LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA
Tác giả: Năm trăm vị Đại A La Hán
Hán dịch: Đời Đường, Tam Tạng Pháp sư Huyền Trang
Việt dịch: Cư sĩ Nguyên Huệ

 

QUYỂN 96

Chương 3: TRÍ UẨN

Phẩm 1: BÀN VỀ HỌC CHI, phần 4

Về kinh sau đã dẫn kể việc Tôn giả Xá-lợi-tử, cũng không có nghĩa nhất định là phủ nhận việc các tâm sở sinh ra cùng một lúc. Là người nhận biết rõ tâm nhập hay xuất khỏi giác chi định, nên Tôn giả Xá-lợi-tử tùy ý tự tại trụ nhập giác chi định. Ở đây, dựa vào thời phần để nói việc trụ nơi giác chi theo ý tự tại, không nói riêng việc khởi từng giác chi một, nên không thành chứng minh xác nhận.

Lại nữa, kinh ấy căn cứ vào việc trụ nơi các giác chi của ba địa nên nói như thế cũng không trái với lý. Nghĩa là buổi sáng, muốn trụ vào giác chi ở địa có tầm có tứ liền có thể trụ được. Buổi trưa, muốn trụ vào giác chi ở địa không tầm chỉ có tứ cũng có thể trụ được. Buổi tối, muốn trụ vào giác chi ở địa không tầm không tứ cũng có thể trụ được, nên nói như thế cũng không trái với chỗ cùng khởi.

Lại nữa, kinh ấy căn cứ vào việc trụ nơi các giác chi tương ưng với ba căn để nói nên cũng không trái với lý. Nghĩa là buổi sáng, muốn trụ vào giác chi tương ưng với lạc căn liền có thể trụ được. Buổi trưa, muốn trụ vào giác chi tương ưng với hỷ căn tức cũng liền trụ được. Buổi tối, muốn trụ vào giác chi tương ưng với xả căn tức cũng liền trụ được, nên nói như thế cũng không trái với chỗ cùng khởi.

Lại nữa, kinh ấy căn cứ vào việc trụ nơi các giác chi của ba thứ Tam-ma-địa cùng sinh để nói nên cũng không trái với lý. Nghĩa là buổi sáng, muốn trụ nơi các giác chi thuộc Tam-ma-địa Không cùng sinh tức cũng trụ được. Buổi trưa, muốn trụ nơi các giác chi thuộc Tam-ma-địa Vô nguyện cùng sinh tức cũng trụ được. Buổi tối, muốn trụ nơi các giác chi thuộc Tam-ma-địa Vô tướng cùng sinh tức cũng trụ được, nên nói như thế cũng không trái với chỗ cùng khởi.

Lại nữa, kinh ấy căn cứ vào việc trụ nơi các giác chi của ba thứ trí cùng sinh để nói nên cũng không trái với lý. Nghĩa là buổi sáng, muốn trụ nơi các giác chi của tận trí cùng sinh tức liền trụ được. Buổi trưa, muốn trụ nơi các giác chi của vô sinh trí cùng sinh tức cũng trụ được. Buổi tối, muốn trụ nơi các giác chi của trí chánh kiến vô học cùng sinh tức cũng an trụ, nên nói như thế cũng không trái với chỗ cùng khởi.

Lại nữa kinh ấy căn cứ vào việc trụ nơi các giác chi của chín địa để nói nên cũng không trái với lý. Nghĩa là buổi sáng, muốn trụ vào các giác chi của ba địa như định vị chí v.v… tức liền trụ được. Buổi trưa, muốn trụ vào các giác chi của địa nơi ba tĩnh lự sau tức liền trụ được. Buổi tối, muốn trụ vào các giác chi của địa nơi ba vô sắc trước tức liền trụ được, nên nói như thế cũng không trái với chỗ cùng khởi.

Hoặc lại có kẻ chấp: Cận phần của tĩnh lự có hỷ không có giới. Hoặc lại có người chấp: Các tĩnh lự trung gian trở lên các địa đều có chánh tư duy. Hoặc lại có kẻ chấp: Ở trong các địa vô sắc cũng có thể có giới.

Để ngăn chận các thứ chấp dị biệt ấy và làm sáng tỏ chánh lý nên tạo ra phần Luận này.

Nếu dựa vào định vị chí, khi giác chi niệm hiện tiền, có sáu giác chi và tám đạo chi hữu học hiện tiền, sáu giác chi và chín đạo chi vô học hiện tiền. Ở đây, nói sáu giác chi: Tức trừ giác chi hỷ. Chín đạo chi: Tức hai thứ chánh kiến, chánh trí theo đấy trừ một thứ. Các chi còn lại đều có đủ. Ở đây nói tức để ngăn chận về ý tưởng cho cận phần của tĩnh lự có hỷ không có giới.

Cũng có Tụng nói: Nếu dựa vào định vị chí có tầm có tứ, khi giác chi niệm hiện tiền, tuy đối với nghĩa không có ích, nhưng là để dứt trừ nghi, nên nói như thế. Như có chỗ khác nói: Nếu dựa vào vị chí để nói thì chung cho cả tĩnh lự trung gian và cận phần của địa trên, đều là vị chí, do định căn bản kia nên lập tên là vị chí. Nay vì giản lược bỏ tĩnh lự trung gian và cận phần của địa trên, nên nói: Nếu dựa vào định vị chí có tầm có tứ để nói. Đây là làm sáng tỏ việc chỉ dựa vào tĩnh lự thứ nhất và định vị chí ở trước, lúc giác chi niệm hiện tiền.

Nếu dựa vào tĩnh lự thứ nhất, khi giác chi niệm hiện tiền, có bảy giác chi và tám đạo chi hữu học hiện tiền, bảy giác chi và chín đạo chi vô học hiện tiền. Ở đây, chín đạo chi: Tức như trước đã nói (trừ chánh trí hoặc chánh kiến). Các chi còn lại đều có đủ.

Nếu dựa nơi tĩnh lự trung gian, khi giác chi niệm hiện tiền, có sáu giác chi và bảy đạo chi hữu học hiện tiền, sáu giác chi và tám đạo chi vô học hiện tiền. Nếu dựa vào tĩnh lự thứ ba, thứ tư cũng như vậy. Trong đây, sáu giác chi: Tức trừ giác chi hỷ. Bảy đạo chi hữu học: Là trừ chánh tư duy. Tám đạo chi vô học: Là trừ chánh tư duy và trong hai thứ chánh kiến, chánh trí trừ một thứ. Ở đây nói là để ngăn chận lối chấp cho ở địa trên cũng có chánh tư duy.

Nếu dựa vào tĩnh lự thứ hai, khi giác chi niệm hiện tiền, có bảy giác chi và bảy đạo chi hữu học hiện tiền, bảy giác chi và tám đạo chi vô học hiện tiền, vì địa kia có hỷ, không có chánh tư duy. Phần còn lại như trước đã nói.

Nếu dựa vào định vô sắc, khi giác chi niệm hiện tiền, có sáu giác chi và bốn đạo chi hữu học hiện tiền, sáu giác chi và năm đạo chi vô học hiện tiền. Trong đây, nói sáu giác chi: Tức là trừ giác chi hỷ. Bốn đạo chi hữu học: Tức trừ chánh tư duy và chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng. Năm đạo chi vô học: Là trừ bốn chi nói trên và chánh kiến hoặc chánh trí trừ một. Ở đây nói là để ngăn chận lối chấp cho trong định vô sắc cũng có giới.

Về các giác chi: Trạch pháp, tinh tấn, khinh an, định, xả và các đạo chi: Chánh kiến, chánh cần, chánh niệm, chánh định cũng như vậy. Tức đều chung cho tất cả các địa như giác chi niệm. Đây là nói chung, có khác biệt là khi chánh kiến của đạo chi hiện tiền thì nhất định trừ chánh trí.

Nếu dựa vào tĩnh lự thứ nhất, khi giác chi hỷ hiện tiền, có bảy giác chi và tám đạo chi hữu học hiện tiền, bảy giác chi và chín đạo chi vô học hiện tiền. Ở đây, chín đạo chi: Tức là chánh kiến, chánh trí trừ đi một. Còn các chi khác đều có đủ.

Nếu dựa vào tĩnh lự thứ hai, khi giác chi hỷ hiện tiền, có bảy giác chi và bảy đạo chi hữu học hiện tiền, bảy giác chi và tám đạo chi vô học hiện tiền. Ở đây, bảy đạo chi: Tức là trừ chánh tư duy. Tám đạo chi vô học: Tức là trừ chánh tư duy và chánh kiến hoặc chánh trí trừ đi một.

Hỏi: Vì sao ở địa cận phần không có giác chi hỷ?

Đáp: Vì ở đấy không phải là vật chứa đựng, không phải là ruộng.

Lại nữa, vì các địa cận phần tuy đã lìa nhiễm hay chưa lìa nhiễm nơi địa dưới đều được hiện tiền. Vì chưa phải là điều kỳ lạ, ít có nên không sinh hỷ. Như có người bị trói buộc, khi được giải thoát lại gặp sự may mắn hơn, tâm đối với việc được giải thoát kia không lấy làm lạ, nên không sinh hỷ.

Lại nữa, nếu ở địa cận phần cũng có hỷ thì nó không khác gì với địa căn bản.

Lại nữa, nếu ở địa cận phần cũng có hỷ, vì tham đắm hỷ này nên không cầu mong đến địa căn bản. Nếu như thế liền bị ngăn trở việc lìa bỏ nhiễm ở bậc dưới. Như có người đang đi giữa đường lại tham đắm vào sự việc gì đó làm sao đến nơi sớm được. Cho nên các cận phần không có giác chi hỷ.

Nếu dựa vào định vị chí, khi chánh tư duy hiện tiền, có sáu giác chi và tám đạo chi hữu học hiện tiền, sáu giác chi và chín đạo chi vô học hiện tiền. Ở đây, sáu giác chi: Là trừ giác chi hỷ. Chín đạo chi: Là chánh kiến hoặc chánh trí trừ đi một. Còn các chi khác đều có đủ.

Nếu dựa vào tĩnh lự thứ nhất, khi chánh tư duy hiện tiền, có bảy giác chi và tám đạo chi hữu học hiện tiền, bảy giác chi và chín đạo chi vô học hiện tiền. Ở đây, chín đạo chi vô học: Như trước đã nói, nên biết.

Hỏi: Vì sao ở địa trên không có chánh tư duy?

Đáp: Vì ở đấy không phải là vật chứa đựng, không phải là ruộng.

Lại nữa, vì để đối trị với tầm mong cầu địa trên. Nếu trong địa trên cũng có tầm thì đâu cần khởi các gia hạnh thù thắng để mong cầu đạt địa trên.

Lại nữa, nếu các pháp ở địa dưới và địa trên đều có thì đâu có pháp diệt dần dần. Nếu không có pháp diệt dần thì đâu có pháp diệt rốt ráo. Nếu không có pháp diệt rốt ráo làm sao có được giải thoát, xuất ly và Niết-bàn? Chớ nên phạm lỗi này, thế nên ở địa trên không có chánh tư duy.

Lại nữa, chánh tư duy là thô, còn địa trên thì vi tế.

Lại nữa, chánh tư duy là tướng tìm cầu, còn ở địa trên thì không tìm cầu, nên không có chánh tư duy.

Lại nữa, nếu trong địa có biểu nghiệp của thân ngữ và tùy có một trong năm thức thì địa ấy có chánh tư duy. Trong địa trên không có biểu nghiệp của thân ngữ, cũng không có năm thức thân nên không có chánh tư duy.

Nếu dựa vào định vị chí, khi chánh ngữ hiện tiền, có sáu giác chi và tám đạo chi hữu học hiện tiền, sáu giác chi và chín đạo chi vô học hiện tiền. Ở đây, sáu giác chi: Là trừ giác chi hỷ. Còn các thứ khác như trước đã nói.

Nếu dựa vào tĩnh lự thứ nhất, khi chánh ngữ hiện tiền, có bảy giác chi và tám đạo chi hữu học hiện tiền, bảy giác chi và chín đạo chi vô học hiện tiền. Ở đây, chín đạo chi vô học: Như trước đã nói, nên biết.

Nếu dựa vào tĩnh lự trung gian, khi chánh ngữ hiện tiền, có sáu giác chi và bảy đạo chi hữu học hiện tiền, sáu giác chi và tám đạo chi vô học hiện tiền. Dựa vào tĩnh lự thứ ba, thứ tư cũng như vậy. Ở đây, sáu giác chi: Là trừ giác chi hỷ. Bảy đạo chi hữu học: Tức là trừ chánh tư duy. Tám đạo chi vô học: Tức là trừ chánh tư duy và chánh kiến hoặc chánh trí trừ một.

Nếu dựa vào tĩnh lự thứ hai, khi chánh ngữ hiện tiền, có bảy giác chi và bảy đạo chi hữu học hiện tiền, bảy giác chi và tám đạo chi vô học hiện tiền. Ở đây, bảy đạo chi hữu học và tám đạo chi vô học: Đều như trước đã nói.

Chánh nghiệp, chánh mạng cũng như thế, tức đều chỉ có nơi sáu địa.

Hỏi: Vì sao ở vô sắc không có ba thứ giới như chánh ngữ v.v…? Đáp: Vì ở đấy không phải là vật chứa đựng, không phải là ruộng.

Lại nữa, giới là một phần của sắc, vô sắc là không có sắc, nên không có giới.

Lại nữa, giới là do đại chủng tạo nên, vô sắc thì không có đại chủng, nên không có giới.

Hỏi: Đã không có đại chủng vô lậu cũng nên không có giới vô lậu chăng?

Đáp: Giới là do đại chủng mà được thành. Sắc thì không do đại chủng mà thành. Vô lậu chỉ do tâm lực mà thành vô lậu.

Lại nữa, vì chán bỏ các sắc, nhập định vô sắc, mà giới là sắc nên trong địa kia không có.

Lại nữa, nếu định vô sắc cũng còn có sắc thì tất không có pháp diệt dần dần v.v… cho đến nói rộng, nên ở đấy không có giới.

Lại nữa, vì để đối trị với giới ác nên có giới thiện. Còn định ở cõi vô sắc không thể đối trị các pháp giới ác nên không có giới thiện. Vì sao? Vì các pháp giới ác chỉ có ở cõi dục, còn cõi vô sắc đối với cõi dục có đủ bốn thứ xa nên không thể đối trị. Thế nào là bốn thứ xa? Đó là: 1. Xa chỗ nương dựa. 2. Xa đối tượng duyên. 3. Xa hành tướng. 4. Xa đối trị.

Thế nên định vô sắc không có ba thứ chi giới như chánh ngữ v.v…

* Có ba mươi bảy pháp Bồ-đề phần: Đó là bốn niệm trụ, bốn chánh thắng, bốn thần túc, năm căn, năm lực, bảy giác chi và tám đạo chi. Đức Thế Tôn tuy nói pháp Bồ-đề phần nhưng không nói có ba mươi bảy thứ, chỉ nói bảy giác chi gọi là pháp Bồ-đề phần. Làm sao nhận biết được như thế?

Do kinh làm lượng. Tức như Khế kinh nói: Có một vị Bí-sô đến chỗ Đức Phật, đảnh lễ nơi hai chân Phật, lui ngồi sang một bên và thưa: Như Đức Thế Tôn nói có bảy giác chi. Những gì là bảy giác chi? Đức Thế Tôn nói: Tức bảy pháp Bồ-đề phần gọi là bảy giác chi.

Hỏi: Pháp Bồ-đề phần có ba mươi bảy thứ, vì sao Đức Thế Tôn chỉ nói bảy giác chi gọi là pháp Bồ-đề phần?

Đáp: Vì Đức Phật tùy theo lời hỏi của Bí-sô kia để trả lời. Vì Bí-sô chỉ hỏi về bảy giác chi, nên Đức Phật cũng chỉ nói bảy pháp Bồ-đề phần. Nếu Bí-sô hỏi về bốn niệm trụ v.v… cho đến tám đạo chi thì Đức Phật cùng tùy theo từng điều hỏi để đáp.

Lại nữa, trong kinh chỉ nói pháp Bồ-đề phần vô lậu, mà bảy giác chi hoàn toàn là vô lậu, nên phải nói riêng. Còn các thứ kia chung cho cả hữu lậu, nên không nói.

Có thuyết cho: Trong các kinh khác cũng có nói đủ ba mươi pháp Bồ-đề phần, nhưng vì thời gian lâu quá nên kinh ấy đã thất lạc.

Làm sao nhận biết được? Như Tôn giả Đạt-la-đạt-đa nêu: Đức Thế Tôn có lúc nói một đạo chi, có lúc nói hai thứ, cho đến có lúc nói ba mươi bảy thứ, tức là ba mươi bảy pháp Bồ-đề phần, như dụ về búa chặt cây.

Trong Khế kinh nói, đối với ba mươi bảy pháp tu đạo, nếu chỉ chọn lấy thứ quyết định thì nên nói về bảy thứ pháp tu đạo, tức là bảy giác chi chỉ là vô lậu. Nếu chỉ chọn lấy thứ không quyết định thì nên nói về sáu vị pháp tu đạo còn lại, tức là bốn niệm trụ v.v… cho đến tám đạo chi, vì chúng chung cho cả hữu lậu và vô lậu. Nếu chọn lấy chung cho cả quyết định và không quyết định thì nên nói ba mươi bảy pháp tu đạo, tức là sáu vị pháp trước và bảy giác chi. Cho nên ba mươi bảy pháp Bồ-đề phần cũng là Đức Thế Tôn đã nói trong Khế kinh.

Hỏi: Ba mươi bảy pháp Bồ-đề phần, về tên gọi có ba mươi bảy, về thật thể là bao nhiêu?

Đáp: Thật thể này có mười một hoặc mười hai.

Nếu lấy tất cả thâu gồm vào giác chi: Tức bảy giác chi, tên gọi đã có bảy, thật thể cũng là bảy. Tín và chánh tư duy mỗi loại chỉ có một thứ. Chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng: Có thuyết nói là hai, thì chánh mạng tức là chánh ngữ, chánh nghiệp. Có thuyết nói là ba, tức là ngoài chánh ngữ, chánh nghiệp, có chánh mạng. Nếu nói là hai tức chỉ có mười một, nếu nói là ba thì có mười hai. Vì sao? Vì bốn niệm trụ, tuệ căn, tuệ lực, chánh kiến thì thâu gồm vào giác chi trạch pháp.

Bốn chánh thắng, tinh tấn căn, tinh tấn lực, chánh cần thì thâu gồm vào giác chi tinh tấn. Bốn thần túc, định căn, định lực, chánh định thì thâu gồm vào giác chi định. Niệm căn, niệm lực, chánh niệm thì thâu gồm vào giác chi niệm. Riêng tín căn, tín lực hợp lại thành tín.

Nếu lấy tất cả thâu gồm vào đạo chi: Tức tám đạo chi, tên gọi tuy có tám, nhưng thật thể không nhất định. Nếu nói chánh mạng là chung với chánh ngữ, chánh nghiệp thì thật thể chỉ có bảy. Nếu nói chánh mạng không phải là chánh ngữ, chánh nghiệp thì thật thể có tám. Lại có bốn thứ tín, hỷ, khinh an, xả, nên cũng có mười một. Hoặc có mười hai. Vì sao? Vì bốn niệm trụ, tuệ căn, tuệ lực và giác chi trạch pháp thì thâu gồm vào chánh kiến. Bốn chánh thắng, tinh tấn căn, tinh tấn lực, giác chi tinh tấn thì thâu gồm vào chánh cần. Bốn thần túc, định căn, định lực, giác chi định thì thâu gồm vào chánh định. Niệm căn, niệm lực, giác chi niệm thì thâu gồm vào chánh niệm. Riêng tín căn, tín lực hợp lại làm một tín.

Có thuyết nói: Chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng là tự tánh của giới nên hợp làm một thứ. Nếu nói như thế thì pháp Bồ-đề phần tên gọi có ba mươi bảy, thật thể chỉ có mười.

Cũng như danh – thật thể, thì các thứ danh thiết lập – thể thiết lập, danh dị tướng – thể dị tướng, danh dị tánh – thể dị tánh, danh sai biệt – thể sai biệt, danh phân biệt – thể phân biệt, danh biết rõ – thể biết rõ nên biết cũng như thế.

Như vậy gọi là tự tánh, là bản tánh, tướng phần ngã vật của pháp Bồ-đề phần.

Đã nói về tự tánh, về lý do nay sẽ nói.

Hỏi: Vì sao gọi là pháp Bồ-đề phần? Pháp Bồ-đề phần là nghĩa gì?

Đáp: Tận trí, vô sinh trí gọi là Bồ-đề, vì đã giác ngộ rốt ráo về bốn Thánh đế. Nếu pháp tùy thuận vào sự giác ngộ rốt ráo này có lực dụng tăng thượng, trong đây gọi là pháp Bồ-đề phần.

Đã giải thích về tên chung của pháp Bồ-đề phần, nay sẽ lần lượt phân biệt từng thứ.

Hỏi: Vì sao gọi là niệm trụ v.v… cho đến đạo chi?

Đáp: Do sức mạnh của niệm mà loại trừ tự Thể, nên gọi là niệm trụ. Tự Thể tức là năm uẩn hữu lậu. Chính do niệm trụ (Niệm xứ) mới loại trừ được tự Thể kia. Còn trong việc chính thức giữ gìn, thúc đẩy sự hoạt động của thân ngữ ý, thì chúng là hơn hết, nên gọi là chánh thắng, hoặc gọi là chánh đoạn (chánh cần). Trong lúc chính thức tu tập các pháp đoạn và tu thì chúng có thể đoạn dứt lười biếng nên gọi là chánh đoạn. Có khả năng làm chỗ nương dựa cho các công đức thần diệu nên gọi là thần túc. Còn vì có uy thế tác dụng tăng thượng nên gọi là căn. Khó có thể chế ngự phá bỏ được nên gọi là lực. Hỗ trợ cho sự giác ngộ như thật nên gọi là giác chi. Giúp tiến tới chốn chân chánh nên gọi là đạo chi.

Hỏi: Nói giác chi là nghĩa thế nào? Là có khả năng giác ngộ nên gọi là giác chi hay là chi của giác nên gọi là giác chi? Nếu có khả năng giác ngộ nên gọi là giác chi thì chỉ một thứ là giác chi, còn sáu thứ kia là không phải. Nếu là chi của giác nên gọi là giác chi thì sáu thứ kia là giác chi, một thứ là không phải.

Đáp: Có thuyết nói: Là có khả năng giác ngộ nên gọi là giác chi. Hỏi: Nếu như thế thì một thứ là giác chi, sáu thứ kia là không phải?

Đáp: Sáu thứ kia là giác phần, có thể tùy thuận nơi giác, theo chỗ vượt hơn mà nói, nên cũng gọi là giác chi.

Lại có thuyết nói: Là chi của giác nên gọi là giác chi.

Hỏi: Nếu như thế thì sáu thứ kia là giác chi, một thứ là không phải?

Đáp: Trạch pháp là giác, cũng là giác chi. Sáu thứ kia là giác chi nhưng không phải là giác. Cũng như chánh kiến là đạo, cũng là đạo chi, còn bảy thứ kia là đạo chi nhưng không phải là đạo. Tâm tánh một cảnh là tĩnh lự, cũng là chi tĩnh lự, các thứ khác là chi tĩnh lự nhưng không phải là tĩnh lự. Lìa bỏ việc ăn phi thời là trai cũng là trai chi, các thứ khác là trai chi không phải là trai. Ở đây cũng như thế.

Hỏi: Nói đạo chi là nghĩa thế nào? Là có khả năng cầu hướng đến nên gọi là đạo chi hay là chi của đạo nên gọi là đạo chi? Nếu có khả năng cầu hướng đến nên gọi là đạo chi thì chỉ một thứ là đạo chi, còn bảy thứ kia là không phải. Nếu là chi của đạo nên gọi là đạo chi thì bảy thứ kia là đạo chi, một thứ là không phải.

Đáp: Có thuyết cho: Là có khả năng cầu hướng đến nên gọi là đạo chi.

Hỏi: Nếu như thế thì một thứ là đạo chi, bảy thứ kia là không phải?

Đáp: Bảy thứ kia là đạo phần, có thể tùy thuận nơi đạo, theo chỗ vượt hơn mà nói, nên cũng gọi là đạo chi.

Lại có thuyết nêu: Là chi của đạo nên gọi là đạo chi.

Hỏi: Nếu như thế thì bảy thứ kia là đạo chi, một thứ là không phải?

Đáp: Chánh kiến là đạo, cũng là đạo chi. Bảy thứ kia là đạo chi nhưng không phải là đạo. Như trạch pháp là giác, cũng là giác chi, sáu thứ kia là giác chi nhưng không phải là giác. Các phần còn lại đều như trước đã nói.

Đã nói về pháp Bồ-đề phần, về lý do thứ lớp nay sẽ nêu bày.

Hỏi: Vì sao đầu tiên nói về bốn niệm trụ v.v… cho đến sau cùng nói về tám đạo chi?

Đáp: Đây là tùy thuận vào pháp thứ lớp của lời văn xảo diệu.

Lại nữa, thuận theo pháp thứ lớp tiện lợi cho cả người giảng nói và người nghe pháp.

Lại nữa, đối với phần vị mới tu tập cho đến tận trí, vô sinh trí thì bốn niệm trụ có uy lực và tác dụng thường hơn cả nên nói trước. Từ bậc noãn cho đến tận trí, vô sinh trí thì bốn chánh thắng có sức mạnh và tác dụng hơn cả nên nói tiếp theo. Từ bậc đảnh cho đến tận trí, vô sinh trí thì bốn thần túc có sức mạnh và tác dụng hơn cả nên nói tiếp sau. Từ bậc nhẫn cho đến tận trí, vô sinh trí thì năm căn có sức mạnh và tác dụng hơn cả nên nói tiếp theo. Từ pháp thế đệ nhất cho đến tận trí, vô sinh trí thì năm lực có sức mạnh và tác dụng hơn cả nên nói tiếp sau. Trong phần kiến đạo thì tám đạo chi là hơn cả. Trong phần tu đạo thì bảy giác chi là hơn cả.

Hỏi: Vì sao trong phần kiến đạo thì tám đạo chi là hơn cả, còn trong phần tu đạo thì bảy giác chi là hơn cả?

Đáp: Vì nghĩa cầu hướng đến là nghĩa của đạo chi, nên kiến đạo nhanh chóng tất không vượt tâm kỳ vọng, vì thuận với nghĩa cầu hướng đến nên trong kiến đạo tám đạo chi là vượt hơn. Còn giác chi có nghĩa là giác ngộ, chín phẩm tu đạo luôn luôn giác ngộ, vì thuận theo nghĩa giác ngộ cho nên trong phần tu đạo bảy giác chi là hơn cả.

Hỏi: Nếu như thế thì vì sao nói bảy giác chi trước, nói tám đạo chi sau?

Đáp: Đây là do thuận theo pháp thứ lớp của lời văn xảo diệu.

Lại nữa, thuận theo pháp thứ lớp tiện lợi cho cả người giảng nói và người nghe pháp.

Lại nữa, tùy thuận pháp thứ lớp của số lượng tăng dần. Tức trước nói bốn, kế là năm, tiếp đó là bảy và sau cùng thì nói tám.

Lại nữa, nhằm hiển bày thứ tự của pháp thanh tịnh tăng dần. Nghĩa là trước tu bốn, kế là tu năm, tiếp là tu bảy và sau hết là tu tám.

Có Sư khác nói: Những người tu hành, trước do niệm trụ đối với cảnh như thân v.v… hiểu biết đúng thật về tự tướng, cộng tướng, trừ bỏ các tự tướng và đối tượng duyên ngu tối, dẫn khởi các pháp thiện. Như người mắt sáng dẫn dắt đám người mù, nên trước hết là nói về bốn niệm trụ. Do sức của niệm trụ thấu rõ các cảnh rồi, đối với việc đoạn và tu có thể phát sinh chánh cần, nên phần thứ hai là nói về bốn chánh thắng. Do sức của chánh thắng khiến trong sự nối tiếp, lỗi lầm tổn giảm, công đức tăng thêm, do đó có thể tu tập đúng đắn các định thù thắng, vì thế nói bốn thần túc vào phần thứ ba. Nhờ sức của thần túc khiến năm căn như tín v.v… cùng với pháp xuất thế làm tăng thượng duyên, do đó nói năm căn vào phần thứ tư. Khi nghĩa của căn đã thành tựu thì các thứ nghiệp ác phiền não có thể chiêu cảm nơi nẻo ác không thể khuất phục được, nên nêu bày năm lực vào phần thứ năm. Lực đã trọn nghĩa có khả năng nhận biết đúng thật về cảnh của bốn Thánh đế không còn do dự, nên nêu lên bảy giác chi ở phần thứ sáu. Đã giác ngộ đúng thật về bốn Thánh đế, liền chán bỏ sinh tử, vui hướng đến Niết-bàn, nên nói tám đạo chi ở phần thứ bảy.

Lời bình: Nên biết ở đây thuyết trước là tốt. Do vị tu đạo là gần gũi Bồ-đề, nghĩa thuận giác ngộ là hơn hết, nên nói về giác chi. Lại, ở phần vị tu đạo thì cả chín phẩm của chín địa luôn luôn có khả năng giác ngộ, nên các giác chi là hơn cả.

Như thế là đã nêu bày chung về thứ lớp nơi bảy phần vị của pháp Bồ-đề phần. Nay sẽ nói riêng về thứ lớp của hai thứ giác chi và đạo chi.

Hỏi: Vì sao trong bảy giác chi lại nói về giác chi niệm trước cho đến sau cùng là nói giác chi xả?

Đáp: Đây là thuận theo pháp thứ lớp của lời văn xảo diệu.

Lại nữa, tùy theo pháp thứ lớp tiện lợi cho cả người giảng nói và người nghe pháp.

Tôn giả Diệu Âm nói: Người đã thấy đế trước hết luôn nhớ nghĩ các sự việc hiện quán làm đầu và tu tập các giác chi khiến dần được đầy đủ. Như Khế kinh nói: Người ấy đối với giáo pháp luôn buộc niệm tư duy khiến không còn mê lầm, nên khởi giác chi niệm cho sự tu tập khiến viên mãn. Khi niệm đã tròn đầy, luôn chọn lựa quán xét, suy lường nơi các pháp, tức khởi tu giác chi trạch pháp cho đến khi thuần thục. Trạch pháp đã đầy đủ, phát sinh siêng năng tinh tấn, tâm không thoái chuyển, tức khởi tu giác chi tinh tấn khiến được trọn đủ. Tinh tấn đã viên mãn, phát sinh hỷ thù thắng nhưng tâm không tham đắm, tức khởi tu giác chi hỷ khiến đạt trọn vẹn. Hỷ đã đầy đủ, thân tâm phấn khích, lìa hết hôn trầm, tức khởi tu giác chi khinh an khiến được đầy đủ. Khinh an đã trọn đầy, thân tâm an lạc, được Tam-mađịa, tức khởi tu định giác chi cho đến thành tựu. Định đã đầy đủ, liền xa lìa tham lo, tâm trụ vào chỗ buông xả, tức khởi tu giác chi xả cho đến thuần thục. Tức thứ lớp của bảy giác chi là như thế.

Hỏi: Vì sao trong tám đạo chi lại nói chi chánh kiến trước v.v… cho dến sau cùng là nói chi chánh định?

Đáp: Đây là thuận theo pháp thứ lớp của lời văn xảo diệu.

Lại nữa, thuận theo pháp thứ lớp tiện lợi cho cả người giảng nói và người nghe pháp.

Tôn giả Diệu Âm nói: Người cầu thấy đế đối với việc hiện quán lấy chánh kiến làm đầu để tu tập các đạo chi khiến dần dần viên mãn. Như Khế kinh nói: Do chánh kiến nên khởi chánh tư duy. Nhờ chánh tư duy nên được chánh ngữ. Do chánh ngữ nên lại được chánh nghiệp. Do chánh nghiệp nên lại được chánh mạng. Nhờ chánh mạng nên phát khởi chánh cần (chánh tinh tấn). Do chánh cần đúng nên có thể khởi chánh niệm. Do có chánh niệm nên khởi chánh định. Tức thứ lớp của tám đạo chi là như thế.

Đã nói về thứ lớp. Nay sẽ nói về địa là chỗ dựa của các pháp ấy.

Hỏi: Địa nào có bao nhiêu pháp Bồ-đề phần?

Đáp: Trong định vị chí có ba mươi sáu thứ, tức trừ giác chi hỷ. Trong tĩnh lự thứ nhất có đủ ba mươi bảy thứ. Tĩnh lự trung gian và tĩnh lự thứ ba, tĩnh lự thứ tư mỗi thứ chỉ có ba mươi lăm, tức trừ giác chi hỷ và chánh tư duy. Tĩnh lự thứ hai có ba mươi sáu thứ, tức trừ chánh tư duy. Ba định vô sắc trước có ba mươi hai thứ, tức trừ giác chi hỷ, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng. Xứ Hữu đảnh và cõi dục đều có hai mươi hai, tức trừ các giác chi và đạo chi thuộc về vô lậu. Nếu nói giác chi trước đạo chi thì ở xứ Hữu đảnh và cõi dục cũng có đạo chi chung cho hữu lậu.

Đã nói về chỗ dựa là địa. Nay sẽ nói về việc hiện tiền.

Hỏi: Địa nào có bao nhiêu pháp Bồ-đề phần cùng thời hiện tiền?

Đáp: Trong định vị chí có ba mươi sáu pháp Bồ-đề phần, nhưng chỉ có ba mươi ba thứ đồng thời hiện tiền, vì trừ ba niệm trụ. Vì sao? Vì đối tượng duyên của bốn thứ niệm trụ này đều riêng biệt, hãy còn không có hai thứ cùng lúc hiện tiền huống chi là ba, bốn niệm trụ.

Nơi tĩnh lự thứ nhất có đủ ba mươi bảy, nhưng chỉ có ba mươi bốn thứ đồng thời hiện tiền, vì trừ ba niệm trụ.

Tĩnh lự trung gian và tĩnh lự thứ ba, thứ tư mỗi thứ có ba mươi lăm, nhưng chỉ có ba mươi hai thứ cùng lúc hiện tiền, vì trừ ba niệm trụ. Riêng tĩnh lự thứ hai có ba mươi sáu, nhưng chỉ có ba mươi ba thứ cùng lúc hiện tiền, vì cũng trừ ba niệm trụ.

Ba định vô sắc trước có ba mươi hai, nhưng chỉ có hai mươi chín thứ cùng lúc hiện tiền, vì trừ ba niệm trụ.

Cõi dục và xứ Hữu đảnh có hai mươi hai, nhưng chỉ có mười chín thứ cùng lúc hiện tiền, vì cũng trừ ba niệm trụ.

Các thứ còn lại tùy nghĩa mà nói, vì không cần có Thể riêng.

Đã nói về sự hiện tiền. Nay sẽ nói về tướng xen lẫn và không xen lẫn vào nhau.

Hỏi: Trong ba mươi bảy pháp Bồ-đề phần này các pháp là giác chi cũng là đạo chi chăng?

Đáp: Nên nêu ra bốn trường hợp:

1. Có thứ là giác chi không phải là đạo chi: Đó là các thứ hỷ, khinh an, xả.

2. Có thứ là đạo chi không phải là giác chi: Đó là các thứ chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng.

3. Có thứ là giác chi cũng là đạo chi: Đó là trừ tín, còn lại là các pháp Bồ-đề phần khác.

4. Có thứ không phải là giác chi cũng không phải là đạo chi: Đó là tín.

Hỏi: Vì sao lập hỷ làm giác chi?

Đáp: Vì nghĩa của giác chi là nghĩa thuận với giác ngộ, mà hỷ thì thuận với giác ngộ hơn hết, nên lập làm giác chi.

Hỏi: Vì sao hỷ thuận với giác ngộ hơn hết?

Đáp: Vì chín phẩm của chín địa trong phần tu đạo luôn tu các giác chi thù thắng. Như đối với đế có khả năng nhận biết đúng như thật là như thế v.v… như thế v.v… là phát sinh hỷ thù thắng. Như như sinh ra hỷ như thế v.v… như thế v.v… nên lại vui thích đối với đế, khởi sự nhận biết đúng như thật. Cũng như có người đào đất mà được các thứ châu báu. Như vậy cũng đào đất như thế v.v… như thế v.v… mà được của báu sinh ra hỷ. Như vậy được chân báu sinh ra hỷ như thế v.v… như thế v.v… nên lại vui thích đào đất. Việc này cũng như thế.

Hỏi: Vì sao không lập hỷ làm đạo chi?

Đáp: Vì đạo chi có nghĩa là thuận cầu hướng tới, mà hỷ thì không thuận với nghĩa ấy, nên không lập làm đạo chi.

Hỏi: Vì sao hỷ không thuận với đạo chi hơn cả?

Đáp: Vì như như đối với đế, phát sinh hỷ thù thắng như thế v.v… như thế v.v… rồi ham thích trụ mãi vào đó không bỏ. Cho nên đối việc cầu tiến thì hỷ không thuận hợp. Cũng như có người đang đi trên đường lại mãi mê vào việc gì đó thì không thể đến nơi nhanh được. Đây cũng như thế.

Hỏi: Vì sao khinh an và xả đều được lập làm giác chi?

Đáp: Vì nghĩa của giác chi là nghĩa thuận với giác ngộ, mà khinh an và xả thì thuận hợp với điều đó hơn cả, nên đều được lập làm giác chi.

Hỏi: Vì sao khinh an và xả lại thuận với giác chi hơn cả?

Đáp: Do sức của khinh an nên dứt nghỉ các sự việc, trụ vào xả bình đẳng, do đó có thể nhận biết đúng như thật về các đế, nên nó thuận hợp với giác ngộ hơn cả.

Hỏi: Vì sao khinh an và xả không lập làm đạo chi?

Đáp: Vì đạo chi có nghĩa là thuận cầu hướng tới, còn khinh an và xả lại không thuận hợp với nghĩa ấy, nên không lập làm đạo chi.

Hỏi: Vì sao khinh an và xả không thuận hợp với đạo chi hơn cả?

Đáp: Vì khinh an thì dứt nghỉ sự mong cầu, còn xả thì không ham thích sự tiến lên, nên chúng hoàn toàn trái với nghĩa cầu hướng tới. Cũng như đi và đứng, ngủ và thức một mực trái nhau. Đây cũng như thế.

Hỏi: Vì sao chánh tư duy được lập làm đạo chi mà không lập làm giác chi?

Đáp: Vì đạo chi có nghĩa là thuận cầu hướng tới, nó luôn thúc đẩy chánh kiến cầu mong ra khỏi sinh tử và tiến nhanh đến Niếtbàn, giống như cây roi đánh bò khiến chúng chạy mau đến nơi, cho nên lập chánh tư duy làm đạo chi. Cầu hướng tới thì không bao giờ ngừng nghỉ, đó là chánh tư duy. Còn giác chi có nghĩa là yên tĩnh, nên chúng không thuận hợp nhau. Vì các thứ yên tĩnh có thể nhận biết đúng như thật, thế nên không lập chánh tư duy làm giác chi.

Hỏi: Vì sao chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng được lập làm đạo chi mà không lập chúng làm giác chi?

Đáp: Vì đạo chi có nghĩa là thuận cầu hướng tới. Chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng như là bầu tăm xe có thể làm bánh xe cho kiến đạo, thuận với nghĩa cầu hướng tới, nên lập chúng làm đạo chi. Còn giác chi có nghĩa là thuận với giác ngộ, nhưng giác ngộ không phải là sắc mà là sự tương ưng có chỗ dựa, có đối tượng duyên, có hành tướng và tỉnh giác. Các thứ chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng trái với các tướng ấy, nên không được lập làm giác chi.

Hỏi: Vì sao tín không lập làm giác chi và đạo chi?

Đáp: Vì khi phát khởi đầu tiên, tín có thế và dụng tăng mạnh, lúc đã nhập Thánh vị rồi tu giác chi, đạo chi thời gian không giống nhau, nên đều không lập làm giác chi và đạo chi.

Lại nữa, các pháp thanh tịnh đối với các phẩm thanh tịnh có tướng hoặc đầy đủ hoặc không đầy đủ. Đầy đủ, nghĩa là có đủ các tướng của căn, lực, giác chi, đạo chi. Nếu trái với tướng trên, gọi là không đầy đủ. Trong không đầy đủ, nếu có tướng của giác chi không có tướng của đạo chi, tức lập làm giác chi, không phải là đạo chi như hỷ, khinh an, xả. Hoặc có tướng của đạo chi, không có tướng của giác chi, tức lập làm đạo chi không phải là giác chi như chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng. Còn tướng đầy đủ, tức lập làm cả giác chi và đạo chi như niệm, định, tuệ v.v… Còn trong không đầy đủ, không có tướng của cả giác chi và đạo chi, nên đều không lập ở cả hai như tín.

Hỏi: Vì sao không lập tâm làm pháp Bồ-đề phần?

Đáp: Vì tâm không có tướng của pháp Bồ-đề phần.

Lại nữa, tâm đối với các phẩm tạp nhiễm thanh tịnh có thế và dụng đều như nhau, còn pháp Bồ-đề phần có thế và dụng riêng tăng mạnh đối với phẩm thanh tịnh, do đó nên không lập.

Lại nữa, pháp Bồ-đề phần phần lớn đều duyên với cộng tướng, tâm thì phần nhiều duyên với tự tướng, cho nên không lập.

Lại nữa, pháp Bồ-đề phần luôn đối trị phiền não, vì tất cả phiền não đều là tâm sở, nên có thể đối trị, cũng không phải là tâm.

Lại nữa, pháp Bồ-đề phần phụ tá cho Bồ-đề, còn tâm vương thì không phụ tá nơi giác, như vua không có nghĩa các quan phò tá giúp đỡ.

Lại nữa, tâm luôn khiến sinh tử luân chuyển không cùng, còn pháp Bồ-đề phần có khả năng đoạn dứt sinh tử, nghĩa không tương ưng, cho nên không lập.

Lại nữa, pháp Bồ-đề phần có khả năng điều phục tâm, nhưng không thể bị điều phục, tức thuộc về chủ thể điều phục. Các người có ý muốn khiến định tức tâm nên nói tâm cũng là pháp Bồ-đề phần. Điều này trái lý nên không phải là điều luận bàn ở đây.

Hỏi: Vì sao trong các pháp đại địa chỉ lập niệm định tuệ thọ làm pháp Bồ-đề phần?

Đáp: Vì ba thứ niệm định tuệ có thế và dụng tăng thượng thuận với phẩm thanh tịnh, pháp Bồ-đề phần cũng lại như thế, nên gồm thâu ba thứ ấy. Còn thọ đối với phẩm tạp nhiễm và thanh tịnh thế và dụng đều vượt hơn, nên cũng lập làm pháp Bồ-đề phần.

Có Sư khác nói: Thọ đối với tạp nhiễm tuy thế dụng đều hơn, nhưng đối với phẩm thanh tịnh lại tạo lợi ích. Như những người Chiên-đồ-la, tuy thuộc dòng họ thấp kém nhưng cũng tạo lợi ích cho các dòng họ quý tộc. Thế nên thọ cũng được lập làm pháp Bồ-đề phần. Còn tưởng, tư, xúc, dục, đối với phẩm tạp nhiễm có thế dụng riêng tăng thượng, nên không lập làm pháp Bồ-đề phần. Đối với quán giả tưởng thì thắng giải riêng tăng, còn pháp Bồ-đề phần thì thuận với quán chân thật, nên thắng giải không thuộc về pháp Bồ-đề phần.

Có Sư khác cho: Pháp Bồ-đề phần ở phần vị hữu học riêng tăng mạnh đạt đến quả vị vô học thì thắng giải mới vượt trội, nên không lập thắng giải làm pháp Bồ-đề phần. Riêng tác ý đối với cảnh khiến tâm phát sinh hiểu biết, dễ dàng thoát khỏi chỗ không rõ rệt. Còn pháp Bồ-đề phần khiến tâm trụ nơi cảnh. Hai thứ có nghĩa không tương ưng, thế nên không lập.

Có Sư khác nêu: Lúc đầu, khi mới chọn lấy cảnh, sức của tác ý vượt hơn, nhưng khi cảnh luôn nối tiếp thì sức của tác ý giảm dần. Còn pháp Bồ-đề phần cần giữ lấy cảnh trong một thời gian dài mới có, nghĩa của hai thứ không tương ưng, thế nên không lập.

Hỏi: Vì sao cả ba thọ đều chung nơi vô lậu mà chỉ lập Hỷ làm pháp Bồ-đề phần?

Đáp: Vì hai thọ lạc và xả không có tướng ấy, nên không lập.

Lại nữa, hành tướng của pháp Bồ-đề phần thì nhanh, mạnh, còn lạc và xả thì chậm, mờ, nên cả hai đều không lập.

Lại nữa, lạc thọ vô lậu bị lạc khinh an ngăn che, gây tổn hại, xả cũng bị hành xả ngăn che, gây tổn hại, nên tướng của chúng không rõ ràng, do đó không lập làm pháp Bồ-đề phần.

Hỏi: Vì sao tầm và tứ đều chung nơi vô lậu mà chỉ lập tầm làm pháp Bồ-đề phần?

Đáp: Vì tứ không có tướng ấy nên không lập.

Lại nữa, hành tướng của pháp Bồ-đề phần thì nhanh, mạnh, còn dụng của tứ thì lại yếu kém, nên không lập.

Lại nữa, dụng của tứ bị tầm ngăn che, làm hại, dụng của tầm lại rất mạnh trong việc thúc đẩy chánh kiến, do đó không lập tứ làm pháp Bồ-đề phần.

Hỏi: Trong các pháp đại thiện địa, vì sao chỉ lập bốn thứ tín, tinh tấn, khinh an, xả làm pháp Bồ-đề phần?

Đáp: Do bốn thứ này thuận với Bồ-đề nhiều hơn, nên lập riêng chúng làm pháp Bồ-đề phần. Nghĩa là trong việc tiến đến quả vị Bồđề, tín là đứng đầu, cũng là nền tảng ban đầu để khởi các hành, nên lập tín làm pháp Bồ-đề phần. Còn tinh tấn nghiêng về phần thúc đẩy các hành tiến đến Bồ-đề, khiến nhanh chóng chứng nhập quả giác ngộ của ba thừa, nên cũng lập làm pháp Bồ-đề phần. Riêng khinh an thì điều khiển thích hợp việc đối trị các hôn trầm, giúp cho việc tu quán thù thắng. Hành xả bình đẳng là đối trị với trạo cử, giúp cho việc tu chỉ được tốt hơn, mà trong Bồ-đề phần thì quán, chỉ là chủ nên đều lập khinh an, xả làm pháp Bồ-đề phần.

Còn sáu thứ như tàm, quý v.v… (hổ thẹn) làm phát sinh pháp thiện thì thế dụng tuy hơn, nhưng đối với việc xác định thiện thì thế dụng lại yếu kém, nên không lập chúng làm pháp Bồ-đề phần, vì Bồđề phần gồm giữ việc xác định pháp thiện.

Có Sư khác nói: Trong các pháp đại thiện, nếu có những thứ đối tượng bị đối trị mạnh và tự tánh hơn thì lập làm Bồ-đề phần. Vì các thứ khác thì không như thế. Đối tượng bị đối trị mạnh nghĩa là cùng tương ưng với tất cả các tâm ô nhiễm. Còn tự tánh hơn nghĩa là khi các hành làm gốc được thúc đẩy sẽ phát sinh các hành giúp đỡ cho chỉquán được tốt hơn. Tín, tinh tấn, khinh an, xả đều đủ cả hai nghĩa, còn sáu thứ như tàm, quý v.v… thì không đủ hai nghĩa. Tức năm thứ như tàm v.v… cả hai nghĩa đều không. Riêng bất phóng dật chỉ có một thứ, lại thiếu tự tánh hơn, nên không lập làm pháp Bồ-đề phần.

Hỏi: Vì sao mừng vui và chán lìa đều có Thể là thiện nhưng không lập làm pháp Bồ-đề phần?

Đáp: Vì cả hai pháp trên đều không có khả năng duyên khắp mọi thứ. Trong một phẩm tâm cũng không cùng khởi và hỗ trợ giác thì cũng không mạnh, thế nên không lập.

Hỏi: Vì sao trong tất cả pháp sắc v.v… chỉ có sắc vô biểu là được lập làm giác phần mà không phải là các thứ khác?

Đáp: Vì các thứ chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng tùy thuận nơi Thánh đạo, thế dụng riêng tăng nên lập làm giác phần. Các pháp khác thì không như thế, do đó không lập.

Hỏi: Vì sao Thánh chủng không lập làm giác phần?

Đáp: Vì nếu pháp đối với chúng tại gia và xuất gia có đủ hai sự thù thắng thì được lập làm giác phần. Hai sự ấy là tâm mong ước thù thắng và thọ hành thù thắng. Bốn Thánh chủng ấy đối với chúng xuất gia có đủ hai thứ thù thắng, còn đối với chúng tại gia thì chỉ có một thứ thù thắng, tức có tâm mong ước mà không có thọ hành. Như trời Đế thích ngồi trên tòa hoa báu có mười hai na-do-tha chư Thiên và tiên nữ luôn vây quanh, lại có sáu muôn thứ âm nhạc trổi lên làm vui. Nhưng đối với bốn Thánh chủng tuy có tâm mong ước mà không có thọ hành. Các vị đại quốc vương như vua Ảnh Kiên v.v… Các bậc đại trưởng giả như Cấp Cô Độc v.v… cũng như thế. Cho nên bốn Thánh chủng không được lập làm giác phần.

Có thuyết nói: Ba Thánh chủng trước lấy căn thiện không tham làm tự tánh, còn Thánh chủng thứ tư là tinh tấn thì do tinh tấn vui thích đoạn, vui thích tu thâu giữ. Nếu nói như thế thì Thánh chủng thứ tư cũng là giác phần. Phái Luận Phân Biệt lập thành bốn mươi mốt pháp Bồ-đề phần, tức là thêm bốn Thánh chủng vào ba mươi bảy phần. Điều này không đúng lý, không phải là điều bàn ở đây.

Luận Phẩm Loại Túc nói: Thế nào là giác chi niệm? Nghĩa là các đệ tử của Phật đối với khổ tập diệt đạo suy tư tìm xét về khổ tập diệt đạo, khởi năng lực trợ giúp niệm Bồ-đề v.v… cho đến nói rộng, đó là vị tri đương tri căn. Hoặc các Hành giả thấy sinh tử đầy tai nạn và Niếtbàn an vui hơn hết, nên khởi năng lực giúp niệm Bồ-đề v.v… cho đến nói rộng, đó là dĩ trí căn. Hoặc các bậc A-la-hán quán sát tâm giải thoát, khởi năng lực giúp niệm Bồ-đề v.v… cho đến nói rộng, đó là cụ tri căn. Đấy gọi là giác chi niệm. Cho đến giác chi xả nói rộng cũng như thế.

Thế nào là chánh kiến? Nghĩa là các đệ tử của Phật suy tư tìm xét về khổ tập diệt đạo khởi lên trạch pháp v.v… cho đến nói rộng, đó là vị tri đương tri căn. Hoặc có Hành giả nhận thấy sinh tử đầy tai nạn và Niết-bàn an vui hơn hết nên khởi trạch pháp v.v… cho đến nói rộng, đó là dĩ tri căn. Hoặc các bậc A-la-hán nhân quán tâm giải thoát, khởi trạch pháp v.v… cho đến nói rộng, đó là cụ tri căn. Đấy gọi là chánh kiến. Cho đến chánh định nói rộng cũng như thế.

Hỏi: Vì sao trong giác chi có nói câu: Khởi năng lực giúp niệm Bồ-đề v.v…, còn trong đạo chi lại không nói: Khởi năng lức giúp trạch pháp Bồ-đề v.v…?

Đáp: Đáng lẽ nói nhưng không nói, nên biết là nghĩa ấy nêu bày chưa trọn vẹn.

Lại nữa, vì muốn nêu bày cách nói và lời văn khác, do đó khiến kẻ nói người học đều sinh thích thú.

Lại nữa, vì muốn nêu bày có hai môn, hai thứ tóm lược, hai bậc, hai trình độ, hai ngọn đuốc, hai vầng ánh sáng, hai hình v.v… nên nói như thế.

Lại nữa, trước đã nói tận trí, vô sinh trí gọi là Bồ-đề, trong phần vị tu đạo, nghĩa của giác chi đã rõ, vì gần gũi quả Bồ-đề, nên nói là trợ giúp Bồ-đề. Còn trong phần vị kiến đạo, nghĩa của đạo chi cũng rõ, vì cách xa quả Bồ-đề, nên không nói câu ấy. Như Khế kinh nói: Nếu khi quán bất tịnh thì cùng tu giác chi niệm, nương vào chán lìa, nương vào dứt bỏ, nương vào diệt hết, hồi hướng nơi xả v.v… cho đến giác chi xả nói rộng cũng như thế.

Hỏi: Bảy giác chi là vô lậu, còn quán bất tịnh là hữu lậu, pháp hữu lậu và vô lậu làm sao đi chung?

Đáp: Tôn giả Thế Hữu nói: Dùng quán bất tịnh làm chủ được tâm khiến nó càng trở nên hòa nhã mềm dịu có thể chịu đựng liên tục không gián đoạn, dấy khởi các giác chi hiện tiền, từ đó trở lại khởi quán bất tịnh. Căn cứ vào nghĩa ấy nên nói là cùng chung.

Như Khế kinh nói: Các đệ tử Thánh, nếu chí tâm lắng nghe pháp thì có khả năng đoạn dứt năm thứ ngăn che, tu bảy giác chi, khiến mau được viên mãn.

Hỏi: Điều cần là ở nơi ý thức, do tu tạo thành tuệ mới có thể đoạn trừ được phiền não, không phải do nơi năm thức, văn, tư do sinh đắc mà có thể đoạn trừ phiền não. Vì sao lại nói: Nếu do chí tâm lắng nghe pháp thì có khả năng đoạn dứt năm thứ ngăn che?

Đáp: Đây là căn cứ vào nhân lần lượt mà nói như thế. Nghĩa là có nhĩ thức khéo nghe, không gián đoạn, dẫn đến việc sinh ra ý thức thiện. Ý thức thiện không gián đoạn này dẫn đến việc sinh ra tuệ do nghe tạo thành (Văn tuệ). Tuệ do nghe tạo thành này không gián đoạn dẫn đến việc sinh ra tuệ do suy nghĩ tạo thành (Tư tuệ). Tuệ do suy nghĩ tạo thành này không gián đoạn dẫn đến việc sinh ra tuệ do tu tạo thành (Tu tuệ). Tuệ do tu tạo thành này lại được tu tập đến thuần thục thì có khả năng đoạn dứt năm thứ ngăn che, nên không trái với lý.

Hỏi: Khi đoạn trừ năm thứ ngăn che là chưa có khả năng tu đầy đủ bảy giác chi. Vì sao kinh nói là có khả năng đoạn dứt năm thứ ngăn che, tu bảy giác chi, khiến mau được viên mãn?

Đáp: Khi lìa nhiễm cõi dục gọi là có khả năng đoạn dứt năm thứ ngăn che, khi lìa nhiễm cõi sắc gọi là tu bảy giác chi, khi lìa nhiễm cõi vô sắc gọi là khiến mau được viên mãn, nên không có lỗi.

Có thuyết nói: Khi lìa nhiễm cõi dục gọi là có khả năng đoạn dứt năm thứ ngăn che. Khi lìa nhiễm cõi vô sắc gọi là tu bảy giác chi, khiến mau được viên mãn. Đây là nói về đầu và cuối, lược bỏ đoạn giữa, nên cũng không có lỗi.

Lại có thuyết nói: Khi có đạo vô gián gọi là có khả năng đoạn dứt năm thứ ngăn che. Khi được đạo giải thoát gọi là tu bảy giác chi khiến mau được viên mãn.

Cùng gần gũi bên nhau gọi là nhanh, mau.

HẾT – QUYỂN 96