LUẬN A TỲ ĐẠT MA PHÁP UẨN TÚC
Tác giả: Tôn giả Đại Mục Kiền Liên
Hán dịch: Đời Đường, Tam Tạng Pháp sư Huyền Tráng
Việt dịch: Cư sĩ Nguyên Huệ

 

QUYỂN 1

Kệ quy kính:

Đảnh lễ Phật, Pháp, Tăng

Báu chân tịnh vô giá

Nay tập các pháp uẩn

Thí khắp mọi quần sinh.

A-tỳ-đạt-ma như biển cả

Núi cao, đất rộng, hư không lớn

Gồm đủ vô biên của Thánh pháp

Nay con gắng sức lược hiển bày.

Tụng nêu tổng quát về 21 Phẩm:

Học, Chi, Tịnh, Quả, Hành, Thánh chủng

Chánh thắng, Túc, Niệm, Đế, Tĩnh lự

Vô lượng, Vô sắc, Định, Giác chi

Tạp, Căn, Xứ, Uẩn, Giới, Duyên khởi.

***

Phẩm 1: HỌC XỨ

Một thời, Đức Bạc-già-phạm ngụ tại khu vườn rừng Thệ Đa – Cấp Cô Độc, thuộc thành Thất-la-phiệt.

Bấy giờ, Đức Thế Tôn nói với chúng Bí-sô:

–Các hữu tình đối với năm thứ tội oán sợ hãi, không tịch tĩnh, tức những kẻ ấy nơi đời hiện tại bị các bậc Hiền Thánh đồng quở trách, gọi là kẻ phạm giới tự tổn hại mình. Do tạo tội nên bị chê ghét, sinh nhiều phi phước, thân hoại mạng chung bị đọa nơi nẻo hiểm ác, sinh trong địa ngục. Những gì là năm?

1. Sát sinh: Duyên nơi sát sinh, sinh tội oán sợ hãi, không lìa sát sinh. Đó gọi là thứ nhất.

2. Không cho mà lấy: Duyên nơi trộm cướp, sinh tội oán sợ hãi, không lìa trộm cướp. Đó gọi là thứ hai.

3. Dục tà hạnh: Duyên nơi tà hạnh, sinh tội oán sợ hãi, không lìa tà hạnh. Đó gọi là thứ ba.

4. Nói hư dối: Duyên nơi hư dối, sinh tội oán sợ hãi, không lìa hư dối. Đó gọi là thứ tư.

5. Uống các thứ rượu nơi xứ phóng dật: Duyên nơi uống các vị rượu nơi xứ phóng dật, sinh tội oán sợ hãi, không lìa uống rượu nơi xứ phóng dật. Đó gọi là thứ năm.

Đối với năm thứ tội oán sợ hãi như thế, không tịch tĩnh, tức những kẻ ấy nơi đời hiện tại bị các bậc Hiền Thánh đồng quở trách, gọi là kẻ phạm giới tự tổn hại mình. Do tạo tội nên bị chê ghét, sinh nhiều phi phước, thân hoại mạng chung bị đọa nơi nẻo hiểm ác, sinh trong địa ngục.

–Các hữu tình đối với năm thứ tội oán sợ hãi, có thể đạt được tịch tĩnh, tức những người ấy nơi đời hiện tại được các bậc Hiền Thánh đồng khen ngợi, gọi là người giữ giới tự bảo vệ mình. Do không tạo tội nên không bị chê ghét, sinh nhiều thắng phước, thân hoại mạng chung được lên nẻo an lành, sinh trong cõi trời. Những gì là năm?

1. Lìa sát sinh: Lìa duyên sát sinh, diệt tội oán sợ hãi, có thể lìa sát sinh. Đó gọi là thứ nhất.

2. Lìa không cho mà lấy: Lìa duyên trộm cướp, diệt tội oán sợ hãi, có thể lìa bỏ trộm cướp. Đó gọi là thứ hai.

3. Lìa dục tà hạnh: Lìa duyên tà hạnh, diệt tội oán sợ hãi, có thể lìa tà hạnh. Đó gọi là thứ ba.

4. Lìa nói hư dối: Lìa duyên hư dối, diệt tội oán sợ hãi, có thể lìa hư dối. Đó gọi là thứ tư.

5. Lìa uống các thứ rượu nơi xứ phóng dật: Lìa duyên uống các thứ rượu nơi xứ phóng dật, diệt tội oán sợ hãi, có thể lìa uống rượu nơi xứ phóng dật. Đó gọi là thứ năm.

Đối với năm thứ tội oán sợ hãi như thế, có thể đạt được tịch tĩnh, tức những người ấy nơi đời hiện tại được các bậc Hiền Thánh đồng khen ngợi, gọi là người giữ giới tự bảo vệ mình. Do không tạo tội nên không bị chê ghét, sinh nhiều thắng phước, thân hoại mạng chung được lên nẻo an lành, sinh trong cõi trời.

Bấy giờ, Đức Thế Tôn nhằm thâu tóm các nghĩa vừa nêu, nên nói tụng:

Các hành giết, trộm, dâm

Hư dối, mê các rượu

Năm tội oán sợ buộc

Hiền Thánh đều chê trách.

Gọi phạm giới tự hại

Có tội, không được phước

Chết đọa nẻo hiểm ác

Sinh trong các địa ngục.

Lìa bỏ giết, trộm, dâm

Hư dối, mê các rượu

Thoát năm tội oán sợ

Hiền Thánh đều khen ngợi.

Gọi giữ giới tự phòng

Không tội, cảm thắng phước

Chết lên nẻo an lành

Sinh trong các cõi trời.

**

Thế nào gọi là Ô-ba-sách-ca?

Đáp: Nghĩa là những người nam bạch y, tại gia, nam căn thành tựu quy y Phật Pháp Tăng, khởi tâm ân cần thanh tịnh, nói lời thành thật, chắc chắn, tự xưng: Con là Ô-ba-sách-ca cúi xin bậc tôn kính nhớ nghĩ từ bi hộ niệm. Như thế đều gọi là Ô-ba-sách-ca.

Hỏi: Ở đây, vì sao gọi là có thể học một phần?

Đáp: Nghĩa là như trước đã nói về Ô-ba-sách-ca quy y Phật Pháp Tăng, nói lời thành thật rồi, nhưng chỉ lìa sát sinh, chưa thể lìa bốn thứ kia. Như thế gọi là có thể học một phần.

Hỏi: Lại nữa, thế nào gọi là có thể học ít phần?

Đáp: Nghĩa là như trước đã nói về Ô-ba-sách-ca quy y Phật Pháp Tăng, nói lời thành thật rồi, có thể lìa bỏ sát sinh và trộm cắp, chưa lìa bỏ được ba thứ kia. Như thế gọi là có thể học ít phần.

Hỏi: Lại nữa, thế nào gọi là có thể học nhiều phần?

Đáp: Nghĩa là như trước đã nói về Ô-ba-sách-ca quy y Phật Pháp Tăng, nói lời thành thật rồi, có thể lìa sát sinh, trộm cắp, tà dâm, không lìa hai thứ còn lại. Như thế gọi là có thể học nhiều phần.

Lại nữa, thế nào gọi là có thể học đủ phần?

Đáp: Nghĩa là như trước đã nói về Ô-ba-sách-ca quy y Phật Pháp Tăng, nói lời thành thật rồi, có thể lìa đủ năm thứ. Như thế gọi là có thể học đủ phần.

*

Hỏi: Ô-ba-sách-ca thành tựu năm pháp chỉ có thể tự lợi, không thể lợi tha. Những gì là năm pháp?

Đáp: Nghĩa là như trước đã nói về Ô-ba-sách-ca tự mình lìa bỏ sát sinh, cho đến lìa bỏ uống rượu nơi xứ phóng dật, nhưng không thể khuyên người khác khiến lìa bỏ sát sinh cho đến uống rượu nơi xứ phóng dật. Như thế gọi là Ô-ba-sách-ca thành tựu năm pháp chỉ có thể tự lợi, không thể lợi tha.

Hỏi: Ô-ba-sách-ca thành tựu mười pháp có thể tự lợi, lợi tha, nhưng không thể tạo lợi ích rộng khắp. Những gì là mười pháp?

Đáp: Nghĩa là như trước đã nói về Ô-ba-sách-ca tự mình lìa bỏ sát sinh, cho đến lìa bỏ uống rượu nơi xứ phóng dật, cũng có thể khuyên người khác khiến lìa bỏ sát sinh cho đến uống rượu nơi xứ phóng dật, và khi thấy những người khác có thể lìa bỏ sát sinh v.v… thì không hoan hỷ, vui thích, khích lệ. Như thế gọi là Ô-ba-sách-ca thành tựu mười pháp có thể tự lợi, lợi tha, nhưng không tạo lợi ích rộng khắp.

Hỏi: Ô-ba-sách-ca thành tựu mười lăm pháp có thể tự lợi, lợi tha, cũng có thể tạo lợi ích rộng khắp. Những gì là mười lăm pháp?

Đáp: Nghĩa là như trước đã nói về Ô-ba-sách-ca tự mình lìa bỏ sát sinh, cho đến uống rượu nơi xứ phóng dật, cũng có thể khuyên người khác khiến lìa bỏ sát sinh cho đến uống rượu nơi xứ phóng dật, và khi thấy những người khác lìa bỏ sát sinh v.v… thì hoan hỷ, vui thích, khích lệ. Như thế gọi là Ô-ba-sách-ca thành tựu mười lăm pháp có thể tự lợi, lợi tha, cũng có thể tạo lợi ích rộng khắp.

Hỏi: Ô-ba-sách-ca thành tựu tám pháp chỉ có thể tự lợi, không thể lợi tha. Những gì là tám pháp?

Đáp: Nghĩa là như trước đã nói về Ô-ba-sách-ca tự mình có đủ tịnh tín, nhưng không thể khuyên người khác khiến có đủ tịnh tín. Tự mình có đủ tịnh giới, nhưng không thể khuyên người khác khiến có đủ tịnh giới. Tự mình có đủ tuệ xả, nhưng không thể khuyên người khác khiến có đủ tuệ xả. Tự mình có thể siêng vui, thường đi đến chốn Già lam lễ bái các chúng Bí-sô có đức, nhưng không thể khuyên người khác làm được như thế. Tự mình có thể chí thành lắng nghe chánh pháp, nhưng không thể khuyên người khác khiến họ làm được như thế. Tự mình nghe pháp rồi, có thể giữ nhớ không quên, nhưng không thể khuyên người khác khiến họ làm được như vậy. Tự mình nhận giữ pháp rồi, lại có thể suy tư xét chọn nghĩa lý, nhưng không thể khuyên người khác khiến họ làm được như vậy. Tự mình suy xét lựa chọn pháp rồi, lại vì để chứng đắc nghĩa pháp, nên có thể chánh cần tu pháp hành tùy pháp, trở nên hòa kính, hành hạnh tùy pháp, nhưng không thể khuyên người khác khiến họ hành tác các việc như vậy. Như vậy gọi là Ô-ba-sách-ca thành tựu tám pháp chỉ có thể tự lợi, không thể lợi tha.

Hỏi: Ô-ba-sách-ca thành tựu mười sáu pháp có thể tự lợi, lợi tha, nhưng không thể tạo lợi ích rộng khắp. Những gì là mười sáu pháp?

Đáp: Nghĩa là như trước đã nói về Ô-ba-sách-ca tự mình có đủ tịnh tín, cũng có thể khuyên người khác khiến có đủ tịnh tín v.v… nói rộng cho đến tự mình và cũng có thể khuyên người khác khiến chánh cần tu pháp hành tùy pháp, trở nên hòa kính, hành hạnh tùy pháp, nhưng không thể thấy người khác có đủ tịnh tín v.v… mà hoan hỷ, vui thích, khích lệ. Như vậy gọi là Ô-ba-sách-ca thành tựu mười sáu pháp có thể tự lợi, lợi tha, nhưng không thể tạo lợi ích rộng khắp.

Ô-ba-sách-ca thành tựu hai mươi bốn pháp có thể tự lợi,

lợi tha, cũng có thể tạo lợi ích rộng khắp. Những gì là hai mươi bốn pháp?

Đáp: Nghĩa là như trước đã nói về Ô-ba-sách-ca tự mình có đủ tịnh tín, cũng có thể khuyên người khác khiến có đủ tịnh tín v.v…, nói rộng cho đến tự mình và cũng có thể khuyên người khác khiến chánh cần tu pháp hành tùy pháp, trở nên hòa kính, hành hạnh tùy pháp, cũng có thể thấy người khác có đủ tịnh tín v.v… mà hoan hỷ, vui thích, khích lệ. Như vậy gọi là Ô-ba-sách-ca thành tựu hai mươi bốn pháp có thể tự lợi, lợi tha, cũng có thể tạo lợi ích rộng khắp.

*

Hỏi: Có các hữu tình gây tạo mười pháp, sau khi mạng chung bị đọa vào nẻo hiểm ác, sinh trong địa ngục. Những gì là mười pháp?

Đáp: Gồm có: 1. Sát sinh. 2. Không cho mà lấy. 3. Dâm dục tà hạnh. 4. Nói hư dối. 5. Nói lời ly gián. 6. Nói lời thô ác. 7. Nói lời uế tạp. 8. Tham dục. 9. Giận dữ. 10. Tà kiến. Nếu hữu tình gây tạo mười pháp như thế, sau khi mạng chung bị đọa vào nẻo hiểm ác, sinh trong địa ngục.

Hỏi: Có các hữu tình thành tựu mười pháp, sau khi mạng chung được lên nẻo an lành, sinh trong cõi trời. Những gì là mười pháp?

Đáp: Gồm có: 1. Lìa sát sinh. 2. Lìa không cho mà lấy. 3. Lìa dâm dục tà hạnh. 4. Lìa nói hư dối. 5. Lìa nói lời ly gián. 6. Lìa nói lời thô ác. 7. Lìa nói lời uế tạp. 8. Không tham dục. 9. Không giận dữ. 10. Chánh kiến. Nếu hữu tình thành tựu mười pháp như thế, sau khi mạng chung được lên nẻo an lành, sinh trong cõi trời.

Hỏi: Có các hữu tình gây tạo hai mươi pháp, sau khi mạng chung bị đọa vào nẻo hiểm ác, sinh trong địa ngục. Những gì là hai mươi pháp?

Đáp: Nghĩa là tự mình sát sinh cũng khuyên người khác khiến sát sinh v.v…, nói rộng cho đến tự mình khởi tà kiến cũng lại khuyên người khác khiến khởi tà kiến. Nếu hữu tình gây tạo hai mươi pháp như thế, sau khi mạng chung bị đọa vào nẻo hiểm ác, sinh trong địa ngục.

Hỏi: Có các hữu tình thành tựu hai mươi pháp, sau khi mạng chung được lên nẻo an lành, sinh trong cõi trời. Những gì là hai mươi pháp?

Đáp: Nghĩa là tự mình lìa sát sinh cũng có thể khuyên người khác khiến lìa sát sinh v.v…, nói rộng cho đến tự mình khởi chánh kiến cũng có thể khuyên người khác khiến khởi chánh kiến. Nếu hữu tình thành tựu hai mươi pháp như thế, sau khi mạng chung được lên nẻo an lành, sinh trong cõi trời.

Hỏi: Có các hữu tình gây tạo ba mươi pháp, sau khi mạng chung bị đọa vào nẻo hiểm ác, sinh trong địa ngục. Những gì là ba mươi pháp?

Đáp: Nghĩa là tự mình không lìa sát sinh, khuyên người khác khiến sát sinh, thấy người khác không lìa sát sinh thì vui mừng, khích lệ v.v…, nói rộng cho đến tự mình khởi tà kiến, cũng lại khuyên người khác khiến khởi tà kiến, cùng thấy người khác khởi tà kiến thì vui mừng, khích lệ. Nếu hữu tình gây tạo ba mươi pháp như thế, sau khi mạng chung bị đọa vào nẻo hiểm ác, sinh trong địa ngục.

Hỏi: Có các hữu tình thành tựu ba mươi pháp, sau khi mạng chung được lên nẻo an lành, sinh trong cõi trời. Những gì là ba mươi pháp?

Đáp: Nghĩa là tự mình lìa sát sinh, khuyên người khác khiến lìa sát sinh, thấy người khác lìa sát sinh thì vui mừng, khích lệ v.v…, nói rộng cho đến tự mình khởi chánh kiến, cũng lại khuyên người khác khiến khởi chánh kiến, cùng thấy người khác khởi chánh kiến thì vui mừng, khích lệ. Nếu hữu tình thành tựu ba mươi pháp như thế, sau khi mạng chung được lên nẻo an lành, sinh trong cõi trời.

Có các hữu tình gây tạo bốn mươi pháp, sau khi mạng chung bị đọa vào nẻo hiểm ác, sinh trong địa ngục. Những gì là bốn mươi pháp?

Đáp: Nghĩa là tự mình không lìa sát sinh, khuyên người khác khiến sát sinh, thấy người khác không lìa sát sinh thì vui mừng, khích lệ, lại tán dương khen ngợi việc sát sinh v.v…, nói rộng cho đến tự mình khởi tà kiến, cũng lại khuyên người khác khiến khởi tà kiến, cùng thấy người khác khởi tà kiến thì vui mừng, khích lệ, lại tán dương khen ngợi việc khởi tà kiến. Nếu hữu tình gây tạo bốn mươi pháp như thế, sau khi mạng chung bị đọa vào nẻo hiểm ác, sinh trong địa ngục.

Hỏi: Có các hữu tình thành tựu bốn mươi pháp, sau khi mạng chung được lên nẻo an lành, sinh trong cõi trời. Những gì là bốn mươi pháp?

Đáp: Nghĩa là tự mình lìa sát sinh, khuyên người khác khiến lìa sát sinh, thấy người khác lìa sát sinh thì vui mừng, khích lệ, lại tán dương khen ngợi việc lìa sát sinh v.v…, nói rộng cho đến tự mình khởi chánh kiến, cũng lại khuyên người khác khiến khởi chánh kiến, cùng thấy người khác khởi chánh kiến thì vui mừng, khích lệ, lại tán dương khen ngợi việc khởi chánh kiến. Nếu hữu tình thành tựu bốn mươi pháp như thế, sau khi mạng chung được lên nẻo an lành, sinh trong cõi trời.

**

Các Ô-ba-sách-ca có 5 Học xứ: Những gì là năm?

  1. Cho đến mạng chung, luôn xa lìa sát sinh.
  2. Cho đến mạng chung, luôn xa lìa không cho mà lấy.
  3. Cho đến mạng chung, luôn xa lìa dục tà hạnh.
  4. Cho đến mạng chung, luôn xa lìa nói lời hư dối.
  5. Cho đến mạng chung, luôn xa lìa uống rượu nơi xứ phóng dật.

Đó gọi là năm Học xứ của Ô-ba-sách-ca.

*

1. Học xứ thứ nhất: Thế nào gọi là kẻ có thể sát sinh?

Đáp: Như Đức Thế Tôn nói: “Có việc sát sinh, nghĩa là kẻ bạo ác, bàn tay vấy máu, ham thích việc sát hại, đối với các hữu tình, chúng sinh, thắng loại không biết xấu hổ, không hề thương xót, dưới đến loài Quấn-đa, Tỷ-tất-lạc-ca đều không lìa sát hại, như thế gọi là kẻ có thể sát sinh”.

Ở đây:

Những gì gọi là có việc sát sinh? Nghĩa là đối với việc sát sinh không hề chán sợ sâu xa, không xa không lìa, thích sống trong đó, gây tạo đủ các thứ giết hại, như thế gọi là có việc sát sinh.

Thế nào gọi là bạo ác? Nghĩa là gom chứa đủ các vật dụng sát hại như cung tên, đao gậy v.v… Đó gọi là bạo ác.

Thế nào gọi là bàn tay vấy máu? Nghĩa là những kẻ giết mổ dê, gà, heo, bắt chim, bắt cá, thợ săn, đầu nhóm trộm cướp, kẻ làm nem chả, kẻ yếm long mạch, cai ngục, nấu thịt chó, kẻ giăng lưới, đặt bẩy v.v… Đó gọi là bàn tay vấy máu. Vì sao các thứ ấy gọi là bàn tay vấy máu? Vì những kẻ kể trên tuy có tắm rửa nhiều lần, thoa dầu thơm, mặc quần áo sạch đẹp, đầu đội mũ, cài hoa trên tóc, thân mang nhiều đồ trang sức, nhưng vẫn gọi là bàn tay vấy máu. Vì sao? Vì những kẻ ấy đối với các việc ác không hề chán sợ sâu xa, không xa không lìa, khiến máu của các hữu tình đã sinh khởi cùng sinh khởi, tích tập, đều phải đổ ra. Thế nên gọi là bàn tay vấy máu.

Thế nào gọi là ham thích sát hại? Nghĩa là đối với chúng sinh có hại không phải là sát, có hại cũng là sát. Có hại không phải là sát:

Là dùng vô số các vật dụng sát hại như cung tên đao gậy để bức não chúng sinh, nhưng chưa hoàn toàn đoạn mạng. Như thế gọi là có hại không phải là sát. Có hại cũng là sát: Là dùng vô số các thứ vật dụng sát hại như cung tên đao gậy để bức não chúng sinh, rồi cũng giết chết luôn. Như thế gọi là có hại cũng là sát. Đối với việc sát hại ưa thích, chấp trước, như vậy gọi là ham thích sát hại.

Thế nào gọi là đối với các hữu tình, chúng sinh, thắng loại không biết xấu hổ, không hề thương xót? Nên biện giải về chúng sinh thắng loại có sai biệt. Nghĩa là các phàm phu gọi là chúng sinh, còn đệ tử Phật gọi là thắng loại. Lại, các hữu tình có tham sân si gọi là chúng sinh. Nếu các hữu tình đã lìa tham sân si gọi là thắng loại. Lại, các hữu tình có ái, có thủ, gọi là chúng sinh. Nếu các hữu tình lìa ái, lìa thủ, gọi là thắng loại. Lại, các hữu tình có thuận không trái gọi là chúng sinh. Nếu các hữu tình không thuận có trái gọi là thắng loại. Lại, các hữu tình không thông tuệ, có vô minh, gọi là chúng sinh. Nếu các hữu tình có thông tuệ, có minh, gọi là thắng loại. Lại, các hữu tình chưa lìa dục tham gọi là chúng sinh. Nếu các hữu tình đã lìa dục tham gọi là thắng loại. Lại, các hữu tình chưa lìa dục tham, không phải là đệ tử Phật, gọi là chúng sinh. Các hữu tình đã lìa dục tham, là đệ tử Phật, gọi là thắng loại.

Nay trong nghĩa nầy, nếu các phàm phu gọi là chúng sinh, đệ tử của Đức Thế Tôn gọi là thắng loại. Vì sao? Vì Thắng nghĩa là Niếtbàn, người kia có thể đạt được, thành tựu xúc chứng, nên gọi là thắng loại. Như có tụng nêu:

Tùy thuận khắp thế gian

Hiển bày khắp thôn ấp

Muốn cầu nơi thắng ngã

Không chỗ chứng, nương dựa.

Nên trong nghĩa ấy, nếu các phàm phu gọi là chúng sinh, đệ tử của Đức Thế Tôn gọi là thắng loại. Đối với các hữu tình, chúng sinh thắng loại ấy nên xấu hổ, nên thương xót. Nhưng ở đây không hổ không thẹn, không thương không xót v.v… Như thế gọi là đối với các hữu tình, chúng sinh, thắng loại không biết xấu hổ, không hề thương xót.

Thế nào gọi là dưới đến loài Quấn-đa, Tỷ-tất-lạc-ca đều không lìa sát hại? Nói Quấn-đa nghĩa là các loài côn trùng bé nhỏ như muỗi, mòng, ve v.v… Còn Tỷ-tất-lạc-ca là loài kiến.

Dưới đến các loài chúng sinh rất bé nhỏ đều khởi tâm ác muốn giết hại, thế nên gọi là kẻ có thể sát sinh. Tức ở trong đây: Thế nào là sinh? Thế nào là sát sinh? Thế nào là xa lìa sát sinh, để nói: Cho đến mạng chung luôn xa lìa sát sinh, là Học xứ thứ nhất của Ô-ba-sách-ca?

Nói là sinh: Nghĩa là các chúng sinh có tưởng chúng sinh, hoặc các hữu tình có tưởng hữu tình, hoặc các mạng sống có tưởng mạng sống, hoặc các thứ nuôi dưỡng có tưởng nuôi dưỡng, hoặc Bổ-đặcgià-la có tưởng Bổ-đặc-già-la. Đó gọi là sinh.

Sát sinh: Nghĩa là đối với chúng sinh khởi tưởng chúng sinh, đối với các hữu tình khởi tưởng hữu tình, đối với các mạng sống khởi tưởng mạng sống, đối với các thứ nuôi dưỡng khởi tưởng nuôi dưỡng, đối với Bổ-đặc-già-la khởi tưởng Bổ-đặc-già-la. Lại khởi các thứ tâm ác, tâm bất thiện, tâm gây tổn hại, tâm sát hại nơi hiện tiền. Dựa vào nghiệp như thế, gia hạnh như thế, tư duy như thế, thúc đẩy như thế, hăng hái như thế, để sát hại chúng sinh, cố ý đoạn dứt mạng sống. Do các sự việc như vậy nên gọi là sát sinh.

Như trước đã nói, các Ô-ba-sách-ca đối với việc sát sinh có thể khéo suy xét, lựa chọn, chán ghét, xa lìa, dừng dứt, gìn giữ, không tạo, không làm, không hành, không phạm, từ bỏ, ngăn lấp, không chống, không nghịch, không trái, không vượt. Như vậy gọi là xa lìa sát sinh. Thế nên nói: Cho đến mạng chung luôn xa lìa sát sinh, là Học xứ thứ nhất của Ô-ba-sách-ca.

*

2. Học xứ thứ hai: Thế nào gọi là không cho mà lấy?

Đáp: Như Đức Thế Tôn nói: “Có việc không cho mà lấy, nghĩa là hoặc ở trong thành ấp, hoặc ở nơi A-luyện-nhã, có tâm trộm cướp lấy các thứ vật không cho, không lìa trộm cướp, như thế gọi là không cho mà lấy”.

Ở đây:

Những gì gọi là có việc không cho mà lấy? Nghĩa là đối với việc không cho mà lấy không hề chán sợ sâu xa, không xa không lìa, luôn sống trong đó, gây tạo đủ các thứ trộm cướp, như thế gọi là có việc không cho mà lấy.

Thế nào gọi là hoặc ở trong thành ấp? Nghĩa là thành chung quanh có tường rào bao kín.

Thế nào gọi là hoặc ở nơi A-luyện-nhã? Nghĩa là chung quanh không có thành quách với tường rào bao kín.

Thế nào gọi là không cho? Nghĩa là người khác thâu giữ không từ bỏ, không bố thí, không ban cho.

Thế nào gọi là vật? Nghĩa là những tiền bạc của cải, các thứ vật dụng trong cuộc sống do người khác thâu giữ cố ý hay vô tình, tức ở đây gọi là các vật không cho.

Thế nào gọi là có tâm trộm cướp mà lấy, không lìa trộm cướp? Nghĩa là như đã nói về những vật không cho, giữ tâm trộm cướp mà lấy, không chán, không xa lìa. Như thế gọi là có tâm trộm cướp mà lấy, không lìa trộm cướp.

Như thế gọi là không cho mà lấy: Tức ở trong đây: Thế nào là không cho? Thế nào là không cho mà lấy? Thế nào là lìa không cho mà lấy, để nói: Cho đến mạng chung luôn lìa bỏ không cho mà lấy, là Học xứ thứ hai của Ô-ba-sách-ca?

Nói không cho: Nghĩa là người khác thâu giữ cố ý hay không cố ý những tiền bạc của cải, các thứ vật dụng cần cho cuộc sống, không từ bỏ, không hề ban cho, bố thí. Đó gọi là không cho.

Không cho mà lấy: Nghĩa là đối với các thứ tiền của, vật dụng của người khác đang thâu giữ có ý giữ lấy không cho, nhưng lại khởi tâm ác, tâm bất thiện, tâm trộm cướp, chiếm đoạt, tâm giữ lấy, trộm lấy luôn hiện tiền. Dựa vào các nghiệp như thế, gia hạnh như thế, suy nghĩ như thế, thúc đẩy mạnh mẽ như thế, đường đi như thế v.v…, đối với tiền bạc, vật dụng của người khác đang thâu giữ mà cố ý, tham đắm, chiếm đoạt, trộm cướp đem chúng đi chỗ khác. Đó gọi là không cho mà lấy.

Như trước đã nói, các Ô-ba-sách-ca đối với việc không cho mà lấy có thể khéo suy xét, lựa chọn, chán ghét, xa lìa, dừng dứt, giữ gìn, không tạo, không làm, không hành, không phạm, từ bỏ, ngăn lấp, không chống, không nghịch, không trái, không vượt. Như vậy gọi là lìa bỏ không cho mà lấy. Thế nên nói: Cho đến mạng chung luôn lìa bỏ việc không cho mà lấy, là Học xứ thứ hai của Ô-ba-sách-ca.

*

3. Học xứ thứ ba: Thế nào gọi là dục tà hạnh?

Đáp: Như Đức Thế Tôn nói: “Có dục tà hạnh, nghĩa là đối với con gái và vợ của kẻ khác đã được người khác thâu giữ, tức là chúng được giữ gìn do cha mẹ, anh em, chị em, cô cậu, thân quyến, tộc họ, có ngăn cấm, có trừng phạt, hoặc có đủ ngăn cấm trừng phạt, việc thấp như trao ném hoa, tóc để làm tin, đối với các loại như thế v.v… đã dấy khởi phiền não dục, mời gọi dụ dỗ, cưỡng bức người ấy hành tác tà hạnh, không lìa bỏ tà hạnh, như thế gọi là dục tà hạnh”.

Ở đây:

Những gì gọi là có dục tà hạnh? Nghĩa là đối với dục tà hạnh, không chán sợ sâu xa, không xa không lìa, luôn sống trong đó, gây tạo đủ các thứ dục tà hạnh, như thế gọi là có dục tà hạnh.

Con gái và vợ của kẻ khác: Nghĩa là có bảy loại vợ: 1. Vợ do trao nước. 2. Vợ do tiền của hàng hóa. 3. Vợ do quân lính cướp. 4. Vợ do ý ưa thích. 5. Vợ do y phục, thức ăn uống. 6. Vợ cùng sinh sống. 7. Vợ trong chốc lát.

Vợ do trao nước: Là cha mẹ cô gái trao nước cho người nam cưới cô gái về làm vợ, về làm chủ gia đình.

Vợ do tiền của hàng hóa: Là các người nam dùng ít hay nhiều tiền bạc, của cải đem đổi lấy cô gái về làm vợ.

Vợ do quân lính cướp: Là có nhiều nam tử nhân đi đánh nước khác, cướp lấy các cô gái ở nước kia đem về làm vợ mình. Hoặc là vua nước nầy nhân đánh phá nước khác, cướp lấy những vật mình ưa thích, các thứ khác thì bỏ lại, hoặc các nam nhi dùng sức mạnh bắt các cô gái đem về làm vợ v.v…

Vợ do ý ưa thích: Là có những cô gái, đối với gia đình chàng trai, tin yêu ưa thích, nguyện về làm vợ.

Vợ do y phục, thức ăn uống: Là có những cô gái, đối với gia đình chàng trai, vì việc ăn uống, y phục nên xin đến làm vợ.

Vợ cùng sinh sống: Là có những cô gái đến nhà chàng trai, nói với chàng trai: Tôi xin đem thân nầy phó thác cho chàng. Chàng và thiếp hiện có đều là không hai, nương nhau cùng sống cho đến trọn đời, con cháu đông vui khi qua đời có người nhang khói, cúng giỗ v.v…

Vợ trong chốc lát: Là có những cô gái ưa thích chàng trai tạm thời làm vợ.

Trong việc đã được người khác thâu giữ: Con gái do người mẹ bảo hộ: Là có cô gái người cha hoặc bị cuồng loạn, hoặc đang bị sầu khổ bức bách, hoặc đã xuất gia, hoặc đã đi xa hay lẫn trốn, hoặc đã chết, người mẹ một mình ở lại nuôi nấng, săn sóc con, khuyên bảo con: Khi muốn làm gì, phải cho mẹ biết trước, rồi sau mới làm. Đó gọi là do mẹ bảo hộ.

Con gái do người cha bảo hộ: Là cô gái nầy có mẹ bị cuồng, hoặc tâm trí rối loạn, nói rộng cho đến hoặc đã qua đời, người cha một mình nuôi nấng chăm sóc con v.v…, cũng nói những lời khuyên dạy như thế v.v… Đó gọi là do người cha bảo hộ.

Do anh em bảo hộ: Là có những cô gái, cha mẹ hoặc điên cuồng, loạn, nói rộng cho đến hoặc đều qua đời, anh em đã nuôi nấng, chăm nom, che chở, riêng dặn dò: Khi muốn làm gì, phải cho các anh biết trước, rồi sau mới làm. Đó gọi là do anh em bảo hộ.

Do chị em bảo hộ: Là có những cô gái, cha mẹ hoặc điên cuồng, hoặc loạn trí, nói rộng cho đến hoặc đều qua đời, chị em đã nuôi dưỡng chăm sóc che chở, cũng khuyên bảo như trước. Đó gọi là do chị em bảo hộ.

Do cô cậu bảo hộ: Là có cô gái, chồng bị điên cuồng, loạn trí hay đã qua đời, nên đến nương nhờ nơi nhà của cô, cậu. Cô cậu khuyên cháu chớ quá sầu não, nên an tâm, tất cả mọi thứ ăn mặc đều chu cấp đầy đủ, xem cháu không khác con ruột, cũng dặn dò: Muốn làm gì hãy cho cô cậu biết trước, rồi sau mới làm. Đó gọi là do cô cậu bảo hộ.

Do thân quyến bảo hộ: Là có cô gái, trừ mẹ và người chồng, những người thân khác trong dòng họ đều gọi là thân quyến. Cô gái nầy được các thân quyến ấy chăm sóc che chở, nên gọi là do thân quyến bảo hộ.

Do tộc họ bảo hộ: Là có cô gái trừ cha và anh, những người thân khác cùng họ gọi là tông tộc. Cô gái nầy được bà con trong tộc họ trông nom chăm sóc, nên gọi là do tộc họ bảo hộ.

Có ngăn cấm: Nghĩa là có cô gái thân ở chốn thấp hèn, tuy không bà con thân thuộc nhưng có người chủ ngăn cản, nên gọi là có ngăn cấm.

Có trừng phạt: Nghĩa là có cô gái tự mình không còn quyến thuộc, lại không phải là dâm nữ, nếu có việc bị cưỡng bức làm nhục, người chủ (bảo hộ) biết được, hoặc giết chết hay cột trói giam nhốt, hoặc đuổi đi hay lấy hết tiền bạc của cải, nên gọi là có hình phạt.

Có đủ ngăn cấm, trừng phạt: Nghĩa là có cô gái tự không có thân thuộc, lại không phải là hạng thấp hèn, nương nhờ nơi kẻ khác để sống, nếu được kẻ ấy ngăn cản, nếu có sự cưỡng bức làm nhục ở chỗ nương nhờ, liền bị thêm nhiều hình phạt, nên gọi là có đủ ngăn cấm trừng phạt. Lại, như trên đã nói, tất cả các cô gái theo chỗ nương nhờ đều có ngăn cấm và trừng phạt. Vì sao? Do các người nữ, pháp luật đã quy định có sự ràng buộc ngăn cấm, nếu ai làm việc trái lễ, trái pháp, liền bị giết chết, hay cột trói giam cầm, hoặc lấy hết tiền bạc của cải, hoặc bị xô đuổi làm nhục v.v… Tất cả đều gọi là có đủ ngăn cấm trừng phạt.

Thế nào gọi là việc thấp như trao ném hoa, tóc để làm tin? Nghĩa là có cô gái đã nhận của các nam tử hoa hoặc lọn tóc, hoặc các chuỗi ngọc, hoặc hương xoa, hương bột, hoặc một vật gì khác để làm tin.

Thế nào gọi là đối với các loại như thế v.v…? Nghĩa là các nam tử, các kẻ thuộc bán trạch ca, các người tu phạm hạnh. Thế nào là người tu phạm hạnh? Là các Bí-sô-ni, các Chánh học (Thức-xoama-na), Cần sách nữ (Sa-di-ni), và những Ô-ba-tư-ca (Ưu-bà-di), những người nữ ngoại đạo xuất gia, dưới đến những người nữ tại gia tu khổ hạnh. Tức là có các nam tử tự ý muốn trả tự do cho vợ mình, nên bảo: “Nầy bạn hiền! Từ nay cô được tự tại tu các phạm hạnh”. Cô nầy nghe lời như thế nên thọ trì giáo pháp, tu khổ hạnh không hề biếng trễ.

Những gì gọi là đã dấy khởi phiền não dục, nói rộng cho đến không lìa bỏ các tà hạnh? Nghĩa là khởi tâm dục tham nơi cõi Dục hiện tiền. Đối với các việc không nên làm, mời gọi dụ dỗ, cưỡng ép cùng làm tà hạnh không nhàm chán, xa lìa.

Như thế gọi là dục tà hạnh: Tức ở trong đây: Thế nào là dục? Thế nào là dục tà hạnh? Thế nào là lìa bỏ dục tà hạnh, để nói: Cho đến mạng chung luôn lìa bỏ dục tà hạnh, là Học xứ thứ ba của Ô-basách-ca?

Nói là dục: Nghĩa là tham dâm, hoặc là cảnh của tham dâm.

Dục tà hạnh: Nghĩa là như trên đã nói, những việc không nên làm mà liền làm việc tà hạnh. Ngay như vợ mình, không phải phần, không hợp lễ, không đúng nơi đúng lúc, cũng đều gọi là dục tà hạnh.

Như trước đã nói, các Ô-ba-sách-ca đối với dục tà hạnh có thể khéo suy xét, lựa chọn, chán ghét, xa lìa, dừng dứt, gìn giữ, không tạo, không làm, không hành, không phạm, từ bỏ, ngăn lấp, không chống, không nghịch, không trái, không vượt. Như vậy gọi là lìa bỏ dục tà hạnh. Thế nên nói: Cho đến mạng chung luôn lìa bỏ dục tà hạnh, là Học xứ thứ ba của Ô-ba-sách-ca.

*

4. Học xứ thứ tư: Thế nào gọi là nói lời hư dối?

Đáp: Như Đức Thế Tôn nói: “Có việc nói lời hư dối, hoặc đối với sự việc công bằng chánh trực, hoặc đối với đại chúng, hoặc đối với nhà vua, hoặc đối với người nắm giữ pháp luật, hoặc đối với thân tộc v.v…, khi có việc cùng kiểm tra xét hỏi: Nầy anh kia! Anh biết thì nên nói, không biết thì chớ nói, thấy thì nên nói, không thấy thì đừng nói. Người ấy được hỏi xong, không biết nói biết, biết nói không biết, không thấy nói thấy, thấy nói không thấy. Người ấy nói như thế hoặc vì mình, hoặc vì người khác, hoặc vì danh lợi, nên cố đem những việc thấy biết đúng để nói lời hư dối, cũng không lìa hư dối. Như thế gọi là nói lời hư dối”.

Ở đây:

Những gì gọi là có việc nói lời hư dối? Nghĩa là đối với việc nói hư dối, không chán sợ sâu xa, không hề xa lìa, luôn sống trong đó, gây tạo đủ các thứ nói dối, như thế gọi là có việc nói lời hư dối.

Thế nào gọi là hoặc đối với sự việc công bằng chánh trực? Công bằng chánh trực có ba loại: 1. Công bằng chánh trực ở thôn xóm. 2. Công bằng chánh trực ở thành thị. 3. Công bằng chánh trực của quốc gia. Các vị công bằng chánh trực đó cùng tụ tập hiện tiền, đồng thời tra xét hỏi han.

Thế nào gọi là hoặc đối với đại chúng? Đại chúng có bốn loại: 1. Chúng Sát-đế-lợi. 2. Chúng Bà-la-môn. 3. Chúng Cư sĩ. 4. Chúng Sa-môn. Các đại chúng ấy tụ tập hiện tiền đồng thời tra xét hỏi han.

Thế nào gọi là hoặc đối với nhà vua? Nghĩa là các bậc quốc vương, các quan tể tướng, phụ chính hành xử việc công, hoặc tụ tập hiện tiền cùng xét hỏi.

Thế nào gọi là hoặc đối với người nắm giữ pháp luật? Nghĩa là người nầy thông tỏ về luật pháp, cứng rắn, ngay thẳng trong việc xét đoán, nắm giữ lý pháp tụ tập hiện tiền đồng lúc xét hỏi.

Thế nào gọi là hoặc đối với thân tộc? Nghĩa là các vị thân tộc tụ tập hiện tiền đồng lúc cùng xét hỏi.

Thế nào gọi là cùng kiểm tra xét hỏi? Nghĩa là hoặc muốn có chứng cớ, hoặc xét hỏi chính người đó, đại chúng tụ tập đông đủ cùng kiểm tra xét hỏi: “Nầy anh kia! Nay đối trước mọi người, nên trình bày thành thật đầy đủ các sự việc. Đối với các sự việc ấy, nếu thấy nghe hiểu biết thì nên nói rõ, nêu đúng, còn như không thấy nghe thì chớ nên đặt điều nói năng sai lạc”. Như thế gọi là cùng kiểm tra xét hỏi.

Thế nào gọi là không biết nói biết? Nghĩa là do nhĩ thức đã từng thọ nhận, biết rõ, gọi là đã nghe. Nhĩ thức của người nầy không từng thọ nhận, biết rõ, nhưng lại ẩn giấu ý tưởng ấy, cảm thấy thích thú, nên nói: “Tôi đã nghe”. Như vậy gọi là không biết nói biết.

Thế nào gọi là biết nói không biết? Nghĩa là do nhĩ thức đã từng thọ nhận, biết rõ, gọi là đã nghe. Nhĩ thức của người nầy đã từng thọ nhận, biết rõ, nhưng lại ẩn giấu ý tưởng ấy, cảm thấy thích thú, nên nói: “Tôi không nghe”. Như vậy gọi là biết nói không biết.

Thế nào gọi là không thấy nói thấy? Nghĩa là do nhãn thức đã từng thọ nhận, biết rõ, gọi là đã thấy. Nhãn thức của người nầy không từng thọ nhận, biết rõ, nhưng lại ẩn giấu ý tưởng ấy, cảm thấy thích thú, nên nói: “Tôi đã thấy”. Như vậy gọi là không thấy nói thấy.

Thế nào gọi là thấy nói không thấy? Nghĩa là do nhãn thức đã từng thọ nhận, biết rõ, gọi là đã thấy. Nhãn thức của người nầy đã từng thọ nhận, biết rõ, nhưng lại ẩn giấu ý tưởng ấy, cảm thấy thích thú, nên nói: “Tôi không thấy”. Như vậy gọi là thấy nói không thấy.

Thế nào gọi là hoặc vì mình? Nghĩa là có một loại hữu tình, thân hành trộm cướp, bị vua v.v… bắt được hỏi: Nhà ngươi là giặc cướp chăng? Người nầy khi nghe hỏi, tự nghĩ: Nếu ta nói thật tức bị nhà vua v.v… hoặc giết hại, hoặc bị trói giam, hoặc bị đuổi đi, hoặc bị đoạt hết gia sản, tiền bạc. Vậy ta nay nên cố tình che giấu sự thật, cho nên tuy nhận biết đúng nhưng phải nói hư dối. Nghĩ xong, liền tâu vua: Thật sự con không hề làm việc không cho mà lấy. Như vậy gọi là vì mình nên nói hư dối.

Thế nào gọi là hoặc vì người khác? Nghĩa là có một loại hữu tình biết rõ bạn mình thân hành trộm cướp, bị vua v.v… kêu lên làm chứng, hỏi: Nhà ngươi biết người nầy hành trộm cướp chăng? Người ấy nghe hỏi liền nghĩ: Nếu trả lời thật thì bạn ta tức bị nhà vua v.v… hoặc giết hại, hoặc trói giam, hoặc bị đuổi đi, hoặc thu lấy hết gia sản, tiền bạc. Vậy ta nay phải che giấu việc ấy, cho nên tuy nhận biết đúng nhưng phải nói hư dối. Nghĩ thế nên tâu vua: Con biết rõ bạn con nhất định không hề làm việc không cho mà lấy. Như vậy gọi là vì người khác nên nói hư dối.

Thế nào gọi là hoặc vì danh lợi? Nghĩa là có một loại hữu tình có nhiều ham muốn, có nhiều suy nghĩ, có nhiều ước nguyện, khởi tư duy: “Ta nay nên bày đặt phương tiện hư dối như thế để lừa người khác, tất sẽ đạt được nhiều thứ vừa ý về sắc thanh hương vị xúc v.v…”. Nghĩ xong, liền dùng mọi cách để tìm kiếm lợi lộc, cho nên tuy nhận biết đúng nhưng đều nói hư dối. Như vậy gọi là vì danh lợi nên nói hư dối.

Thế nào gọi là cố đem những việc thấy biết đúng để nói lời hư dối? Nghĩa là tự ẩn giấu ý tưởng nhận thấy vui thích, nên tuy suy nghĩ sáng rõ, nhưng lại thường xuyên nói năng nêu bày các sự việc trái với ý tưởng kia. Như vậy gọi là cố đem những việc thấy biết đúng để nói lời hư dối.

Như thế gọi là nói lời hư dối: Tức ở trong đây: Thế nào là hư dối? Thế nào là nói hư dối? Thế nào là lìa bỏ lời nói hư dối, để nói: Cho đến mạng chung, luôn lìa bỏ nói lời hư dối, là Học xứ thứ tư của Ô-ba-sách-ca?

Nói hư dối: Sự việc không thật gọi là hư. Tưởng không thật gọi là dối. Đó gọi là hư dối.

Nói lời hư dối: Do tham sân si nên đem sự việc trái với ý nghĩ của mình nói cho người khác khiến họ hiểu lầm, đó gọi là nói lời hư dối.

Như trước đã nói, các Ô-ba-sách-ca đối với việc nói lời hư dối đã khéo suy xét, lựa chọn, chán ghét, xa lìa, dừng dứt, gìn giữ, không làm, không tạo, không hành, không phạm, từ bỏ, ngăn lấp, không chống, không nghịch, không trái, không vượt. Như vậy gọi là lìa bỏ nói lời hư dối. Thế nên nói: Cho đến mạng chung lìa bỏ nói lời hư dối, là Học xứ thứ tư của Ô-ba-sách-ca.

*

5. Học xứ thứ năm: Thế nào là các thứ rượu?

Đáp: Thế nào là uống các thứ rượu? Thế nào là xứ phóng dật? Thế nào là lìa bỏ việc uống rượu ở xứ phóng dật, để nói: Cho đến mạng chung, luôn lìa bỏ việc uống rượu, là Học xứ thứ năm của Ô-ba-sách-ca?

Ở đây:

Các thứ rượu: Tức như rượu Tốt-la, rượu Mê-lệ-da, rượu Mạtđà. Rượu Tốt-la: Là dùng gạo, mì v.v… chưng nấu đúng pháp hòa với nước men rượu bỏ các thứ cây thuốc vào ngâm, ủ lại tạo thành một thứ rượu có đủ màu sắc hương vị, uống vào sẽ say mèn, gọi là rượu Tốt-la. Rượu Mê-lệ-da: Là nước cất của các thứ rễ, củ, cộng, lá, hoa, quả v.v… không cần phải hòa với nước men rượu để ủ, vẫn tạo thành một thứ rượu có đủ màu sắc hương vị, uống vào cũng say, gọi là rượu Mê-lệ-da. Rượu Mạt-đà: Là rượu Bồ đào. Các thứ rượu Tốt-la, rượu Mê-lệ-da khi uống vào khiến say, cũng gọi chung là Mạt-đà.

Uống các thứ rượu: Nghĩa là uống, nhấm nháp, thưởng thức các thứ rượu nói trên, gọi là uống các thứ rượu.

Xứ phóng dật: Nghĩa là uống các thứ rượu nói trên rồi, có thể khiến tâm sinh ra kiêu ngạo, say sưa, cuồng loạn, không còn biết tôn ti, các lỗi lầm nặng, các nghiệp ác đều nhân đấy dấy khởi. Chỗ dựa của phóng dật gọi là xứ phóng dật.

Như trước đã nói, các Ô-ba-sách-ca đối với việc uống các thứ rượu đã có thể khéo suy xét, lựa chọn, chán ghét, xa lìa, dừng dứt, gìn giữ, không làm, không tạo, không hành, không phạm, từ bỏ, ngăn lấp, không chống, không nghịch, không trái, không vượt. Như vậy gọi là lìa uống các thứ rượu nơi xứ phóng dật. Thế nên nói: Cho đến mạng chung, luôn lìa bỏ uống các thứ rượu nơi xứ phóng dật, là Học xứ thứ năm của Ô-ba-sách-ca.

**

Năm thứ như thế: Thế nào là học, thế nào là xứ, để nói là Học xứ?

Đáp: Học: Nghĩa là đối với năm xứ, điều nào chưa đầy đủ thì làm cho đầy đủ, luôn siêng năng kiên trì chân chánh tu tập gia hạnh v.v…, nên gọi là học. Xứ: Nghĩa là lìa bỏ sát sinh v.v…, là chỗ dựa của học, nên gọi là xứ. Lại, lìa bỏ sát hại v.v… tức gọi là học, cũng tức gọi là xứ, nên gọi là Học xứ (Các giới phải tu học).

Hỏi: Tất cả Ô-ba-sách-ca đều quy y Phật Pháp Tăng chăng?

Đáp: Trừ các Ô-ba-sách-ca thế tục hết thảy đều quy y Tam bảo Phật Pháp Tăng. Có những hữu tình quy y Tam bảo Phật Pháp Tăng nhưng không phải là Ô-ba-sách-ca, đó là Bí-sô, Bí-sô-ni, Chánh học (Thức-xoa-ma-na), Cần sách nam, Cần sách nữ, Ô-batư-ca v.v…

Hỏi: Tất cả Ô-ba-sách-ca đều là đệ tử của Đức Thế Tôn chăng?

Đáp: Nên nêu ra bốn trường hợp:

1. Có những hữu tình là Ô-ba-sách-ca nhưng không phải là đệ tử của Đức Thế Tôn: Tức là các Ô-ba-sách-ca chưa được kiến đế, đối với quả vị lai chưa có thể hiện quán.

2. Có những đệ tử của Đức Thế Tôn nhưng không phải là Ô-basách-ca: Tức là những Bí-sô, Bí-sô-ni, Chánh học, Cần sách nam, Cần sách nữ, Ô-ba-tư-ca v.v… đã được kiến đế, đối với quả vị lai đã có thể hiện quán.

3. Có những hữu tình là Ô-ba-sách-ca cũng là đệ tử của Đức Thế Tôn: Tức là những Ô-ba-sách-ca đã được kiến đế, đối với quả vị lai đã có thể hiện quán.

4. Có những hữu tình không phải là Ô-ba-sách-ca cũng không phải là đệ tử của Đức Thế Tôn: Tức là những Bí-sô, Bí-sô-ni, Chánh học, Cần sách nam, Cần sách nữ, Ô-ba-tư-ca v.v… chưa được kiến đế, đối với quả vị lai chưa có thể hiện quán, cùng những phàm phu khác chưa được kiến đế.

Hỏi: Tất cả đều thuộc về Tăng bảo đều được Tăng hòa kính chăng?

Đáp: Nên nêu ra bốn trường hợp:

1. Có loại thuộc về Tăng bảo nhưng không được Tăng hòa kính: Nghĩa là những Chánh học, Cần sách nam, Cần sách nữ, Ô-ba-sáchca v.v… đã được kiến đế, đối với quả vị lai đã có thể hiện quán.

2. Có loại được Tăng hòa kính nhưng không thuộc về Tăng bảo: Nghĩa là những Bí-sô, Bí-sô-ni chưa được kiến đế, đối với quả vị lai chưa có thể hiện quán.

3. Có loại thuộc về Tăng bảo cũng được Tăng hòa kính: Nghĩa là những Bí-sô, Bí-sô-ni đã được kiến đế, đối với quả vị lai đã có thể hiện quán.

4. Có loại không thuộc về Tăng bảo cũng không được Tăng hòa kính: Nghĩa là những Chánh học, Cần sách nam, Cần sách nữ, Ô-basách-ca, Ô-ba-tư-ca chưa được kiến đế, đối với quả vị lai chưa có thể hiện quán, cùng các phàm phu khác chưa được kiến đế.

HẾT – QUYỂN 1

Print Friendly, PDF & Email