LUẬN A TỲ ĐẠT MA THUẬN CHÁNH LÝ
Tác giả: Tôn giả Chúng Hiền
Hán dịch: Đời Đường, Tam Tạng Pháp sư Huyền Tráng
Việt dịch: Cư sĩ Nguyên Huệ

 

QUYỂN 61

Phẩm thứ 6: BIỆN VỀ HIỀN THÁNH, phần 5

Như thế là tu thành thục pháp Quán bất tịnh, Trì tức niệm (Quán sổ tức), hai gia hạnh đã có thể theo thứ lớp dẫn đến đối tượng duyên không xen tạp. Thân, thọ, tâm, pháp niệm trụ hiện tiền. Lại, đối với pháp niệm trụ vô gián của duyên không xen tạp, dẫn sinh pháp niệm trụ của đối tượng duyên xen tạp.

Tiếp theo nên tu duyên chung về pháp niệm trụ của cộng tướng.

Pháp niệm trụ này, tướng của nó là thế nào? Tụng nêu:

Ở pháp niệm trụ kia

Quán chung bốn sở duyên

Tu vô thường và khổ

Hành tướng không, vô ngã.

Luận nói: Pháp niệm trụ của duyên xen tạp gồm có bốn thứ.

Hai, ba, bốn, năm uẩn làm cảnh riêng khác, chỉ duyên chung nơi năm, là đối tượng tu này. Hành giả kia ở trong ấy tu bốn hành tướng. Quán chung về tất cả thân thọ tâm pháp, gọi là vô thường, khổ, không, vô ngã. Tuy nhiên, khi tu tập niệm trụ này, có căn thiện khác có thể làm phương tiện, hành giả kia nên theo thứ lớp tu khiến cho hiện tiền. Nghĩa là hành giả kia đã tu thành thục pháp niệm trụ duyên xen tạp ấy, khi sắp sửa tu tập niệm trụ này, trước hết nên duyên chung nơi hành tu vô ngã. Tiếp theo là quán sinh diệt, rồi đến quán duyên khởi. Vì người hành quán, trước là quán các hành theo nhân sinh diệt, liền ở nơi môn quán nhân quả cùng hệ thuộc dễ dàng hướng nhập. Hoặc có hành giả muốn khiến trước là quán duyên khởi, sau này thì quán dẫn khởi duyên nơi ba nghĩa. Quán này vô gián tu bảy xứ thiện, ở nơi bảy xứ thiện đạt được thiện xảo, nên có khả năng đối với các cảnh đã thấy từ trước đến nay, lập đế nhân quả, theo thứ lớp quán xét.

Như thế đã tu thành thục trí và định xong, tức có thể an lập thuận với đế hiện quán, nghĩa là khổ v.v… của cõi dục, cõi trên đều riêng khác.

Đối với tám đế như thế, tùy theo thứ lớp quán, tu mười sáu hành tướng chưa từng tu.

Hành giả kia do văn tuệ ở trong tám đế, đầu tiên khởi mười sáu hành quán như vậy, như cách tấm lụa mỏng, nhìn thấy nhiều sắc. Ngang với đây gọi là văn tuệ viên mãn. Tuệ do tư tạo thành, căn cứ theo đây để nêu bày.

Tiếp theo, ở nơi sinh tử, hành giả dấy khởi tâm nhàm chán sâu xa, vui thích công đức tĩnh lặng của Niết-bàn.

Từ đây về sau dẫn nhiều thứ nhàm chán, quán hiện ở trước theo phương tiện siêng tu dần tăng dần hơn hẳn. Dẫn khởi như thế có thể thuận với quyết trạch. Tư tạo thành gồm thâu căn thiện tối thắng, tức đã tu duyên chung nơi pháp niệm trụ cộng tướng.

Theo đấy vô gián sinh căn thiện nào? Tụng nêu:

Từ đấy sinh pháp Noãn

Quán đủ bốn Thánh đế

Tu mưới sáu hành tướng

Tiếp sinh Đảnh cũng vậy.

Như thế hai căn thiện

Đều đầu pháp, sau bốn

Tiếp Nhẫn chỉ pháp niệm

Phẩm hạ trung đồng Đảnh.

Trên, chỉ quán dục khổ

Một hành, một sát-na

Thế đệ nhất cũng vậy

Đều tuệ năm trừ đắc.

Luận nói: Từ thuận quyết trạch do tư tạo thành thù thắng. Sau duyên chung nơi pháp niệm trụ cộng tướng, có tu tạo thành, thuận với phần quyết trạch.

Đầu tiên căn thiện khởi, gọi là pháp Noãn, là duyên chung nơi pháp niệm trụ cộng tướng có sai biệt.

Như thế, pháp đã khởi là pháp sẽ tu. Tướng trước nơi lửa của Thánh đạo có thể thiêu đốt củi phiền não. Như phần vị lửa được dùi, đầu tiên là tướng noãn sinh. Vì pháp cùng với noãn đồng, nên gọi là pháp Noãn. Người ở nơi chốn thanh vắng, nắm giữ pháp noãn trước đã khởi, do tu tạo thành pháp niệm trụ cộng tướng, tuy cũng có pháp noãn này, nhưng không đều như thế.

Nếu có người trước đã lìa nhiễm của cõi dục, dựa vào cõi sắc gồm thâu tuệ do tu tạo thành, nhàm chán sinh tử, vui thích Niết-bàn. Phần nhiều hành nhàm chán, tác ý đều cùng có, theo thứ lớp có thể dẫn sinh căn thiện noãn của loại khác. Các hữu tình thời trước, chưa lìa nhiễm của cõi dục, dựa vào tuệ do tư tạo thành, dẫn căn thiện noãn sinh. Vì thế hành giả kia không nên tạo ra lối chấp hoàn toàn, vì căn thiện này khởi phần vị dài, có khả năng quán sát đủ cảnh của bốn Thánh đế.

Do căn thiện này tu đủ mười sáu hành tướng:

Quán khổ Thánh đế tu bốn hành tướng: (1) Vô thường. (2) Khổ. (3) Không. (4) Vô ngã.

Quán tập Thánh đế tu bốn hành tướng: (1) Nhân. (2) Tập. (3) Sinh. (4) Duyên.

Quán diệt Thánh đế tu bốn hành tướng: (1) Diệt. (2) Tĩnh. (3) Diệu. (4) Ly.

Quán đạo Thánh đế tu bốn hành tướng: (1) Đạo. (2) Như. (3) Hành. (4) Xuất.

(Tướng này có sai biệt, như phần sau sẽ biện).

Như Khế kinh nói: Hai người ngu si này trái vượt pháp Tỳ-nạida của ta, ở đây, cho đến cũng không có pháp Noãn.

Các người không có noãn, tất cả đều gọi là trái vượt chánh pháp Tỳ-nại-da chăng?

Không như thế. Hai người, tư lương đã đầy đủ, vì có pháp chướng ngại, tức thoái chuyển nơi đối tượng nên đạt được. Nói trái vượt pháp Tỳ-nại-da, không phải đối với những người không có noãn, đều gọi là trái vượt. Hoặc hai người này gặp Phật ra đời, từ biệt người thân yêu, quy y Phật xuất gia, đi theo con đường thẳng tắt do Thánh Hiền xưa đã đi qua. Đã được an ổn đầy đủ, nếu siêng năng tu tập, tất ở nơi hiện thân đạt được lợi ích thù thắng.

Do người kia đã trái vượt pháp Tỳ-nại-da, nên đối với các lợi ích thù thắng thảy đều thoái mất.

Dưới đến pháp noãn, cũng không thể chứng đắc. Thế nên các hữu tình gặp Phật, xuất gia, đồng với hai người này, thì không có khả năng khởi noãn, mới gọi là trái vượt pháp Tỳ-nại-da, không phải các người không có noãn, đều gọi là trái vượt. Nhưng các pháp noãn tuy duyên nơi bốn đế, mà theo phần nhiều nói hành nhàm chán đều cùng có. Vì khi khởi hành ấy, tưởng uẩn nhiều, nên hành giả tu tập căn thiện noãn này, phẩm hạ trung thượng tăng tiến dần dần. Đối với khổ, tập, diệt, đạo do Đức Phật đã thuyết giảng, sinh khởi tín tùy thuận, quán sát các hữu luôn bị lửa dữ thiêu đốt.

Ở trong Tam bảo, tín là hàng đầu, có tu tạo thành, thuận với phần quyết trạch.

Căn thiện tiếp theo khởi, gọi là pháp Đảnh, là duyên chung nơi pháp niệm trụ cộng tướng có sai biệt. Tiếng đảnh là làm rõ đây là xứ tối thắng. Như sự việc tốt đẹp, đến khi hoàn thành, thế gian nói là người này đã đạt đến đỉnh. Nghĩa là cõi sắc gồm thâu trong bốn căn thiện: Hai là có thể động, hai là không thể động. Trong hai có thể động, phẩm hạ gọi là Noãn, phẩm thượng gọi là Đảnh, vì là ở trên trong hai căn thiện động. Trong hai không động, phẩm hạ gọi là Nhẫn, vì ở nơi cảnh của bốn đế là rất kham nhẫn. Phẩm thượng gọi là Pháp thế đệ nhất, vì trong thế gian là thù thắng nên cũng như đề hồ.

Người ở nơi thanh vắng, nói tu phẩm thiện này, vì tướng kia là tột đỉnh, nên gọi là pháp Đảnh. Hành tướng của cảnh này so với pháp Noãn là đồng. Nghĩa là quán xét cảnh của bốn đế, tu mười sáu hành tướng.

Vì sao chỉ nói pháp Đảnh kia duyên nơi diệt, đạo? Như Khế kinh nêu rõ: Đối với Phật, Pháp, Tăng, sinh khởi một ít tín nhỏ, đấy gọi là Đảnh. Nói tin Phật, Tăng là hiển bày duyên nơi đạo đế. Nói tin Pháp là làm rõ duyên nơi diệt đế. Không có lỗi như thế. Nói tin Pháp ở đây là làm rõ đầy đủ tín duyên nơi ba đế. Như nói: Khi đối với khổ đạt được hiện quán, thì được pháp chứng tịnh, cho đến nói rộng. Hoặc do diệt, đạo ở đấy sinh tín thù thắng, không có lỗi lầm, nên trong đây đã nói riêng. Hoặc do diệt đạo, đáng tin, đáng cầu đạt, pháp khác thì không đáng cầu đạt, nên ở đây không nói.

Như thế, hai thứ căn thiện Noãn, Đảnh, đầu tiên khi được an đủ, chỉ là pháp niệm trụ. Sau nơi phần vị tăng tiến cả bốn niệm trụ đều hiện tiền. Đầu tiên, nói an trụ đủ, là chỉ rõ do hành tướng. Bước đầu, đi theo dấu vết của bốn Thánh đế, sau nói tăng tiến, là làm rõ từ đây về sau các phẩm hạ, trung, thượng theo thứ lớp thường tập. Các pháp trước đã được, thì sau không hiện tiền. Đối với phẩm hạ kia vì không sinh tâm kính trọng, nên dùng gia hạnh vượt hơn để dẫn khởi căn thiện này, nên đã được phẩm trung thì không sinh kính trọng. Tuy nhiên, pháp đảnh này tuy duyên nơi bốn đế, duyên nơi Tam bảo, đa phần là tín hiện hành.

Phẩm hạ, trung, thượng của căn thiện đảnh này lần lượt tăng trưởng, đến khi thành mãn, có tuệ do tu tạo thành, thuận với phần quyết trạch. Căn thiện thù thắng khởi, gọi là pháp nhẫn, là duyên chung nơi pháp niệm trụ cộng tướng có sai biệt. Đối với lý của bốn đế, trong khả năng đáng nhẫn thì nhẫn này là tối thắng.

Lại, phần vị nhẫn này thì không thoái mất, gọi là pháp nhẫn. Pháp thế đệ nhất tuy đối với Thánh đế, cũng có thể được nhẫn vô gián, tất có thể nhập kiến đạo, nên không hề có thoái mất, mà không quán đủ lý của bốn Thánh đế. Nhẫn này vì quán đủ, nên riêng được mang tên nhẫn. Nên nói riêng về nhẫn này là nhẫn thuận đế. Căn thiện nhẫn ấy an trụ đủ tăng tiến, đều là pháp niệm trụ, so với trước có khác. Nhẫn ấy cùng với kiến đạo dần dần giống nhau, vì trong phần vị kiến đạo chỉ là pháp niệm trụ. Nhưng pháp nhẫn này có hạ trung thượng. Hai phẩm hạ, trung, so với pháp đảnh là đồng. Nghĩa là quán sát đủ về cảnh của bốn Thánh đế và có thể tu đủ mười sáu hành tướng. Phẩm thượng có khác, chỉ quán khổ của cõi dục. Vì tiếp cận với tướng thế đệ nhất, do đấy có thể căn cứ theo căn thiện như noãn v.v…, đều có thể duyên đủ về khổ v.v… của ba cõi.

Về nghĩa đã thành lập, vì không có phân biệt, nên nhẫn hạ trung thượng làm sao phân biệt?

Như nhẫn phẩm hạ gồm đủ tám loại tâm. Nghĩa là Sư Du Già dùng bốn hành tướng, quán khổ nơi cõi dục, gọi là một loại tâm.

Như thế, tiếp theo là quán khổ của cõi sắc, vô sắc, tập diệt đạo đế cũng quán như vậy, thành tám loại tâm, gọi là nhẫn phẩm hạ. Nhẫn phẩm trung thì giảm lược hành tướng, đối tượng duyên. Nghĩa là Sư Du Già dùng bốn hành tướng, quán khổ của cõi dục, cho đến đầy đủ. Dùng bốn hành tướng quán đạo của cõi dục. Đối với đạo của hai cõi trên, giảm một hành tướng. Từ đấy gọi là phần đầu của nhẫn phẩm trung.

Như thế, theo thứ lớp giảm lược dần hành tướng, đối tượng duyên, cho đến rất ít, chỉ dùng hai tâm quán khổ của cõi dục. Như phần vị khổ pháp nhẫn, khổ pháp trí, ngang với đây gọi là nhẫn phẩm trung viên mãn. Nhẫn phẩm thượng chỉ quán khổ đế nơi cõi dục, tu một hành tướng, chỉ một sát-na. Căn thiện này khởi, vì không cùng nối tiếp, nên nhẫn phẩm thượng vô gián, có tuệ do tu tạo thành, bắt đầu mở cửa Thánh đạo. Trong công đức của thế gian, thì pháp này là hơn hẳn, là duyên chung nơi pháp niệm trụ cộng tướng có sai biệt là căn thiện tối thượng, thuộc về thuận phần quyết trạch sinh. Đây tức gọi là Pháp thế đệ nhất. Do căn thiện này là hữu lậu, nên gọi là thế gian, vì là tối thắng nên gọi là đệ nhất. Có sức của sĩ dụng lìa nhân đồng loại, vì dẫn Thánh đạo khởi, nên gọi là tối thắng. Vì vậy gọi là Pháp thế đệ nhất.

Có Sư khác cho: Vì pháp này là hữu lậu, nên gọi là thế gian. Thành tựu này tất không có lý đoạn dứt căn thiện, nên gọi là đệ nhất.

Thuyết kia nói là không đúng. Vì các hữu tình tu tập căn thiện thù thắng như thí, giới, văn v.v…, cũng không đoạn dứt pháp thiện, không đi đến nẻo ác, không phải đều có thể gọi là Pháp thế đệ nhất. Nên thuyết của Sư kia nói, không phải là nhân quyết định.

Lại, Sư kia tự nói là cùng với định tương ưng, vì niệm trụ v.v… có sai biệt, gọi Là pháp thế đệ nhất. Nhưng có người được định, niệm trụ có sai biệt, về sau thoái mất, lại đoạn dứt căn thiện, như Đề-bàđạt-đa v.v… Nên Già tha nói:

Cho đến người ngu kia

Do sinh trưởng vô nghĩa

Tổn hại các phần trắng

Biết ở đảnh thoái đọa.

Dựa nơi Đề-bà-đạt-đa để nêu bày già tha như thế. Lại, về lý tức nên như vậy. Đề-bà-đạt-đa đã từng được các thứ công đức thù thắng như thần cảnh thông v.v… Do vị kia được định, niệm trụ gồm thâu thiện, vẫn đoạn căn thiện. Thế nên pháp thế đệ nhất theo tông kia nói, cũng không phải quyết định không đoạn căn thiện.

Lại, người thành tựu đạo lìa dục của thế gian, cũng không đoạn thiện, tức nên gọi là thành đệ nhất, người ấy tất không đoạn căn thiện.

Nếu cho đạo lìa dục kia không phải là quyết định không đoạn căn thiện, vì có thoái chuyển, thế thì pháp thế đệ nhất theo tông của ông, đã thừa nhận có thoái chuyển, nên cùng đoạn căn thiện, vì tông kia thừa nhận là đệ nhất hữu thoái chuyển. Như nói: Thoái chuyển này cũng không trái nhau. Nghĩa là nói thoái chuyển này là đối với giáo và lý, đều không có trái nghịch, nên thừa nhận cũng không có lỗi. Nhưng Sư kia lại nói ở đây, hoặc không có thoái chuyển, vì trong căn thiện thì pháp này là thù thắng.

Như thế ở nơi chứng lý cũng không thành. Trong các hành tác ý thù thắng cũng nên không thoái chuyển. Tông kia thừa nhận pháp này ở trong căn thiện là hơn hẳn, nên không phải căn thiện ấy tức là pháp thế đệ nhất, vì trong giáo kia đều nói riêng.

Nếu cho pháp thế đệ nhất như thế, tất cả đều không thoái mất, thì điều này cũng không phải là nhân, vì pháp kia đối với căn thiện cũng là hơn hẳn, nên tất cả không thoái chuyển, phải nên gọi là đệ nhất.

Vì thế thuyết kia đã nói: Do không đoạn thiện nên gọi là đệ nhất, không phải là khéo nêu giảng.

Tông kia lại có nói: Vì pháp này là hữu lậu, nên gọi là thế gian. Trụ trong đẳng dẫn quán xét bốn đế, nên gọi là đệ nhất. Về lý cũng không đúng. Người đã kiến đế, có trụ nơi đẳng dẫn, tục trí hiện tiền, quán xét bốn đế, nên gọi là đệ nhất.

Nếu cho đệ nhất có thể nhập chánh tánh ly sinh, lại tất nên dựa vào thân phàm phu, thì cũng không hợp lý, vì tướng nhân là như nhau.

Lại, trong các hành tác ý thù thắng cũng có tương ưng ấy, gọi là đệ nhất.

Lại, không có kinh nào nói về quán bốn đế này.

Vì thế thuyết kia đã nêu nhất định là không hợp lý. Do đấy đã nói: Vì pháp này là hữu lậu, nên gọi là thế gian. Vì nhập chánh tánh ly sinh, nên gọi là đệ nhất. Về lý là tốt.

Ở đây, như nhẫn phẩm thượng duyên nơi khổ đế thuộc cõi dục, tu một hành tướng, chỉ một sát-na, như như giảm lược về hành tướng, đối tượng duyên. Như thế, như thế dần dần kiến đế, nên pháp thế đệ nhất chỉ duyên nơi khổ của cõi dục. Tu một hành tướng, chỉ một sátna, tức nói ở phần vị vô gián nhập chánh tánh ly sinh, nên phần vị này quyết định không có lý cùng nối tiếp.

Nếu cho ở đây đã có xứ nêu bày, khởi thế đệ nhất sẽ nhập chánh tánh ly sinh, tức nên cùng nối tiếp, thì cũng không hợp lý. Vì nêu rõ nhập chánh tánh ly sinh nhất định là do đấy. Nghĩa là ý này là làm rõ các hành giả muốn nhập chánh tánh ly sinh, tất cả tất nên khởi pháp thế đệ nhất, nên nói như thế. Hoặc ở trong đây đã nói khởi, là hiển bày pháp thế đệ nhất ở phần vị chưa sinh, nên đến phần vị đã sinh thì nhập chánh tánh ly sinh, cũng không thể dẫn phần đã khởi kia để chứng minh pháp này là cùng nối tiếp.

Lại, nếu cùng nối tiếp thì đệ nhất không thành. Nghĩa là có hai nghĩa có thể gọi là đệ nhất: (1) Vì ở biên sau cùng của thân phàm phu, nên thí dụ như ngọn cây. (2) Hoặc trong pháp thế gian là tối thắng, nên thí dụ như sĩ phu hơn hẳn.

Dựa nơi hai lý này thì phần cùng nối tiếp là không thành, vì đối chiếu với sát-na sau, thì sát-na trước không phải là đệ nhất. Nghĩa là trước đối với sau, không phải là biên sau cùng, cũng không phải là hơn hết, vì sao gọi là đệ nhất?

Do đấy nên nói, mở cửa Thánh đạo, thì pháp này là hơn hết, nên gọi là đệ nhất. Hãy còn không có hai tâm cùng lúc mà khởi, làm đẳng vô gián duyên của Thánh đạo ban đầu, huống chi là có nhiều tâm, nên không có cùng nối tiếp.

Vì vậy Bản luận nói: Chỉ là một tâm. Vì sao? Vì nếu không phải là một, thì tâm sau đối với tâm trước là kém, bằng, hơn. Lại, kém là phi lý, vì chủ yếu là thời gian thắng tấn, vì nhập chánh tánh ly sinh nên bằng nhau cũng là phi lý, vì trước đã có chướng ngại, sau mới nên như thế. Sau nếu hơn, thì trước không phải là đệ nhất.

Trong đây, có vấn nạn về căn thiện noãn v.v…, cũng nên căn cứ theo căn thiện kia để suy tìm, nêu hỏi như thế. Vị noãn, đảnh, nhẫn, nếu nhiều tâm, thì tâm sau đối với tâm trước là kém, bằng, hơn?

Lại, kém là phi lý, vì không phải kém mà có thể nhập các vị như đảnh v.v… Bằng cũng là phi lý, vì trước không thể nhập, thì sau cũng nên như thế. Sau nếu hơn thì trước không phải là noãn v.v…

Vấn nạn kia là không đúng, vì đối với noãn, đảnh, nhẫn từng không có nói tiếng đệ nhất. Nghĩa là ở trong đây, tư duy, lựa chọn về đệ nhất. Tiếng kia là nói về một tâm, nhiều tâm, nhưng tiếng đệ nhất thì chỉ nói về hơn hết. Phần vị của tâm hơn hết có thể gọi là đệ nhất, hãy còn không nói là bằng nhau, huống chi là tâm kém. Trong noãn, đảnh, nhẫn không nói đệ nhất, đâu nhọc sức để xét chọn là kém, bằng và hơn.

Do các vị như noãn v.v… không có nói đệ nhất, có thể được tách ra làm phẩm hạ trung thượng. Vì có nhiều phẩm, nên có thể không phải là tâm. Pháp thế đệ nhất thì không chấp nhận như thế, vì tâm một sát-na của phẩm thượng thượng có thể nhập chánh tánh ly sinh, có thể gọi là đệ nhất, không phải là noãn, đảnh, nhẫn có khả năng nhập chánh tánh ly sinh. Vì thế không nên như thế đệ nhất. Suy tìm, nêu hỏi về noãn v.v…, chỉ ở nơi phẩm thượng thượng, được thừa nhận là đệ nhất, vì danh đã được hiển bày. Nghĩa là hệ thuộc cõi sắc có chín căn thiện: Hạ hạ, hạ trung, hạ thượng, gọi là noãn. Trung hạ, trung trung, trung thượng, gọi là đảnh. Thượng hạ, thượng trung, gọi là nhẫn. Thượng thượng gọi là pháp thế đệ nhất.

Sư kia lại nêu vấn nạn: Như noãn, đảnh, nhẫn, vì duyên nơi các đế, nên không phải chỉ một tâm. Pháp thế đệ nhất cũng duyên nơi nhiều đế, vì sao chỉ một tâm? Vấn nạn này cũng không hợp lý.

Sư kia không thấu đạt tông chỉ của luận này. Phàm muốn nêu đặt vấn nạn phải hiểu rõ tông chỉ của luận biết người kia đã thừa nhận điều gì mới có thể so sánh nêu hỏi. Không phải tông chỉ nơi luận của tôi đã thừa nhận pháp thế đệ nhất có thể duyên nơi nhiều đế để so sánh không thành. Lại, trong noãn v.v… tuy đều có đủ phẩm hạ, trung, thượng, từng không ở nơi các phẩm kia nói tiếng đệ nhất. Tiếng đệ nhất là nói về phẩm thượng thượng, vì phẩm thượng thượng chỉ là một sát-na. Nghĩa là trong ba thứ trước đều có phẩm thượng, nhưng không nói đệ nhất. Nên nói đệ nhất chỉ là phẩm thượng thượng. Do đấy, lý đệ nhất sát-na là thành.

Các Sư Đối pháp nêu bày như thế này: Vì là đẳng vô gián duyên của khổ pháp phẫn, nên lập một sát-na, gọi là pháp thế đệ nhất.

Có người nêu đặt vấn nạn: Thuyết này là không đúng, vì từng không có thuyết ấy. Vì không có lời nói sai biệt, nên loại khác làm duyên, trở thành lỗi lầm. Vì chỉ một sát-na là không thể nêu bày. Nghĩa là từng không có Thánh giáo, thuyết giảng thế này: Vì có thể làm đẳng vô gián duyên của khổ pháp nhẫn, nên lập một sát-na, gọi là pháp thế đệ nhất. Lại, các Thánh giáo không có lời nói sai biệt, chỉ có tổng tướng nói khởi pháp thế đệ nhất, sẽ nhập chánh tánh ly sinh. Tức ở đây có điều này.

Lại, nếu đệ nhất là đẳng vô gián duyên của khổ pháp nhẫn, tức không nên nói là loại khác cũng như noãn v.v… Nghĩa là như noãn v.v… có thể làm đẳng vô gián duyên của đảnh v.v…, không phải là loại khác như là đệ nhất. Nếu là đẳng vô gián duyên của khổ nhẫn thì không phải là loại khác. Nếu là loại khác, có thể làm đẳng vô gián duyên của khổ nhẫn, liền thành lỗi lầm.

Lại, vì nhiều vật hợp một thì dụng mới thành. Nếu một sát-na tức nên không thể tuyên nói là pháp thế đệ nhất, có thể làm đẳng vô gián duyên của khổ nhẫn, chỉ là nghĩa một sát-na đã thành lập.

Đối với lý đã thuyết như thế, tức nên từ bỏ, không nên đối đáp. Tuy nhiên, loại người ngu tối kia vì không hiểu rõ về chánh tông, nên ở trong nghĩa này đã cố sức nêu đặt vấn nạn. Nay vì xót thương loại người kia, nên lại lược mở bày, chỉ rõ. Cật vấn lại tông kia, so với đây là đồng. Lời nói tuy không riêng khác nhưng nghĩa đã thành, vì đẳng vô gián duyên thừa nhận là loại khác. Thừa nhận pháp kia lý thật là không thể nói. Nghĩa là cũng không có Thánh giáo thuyết giảng về niệm trụ v.v…, gọi là thế đệ nhất. Cùng thành tựu pháp này, tất không có lý đoạn dứt căn thiện, nên gọi là đệ nhất.

Tông kia vì sao nói như thế? Lại trong Thánh giáo, chỉ có tổng tướng là nói về việc khởi thế đệ nhất, sẽ nhập chánh tánh ly sinh, nghĩa đã hiển bày thành pháp thế đệ nhất, là đẳng vô gián duyên của khổ pháp nhẫn, do khổ pháp nhẫn là một phần của chánh tánh ly sinh nên nói pháp thế đệ nhất vô gián nhập chánh tánh ly sinh.

Các Sư Đối pháp vì khiến cho pháp đã nói dễ có thể hiểu rõ, nên đối với phần vị ly sinh, nêu lên sát-na đầu tiên, gọi là khổ pháp nhẫn. Tông kia cũng thừa nhận có khổ pháp nhẫn. Vì tông kia thừa nhận phần vị khổ pháp nhẫn có nhiều sát-na. Luận kia nói: Như pháp thế đệ nhất không phải chỉ một niệm. Khổ pháp nhẫn v.v… so sánh cũng nên như thế.

Hoặc tông kia chỉ thừa nhận ở phần vị ly sinh có nhiều sát-na, tức thừa nhận sát-na đầu tiên, dùng pháp thế đệ nhất làm đẳng vô gián, không phải tất cả sát-na ly sinh kia, có thể có lý một thời đều cùng sinh. Do đấy thuyết kia nói: Từng không có thuyết giảng, lời nói không có riêng khác, nên đều không hợp lý.

Lại, tông của tôi thừa nhận loại khác, cũng làm đẳng vô gián duyên. Về lý tất nên như thế, vì có các pháp cùng sinh là trái nhau, vì sinh kia tất do hỗ tương mở bày, lẫn tránh. Pháp trước là đẳng vô gián duyên của pháp sau, không phải cùng sinh là trái nhau, chỉ vì các đồng loại, nên dị loại cùng đối chiếu cũng làm duyên này.

Do đấy, nên biết hoặc nhiễm, không nhiễm, hữu lậu, vô lậu và cõi, địa v.v…, tâm tâm sở pháp của đồng loại, khác loại, lần lượt cùng làm đẳng vô gián duyên.

Đã như thế, thuyết kia còn nói: Nếu pháp thế đệ nhất là đẳng vô gián duyên của khổ pháp nhẫn, tức là không nên nói gọi là loại khác như noãn v.v…, là có lời nói, không có nghĩa. Lại tôi không nói pháp thế đệ nhất là có thể nói. Vì sao ở đây thừa nhận pháp thế đệ nhất có nhiều sát-na? Nhưng tông của tôi đã thừa nhận pháp thế đệ nhất thật sự là không thể nói. Nhưng nói gọi là thế đệ nhất, như nói về sát-na. Nghĩa là như sát-na thì thật sự là không thể nói, vì muốn lần lượt cùng khai thị, nên thế gian không phải không nói là sát-na. Nêu bày về pháp thế đệ nhất, nên biết cũng như thế. Nhưng thuyết kia đã nói chủ yếu là nhiều vật hợp làm một thì dụng mới thành.

Sự việc này cũng không nhất định, vì dụng có hai thứ: (1) Thế tục. (2) Thắng nghĩa.

Tức là giả thật thế tục. Một dụng dựa vào nhiều vật thành. Một dụng của thắng nghĩa dựa vào một vật thành. Pháp thế đệ nhất đã là thắng nghĩa, đâu thể nói là một dụng kia, chủ yếu là dựa vào nhiều vật thành. Vì thừa nhận trong đây thật sự là không thể nói, nên pháp thế đệ nhất chỉ là một sát-na. Do đấy đã nói là đẳng vô gián duyên của khổ pháp trí, lập một sát-na, gọi là pháp thế đệ nhất, về lý là khéo thành lập.

Nghĩa này đã rõ. Nay lại nên tư duy: Bốn pháp như noãn v.v… lấy gì làm thể?

Tự tánh của noãn v.v… đều lấy tuệ làm thể. Nếu cùng với trợ bạn thì đều thuộc về năm uẩn, nhất định đều cùng, tất có sắc tùy chuyển, nhưng loại trừ đắc kia. Chớ cho những căn thiện như noãn v.v… của các Thánh giả, lại hiện tiền lần nữa. Nhưng đã kiến đế thì không thừa nhận noãn v.v… lại hiện tiền. Người đã kiến đế, vì gia hạnh hiện tiền, nên pháp kia thành vô dụng.

Có Sư khác cho: Dựa nơi pháp phàm phu, không chấp nhận trong thân của Thánh giả hiện hành.

Có thuyết nói: Hai thứ này đều cùng không phải lỗi lầm. Đắc tuy thuộc về noãn v.v., nhưng như tánh phàm phu. Nghĩa là như tánh phàm phu là không đắc Thánh pháp, đắc Thánh pháp rồi thì tánh kia cũng hiện hành. Nhưng thể của noãn v.v… kia không phải thuộc về tánh phàm phu, vì không được tất cả Thánh pháp, mới gọi là tánh phàm phu. Đắc của noãn v.v… như thế, tuy là thể của noãn v.v…, nhưng không có lỗi hiện hành trong thân Thánh giả. Thể đều cùng sinh, nối tiếp không phải là thể, nên như các đắc vô lậu của quả Samôn. Nếu cho quả Sa-môn cùng nối tiếp, thì đắc cũng là quả Sa-môn. Không phải là dụ tức nên ở trong đạo quả hơn hẳn sau, có quả hiện tiền trở thành lỗi trái với tông. Vì tông được an lập trong tám Thánh giả, khi trụ nơi đạo quả vượt hơn thì đối với quả Sa-môn trước, thừa nhận đắc thành tựu, ngăn chận hành ở thân, nên chỗ thừa nhận của thuyết kia là có lỗi trái với tông.

Lại, tức nên quả, hướng đều cùng thời hiện hành, lập tám Thánh giả, tức không thành tựu. Trụ nơi quả, hướng sau, thì quả trước chỉ thành mà không hiện hành để có thể lập tám, nên cho các hướng sau, nói là quả của phần vị trước, không ở nơi thân hiện hành.

Vì ngăn chận quả hoàn toàn, ở nơi thân hiện hành, nên tạo ra thuyết này. Đắc tuy là quả, nhưng không phải là hoàn toàn. Nếu như phần vị sau hiện hành thì không có lỗi trụ nơi quả trước. Thuyết kia tức nên thừa nhận rốt cùng là không trụ nơi quả. Tức cuối cùng không có quả hoàn toàn, hiện hành ngay tức khắc.

Lại, vì đạo quả vượt hơn, không hoàn toàn hiện hành, nên cũng không có trụ nơi đạo quả thù thắng. Nhưng một phần của đạo quả thù thắng hiện hành, cũng được thừa nhận gọi là trụ nơi đạo quả thù thắng. Trụ nơi phần ít quả, so sánh cũng nên như thế.

Nếu cho trong định có đạo đã chứng đắc, thì ở phần vị xuất định, đạo kia không hiện hành, so với quả đâu có khác. Nhưng quyết định nói: Chỉ là trụ nơi hướng không phải là trụ nơi quả. Lại, người trụ nơi quả, khởi tâm hữu lậu, đạo quả không hiện hành, nên không phải là trụ nơi quả, vì không phải là quả hoàn toàn hiện tiền, hoặc nên cùng với quả kia lại cùng xét chọn.

Do đâu chỉ căn cứ theo Thánh đạo hiện hành để lập tám Thánh giả, không phải căn cứ theo sự thành tựu. Chớ cho hai Thánh trụ nơi quả, hướng cùng xen tạp. Không có lỗi như thế, vì nếu khi trụ nơi đạo quả thù thắng sau thì đạo quả ấy là hơn hẳn. Như vị Bí-sô tuy đã thành tựu luật nghi Cần sách, luật nghi Cận trụ, nhưng theo phần vượt hơn, chỉ gọi là Bí-sô, không phải là Cần sách v.v…

Tuy lập tám Thánh như thế cũng thành, nhưng căn cứ theo hiện hành để lập tám Thánh giả, thì chứng biết không phải khi trụ nơi đạo quả vượt hơn, vì quả không hoàn toàn hiện hành, nên không gọi là trụ nơi quả.

Do đấy, trước đã nói đối với tông là trái hại cùng tức nên quả, hướng, đều cùng thời hiện hành.

Hai thứ lỗi lầm này, thuyết kia nhất định không tránh khỏi.

Thế nên trước đã nói thể cùng sinh nối tiếp không phải là thể, thế nên các đắc như noãn v.v… trong thân Thánh giả tuy cũng hiện khởi, nhưng không có lỗi noãn v.v… hành trong thân Thánh, vì vậy ở đây lại biện.

Vì sao các đắc như noãn v.v… không phải là thể của noãn v.v… do đấy đã ngăn chận?

Có Sư khác nói: Chớ cho vì pháp thế đệ nhất có lỗi cùng nối tiếp, nên đắc nhất định không phải là thể của pháp thế đệ nhất. Lại có lỗi riêng. Nghĩa là ba vị như noãn v.v… vì cùng nối tiếp nên đắc, phải là thể của pháp thế đệ nhất kia. Hoặc không nên nói pháp thế đệ nhất là một sát-na, nên đắc không phải thể của pháp ấy.

Như thế thuyết kia đã nói lời có mà lý không. Nên phải bỏ thuyết ấy thâu nhận thuyết trước. Nghĩa là noãn v.v… đạt được như tánh phàm phu. Về lý là không nên như thế, vì thể của tánh phàm phu so với các Thánh pháp là rất trái nhau. Nên thể của noãn v.v… đạt được so với các Thánh pháp đều không trái nhau, vì sao thành so sánh? Do noãn v.v… đạt được là chung nơi thân Thánh. Tánh phàm phu đạt được thì không như thế, nên thuyết kia đã dẫn để so sánh là không cân xứng.

Lại, các đắc cùng nối tiếp của quả Sa-môn, tuy cũng thừa nhận là thể của quả Sa-môn, nhưng không có lỗi cùng xen tạp của tám Thánh vị, do các vị kia đã an trụ nơi đạo quả hơn hẳn. Quả gồm thâu pháp đã đạt được nhất định là không hiện hành. Người an trụ nơi quả thì thuộc về đạo quả vượt hơn, vì các pháp đã đạt được cũng không thành.

Nếu như vậy thì nên thừa nhận như khổ nhẫn v.v… Nghĩa là nên như khổ pháp trí nhẫn, tự tánh là tuệ. Nếu cùng với trợ bạn tức gồm cùng có được năm uẩn làm tánh. Khi khổ pháp trí v.v… hiện tiền, thì khổ pháp nhẫn kia đạt được, không gọi là khổ pháp nhẫn. Không như thế tức nên có lỗi cùng nối tiếp. Khi trí hiện hành tức nên tu nhẫn. Thể của hai thứ nhẫn, trí nên đều cùng hiện hành.

Như thế các đắc cùng sinh như noãn v.v…, tuy cũng gọi là thể của pháp noãn v.v…, nhưng khi pháp đảnh v.v… hiện tiền, thì noãn v.v… kia đã đạt được không gọi là noãn v.v… Không như vậy thì noãn v.v… là nhân của đảnh v.v…, cùng có lỗi như trước đã nói.

Như thế những điều đã nói cũng không có lý sâu xa, do loại tánh của pháp noãn v.v… là đồng. Ba vị noãn, đảnh, nhẫn là cùng nối tiếp. Nghĩa là trước đã nói: Hệ thuộc cõi sắc có chín căn thiện, phân làm noãn v.v…, do đồng loại nên cùng không trái nhau. Niệm sau khởi thì trước cũng không có lỗi. Lại, vị noãn, đảnh, nhẫn cùng nối tiếp là dài. Thể tuy đã diệt, nhưng đắc cùng nối tiếp khởi, gọi là noãn v.v…, điều này có lỗi gì?

Không phải pháp thế đệ nhất là một sát-na, nên đắc kia tức không phải là thể của pháp thế đệ nhất, vì so với loại tánh căn thiện khác là đồng. Thuận với phần quyết trạch vì tướng không khác.

Nếu đắc cùng sinh, cũng là thể của pháp thế đệ nhất kia, thì lý nào có thể ngăn chận đắc kia cùng nối tiếp?

Vì đắc sau không phải, nên đắc trước tức cũng không phải. Do đấy cực thành.

Nếu cùng với trợ bạn đều là tánh năm uẩn, nhưng trừ đắc kia.

Pháp noãn trong đây, lúc đầu tiên an trụ đủ ở trong ba đế, tùy thuận duyên nơi đế nào? Pháp niệm trụ hiện tại, tu vị lai bốn hành tướng tùy một. Hiện tại tu vị lai bốn, chỉ tu đồng phần, không phải là không đồng phần.

Duyên nơi diệt đế, pháp niệm trụ hiện tại, tu vị lai một, tùy theo một hành tướng, hiện tại tu vị lai bốn. Không phải đầu tiên quán uẩn diệt, có thể tu duyên nơi đạo uẩn. Phần vị tăng tiến sau ở trong ba đế, tùy duyên nơi đế nào? Tùy theo một niệm trụ hiện tại, tu vị lai bốn. Tùy nơi một hành tướng hiện tại, tu vị lai mười sáu.

Duyên nơi diệt đế, pháp niện trụ hiện tại, tu vị lai bốn. Tùy nơi một hành tướng hiện tại, tu vị lai mười sáu.

Đầu tiên an trụ đủ này chỉ tu đồng phần, tức trước chưa từng được chủng tánh như thế, vì ở trong các đế hành chưa rộng khắp. Sau phần vị tăng tiến so với đây là trái nhau, nên hành giả kia có thể tu đồng phần, khác phần.

Đầu tiên an trụ đủ của đảnh, ở trong bốn đế, tùy thuận duyên nơi đế nào? Pháp niệm trụ hiện tại, tu vị lai bốn. Tùy một hành tướng hiện tại, tu vị lai mười sáu. Sau phần vị tăng tiến ở trong ba đế, tùy thuận duyên nơi đế nào? Tùy một niệm trụ hiện tại, tu vị lai bốn. Tùy một hành tướng hiện tại, tu vị lai mười sáu.

Duyên nơi diệt đế, pháp niệm trụ hiện tại, tu vị lai bốn. Tùy một hành tướng hiện tại, tu vị lai mười sáu.

Đầu tiên an trụ đủ của nhẫn và sau là tăng tiến. Ở trong bốn đế, tùy duyên nơi đế nào? Pháp niệm trụ hiện tại, tu vị lai bốn. Tùy một hành tướng hiện tại, tu vị lai mười sáu.

Đây là dựa nơi tướng chung của loại nhẫn để nêu bày. Nói sai biệt: Tức là khi lược bỏ đối tượng duyên, tùy lược bớt đối tượng duyên của nhẫn, thì không tu hành tướng kia. Nghĩa là duyên đủ bốn, tu đủ mười sáu. Nếu duyên ba, hai, một, thì tu mười hai, tám, bốn.

Pháp thế đệ nhất duyên nơi khổ đế thuộc cõi dục, pháp niệm trụ hiện tại, tu vị lai bốn, tùy một hành tướng hiện tại, tu vị lai bốn, chỉ tu đồng phần, không duyên nơi đế khác. Pháp thế đệ nhất vì thế chỉ tu từng ấy hành tướng.

Có Sư khác cho: Vì gần với kiến đạo, vì giống với kiến đạo, nên chỉ tu từng ấy. Nghĩa là khổ pháp nhẫn chỉ duyên nơi khổ đế thuộc cõi dục, tu bốn hành tướng. Pháp thế đệ nhất cũng như thế.

Đã biện về thể, tướng của căn thiện đã sinh. Nay tiếp theo nên biện về nghĩa sai biệt của căn thiện kia. Tụng nêu:

Đây thuận phần quyết trạch

Bốn đều tu tạo thành

Sáu địa hai hoặc bảy

Dựa thân cõi dục chín.

Ba nữ, nam được hai

Nữ thứ tư cũng vậy

Thánh do mất địa xả

Phàm phu do mạng chung.

Đầu, hai cũng thoái xả

Dựa gốc, tất kiến đế

Xả xong đắc không trước

Hai xả tánh không đắc.

Luận nói: Pháp noãn, đảnh, nhẫn, thế đệ nhất, bốn căn thiện thù thắng, gọi là thuận phần quyết trạch. Do các phẩm hạ, trung, thượng và phẩm thượng thượng nên phân làm bốn thứ, như trước đã nêu.

Quyết, nghĩa là quyết đoán. Trạch, nghĩa là phân biệt, lựa chọn. Quyết đoán, phân biệt lựa chọn, nghĩa là các Thánh đạo. Vì các Thánh đạo có thể đoạn trừ nghi và có thể phân biệt tướng của bốn đế. Phần, nghĩa là phần đoạn, tức là kiến đạo, là lựa chọn một phần trong quyết trạch. Noãn v.v… là duyên dẫn đến phần quyết trạch. Vì thuận tăng ích nơi quyết trạch kia, nên được mang tên thuận với quyết trạch. Nên đây gọi là thuận phần quyết trạch.

Bốn thứ như thế đều do tu tạo thành, không phải do văn tư tạo thành.

Vì phần quyết trạch xa, nên bốn căn thiện này đều dựa vào sáu địa. Nghĩa là bốn tĩnh lự, vị chí, trung gian. Vì trong cõi dục không thiếu đẳng dẫn. Địa trên còn lại cũng không có quyến thuộc của kiến đạo.

Lại tâm của cõi vô sắc vì không duyên nơi cõi dục, tức cõi dục trước nên đoạn nhận biết khắp, vì ở trong ba cõi, cõi dục kia là rất thô.

Bốn căn thiện này có thể chiêu cảm dị thục của năm uẩn thuộc cõi sắc, làm nhân viên mãn. Vì không thể dẫn dắt chúng đồng phần, nên rất chán bỏ các hữu, vui thích viên tịch.

Tiếng hoặc là hiển bày về hai thứ, có thuyết khác. Nghĩa là hai pháp noãn, đảnh.

Tôn giả Diệu Âm nói: Dựa vào sáu địa trước và cõi dục là bảy địa.

Các Sư Đối pháp không thừa nhận thuyết kia. Vì không phải do văn, tư tạo thành thuận phần quyết trạch. Bốn căn thiện này đều dựa vào thân của cõi dục khởi. Chín xứ người, trời, trừ châu Bắc câu lô. Chỉ dựa vào chín thân của cõi dục, cùng nhập chánh tánh ly sinh. Trừ pháp thế đệ nhất của nhẫn tăng thượng, ba căn thiện còn lại, nơi ba châu đầu tiên khởi. Sau sinh nơi xứ trời cũng nối tiếp hiện tiền. Căn thiện đã trừ cũng dựa vào xứ trời đầu tiên khởi.

Có Sư khác cho: Nếu ở thời trước đã từng tu trị bốn gia hạnh này. Hành giả kia ở nơi xứ trời đều được đầu tiên khởi. Bốn căn thiện này chỉ dựa vào thân nam, nữ. Ba căn thiện trước, nam nữ đều cùng chung được hai. Căn thiện thứ tư thì nữ cũng được hai. Chớ cho về sau được thân nam, thì không thành noãn v.v… Dựa vào nam chỉ được căn thiện của thân nam. Thánh chuyển đến xứ khác sinh, cũng không làm nữ, nên phần vị noãn, đảnh, nhẫn chấp nhận có chuyển hình. Hai thứ dựa vào căn thiện, lần lượt làm tánh của nhân. Pháp thế đệ nhất dựa vào thân nữ, tức có thể làm hai nhân.

Nữ đắc Thánh xong, chấp nhận có lý chuyển được thân nam. Dựa vào thân nam chỉ làm một nhân. Vì đã được thân nữ phi trạch diệt. Thánh dựa vào địa này, được căn thiện này. Khi mất địa ấy, căn thiện mới xả bỏ.

Nói mất địa là chỉ rõ chuyển sinh làm phàm phu của địa trên. Đối với địa, hoặc mất, không mất, là chỉ mất chúng đồng phần, tất xả căn thiện này, do sức của kiến đạo nơi thân Thánh đã hỗ trợ.

Bốn căn thiện ấy không xả khi mạng chung. Vì sao nhận biết mạng chung xả, chỉ là phàm phu không phải là Thánh?

Vì Bản luận nêu rõ: Phàm phu trong noãn sinh, thai sinh chỉ thành tựu thân không thành thân nghiệp.

Há không phải là phàm phu, trước dựa vào địa dưới khởi pháp noãn v.v… Sau sinh lên địa trên, cũng tất định xả. Căn thiện như noãn v.v… không có lỗi như thế. Vì phàm phu kia, bấy giờ xả căn thiện, do chỉ xả đồng phần. Nghĩa là trụ nơi tử hữu, không có Thánh đạo hỗ trợ. Xả các căn thiện, không phải do trung hữu của địa trên cùng khởi. Nếu các Thánh giả trụ trong tử hữu, do Thánh đạo hỗ trợ nên không xả noãn v.v…, chỉ do trung hữu của địa trên cùng khởi. Xả căn thiện của địa dưới, khi xả tuy đồng nhưng nguyên do thì có khác. Thế nên phàm phu không có xả khi mất địa, Thánh giả tất không do mạng chung xả. Phàm phu mạng chung tuy xả pháp nhẫn, nhưng nhất định không bị đọa vào các nẻo ác, vì được phi trạch diệt sinh nơi nẻo ác. Thân là pháp nhẫn, từng đã cư trú, nên các nghiệp phiền não có thể chiêu cảm nẻo ác, không còn có thể ở trong thân hiện hành. Như hang của sư tử, thì nhiều thú khác không ở. Hai căn thiện đầu cũng do thoái chuyển nên xả.

Thoái chuyển nên xả như thế, là phàm phu, không phải là Thánh. Hai căn thiện sau, phàm phu cũng không có thoái chuyển nên xả. Dựa vào địa căn bản khởi các căn thiện như noãn v.v…, hành giả kia ở nơi đời này tất định được kiến đế. Do căn lanh lợi, nên chán lìa hữu sâu xa. Người dựa vào định vị chí, trung gian khởi noãn v.v…, ở nơi đời này, không hẳn được nhập kiến đế.

Có Sư khác nói: Người dựa vào định căn bản khởi noãn v.v…, thì nơi đời này tất định được đến Niết-bàn, vì đã chán lìa hữu sâu xa. Nếu trước xả rồi, thời gian sau lại được, thì chỗ đạt được bấy giờ tất không phải là phần trước đã xả. Do trước xả rồi, về sau khi được lại, cũng dùng nhiều công sức khó nhọc mới được khởi. Nên đối với phần trước đã xả thì không kính trọng. Như trước đã xả giới biệt giải thoát, về sau khi thọ lại, là được giới chưa từng được. Noãn v.v… cũng như vậy, về sau đạt được, không phải là phần trước đã xả. Nếu trước đã được các căn thiện như noãn v.v…, vì trải qua nhiều đời nên bỏ. Gặp phần vị hiểu rõ, là Sư khéo thuyết pháp, liền sinh đảnh v.v… Nếu không gặp thì trở lại tu từ gốc. Hai xả do thoái chuyển mất thì phi đắc làm tánh. Thoái chuyển nên xả, tất nhân nơi khởi lỗi mà được xả do mất.

Hoặc có người do đức tăng tiến, nên được bốn căn thiện này, có lợi ích thù thắng gì? Tụng nêu:

Noãn tất đến Niết-bàn

Đảnh trọn không đoạn thiện

Nhẫn không đọa nẻo ác

Đệ nhất nhập ly sinh.

Luận nói: Trong bốn căn thiện, nếu được pháp noãn, tuy có thoái chuyển đoạn trừ căn thiện, tạo nghiệp vô gián, bị đọa vào nẻo ác v.v…, nhưng lưu chuyển không lâu, tất đến Niết-bàn.

Nếu như vậy thì đâu có khác với thuận phần giải thoát?

Nếu không có chướng ngại, ngăn cách đến gần với kiến đế, thì noãn này cùng với hành tướng kiến đạo là đồng, là căn thiện thù thắng gồm thâu đẳng dẫn.

Nếu được pháp đảnh thì tuy có thoái chuyển v.v… mà thêm hoàn toàn không đoạn dứt căn thiện. Vì quán công đức thù thắng của Tam bảo là môn dẫn sinh tâm tín tịnh.

Nếu được đảnh rồi thì không đoạn căn thiện, vì sao kinh nói Đề-bà-đạt-đa đã thoái chuyển đảnh? Do người ấy đã từng khởi căn thiện gần với đảnh. Dựa vào chưa được mà thoái chuyển, mật ý nói như thế. Nếu được pháp nhẫn thì tuy mạng chung xả, trụ ở phần vị phàm phu, nhưng tăng không thoái chuyển, không tạo nghiệp vô gián, không đọa nẻo ác. Nhưng tụng chỉ nói câu: Không đọa nẻo ác. Về nghĩa là căn cứ theo phần đã biết, tức không tạo nghiệp vô gián. Vì người tạo nghiệp vô gián, tất đọa nẻo ác, nên phần vị nhẫn không có thoái chuyển, như trước đã biện. Người đắc nhẫn không bị đọa các nẻo ác, vì đã xa lìa nơi chốn hướng đến nghiệp phiền não kia, nên đạt được phi trạch diệt sinh nơi nẻo ác. Do sức của nhẫn phẩm hạ đã được không sinh nơi tất cả nẻo ác. Do sức của nhẫn phẩm thượng nên lại được không sinh như phần ít sinh v.v…

Phần ít sinh (Tứ sinh): Nghĩa là noãn sinh, thấp sinh. Do hai sinh này phần nhiều là ngu muội. Nói vân vân (Đẳng) là làm rõ về xứ thân, xứ hữu, hoặc. Nghĩa là trời Vô tưởng, Đại Phạm, châu Bắc. Trời Vô tưởng, Đại Phạm là xứ tà kiến. Châu Bắc câu lô thì không có hiện quán.

Thân, nghĩa là phiến dĩ (hai hình) có nhiều các phiền não. Hữu nghĩa là hữu thứ tám v.v…, Thánh tất không thọ nhận.

Hoặc, nghĩa là hoặc do kiến đạo đoạn, tất không còn khởi.

Đạt được pháp thế đệ nhất, tuy trụ nơi vị phàm phu, nhưng có thể hướng nhập chánh tánh ly sinh. Tụng tuy không nói lìa mạng chung xả, do đã vô gián nhập chánh tánh lý sinh, nên về nghĩa căn cứ theo đấy đã thành không có mạng chung xả.

Do đâu chỉ pháp thế đệ nhất này có thể nhập chánh tánh ly sinh?

Đã được phi trạch diệt về phàm phu, nên có thể như đạo vô gián, xả bỏ tánh phàm phu.

Bốn căn thiện này đều có ba phẩm. Do các chủng tánh như Thanh văn v.v… là riêng khác.

Tùy theo căn thiện của chủng tánh nào đã sinh, căn thiện kia có thể dời chuyển, hướng đến thừa khác chăng? Tụng nêu:

Chuyển chủng tánh Thanh văn

Hai thành Phật, ba khác

Lân giác Phật, không chuyển

Một ngồi nên thành giác.

Luận nói: Chưa gieo trồng thuận phần giải thoát của Phật thừa, dựa vào chủng tánh Thanh văn khởi căn thiện noãn, đảnh, chấp nhận có thể chuyển sinh noãn, đảnh của Phật thừa, là nghĩa trải qua thời gian dài mới có thể khởi. Nếu khởi nhẫn kia, không hướng đến Phật thừa, dùng gia hạnh của Thanh văn thừa thì rất lâu, tức trải qua sáu mươi kiếp, tự quả tất thành. Bồ-tát chuyên cầu sự nghiệp lợi tha, vì muốn cứu vớt vô biên hữu tình phát khởi, thệ nguyện rộng trang nghiêm, trải qua vô lượng kiếp, nên đi đến nẻo ác như đi dạo nơi vườn hoa. Nếu không như vậy, thì không có nghĩa thành Phật. Khởi nhẫn đạt được phi trạch diệt đối với tất cả nẻo ác. Khởi nhẫn kia, không hướng đến Phật thừa, tức đoạn dứt hẳn rất nhiều sự nghiệp lợi tha. Nếu thời ấy Bồ-tát đã gieo trồng thuận phần giải thoát của Phật thừa, vì nhằm ngăn chận nẻo ác, nên lần lượt gồm thâu vững chắc ba thứ thí, giới, tuệ. Bấy giờ, đã không nhọc sức khởi nhẫn của thừa khác, nên noãn, đảnh của Thanh văn có thể chuyển hướng đến Phật thừa. Khởi nhẫn thì không có nghĩa chuyển thành Phật. Dựa vào chủng tánh Thanh văn, khởi ba pháp noãn, đảnh, nhẫn, đều có thể chuyển sinh đạo của Độc giác thừa, không phải pháp nhẫn của chủng tánh Thanh văn đã sinh, đối với Bồ-đề Độc giác có nghĩa có thể làm chướng ngại, nên khởi nhẫn kia cũng thành Độc giác. Vì đây là ở ngoài Phật, nên tụng nói khác (Cuối câu tụng thứ hai). Khởi noãn, đảnh của chủng tánh Độc giác thừa, là có lý chuyển hướng đến thừa khác? Không phải như vậy.

Độc giác thừa gồm có hai hạng: (1) Lân giác dụ. (2) Trước là Thanh văn.

Nếu trước là Thanh văn, thì như nói về Thanh văn. Lân giác và Phật đều cùng không thể chuyển, do đều cùng một tòa ngồi, thành Bồ-đề. Tĩnh lự thứ tư là không khuynh động, vì là Tam-ma-địa hết sức sáng tỏ nhạy bén, có thể làm đối tượng nương dựa cho Lân giác đại giác, nên Phật và Lân giác kia đều cùng dựa nơi tĩnh lự thứ tư. Từ thân niệm trụ đến tận vô sinh, chỉ ở nơi một lần an tọa là có thể theo thứ lớp khởi. Nên Lân giác dụ và căn thiện noãn v.v… của chủng tánh Phật đều không thể chuyển.

Từng có đầu tiên gieo trồng thuận phần giải thoát, đời này tức có thể khởi thuận phần quyết trạch chăng?

Nếu không như vậy thì thế nào? Tụng nêu:

Trước thuận phần giải thoát

Chóng ba đời giải thoát

Văn, tư thành ba nghiệp

Trồng ở ba châu người.

Luận nói: Đời này khởi thuận phần quyết trạch: Nghĩa là ở đời trước tất khởi thuận phần giải thoát. Các hữu tình mới gieo trồng thuận phần giải thoát, thì nhanh chóng nhất là ba đời mới được giải thoát. Nghĩa là đời thứ nhất gieo trồng thuận phần giải thoát. Đời tiếp theo là thành thục. Đời thứ ba là khởi thuận phần quyết trạch, tức nhập Thánh đạo.

Nếu cho đời thứ hai khởi thuận phần quyết trạch, đời thứ ba nhập Thánh, cho đến đạt được giải thoát, thì thuyết kia nói liền cùng với thuyết trước là trái nhau. Nghĩa là hành giả dựa vào địa căn bản khởi noãn v.v…, thì hành giả kia tất ở nơi đời này được nhập kiến đế. Hoặc hành giả kia nên thừa nhận nhanh chóng nhất là hai đời. Nghĩa là đời thứ hai dựa vào địa căn bản, khởi noãn v.v…, thì hành giả ấy ở nơi hiện đời tất nhập Thánh đạo, được giải thoát. Thuận phần giải thoát là do văn tư tạo thành, không phải do tu tạo thành. Các hữu chưa gieo trồng thuận phần giải thoát, thì hành giả kia không thể gieo trồng. Thuận phần giải thoát dùng ba nghiệp làm thể, hơn hết chỉ là ý nghiệp của ý địa, vì nguyện lực của tư này đã gồm thâu phát khởi thân ngữ, cũng được gọi là thuận phần giải thoát.

Có khi do phần ít thí, giới, văn v.v…, liền có thể gieo trồng thuận phần giải thoát. Nghĩa là ý lạc thù thắng chí thành tương tục, chán bỏ sinh tử, vui thích Niết-bàn. Cùng với đây trái nhau, thì tuy phần nhiều tu thiện nhưng không thể gieo trồng thuận phần giải thoát. Do sự việc gieo trồng căn thiện này, thì ý nghiệp là hơn hẳn. Nên chỉ ba châu trong nẻo người là có thể gieo trồng. Vì trí tuệ chán lìa ở nơi xứ khác thì yếu kém. Có Phật ra đời, hoặc vào thời không có Phật, đều cùng có thể gieo trồng thuận phần giải thoát.

HẾT – QUYỂN 61