LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA
Tác giả: Năm trăm vị Đại A La Hán
Hán dịch: Đời Đường, Tam Tạng Pháp sư Huyền Trang
Việt dịch: Cư sĩ Nguyên Huệ

 

QUYỂN 182

Chương 7: ĐỊNH UẨN

Phẩm 4: BÀN VỀ BẤT HOÀN, phần 9

* Thế nào là Pháp luân? Cho đến nói rộng.

Hỏi: Vì sao tạo ra phần Luận này?

Đáp: Vì muốn phân biệt nghĩa của Khế kinh. Như Khế kinh nói: Đức Thế Tôn chuyển pháp luân, các hàng Sa-môn, Bà-la-môn, Thiên, Ma, Phạm khác nơi thế gian đều không có khả năng như pháp chuyển. Khế kinh tuy nói như vậy nhưng không phân biệt: Thế nào là pháp luân? Ngang mức độ nào nên nói là chuyển pháp luân? Khế kinh là chỗ dựa căn bản của Luận này, những gì Kinh kia không nói nay nên nêu bày. Do đó nên tạo ra phần Luận này.

Hỏi: Thế nào là Pháp luân?

Đáp: Là tám chi Thánh đạo.

Nếu gồm luôn tương ưng, tùy chuyển, tức tánh là năm uẩn. Đây là tự tánh của pháp luân, là ngã, là vật, là tướng, là tánh, là bản tánh.

Đã nói về tự tánh, về lý do nay sẽ nói.

Hỏi: Vì sao gọi là pháp luân?

Đáp: Luân này do pháp tạo thành, pháp là tự tánh, nên gọi là pháp luân. Như ở thế gian, bánh xe do vàng v.v… tạo thành vàng v.v… là tánh nên gọi là bánh xe vàng v.v… Đây cũng như vậy.

Có thuyết nói: Luân này đối với tánh của các pháp có thể phân biệt lựa chọn, phân biệt lựa chọn cùng cực. Có thể giác ngộ, giác ngộ cùng cực, hiện quán về tác chứng, nên gọi là pháp luân.

Có thuyết cho: Luân này có thể làm thanh tịnh pháp nhãn của Thánh tuệ nên gọi là pháp luân.

Có thuyết nêu: Luân này có thể đối trị phi pháp luân nên gọi là pháp luân. Phi pháp luân: Tức là tám chi luân tà vạy do các Lục sư ngoại đạo như Bố-thích-noa v.v… chuyển.

Hỏi: Vì sao gọi là luân? Luân có nghĩa gì?

Đáp: Nghĩa chuyển động không đứng yên là nghĩa của luân. Nghĩa bỏ đây hướng đến kia là nghĩa của luân. Nghĩa có thể hàng phục oán địch là nghĩa của luân. Do những nghĩa ấy nên gọi là luân.

Như Kinh Bốn Mươi Pháp Môn Lớn nói: Có hai mươi phẩm thiện, hai mươi phẩm bất thiện. Đây gọi là Phạm luân, cho đến nói rộng.

Hỏi: Hai mươi phẩm thiện thì được, còn hai mươi phẩm bất thiện sao gọi là Phạm luân?

Đáp: Ý của Đức Phật không nói đó là Phạm luân, chỉ nói đối với pháp của phẩm thiện, bất thiện có nhẫn trí chuyển gọi là Phạm luân.

Hỏi: Ở đây vì sao gọi là Phạm?

Đáp: Do hết sức tịch tĩnh, do lìa các thứ tai họa bất thường, do không hệ lụy nơi tội lỗi, không não hại, nên gọi là Phạm.

Hỏi: Vì sao gọi là Phạm luân?

Đáp: Vì ở nơi xứ Phạm thế ban đầu có thể đạt được và đủ Thánh đạo, nên gọi Phạm luân. Tĩnh lự thứ hai, thứ ba, không phải là ban đầu có thể đạt được, cũng không đủ Thánh đạo. Tĩnh lự thứ tư, tuy là Phật thân đầu tiên đạt được nhưng không đủ Thánh đạo, nên không gọi là luân. Chỉ có xứ Phạm thế là ban đầu có thể đạt được và cũng đầy đủ, nên gọi là Phạm luân.

Có thuyết nói: Người tu phạm hạnh trong sự nối tiếp có thể đạt được, nên gọi là Phạm luân.

Có thuyết cho: Đối trị với phi phạm hạnh, nên gọi là Phạm luân.

Có thuyết nêu: Đối trị với phiền não phi phạm hạnh trong ba cõi do kiến đạo đoạn, nên gọi là Phạm luân.

Có thuyết nói: Đây là nhân nơi Phạm vương khuyến thỉnh mà chuyển, nên gọi là Phạm luân.

Có thuyết nêu: Phật là Đại phạm, những gì Phật tuyên thuyết phân biệt khai thị gọi là Phạm luân.

Có thuyết cho: Phạm âm diễn nói nên gọi là Phạm luân.

Có thuyết nói: Chỉ nơi Phạm thế Thánh đạo mới có thể đối trị rất nhiều pháp không phải là phạm, nên gọi là Phạm luân. Rất nhiều pháp không phải là phạm: Nghĩa là phiền não trong ba cõi do kiến đạo tu đạo đoạn trừ. Hoặc phiền não bất thiện, vô ký. Hoặc phiền não có dị thục, không dị thục. Hoặc phiền não sinh hai quả, sinh một quả. Hoặc phiền não tương ưng, không tương ưng với không hổ không thẹn. Hoặc phiền não có sự, không sự. Hoặc phiền não do nhẫn đối trị, do trí đối trị. Những thứ như thế gọi là rất nhiều pháp không phải là phạm.

Có thuyết nêu: Chỉ ở xứ Phạm thế mới có quả nhiều phạm hạnh, nên gọi là phạm luân. Quả nhiều phạm hạnh: Đó là bốn quả Sa-môn. Ba tĩnh lự trên chỉ có hai quả Sa-môn. Cõi vô sắc chỉ có một quả Sa-môn. Chỉ trong xứ Phạm thế là có đủ bốn quả Sa môn. Hoặc chín quả biến tri: Ba tĩnh lự trên chỉ có năm quả biến tri. Cõi vô sắc chỉ có hai quả biến tri. Chỉ ở nơi Phạm thế là có đủ chín quả biến tri. Hoặc tám mươi chín quả Sa-môn: Chỉ ở nơi Phạm thế là có đủ, không phải ở nơi địa trên. Thế nên Thánh đạo nói là Phạm luân.

Hỏi: Vì sao chỉ nói kiến đạo gọi là pháp luân, không phải là thứ khác?

Đáp: Trước đã nói nghĩa chuyển động không dừng trụ là nghĩa của luân. Kiến đạo là đạo nhanh chóng, là đạo không khởi tâm kỳ hạn, đối với sự chuyển động không dừng trụ, hết sức tùy thuận, nên riêng gọi là pháp luân.

Có thuyết nói: Trước nói nghĩa bỏ đây hướng đến kia là nghĩa của luân. Trong kiến đạo, bỏ hiện quán về khổ nơi hướng đến hiện quán về tập, cho đến bỏ hiện quán về diệt nơi hướng đến hiện quán về đạo, cho nên kiến đạo riêng gọi là pháp luân.

Có thuyết cho: Do bốn việc nên gọi là luân: Bỏ đây. Hướng đến kia. Chưa hàng phục thì hàng phục. Đã hàng phục thì bảo vệ. Trong kiến đạo cũng như vậy. Bỏ đây: Là bỏ hiện quán về khổ. Hướng đến kia: Là hướng đến hiện quán về tập. Chưa hàng phục thì hàng phục: Là hiện quán về tập. Đã hàng phục thì bảo vệ: Là hiện quán về khổ, cho đến diệt đạo nói cũng như thế. Nên gọi là pháp luân.

Có thuyết nêu: Nghĩa hồi chuyển là nghĩa của luân, cũng như bánh xe xoay chuyển liên tục. Như thế nơi kiến đạo nhẫn trí tuần hoàn. Nghĩa là sau nhẫn, trí hiện tiền. Sau trí, nhẫn lại hiện tiền. Phẩm pháp, phẩm loại tuần hoàn cũng như vậy, nên gọi là pháp luân.

Có thuyết nói: Nghĩa trên dưới là nghĩa của luân. Như bánh xe, hoặc trên hoặc dưới. Như thế kiến đạo duyên với cảnh trên dưới. Nghĩa là duyên nơi cõi dục rồi tức duyên nơi Hữu đảnh. Duyên nơi Hữu đảnh rồi lại duyên nơi cõi dục. Đối trị trên dưới nói cũng như vậy, nên gọi là pháp luân.

Có thuyết cho: Kiến đạo cũng như pháp của các bộ phận bánh xe, nên gọi là luân. Cũng như bánh xe: Bầu xe ở yên nơi giữa. Tăm xe dựa nơi bầu xe trụ. Vành xe thâu giữ tăm xe. Như vậy, kiến đạo khổ tập nhẫn, trí như tăm xe, diệt nhẫn diệt trí như bầu xe, đạo nhẫn, đạo trí như vành xe, duyên khắp nơi đạo.

Hoặc có thuyết nói: Khổ tập diệt nhẫn trí như tăm xe, ba đế như bầu xe, đạo đế như vành xe.

Hoặc có thuyết cho: Nhẫn, trí của ba đế như tăm xe. Đạo nhẫn, đạo trí như vành xe. Bốn đế như bầu xe.

Hoặc có thuyết nêu: Chánh kiến, chánh tư duy, chánh cần như tăm xe. Chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng như bầu xe. Chánh niệm, chánh định như vành xe.

Hoặc có thuyết nói: Chánh tư duy, chánh cần, chánh niệm, chánh định như tăm xe. Chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng như bầu xe. Chánh kiến như vành xe.

Hoặc có thuyết nêu: Chỉ chánh định như vành xe, ngoài ra đều nói như trước.

Có thuyết nói: Nghĩa hàng phục bốn phương là nghĩa của luân. Như luân báu hiện có của Chuyển luân vương đã hàng phục các oán địch hiện có của bốn châu. Như vậy Hành giả dùng bánh xe kiến đạo hàng phục các phiền não hiện có của bốn đế, nên gọi là pháp luân.

Có thuyết nêu: Phiền não do kiến đạo đoạn gọi là phi pháp luân, vì chúng có thể khởi tám chi tà. Kiến đạo là pháp đối trị gần với chúng, cho nên gọi là pháp luân.

Tôn giả Diệu Âm nói: Học tám chi đạo, lần lượt hòa hợp, một lúc cho đến trong sự nối tiếp của kẻ khác chuyển, nên gọi là pháp luân. Tám chi đạo này, phần vị của kiến đạo là hơn hết, cho nên kiến đạo riêng gọi là pháp luân.

Hỏi: Ngang mức nào nên nói là chuyển pháp luân?

Đáp: Như khi Cụ thọ A-nhã-đa Kiều-trận-na thấy pháp.

Hỏi: Vì sao lại tạo ra phần Luận này?

Đáp: Trước đã làm rõ tự tánh của pháp luân, nhưng chưa nêu rõ về tác dụng. Nay nhằm hiển bày nên tạo ra phần Luận này.

Có thuyết nói: Vì để ngăn chận thuyết của Bộ Ma Ha Tăng Kỳ, cho pháp luân, ngôn ngữ là tự tánh, Bộ ấy nói như vầy: Tất cả lời Phật nói đều là pháp luân. Nếu cho Thánh đạo là pháp luân, thì ở bên cội Bồ-đề đã chuyển pháp luân rồi, vì sao đến Ba-la-ni-tư mới gọi là chuyển pháp luân? Để ngăn chận ý tưởng đó, hiển bày thể của pháp luân chỉ là Thánh đạo, không phải tánh Phật ngữ. Nếu là Phật ngữ, tức nên ở bên cây Bồ-đề vì hai thương nhân nói pháp rồi, gọi là chuyển pháp luân, vì sao lại đến nước Ba-la-nê-tư mới gọi là chuyển pháp luân? Do vậy, nên biết khi ấy, khiến cho thân của kẻ khác khởi Thánh đạo mới gọi là chuyển pháp luân, vì Thánh đạo là thể của pháp luân, nên nói ngang mức Cụ thọ A-nhã-đa Kiều-trận-na kiến pháp mới gọi là Phật chuyển pháp luân.

Hỏi: Nếu như vậy Đức Phật ở bên cội cây Bồ-đề đã gọi là chuyển pháp luân, vì sao ở nơi nước Ba-la-nê-tư mới gọi là chuyển pháp luân đầu tiên?

Đáp: Chuyển pháp luân có hai thứ: 1. Chuyển trong sự nối tiếp của mình. 2. Khiến chuyển trong sự nối tiếp của kẻ khác. Bên cội cây Bồ-đề là tự chuyển pháp luân, ở Ba-la-nê-tư là khiến kẻ khác chuyển pháp luân. Đức Phật do lấy việc tạo lợi ích cho kẻ khác làm công việc chân chánh, dựa vào đấy khiến kẻ khác chuyển gọi là chuyển pháp luân đầu tiên.

Có thuyết nói: Chuyển pháp luân có hai thứ: 1. Chung. 2. Không chung. Pháp luân đã chuyển bên cội cây Bồ-đề là pháp cùng tự lợi cùng với Nhị thừa. Pháp luân chuyển ở nước Ba-la-nê-tư là pháp cùng lợi tha không cùng với Nhị thừa. Dựa vào không chung để nói, nên nơi xứ kia là chuyển pháp luân đầu tiên.

Có thuyết cho: Cùng với ở đây trái nhau nên gọi chung và không chung. Dựa vào chung nên nói là chuyển. Như chung – không chung, từng – chưa từng cũng như vậy.

Có thuyết nêu: Nếu khi chuyển vượt hơn bậc Độc giác mới gọi là chuyển đầu tiên. Nghĩa là các bậc Độc giác cũng có khả năng tự chuyển, chỉ không khiến kẻ khác chuyển. Chỉ có Phật là cũng có thể khiến kẻ khác chuyển.

Có thuyết nói: Nếu khi chuyển có người làm chứng mới gọi là chuyển đầu tiên. Nghĩa là năm Bí-sô đã chứng lý vô ngã mới có thể làm chứng Phật là người chuyển pháp luân.

Có thuyết cho: Pháp luân được chuyển ở Ba-la-nê-tư, là quả của công lao tu hành khổ hạnh trong ba vô số kiếp của Phật tự xa xưa, nên gọi là chuyển đầu tiên. Vì sao? Vì Đức Phật nếu muốn ở nơi trụ xứ của Phật quá khứ Bát Niết-bàn tức được tùy ý, nhưng đã trải qua ba vô số kiếp siêng năng tinh tấn tu tập trăm ngàn hạnh khổ đối với uẩn, xứ, giới cầu đạt thiện xảo đều vì nhằm tạo lợi ích cho hữu tình, luôn lập nguyện: Nếu tôi chứng đắc Bồ-đề Vô thượng, sẽ vì hữu tình mở cửa cam lộ khiến đều giải thoát khỏi lao ngục sinh tử, thế nên ngày nay đã chuyển pháp luân chính là quả của khổ hạnh ngày xưa.

Có thuyết nói: Nếu có thể hàng phục phiền não nơi thân kẻ khác mới gọi là pháp luân hiện có tác dụng. Như luân báu của vua hàng phục đất đai kẻ khác, không phải chỉ hàng phục nơi hoàng cung là trụ xứ của mình. Pháp luân của Như Lai cũng lại như vậy. Dựa vào đấy để nói Phật chuyển pháp luân đầu tiên.

Hỏi: Nếu khi Thánh đạo phát sinh trong thân kẻ kia, tức kẻ ấy gọi là người chuyển pháp luân. Vì sao nói Phật chuyển pháp luân?

Đáp: Nương vào nhân của chủ thể chuyển nên nói như thế. Nghĩa là Thánh đạo hiện có trong thân kẻ kia, nếu Đức Thế Tôn không dùng lời nói, dùng tay làm cho chuyển, thì Thánh đạo ấy không có nhân để được sinh. Thánh đạo ấy được sinh là do diệu lực của Phật, thế nên nói Phật chuyển pháp luân đầu tiên. Như Chuyển luân vương chưa lấy luân báu đặt vào tay trái, dùng tay mặt chuyển thì các thiên thần cũng không thể chuyển. Chủ yếu là vua chuyển rồi thì các vị mới có thể chuyển, cho nên nói Luân vương là chủ thể chuyển, không phải các thiên thần kia. Đây cũng như vậy.

Có thuyết nói: Dựa vào duyên mở trí giác nên nói như vậy. Nghĩa là trong thân kẻ kia tuy có Thánh đạo, cho đến nếu chưa dùng ánh sáng của lời Phật nói chiếu chạm thì không do đâu được sinh. Thánh đạo kia sinh đều là nhờ diệu lực của Phật, cho nên nói Phật chuyển pháp luân đầu tiên. Ví như vô số thứ hoa sen như hoa Ốt-bátla v.v… ở trong ao, cho đến nếu chưa có ánh mặt trời chiếu tới, chạm vào, thì chúng không nở, không tỏa hương. Khi ánh sáng mặt trời chiếu tới thì chúng nở và tỏa hương. Đây cũng như vậy.

Có thuyết cho: Dựa vào duyên trừ chướng ngại nên nói như thế. Nghĩa là trong thân kia tuy có Thánh đạo, nếu Đức Phật không dùng danh cú văn thân thiện xảo chưa từng có để trừ bỏ chướng ngại hiện có nơi thân kia thì Thánh đạo ấy không do đâu được sinh. Thánh đạo kia sinh là do Phật trừ chướng ngại, thế nên nói Phật chuyển pháp luân đầu tiên.

Có thuyết nêu: Dựa vào duyên hỗ trợ nên nói như thế. Nghĩa là trong thân kia tuy có Thánh đạo, nếu Đức Phật không dùng nước pháp tưới vào, thì mầm Thánh đạo kia không do đâu được sinh. Thánh đạo kia được sinh là do sự hỗ trợ của Phật, nên nói Phật chuyển pháp luân đầu tiên. Như hạt giống chứa trong kho, thiếu các duyên nên mầm tức không sinh, nên biết mầm sinh là do sức hỗ trợ. Đây cũng như vậy.

Có thuyết nói: Dựa vào duyên chỉ dẫn nên nói như vậy. Nghĩa là trong thân kia tuy có Thánh đạo, nếu không có Như Lai nói pháp chỉ dẫn thì Thánh đạo trong thân kia không chuyển. Nhờ Phật khai thị nên Thánh đạo ấy chuyển, vì vậy nói Phật chuyển pháp luân đầu tiên. Như trong căn nhà tối, nhờ đem ánh đèn soi vào liền thấy các vật có thể nhận lấy. Đây cũng như vậy.

Có thuyết cho: Có hai nhân hai duyên sinh chánh kiến: 1. Nghe pháp âm của người khác. 2. Tác ý như lý. Do nghe pháp âm của người khác nên nói Phật chuyển pháp luân đầu tiên. Do tác ý như lý nên nói kẻ kia tự chuyển pháp luân.

Có thuyết nêu: Nếu người có đủ bốn pháp gọi là có nhiều việc làm. Nghĩa là: 1. Gần gũi bậc Thiện sĩ. 2. Lắng nghe chánh pháp. 3. Tác ý như lý. 4. Pháp tùy pháp hành. Do gần gũi bậc Thiện sĩ, lắng nghe chánh pháp, nên nói Phật chuyển pháp luân đầu tiên. Do tác ý như lý, pháp tùy pháp hành, nên nói người kia tự chuyển pháp luân.

Hỏi: Cụ thọ Kiều-trận-na trụ nơi khổ pháp trí nhẫn, tức nên nói là Phật chuyển pháp luân đầu tiên. Vì sao cho đến khi đạt đạo loại trí mới gọi là chuyển? (Kiều-trận-na cựu dịch là Kiều Trần Như. Ở đây là theo cách dịch của Pháp sư Huyền Tráng)

Đáp: Khi trụ nơi khổ pháp trí nhẫn tuy được gọi là chuyển nhưng chưa rốt ráo. Khi trụ nơi đạo loại trí đối với chuyển mới là rốt ráo.

Có thuyết nói: Khi trụ nơi đạo loại trí đủ ba nhân duyên nên nói là chuyển: 1. Bỏ từng có đạo. 2. Được chưa từng có đạo. 3. Đoạn kiết chứng một vị.

Có thuyết cho: Khi trụ nơi đạo loại trí đủ năm nhân duyên nên gọi là chuyển. 1. Bỏ đạo từng có. 2. Được đạo chưa từng có. 3. Đoạn kiết chứng một vị. 4. Liền được tám trí. 5. Cùng lúc tu mười sáu hành tướng. Bỏ đạo từng có: Là bỏ kiến đạo. Được đạo chưa từng có: Là được tu đạo. Đoạn kiết chứng một vị: Là đoạn tập chứng đoạn kiết trong ba cõi do kiến đạo đoạn. Liền được tám trí: Là tức thì được bốn pháp trí, bốn loại trí. Cùng lúc tu mười sáu hành tướng: Là cùng lúc tu bốn hành tướng của khổ cho đến bốn hành tướng của đạo.

Có thuyết nêu: Khi đạo loại trí đã đoạn tất cả phiền não do kiến đạo đoạn, không còn phiền não, do nhẫn đối trị vĩnh viễn loại bỏ tánh nhận thức sai lầm của phiền não, bấy giờ mới nói là chuyển.

Có thuyết nói: Ở đây nói chuyển là dựa nơi quả vị đã đến có thể nêu bày, có thể tính đếm, có tướng, có thể nói, có thể thiết lập được pháp, người mà nói không phải ở lúc trước, không gọi là chuyển.

Có thuyết cho: Ở đây nói chuyển là căn cứ nơi xứ thọ sinh có thể mạng chung để nói, không phải ở nơi lúc trước, không gọi là chuyển.

Như Khế kinh nói: Khi Đức Phật giảng nói pháp môn này, Cụ thọ Kiều-trận-na và tám vạn chư Thiên xa lìa trần cấu, ở trong các pháp sinh pháp nhãn thanh tịnh. Ở đây: Xa trần: Là xa tùy miên. Lìa cấu: Là lìa triền cấu. Ở trong các pháp: Là ở trong bốn Thánh đế. Sinh pháp nhãn thanh tịnh: Là sinh pháp nhãn thanh tịnh thấy bốn Thánh đế.

Hỏi: Khi Đức Phật giảng nói pháp môn này, năm Bí-sô đều thấy pháp, vì sao chỉ nói mỗi Kiều-trận-na?

Đáp: Do Cụ thọ Kiều-trận-na thấy pháp trước. Nghĩa là Kiềutrận-na đã nhập kiến đạo, bốn vị kia còn ở trong phần vị căn thiện của thuận phần quyết trạch.

Có thuyết nói: Đức Thế Tôn đối với Cụ thọ Kiều-trận-na vốn có nguyện từ đời trước, nên dùng vị ấy làm người đứng đầu để chuyển pháp luân, thế nên nói riêng. Do vậy, Phật nói: Kiều-trận-na! Ông đã hiểu chăng? Đáp: Con đã hiểu. Hỏi lần hai, lần ba cũng lại như vậy.

Nhân đó gọi vị ấy là A-nhã-đa.

Hỏi: Vì sao Đức Thế Tôn ba lần hỏi Cụ thọ Kiều-trận-na?

Đáp: Do Kiều-trận-na đã kiến Thánh đế rồi, Đức Thế Tôn liền khởi trí đời trước đời sau quán xét: Là Kiều-trận-na nên thọ nhận uẩn giới xứ nối tiếp trong nẻo ác là nhiều. Hay là Ta nơi ba vô số kiếp quá khứ đã trải qua sát-na lạp-phược, mâu-hô-lật-đa là nhiều? Quán xong tức thấy: Kiều-trận-na nên thọ nhận uẩn giới xứ nối tiếp nơi địa ngục vô gián là nhiều, chẳng phải là Ta nơi ba vô số kiếp quá khứ đã trải qua sát-na lạp-phược, mâu-hô-lật-đa nhiều. Thấy rồi liền khởi niệm: Ta ở nơi ba vô số kiếp tu vô lượng trăm ngàn hạnh khổ khó làm, nay được Chánh đẳng Bồ đề Vô thượng, chỉ khiến cho Kiều-trận-na đã có từng ấy uẩn giới xứ nối tiếp nơi địa ngục vô gián được trụ trong pháp bất sinh. Giả như Ta liền Bát Niết-bàn thì đối với công sức khó nhọc của Ta đã làm là quả viên mãn, huống là còn làm các việc khác. Do vậy, để an ủi nên Phật đã hỏi ông đến ba lần.

Lại nữa, Đức Phật nhận thấy từ nơi Bản tế không thể nhận biết đến nay, Kiều-trận-na đã khởi phiền não trói buộc tất cả hữu tình, tất cả hữu tình cũng khởi phiền não trói buộc Kiều-trận-na. Lại thấy Kiều-trận-na ở trong sự nối tiếp của tất cả hữu tình thọ thai. Hữu tình cũng ở trong sự nối tiếp của Kiều-trận-na thọ thai. Lại cùng tổn hại, lại cùng ăn nuốt nhau, nói cũng như vậy. Như thấy về đời trước, thấy về đời sau cũng như thế. Đức Phật thấy như vậy rồi, liền khởi suy nghĩ: Ta chỉ khiến một người là Kiều-trận-na, đối với tất cả hữu tình lìa bỏ sự việc như thế. Đối với Ta trong ba vô số kiếp đã tu tập khổ hạnh tức là quả viên mãn, huống chi là còn tạo lợi ích cho vô lượng hữu tình. Để an ủi tình sâu nên Đức Phật hỏi đến ba lần.

Vì nhằm ngăn chận sự hủy báng nên hỏi đến ba lần. Nghĩa là Đức Phật khi còn là Bồ-tát đã chán lìa lão bệnh tử, lúc ra khỏi thành Kiếp-tỷ-la-phạt-tốt-đổ, cầu trí vô thượng, vua cha là Tịnh Phạn đã sai năm người thuộc giòng họ Thích tìm theo để lo việc hầu hạ. Trong số này, hai vị là người của Mẫu thân, ba vị là người của Phụ thân. Hai người của mẫu thân cho thọ dục là đạt được thanh tịnh. Ba người của phụ thân cho khổ hạnh là đạt được thanh tịnh. Vào thời gian Bồ-tát tu khổ hạnh, hai người của mẫu thân, tâm không thể chịu nổi nên bỏ đi. Bồ-tát sau đó nhận biết khổ hạnh không phải là đạo, nên bỏ lối tu ấy, chấp nhận việc ăn uống như dùng cơm, canh tô sữa, dùng dầu xoa nơi thân, hành tập theo nẻo trung. Ba người của phụ thân đều cho Bồtát là cuồng loạn, mất chí, nên cũng lại bỏ đi. Lúc này, có hai người nữ là Nan-đà và Nan-đà-bạt-la cùng đến giúp đỡ, hầu hạ. Bồ-tát khởi suy nghĩ: Nếu năm người kia không bỏ Ta, đâu khiến hai người nữ đến đây cùng gần gũi, giúp đỡ. Bồ-tát thọ thực mười sáu lượt cháo sữa thì sức nơi thân tăng dần. Lại từ bên người Cát tường nhận lấy cỏ rồi đi đến cạnh cội cây Bồ-đề, tự trải cỏ làm tòa, ngồi kiết già, lập nguyện: Ta nay quyết sẽ không rời khỏi tòa này, nếu không hàng phục các quân ma, vĩnh viễn đoạn trừ các lậu, chứng đắc Chánh đẳng Bồ đề Vô thượng.

Lập nguyện ấy rồi, tức thì phá trừ ba mươi sáu Câu-chi chúng quân ma ác, dùng ba mươi bốn tâm chứng đắc Chánh đẳng Chánh giác Vô thượng. Mắt Phật quán khắp tất cả thế giới xem ai nên là người đầu tiên được nghe chánh pháp của mình. Ta sẽ vì họ thuyết giảng. Quán xong liền biết ông Ốt-đạt-lạc-ca-hạt-la-ma-tử nên là người trước tiên được nghe pháp của mình. Khi ấy, có vị trời hiện ra, thưa: Ốt-đạt-lạcca-hạt-la-ma-tử vừa mạng chung vào hôm qua. Có thuyết nói: Mất đã bảy ngày. Bấy giờ, Đức Thế Tôn cũng khởi trí kiến, biết là ông ấy đã qua đời nên thương cảm, than: Ông ấy đã mất lợi lớn! Nếu được nghe pháp Ta thuyết giảng, ông ấy sẽ được chánh giải.

Đức Thế Tôn lại quán xét, trừ ông Ốt-đạt-lạc-ca-hạt-la-ma-tử, thì ai nên là người đầu tiên nghe pháp của Ta, Ta sẽ vì họ giảng nói. Quán xong, liền nhận biết đó là ông Át-la-đồ-ca-la-ma. Vị trời lại hiện ra, thưa: Ông Át-la-đồ-ca-la-ma đã mất cách đây bảy ngày. Có thuyết nói là vừa mất hôm qua. Khi đó, Đức Thế Tôn cũng khởi trí kiến nhận biết là ông ấy đã qua đời, nên thương cảm, than: Người này cũng mất lợi lớn! Nếu được nghe pháp Ta thuyết giảng, ông ấy sẽ được chánh giải.

Hỏi: Khi Đức Phật mới chứng đắc đạo quả Chánh đẳng Chánh giác Vô thượng vì sao không vì hai ông ấy nói pháp để họ qua đời rồi không được nghe pháp, há chẳng phải là sự giáo hóa mất thời cơ chăng?

Đáp: Có thuyết nói: Khi Đức Thế Tôn mới thành Phật, Ngài chưa khởi tâm vì người khác nói pháp. Lại chưa dùng đại bi duyên nơi cảnh giới của hữu tình nên không có lỗi để mất thời cơ hóa đạo.

Tôn giả Diệu Âm nói: Khi Đức Phật mới chứng đắc Bồ-đề Vô thượng, do yêu mến sâu nơi pháp, nên trải qua nhiều ngày suy tư nhớ nghĩ, hãy còn không kịp khởi tâm ăn uống, huống là có thể khởi tâm vì người khác nói pháp.

Lại có thuyết nêu: Khi mới chứng đạo, Đức Phật chưa kiến lập ba tụ hữu tình có sai biệt. Chưa biết có nên giáo hóa dẫn dắt hay không nên giáo hóa. Thế nên không có lỗi.

Có thuyết nói: Khi ấy, hai người kia căn thiện chưa thuần thục, chưa có thể nghe pháp. Vì sao? Vì khi Đức Phật thành đạo rồi: Nếu người thứ nhất kia còn sống được năm mươi bảy ngày nữa, tức nên có thể nghe pháp. Có thuyết nói: Năm mươi sáu ngày. Có thuyết nói: Bốn mươi chín ngày. Còn người thứ hai nếu sống thêm năm mươi mốt ngày nữa, tức nên có thể nghe pháp. Có thuyết nói: Năm mươi ngày. Có thuyết nói: Bốn mươi ba ngày. Do vậy, không phải Phật để mất thời cơ giáo hóa. Đức Thế Tôn hoặc có khi lưu giữ thọ hành của mình đợi người được hóa độ, như đợi Tô-bạt-đạt-la v.v… Nếu có thể lưu giữ thọ hành kẻ khác, thì không có điều ấy.

Hỏi: Vì sao Đức Phật thương cảm than thở về họ?

Đáp: Vì hai vị này trước đây từng là thầy của Đức Phật, Ngài theo họ hành tập định thế tục nhưng không được chân pháp. Nay Phật đã tự chứng chân pháp vô thượng, muốn khiến hai vị ấy nhận biết, lại muốn đem pháp mình đã chứng đắc tạo lợi ích, nhưng cả hai đều đã mạng chung, do vậy nên thương cảm than thở.

Hỏi: Trước nói: Hai vị kếu nghe pháp của Ta sẽ được chánh giải. Dựa vào phần vị nào để nói là được chánh giải?

Đáp: Có thuyết nói: Đây là nói về phần vị nhập chánh tánh ly sinh.

Có thuyết nêu: Đây là phần vị trụ nơi căn thiện thuận phần quyết trạch.

Có thuyết cho: Đây là phần vị khởi căn thiện thuận phần giải thoát.

Nên nói như vầy: Cho đến khiến hai ông ấy trừ bỏ tăng thượng mạn về Nhất thiết trí, nhận biết chỉ mỗi Đức Phật, Thế Tôn mới đầy đủ Nhất thiết trí, bấy giờ gọi là được chánh giải.

Đức Thế Tôn lại quán xét: Trừ hai người kia, thì ai là người đầu tiên nên nghe pháp của Ta, Ta sẽ vì họ thuyết giảng? Quán xong, tức nhận biết năm người như Kiều-trận-na v.v… nên được nghe pháp đầu tiên. Đức Phật khởi suy nghĩ: Những người này đều là thân tộc của thân phụ, thân mẫu Ta, trước kia đã đến cung kính, cúng dường Ta, nay Ta muốn báo đáp nhưng không biết họ hiện ở nơi đâu? Vị Trời liền hiện ra thưa: Họ đang ở nơi Vườn Nai Tiên nhân, thuộc nước Ba-la-nê-tư. Đức Thế Tôn cũng khởi trí kiến nhận biết năm vị kia đang ở đó, liền rời khỏi cội cây Bồ-đề đi dần đến Ba-la-nê-tư.

Hỏi: Đức Phật có đủ thần túc tối thắng, vì sao phải đi bộ tới đấy?

Đáp: Vì kính trọng pháp nên không dùng thần túc. Nhưng khi bước đi chân Đức Phật luôn cách mặt đất khoảng bốn lóng tay, mỗi mỗi dấu chân đều có nét sáng đẹp an lành, khả ái, tướng bánh xe ngăn tăm hiện rất rõ như vẽ. Bóng hình Đức Phật tỏa ra người nào tiếp xúc được cho đến bảy ngày sau các căn vẫn còn thấy vui thích, an ổn. Lần lượt đi tới Ba-la-nê-tư, năm người kia từ xa chợt thấy Đức Phật bèn cùng bảo nhau là không nên đón tiếp. Họ cho ông Kiềuđáp-ma này là biếng trễ, đa cầu, cuồng loạn, mất chí, chẳng đạt được gì, mà nay lại đến đây để khuyên dụ, thế thì chúng ta chớ nên nói chuyện, cung kính thăm hỏi gì cả. Chỉ trải tòa ngồi thường mặc ông ta có ngồi hay không.

Bấy giờ, Đức Thế Tôn đi dần đến chỗ năm người kia, uy đức có sức thu hút khiến họ đều bỏ hẹn ước vừa rồi, bất giác cùng lúc từ tòa ngồi đứng dậy, vội vàng tiếp đón, chấp tay quy kính. Người thì trải lại tòa ngồi sạch sẽ. Người thì đỡ lấy y bát của Phật. Người múc nước, người rửa chân, cùng bạch Phật: Kính xin ngồi nơi tòa. Đức Phật liền nghĩ: Những kẻ thiếu hiểu biết này tự lập hẹn ước với nhau, phút chốc lại bỏ. Rồi Đức Phật ung dung an tọa nơi tòa ngồi, uy quang kỳ diệu như núi Diệu Cao. Năm người ấy tuy vẫn cung kính, nhưng còn gọi Phật là Cụ thọ, hoặc lại gọi Phật là Kiều-đápma. Đức Thế Tôn liền nói: Các ông chớ nên gọi Như Lai là Cụ thọ, cũng không nên gọi thẳng về tên họ. Nếu cố chấp như vậy, tức sẽ ở nơi đêm dài sinh tử không đạt được nghĩa lợi, chỉ nhận các khổ dữ. Vì sao? Vì Như Lai đã chứng đắc Bồ-đề Vô thượng, Niết-bàn an ổn, vượt khỏi sinh lão bệnh tử, giác ngộ tánh của tất cả pháp, cứu giúp tất cả, là bậc tôn quý trong ba cõi, thành tựu vô biên pháp công đức.

Khi ấy, năm người nói: Cụ thọ cũng là Kiều-đáp-ma xưa kia, thân hình việc làm không khác ngày trước, biếng trễ, đa cầu, cuồng loạn, mất chí, bỏ tu khổ hạnh, thọ nhận ăn uống ngon, dùng dầu xoa lên thân, dáng vẻ tươi tỉnh. Tuy biết Cụ thọ tự xưng chứng đắc Bồđề Vô thượng, Niết-bàn an ổn, nhưng ai sẽ cùng tin, lại không cho chúng tôi gọi thẳng tên họ đời?

Đức Thế Tôn nói: Các ông xem diện mạo uy quang của Ta hiện nay, các căn dừng lặng, há cùng với ngày xưa là đồng sao?

Năm người nói: Chúng tôi xem Cụ thọ thật sự là khác với ngày xưa.

Đức Phật nói: Ta nếu không chứng pháp thì đâu được như thế. Các ông nên theo đấy để chứng biết Ta đã đắc đạo quả Bồ-đề Vô thượng, vì sao còn đối với Như Lai không sinh tin tưởng?

Rồi Đức Thế Tôn dần dần dẫn dụ, giáo hóa, điều phục họ. Sáng sớm hôm sau, Đức Phật vì hai người giảng nói pháp chỉ dạy trao truyền, khiến ba người còn lại đi vào thôn xóm khất thực, cho đủ sáu người ăn. Buổi chiều, Đức Phật vì ba người giảng nói pháp chỉ dạy trao truyền khiến hai người còn lại vào thôn xóm khất thực đủ dùng cho năm người, vì Đức Phật không thọ thực phi thời. Như vậy Đức Phật giáo hóa trải qua ba tháng, có thuyết nói bốn tháng, khiến căn thiện của năm người thuần thục, rồi vào ngày mồng tám, thuộc nửa tháng có trăng của tháng Ca-lật-để-ca, Như Lai mới chính thức chuyển chánh pháp luân cho năm người. Bấy giờ, Kiều-trận-na là người đầu tiên thấy pháp. Đức Phật liền hỏi ba lần: Ông đã hiểu chưa? Ý hỏi ấy là nhằm nói: Ông nay xem Ta có phải là biếng trễ, đa cầu, cuồng loạn, mất chí, không chứng đắc Bồ-đề, Niết-bàn vô thượng mà lừa dối ông chăng? Thế nên ba lần hỏi hiểu chưa, Kiềutrận-na đều đáp ba lần lại: Đã hiểu. Ý đáp ấy nói: Con nay xem Phật thật sự không phải là biếng trễ, đa cầu, cũng không phải là cuồng loạn, mất chí, lại thật sự chứng đắc Bồ-đề, Niết-bàn, không phải là lừa dối con. Con nay vì Phật là người làm chứng, nên ba lần đáp là đã hiểu. Do đó, để ngăn chận sự hủy báng nên Đức Phật hỏi đến ba lần.

Có thuyết nói: Vì nhằm hiển bày bản nguyện đã trọn đủ, nên hỏi đến ba lần. Sự việc ấy như thế nào? Từng nghe về thời quá khứ, trong Hiền kiếp này có vua tên Yết-lợi. Khi ấy, có vị tiên hiệu là Nhẫn nhục, trụ trong một khu rừng nọ tu khổ hạnh. Bấy giờ, vua Yết-lợi chỉ dẫn theo đám cung nữ vào khu rừng ấy tạo đủ thứ âm nhạc vui chơi thỏa thích. Do quá mỏi mệt nên vua ngủ thiếp. Đám cung nữ được dịp cùng nhau dạo khắp khu rừng tìm hái hoa quả. Từ xa, họ trông thấy Tiên nhân Nhẫn Nhục, ở nơi trú xứ của mình, đoan nghiêm an tọa, vắng lặng tư duy, liền cùng chạy nhanh đến, tới nơi đều cung kính đảnh lễ rồi cùng ngồi vây quanh. Vị tiên liền vì đám cung nữ giảng nói về lỗi lầm của dục. Đó là các dục đen là pháp bất tịnh, xú uế, là thứ đáng chê trách, đáng chán bỏ. Người có trí không ai lại hành tập, gần gũi. Các nàng đều nên sinh tâm chán lìa từ bỏ.

Lúc này, vua Yết-lợi thức giấc, không thấy đám cung nữ ở gần mình, liền khởi niệm: Không lẽ có người đã dẫn dụ chúng đi mất? Vua rút gươm bén rảo tìm khắp nơi, thấy đám cung nữ đang ngồi vây quanh vị Tiên kia nên đùng đùng giận dữ: Là loài quỷ lớn nào dụ dỗ đám cung nữ của ta? Liền đến trước Tiên nhân hỏi: Ông là ai? Đáp: Tôi là Tiên nhân. Lại hỏi: Ông ở đây làm gì? Đáp: Tôi tu đạo nhẫn nhục. Vua suy nghĩ: người này thấy ta nổi giận nên nói như thế. Ta nay nên thử xem. Tức lại hỏi: Ông được định phi tưởng phi phi tưởng xứ chăng? Đáp: Chưa được. Vua thứ lớp nêu hỏi cho đến: Ông được tĩnh lự thứ nhất chăng? Đáp: Không được. Vua càng thêm giận dữ, nói: Ông là người chưa lìa dục, sao buông ý ngắm nhìn các cung nữ của ta? Lại nói mình là người tu nhẫn nhục. Vậy nên đưa ra một cánh tay thử xem có thể nhẫn được chăng? Bấy giờ, Tiên nhân liền đưa cánh tay ra, vua dùng gươm bén chặt đứt như chặt đứt cộng sen rơi trên mặt đất. Vua lại hỏi gằn: Ông là người gì? Đáp: Tôi là người tu nhẫn nhục. Vua lại ra lệnh đưa cánh tay còn lại ra, tức lại chém đứt. Rồi hỏi vặn như trước, Tiên nhân cũng đáp như trước: Tôi là người tu nhẫn nhục. Như vậy, vua Yết-lợi lại lần lượt chém đứt hai chân, cắt hai tai, xẻo mũi, mỗi mỗi lần hỏi đáp đều như trước, khiến bảy phần thân của Tiên nhân rơi xuống đất tạo thành bảy vết thương, tâm vua liền dừng. Tiên nhân nói: Vua nay vì sao tự sinh chán mệt? Giả sử vua chém đứt tất cả phần thân của tôi, băm nát như hạt cải, cho đến thành hạt bụi, tôi cũng không sinh một niệm sân hận. Đã nói là nhẫn nhục thì trọn không hai lời. Như ông hôm nay, đối với tôi thật sự không có tội gì, nhưng đã chém đứt bảy phần nơi thân tôi, khiến thành bảy vết thương. Vào đời vị lai, nếu khi tôi chứng đắc đạo quả Bồ-đề Vô thượng, sẽ dùng tâm đại bi, không đợi ông thỉnh cầu, trước hết khiến ông tu bảy thứ đạo, đoạn trừ bảy tùy miên.

Nên biết Tiên nhân nhẫn nhục thời ấy, tức nay là Đức Thế Tôn Thích-ca Mâu-ni. Vua Yết-lợi lúc ấy, nay là Cụ thọ Kiều-trận-na. Thế nên, khi Kiều-trận-na thấy Thánh đế rồi, Phật dùng thần lực trừ bỏ ám chướng khiến ông nhớ lại các sự việc nơi đời quá khứ. Ông liền tự thấy mình là vua Yết-lợi, vị Tiên nhân là Phật Thích-ca. Ông đã dùng gươm chặt đứt bảy chi phân nơi thân vị Tiên thành bảy vết thương, vị Tiên ấy không sân hận, lại còn lập nguyện tạo lợi ích cho ông. Thế nên ba lần Đức Phật, Thế Tôn hỏi: Hiểu không, ý hỏi ấy là nói: Ta đâu có trái bỏ nguyện xưa. Há không như nguyện xưa để đáp trọn đủ chăng?

Khi ấy, Kiều-trận-na hết sức xấu hổ, nên chấp tay cung kính cũng ba lần đáp: Đã hiểu. Ý đáp ấy là nói: Thật sự biết rõ Đức Thế Tôn không trái nguyện xưa, như bản thệ nguyện đều đã đáp đủ. Con vốn ngu si, đã làm việc cực ác như thế, cúi mong Đức Thế Tôn xót thương tha thứ tội nặng ấy. Do đó, vì để làm viên mãn bản nguyện nên Đức Phật hỏi đến ba lần.

Có thuyết nêu: Đức Thế Tôn muốn hiển bày pháp do mình thuyết giảng có diệu lực thiện xảo nên ba lần hỏi. Nghĩa là ý ấy nói: Ta ở nơi ba vô số kiếp tu vô lượng hạnh khổ khó làm, pháp đã chứng đắc do khéo nêu giảng nên khiến người kia chỉ trong phút chốc liền được giác ngộ, do đó ba lần hỏi.

Có thuyết nói: Đức Thế Tôn nhằm khiến cho bốn người còn lại nghe, sinh dũng mãnh mau chóng nhập kiến đạo nên hỏi ba lần.

Có thuyết cho: Đức Thế Tôn muốn hiển bày trong pháp nêu giảng về thiện, thầy và đệ tử đối với pháp mình đã chứng, phải cùng suy xét kỹ, chân thật lìa bỏ tăng thượng mạn. Khác với ngoại đạo đối với pháp chưa được khởi tăng thượng mạn cho là đã được. Thế nên Đức Thế Tôn hỏi ba lần.

Hỏi: Khi Đức Phật chuyển pháp luân lần đầu, có tám vạn chư Thiên cũng đồng thấy pháp, tại sao chỉ nói vì năm người như Kiềutrận-na v.v… chuyển pháp luân?

Đáp: Trong đây chỉ nói những vị chính được thọ nhận pháp luân. Chư Thiên nhân nơi năm người này nên được nghe pháp, họ không phải đối tượng chính, thế nên không nói.

Có thuyết nói: Do người thấy pháp trước nên nói riêng.

Có thuyết cho: Người thì hiện thấy, còn chư Thiên thì không hiện thấy.

Có thuyết nêu: Đức Phật và nẻo người thì thân tướng, uy nghi, việc làm đều giống nhau, còn chư Thiên thì không phải vậy.

Có thuyết nói: Nếu đối với nơi chốn ấy gọi là pháp diệt, tức ở nơi chốn ấy gọi là chuyển pháp luân. Nghĩa là tuy trong cõi trời có chứng cam lồ, nếu trong nẻo người không có tức gọi là pháp diệt. Thế nên chỉ nói vì con người chuyển pháp luân.

Có thuyết cho: Trong nẻo người, đệ tử của Phật có bốn chúng khác nhau. Trong cõi trời thì không như vậy.

Có thuyết nói: Đức Phật chuyển pháp luân dùng người làm chứng, không dùng chư Thiên làm chứng.

Có thuyết nêu: Trong nẻo người có chủ thể chuyển (Đức Phật) cùng những người lãnh hội, thế nên nói đến. Trong cõi trời chỉ có những người lãnh hội, không có chủ thể chuyển, vì thế không nói.

Có thuyết cho: Trong nẻo người có thể đạt được vô số công đức thù thắng. Cõi trời thì không như vậy. Thế nên chỉ nói vì con người chuyển pháp luân.

HẾT – QUYỂN 182