LUẬN A TỲ ĐẠT MA THUẬN CHÁNH LÝ
Tác giả: Tôn giả Chúng Hiền
Hán dịch: Đời Đường, Tam Tạng Pháp sư Huyền Tráng
Việt dịch: Cư sĩ Nguyên Huệ

 

QUYỂN 56

Phẩm thứ 5: BIỆN VỀ TÙY MIÊN, phần 12

Như thế là đã biện về việc đối trị các Hoặc. Do tu có thể đối trị, trong phần vị thắng tấn, các Hoặc đã đoạn là được đoạn lần nữa chăng? Phần lìa trói buộc đã đạt được có đạt được lần nữa chăng? Tụng nêu:

Các Hoặc không đoạn lại

Lìa buộc, có đắc nữa

Tức trị đắc quả sinh

Luyện căn trong sáu thời.

Luận nói: Các Hoặc đã đoạn do đạt được tự phần mình, vì đạo vô gián, nên tức thì đoạn trừ vĩnh viễn. Thời gian sau lìa thoái chuyển, không có nghĩa đoạn lại, vì đoạn rồi đoạn lại tức là vô ích.

Phần lìa trói buộc đã đạt được tuy không tùy theo lý của đạo dần dần thắng tấn, nhưng khi đạo tăng tiến, thì cùng có lý khởi lại chỗ đạt được hơn hẳn kia. Do lìa trói buộc đắc là thuộc về đạo, nên khi đạo xả bỏ đắc thì phần lìa trói buộc kia cũng xả đắc. Nên các thứ lìa trói buộc có lý đắc lại. Ở đây là dựa nơi chỗ chấp nhận có. Về thời gồm có sáu, nghĩa là: Trị, đạo, khởi, đắc, quả, luyện căn.

Nói câu đối trị sinh là nêu bày chung về hai nghĩa: Nếu căn cứ nơi trụ đối trị này, có công năng chứng đạt, gọi là đạo vô gián, Nếu căn cứ nơi trụ ở đây, có thể chứng đắc lìa trói buộc là nói về đạo vô gián. Nếu căn cứ nơi trụ ở đây chính thức chứng đắc lìa trói buộc là nói về đạo giải thoát. Nói đắc quả: Nghĩa là đắc các quả Dự lưu, Nhất lai, Bất hoàn, A-la-hán.

Nói luyện căn: Nghĩa là các căn tăng tiến. Do sáu thời này là được đạo chưa từng có, xả bỏ đạo đã từng được, chứng đắc lìa trói buộc, nên nói là đắc quả. Nói đã không có sai biệt, như thâu tóm bốn quả, tức nên thâu tóm luyện căn, do khi chuyển căn, tất được quả, đâu cần nhọc sức nhiều để nói câu luyện căn này? Vì làm rõ luyện căn là khác với đoạn Hoặc quả đắc. Nên ngoài đắc quả, nói luyện căn thì không lỗi. Nhưng đạt được lìa trói buộc, tùy theo đối tượng ứng hợp, có đủ sáu thời, cho đến chỉ hai. Nghĩa là hệ thuộc cõi dục do kiến bốn đế đoạn và hệ thuộc cõi sắc, vô sắc do kiến ba đế đoạn. Phần lìa trói buộc đã có được gồm đủ sáu thời. Nơi cõi sắc, vô sắc do kiến đạo đế đoạn, phần lìa trói buộc đã đạt được chỉ đủ năm thời. Do lúc đối trị sinh tức là đắc quả. Nói đắc quả xong, không nói là đối trị sinh. Tu đạo đoạn năm phẩm lìa trói buộc thuộc cõi dục, cũng năm thời đạt được, trừ quả Dự lưu. Đạt được lìa trói buộc của phẩm thứ sáu, chỉ có bốn thời, khi đắc quả do đối trị sinh, vì không có riêng khác, nên phẩm thứ bảy, thứ tám cũng chỉ có bốn thời, vì trong bốn thứ đắc quả, trừ hai quả trước. Đạt được lìa trói buộc của phẩm thứ chín, chỉ có ba thời, cũng khi đối trị sinh, tức là đắc quả. Trong đối tượng đoạn của tu đạo thuộc cõi sắc, vô sắc, chỉ trừ lìa trói buộc của phẩm thứ chín nơi xứ Hữu đảnh. Phần lìa trói buộc còn lại cũng chỉ có ba thời. Vì trong bốn thứ đắc quả, đã trừ ba thứ trước. Nên đắc phẩm thứ chín của xứ Hữu đảnh chỉ có hai thời, do đắc quả từ đối trị sinh là đồng một thời. Ở đây là căn cứ theo căn độn chậm để nói. Nếu căn cứ theo căn lợi nhanh thì trong các phần vị trước đã trừ chỗ đạt được do luyện căn.

Há không phải là tám địa đã chấp nhận do đạo thế tục đoạn, nên chia làm hai thứ, khi đối trị sinh thì đạt được không như vậy.

Ở đây là nói đạt được dần dần. Hoặc ở đây chỉ căn cứ theo vô lậu đạt được. Nếu dựa nơi chỗ vượt thứ lớp thì chung nơi hữu lậu đạt được. Tức trong tám địa nhiễm của đạo thế tục, tùy theo đấy lìa ít nhiều. Người nhập Thánh đạo thì đạt được lìa trói buộc, tùy theo đối tượng ứng hợp đều có đủ sáu thời, cho đến chỉ một thời. Do lợi căn nên trừ thời luyện căn. Nghĩa là trong cõi dục trước hết là đoạn trừ năm phẩm, do người đã nhập kiến đế. Năm phẩm lìa trói buộc do kiến đạo kia đoạn, là gồm đủ sáu thời. Nghĩa là có hai thứ thời của tự đối trị sinh và thời đắc quả, nên bốn thành sáu. Năm phẩm lìa trói buộc do tu đạo đoạn chỉ có năm thời đạt được trừ quả Dự lưu. Người nhập kiến đế trước đoạn sáu phẩm. Nghĩa là sáu phẩm lìa trói buộc do kiến đạo kia đoạn, cũng là năm thời đạt được trừ một như trước. Sáu phẩm lìa trói buộc do tu đạo kia đoạn, chỉ đạo thế tục khi đối trị sinh thì đạt được, tất không khởi đối trị vô lậu kia, là thuộc về đạo của hướng, quả Nhất lai,. Không phải khi trụ nơi quả khởi đạo hướng quả kia, vì trụ nơi quả hơn hẳn, không khởi pháp thua kém. Trước đoạn tám phẩm do người nhập kiến đế, tám phẩm lìa trói buộc do kiến đạo kia đoạn cũng có năm thời đạt được, trừ một như trước. Sáu thứ lìa trói buộc trước do tu đạo kia đoạn, chỉ có một thời đạt được như trước, nên biết. Bảy, tám thứ lìa trói buộc chỉ có bốn thời đạt được. Nghĩa là hai đối trị sinh và hai đắc quả. Trước đoạn chín phẩm, dựa vào địa vị chí nhập kiến đế. Nghĩa là chín phẩm lìa trói buộc do kiến đạo kia đoạn, cũng có bốn thời đạt được như trước, nên biết. Dựa vào địa căn bản, nhập kiến đế, là chín phẩm lìa trói buộc do kiến đạo kia đoạn, cũng chỉ một thời đạt được như trước, nên biết. Căn bản không phải là đối trị đoạn nơi cõi dục. Nếu dựa vào vị chí, hoặc dựa nơi căn bản, thì chín phẩm lìa trói buộc do tu đạo kia đoạn, cũng chỉ một thời đạt được như trước nên biết. Tất không khởi đối trị vô lậu kia, vì thuộc về đạo của hướng, quả Bất hoàn. Trước đoạn bảy địa trên nhập kiến đế, là kiến ba đế kia đoạn trừ bảy địa, lìa trói buộc cũng có bốn thời đạt được như trước nên biết. Kiến đạo đế đoạn trừ bảy địa lìa trói buộc, chỉ có ba thời đạt được. Nghĩa là một đối trị sinh và hai đắc quả. Đối trị vô lậu sinh, tức là đắc quả. Bảy địa lìa trói buộc do tu đạo kia đoạn, chỉ có ba thời đạt được, là hai đối trị sinh và một đắc quả. Người lìa đủ tám địa nhập Thánh đạo, trong phần vị kiến đạo, tu đạo đã đoạn trừ Hoặc của xứ Hữu đảnh. Kiến ba đế đoạn trừ lìa trói buộc có ba thời. Nghĩa là một đối trị sinh và hai đắc quả. Kiến đạo đế đoạn trừ lìa trói buộc chỉ có hai thời, do khi đối trị sinh, tức là đắc quả. Tu đạo đoạn trừ tám phẩm lìa trói buộc chỉ có hai thời. Nghĩa là hai đối trị sinh và một đắc quả. Lìa trói buộc thứ chín được đoạn chỉ có một thời đạt được, do khi đối trị sinh, tức là đắc quả. Các phần lìa nhiễm trong phần vị kiến đạo, tu đạo tiến tới đoạn các thứ còn lại, căn cứ theo đây nên nói. Do nhân nào khi chứng đắc quả sau, lại được thời gian trước đã đoạn lìa trói buộc? Là do chí giáo. Nghĩa là trong Khế kinh đã dựa nơi lúc chính thức chứng đắc quả A-la-hán, nói câu như thế: Nên nhận biết như thế, nên thấy rõ như thế. A-la-hán kia từ tâm dục lậu đạt được giải thoát, cho đến nói rộng. Do trong phần vị này cũng đạt được đối trị do nhàm chán cùng pháp trí vô học, thuộc cõi dục, biết được chỗ lìa trói buộc kia cũng nên đạt được trở lại. Trước nói đoạn dứt sáu phẩm, chín phẩm thuộc cõi dục, nhập kiến đế, người kia trước do tu đạo đoạn sáu phẩm, chín phẩm lìa trói buộc. Không có vô lậu đạt được, là vĩnh viễn không đạt được hay là tạm thời không đạt được?

Nên quyết định nói người kia vĩnh viễn không đạt được.

Há không phải chứng đắc A-la-hán, lúc ấy tất đạt được các vô lậu đắc của tất cả lìa trói buộc, do kiến đạo tu đạo đoạn nơi thời trước. Nếu đã đoạn lìa trói buộc nơi thời trước kia, thì có vô lậu đắc, thời nay xả. Nghĩa là đối với người kia (A-la-hán) nay nên đạt được vô lậu đắc. Nếu trước không có, thì thời nay cũng không có. Khi đắc lìa trói buộc, chỉ là tự đối trị khởi. Và khi bỏ đạo kém, được pháp hơn, nên các hữu tình trước hết dựa nơi tĩnh lự căn bản, nhập kiến đế, khi được vô học, đâu thể từ tâm dục lậu đạt được giải thoát. Căn cứ nơi người dựa vào vị chí, nhập kiến đế và theo thứ lớp để nói, nên không có lỗi.

Hoặc các vị chứng đắc A-la-hán, nhất định được quả vô học thuộc về phẩm pháp trí. Đối trị do nhàm chán, vì đấy nên thường có thể nhàm chán cõi dục, khiến kiết của cõi dục không còn khả năng trói buộc.

Dựa vào đấy nên mới nói A-la-hán kia từ tâm dục lậu đạt được giải thoát. Do đó tức giải thích Khế kinh đã nói: Quả A-lahán đã vĩnh viễn đoạn trừ giận dữ, căn cứ theo nhàm chán, kinh kia nói là đoạn.

Nếu như vậy thì vì sao dẫn Khế kinh này để khi chứng quả sau đạt được phần lìa trói buộc trước?

Kinh nói từ tâm dục lậu đạt được giải thoát, tức có đủ hai nhân, vì có một nhân. Nghĩa là đối với dục, lìa trói buộc đạt được. Vô lậu đạt được vì có hai nhân, nên nói tâm giải thoát dục lậu.

  1. Đắc quả vô học kia là lìa trói buộc đạt được.
  2. Đắc quả vô học kia là từ đối trị do nhàm chán.

Nếu không đắc thì chỉ do một nhân, nên nghĩa của Khế kinh này đều thành lập. Về nghĩa lý trong kinh này, như trước đã biện.

Lại, vì sao nhận biết đắc quả A-la-hán là đã lìa trói buộc nơi hai cõi? Tất xả bỏ học đắc để đạt được vô học đắc không phải là cõi dục chăng?

Quả vị học nhất định nên trước hết phải đắc lìa trói buộc kia. Nghĩa là nếu như trước lìa nhiễm của xứ vô sở hữu, khi tùy thuận nương dựa nơi địa nào nhập kiến đế, tất đạt được đối trị đoạn vô lậu, đã đoạn trừ các kiến của hai cõi. Đối tượng đoạn của kiến đạo kia là một đối trị đoạn, đã đoạn tức khắc. Nên khi kiến đạo của địa trên hiện ở trước, tất vì tu đạo của địa dưới ở vị lai, nên tĩnh lự biến khắp của địa dưới có thể làm đối trị đoạn của địa trên.

Há không phải là đã lìa nhiễm của xứ vô sở hữu, dựa vào định thứ ba khi cùng nhập kiến đế, nên tu kiến đạo của địa trên ở vị lai, đồng là đối trị đoạn xứ Hữu đảnh. Không như vậy thì người chưa lìa nhiễm của địa này, tức khi dựa vào địa này để nhập kiến đế, thì kiến đế của tự địa và các địa trên đã đoạn, khi kiến mỗi mỗi đế, tức có thể đoạn trừ tức khắc. Như có người chưa lìa nhiễm của định thứ tư, khi dựa vào định thứ tư để nhập kiến đế, thì đoạn trừ tức khắc nhiễm của năm địa do kiến đạo đoạn. Cho đến chưa lìa nhiễm nơi tĩnh lự thứ nhất, khi dựa vào tĩnh lự thứ nhất để nhập kiến đế, thì đoạn trừ tức khắc nhiễm của tám địa do kiến đạo đoạn. Vì địa trên từng không có đoạn nhiễm của địa dưới, nên không phải tĩnh lự thứ tư cùng với tĩnh lự thứ ba, pháp đã đối trị tất cả đều đồng. Do đấy, đã lìa nhiễm của tĩnh lự thứ ba, khi dựa vào tĩnh lự thứ ba cùng nhập kiến đế, tuy địa trên có thể đối trị tự địa và địa trên nhưng không phải cùng với đối tượng đối trị của địa dưới, là luôn đồng. Thế nên dựa vào địa dưới thì không thể tu địa trên. Các phần vị phàm phu dùng đạo thế tục để đoạn trừ các thứ nơi đối tượng đoạn của kiến đạo, lìa trói buộc hiện có chỉ do uy lực của kiến đạo nơi địa dưới, đối với tự địa và địa trên thì vô lậu đắc khởi. Nghĩa là dựa vào kiến đạo của địa trên hiện tiền, tất tu kiến đạo của địa dưới ở vị lai. Do uy lực của kiến đạo nơi địa đó, nên lìa trói buộc của địa dưới, đạt được vô lậu đắc, vì không phải là địa trên. Do đấy, quả vị hữu học nhất định nên thuộc khắp về cõi sắc, vô sắc. Kiến đạo đoạn lìa trói buộc đắc là vô lậu đắc không phải cõi dục, lý đó được thành. Cõi dục chỉ do kiến đạo của địa vị chí đã đoạn.

Há không phải nên như định thứ tư v.v… không phải là đối trị địa dưới của định thứ ba v.v…?

Nhưng kiến đạo của định thứ tư hiện tiền tức có thể tu tất cả kiến đạo thuộc về địa dưới ở vị lai. Do sức của đạo kia nên đối với chỗ lìa trói buộc do kiến đạo đoạn của các địa dưới đã đạt được vô lậu đắc.

Như thế, căn bản tuy không phải là đối trị cõi dục, nhưng kiến đạo của địa căn bản hiện tiền, tức nên tu tất cả kiến đạo thuộc về địa vị chí ở vị lai. Do sức của đạo kia, tức nên ở nơi lìa trói buộc thuộc cõi dục do kiến đạo đoạn đạt được vô lậu đắc.

So sánh này không cân xứng. Kiến đạo có hai: (1) Đối trị cõi dục. (2) Đối trị cõi trên.

Đối trị cõi dục có ba. Nghĩa là đối trị do đoạn, đối trị do nhàm chán và đối trị phần xa. Đối trị cõi sắc, cõi vô sắc có ba thứ cũng như vậy.

Trong ba thứ đối trị cõi dục, thứ nhất là đối trị do đoạn, chỉ thuộc về địa vị chí, hai đối trị còn lại thì chung cho cả sáu địa.

Ba thứ đối trị hai cõi trên đều chung nơi sáu địa, nhưng kiến đạo của đối trị do đoạn nơi hai cõi trên, chỉ có thể đối trị nhiễm của tự địa và địa trên. Kiến đạo của đối trị còn lại cũng đối trị địa dưới. Địa trên tuy không phải đối trị do đoạn của địa dưới, nhưng khi kiến đạo của địa trên hiện ở trước, thì tu khắp kiến đạo của địa dưới ở vị lai, vì địa dưới cùng với địa trên là đồng đối tượng đối trị. Nên không có kiến đạo của đối trị do đoạn nơi cõi dục, có thể cùng với căn bản đồng một đối tượng đối trị. Có thể khiến kiến đạo của địa căn bản hiện ở trước, tức có thể tu kiến đạo của đối trị do đoạn, là pháp của cõi dục do kiến đạo đoạn, thuộc về địa vị chí ở vị lai.

Do sức của đạo kia, nên có thể ở nơi lìa trói buộc do kiến đạo đoạn thuộc cõi dục đã đạt được vô lậu đắc. Nên thuyết kia đã dẫn để so sánh không cân xứng. Các đối trị phần xa, đối trị do nhàm chán nơi cõi dục của địa căn bản, ba thứ đối trị của cõi sắc, cõi vô sắc, khi kiến đạo hiện ở trước, tức trở lại tu vị lai thuộc địa vị chí.

Như thế, hai thứ, ba thứ đối trị không phải do vị lai, vì sức của đối trị phần xa đối trị do nhàm chán nơi cõi dục, liền ở nơi lìa trói buộc thuộc cõi dục do kiến đạo đoạn đã đạt được vô lậu đắc. Chỉ do sức của đối trị do đoạn, là có thể đoạn trừ trói buộc đã có được, nên các kẻ lìa dục trước, nếu dựa vào định vị chí nhập kiến đế, thì kiến đạo của các thứ đối trị phần xa, đối trị do nhàm chán nơi cõi dục, khi hiện ở trước tức cũng tu vị lai, theo đối trị do đoạn nơi cõi dục, đạo của địa đối trị do đoạn nơi cõi dục đang hiện ở trước.

Do lý như thế, nên không phải người trước lìa dục nhập kiến đế, đều ở nơi lìa trói buộc của cõi dục do kiến đạo đoạn đã đạt được vô lậu đắc. Các người trước đã lìa dục nhập kiến đế, cuối cùng không có chấp nhận lìa trói buộc hiện có nơi cõi dục do tu đạo đoạn đã đạt được vô lậu đắc. Vì vị chí thâu tóm do tu đạo đoạn nơi cõi dục, đối trị do đoạn gồm thâu tu đạo vô lậu, hiện tiền ở trong thân của quả Bất hoàn và tu vị lai đều cùng phi lý, vì lý không chấp nhận có quả Bất hoàn ở trong thân, mà có đạo của hai hướng Nhất lai, Bất hoàn. Nên các hữu tình trước đã lìa nhiễm của xứ vô sở hữu, nhập Thánh đạo, chỉ trừ Bồ-tát, số còn lại cũng nhất định ở nơi lìa trói buộc của hai cõi, tất cả do tu đạo đoạn đạt được vô lậu đắc. Hành giả kia tất đều ở nơi đạo của tự quả thù thắng thuộc hai cõi do tu đạo đoạn đã hiện tiền khắp.

Nghĩa lý như thế do gì để chứng biết?

Nói Thánh giả sinh nơi tĩnh lự thứ tư, các địa trở lên nhất định thành tựu lạc căn. Và nói Thánh giả sinh ở cõi vô sắc, nhất định tham hữu sắc đều dứt hết, vì đoạn nhận biết khắp đã đạt được.

Bồ-tát do đâu không cũng như thế?

Không do tất cả công đức của gia hạnh có thể hiện ở trước, nên như định diệt v.v… Nghĩa là hàng Thanh văn, Độc giác không có công sức tự tại, có thể vượt qua gián đoạn, khởi các đạo đối trị, muốn chứng đạo sau, tất nhờ ở đạo trước, do là gia hạnh mới có khả năng chứng. Bồ-tát cũng có công sức vượt khởi, vì ở trong các pháp cùng liên tiếp đã được gia hạnh rộng của trí thù thắng.

Nếu như vậy thì Bồ-tát nên ở trong kiến đạo, không khởi phẩm Pháp trí, chỉ khởi phẩm Loại trí, vì nhân đồng với trước, nên không có sự việc như thế. Ở nơi uẩn sắc, vô sắc có trí vô ngã sinh, tất do có chấp thọ uẩn nơi trí vô ngã làm trước. Hoặc địa của nghiệp đầu tiên ở nơi phẩm pháp loại, theo thứ lớp trong quán, từng tận lực hành tập xuyên suốt. Tiếp sau là quán khổ theo pháp thế đệ nhất có hiện quán khổ, kiến đạo nối tiếp sinh, vì tất cả đều tự nhiên khởi như trước. Hoặc ở phần vị phàm phu từ vô thủy đến nay, thường do thế gian có trí lừa dối, khi dể, quán sát khổ, tập, diệt, đạo nơi cõi dục, cõi sắc, nên tuy đã đoạn Hoặc của hai cõi dục, sắc do kiến đạo đoạn, là dùng trí không có lừa dối của xuất thế, trở lại quán sát khắp. Bồ-tát cũng tu đạo đối trị kia, các thứ lìa nhiễm ở trước, tùy theo chỗ ứng hợp, về sau kiến đạo sinh, đến phần vị trụ quả, chương ngại của đạo quả thù thắng thì trước đã trừ, nên được đạo quả thù thắng này thì có lỗi gì?

Thừa nhận nghĩa như vậy, tức là khéo thông hợp phẩm mười môn, nêu rõ cũng là khéo an lập. Cho Bồ-tát thành tựu tu đạo đoạn trừ phẩm hạ, lý vô vi không nên như thế. Lại, người trụ nơi quả đạt được không phải đạo quả là trái với Tỳ-bà-sa. Không phải khi trụ nơi quả chưa hướng đến quả sau, có thể có nghĩa đã được không phải đạo quả. Lại, về lý tất nhiên không phải ở phần vị đối trị do đoạn này hiện ở trước, vì sao do vị kia có thể đạt được đạo đối trị do đoạn này ở vị lai. Lại, nhận thấy kẻ bị trói buộc đủ dần dần đắc quả. Về sau khi thành tựu đạo quả thù thắng, đạo thuộc về quả, tất không hiện hành. Các người trước đã lìa nhiễm, đến khi đắc quả, nếu có cũng đạt được lý của đạo quả vượt hơn thì quả kia thâu tóm đạo, nên vĩnh viễn không hiện hành. Lại, không phải trụ nơi xứ Hữu đảnh, do kiến đạo đế đoạn, khi đối trị do đoạn, cũng có đạt được lý của đối trị đoạn, do các thứ tu đạo đoạn nơi cõi dục. Lại, khi các người đạt được đạo quả thù thắng, tùy theo chỗ ứng hợp, cũng đạt được các đạo thế tục, vì đạo thế, xuất thế là cùng hệ thuộc. Nếu trước lìa nhiễm, tùy theo chỗ thích ứng, về sau kiến đạo sinh, đến phần vị trụ quả, tất cũng đạt được đạo quả thù thắng. Nghĩa là khi đắc quả Dự lưu, nên tu tục trí, vì đồng đối trị, nên đồng lìa chướng. Do đấy, tôi nói đạt được lìa trói buộc hợp giáo, thuận lý, là khéo an lập. Tức các người lìa trói buộc, ở trong phần vị của mỗi quả kia, được nhận biết khắp, gọi là tùy theo phần hơn để lập. Nhận biết khắp có hai:

(1) Nhận biết khắp do trí. (2) Nhận biết khắp do đoạn.

Nhận biết khắp do trí: Thể tức là tuệ.

Có thuyết nói: Đây là chung cho hữu lậu, vô lậu.

Tuệ hữu lậu: Nghĩa là trừ tác ý thắng giải tương ưng, phần còn lại là phân biệt về pháp tánh của thế gian, có thể nhận lấy tự tướng, cộng tướng của các pháp. Do văn, tư tạo thành cùng noãn, đảnh, nhẫn, pháp thế đệ nhất v.v… là tuệ do tu tạo thành.

Tuệ vô lậu: Nghĩa là tuệ của kiến đạo, tu đạo, vô học đạo xuất thế gian. Tuệ hữu lậu trước thuận với trí vô lậu, vì tánh hiện quán, nên cũng gọi là nhận biết khắp. Như Khế kinh nói: Khi ta hành tư duy như lý như thế, hiện quán thật sinh, liền nhận biết già chết do sinh nên có. Lại nói: Đối với một pháp, chưa thấu đạt, chưa nhận biết khắp, Ta nói là không thể tạo ra biên vực tận cùng của khổ, vì không phải tuệ vô lậu nhận biết khắp về tất cả pháp. Nên trí nhận biết khắp cũng chung nơi tuệ hữu lậu. Chỉ tuệ vô lậu là trí nhận biết khắp, là ý chính trong tông của tôi đã thừa nhận. Như nói: Vì đối với pháp chưa hiện quán, khởi hiện quán, nên tư duy nhận lấy uẩn, không phải do văn v.v… tạo thành tuệ thế tục có thể chứng đắc quả Dự lưu đến quả A-la-hán để nói là quả Dự lưu v.v… do chín căn đạt được.

Lại, trong Khế kinh Chuyển Pháp Luân đã nói: Vì tuệ vô lậu nhận biết khắp về khổ v.v…, nên biết đây tức là vị tri đương tri căn.

Nhưng Bồ-tát nói: Hiện quán thật sinh, nghĩa là tuệ ở thế gian, giả lập danh xưng hiện quán, vì hành tướng kia chuyển biến giống như hiện quán. Nói đối với một pháp chưa thông đạt v.v… Nghĩa là dựa nơi pháp này, nếu chưa nhận biết khắp, chướng khổ đã cùng tận, nên mật nói thì không lỗi. Vì thế nhất định tuệ vô lậu mới được mang tên nhận biết khắp.

Nhận biết khắp do đoạn: Thể tức là lìa trói buộc (Ly hệ), là có khả năng nhận biết khắp, nên gọi là nhận biết khắp.

Là tên gọi khác của trí, vì sao gọi là đoạn? Vì là quả của trí này, nên như nghiệp (nhân) nhưng hiểu là quả. Nghĩa là như Khế kinh nói: Sáu xứ gọi là nghiệp, là quả của nghiệp. Lại nêu: Vô vi nên quả gọi là giải, là quả của giải. Như thế nhận biết khắp gọi là đoạn, không có lỗi.

Nếu như vậy thì quả của nhẫn tức nên không phải là nhận biết khắp?

Sư Tỳ-bà-sa giải thích như thế này: Các nhẫn đều là quyến thuộc của trí, nên ở nơi đối tượng tạo tác của nhẫn, lập tên trí tạo tác. Như công việc của quan làm, cũng được gọi là việc làm của vua.

Có Sư khác giải thích: Các đạo giải thoát đối với đối tượng đoạn trừ đã đạt được cũng có công năng, do ở nơi đoạn dứt đạt được ấy đã có thể nhận giữ, khiến các thứ trói buộc có được không còn sinh nữa. Do đấy quả của nhẫn có nghĩa quả của trí.

Giải thích này không hợp lý, vì nói về các thứ đoạn trừ chỉ là các đạo vô gián. Vì quả sĩ dụng, quả ly hệ, hoặc đẳng trì kim cang dụ đều tương ưng với vô lậu. Sức của trí thông sáng, có khả năng tập hợp chung các đoạn, vì ly hệ vô lậu đã đạt được, nên bấy giờ, quả của nhẫn cũng thành quả của trí. Dần dần đắc quả, là cùng được quả Nhất lai, Bất hoàn là nhẫn. Vô vi đã thành quả của trí.

Thừa nhận ba thứ như thân kiến v.v… là thuận với kiết phần dưới đã vĩnh viễn đoạn trừ. Vì vô vi gọi là quả của trí, nên nêu rõ ba pháp còn lại là quả của trí. Là mỗi mỗi đạo đoạn trừ đã đạt được lìa trói buộc, mỗi thứ đều lập một nhận biết khắp. Hay là tất cả đạo đoạn trừ đã đạt được lìa trói buộc lập chung một nhận biết khắp?

Cả hai đều cùng không đúng, vì có lỗi rất rộng, rất lược.

Nếu như vậy thì thế nào? Tụng nêu:

Đoạn biết khắp có chín

Dục một, hai đoạn một

Hai đều một, hợp ba

Cõi trên ba cũng thế

Còn năm thuận phần dưới

Sắc tất cả đoạn ba.

Luận nói: Các đoạn lập chung chín thứ nhận biết khắp. Chỉ lập chín duyên như phần sau sẽ biện. Những gì gọi là chín thứ nhận biết khắp? Lại như phiền não v.v… hệ thuộc ba cõi do kiến đế đoạn, đoạn lập sáu thứ nhận biết khắp. Nghĩa là hai bộ đầu thuộc cõi dục về đoạn lập một thứ nhận biết khắp. Nói hai bộ đầu, tức là làm rõ do kiến khổ và kiến tập đoạn trừ. Hai bộ tiếp theo về đoạn, mỗi bộ đều lập một thứ nhận biết khắp. Nói hai bộ tiếp theo là nêu rõ do kiến diệt, kiến đạo đoạn. Như cõi dục có ba, thì hai cõi trên cũng như thế. Nghĩa là thuộc về hai cõi sắc, vô sắc, cũng hai bộ đầu về đoạn lập một thứ nhận biết khắp. Hai bộ tiếp theo mỗi bộ đều lập một thứ nhận biết khắp hợp là ba (cõi dục ba là sáu). Còn lại do tu đạo đoạn ở ba cõi, các phiền não v.v… được đoạn, lập ba thứ nhận biết khắp. Nghĩa là đoạn trừ phiền não v.v… hệ thuộc cõi dục do tu đạo đoạn lập một thứ nhận biết khắp. Nên biết tức là năm kiết thuận phần dưới, đều nhận biết khắp hết và đã lập trước. Đoạn trừ phiền não v.v… thuộc cõi sắc do tu đạo đoạn lập một thứ nhận biết khắp. Nên biết đây tức là đều nhận biết khắp về sắc ái. Đoạn trừ phiền não v.v… thuộc cõi vô sắc do tu đạo đoạn lập một thứ nhận biết khắp, tức tất cả kiết vĩnh viễn đều nhận biết khắp. Nhận biết khắp này cùng với trước hợp lập làm một. Nên ba thứ này và sáu thứ trước gồm lập làm chín thứ nhận biết khắp.

Như trong kiến đạo, chỉ phiền não v.v… do kiến đạo đoạn trừ, thì được mang tên nhận biết khắp. Như thế, trong tu đạo cũng chỉ do tu đạo đoạn không là một. Chỉ do tu đạo đoạn hai chung cho kiến, tu.

Đã nói về cùng với trước mà kiến lập. Sẽ nói về hai thời tập hợp nhận biết khắp. Nếu khác với đây thì không nên nói. Năm kiết thuận phần dưới hết là nhận biết khắp hết tất cả.

Vì nhân duyên gì nơi hai cõi sắc, vô sắc kiến đoạn, pháp đoạn hợp lập làm nhận biết khắp? Còn trong phần đoạn trừ do tu đạo đoạn đều kiến lập riêng? Như đối trị khởi mà kiến lập. Nghĩa là như các uẩn của cõi sắc là vô ngã, thì các uẩn của cõi vô sắc là vô ngã cũng như thế, do kiến đạo đoạn kia không có sự đồng, vì không phải thân đều cùng có, nên đối trị cũng đồng. Như đẳng chí trong vô sắc là thù thắng, còn đẳng chí của cõi sắc thì không như thế. Tu đạo đoạn kia vì có sự riêng nên đối trị không đồng, vì thế đã lập riêng.

Như vậy là đã lập chín thứ nhận biết khắp, nên biện ở trong đó có bao nhiêu thứ là quả đạo nào? Tụng nêu:

Trong đó, quả nhẫn sáu

Ba còn là quả trí

Quả vị chí tất cả

Căn bản năm hoặc tám.

Quả biên vô sắc một

Ba căn bản cũng thế

Quả tục, hai Thánh chín

Pháp trí ba, Loại hai.

Quả phẩm Pháp trí sáu

Quả phẩm Loại trí năm.

Luận nói: Ở trong chín thứ nhận biết khắp này, nên trước hết là biện về đạo làm quả cho nhẫn trí có sai biệt. Quả của nhẫn có sáu. Nghĩa là hệ thuộc ba cõi do kiến đạo đoạn, pháp đoạn, có sáu thứ nhận biết khắp. Quả của trí có ba. Nghĩa là tất cả kiết thuận phần dưới, sắc ái đều nhận biết khắp. Do ba nhận biết khắp này là quả của tu đạo. Do đấy đã biện về quả của kiến đạo, tu đạo. Cùng với địa của tĩnh lự làm quả riêng. Tức quả của các tĩnh lự vị chí có đủ chín. Nghĩa là đây làm chỗ nương dựa để đoạn dứt tất cả. Quả của tĩnh lự căn bản có năm hoặc tám.

Nói năm: Sư Tỳ-bà-sa nêu rõ: Tĩnh lự căn bản, vì không phải là đối trị do đoạn nơi cõi dục.

Nói tám: Tôn giả Diệu Âm giải thích: Tĩnh lự căn bản cũng đối trị do đoạn nơi cõi dục, trừ kiết thuận phần dưới đều nhận biết khắp. Vì pháp kia chỉ là quả của vị chí, không chấp nhận tu là đối trị do đoạn kia, nên tĩnh lự trung gian, như nói về tĩnh lự căn bản.

Há không phải là đã nương dựa nơi tĩnh lự căn bản?

Khi nhập kiến đế, cũng tu vị lai, dựa nơi địa vị chí, đạo đối trị đoạn trừ Hoặc nơi cõi dục. Vì đối trị đoạn đạt được, tức cũng nên chứng minh cho căn bản kia. Pháp của kiến đạo đoạn nơi cõi dục, vô lậu lìa trói buộc đạt được, đâu thể nói căn bản chỉ được năm quả?

Vấn nạn này không hợp lý, vì đối tượng tu nơi bấy giờ là dựa vào đối trị đoạn của địa vị chí, chỉ là đối trị đoạn của cõi sắc, vô sắc. Đạo của địa căn bản đã không thể làm đối trị đoạn nơi cõi dục. Phần vị hiện khởi kia vì sao có thể tu đạo đối trị đoạn nơi cõi dục?

Do đối trị đoạn của vị chí đã tu kia, chỉ đối trị cõi trên, nên quả chỉ có năm.

Lại, vì sao nhận biết đã khởi đối trị khác? Tất không thể tu đạo đối trị khác, vì như tông đã nêu. Nghĩa là đối với sự việc xét chọn, trước là lìa nhiễm cõi sắc nhập kiến đế, đến trong phần vị tu thì sắc đều nhận biết khắp. Xứ có đắc, không đắc đã nêu như thế. Có người nói: Khi đã lìa nhiễm nơi không xứ, cũng tu các địa tĩnh lự ở vị lai. Há không phải là đã nói về đối trị phần còn lại là tu khác?

Vấn nạn này không đúng. Vì không phải là chứng cứ thật đúng. Nên khi nói đoạn nhiễm của không xứ, tu tĩnh lự, chỉ là tu vị lai đối trị cõi vô sắc, không phải là đối trị cõi sắc, làm chứng.

Há thành pháp này mới chứng pháp khác, không tu đối trị khác?

Có thuyết cho: Chứng cứ này đều cùng không thành. Vì đối tượng tu trong kiến đạo, tu đạo là cùng khác. Nghĩa là kiến đạo của định thứ tư hiện ở trước. Chỉ tu kiến đạo của sáu địa thuộc vị lai, đối tượng tu của tu đạo hiện khởi thì không như thế. Lại, một đạo vô gián trong kiến đạo, đoạn trừ tức khắc tám địa. Tu đạo thì không như vậy.

Lại, đối tượng tu kia có đồng phần, không đồng phần, nhưng hành tướng của trí thì khác. Thế nên đối tượng tu của kiến đạo so với tu đạo kia đều riêng khác.

Lại, trong tu đạo cũng có phần vị hiện ở trước của đối trị khác, tu đạo đối trị khác, như khi lìa cõi dục, tu các loại trí. Khi lìa cõi sắc, vô sắc, tu pháp trí khổ, tập, tức phần vị kiến đạo, về lý cũng nên như thế.

Lại, tĩnh lự căn bản cũng có thể đối trị cõi dục. Như Đức Thế Tôn nói: Sáu xuất ly nương dựa nơi hỷ làm nhân nương dựa để trụ, liền có thể lìa bỏ sáu xuất ly nương dựa nơi ưu v.v… cho đến nói rộng.

Câu lìa bỏ ở đây là nói về việc lìa dục nhiễm. Không phải địa nơi biên của Tông đã thừa nhận có hỷ căn. Do đấy tĩnh lự căn bản cực thành, có thể đối trị cõi dục.

Thế nên quả của địa thuộc tĩnh lự căn bản có tám thứ nhận biết khắp.

Trong đây, có Sư khác bài bác nói như thế này: Không phải không hiện khởi sức của đạo đối trị đoạn, có thể dẫn vô lậu lìa trói buộc được sinh, gọi đạt được nhận biết khắp. Như quả Sa-môn, như khi đạo thế tục đạt được hai quả, tuy tu đối trị đoạn vô lậu ở vị lai, nhưng không gọi là đắc quả Sa-môn.

Như thế, tĩnh lự căn bản hiện ở trước, nếu như tu đạo đối trị đoạn cõi dục vị lai, nhưng không do tu đạo kia dẫn dắt lìa trói buộc đắc, nên không thể đạt được quả của tám thứ nhận biết khắp. Sự việc này không có lý sâu xa để thừa nhận quả vị Thánh dùng đạo thế tục, khi lìa các nhiễm, được hai lìa trói buộc đắc của vô lậu, thế tục. Không phải hai trí thế tục, vô lậu đều cùng hành. Vì sức của đạo vô lậu nơi vị lai có khả năng dẫn dắt vô lậu lìa trói buộc được sinh, không phải là quả Sa-môn, cũng không thành chứng, an lập nhân quả cùng với đắc vô lậu lìa trói buộc đắc, về lý đều có riêng khác.

Nói đạo thế tục khi đạt được hai quả, có khi không gọi là quả Sa-môn, là hiện tại, không phải là nghĩa của quả vị lai kia. Do vô lậu đoạn trừ đắc, chướng ngại được đoạn trừ, bấy giờ tất khởi vô lậu đoạn trừ đắc.

Vô lậu đắc này cũng do vô lậu vị lai dẫn khởi, vì sao thành chứng?

Lại, đạo thế tục khi đạt được hai quả, cũng thừa nhận đối tượng đạt được gọi là quả Sa-môn. Đạo giải thoát vô lậu của vị lai v.v… cũng được gọi là quả Sa-môn. Nghĩa là khi đạo thế tục đạt được hai quả, đạo giải thoát vô lậu của vị lai, vì chướng ngại được đoạn trừ, nên phần đạt được đều hiện khởi. Quả kia là quả của Sa-môn nào? Là quả của Sa-môn hiện tại, vị lai. Nghĩa là khi đạo thế tục hiện tiền, là đã có vô lậu đạt được gọi là đạo hiện tại. Đạo kia là quả đẳng lưu của đạo này, cũng là quả sĩ dụng của đạo vị lai, vì nhân tương ưng, câu hữu là chung cho ba đời.

Thuyết kia dùng quả sĩ dụng làm quả Sa-môn ấy, các pháp vô vi vì siêu việt ba đời, nên gọi là quả Sa-môn, lý nào có thể ngăn chận?

Do đấy, thuyết kia chấp tĩnh lự căn bản là quả của tám thứ nhận biết khắp, lý ấy trở lại thành. Nhưng thật sự là không thành, vì chứng đó là không đúng. Lại, thuyết kia đã nói, cho định thứ tư, khi kiến đạo hiện ở trước, thì chỉ tu kiến đạo của sáu địa nơi vị lai, còn tu đạo hiện khởi, thì đối tượng tu có khác, sự việc này không thành chứng. Nghĩa là địa của đối tượng tu tuy lại không đồng, nhưng đều chỉ tu đối trị cõi trên. Tuy địa của đối tượng tu ít có chẳng đồng, lý nào tức khiến tu đối trị khác? Do khi lìa nhiễm của xứ Hữu đảnh thì đạo đối trị khởi, tuy tu vị lai dựa nơi đạo của chín địa, nhưng không thể dùng đối tượng tu khác, tức khiến hành giả có thể tu đối trị khác. Không như vậy thì hành giả kia nên tu đạo thế tục. Lại tức do đấy, ở trong kiến đạo, tuy một sát-na, đoạn trừ tức khắc tám địa, mà tu đạo đối trị tám địa, không phải thứ khác.

Tùy đoạn ít nhiều, luôn tu đồng đối trị. Lại, do tu đồng phần, không đồng phần, tướng tu trong kiến đạo, tu đạo có khác, tức chứng đắc kiến đạo không tu vị lai, lý của đạo đối trị khác khéo được thành lập. Vì đối tượng tu của kiến đạo chỉ là đồng phần, như khi các nhẫn như tập v.v… hiện tiền, tuy trước đã được nhẫn trí như khổ v.v…, không phải kiến tập cùng đối trị đã đoạn, nên ở trong phần vị này không thể tu phần vị kia. Nhưng đạo của địa khác, ở đây có thể tu là đạo của phần vị này đồng đối trị. Hoặc phần vị kiến đạo tuy tu vô lượng công đức ở vị lai, nhưng tại phần vị nhẫn thì tu nhẫn, không phải pháp khác, ở trong phần vị trí, chỉ có thể tu trí.

Như thế, nhẫn trí hãy còn không hỗ tương tu tập huống chi là tu vị lai? Nghĩa của đạo đối trị khác có thể thành lập. Lại, trong tu đạo cũng nhất định không có nghĩa của đối trị khác hiện khởi, tu đối trị khác. Tuy các loại trí khi lìa cõi dục, khi tu lìa cõi sắc, vô sắc, tu khổ, tập pháp trí mà không phải là đối trị đoạn, vì không phải là đối trị, nên tu pháp trí này.

Do đâu tu do nhân nơi nuôi lớn?

Trong phẩm biện về trí sẽ hiển bày rộng.

Lại, thuyết kia đã dẫn kinh Ý Cận Hành, căn cứ trong gia hạnh hiện thấy ưu hỷ, vì cùng đối trị, nên nêu bày cũng không lỗi. Hoặc người tu quán, do trước hiện thấy những ham thích dựa vào ưu, có thể bị bức não. Sau, so sánh với quán xuất ly kia dựa vào hành ưu đã đồng với trước, cũng bị bức não. Bèn vui vẻ nên diệu hỷ của định thứ nhất hiện tiền. Nhân hỷ này siêng tu đạo đối trị đoạn trừ ưu, nên cho là nhân nơi hỷ, có thể lìa bỏ ưu. Hoặc xuất ly dựa vào ưu, đối trị đoạn vô gián, cùng diệu hỷ của tĩnh lự thứ nhất hiện tiền, tích tụ hỷ này nơi tâm, mật nói là hiện tại. Xuất ly dựa vào ưu, hỷ gần, có thể cùng đối trị nhau, vì muốn an ủi, khuyên dụ khi gặp xuất ly ưu, đã bị bức não, khiến được an ổn, thư thái, nên tĩnh lự căn bản đối với tất cả thứ, nhất định không thể đối trị đoạn cõi dục. Ai từ bỏ hành vui, dựa vào khổ siêng tu để nhằm chứng đắc ba quả Sa-môn?

Do lý như thế, nên Sư Tỳ-bà-sa nói về quả nhận biết khắp của tĩnh lự căn bản chỉ có năm. Trong đây, tôi có thể lại quyết định lựa chọn rộng, e vì xa nghĩa gốc, nên lại dừng.

Cùng với địa vô sắc làm quả riêng khác. Tức quả của địa biên vô sắc chỉ có một. Nghĩa là nương dựa vào đạo nơi địa phần gần của không xứ, vì được quả nhận biết khắp về sắc ái dứt hết, nên Thánh vị dựa vào đạo tục, xa lìa các nhiễm, quả đoạn đã đạt được, cũng gọi là nhận biết khắp, vì đạt được vô lậu lìa trói buộc đắc. Quả của ba tĩnh lự căn bản trước, cũng chỉ có một. Nghĩa là dựa vào ba định căn bản trước của cõi vô sắc, đạt được quả của tất cả đều nhận biết khắp.

Thế nên do đấy đã biện về tĩnh lự, vô sắc, gồm được quả nhận biết khắp nhiều ít riêng khác. Cùng với Tục đạo, Thánh đạo làm quả khác. Nghĩa là hai quả tục, đạo, tức sức của tục đạo, chỉ có thể đạt được thuận với việc đoạn hết kiết phần dưới và quả nhận biết khắp về sắc ái hết, nên quả của Thánh đạo có chín. Nghĩa là sức của Thánh đạo, cho đến có thể vượt qua hai xứ Hữu đảnh, nên biết hai trong chín là quả chung, bảy quả không chung, chỉ là quả Thánh, nên cùng với pháp loại trí làm quả riêng.

Quả của pháp trí có ba. Nghĩa là sức của pháp trí có thể đoạn trừ Hoặc của ba cõi do tu đạo đoạn. Quả của loại trí có hai. Nghĩa là sức của loại trí đoạn trừ Hoặc của cõi sắc, vô sắc do tu đạo đoạn. Cùng với phẩm pháp loại làm quả riêng. Nghĩa là quả của phẩm pháp trí có sáu. Tức là sáu quả đã đạt được của pháp nhẫn, pháp trí ở trước.

Quả của phẩm loại trí có năm: Tức là năm quả đã đạt được của loại nhẫn, loại trí ở trước. Nói phẩm là thâu tóm chung trí và nhẫn. Trong sáu pháp phẩm bốn là quả không chung, ba thuộc pháp nhẫn, một thuộc pháp trí. Hai là quả chung. Nghĩa là hai quả sau cùng, cùng thuộc về hai thứ trí pháp, loại. Trong năm loại phẩm thì ba là quả không chung, đều thuộc về loại nhẫn. Hai là quả chung. Nghĩa là hai quả sau cùng, nghĩa như trước đã giải thích.

Do đâu nơi mỗi mỗi đạo đoạn trừ đã đạt được, mỗi mỗi thứ đều không lập làm một thứ nhận biết khắp?

Do khi vĩnh viễn đoạn trừ, nói là nhận biết khắp. Như Khế kinh nói: Ta nay vì ông tuyên nói về nhận biết khắp. Cho đến nói rộng.

Ở đây, những gì gọi là nhận biết khắp?

Nghĩa là tham vĩnh viễn đoạn, sân vĩnh viễn đoạn, si vĩnh viễn đoạn. Cho đến nói rộng. Nói câu vĩnh viễn đoạn là làm rõ về đoạn đã đạt được đều không có tùy buộc mới gọi là nhận biết khắp.

Vì sao gọi là đoạn có tùy buộc? Vì sao gọi là đoạn không có tùy buộc?

Đoạn gồm đủ ba thứ, hoặc bốn thứ duyên, gọi là không có tùy buộc. Không gồm đủ gọi là có. Nghĩa là hoặc có khi đoạn tuy được lìa trói buộc đắc nhưng thiếu đắc khác, nên chấp nhận trở lại xả bỏ vĩnh viễn. Hoặc lại có khi đoạn đắc thứ khác tuy sinh, chưa làm tan vỡ phần đầu của sinh tử bền chắc. Do nhiễm của tám địa, tuy thường từng lìa, vì chưa có thể làm tan vỡ sinh tử kia, nên trở lại rơi vào ngục của nẻo ác. Hoặc lại có khi đoạn, tuy cũng làm tan vỡ phần đầu sinh tử kia, nhưng phiền não khác trói buộc chưa trừ bỏ, nên đối với nghĩa vĩnh viễn đoạn trừ chưa được viên mãn. Hoặc lại có khi đoạn, các trói buộc khác cũng loại trừ, nhưng cũng chưa có thể vượt qua cõi đã bị hệ thuộc, vì Hoặc đồng loại chưa đoạn trừ trọn vẹn, nên đối với nghĩa vĩnh viễn đoạn, cũng chưa viên mãn.

Các đoạn như thế gọi là có tùy buộc. Thế nên ở nơi đoạn kia, không lập nhận biết khắp. Chỉ đủ ba, bốn duyên trong chín phần vị, đoạn không có tùy buộc mới có thể lập nhận biết khắp.

Vì sao gọi là đủ duyên? Tụng nêu:

Được vô lậu đoạn đắc

Và thiếu hữu thứ nhất

Diệt hai nhân vượt cõi

Nên lập chín biết khắp.

Luận nói: Pháp do kiến đạo đoạn được đoạn trừ gồm đủ ba duyên, nên liền lập nhận biết khắp. Pháp do tu đạo đoạn được đoạn trừ gồm đủ bốn duyên, nên mới lập nhận biết khắp. Pháp do kiến đạo đoạn được đoạn gồm đủ ba duyên. Nghĩa là được vô lậu lìa trói buộc đắc. Vì đã làm tan vỡ xứ Hữu đảnh, vì diệt trừ hai nhân. Trong đây phàm phu tuy cũng có lìa nhiễm của tám địa, gọi là diệt trừ hai nhân, nhưng là đoạn, không phải là nhận biết khắp, vì thiếu hai duyên khác.

Vị kiến Thánh đế, các đoạn của sát-na thứ hai, thứ ba, tuy có vô lậu lìa trói buộc đắc nhưng hai duyên khác thiếu, nên chưa lập nhận biết khắp. sát-na thứ tư, thứ năm tuy cũng đã làm vỡ xứ Hữu đảnh nhưng hai nhân chưa diệt, nên không lập nhận biết khắp. Kiến tập đoạn, vì nhân hữu chưa diệt. Vị tập pháp trí, hai bộ của cõi dục đoạn, vì đủ ba duyên, nên được mang tên nhận biết khắp. Vị pháp loại trí của năm sát-na sau, vì đoạn trừ gồm đủ ba duyên, nên đều được mang tên nhận biết khắp.

Pháp do tu đạo đoạn được đoạn trừ gồm đủ bốn duyên. Ba duyên như trên, vượt cõi là thứ tư. Nghĩa là trong các cõi địa chưa vượt qua của Thánh. Thánh kia đoạn đã đạt được, chỉ gồm đủ hai duyên. Nếu đã vượt qua địa, chưa vượt qua cõi, Thánh kia đoạn đã đạt được, cũng thiếu một duyên. Nếu khi vượt qua cõi, thì bốn duyên mới đủ. Tùy chỗ ứng hợp, Thánh kia được được mang tên nhận biết khắp.

Há không phải là nên có đủ năm duyên? Nghĩa là thêm Lìa đều cùng trói buộc.

Có thuyết khác nói: Duyên này tức là diệt trừ hai nhân và duyên vượt qua cõi nên không nói riêng.

Nếu như vậy cũng chớ nên lập duyên vượt qua cõi, vì vượt qua cõi, cũng tức là diệt trừ hai nhân. Hai nhân cùng trói buộc, tuy dựa vào một vật, nhưng trói buộc cùng với nhân, nghĩa của chúng đều khác. Nghĩa là ở năm bộ, khiến khởi gọi là nhân. Tức ở trong đó, có thể trói buộc, gọi là trói buộc. Lại, khổ trí sinh, tập trí chưa sinh, hai bộ tuy không cùng khiến khởi sức mạnh, nhưng có công năng lần lượt làm tánh nhân.

Nghĩa do kiến tập đoạn trừ Hoặc trói buộc như cũ, vì nghĩa trói buộc do kiến khổ đoạn đều không có, nên không phải diệt trừ hai nhân, tức là lìa cùng trói buộc. Lại, không thể nói nghĩa của nhân tức trói buộc, vì vô lậu duyên nơi Hoặc không hệ thuộc tụ người khác. Do đấy, tông của tôi về hai thứ đều cùng nêu rõ. Nay, không nói tức chỉ có thể nêu bày. Nói đây kia tự thành nên không thể cho là không khác. Nghĩa của thể vì rộng, nên lại nói về hai nhân. Tuy các phần vị vượt qua cõi, nhưng đều diệt trừ hai nhân, nhưng khi diệt trừ hai nhân không phải là đều vượt qua cõi. Cho nên ngoài diệt trừ hai nhân, đã lập riêng duyên vượt qua cõi, vì diệt trừ hai nhân của ba địa là chưa lập nhận biết khắp. Ai thành tựu bao nhiêu thứ nhận biết khắp? Tụng nêu:

Vị trụ kiến đế không

Hoặc thành một đến năm

Tu thành sáu, một, hai

Vô học chỉ thành một.

Luận nói: Trong phần vị phàm phu tuy có thể lìa nhiễm, cho đến tám địa cũng không thành nhận biết khắp. Ở trong quả vị Thánh, người dựa vào định vị chí, nhập kiến đế, từ đầu tiên cho đến phần vị tập pháp nhẫn, cũng không có nhận biết khắp. Đến phần vị tập pháp trí, tập loại nhẫn, chỉ thành tựu một. Đến phần vị tập loại trí, diệt pháp nhẫn, liền thành tựu hai. Đến phần vị diệt pháp trí, diệt loại nhẫn, liền thành tựu ba. Đến phần vị diệt loại trí, đạo pháp nhẫn, liền thành tựu bốn. Đến phần vị đạo pháp trí, đạo loại nhẫn, liền thành tựu năm.

Hành giả dựa vào định căn bản, nhập kiến đế: Nghĩa là đến tập loại nhẫn, cũng không có nhận biết khắp. Phần vị sau tùy chỗ ứng hợp nên như lý xét chọn. Hành giả trụ nơi phần vị tu đạo, chưa lìa dục, đạo loại trí là đầu, cho đến chưa được hoàn toàn lìa nhiễm của cõi dục. Và lìa dục thoái chuyển đều thành tựu sáu. Đến hoàn toàn lìa dục, vì đạo giải thoát thứ chín đã lìa dục là trước nhất, cho đến đạo vô gián sau cùng đã lìa cõi sắc.

Trước hết, người lìa dục, từ đạo loại trí cho đến trước chưa khởi đạo tận trừ sắc, chỉ thành một nhận biết khắp. Nghĩa là thuận với phần dưới đã diệt hết. Từ sắc ái tận và quả vị vô học, khởi triền sắc thoái chuyển cũng thành một như trước.

Có sắc ái, nghĩa là từ ái sắc vĩnh viễn dứt hết, trước tiên người lìa sắc, từ khởi đạo tận trừ sắc, đến trước chưa hoàn toàn lìa vô sắc ái thì thành hai: Tận trừ kiết phần dưới, tận trừ ái sắc. Từ vô học thoái chuyển khởi triền vô sắc thành hai tên gọi nhận biết khắp. Như trước nói trụ nơi quả vị vô học chỉ thành tựu một. Nghĩa là tất cả kiết vĩnh viễn dứt hết là nhận biết khắp. Nếu dựa nơi căn bản, khi đạo loại trí nhập chánh quyết định, thì phần đoạn trừ hiện có kia cũng thuận đoạn trừ kiết phần dưới mang tên là nhận biết khắp. Đâu thể thừa nhận quả của định căn bản, chỉ có năm thứ nhận biết khắp?

Chỉ có pháp do kiến đạo đoạn của cõi sắc, vô sắc được đoạn, mang danh xưng nhận biết khắp kia, nên không có lỗi.

Do đâu chỉ pháp này cũng được mang tên kia?

Vì chứng đắc dần dần quả Bất hoàn. Nghĩa là ở trên phần đoạn này, lập tên gọi kia. Lại, trước hết tục, đạo đã đoạn phần dưới. Nay, do sức của Thánh đạo khiến vĩnh viễn không sinh, nên phần đoạn trừ đã đạt được kia giả nói là quả này. Nay thật sự không được đoạn nhận biết khắp cõi dục. Vì thế ở đây nên nêu ra bốn trường hợp: Nghĩa là nếu sắp được đoạn thì cũng sắp được nhận biết khắp chăng?

Hoặc có sắp được đoạn, không phải là sắp được nhận biết khắp. Nghĩa là trong các phần vị, sắp được đoạn, chưa đối với đoạn kia, sắp lập nhận biết khắp.

Hoặc sắp được nhận biết khắp, không phải là sắp được đoạn. Nghĩa là người chưa lìa dục, nhập kiến đế, đối với tập pháp nhẫn trong phần vị đang diệt, các pháp được đoạn do kiến khổ đoạn nơi cõi dục, sắp được nhận biết khắp vì chúng duyên gồm đủ, không phải sắp được đoạn, vì trước đã được. Ở trong phần vị tập loại nhẫn đang diệt, các pháp được đoạn do kiến khổ đoạn nơi hai cõi, trước đã lìa các dục. Nếu người dựa vào định căn bản nhập kiến đế, thì trong phần vị đang diệt của ba loại nhẫn sau, tùy đối tượng thích hợp với các thứ đã đoạn trước của người kia, pháp do kiến đạo đoạn nơi cõi sắc, vô sắc được đoạn. Pháp do kiến đạo, tu đạo đoạn nơi cõi dục kia được đoạn, đối với tất cả phần vị, không phải là sắp được đoạn, vì trước đã được, nên không phải là sắp được nhận biết khắp. Vì đây không phải là đối trị kia. Nếu người dựa vào định vị chí nhập kiến đế, thì trong phần vị đang diệt của ba pháp loại nhẫn, tùy theo đối tượng thích hợp của chúng các thứ đã đoạn trước của người kia, pháp do kiến đạo đoạn của các cõi dục, sắc, vô sắc được đoạn. Ở phần vị tu đạo, lìa nhiễm cõi dục, trong phần vị đang diệt của vô gián thứ chín, kiến đạo đoạn của ba cõi và pháp do tu đạo đoạn của tám phẩm cõi dục được đoạn, lìa trong phần vị đang diệt của vô gián thứ chín thuộc định tứ tư. Chín phẩm của ba định trước, tám phẩm của định thứ tư, trước hết là lìa sắc. Pháp do tu đạo đoạn nơi chín phẩm của bốn địa được đoạn. Trong phần vị đang diệt của định kim cang, tất cả đoạn của pháp tu đạo đoạn chín phẩm của bốn địa. Trong phần vị đang diệt của định kim cang dụ, tất cả pháp đã đoạn của phần vị trước được đoạn.

Hoặc sắp được đoạn cũng là sắp được nhận biết khắp. Nghĩa là trong các phần vị sắp được đoạn, cũng đối với đoạn kia sắp lập nhận biết khắp. Nói các phần vị này là làm rõ về đạo vô gián. Pháp đã đoạn của chính mình được đoạn, sắp được mang tên nhận biết khắp. Như người chưa lìa dục nhập kiến đế, ở trong phần vị đang diệt của tập pháp nhẫn, pháp do kiến tập đoạn nơi cõi dục được đoạn, ở trong phần vị đang diệt của tập loại nhẫn, pháp do kiến tập đoạn của hai cõi được đoạn. Như thế, cho đến ở trong phần vị đang diệt của đạo loại nhẫn, pháp do kiến đạo đoạn nơi hai cõi được đoạn. Các người trước đã lìa nhiễm nhập kiến đế, như chỗ ứng hợp nên tư duy. Trong phần vị tu đạo, đối với sự việc lìa cõi dục, lúc nhiễm của xứ Hữu đảnh cùng tĩnh lự thứ tư, pháp được đoạn do vô gián thứ chín đoạn.

Hoặc không phải là sắp được đoạn cũng không phải là sắp được nhận biết khắp. Nghĩa là trừ các tướng đã nói như trước.

Vì sao quả Bất hoàn, A-la-hán tập hợp chung các đoạn, lập một nhận biết khắp? Tụng nêu:

Vượt cõi vì đắc quả

Hai xứ tập biết khắp.

Luận nói: Gồm đủ hai duyên, nên đối với đoạn đã đạt được tập hợp chung, kiến lập làm một nhận biết khắp: (1) Vượt cõi. (2) Đắc quả.

Nói tập hợp: Là nghĩa hợp nhất. Nếu đối với phần vô sắc đã lìa nhiễm, nên được quả Dự lưu, vì đã hoàn toàn lìa nhiễm nên được quả A-la-hán. Nếu ở nơi phần cõi dục lìa nhiễm nên đắc quả Nhất lai, hoàn toàn lìa nhiễm nên được quả Bất hoàn. Nếu ở nơi phần cõi sắc lìa, hoàn toàn lìa, đều cùng không đắc quả. Chỉ đối với hai xứ đầy đủ hai duyên. Nghĩa là khi đắc quả, cũng tức là vượt qua cõi, nên quả A-la-hán và quả Bất hoàn, tập hợp các đoạn đã đạt được lập thành một nhận biết khắp.

Bấy giờ là khởi chung một vị đắc, nên khi hai quả còn lại đạt được, tuy là một vị nhưng chưa vượt qua cõi. Lúc sắc ái hết, tuy là vượt qua cõi, nhưng vì không có một vị đạt được, nên đối với phần vị kia không tập hợp làm nhận biết khắp. Chủ yếu là đủ hai duyên mới tập hợp chung.

Ai bỏ, ai được bao nhiêu thứ nhận biết khắp? Tụng nêu:

Bỏ một, hai, năm, sáu

Đắc cũng vậy, trừ năm.

Luận nói: Nói bỏ một: Nghĩa là từ vô học cùng sắc ái tận, hoàn toàn lìa dục thoái chuyển.

Nói bỏ hai: Là các quả vị Bất hoàn, từ sắc ái tận, khởi triền dục thoái chuyển. Hành giả kia khi đạt được quả A-la-hán, trước là lìa các dục, người dựa nơi định căn bản nhập kiến đế, là khi đạt đạo loại nhẫn.

Nói bỏ năm: Kinh chủ giải thích: Nghĩa là trước hết ở phần vị đạo loại trí lìa dục. Ở đây, chỉ nên nói khi đạt được đạo loại nhẫn, vì lúc có được đạo loại trí, thì A-la-hán kia đã bỏ.

Phàm nói về được, bỏ là căn cứ theo sắp để nói. Lại, nên phân biệt. Nói người dựa vào định vị chí, nhập kiến đế, nếu là người dựa vào định căn bản nhập kiến đế, thì ở nơi cõi dục đoạn trừ, không được vô lậu lìa trói buộc đắc, nên không được pháp do kiến đạo đoạn nơi cõi dục được đoạn, ba thứ nhận biết khắp. Không phải trước nói không thể được, nay bỏ.

Nói bỏ sáu: Nghĩa là Thánh giả hiện có chưa lìa dục, lúc chứng đắc quả Bất hoàn.

Đắc cũng như thế: Nghĩa là có đắc một, đắc hai, đắc sáu.

Nói đắc một: Nghĩa là phần vị thắng tấn, trong chín thứ phần vị như tập loại nhẫn v.v… và từ vô sắc khởi triền sắc thoái chuyển.

Nói đắc hai: Nghĩa là lúc từ vô học khởi các triền của cõi vô sắc, thoái chuyển.

Nói đắc sáu: Nghĩa là quả Bất hoàn thoái chuyển. Không có đắc năm: Tức về lý là không chấp nhận. Nghĩa là trước hết, người lìa dục, dựa vào định vị chí nhập kiến đế, khi được đạo loại nhẫn thì bỏ năm thứ nhận biết khắp, được quả Bất hoàn. Quả này nếu thoái chuyển thì có thể được năm thứ nhận biết khắp. Vì phần thoái chuyển này đã không có, nên không chấp nhận được năm.

Há không phải là đạo thắng tấn khi được Thánh quả, đối với các vô vi, lại khởi đắc vượt hơn, liền có thể gọi là đắc. Đâu thể xả bỏ?

Nhận biết khắp căn cứ ở đoạn thật hiển nhiên luôn thành tựu. Chỉ nay lại căn cứ trong chín thứ nhận biết khắp, nếu được tên gọi khác, tên gọi cũ liền mất, nên nói là xả bỏ cũng không có lỗi.

HẾT – QUYỂN 56