LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA
Tác giả: Năm trăm vị Đại A La Hán
Hán dịch: Đời Đường, Tam Tạng Pháp sư Huyền Trang
Việt dịch: Cư sĩ Nguyên Huệ

 

QUYỂN 36

Chương 1: TẠP UẨN

Phẩm 5: BÀN VỀ KHÔNG HỔ THẸN, phần 3

* Thế nào là căn thiện tăng thượng của cõi dục? Thế nào là căn thiện vi tế cùng hiện hành? Cho đến nói rộng.

Hỏi: Vì sao tạo ra phần Luận này?

Đáp: Vì nhằm phân biệt rộng về nghĩa của kinh. Nghĩa là như Khế kinh nói: Người kia cũng có căn thiện vi tế cùng hiện hành chưa đoạn. Từ ấy có được pháp thiện khác sẽ khởi hiện do sự thanh tịnh này. Khế kinh tuy nói như thế, nhưng không phân biệt về rộng nghĩa, cũng không nói thế nào là căn thiện tăng thượng của cõi dục? Thế nào là căn thiện vi tế cùng hiện hành? Kinh là nơi nương dựa căn bản của Luận này, những điều Kinh kia không phân biệt, nay nên phân biệt rộng. Do vậy đã tạo ra phần Luận này.

Hỏi: Vì sao trong phần này không nói căn thiện phẩm trung?

Đáp: Vì đây là ý của người tạo luận muốn thế, cho đến nói rộng. Lại nữa, nên nói nhưng không nói, nên biết là nghĩa này nêu bày chưa trọn vẹn.

Lại nữa, đã nói căn thiện của phẩm trước, sau, tức đã hiển bày phần giữa.

Như trước – sau, thì trên – dưới, hướng nhập – đã xuất, gia hạnh – cứu cánh, nên biết cũng như thế.

Lại nữa, nếu sự hiện khởi thô trọng, dễ hiểu, dễ có thể thiết lập, dễ chỉ rõ, dễ nói, thì trong phần này nói đến. Phẩm trung thì không như vậy, thế nên không nói.

Lại nữa, vì phẩm trung được gồm thâu ở trong phẩm thượng và hạ, nên không nói riêng.

Lại nữa, phẩm thượng hạ là ít, là điều ít thấy ở đời, do vậy nên nói. Còn phẩm trung thì rất nhiều, không phải là điều ít thấy, nên lược bỏ không nói đến.

Hỏi: Vì sao trong phần này chỉ nói căn thiện của cõi dục, không nói cõi sắc, cõi vô sắc?

Đáp: Vì đó là ý của người tạo luận muốn thế, cho đến nói rộng. Lại nữa, nên nói nhưng không nói, phải biết là nghĩa này nêu bày chưa trọn vẹn.

Lại nữa, căn thiện của cõi sắc, cõi vô sắc đều lấy căn thiện của cõi dục làm cửa, làm gia hạnh, làm con đường đi vào. Do vậy, nếu nói căn thiện của cõi dục này, nên biết là cũng đã nói đến căn thiện của cõi sắc, cõi vô sắc kia, nên không nói riêng.

Lại nữa, vì trong đây chỉ nói pháp đối trị gần. Nghĩa là tiếp theo phần trước nói về hai căn bất thiện, là nói đến pháp đối trị gần của chúng, tức là hai thứ căn thiện của cõi dục, vì thế nên nói riêng.

Lại nữa, căn thiện vi tế tăng thượng của cõi dục dễ hiện khởi, dễ hiểu, dễ thiết lập, nên ở đây nói đến. Căn thiện tăng thượng của hai cõi sắc, cõi vô sắc, tuy dễ hiện khởi, dễ hiểu, dễ thiết lập, nhưng về vi tế không như căn thiện nơi cõi dục, nên không nói đến. Vì hai cõi trên không có nghĩa đoạn điều thiện, nên tướng của căn thiện vi tế khéo có thể thiết lập.

Hỏi: Thế nào là căn thiện tăng thượng của cõi dục?

Đáp: Là khi Bồ-tát nhập chánh tánh ly sinh, đã được thế tục trí hiện quán biên nơi cõi dục và lúc Như Lai chứng đắc tận trí, đã được căn thiện không tham, không giận, không si của cõi dục. Căn thiện như thế, ở trong các căn thiện thuộc cõi dục là tối thắng, nên gọi là tăng thượng.

Hỏi: Thế nào là căn thiện vi tế cùng hiện hành?

Đáp: Là lúc đoạn căn thiện đã xả bỏ chúng sau cùng. Do xả bỏ chúng, nên gọi là đoạn căn thiện. Căn thiện như thế là thiện sinh đắc, thuộc cõi dục, bao gồm phẩm trung hạ hạ, nên gọi là vi tế cùng hiện hành.

Hỏi: Vì sao trong đây nói lúc tận trí đã được căn thiện đối với thế tục trí hiện quán biên để biện luận về sự khác nhau?

Đáp: Có thuyết nói: Ở đây không dùng lúc tận trí được căn thiện đối với thế tục trí hiện quán biên để biện luận về sự khác nhau, nhưng dùng thế tục trí hiện quán biên đối với thế tục trí hiện quán biên để biện minh về sự khác nhau. Nghĩa là thế tục trí hiện quán biên nơi Thanh văn thì kém, nơi Độc giác thì vừa, nơi Bồ-tát thì hơn hẳn. Lại, dùng lúc tận trí đã được căn thiện đối với lúc tận trí đã được căn thiện để biện minh về sự khác nhau. Nghĩa là Thanh văn lúc tận trí được căn thiện thì kém, Độc giác thì trung bình, Như Lai thì tối thắng.

Có Sư khác cho: Trong đây cũng đem căn thiện lúc tận trí đạt được để biện minh về sự khác nhau đối với thế tục trí hiện quán biên. Nghĩa là thế tục trí hiện quán biên của Bồ-tát thì kém. Tận trí lúc đạt được căn thiện là hơn. Thanh văn, Độc giác cũng như thế. Lại nữa, thế tục trí hiện quán biên của Bồ-tát thì hơn so với Độc giác lúc tận trí đạt được căn thiện. Thế tục trí hiện quán biên của Độc giác là hơn so với Thanh văn lúc tận trí đạt được căn thiện.

Hoặc có thuyết nêu: Trong đây không nhằm biện luận về hai sự khác nhau, chỉ muốn làm rõ hai bậc này đều bình đẳng, không khác. Nghĩa là các bậc này đều do vượt qua Hữu đảnh, đều cùng được thế tục trí hiện quán biên, vì đã vượt lên trên đắc của Hữu đảnh do kiến đạo đoạn, lúc tận trí đã được căn thiện, đã vượt lên trên đắc của Hữu đảnh do tu đạo đoạn.

Hỏi: Nhị thừa cũng thế, vì sao không nói?

Đáp: Vì Nhị thừa kia không thể vượt qua tập khí của Hữu đảnh do kiến đạo, tu đạo đoạn, vì không là phải tăng thượng.

Lại có thuyết nói: Ở đây không nhằm nói điểm khác nhau giữa hai bậc, cùng sự bình đẳng của hai bậc ấy, chỉ nói thế tục trí hiện quán biên ở cõi dục của Bồ-tát và Như Lai lúc tận trí đã được căn thiện của cõi dục, là căn thiện tăng thượng của cõi dục hơn hẳn căn thiện của hàng Nhị thừa đã đạt được.

Hỏi: Nếu như vậy thì Thanh văn và Độc giác há không có căn thiện tăng thượng?

Đáp: Hai bậc đó lại lần lượt đối chiếu vào loại thấp khác để được gọi là tăng thượng, không phải đối chiếu với thừa trên.

Hỏi: Thế tục trí hiện quán biên là nhập chánh tánh ly sinh rồi mới được, vì sao nói lúc nhập là được?

Đáp: Theo lý nên nói nhập rồi mới được, nhưng nói lúc nhập là được vì ở đây nói đã nhập gọi là lúc nhập, tức đối với gần nói tiếng xa. Như nói: Đại vương hôm nay từ đâu đến? Đây cũng đã đến rồi mà nói là nay đến. Như nói: Lúc thọ nhận lạc thọ thì nhận biết như thật là thọ nhận lạc thọ. Đây cũng đã thọ nhận gọi là lúc thọ nhận. Như nói: Đoạn khổ, đoạn lạc nhập tĩnh lự thứ tư. Ở đây cũng là đối với khổ đã đoạn gọi là đoạn. Như nói: Tư duy về pháp nào để nhập đẳng chí từ? Ở đây cũng là đã nhập gọi là nhập. Như nói: Tâm của A-la-hán giải thoát dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu. Ở đây đối với dục lậu A-la-hán cũng đã giải thoát, gọi là giải thoát. Thế tục trí hiện quán biên cũng thế, đã nhập rồi, gọi là lúc nhập.

Có thuyết nói: Đúng ra là nên nói Bồ-tát lúc nhập chánh tánh ly sinh là đã được thế tục trí hiện quán biên, do trí đầu của các đế đều gọi là chánh tánh ly sinh, các nhẫn gọi là nhập. Nghĩa là khổ tập diệt loại nhẫn lúc nhập vào khổ tập diệt loại trí, gọi là chứng đắc thế tục trí hiện quán biên. Như lúc Định kim cang dụ hiện tiền, gọi là lúc được tận trí. Đây cũng như thế.

Hỏi: Vì sao trí này gọi là hiện quán biên?

Đáp: Do hiện quán khổ biên, tập biên và diệt biên mà được trí này, nên gọi là hiện quán biên.

Có thuyết cho: Đây là các Sư Du già lúc quán Thánh đế, vì tu bên cạnh mà đạt được nên gọi là hiện quán biên.

Tôn giả Diệu Âm nói: Vì trí này gần với hiện quán nên gọi là hiện quán biên. Như gần vật của thôn, nên gọi là bên cạnh thôn.

Hỏi: Hiện quán biên này đã tu pháp thiện của thế tục, lấy bốn uẩn, năm uẩn làm tự tánh, vì sao chỉ nói là thế tục trí?

Đáp: Do trí gia tăng, nên gọi là trí. Cũng như kiến đạo lấy năm uẩn làm tự tánh, vì kiến gia tăng, nên gọi là kiến. Định kim cang dụ dùng bốn uẩn, năm uẩn làm tự tánh, vì định gia tăng nên gọi là định. Bốn thứ thông hành dùng bốn uẩn, năm uẩn làm tự tánh, vì thông gia tăng, nên gọi là thông. Đây cũng như thế.

Hỏi: Thế tục trí hiện quán biên về khổ nơi cõi dục, so với thế tục trí cõi sắc, trí nào là hơn?

Đáp: Trí nơi cõi sắc hơn vì cõi hơn. Hiện quán biên về tập, diệt cũng như thế.

Hỏi: Thế tục trí hiện quán biên về tập nơi cõi dục và thế tục trí hiện quán biên về khổ nơi cõi sắc, trí nào là hơn?

Đáp: Cõi dục là nơi nương dựa hơn, nên hơn. Cõi sắc là cảnh giới hơn, nên hơn. Dùng diệt để hỏi về khổ, tập cũng như thế.

Hỏi: Thế tục trí hiện quán biên về khổ nơi cõi dục và thế tục trí hiện quán biên về tập nơi cõi sắc, trí nào là hơn?

Đáp: Trí của cõi sắc, vì có hai sự việc hơn nên gọi là hơn: 1. Cõi hơn. 2. Chỗ nương dựa hơn. Dùng khổ hỏi diệt, dùng tập hỏi diệt cũng như thế.

Hỏi: Thế tục trí hiện quán biên về khổ nơi cõi dục và thế tục trí hiện quán biên về tập nơi cõi dục, trí nào là hơn?

Đáp: Hiện quán biên về tập là hơn, vì nơi nương dựa hơn. Dùng khổ để hỏi diệt, dùng tập để hỏi diệt cũng như thế. Như cõi dục, cõi sắc cũng như vậy.

Hỏi: Vì sao lúc thế tục trí hiện quán biên thì không tu pháp trí?

Đáp: Pháp trí đối với thế tục trí không phải là ruộng, không phải là vật chứa đựng, cho đến nói rộng.

Lại nữa, trí này hiện quán biên vì tu, nên gọi là thế tục trí hiện quán biên. Nếu lúc pháp trí cũng tu, nên gọi là thế tục trí hiện quán trung, không phải là hiện quán biên.

Lại nữa, trước nói trí này đã vượt qua Hữu đảnh do kiến đạo đoạn, nên chứng đắc, không phải lúc pháp trí có khả năng vượt qua Hữu đảnh do kiến đạo đoạn, nên nói là không tu trí này.

Lại nữa, ở mỗi mỗi đế, lúc việc làm đã xong, gia hạnh đã chấm dứt, là có thể tu trí này, còn lúc trú nơi pháp trí phần nhiều có việc phải làm, gia hạnh chưa dứt. Nghĩa là lúc pháp trí tuy nhận biết khổ nơi cõi dục nhưng chưa nhận biết khổ nơi cõi sắc, cõi vô sắc, tuy đoạn tập của cõi dục nhưng chưa đoạn tập của cõi sắc, cõi vô sắc, tuy chứng diệt của cõi dục nhưng chưa chứng diệt của cõi sắc, cõi vô sắc, nên lúc có pháp trí không tu trí này.

Lại nữa, ở mỗi mỗi đế hiện quán cứu cánh và đoạn kiến chấp, lúc trí này đã đoạn hết, là có thể tu trí này, còn khi an trụ nơi pháp trí thì không có sự việc như thế, nên không tu.

Hỏi: Vì sao lúc có đạo loại trí thì không tu trí này?

Đáp: Vì đạo loại trí đối với trí này không phải là ruộng, không phải là vật chứa đựng, cho đến nói rộng.

Lại nữa, trí này là quyến thuộc của kiến đạo, hệ thuộc kiến đạo, còn đạo loại trí là tu đạo, nên không tu trí này.

Lại nữa, trí này là quyến thuộc của hướng đạo, hệ thuộc hướng đạo, còn đạo loại trí là quả đạo, nên không tu trí này.

Lại nữa, trí này là Tùy tín hành, Tùy pháp hành trong sự tu tập nối tiếp nhau, còn đạo loại trí lúc gọi là Tín thắng giải, Kiến chí nối tiếp nhau, nên không tu trí này.

Lại nữa, trí này gọi là hiện quán biên, đối với ba đế vì có tiếng biên chuyển biến, nên tu trí này. Như nói: Thân khổ biên, thân tập biên, thân diệt biên, mà không nói thân đạo biên. Do đó, lúc có đạo loại trí không tu trí này.

Hỏi: Nhân luận sinh luận, vì sao đối với ba đế có tiếng biên chuyển biến, không phải đối với đạo đế?

Đáp: Do thế tục trí có khả năng nhận biết tất cả khổ, đoạn tất cả tập, chứng tất cả diệt, nhưng không có khả năng tu tất cả đạo. Đức Phật đối với đạo cũng tu tập, vì sự tu tập đều không cùng tận, nên không có tiếng biên chuyển biến.

Lại nữa, nếu đế đối với đạo hữu lậu, vô lậu đều cùng có thể tạo tác, nên có tiếng biên chuyển biến. Đạo đế chỉ đối với đạo vô lậu là có thể tạo tác, nên không có tiếng biên chuyển biến. Như đạo hữu lậu, vô lậu, đạo thế gian, xuất thế gian, đạo có vị, không vị, đạo dựa vào tham đắm, dựa vào xuất ly, nên biết cũng như thế.

Lại nữa, khổ đế là hữu, là quả của hữu, đối với thế tục trí kia có tiếng biên được chuyển. Nghĩa là khổ, tập đế là hữu, là quả của hữu, diệt đế tuy không phải là hữu mà là quả của hữu, đạo đế không phải là hữu không phải là quả của hữu, vì vậy không có tiếng biên chuyển. Do đối với đạo đế không nói về biên, nên lúc có đạo loại trí, không tu trí này.

Lại nữa, từ lúc không thể nhận biết bản tế cho đến nay, đạo thế tục từng có những việc đã làm đối với ba đế, cho ngã là đạo, nay khi đạo loại trí hiện tiền, vì thấy được chân đạo, nên trí kia liền thấy xấu hổ nên không tu. Như trong thôn, ấp, nếu chưa lập ông chủ, có kẻ tự cho là cao sang, tự xưng là ông chủ. Về sau, lúc lập ra ông chủ, kẻ tự cho là cao sang kia cảm thấy xấu hổ nên bỏ đi. Đây cũng như thế.

Lại nữa, thế tục trí hiện quán biên là hữu, là quả của hữu. Khổ, tập đế là hữu, là quả của hữu. Diệt đế tuy không phải là hữu nhưng là quả của hữu, nên khi thấy trí kia thì tu thế tục trí. Đạo đế không phải là hữu, không phải là quả của hữu, nên khi thấy trí kia thì không tu trí này.

Lại nữa, khổ, tập đế có vô biên lỗi lầm tai hại. Diệt đế có vô biên điều thắng lợi, nên khi thấy trí kia thì tu thế tục trí. Vì đạo đế không có vô biên lỗi lầm tai hại, cũng không có vô biên điều thắng lợi, nên khi thấy trí kia thì không tu trí này.

Lại nữa, từ vô thỉ đến nay, thế tục trí đối với ba đế đã có công năng, nghĩa là nhận biết đoạn, diệt mà không cứu cánh vì không có công năng đối với Hữu đảnh. Nay đối với ba đế lúc được hiện quán lại do cứu cánh, nên trí kia liền hoan hỷ, như cùng với pháp dục khởi được hiện tiền, vì thế nên tu. Từ vô thỉ đến nay, đối với đạo Thánh đế chưa có công năng, nghĩa là chưa tu tập, nên lúc đạt kiến đạo không tu trí này.

Lại nữa, đối với khổ, tập, diệt khi được hiện quán, chưa thấy được chân đạo, nên thế tục trí cũng tự cho là đạo, do vậy nên tu. Đối với đạo Thánh đế, lúc được hiện quán, vì thấy chân đạo, nên thế tục trí này tự nhận biết không phải đạo nên không tu nữa. Trong đây, nên nói dụ về quạ và chim Khổng tước.

Lại nữa, lúc thấy ba đế, trí này hãy còn chưa vĩnh đoạn tà kiến hủy báng đạo và chưa vĩnh viễn đoạn trừ giới cấm thủ phi đạo cho là đạo, các thế tục trí cũng còn tự xưng là đạo, do vậy nên tu. Khi thấy đạo đế rồi, vì các thứ kia đều vĩnh viễn đoạn trừ, nên không còn phải tu thế tục trí nữa.

Hỏi: Lúc được đạo loại trí, như bỏ kiến đạo, thì thế tục trí hiện quán biên này cũng bỏ chăng?

Đáp: Không bỏ. Vì sao? Vì pháp xả bỏ của đạo hữu lậu, vô lậu khác nhau. Nghĩa là đạo vô lậu có ba duyên nên bỏ: 1. Vì thoái chuyển. 2. Vì đắc quả. 3. Vì luyện căn. Đạo hữu lậu có bốn duyên nên bỏ: 1. Vì thoái chuyển. 2. Vì vượt qua cõi, địa. 2. Vì đoạn căn thiện. 4. Vì bỏ chúng đồng phần. Lúc đạo loại trí đối với việc bỏ hữu lậu, vì bốn duyên trên đều không có, nên bấy giờ không bỏ trí này.

Lại nữa, đạo loại trí và kiến đạo về hiện hành, thành tựu đều cùng có mâu thuẫn, bấy giờ nên bỏ. Còn đối với thế tục trí hiện quán biên, tuy hiện hành mâu thuẫn nhau, nhưng về thành tựu không mâu thuẫn, nên bấy giờ không bỏ.

Hỏi: Vì sao trong tu đạo, trí này không hiện tiền?

Đáp: Vì thế tục trí hiện quán biên này là quyến thuộc của kiến đạo, vì hệ thuộc kiến đạo nên ở nơi tu đạo tất không hiện tiền.

Lại nữa, trí này là quyến thuộc của hướng đạo, hệ thuộc hướng đạo, còn tu đạo đi kèm với quả, nên không hiện tiền.

Lại nữa, trí này dựa vào Tùy tín hành, Tùy pháp hành nối tiếp nhau. Trong tu đạo không có sự tương tục này, nên không hiện tiền.

Lại nữa, trí này cùng với tu đạo tuy thành tựu không mâu thuẫn nhau, nhưng vì hiện hành trái nhau, thế nên không hiện tiền.

Lại nữa, trí này cùng với hành tướng, đối tượng duyên của kiến đạo rất giống nhau, do vậy ở phần vi tu đạo tất không hiện tiền.

Thế tục trí hiện quán biên này: Về cõi: Chỉ có cõi dục, cõi sắc.

Hỏi: Vì sao trí này không có ở cõi vô sắc?

Đáp: Vì cõi vô sắc đối với trí này không phải là thửa ruộng, không phải là vật chứa đựng, cho đến nói rộng. Lại nữa, nếu cõi có kiến đạo thì cõi ấy tức có trí này. Trong cõi vô sắc không có kiến đạo, nên trí này cũng không có.

Hỏi: Nhân luận sinh luận, vì sao trong cõi vô sắc không có kiến đạo?

Đáp: Vì cõi vô sắc đối với kiến đạo không phải là thửa ruộng, không phải là vật chứa đựng, cho đến nói rộng.

Lại nữa, nếu cõi nào có duyên nơi tất cả pháp không phải là hành tướng của ngã, thì ở cõi đó có kiến đạo. Vì trong cõi vô sắc không có duyên nơi tất cả pháp, không phải là hành tướng của ngã, nên không có kiến đạo.

Lại nữa, nếu cõi nào có căn thiện của hành đế thì ở cõi đó có kiến đạo. Trong cõi vô sắc không có căn thiện của hành đế, nên không có kiến đạo.

Lại nữa, nếu cõi nào có thuận phần quyết trạch thì cõi đó có kiến đạo. Trong cõi vô sắc không có thuận phần quyết trạch, nên không có kiến đạo.

Lại nữa, nếu cõi nào có nhẫn, có trí, thì cõi đó có kiến đạo.

Trong cõi vô sắc có trí, không có nhẫn, nên không có kiến đạo.

Lại nữa, nếu cõi nào có pháp trí, loại trí, thì cõi đó có kiến đạo. Trong cõi vô sắc tuy có loại trí nhưng không có pháp trí, nên không có kiến đạo.

Lại nữa, nếu cõi nào có chỉ, quán bình đẳng, hoặc quán riêng tăng, thì cõi đó có kiến đạo. Trong cõi vô sắc, chỉ tăng không phải quán tăng, nên không có kiến đạo.

Lại nữa, nếu cõi nào có trí duyên khắp thì cõi đó có kiến đạo. Trong cõi vô sắc không có trí duyên khắp, nên không có kiến đạo. Do không có kiến đạo nên chỗ tu thế tục trí của cõi đó cũng không có.

Lại nữa, giả sử trí này ở cõi vô sắc, vì có mà không thể tu nên là vô dụng. Vì thế ý kia không còn cho phải tu trí này, vì tu trí này phải dựa vào kiến đạo. Kiến đạo chỉ có thể tu ở địa dưới của mình, không thể tu ở địa trên, nên tuy có trí ấy cũng không thể tu. Lại, trong cõi vô sắc không có nhân của kiến đạo, theo chỗ ứng hợp tức là không có nhân của trí này.

Về địa: Trí này có trong bảy địa. Nghĩa là cõi dục, tĩnh lự vị chí trung gian và bốn tĩnh lự. Nếu dựa vào định vị chí nhập chánh tánh ly sinh, người kia tu một địa kiến đạo, hai địa thế tục trí hiện quán biên. Nếu dựa vào tĩnh lự thứ nhất nhập chánh tánh ly sinh, người kia tu hai địa kiến đạo, ba địa thế tục trí hiện quán biên. Nếu dựa vào tĩnh lự trung gian nhập chánh tánh ly sinh, người kia tu ba địa kiến đạo, bốn địa thế tục trí hiện quán biên. Nếu dựa vào tĩnh lự thứ hai nhập chánh tánh ly sinh, người kia tu bốn địa kiến đạo, năm địa thế tục trí hiện quán biên. Nếu dựa vào tĩnh lự thứ ba nhập chánh tánh ly sinh, người kia tu năm địa kiến đạo, sáu địa thế tục trí hiện quán biên. Nếu dựa vào tĩnh lự thứ tư nhập chánh tánh lý sinh, người kia tu sáu địa kiến đạo, bảy địa thế tục trí hiện quán biên.

Về chỗ nương dựa: Trí này nương dựa nơi thân của cõi dục, không phải là cõi sắc, cõi vô sắc.

Hỏi: Trí này nương dựa vào thân của phàm phu hay là thân của bậc Thánh? Giả sử như thế thì có lỗi gì? Nếu dựa vào thân phàm phu thì vì sao không gọi là pháp của phàm phu? Nếu dựa vào thân bậc Thánh thì vì sao bậc Thánh giả không hiện tiền?

Đáp: Có thuyết nói: Trí này không dựa vào thân phàm phu, cũng không dựa vào thân bậc Thánh, đều không có chỗ nương dựa.

Lời bình: Thuyết kia không nên nói như thế. Vì sao gọi là căn thiện mà lại không có nơi nương dựa? Nên nói như vầy: Trí này dựa vào thân bậc Thánh, do dựa vào thân Tùy tín hành, Tùy pháp hành mà tu tập, đạt được.

Hỏi: Nếu như thế thì vì sao trí đó không hiện tiền?

Đáp: Vì trí này cùng với hiện hành của kiến đạo là trái nhau, vượt quá phần vị kiến đạo thì không thể khởi hiện. Giả sử kiến đạo trong phần vị kiến đạo khoảnh khắc không hiện tiền thì trí này liền khởi hiện. Do kiến đạo không có sát-na nào bị gián đoạn, thế nên trí này không thể hiện tiền.

Hỏi: Nếu không hiện tiền thì sao có thể nói trí này dựa vào thân Tùy tín hành, Tùy pháp hành?

Đáp: Vì thân đó có hai thứ: 1. Chỗ dựa của kiến đạo. 2. Chỗ dựa của thế tục trí hiện quán biên. Kiến đạo đối với kiến đạo đã dựa vào thân này mà chứng đắc, cũng ở nơi thân này thành tựu, nên cũng hiện tiền. Thế tục trí hiện quán biên đối với thân kia thì chứng đắc, nhưng không ở nơi thân ấy thành tựu, nên không hiện tiền.

Thế tục trí hiện quán biên đối với thế tục trí hiện quán biên đã dựa vào thân chứng đắc, cũng ở nơi thân ấy thành tựu, nên cũng hiện tiền. Kiến đạo đối với thân kia đạt được nhưng không ở nơi thân ấy thành tựu, nên không hiện tiền.

Nếu ở phần vị kiến đạo, thế tục trí này đã dựa nơi thân hiện tiền, thì trí này thành tựu, cũng hiện tiền, nhưng kiến đạo chỉ thành tựu nơi vị lai. Tuy nhiên, vì phần vị kiến đạo phải khởi hiện ở thân, là nơi nương dựa của kiến đạo, nên kiến đạo thành tựu cũng hiện tiền, trí này chỉ thành tựu nơi vị lai. Nếu phần vị kiến đạo không khởi kiến đạo ở thân nương dựa, thì không có nghĩa kiến đạo thấy Thánh đế, tức không phải là Thánh. Do vậy phải khởi kiến đạo ở thân nương dựa, do đấy thân kia đạt được phi trạch diệt, thì trí này hoàn toàn không khởi hiện.

Về hành tướng: Trí này gồm có mười hai hành tướng. Nghĩa là đối tượng tu của hiện quán biên về khổ là tạo nên bốn hành tướng của khổ. Đối tượng tu của hiện quán biên về tập là tạo nên bốn hành tướng của tập. Đối tượng tu của hiện quán biên về diệt là tạo nên bốn hành tướng của diệt.

Về đối tượng duyên: Trí này duyên nơi ba đế của ba cõi. Đối tượng tu của hiện quán biên về khổ là duyên nơi khổ đế của ba cõi. Đối tượng tu của hiện quán biên về tập là duyên nơi tập đế của ba cõi. Đối tượng tu của hiện quán biên về diệt là duyên nơi diệt đế của ba cõi.

Hỏi: Đây là duyên chung hay là duyên riêng?

Đáp: Là duyên riêng. Nghĩa là người cõi dục theo chỗ ứng hợp duyên nơi ba đế của cõi dục. Người cõi sắc theo chỗ ứng hợp duyên nơi ba đế của cõi sắc, cõi vô sắc.

Có thuyết nói: Là duyên chung. Nghĩa là người cõi dục theo chỗ ứng hợp duyên nơi ba đế của ba cõi. Người cõi sắc cũng như vậy.

Lời bình: Thuyết trước là đúng, vì như phần loại theo pháp của trí vô lậu thì mỗi phần đều duyên riêng.

Về niệm trụ: Trí này về đối tượng tu của hiện quán biên đối với khổ, tập là chung cả bốn niệm trụ. Đối tượng tu của hiện quán biên về diệt thì chỉ có pháp niệm trụ.

Về trí: Trí này chỉ là thế tục trí.

Về định: Trí này không cùng hành với định.

Về căn tương ưng: Trí này tương ưng chung với ba căn là lạc căn, hỷ căn, và xả căn.

Về thời gian quá khứ, vị lai, hiện tại: Trí này chỉ có ở vị lai. Đối tượng tu của hiện quán biên về khổ, tập là duyên nơi ba đời. Đối tượng tu của hiện quán biên về diệt là duyên nơi lìa khỏi đời.

Về thiện, bất thiện, vô ký: Trí này chỉ là thiện. Hiện quán biên về khổ, tập với đối tượng tu ở cõi dục là duyên nơi ba thứ. Ở cõi sắc thì chỉ duyên nơi thiện, vô ký. Đối tượng tu của hiện quán biên về diệt là chỉ duyên nơi thiện.

Về thuộc ba cõi và không hệ thuộc: Trí này thuộc cõi dục, cõi sắc. Hiện quán biên về khổ, tập với đối tượng tu nơi cõi dục là duyên thuộc cõi dục. Nơi cõi sắc thì duyên thuộc cõi sắc, cõi vô sắc. Đối tượng tu của hiện quán biên về diệt là duyên nơi không hệ thuộc.

Về học, vô học, phi học phi vô học: Trí này là phi học phi vô học, duyên nơi phi học phi vô học.

Về kiến đạo đoạn, tu đạo đoạn, không đoạn: Trí này chỉ có tu đạo đoạn. Đối tượng tu của hiện quán biên về khổ, tập là duyên nơi kiến đạo, tu đạo đoạn. Đối tượng tu của hiện quán biên về diệt là duyên nơi không đoạn.

Về duyên nơi danh, nghĩa: Trí này, đối tượng tu của hiện quán biên về khổ, tập là duyên chung cả danh, nghĩa. Đối tượng tu của hiện quán biên về diệt là chỉ duyên nơi nghĩa.

Về duyên nơi sự nối tiếp của mình, của người khác, không phải là sự nối tiếp: Trí này nơi đối tượng tu của hiện quán biên về khổ, tập là duyên nơi sự nối tiếp của mình và người khác. Đối tượng tu của hiện quán biên về diệt là duyên nơi không nối tiếp.

Về gia hạnh đắc, lìa nhiễm đắc, sinh đắc: Trí này chỉ có gia hạnh đắc.

Về văn, tư, tu tạo thành: Trí này ở cõi dục là do tư tạo thành, không phải do văn tạo thành, vì ở đây tư là hơn. Không phải do tu tạo thành, vì cõi này không định. Trí này ở cõi sắc là do tu tạo thành, không phải do văn tạo thành, vì ở đây tu là hơn. Không phải do tư tạo thành, vì trí kia không có tư tuệ. Trí kia nếu lúc tư duy liền nhập định, nên ở địa của ý. Trong năm thức, trí này ở địa của ý, không phải là năm thức, vì trong năm thức không có gia hạnh thiện.

Hỏi: Trí này có dị thục hay không có dị thục?

Đáp: Có dị thục thiện, thuộc hữu lậu.

Hỏi: Trí này thọ nhận quả dị thục ở nơi nào?

Đáp: Trí ở cõi dục thì nhận quả dị thục ở cõi dục, trí ở cõi sắc thì nhận quả dị thục ở cõi sắc, trí ở cõi vô sắc thì nhận quả dị thục ở cõi vô sắc. Trí của tĩnh lự thứ nhất thì nhận ở tĩnh lự thứ nhất, cho đến trí của tĩnh lự thứ tư thì nhận ở tĩnh lự thứ tư.

Hỏi: Người Thanh văn có thể được như vậy, vì họ chấp nhận có sự nối tiếp của cõi sắc. Phật và Độc giác làm sao có thể như thế, vì không phải Phật, Độc giác có thể có sự nối tiếp của cõi sắc và thọ nhận dị thục ấy?

Đáp: Chủng tánh Bổ-đặc-già-la kia cũng từng có sự nối tiếp của uẩn, giới, xứ nơi cõi sắc, với họ lần lượt thọ nhận dị thục ấy.

Hỏi: Nếu như vậy thì làm sao Thánh giả trong sự nối tiếp đã thành tựu nhân và được quả trong sự nối tiếp của phàm phu?

Đáp: Do nghĩa như thế nên thừa nhận là nhân, quả cũng không có lỗi. Như nơi chương Nghiệp Uẩn nói: Nếu có đủ hai thứ trói buộc của kiết do kiến đạo, tu đạo đoạn, thì có thể đi đến nẻo ác. Nhưng vì các người Dự lưu chỉ có sự trói buộc của kiết do tu đạo đoạn, vì thiếu sự trói buộc của kiết do kiến đạo đoạn, nên không đến nẻo ác, vì nẻo ác này có hai thứ nhân: 1. Kiết do kiến đạo đoạn. 2. Kiết do tu đạo đoạn. Các người Dự lưu đã tạo thành kiết do tu đạo đoạn trừ, đã là nhân của nẻo ác, há không phải là Thánh giả trong sự nối tiếp đã thành tựu nhân cùng được quả trong sự nối tiếp của phàm phu sao? Vì lẽ đó nên ở đây đã nói cũng không có lỗi. Ở đây nói không sinh nhân quả là có thể có sự việc này. Nếu có thể sinh thì không có sự việc như thế.

Lại có thuyết nói: Đức Phật và Độc giác cũng có sự nối tiếp của uẩn, giới, xứ nơi cõi sắc như Thanh văn, qua đó lần lượt thọ nhận quả dị thục của trí này.

Lời bình: Thuyết kia đều không nên nói như vậy. Nên nói như thế này: Vì thế tục trí hiện quán biên là hữu lậu, hữu ký, nên nói là có dị thục, nhưng vì không có nghĩa đã từng thọ nhận và sẽ thọ nhận quả dị thục, do vậy không nên vấn nạn về việc thọ nhận dị thục nơi thân.

Hỏi: Từng có hai Thánh giả đồng sinh nơi một địa đối với thế tục trí hiện quán biên, một thành tựu, một không thành tựu chăng?

Đáp: Có. Nghĩa là một người dựa vào tĩnh lự thứ nhất nhập chánh tánh ly sinh, còn người kia thì dựa vào tĩnh lự thứ hai nhập chánh tánh ly sinh. Cả hai người kia mạng chung cùng sinh vào tĩnh lự thứ hai. Người dựa vào tĩnh lự thứ nhất không thành tựu trí này, vì vượt qua địa và bỏ. Người dựa vào tĩnh lự thứ hai thành tựu trí này, vì sinh ở địa mình và không bỏ.

Hỏi: Từng có hai A-la-hán đồng sinh nơi một địa, đối với thế tục trí hiện quán biên, một thành tựu, một không thành tựu chăng?

Đáp: Có. Nghĩa là vào lúc trước, một người dựa nơi tĩnh lự thứ nhất nhập chánh tánh ly sinh. Một người dựa vào tĩnh lự thứ hai nhập chánh tánh ly sinh. Cả hai mạng chung cùng sinh nơi tĩnh lự thứ hai, ở trong trung hữu được quả A-la-hán. Người dựa vào tĩnh lự thứ nhất không thành tựu trí này, do vượt địa và bỏ. Người dựa vào tĩnh lự thứ hai thì thành tựu trí này, vì sinh nơi địa mình và không bỏ.

Hỏi: Thanh văn, Độc giác và Như lai lúc được tận trí đều tu căn thiện của chín địa trong ba cõi, vì sao trong đây chỉ nói là Như Lai đã được căn thiện của cõi dục, không phải cõi khác?

Đáp: Tuy thật sự đều được, nhưng vì trong đây muốn nói đến căn thiện tăng thượng của cõi dục, nên không nói đến Nhị thừa và địa khác đã đạt được.

Hỏi: Các A-la-hán khi được tận trí đều tu căn thiện của chín địa trong ba cõi chăng?

Đáp: Việc này không quyết định. Vì nếu sinh nơi cõi dục lúc được tận trí, có khả năng tu căn thiện nơi vị lai của chín địa trong ba cõi. Lúc sinh vào tĩnh lự thứ nhất được tận trí, có khả năng tu căn thiện nơi vị lai của tám địa trong hai cõi, vì sinh lên địa trên, không tu căn thiện của địa dưới, vì là hữu lậu. Cho đến nếu sinh lên Phi tưởng phi phi tưởng xứ, lúc được tận trí, có khả năng tu căn thiện của một cõi, một địa. Vì trong đây căn thiện là hơn nên nói riêng, thật ra là tu đủ bốn uẩn, năm uẩn.

Hỏi: Tu như thế là gia hạnh đắc, lìa nhiễm đắc hay sinh đắc?

Đáp: Là lìa nhiễm đắc, cũng là gia hạnh đắc, vì lúc lìa nhiễm nơi cõi Hữu đảnh là đạt được. Thanh văn, Độc giác cũng do gia hạnh hiện tiền, song không phải là sinh đắc, vì không thù thắng.

Hỏi: Đã tu tập như thế là do văn tạo thành, tư tạo thành hay do tu tạo thành?

Đáp: Cả ba thứ đều cùng có cả. Tu ở cõi dục là do văn, tư tạo thành. Tu ở cõi sắc là do văn, tu tạo thành. Tu ở cõi vô sắc chỉ do tu tạo thành.

Hỏi: Vì sao thế tục trí hiện quán biên không phải là do văn tạo thành? Lúc tận trí đã tu căn thiện có văn tạo thành không?

Đáp: Trí kia là quyến thuộc của kiến đạo, toàn bộ rất mạnh mẽ, nhạy bén, là do việc tu đạo nhanh chóng, không phải do văn tạo thành. Còn quyến thuộc của tận trí này, tận trí dứt mong cầu là chấp nhận tham dự đạo, nên có khả năng tu chung cả các thiện gia hạnh.

Hỏi: Căn thiện như thế là ở địa của ý hay là ở năm thức?

Đáp: Chỉ ở địa của ý, vì trong năm thức không có thiện gia hạnh. Tuy có thiện sinh đắc, nhưng không phải là do đã tu, nên chỉ có ở địa của ý.

Hỏi: Nếu căn thiện này chỉ có ở địa của ý, thì như nơi Luận Thi Thiết nói làm sao thông? Như nói: A-la-hán đã được tận trí rồi, có sáu pháp luôn an trụ là có hay là không có? Nếu có thì vì sao có? Nếu không có thì vì sao không có? Giả như là có thì có bao nhiêu thứ nơi quá khứ được thành tựu? Bao nhiêu thứ nơi vị lai được thành tựu? Bao nhiêu thứ nơi hiện tại được thành tựu? Đáp: Có. Nghĩa là A-la-hán khi mắt thấy sắc rồi, tâm không mừng, không lo, luôn an trụ nơi xả, nhớ nghĩ đủ, chánh tri, nói rộng cho đến ý nhận biết pháp, tâm không mừng, không lo, luôn trụ nơi xả, nhớ nghĩ đủ, chánh tri, A-la-hán đó được tận trí, nếu đầu tiên khởi nhãn thức thiện hiện tiền, A-la-hán đó đã thành tựu quá khứ một, vị lai sáu, hiện tại một, sự việc này diệt xong không xả. Nếu khởi nhĩ thức thiện hiện tiền, A-lahán đó đã thành tựu quá khứ hai, vị lai sáu, hiện tại một, sự việc này diệt xong không xả. Cho đến khởi ý thức thiện hiện tiền, A-la-hán kia đã thành tựu quá khứ sáu, vị lai sáu, hiện tại một.

Có thuyết nói: Nếu trước hết khởi nhãn thức thiện hiện tiền, A-la-hán kia quá khứ không thành tựu, chỉ thành tựu vị lai sáu, hiện tại một, sự việc này diệt xong không xả. Nếu khởi nhĩ thức thiện hiện tiền, A-la-hán kia đã thành tựu quá khứ một, vị lai sáu, hiện tại một, sự việc này diệt xong không xả. Cho đến nếu khởi ý thức thiện hiện tiền, A-la-hán kia thành tựu quá khứ năm, vị lai sáu, hiện tại một, sự việc này diệt xong không xả. Nếu lại khởi ý thức thiện, hoặc thức khác hiện tiền, A-la-hán kia đã thành tựu quá khứ sáu, vị lai sáu, hiện tại một.

Những thuyết như thế làm sao thông?

Đáp: Đây là nói nhưng đối tượng sinh, diệt trong thân thanh tịnh dứt hết lậu, không nói sự việc khởi, diệt của dòng sinh tử từ vô thỉ đến nay. Tuy nhiên, những gì đã nói ở đây không phải là lúc tận trí đã tu căn thiện, nên không mâu thuẫn.

Lại có thuyết nói: Sáu pháp luôn an trụ, cũng chỉ là địa của ý, vì nói mắt thấy sắc, cho đến ý nhận biết pháp xong, tâm không mừng, không lo, luôn an trụ nơi xả, nhớ nghĩ đủ, chánh tri.

Hỏi: Nếu như vậy thì vì sao lại nói lúc nhãn thức v.v… thiện hiện tiền là thành tựu hiện tại một?

Đáp: Nên biết sự việc này là gia hạnh luôn an trụ, không phải tự thể luôn an trụ, nên không mâu thuẫn.

Hỏi: Sáu pháp luôn an trụ này lấy gì làm tự tánh?

Đáp: Lấy niệm và tuệ làm tự tánh. Làm sao nhận biết được như thế? Như Khế kinh nói: Các A-la-hán, tâm đã hoàn toàn giải thoát, hội đủ sáu pháp luôn an trụ. Những gì là sáu pháp luôn an trụ? Nghĩa là mắt thấy sắc rồi, cho đến ý nhận biết pháp xong, tâm không mừng, không lo, luôn an trụ nơi xả, nhớ nghĩ đủ, chánh tri. Nếu gồm luôn việc nhận lấy tương ưng cùng có, thì lấy bốn uẩn, năm uẩn làm tự tánh.

Đã nói về tự tánh, về lý do nay sẽ nói.

Hỏi: Vì sao gọi là luôn an trụ? Luôn an trụ nghĩa là gì?

Đáp: Vì các A-la-hán luôn trụ nơi sáu pháp này chưa từng lìa bỏ, nên gọi là luôn an trụ.

Hỏi: Tất cả A-la-hán đều có sáu pháp luôn an trụ phải không?

Đáp: Có thuyết nói: Không phải tất cả A-la-hán đều có sáu pháp này. Nghĩa là bậc Bất thời giải thoát đã được biên vực tận cùng nơi tĩnh lự thứ tư và nguyện trí mới có được sáu pháp này.

Lời bình: Nên nói như vầy: Tất cả A-la-hán đều có sáu pháp này. Làm sao biết được điều đó? Vì sáu pháp luôn an trụ này đều lấy niệm, tuệ trong thân thanh tịnh dứt hết lậu làm thể, do các A-la-hán không vị nào là không thành tựu niệm, tuệ này.

Hỏi: Sáu pháp luôn an trụ này có ở cõi nào, địa nào?

Đáp: Có thuyết cho: Sáu pháp này ở cõi dục, cõi sắc, chỉ có hai địa có, đó là cõi dục và tĩnh lự thứ nhất. Do địa của ý cũng cùng với nhãn thức thiện v.v… vào ra với nhau, nên không ở địa trên.

Lại có thuyết nêu: Ở năm địa đều có. Nghĩa là cõi dục và bốn tĩnh lự là năm địa. Ý thức đều cùng với các thức như nhãn v.v… vào ra.

Lời bình: Nên nói như vầy: Chung nơi mười một địa của ba cõi đều có. Nghĩa là cõi dục, tĩnh lự vị chí, trung gian, bốn tĩnh lự, bốn vô sắc. Ý thức, niệm, tuệ đều hiện hữu khắp nơi các địa.

Hỏi: Sáu pháp luôn an trụ này có khác nhau về thượng, trung, hạ không?

Đáp: Có. Nghĩa là Như Lai là bậc thượng, Độc giác là bậc trung, Thanh văn là bậc hạ. Lại nữa, chủng tánh của pháp bất động là thượng, chủng tánh của pháp thoái chuyển là hạ, bốn chủng tánh còn lại là trung.

Hỏi: Nếu Thanh văn, Độc giác cũng đều thành tựu sáu pháp luôn an trụ này, thì vì sao lại nói ba thứ niệm trụ là pháp không chung của Phật?

Đáp: Đức Phật luôn vì các chúng giảng nói rộng pháp yếu, là nhằm điều ngự chúng sinh, nên nói riêng ba niệm trụ. Hàng Nhị thừa không có sự việc này nên không nói.

Lại nữa, vì Thanh văn, Độc giác chỉ có phần ít không phải là cứu cánh nên không kiến lập.

Lại nữa, Thanh văn, Độc giác tuy đã đoạn tham, giận nhưng vẫn còn tập khí khác. Nếu khi đồ chúng có chống đối hay tùy thuận liền sinh khởi tưởng giống như tham, giận, lo, mừng, nên không kiến lập ba niệm trụ.

Lại nữa, sáu pháp luôn an trụ này cùng với ba niệm trụ có khác nhau về chỗ kiến lập. Nghĩa là ba niệm trụ thì dựa vào số đông kiến lập, còn sáu pháp luôn an trụ lại căn cứ vào cảnh kiến lập. Đối với cảnh không khởi lo, mừng thì dễ, còn đối với số đông thì khó.

Thanh văn v.v… có sáu pháp luôn an trụ, nhưng không có ba niệm trụ.

Hỏi: Vì sao lúc được tận trí là tức khắc tu căn thiện của ba cõi trong vị lai không phải là lúc khác?

Đáp: Vì bấy giờ phiền não của ba cõi đều vĩnh viễn dứt hết, lại không có chỗ tạo tác, chỉ cần có tâm định vào ra của thế tục thọ dụng các định, nên lúc này tu căn thiện của ba cõi.

Lại nữa, lúc ấy vĩnh viễn xả các tụ phiền não, từ xưa chưa xả, lần đầu tiên được tụ các công đức từ trước chưa được, nên có thể tu tức khắc căn thiện của ba cõi.

Lại nữa, bấy giờ tâm được tự tại như ngôi vua, đứng đầu mọi hệ thống, giải thoát, an lành, luyện tập tốt đẹp, căn thiện của ba cõi đều đến triều cống. Như lúc mới lên ngôi vua, người thủ lãnh mọi hệ thống và luyện tập, tất cả cõi nước đều đến triều cống.

Lại nữa, lúc ấy A-la-hán có khả năng phá tan giặc oán phiền não từ xa xưa chưa phá trừ, các căn thiện trong ba cõi đều đến chúc mừng. Như người có khả năng dẹp tan giặc thù oán của nước rồi, lúc trở về, hết thảy quốc dân đều đến nghinh đón, chúc mừng.

Lại nữa, lúc ấy A-la-hán như lực sĩ có khả năng hàng phục các phiền não từ xưa chưa hàng phục, căn thiện của ba cõi đều cùng nhau đến ca ngợi, chúc mừng. Như trong đại chúng có vị đại lực sĩ có khả năng hàng phục tất cả những gì từ trước đến nay chưa từng hàng phục, khiến đại chúng đều chúc mừng, ca tụng.

Lại nữa, bấy giờ vì giải thoát cứu cánh viên mãn, A-la-hán có khả năng dựa vào đấy để tu tập căn thiện của ba cõi. Nghĩa là từ kiến đạo, dần dần đến Định kim cang dụ, sự giải thoát chưa viên mãn, chỉ có thể theo một phần ít tùy thuận vào chỗ ứng hợp để tu, đến lúc được tận trí, vì sự giải thoát đã viên mãn, nên có thể dựa vào đó để tu tập căn thiện của ba cõi. Như người lúc dẫn nước tưới tiêu ruộng, một thửa đã đầy rồi, lại dẫn vào một thửa ruộng tiếp, cho đến các thửa còn lại thảy đều đầy rồi, nên nước chảy tràn ngập các chỗ khác.

Lại nữa, lúc ấy vì các phiền não có thể trói buộc đã dứt hết, nên căn thiện của ba cõi đều đựơc giải thoát, công dụng của uy lực gia tăng, thế nên tu tức khắc. Nghĩa là từ vô thỉ đến nay, pháp thiện của ba cõi luôn bị phiền não trói buộc, không được tự tại, không có công dụng uy lực, nên không thể tu tập đầy đủ. Nếu người tu hành khi lìa nhiễm nơi cõi dục, đạt được một ít giải thoát, thì những thứ trói buộc khác hãy còn nhiều, cho đến lúc nếu lìa sự trói buộc của tám phẩm phiền não nơi xứ Hữu đảnh, tuy được giải thoát nhiều, nhưng hãy còn một ít trói buộc, nên khi lìa phẩm thứ chín phiền não của xứ Hữu đảnh thì mọi sự trói buộc của ba cõi đều đoạn, căn thiện được tự tại, nên tất cả đều tu tức khắc. Cũng như lúc buộc chín xấp lụa lại thành một bó, nếu cắt một xấp, hai xấp, cho đến cắt đứt tám xấp, bó lụa vẫn không rời ra, khi cắt rọc đến xấp thứ chín thì cả bó lụa đều đứt rời. Đây cũng như thế.

Lại nữa, từ vô thỉ đến nay pháp thiện của ba cõi đều cùng chán sợ đối với phiền não của xứ Hữu đảnh, tuy đã tạo nhiều phương tiện nhưng chưa thể đoạn trừ. Nay đã đoạn dứt hết, do vậy nên tu tức khắc.

Lại nữa, vì uy lực của Định kim cang dụ tăng mạnh, đối với tất cả phiền não đều có thể tiêu diệt vĩnh viễn, chỗ dẫn sinh tận trí cũng có khả năng đạt chung tất cả giải thoát, vì thế ở quả vị này có thể tu tập toàn bộ ba căn thiện của ba cõi. Khi A-la-hán Thời giải thoát được tận trí, có thể tu ba mươi hành tướng của hai trí. Nghĩa là mười bốn hành tướng của tận trí, trừ không, vô ngã, mười sáu hành tướng của trí chánh kiến vô học. Hoặc trung gian vị chí và bốn tĩnh lự, mỗi mỗi đều tu đủ pháp trí, loại trí, mỗi trí đều có ba mươi hành tướng. Hoặc nơi ba vô sắc chỉ tu ba mươi hành tướng của loại trí. A-la-hán Bất thời giải thoát khi được tận trí có thể tu bốn mươi bốn hành tướng của ba trí, nghĩa là tận trí, vô sinh trí, mỗi trí đều có mười bốn hành tướng và mười sáu hành tướng của trí chánh kiến vô học. Hoặc bốn tĩnh lự trung gian, vị chí, mỗi mỗi đều tu đủ pháp trí, loại trí, mỗi trí đều có bốn mươi bốn hành tướng. Hoặc ba vô sắc chỉ tu bốn mươi bốn hành tướng của loại trí, thì đấy gọi là sự tu tập căn thiện vô lậu.

HẾT – QUYỂN 36