi xứ trống vắng, bỗng nhiên tư duy về nhà mình là giàu có, quyến thuộc rộng lớn, nên nhanh chóng quay về nhà, ngồi thọ hưởng dục lạc, hành thí, tu phước. Đức Phật biết được ý nghĩ của Tôn giả kia, sai bảo đến chỗ Đức Phật, vì Tôn giả ấy nên hiện thần thông, ghi nhận, thuyết giáo, khuyên răn, khiến điều phục, tỉnh ngộ được thành quả ứng. Thành quả ứng xong, khởi suy nghĩ: Ta nay rất đúng lúc đi đến yết kiến Đức Thiện Thệ.

Ý này là làm rõ nay nhờ Phật bảo đi đến, hơn hẳn đối với lúc trước vì không có tư duy tà. Khởi suy nghĩ này xong, lại dựa vào môn khác, hiển bày ghi nhận tự thân so với các quả ứng, có tướng chung của quả ứng là không thọ dục, bạch: Đại đức! Nếu có Bí-sô các lậu đã hết, thành A-la-hán, thì các Bí-sô kia bấy giờ trụ ở sáu xứ, tâm được giải thoát. Nghĩa là trụ nơi xuất ly, không hại, hành xa lìa, ái hết, thủ hết, cùng không quên mất tánh giải thoát của tâm. Nếu như người có đôi mắt tốt đẹp đã nhận thức sắc đến hiện ở trước, Bí-sô kia ở trong giải thoát của tâm đã chứng, không nhọc sức phòng hộ. Ý này hiển bày tất cả quả ứng, do sức đối trị đã thâu giữ, nên không có xứ nào không cùng thọ nhận các cảnh dục.

Vì thế nếu như có cảnh diệu hiện tiền, không nhọc sức phòng hộ tâm. Là nghĩa trong ấy, hoặc Tôn giả kia vì dựa nơi tự thuyết, tức không nên làm chứng. Không phải các quả ứng đều cùng với căn tánh của Tuất Noa là như nhau. Hoặc đây là dựa chung nơi các quả ứng để nói. Vì thuyết kia tự nói câu sai biệt. Như Tôn giả kia tự nêu: Nghĩa là trụ nơi xuất ly, không hại, hành xa lìa, cho đến nói rộng.

Đây là hiển bày nếu có thể trụ nơi xuất ly v.v… thì không nhọc sức phòng hộ. Pháp khác thì không như vậy.

Tông của tôi cũng nói: Lúc nào cũng tôn trọng. Người tu gia hạnh tức có thể không thoái chuyển.

Ý nghĩa như thế nơi kinh Độc Tiễn Dụ, Đức Thế Tôn đã hiển thị phân minh: Sau ta đến kia sẽ phân biệt rộng.

Kinh Đấu Chiến Dụ cũng không thành chứng. Kinh này dựa theo chỗ ngăn chận các thứ sợ hãi về hữu sau để thuyết giảng. Như xứ khác đã nói, ở đây cũng nên như thế. Nghĩa là kinh này nói: “Ma không thể quấy nhiễu”. Không phải ý của kinh này nói về ma phiền não, chỉ nói về Đại tự tại chủ của trời dục, vì sau kinh ấy nói như thế này: Bấy giờ, ma kia hốt nhiên không hiện. Ý trong đây là làm rõ: Nếu bát Niết-bàn, thì ma không thể tìm cầu sinh thức của người kia. Nghĩa là đệ tử Phật khi đang xả bỏ mạng, phần nhiều có ma đến tìm cầu sinh thức của họ. Chớ cho thần thức kia vượt qua cảnh giới của ngã. Như ở xứ khác cũng nhằm ngăn chận quả ứng sợ hãi về hữu sau. Như Khế kinh nói:

Đã nhổ rễ ái

Không sầu, đâu sợ.

Lại, kinh khác nói:

Như rễ cây chưa nhổ

Mầm chặt chặt lại sinh

Chưa nhổ tùy miên ái

Khổ diệt, diệt lại khởi. 

Lại, Khế kinh nêu rõ:

Nếu đã thấy Thánh đế

Khiến đường các hữu dứt

Gốc sinh tử đã diệt

Lại không tạo hữu sau.

Lại, tất cả xứ ngợi khen quả ứng nói: Bỏ các gánh nặng, dứt hết các kiết hữu, do đấy gọi là tận.

Kiết hữu: Nghĩa là kiết chiêu cảm hữu, gọi là kiết hữu. Các A-la-hán ở trong kiết hữu, vì tâm khéo giải thoát, nên gọi là tận. Vì thế không phải thuyết kia đã dẫn Khế kinh, có thể ngăn chận nghĩa thoái chuyển nơi quả ứng của tông tôi. Do đấy đã giải thích kinh Lam Bạc Ca, A-la-hán kia đều tự nhận biết là không thọ hữu sau. Tuy cũng có sợ hãi thoái chuyển hiện pháp lạc, nhưng đối với oai nghi thảy đều an ổn, nên các pháp của quả ứng có trí sinh, có khả năng tự nhận biết rõ không thọ hữu sau. Quán xét về ý riêng để thuyết giảng, như Kinh Độc Tiễn Dụ nên cũng không thể ngăn chận nghĩa có thoái chuyển.

Nếu A-la-hán đối với kiết của ba cõi, tất cả đều được vĩnh viễn đoạn trừ, nhận biết khắp. Như chặt đứt rễ cây, cắt bỏ ngọn Đa la, không còn sót, nên về sau lại không sinh.

Vì sao trong đây đã nói thiên về phi tưởng?

Nên biết ở đây nói nhất định quán xét về ý riêng. Nay sẽ biện phần này đã khởi nói về đối tượng nhân. Nghĩa là trong kinh này, Đức Phật nói với Thiện Túc: Người ưa thích của cải thế gian, nếu trụ nơi hiện tiền, thì nên vì họ nêu bày về tướng như thế. Tức nên nói năng, biện luận, khiến tâm người kia liền trụ trong nghĩa đã nói. Cũng có thể ở trong ấy tạo ra tùy pháp hành, nói rộng cho đến: Dẫn dụ để so sánh với chính mình. Cụ thọ Thiện Túc bạch Đức Thế Tôn: Bổ-đặc-già-la này ở nơi chốn thôn ấp v.v…, bị kiết dục tham trói buộc tâm. Nói rộng cho đến vì kẻ ấy nêu bày ngôn luận tương ưng với bất động, không thích nghe nhận, nói rộng như thế.

Người ưa thích bất động, đối với ngôn luận tương ưng với xứ vô sở hữu, không thích nghe nhận. Người ưa thích xứ vô sở hữu, đối với ngôn luận tương ưng với xứ phi tưởng phi phi tưởng không thích nghe nhận. Người ưa thích xứ phi tưởng xứ, đối với ngôn luận tương ưng với bát Niết-bàn, không thích nghe nhận. Người ưa thích Niết-bàn, cũng đối với ngôn luận tương ưng với xứ phi tưởng phi phi tưởng, không thích nghe nhận.

Trong kinh như thế, theo thứ lớp đã nói rộng. Không phải tôi ở đây đã nói câu như thế: Các A-la-hán vui thích nghe ngôn luận tương ưng với xứ phi tưởng phi phi tưởng, tâm trụ trong đó, tạo ra tùy pháp hành.

Do đấy, đối với xứ kia, tùy thuận hướng đến ưa thích nhiễm chấp, vì sao dẫn kinh này để chứng minh A-la-hán, không đối với xứ phi tưởng phi phi tưởng bị kiết dục tham trói buộc tâm. Thế nên Đức Thế Tôn vì ngăn chận quả ứng, tham sinh nơi xứ kia, nên nêu ra hai dụ để nói. Tông của chúng ta cũng thừa nhận lý này. Đâu cùng dẫn kinh ấy để ngăn chận quả ứng thoái chuyển. Kinh này tất nên ngăn chận quả A-la-hán, tạo chiêu cảm kiết hành nơi hữu sau của xứ phi tưởng. Do trong kinh này nói về thiện nam kia, nếu được chánh giải thì tâm khéo giải thoát, đối với sáu xứ như sắc v.v… không phải thích nghi, mắt trông thấy v.v… xong, không tùy theo trói buộc để trụ chấp, nói rộng cho đến ở trong cảnh ấy không do tầm tư, tùy thuận quán mà trụ, không bị kiết tham theo đuổi hủy hoại tâm kia, tích tập chiêu cảm pháp ác bất thiện của đời sau, cho đến không tập lão tử của đời sau, đối với mình như thế, lại có thể nhận biết như thật.

Nay xét rõ ý đã nói trong đây, là nhằm hiển bày các quả ứng có thể nhận biết như thật. Đối với các thứ tư lương của hữu sau, ta trọn không chứa nhóm. Nhưng có thể nói Đức Phật ở trong kinh này, đã dựa nơi dụ về mũi tên độc, để chỉ rõ có lý có thoái chuyển. Nghĩa là Đức Phật ở đây đã giảng nói câu như thế này: Như có lương y khéo nhổ bật mũi tên độc, trước hết quan sát mũi tên đã cắm vào là cạn hay sâu. Tiếp theo lập phương pháp thích hợp để nhổ mũi tên khiến ra khỏi thân, sau thì trao cho thuốc thật hay, khiến chất độc bị loại bỏ hoàn toàn, mới nói với nạn nhân kia: Chao ôi Thiện sĩ! Tôi đã vì ông nhổ bỏ mũi tên độc ấy. Nay thế độc trong thân ông không còn, ông nên từ nay hãy cẩn thận kiêng dè. Ăn khi cần ăn để giữ sạch chỗ nhọt lở kia. Nếu ăn uống không thích hợp, thì mụt nhọt tất chảy ra. Cho đến: Này Thiện Túc! Ý ông thế nào? Người kia nhờ lương y nhổ bỏ mũi tên, trừ diệt chất độc. Nếu cẩn thận kiêng cữ, chỉ ăn uống thích hợp thì mụt nhọt kia tức lành. Há không phải là nhất định đạt được không bệnh, an vui, khí lực tăng thịnh?

Do dụ như thế là làm rõ lương y Phật đã nhổ mũi tên độc hữu sau của chúng sinh được hóa độ, khiến nơi chốn dẫn sinh kiết kia cũng hết sạch hoàn toàn. Nếu đối với sáu xứ như sắc v.v… không thích nghi, mắt trông thấy v.v… xong, tùy theo trói buộc để trụ chấp, nói rộng cho đến: Ở trong cảnh kia, do khởi tầm tư tùy thuận quán mà trụ, phiền não hiện bày lậu, nhân đấy mà sinh. Nếu không thừa nhận như vậy về tâm giải thoát, thì có lỗi gì để khởi so với lậu là đồng?

Lại, trong kinh này Đức Phật tự hợp dụ nói: Nếu một loại hữu tình có khả năng nhận biết rõ đúng về chỗ nương dựa là bệnh, là ung nhọt, mũi tên độc, là gốc của khổ. Liền trụ nơi chốn nương dựa là hoàn toàn không nương không trên trong tâm giải thoát, thì có lý này. Trụ xong, ở nơi chốn nương dựa kia, thuận nhận lấy pháp, thân nhận lấy, tâm chấp trước, thì không có lý này.

Kinh này nơi phần sau đã biện về nghĩa ấy, nói: Nương dựa tức là thân, là đối tượng nương dựa của khổ. Thuận nhận lấy, tức là khả năng tạo lợi ích, nhận lấy pháp.

Vì là các Hoặc đã nương dựa nơi chấp, nên trong đây có nói nương dựa tức là thuận nhận lấy. Như nghĩa thật thì nương dựa và thuận nhận lấy là có khác. Nghĩa là như thứ lớp thân không thích nghi nơi cảnh. Nói thân nhận lấy, nghĩa là các căn như mắt v.v… nhận lấy cảnh không thích nghi. Nói tâm chấp, nghĩa là các thức như nhãn v.v… chấp nơi cảnh không thích nghi.

Người ưa thích Niết-bàn, phần nhiều trụ nơi tâm giải thoát của Niết-bàn, đối với chốn nương dựa thuận nhận lấy thì thân nhận lấy, tâm chấp trước, là không có lý này.

Nay xem kỹ trong đây đã lược bớt ý nghĩa sâu xa. Nghĩa là các quả ứng nếu an trụ nhiều, nơi sáu thứ như xuất ly v.v…, trong tâm giải thoát thì đối với sáu thứ không thích nghi, đã không tùy theo trói buộc để trụ, như cẩn thận nơi đối tượng kiêng dè thì phiền não không sinh. Nếu không trụ nhiều nơi sáu thứ như xuất ly v.v… thì đối với sáu thứ không thích nghi liền tùy theo trói buộc để trụ. Về sau sinh khởi mũi tên độc, tuy đã nhổ bỏ vĩnh viễn, nhưng ở nơi mắt v.v… thì phiền não lậu sinh. Như phạm trúng vào mụt nhọt không thích nghi đã vỡ mủ chảy ra.

Như thế, Thượng tọa đã dẫn Khế kinh này, chỉ tổn hại nơi tông mình, há có thể trái với nghĩa của người khác?

Lại thuyết kia đã nêu dẫn các kinh biện về thoái chuyển, đều chỉ nói thoái chuyển tâm sở tăng thượng, không nói giải thoát. Điều này cũng không hợp lý. Vì trong Khế kinh khác nói về A-la-hán thời giải thoát, đã thoái chuyển do năm nhân duyên, không nói A-la-hán kia thoái mất tâm sở tăng thượng. Nên kinh Kiều Để Ca cũng nói thoái mất quả A-la-hán của tánh thời giải thoát.

Để ngăn chận chỗ chấp tà của thuyết kia, như trước đã biện nên biết., Trong kinh Thán Dụ cũng nói có thoái chuyển quả A-la-hán, như phần sau sẽ biện thành. Kinh Ô Đà Di cũng nói có thoái chuyển quả của đạo vô lậu. Kinh Độc Tiễn Dụ cũng nêu rõ có thoái chuyển, như trước đã biện.

Thuyết kia đã dẫn các kinh là chỉ căn cứ theo A-la-hán của phẩm thù thắng để nói nên không thành chứng.

Có Sư khác giải thích: Kinh này là Đức Phật đã dựa vào tự thuyết để giảng nói về việc cùng với đệ tử cư trú xen tạp. Kinh Bất Phóng Dật trước đã đối chiếu với Kinh chủ, vì đã quyết trạch đủ, nên cũng không phải là chứng cứ.

Thế nên Thượng tọa lập quả A-la-hán không có lỗi thoái chuyển, về lý giáo đều không có.

Sư của phái Phân Biệt Luận nêu bày như thế này: Vì tất cả Thánh đạo đều không có thoái chuyển, nên Hoặc đã đoạn là hoàn toàn không sinh.

Vì sao nhận biết như thế?

Do giáo lý. Giáo nghĩa là kinh thuyết giảng: Phật nói với Tôn giả Ca Diếp Ba: Nếu có rất nhiều pháp thiện như thế, ta nói pháp thiện kia là không trụ, huống chi là có thoái chuyển. Các A-la-hán đã có rất nhiều pháp thiện như thế, nên không có thoái chuyển.

Lại, Khế kinh nói: Quả ứng như thế là vĩnh viễn lìa cấu uế, vĩnh viễn đạt cứu cánh. Vô minh làm nhân sinh khởi các nhiễm chấp. Minh làm nhân nên lìa các nhiễm chấp. Các A-la-hán đều không có tội lỗi. Chỉ vì trừ hết các thứ cũ, không tạo các thứ mới là lìa nhiễm, không tham. Vì đã đốt cháy hạt giống giống hữu, nên không còn sinh trưởng các mầm chồi hữu, như đốt đèn, dầu hết thì đèn vĩnh viễn tắt. Đó gọi là giáo.

Lập lại lý nói: Không phải hạt giống bị đốt mà có lý sinh khởi mầm.

Như thế, tất cả phần nhiều đồng với trước đã phá bỏ. Phần ít có khác thì nay sẽ ngăn chận loại trừ riêng. Lại thuyết kia đầu tiên nêu giáo làm chứng là không thành. Quả vị hữu học tức nên thừa nhận là có thoái chuyển. Không phải quả vị hữu học có nhiều pháp thiện, so với vô học là đồng. Vì trong vị hữu học có trở thành bất thiện như phàm phu. Tất là xét theo kinh có ý riêng nên nói như thế, vì kinh khác nói quả ứng có thoái chuyển, không thoái chuyển. Nếu cho nói thoái chuyển là căn cứ riêng theo thế tục, cũng nên căn cứ nơi thuyết riêng để nói không thoái chuyển. Nghĩa là trong kinh khác nói về thoái chuyển không riêng biệt, nhưng thừa nhận là căn cứ theo phần riêng để nói về thoái chuyển, không phải là pháp khác. Câu nói không có thoái chuyển này, tuy không có sai biệt, nhưng về lý cũng nên thừa nhận là đã căn cứ theo riêng để nói. Tuy nhiên, về nghĩa trong kinh này đã nói, Đức Thế Tôn vì khen ngợi các vị ở trong pháp thiện, luôn tôn trọng thường tu, đạt được lợi ích thù thắng. Hoặc ý vì nhằm hiển bày khi đang tu thiện, thì không trụ, không thoái, không phải cho là luôn luôn như thế. Hoặc không phải pháp thiện của quả ứng đều đồng, vì tuệ giải thoát v.v… có sai biệt. Trong đây tức chỉ căn cứ nơi người đã thành tựu rất nhiều pháp thiện thù thắng để nói về không thoái chuyển. Trái với đây là có lý thoái chuyển, ở nơi không nghi. Vĩnh viễn lìa cấu uế v.v…, như trước đã giải thích.

Trước kia đã giải thích như thế nào?

Dựa nơi phiền não cấu v.v… của đời sau được nối tiếp, để mật thuyết là không có lỗi. Nên căn cứ theo đây để giải thích. Câu nói trừ hết các thứ cũ v.v… là vô minh làm nhân, sinh ra nhiễm chấp v.v…, như trước đã nói là không có chủng tử. Nên giải thích về nghĩa không thoái chuyển theo như thuyết kia đã lập, về lý là rơi vào lỗi phi lý. Vì thừa nhận mầm mộng của hữu sau tất không sinh, nên chỉ lập dụ, nêu rõ về lý là không thành.

Hoặc nên cật vấn Sư của phái Phân Biệt Luận: Ông thừa nhận dùng gì để thiêu đốt các phiền não? Sư kia nhất định nên đáp: Dùng lửa trí để thiêu đốt. Nên lại nêu vấn nạn nói: Điều này không hợp lý. Vì trí nên dựa vào phiền não, như lửa dựa vào củi. Nhưng không nên nói là trí vô lậu sinh, dùng các phiền não làm đối tượng dựa. Lại, vì phần vị Hoặc đã hết, thì trí cũng nên mất. Như khi củi hết, thì lửa tắt theo. Lại như củi hết tất có tro còn lại, vì vậy trong thân A-la-hán tức nên có Hoặc còn lại.

Nếu cho pháp dụ không thể hoàn toàn đồng chớ cho rốt cùng không có dụ đồng pháp.

Đã như thế thì vì sao không nhận lấy như vậy. Hoặc không có lý thiêu đốt, chỉ vì một ít như thiêu đốt các thứ cũ tức không nên nói pháp hoàn toàn đồng với dụ.

Nếu như vậy thì vì sao nói đoạn trừ Hoặc? Như thiêu đốt củi như mầm mộng không sinh lại, là không sinh hữu sau.

Do đấy, đối với thoái chuyển không có lý có thể ngăn cản.

Luận giả Chánh lý nói như thế này: Tu đạo đoạn trừ Hoặc chấp nhận có thoái chuyển. Nghĩa là trong văn của luận trên thuộc giáo lý ở đây, nhân đả phá tông của người khác, nên phần nhiều đã nêu bày. Nay vì thành lập tông của mình đã thừa nhận, nên lại làm rõ pháp ở trước chưa nêu. Nghĩa là từ quả ứng cũng có nghĩa thoái chuyển. Trong kinh Thán Dụ đã nói rất phân minh. Như nói các Thánh đệ tử đa văn, hoặc đi hoặc ở, có xứ có thời, vì mất niệm nên sinh nhận biết ác bất thiện, dẫn sinh tham dục, hoặc sân, hoặc si.

Các Thánh đệ tử đa văn như thế, vì chậm chạp nên mất chánh niệm, nhanh chóng trở lại có thể khiến đối tượng thoái chuyển, khởi hoàn toàn mất hẳn tức diệt lìa.

Lấy gì để chứng biết?

Các Thánh đệ tử đa văn này là A-la-hán, đâu cần nhọc công nêu hỏi. Do kinh ấy nói: Các Thánh đệ tử kia, tâm ở nơi đêm dài sinh tử luôn tùy thuận xa lìa v.v… Như kinh khác đã nói. Nên cho trong kinh ấy đã thuyết giảng: Các Thánh đệ tử đa văn như thế, hoặc hành hoặc trụ, hoặc vua hoặc người thân đi đến trước mặt, xin thọ nhận ngôi vị của cải, nói rộng cho đến: Do đấy các Thánh đệ tử đa văn này, tâm ở nơi đêm dài sinh tử, luôn tùy thuận xa lìa, hướng tới xa lìa, vừa nhập xa lìa. Tùy thuận xuất ly, hướng tới xuất ly, vừa nhập xuất ly. Tùy thuận Niết-bàn, hướng tới Niết-bàn, vừa nhập Niết-bàn. Vui thích tịch tĩnh, vui thích xa lìa, và xuất ly, nên Ta nói các Thánh đệ tử ấy, đối khắp tất cả pháp thuận với lậu, đã có thể vĩnh viễn loại bỏ rồi đạt được trong lành mát mẻ. Lại, trong kinh này, trước đã nêu rõ: Thánh đệ tử kia quán các dục như một phần than nóng. Do quán này nên ở trong các dục: Dục dục, dục tham, dục thân, dục ái, dục A-lại-da, dục Ni-diên-để, dục đắm nhiễm v.v…, tâm kia không nhiễm.

Trong Khế kinh khác thì nói: A-la-hán gồm đủ tám lực v.v…, so với kinh này là đồng. Nghĩa là kinh khác nói: Đức Phật nói với Tôn giả Xá-lợi-tử: Các A-la-hán có tám thứ lực. Những gì là tám? Nghĩa là A-la-hán các lậu đã hết, tâm của họ nơi đêm dài sinh tử luôn tùy thuận xa lìa, hướng tới xa lìa, cho đến nói rộng.

Lại, trong kinh kia cũng nêu bày thế này: Chư vị Thánh đệ tử kia quán các dục, như một phần than nóng, nói rộng cho đến: Đều như kinh này.

Lại nói: Các Thánh đệ tử kia đã tu tập, đã khéo tu tập niệm trụ, chánh đoạn, thần túc, căn lực, giác chi, đạo chi.

Trong kinh Tuất Noa đã nêu rõ: A-la-hán an trụ nơi xuất ly, không hại xa lìa. Ái hết, thủ hết và không quên mất tánh tâm giải thoát. Kinh Độc Tiễn Dụ cũng thuyết giảng: Đức Phật nói với Thiện Túc: Người ưa thích Niết-bàn, đối với kiết của xứ phi tưởng phi phi tưởng hiện có, bấy giờ đều được đoạn trừ vĩnh viễn, nhận biết khắp.

Do đấy chứng biết kinh này đã nói các Thánh đệ tử là A-la-hán, nghĩa ấy là quyết định không nên sinh nghi.

Kinh chủ ở đây đã nói như thế này: Thật sự về sau kinh đã nêu rõ là A-la-hán, nhưng chư vị kia cho đến nơi lúc hành trụ, tức chưa khéo thông đạt, cùng có sự việc này. Nghĩa là người hữu học, nơi lúc hành trụ do mất niệm nên chấp nhận khởi phiền não. Về sau trở thành vô học, thì không có nghĩa khởi. Trước vì dựa vào quả vị hữu học nên nói không sai. Xét kỹ về ý của Kinh chủ, nghĩa là trong kinh này, trước nói về vị hữu học, sau nói về vị vô học. Nay nên quán xét kỹ quyết định có thể nương dựa là do Đức Thế Tôn nói hay là ý của Kinh chủ? Nhưng trong kinh này, không có một ít nương dựa, mong cầu để có thể dẫn chứng thành: Trước là dựa vào vị hữu học, văn sau mới căn cứ ở vị vô học để nói. Nghĩa là trong kinh ấy, trước nói về các đệ tử, do quán các dục như một phần than nóng, đã khiến các dục v.v… không nhiễm tâm kia. Tiếp theo nói có lúc mất niệm dấy khởi Hoặc. Lại nữa, nói Thánh đệ tử kia, nhanh chóng trở lại được xa lìa. Về sau tức nói khi Thánh đệ tử kia hành trụ, vua v.v… đến thỉnh, không thọ nhận ngôi vị của cải. Do Thánh đệ tử kia nơi đêm dài sinh tử luôn tùy thuận xa lìa v.v…, cho đến nói Thánh đệ tử kia đối với pháp thuận với lậu đã có thể vĩnh viễn loại bỏ xong đạt được trong lành mát mẻ. Kinh này nơi đầu cuối đều không thấy Phật, vì nói pháp khác, cũng không thấy nói. Thánh đệ tử kia tu hành khác thì có riêng chỗ chứng.

Lấy gì để chứng biết Thánh đệ tử kia, trước trụ nơi vị hữu học, sau thành vô học?

Nay xem rõ kinh này vốn là nhằm ngăn chận, như Kinh chủ v.v… ở đây đã vọng suy tính lường xét. Thế nên trước nói các Thánh đệ tử, do quán các dục, như một phần than nóng, có thể khiến các dục v.v… không nhiễm tâm mình. Đây tức là làm rõ thành xong chứng quả ứng.

Tiếp theo, lại nói Thánh đệ tử kia mất niệm dấy khởi Hoặc, tức đã hiển bày thành tựu quả ứng có thoái chuyển.

Do lý như thế, nên biết trong kinh này, hai văn trước sau đều nói về vị vô học. Lại Kinh chủ kia đã nói: Nhưng Thánh đệ tử kia cho đến vào lúc hành trụ là chưa khéo thông đạt, nên cùng có sự việc này.

Tức lý cũng không đúng. Do trong kinh này nói: Các đệ tử kia, hoặc hành hoặc trụ theo nhận biết thông đạt có khi quên mất niệm dấy khởi phiền não.

Nếu cho không nói câu khéo thông đạt, thì điều ấy cũng không đúng, vì nghĩa đã nói. Nghĩa là kinh này nói: Thánh đệ tử kia, hoặc hành hoặc trụ theo nhận biết thông đạt, có khi quên mất, đồng với tâm của các thế gian khởi pháp ác bất thiện tham ưu. Há không phải là đã nói câu: Khéo thông đạt? Nếu nói thông đạt là làm rõ khéo thông đạt, vì sao khéo thông đạt lại chấp nhận khởi phiền não? Vấn nạn này là không đúng. Vì trước đã nói. Nghĩa là vì mất niệm nên khởi các phiền não. Đã như thế tức nên chưa khéo thông đạt. Không như vậy thì không quên mất, chỉ Đức Thế Tôn là có.

Nếu như vậy thì vì sao trong Khế kinh nói: Cụ thọ Xá-lợi-tử thành tựu sáu pháp hằng trụ?

Nên biết ý của kinh này nói có hai: Nghĩa là hiển bày tất cả quả A-la-hán, không phải đều thành tựu đủ sáu pháp hằng trụ. Hoặc chỉ rõ tất cả tuy đều thành tựu đủ, nhưng không phải đều có thể hiện tiền an trụ. Nếu khác với đây, thì Đức Thế Tôn không nên dùng đấy làm môn để làm rõ chỗ thù thắng kia không phải là chúng Bí-sô có. Nhận biết Tôn giả Xá-lợi-tử, trong chúng Thanh văn, là vị trí tuệ bậc nhất, là vị tướng của đại pháp, có thể chuyển pháp luân nhưng không tin biết là A-la-hán, phải cần Đức Bạc-già-phạm, đem các quả ứng cùng có công đức khen nêu khuyên biết.

Lại trong Khế kinh nói: A-la-hán bất thời giải thoát thì thế gian là hy hữu.

Lại nói: Nếu có Bổ-đặc-già-la thành tựu sáu pháp hằng trụ thì nơi thế gian là rất hy hữu.

Do đấy chứng biết, không phải A-la-hán, đối với cảnh chẳng phải thích nghi, lúc thấy nghe v.v…, tất cả đều có thể an trụ nơi tâm xả cùng có thể hằng trụ theo chánh niệm, chánh tri. Cho nên các quả ứng có khi quên mất niệm.

Do đấy, Kinh chủ kia nói trong đây câu: Không có khéo thông đạt nên biết, văn trước nói về vị hữu học là không hợp chánh lý. Lại nếu tất như thế, thì có lỗi thái quá. Nghĩa là Khế kinh nêu rõ: Nẻo sinh tử của ta đã hết. Không nói: Khéo hết nên là hữu học.

Lại Khế kinh nói: Đã kiến Thánh đế, không nói khéo kiến, nên là phàm phu.

Lại Khế kinh nói: Khiến đường hữu dứt tuyệt, không nói khéo dứt tuyệt, nên không phải là quả ứng.

Những lời kinh nói này đã không như thế, nên biết thuyết kia đã nêu bày là không đúng. Do đó, câu nói thông đạt, về nghĩa tất có khéo.

Có thuyết khác cho: Ở đây lại xác nhận là chấp nói: Kinh Thán Dụ này nhất định nói về vị hữu học.

Vì sao nhận biết như thế?

Vì nghĩa làm chỗ nương dựa.

Nương dựa nơi những nghĩa nào?

Nghĩa là người hữu học thừa nhận có phiền não, không phải là bậc vô học. Vì vô học đã đoạn trừ các thứ điên đảo, vì chủng tử của Hoặc không có, nên tất không có lý thoái chuyển. Lại, vì thuộc về quả của Thánh đạo, nên như Hoặc được đoạn do kiến đạo đoạn, không có lý thoái chuyển.

Xét rõ Tôn giả kia do tự đã chấp theo nghĩa tà làm chỗ dựa, đều không muốn nương dựa nơi nghĩa chánh của Khế kinh do Đức Thiện Thệ đã giảng nói: Vì sao các ông lâu nay cứ che giấu tình mình, luôn giả vờ nói câu: Con dựa nơi kinh thuyết giảng, không dùng chánh lý của Đối pháp làm chỗ dựa, vì tông chỉ của Đối pháp có chỗ vượt quá kinh. Nay mới lộ rõ là mình không hề chiếu cố đến văn kinh, chỉ theo vọng tình của mình để lập ngang nghĩa lý cho người học chánh lý đã nói như thế nào: Lấy nghĩa làm chỗ dựa để nhận biết là nói về vị hữu học.

Há không phải là tuy thừa nhận lấy nghĩa làm chỗ dựa, nhưng xưng tụng Đức Thế Tôn là thầy của mình, thì nghĩa lý đã lập không nên trái với kinh. Nếu so với kinh là trái tức không phải là chánh lý. Nếu không phải là chánh lý thì làm chứng không thành, vì sao luôn nói là lấy nghĩa làm chỗ dựa. Đã nói hữu học thừa nhận có phiền não, đối với vô học có thoái chuyển, thì đâu là chỗ trái nhau? Tuy nhiên, trong kinh này không nói về hữu học, chỉ nói về vô học ở phần trước đã biện thành, nên biết quả ứng có mất niệm thoái chuyển. Kinh chủ đã nói về nghĩa là rất đáng nương dựa, không phải ông ấy theo vọng tình để chấp nghĩa. Nếu chỉ hữu học có phiền não, nên phiền não có thể sinh, không phải là người vô học, thì Đức Thế Tôn vì sao không thuyết giảng có sai biệt, khiến đối tượng được hóa độ sinh khởi trí không sai lầm? Biết mất niệm, thoái chuyển vị học, không phải là pháp khác, không phải Đức Phật, Thế Tôn đã vượt khỏi các lỗi nêu ra thuyết mê lầm, khiến chúng sinh sinh nghi. Tuy trong kinh này không có nói về sai biệt, nhưng so sánh với pháp khác, nhận biết kinh này nêu rõ về vị vô học. Nên thuyết kia đã nói như là tự nơi nhà mình nói.

Lại, thuyết kia nói vị vô học đã đoạn trừ các điên đảo v.v…, là chứng minh không có nhân thoái chuyển, như trước đã ngăn chận, nên không có công dụng chứng minh. Do vô học này có khởi Hoặc, thoái chuyển, lý đó cực thành, không thể nghiêng động.

Ở đây, Thượng tọa lại giải thích lầm cho: Kinh Thán Dụ này nói về vị Bất hoàn, vì Hoặc cấu của vị hữu học là chưa dứt trừ, nên cùng có gặp duyên mất niệm dấy khởi Hoặc, không phải các vị vô học có lý dấy khởi Hoặc. Đức Thế Tôn tuy nói Thánh đệ tử kia đối với tất cả các pháp thuận với lậu, đã có khả năng loại bỏ vĩnh viễn xong, đạt được trong lành mát mẻ. Nhưng do chỉ nói đối với các pháp thuận với lậu, không nói về lậu, nên nói không sai, thì giải thích này là không thành. Vì sao? Vì các lậu cũng gọi là pháp thuận lậu. Nghĩa là pháp thuận lậu gồm thâu hết hữu lậu. Về lý không nên nói: Không gồm thâu các lậu.

Thừa nhận Thánh đệ tử này đối với tất cả hữu lậu, đã có khả năng vĩnh viễn loại bỏ xong, đạt được trong lành mát mẻ, mà nói chưa thành quả A-la-hán, là chưa từng nghe ai nói về giác ngộ này. Hoặc nên thừa nhận lậu, không phải là pháp thuận với lậu, tức cùng với tự mình chấp giáo lý là trái nhau.

Lại, Thượng tọa kia vì sao thừa nhận là người Bất hoàn, đối với địa của xứ Hữu đảnh, các pháp thuận với lậu đã có khả năng vĩnh viễn loại trừ xong, đạt được trong lành mát mẻ? Nếu trong địa này các lậu chưa đoạn, thì nhất định ở nơi địa này các pháp thuận với lậu chưa được lìa trói buộc. Thừa nhận ở nơi các pháp này chưa được lìa trói buộc, mà nói ở đây đã có thể loại bỏ vĩnh viễn xong, đạt được trong lành mát mẻ, những điều đã nói như thế, là hiển bày tuệ kỳ lạ đặc biệt.

Vì lậu và pháp thuận với lậu đều cùng thời đoạn. Đã nói đối với pháp thuận với lậu, đã loại bỏ xong, đạt được trong lành mát mẻ, tức chứng biết Thánh đệ tử kia đã dứt hết các lậu, nên không chấp nhận cách giải thích cho đây là nói về người Bất hoàn.

Lại, thuyết kia đã cho: Kinh này tuy nói về tâm của các Thánh đệ tử kia nơi đêm dài sinh tử luôn tùy thuận với xa lìa v.v… Kinh khác nói: Đây gọi là sức mạnh của quả ứng, mà cần phải gồm đủ tám mới được gọi là diệu lực của bậc A-la-hán. Thế nên không có lỗi.

Lấy gì làm chứng để nhận biết cần phải gồm đủ tám mới gọi là sức mạnh của quả ứng mà mỗi mỗi đều không đúng?

Trong đây đều không có giáo lý làm chứng, chỉ tuân theo ý mình, tô điểm cho ngôn từ.

Lại, thuyết kia vì sao thừa nhận gồm đủ tám mới được gọi là diệu lực, nhưng mỗi mỗi thì không đúng, vì không phải là tông chỉ của A-la-hán?

Các A-la-hán thừa nhận có tám thứ lực đều cùng thời hiện hành, tức không nên nói gồm chung mới thành lực. Lại, không phải mỗi mỗi pháp này của quả ứng, lúc hiện ở trước đã bị các phiền não làm nhiễu loạn, là do thiếu nghĩa của lực. Vì sao có thể chấp mỗi mỗi không phải là lực? Nên thuyết kia đã nói nhất định là không hợp lý. Lại, nếu như thừa nhận gồm chung mới được gọi là lực, nhưng nêu lên mỗi mỗi thì cũng là nêu rõ về quả ứng. Như kinh Tuất Noa nói: A-la-hán chỉ trụ nơi xa lìa không hại xuất ly, ái hết, thủ hết cùng không quên mất tánh tâm giải thoát. Kinh Độc Tiễn Dụ chỉ nói thế này: Người ưa thích Niết-bàn, đoạn trừ vĩnh viễn kiết của xứ phi tưởng phi phi tưởng.

Há nêu lên không khắp, liền không phải là quả ứng?

Tôi nay quán xét những điều đã phát ngôn của tướng kia, chỉ vì khiến người khác nhận biết mình có khả năng giảng nói. Như thế lại nêu dẫn kinh Thán Dụ để chứng minh là quả ứng có thoái chuyển nơi tánh của quả ứng.

Lại nêu quả ứng có hai thứ, như nói có hai quả A-la-hán: (1) Pháp thoái. (2) Không thoái.

Nếu cho chỉ thoái chuyển hiện pháp lạc trụ thì lý tất không đúng. Do trong kinh này nói có hai loại A-la-hán. Nếu chỉ nói do thoái chuyển hiện pháp lạc, nên quả ứng chỉ có một pháp thoái, tất cả đều có hiện hành thoái chuyển. Như Khế kinh nói: Ta nêu rõ do đấy đã chứng biết bốn thứ tâm sở tăng thượng nơi hiện pháp lạc trụ, tùy một có thoái chuyển pháp đã đạt được. Còn pháp bất động, tâm giải thoát nên tác chứng, ta quyết định nói không có nhân duyên để từ đấy thoái chuyển.

Nếu cho chỉ căn cứ nơi thoái chuyển định tự tại, thì trong các Khế kinh nói là pháp thoái, không phải các quả ứng đều có thoái này. Nghĩa là ở trong tĩnh lự hiện tiền, có thể thoái chuyển tự tại, gọi là pháp thoái. Nếu sự việc khác, thì không thư thả hiện tiền, tạm thời không hiện tiền, nhưng không mất tự tại, tuy có thọ dụng thoái chuyển, nhưng gọi là pháp bất thoái, thế nên quả ứng có hai nghĩa thành.

Biện hộ giúp này là không hợp lý, vì Khế kinh nói quả A-lahán có hai thứ. Lại, trước đã nói ở nơi các tĩnh lự thoái chuyển tự tại tức trong các dục, nếu xả bỏ hành xa lìa, nên khởi phiền não. Nếu không xả bỏ thì đã ở nơi lìa dục không còn thoái mất. Nhưng nói thoái mất ly sinh hỷ lạc, há không là trái nhau? Cho nên ở nơi tĩnh lự thì thoái mất tự tại lý tất nên có phiền não hiện tiền. Nếu A-la-hán không khởi phiền não, tức nên không có mất định tự tại, tức nên tất cả quả A-la-hán chỉ có một loại gọi là pháp bất thoái. Nếu thời giải thoát là tánh của quả ứng, thì thể của hai quả ứng không cùng xen tạp. Vì thế tôi nói kinh thuyết giảng về quả ứng có hai thứ, nên lý có thoái chuyển thành.

Lại nói nhận biết về đối tượng đoạn không sinh phương tiện. Như kinh nói: Ta như vị lương y, nhận biết rõ như thật về các pháp đối trị đoạn, nhất định có về sau không sinh phương tiện. Do đấy so sánh nhận biết phiền não đã đoạn có lý sinh trở lại. Nên căn cứ theo khéo nhận biết, có thể khiến pháp đã đoạn không sinh phương tiện. Tự khen mình như vị lương y thiện xảo. Nếu các bệnh của thế gian đã khỏi không phát thì không nên khen ngợi, chỉ vì vị lương y này khéo nhận biết bệnh đã khỏi nên không sinh phương tiện. Cho nên biết đoạn trừ Hoặc có thể có thoái chuyển sinh.

Nếu cho kinh này căn cứ nơi phàm phu để thuyết giảng. Không như vậy thì kinh kia nói là có giác chi. Nghĩa là nói: Ta bên trong có giác chi niệm thì như thật nhận biết là có, cho đến nói rộng. Nên quyết định nhận biết là không nói về phàm phu. Lại nói về quả ứng có hai trí, như nói A-la-hán có tận trí, vô sinh trí. Nếu các thứ đoạn tận đều vĩnh viễn không sinh, thế thì uổng công sức lập vô sinh trí. Nếu cho vì phân biệt phàm phu đã đoạn để hiển bày A-la-hán là an ổn bậc nhất, nên dựa vào lợi ích lớn lập vô sinh trí, thì điều này là không hợp lý. Chỉ vì tận trí sinh, theo như tông của ông đã thừa nhận là thành an ổn bậc nhất. Lại, các A-la-hán đều tự nhận biết rõ: Nẻo sinh tử của ta đã hết, phạm hạnh đã lập, việc làm đã xong, không còn thọ hữu sau. An ổn như thế há không phải là bậc nhất? Vì các phàm phu tuy đạt được Tam-ma-bát-để của xứ Hữu đảnh nhưng có thoái đọa, cho đến sẽ sinh trong nẻo ác. Chỉ khi tận trí khởi rồi mới có thể tự nhận biết: Ta đều không có đời sau, không còn chút đối tượng tạo tác nào. Tức hiển bày là A-la-hán đạt được an ổn bậc nhất, nghĩa kia đã thành, đâu phải nhờ nơi vô sinh trí. Tuy an ổn bậc nhất này đã thành, nhưng các quả ứng lại khởi vô sinh trí, như Đức Thế Tôn nói đủ là tận trí, vô sinh trí. Do đấy nhất định nhận biết có A-la-hán, phiền não đã đoạn, mà sợ sau sinh lại, theo phương tiện siêng năng cầu trí để vĩnh viễn phiền não không sinh, nên lập vô sinh trí, lý có lợi ích lớn được thành.

Do đấy chứng biết quả ứng có thoái chuyển.

HẾT – QUYỂN 69