LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA
Tác giả: Năm trăm vị Đại A La Hán
Hán dịch: Đời Đường, Tam Tạng Pháp sư Huyền Trang
Việt dịch: Cư sĩ Nguyên Huệ

 

QUYỂN 156

Chương 6: CĂN UẨN

Phẩm 5: BÀN VỀ NHẤT TÂM, phần 2

Hỏi: Các pháp tương ưng với chánh kiến vô học thì chúng tương ưng với chánh tư duy vô học chăng?

Đáp: Nên nêu ra bốn trường hợp. Trong đây: Chánh kiến vô học nơi tất cả địa có thể đạt được, không phải nơi tất cả tâm vô lậu. Chánh tư duy vô học nơi tất cả tâm vô lậu có thể đạt được, không phải nơi tất cả địa. Thế nên được nêu ra bốn trường hợp lớn:

1. Có pháp tương ưng với chánh kiến vô học không phải là chánh tư duy vô học: Nghĩa là chánh kiến vô học tương ưng với chánh tư duy và chánh tư duy vô học không tương ưng với pháp tương ưng của chánh kiến vô học.

Chánh kiến vô học tương ưng với chánh tư duy: Nghĩa là chánh tư duy ở trong tụ của chánh kiến vô học. Đây chỉ tương ưng với chánh kiến vô học, không phải với chánh tư duy vô học. Do ba nhân duyên nên tự thể không tương ưng với tự thể: 1. Không có tự tánh cùng khởi. 2. Hai sát-na trước sau không đi cùng. 3. Các pháp không quán tự thể cùng với cái khác làm duyên.

Và chánh tư duy vô học không tương ưng với pháp tương ưng của chánh kiến vô học: Nghĩa là tĩnh lự trung gian, ba tĩnh lự thứ trên, ba vô sắc dưới là pháp tương ưng của chánh kiến vô học. Đây không phải là chánh tư duy vô học tương ưng, do trong địa ấy không có chánh tư duy.

2. Có pháp tương ưng với chánh tư duy vô học không phải là chánh kiến vô học: Nghĩa là chánh tư duy vô học tương ưng với chánh kiến và chánh kiến vô học không tương ưng với pháp tương ưng của chánh tư duy vô học.

Chánh tư duy vô học tương ưng với chánh kiến: Nghĩa là chánh kiến ở trong tụ của chánh tư duy vô học. Đây chỉ tương ưng với chánh tư duy vô học, không phải với chánh kiến vô học. Vì ba nhân duyên nên tự thể không tương ưng với tự thể.

Và chánh kiến vô học không tương ưng với pháp tương ưng của chánh tư duy vô học: Nghĩa là vị chí, tĩnh lự thứ nhất trong tụ của tận trí, vô sinh trí là pháp tương ưng của chánh tư duy vô học. Đây không phải là tương ưng với chánh kiến vô học, do trong tụ kia không có chánh kiến.

3. Có pháp tương ưng chánh kiến vô học cũng tương ưng với chánh tư duy vô học: Nghĩa là trừ chánh kiến vô học tương ưng với chánh tư duy, trừ chánh tư duy vô học tương ưng với chánh kiến, còn lại là chánh kiến vô học và pháp tương ưng của chánh tư duy. Tức là trong tụ này, trừ tự thể của hai thứ còn lại tâm tâm sở cùng tương ưng với cả hai. Việc này lại là thế nào? Nghĩa là chín pháp đại địa, mười pháp đại thiện địa, tâm và tầm tứ.

4. Có pháp không phải tương ưng với chánh kiến vô học và chánh tư duy vô học: Nghĩa là chánh kiến vô học không tương ưng với chánh tư duy, chánh tư duy vô học không tương ưng với chánh kiến, và trước đã không gồm thâu tâm tâm sở pháp cùng sắc, vô vi, tâm bất tương ưng hành.

Chánh kiến vô học không tương ưng với chánh tư duy: Nghĩa là chánh tư duy ở trong tụ của tận trí, vô sinh trí. Đây không tương ưng với chánh kiến vô học, vì trong tụ kia không có chánh kiến, cũng không tương ưng với chánh tư duy vô học, vì tự thể cùng với tự thể không tương ưng.

Chánh tư duy vô học không tương ưng với chánh kiến: Nghĩa là tĩnh lự trung gian, ba tĩnh lự trên và ba vô sắc dưới là chánh kiến vô học. Đây không tương ưng với chánh kiến, vì tự thể cùng với tự thể không tương ưng, cũng không tương ưng với chánh tư duy vô học, vì trong địa kia không có chánh tư duy.

Và trước đã không gồm thâu tâm tâm sở pháp: Nghĩa là tĩnh lự trung gian, ba tĩnh lự trên và ba vô sắc dưới, tụ tận trí, vô sinh trí tâm tâm sở pháp và tất cả tâm tâm sở pháp hữu lậu hữu học, cùng sắc, vô vi, tâm bất tương ưng hành. Nên biết đều thuộc về trường hợp thứ tư.

Hỏi: Các pháp tương ưng với chánh kiến vô học thì chúng tương ưng với chánh cần vô học chăng?

Đáp: Nên nêu ra bốn trường hợp. Trong đây: Chánh kiến vô học nơi tất cả địa có thể đạt được, không phải nơi tất cả tâm vô lậu. Chánh cần vô học nơi tất cả địa, tất cả tâm vô lậu đều có thể đạt được. Thế nên được nêu ra bốn trường hợp vừa:

1. Có pháp tương ưng với chánh kiến vô học không phải là chánh cần vô học: Nghĩa là chánh kiến vô học tương ưng với chánh cần. Đây không phải tương ưng với chánh cần vô học, do tự thể cùng với tự thể không tương ưng.

2. Có pháp tương ưng với chánh cần vô học không phải là chánh kiến vô học: Nghĩa là chánh kiến vô học và chánh kiến vô học không tương ưng với pháp tương ưng của chánh cần vô học.

Chánh kiến vô học: Là tự thể cùng với tự thể không tương ưng.

Chánh kiến vô học không tương ưng với pháp tương ưng của chánh cần vô học: Nghĩa là pháp tương ưng của chánh cần ở trong tụ của tận trí, vô sinh trí. Đây không tương ưng với chánh kiến, do trong tụ kia không có chánh kiến.

3. Có pháp tương ưng với chánh kiến vô học và chánh cần vô học: Nghĩa là trừ chánh kiến vô học tương ưng với chánh cần, còn lại là pháp tương ưng của chánh kiến vô học. Do chánh cần nhiều, nên ở đây trừ hết. Nhưng trong tụ này trừ hai tự thể, còn lại tâm tâm sở pháp đều tương ưng với cả hai. Việc này lại là thế nào? Nghĩa là chín pháp đại địa, chín pháp đại thiện địa, tâm và tầm tứ.

4. Có pháp không tương ưng với chánh kiến vô học cùng chánh cần vô học: Nghĩa là chánh kiến vô học không tương ưng với chánh cần và trước đã không gồm thâu tâm tâm sở pháp cùng sắc, vô vi, tâm bất tương ưng hành.

Chánh kiến vô học không tương ưng với chánh cần: Nghĩa là chánh cần ở trong tụ của tận trí, vô sinh trí. Đây không tương ưng với chánh kiến, do trong tụ kia không có chánh kiến, cũng không tương ưng với chánh cần, vì tự thể cùng với tự thể không tương ưng.

Và trước đã không gồm thâu tâm tâm sở pháp: Nghĩa là trong đây không có tâm tâm sở pháp vô học khác trước đã không gồm thâu, chỉ có tất cả tâm tâm sở pháp hữu lậu hữu học trước đã không gồm thâu cùng sắc, vô vi, tâm bất tương ưng hành. Nên biết đều thuộc về trường hợp thứ tư.

Như chánh kiến đối với chánh cần, thì đối với chánh niệm, chánh định, chánh giải thoát cũng như vậy. Ở đây đều nêu ra bốn trường hợp vừa.

Hỏi: Các pháp tương ưng với chánh kiến vô học thì chúng tương ưng với chánh trí vô học chăng?

Đáp: Các pháp tương ưng với chánh kiến vô học thì chúng không tương ưng với chánh trí vô học. Các pháp tương ưng với chánh trí vô học thì chúng không tương ưng với chánh kiến vô học: Do hai pháp này không cùng khởi.

Hỏi: Các pháp tương ưng với chánh tư duy vô học thì chúng tương ưng với chánh cần vô học chăng?

Đáp: Nên nêu ra bốn trường hợp. Trong đây: Chánh tư duy vô học nơi tất cả tâm vô lậu có thể đạt được, không phải nơi tất cả địa. Chánh cần vô học nơi tất cả địa, tất cả tâm vô lậu đều có thể đạt được. Thế nên cũng được nêu ra bốn trường hợp vừa: Văn như nói về chánh kiến đối chánh cần.

Như chánh tư duy đối với chánh cần, thì đối với chánh niệm, chánh định, chánh giải thoát cũng như vậy.

Hỏi: Các pháp tương ưng với chánh tư duy vô học thì chúng tương ưng với chánh trí vô học chăng?

Đáp: Nên nêu ra bốn trường hợp. Trong đây: Chánh tư duy vô học nơi tất cả tâm vô lậu có thể đạt được, không phải là nơi tất cả địa. Chánh trí vô học là nơi tất cả địa có thể đạt được, không phải là nơi tất cả tâm vô lậu. Thế nên cũng được nêu ra bốn trường hợp lớn. Văn như nói về chánh kiến đối với chánh tư duy.

Hỏi: Các pháp tương ưng với chánh cần vô học thì chúng tương ưng với chánh niệm vô học chăng?

Đáp: Nên nêu ra bốn trường hợp. Trong đây: Chánh cần vô học, chánh niệm vô học nơi tất cả địa, tất cả tâm vô lậu đều có thể đạt được. Thế nên cũng được nêu ra bốn trường hợp nhỏ:

1. Có pháp tương ưng với chánh cần vô học không phải là chánh niệm vô học: Nghĩa là chánh niệm vô học. Ở đây tương ưng với chánh cần vô học không phải là chánh niệm, do tự thể cùng với tự thể không tương ưng.

2. Có pháp tương ưng với chánh niệm vô học không phải là chánh cần vô học: Nghĩa là chánh cần vô học. Ở đây tương ưng với chánh niệm vô học không phải là chánh cần, vì tự thể cùng với tự thể không tương ưng.

3. Có pháp tương ưng với chánh cần vô học cùng chánh niệm vô học: Nghĩa là trừ chánh cần vô học, chánh niệm vô học, còn lại là chánh cần vô học và pháp tương ưng của chánh niệm. Đó là trong tụ này, trừ hai tự thể, còn lại là tâm tâm sở, cùng với cả hai tương ưng. Việc này lại là thế nào? Nghĩa là chín pháp đại địa, chín pháp đại thiện địa, tâm cùng tầm, tứ.

4. Có pháp không tương ưng với chánh cần vô học và chánh niệm vô học: Nghĩa là trước đã không gồm thâu tâm tâm sở pháp cùng sắc, vô vi, tâm bất tương ưng hành. Trong đây, không có tâm tâm sở pháp vô học khác trước đã không gồm thâu, chỉ có tất cả tâm tâm sở pháp hữu lậu hữu học là trước đã không gồm thâu cùng sắc, vô vi, tâm bất tương ưng hành. Nên biết đều thuộc về trường hợp thứ tư.

Như chánh cần đối với chánh niệm, thì đối với chánh định, chánh giải thoát cũng như vậy. Ở đây đều được nêu ra bốn trường hợp nhỏ.

Hỏi: Các pháp tương ưng với chánh cần vô học thì chúng tương ưng với chánh trí vô học không?

Đáp: Nên nêu ra bốn trường hợp. Ở đây: Chánh cần nơi tất cả địa, tất cả tâm vô lậu đều có thể đạt được. Chánh trí nơi tất cả địa có thể đạt được, không phải nơi tất cả tâm vô lậu. Thế nên cũng được nêu ra bốn trường hợp vừa: Văn như nói về chánh tư duy đối với chánh cần.

Như chánh cần thì chánh niệm, chánh định cũng như vậy.

Hỏi: Các pháp tương ưng với chánh giải thoát vô học thì chúng tương ưng với chánh trí vô học chăng?

Đáp: Nên nêu ra bốn trường hợp. Ở đây: Chánh giải thoát vô học nơi tất cả địa, tất cả tâm vô lậu đều có thể đạt được. Chánh trí vô học nơi tất cả địa có thể đạt được, không phải nơi tất cả tâm vô lậu. Thế nên cũng được nêu ra bốn trường hợp vừa: Văn như nói về chánh cần đối với chánh trí.

***

Chương 6: CĂN UẨN

Phẩm 6: BÀN VỀ NGƯ

* Nếu thành tựu nhãn căn thì Hành giả kia đối với hai mươi hai căn, bao nhiêu thứ thành tựu, bao nhiêu thứ không thành tựu? Các chương như thế cùng giải thích nghĩa của chương, đã lãnh hội rồi nên phân biệt rộng.

Hỏi: Phẩm này vì sao gọi là Ngư (Cá)?

Đáp: Do nhiều phần vị chuyển dời khó nắm bắt được.

Thế nào là nhiều phần vị? Nghĩa là phần vị căn gồm đủ căn không gồm đủ căn. Phần vị vô hình, một hình, hai hình. Phần vị có tâm, không tâm, có định, không định, sinh nơi cõi địa có khác nhau. Phần vị đoạn thiện, không đoạn thiện. Phần vị lìa nhiễm, chưa lìa nhiễm. Phần vị tâm thiện, nhiễm, vô ký. Phần vị phàm phu, Thánh giả. Phần vị kiến đạo, tu đạo, vô học đạo. Những phần vị như vậy nơi hai mươi hai căn, thành hoặc không thành, chuyển dời không định, như cá khó bắt giữ, nên lấy đó đặt tên.

Hỏi: Nếu thành tựu nhãn căn thì Hành giả kia đối với hai mươi hai căn, bao nhiêu thứ thành tựu, bao nhiêu thứ không thành tựu? Cho đến cụ tri căn nêu hỏi cũng như vậy.

Đáp: Nếu thành tựu nhãn căn thì Hành giả kia nhất định thành tựu năm, số còn lại là không nhất định. Thành tựu năm là nhãn, thân, mạng, ý, xả căn. Số còn lại không nhất định là mười bảy căn, hoặc thành tựu, hoặc không thành tựu. Nghĩa là: Nhĩ, tỷ, thiệt, thân căn có đủ là thành tựu, không đủ là không thành tựu.

Nữ căn, nam căn nếu một hình thì theo đấy thành tựu một. Nếu hai hình thì đều thành tựu. Nếu không hình thì đều không thành tựu. Nghĩa là vốn không được, hoặc được rồi do dần dần chết hay do những duyên khác nên mất.

Lạc căn nếu sinh nơi trời Biến tịnh và dưới, nếu Thánh giả sinh nơi tĩnh lự thứ tư thì thành tựu. Nếu phàm phu sinh nơi tĩnh lự thứ tư thì không thành tựu.

Khổ căn nếu sinh nơi cõi dục thì thành tựu, nếu sinh nơi cõi sắc thì không thành tựu.

Hỷ căn nếu sinh nơi trời Cực quang tịnh và dưới, nếu Thánh giả sinh nơi tĩnh lự thứ ba, thứ tư thì thành tựu. Nếu phàm phu sinh nơi tĩnh lự thứ ba, thứ tư thì không thành tựu.

Ưu căn nếu chưa lìa nhiễm dục thì thành tựu, nếu đã lìa nhiễm dục thì không thành tựu.

Năm căn như tín v.v… nếu không đoạn thiện thì thành tựu, nếu đoạn thiện thì không thành tựu.

Vị tri đương tri căn trụ nơi kiến đạo thì thành tựu, ngoài ra thì không thành tựu.

Dĩ tri căn trụ nơi vị tu thì thành tựu, ngoài ra thì không thành tựu.

Cụ tri căn trụ nơi vị vô học thì thành tựu, ngoài ra thì không thành tựu.

Thế nên nói số còn lại là không nhất định.

Như nhãn căn, thì nhĩ, tỷ, thiệt căn cũng như vậy, đều thành tựu nhất định ở cõi sắc, cõi vô sắc thì nhất định không thành tựu, cõi dục thì bất định.

Nếu thành tựu thân căn thì Hành giả kia nhất định thành tựu bốn, số còn lại là không nhất định. Thành tựu bốn là thân, mạng, ý, xả căn. Số còn lại không nhất định là mười tám căn, hoặc thành tựu, hoặc không thành tựu. Nghĩa là: Nhãn căn nếu đủ là thành tựu, không đủ là không thành tựu. Mười bảy căn kia như trước đã nói.

Nếu thành tựu nữ căn thì Hành giả kia nhất định thành tựu tám, số còn lại là không nhất định. Thành tựu tám là nữ, thân, mạng, ý, lạc, khổ, hỷ, xả căn. Số còn lại không nhất định là mười bốn căn, hoặc thành tựu, hoặc không thành tựu, như trước đã nói.

Như nữ căn, thì nam căn cũng như vậy.

Nếu thành tựu hai căn nam nữ thì Hành giả kia nhất định thành tựu mười lăm căn là nam, nữ, thân, mạng, ý, năm thọ, năm căn như tín v.v…. Nhất định không thành tựu ba căn là ba căn vô lậu. Số còn lại là không nhất định, như nói ở trước nên biết.

Nếu thành tựu mạng căn thì Hành giả kia nhất định thành tựu ba, số còn lại là bất định. Thành tựu ba là mạng, ý, xả căn. Số còn lại bất định là mười chín căn, hoặc thành tựu, hoặc không thành tựu. Nghĩa là: Nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt căn sinh nơi cõi sắc thì thành tựu, sinh nơi cõi vô sắc thì không thành tựu, sinh nơi cõi dục thì hoặc thành tựu hoặc không thành tựu, như nói ở trước.

Thân căn sinh nơi cõi dục, cõi sắc thì thành tựu, sinh nơi cõi vô sắc thì không thành tựu.

Nữ căn, nam căn sinh nơi cõi sắc, cõi vô sắc thì không thành tựu, sinh nơi cõi dục hoặc thành tựu hoặc không thành tựu, như nói ở trước.

Lạc căn nếu sinh nơi trời Biến tịnh và dưới, nếu Thánh giả sinh nơi cõi trên thì thành tựu. Nếu phàm phu sinh nơi cõi trên thì không thành tựu.

Khổ căn nếu sinh nơi cõi dục thì thành tựu, nếu sinh nơi cõi sắc, cõi vô sắc thì không thành tựu.

Hỷ căn nếu sinh nơi trời Cực quang tịnh và dưới, nếu Thánh giả sinh nơi cõi trên thì thành tựu. Nếu phàm phu sinh nơi cõi trên thì không thành tựu. Ngoài ra như nói ở trước.

Như mạng căn, thì ý căn, xả căn cũng như vậy. Hữu tình trong ba cõi đều nhất định thành tựu.

Nếu thành tựu lạc căn thì Hành giả kia nhất định thành tựu bốn, số còn lại là bất định. Thành tựu bốn là lạc, mạng, ý, xả căn. Số còn lại bất định là mười tám căn, hoặc thành tựu hoặc không thành tựu, như đã nói ở trước.

Nếu thành tựu khổ căn thì Hành giả kia nhất định thành tựu bảy, số còn lại là bất định. Thành tựu bảy là thân, mạng, ý, bốn thọ trừ ưu căn. Số còn lại bất định là mười lăm căn, hoặc thành tựu hoặc không thành tựu, như đã nói ở trước.

Nếu thành tựu hỷ căn thì Hành giả kia nhất định thành tựu năm, số còn lại là bất định. Thành tựu năm là mạng, ý, lạc, hỷ, xả căn. Số còn lại bất định là mười bảy căn, hoặc thành tựu hoặc không thành tựu, như đã nói ở trước

Nếu thành tựu ưu căn thì Hành giả kia nhất định thành tựu tám là thân, mạng, ý, và năm thọ căn. Nhất định không thành tựu một là cụ tri căn. Số còn lại bất định là mười ba căn, hoặc thành tựu hoặc không thành tựu, như đã nói ở trước.

Nếu thành tựu tín căn thì Hành giả nhất định thành tựu tám, số còn lại là bất định. Thành tựu tám là mạng, ý, xả, năm căn như tín v.v…. Số còn lại bất định là mười bốn căn, hoặc thành tựu hoặc không thành tựu, như đã nói ở trước.

Như tín căn, thì tinh tấn, niệm, định, tuệ căn cũng như vậy.

Nếu thành tựu vị tri đương tri căn thì Hành giả kia nhất định thành tựu mười ba là thân, mạng, ý, bốn thọ trừ ưu căn, năm căn như tín v.v…, vị tri đương tri căn. Nhất định không thành tựu hai là dĩ tri căn và cụ tri căn. Số còn lại bất định là bảy căn, hoặc thành tựu hoặc không thành tựu, như đã nói ở trước.

Nếu thành tựu dĩ tri căn thì Hành giả kia nhất định thành tựu mười một là mạng, ý, lạc, hỷ, xả, năm căn như tín v.v…, dĩ tri căn. Nhất định không thành tựu hai là vị tri đương tri căn và cụ tri căn. Số còn lại bất định là chín căn, hoặc thành tựu hoặc không thành tựu, như đã nói ở trước.

Nếu thành tựu cụ tri căn thì Hành giả kia nhất định thành tựu mười một là mạng, ý, lạc, hỷ, xả, năm căn như tín v.v…, cụ tri căn. Nhất định không thành tựu ba là ưu căn, hai căn vô lậu trước. Số còn lại bất định là tám căn, hoặc thành tựu hoặc không thành tựu, như đã nói ở trước.

Hỏi: Nếu thành tựu nhãn căn thì Hành giả kia đối với hai mươi hai căn của ba đời, có bao nhiêu thứ thành tựu, bao nhiêu thứ không thành tựu? Cho đến cụ tri căn cũng nêu hỏi như vậy.

Đáp: Nếu thành tựu nhãn căn thì nhất định không thành tựu quá khứ, vị lai tám là tám căn vô ký như mạng v.v… Chỉ thành tựu ở hiện tại, không phải ở quá khứ, vị lai, vì uy lực yếu kém. Nhất định thành tựu ở quá khứ, vị lai hai, hiện tại ba. Quá khứ, vị lai hai là ý, xả căn. Hai căn này đối với hiện tại nhất định không thành tựu, do chúng hoặc trụ nơi phần vị không tâm. Hiện tại ba là nhãn, thân, mạng căn. Số còn lại là bất định, như đã nói ở trước.

Như nhãn căn, thì nhĩ, tỷ, thiệt căn cũng như vậy.

Nếu thành tựu thân căn thì nhất định không thành tựu quá khứ, vị lai tám là mạng căn v.v… Nhất định thành tựu quá khứ, vị lai hai, hiện tại hai. Quá khứ, vị lai hai là ý và xả căn. Hiện tại hai là thân, mạng căn. Số còn lại là bất định, như đã nói ở trước.

Nếu thành tựu nữ căn thì nhất định không thành tựu quá khứ, vị lai tám là mạng căn v.v… Nhất định thành tựu quá khứ, vị lai năm, hiện tại ba. Quá khứ, vị lai năm là ý căn và bốn thọ trừ ưu căn. Hiện tại ba là nữ, thân, mạng căn. Số còn lại là bất định, như đã nói ở trước.

Như nữ căn, nam căn cũng như vậy.

Nếu thành tựu hai căn nam nữ thì nhất định không thành tựu quá khứ, vị lai tám, ba đời ba. Quá khứ, vị lai tám là mạng căn v.v… Ba đời ba là ba căn vô lậu. Nhất định thành tựu quá khứ, vị lai chín, ba đời hai, hiện tại bốn. Quá khứ, vị lai chín là bốn thọ và năm căn như tín v.v… Ba đời hai là ý căn và một thọ. Hiện tại bốn là nam, nữ, thân, mạng căn. Số còn lại là bất định, như đã nói ở trước.

Sư phương Tây nói: Nên nói quá khứ, vị lai nhất định thành tựu mười là năm thọ, năm căn như tín v.v… Ba đời nhất định thành tựu một là ý căn. Thọ về danh là bất định. Nên các Luận sư nước Cathấp-di-la nói: Danh tuy bất định nhưng số thì định, tất có một thọ hiện tiền. Ở đây, nói số không nói danh.

Nếu thành tựu mạng căn thì nhất định không thành tựu quá khứ, vị lai tám là mạng căn v.v… Nhất định thành tựu quá khứ, vị lai hai là ý, xả căn; hiện tại một là mạng căn. Số còn lại là bất định, như đã nói ở trước.

Như mạng căn, thì ý, xả căn cũng như vậy.

Nếu thành tựu lạc căn thì nhất định không thành tựu quá khứ, vị lai tám là mạng căn v.v… Nhất định thành tựu quá khứ, vị lai hai là ý, xả căn; vị lai một là lạc căn; hiện tại một là mạng căn. Số còn lại là bất định, như đã nói ở trước.

Nếu thành tựu khổ căn thì nhất định không thành tựu quá khứ, vị lai tám là mạng căn v.v… Nhất định thành tựu quá khứ, vị lai năm là ý căn và bốn thọ trừ ưu căn; hiện tại hai là thân, mạng căn. Số còn lại là bất định, như đã nói ở trước.

Nếu thành tựu hỷ căn thì nhất định không thành tựu quá khứ, vị lai tám là mạng căn v.v… Nhất định thành tựu quá khứ, vị lai hai là ý, xả căn; vị lai hai là lạc, hỷ căn; hiện tại một là mạng căn. Số còn lại là bất định, như đã nói ở trước.

Nếu thành tựu ưu căn thì nhất định không thành tựu quá khứ, vị lai tám là mạng căn v.v…, ba đời một là cụ tri căn. Nhất định thành tựu quá khứ, vị lai bốn là bốn thọ, ba đời hai là ý và một thọ, hiện tại hai là thân, mạng căn. Số còn lại là bất định, như đã nói ở trước.

Luận sư nước Kiện-đà-la nói: Văn này nên nói quá khứ, vị lai thành tựu năm là năm thọ. Ba đời thành tựu là một là ý căn. Thọ về danh là bất định. Nên Luận sư nước Ca-thấp-di-la nói: Danh tuy không định nhưng số thì định, nên nói như trước.

Nếu thành tựu tín căn thì nhất định không thành tựu quá khứ, vị lai tám là mạng căn v.v… Nhất định thành tựu quá khứ, vị lai bảy là ý, xả, năm căn như tín v.v…; hiện tại một là mạng căn. Số còn lại là bất định, như đã nói ở trước.

Như tín căn, thì tinh tấn, niệm, định, tuệ căn cũng như vậy.

Nếu thành tựu vị tri đương tri căn thì nhất định không thành tựu quá khứ, vị lai tám là mạng căn v.v…, ba đời hai là dĩ tri và cụ tri căn, hiện tại hai là khổ, ưu căn. Nhất định thành tựu ba đời bảy, quá khứ vị lai ba, vị lai hiện tại một, hiện tại hai. Ba đời bảy là ý căn, một thọ và năm căn như tín v.v… Quá khứ, vị lai ba là ba thọ. Vị lai, hiện tại một là vị tri đương tri căn. Hiện tại hai là thân, mạng căn. Trong đây, hai tức như trước đã nói. Số còn lại là bất định, như đã nói ở trước.

Nếu thành tựu dĩ tri căn thì nhất định không thành tựu quá khứ, vị lai tám là mạng căn v.v…, ba đời hai là hai căn vô lậu còn lại. Nhất định thành tựu quá khứ, vị lai bảy là ý, xả căn và năm căn như tín v.v…; vị lai ba là lạc, hỷ, dĩ tri căn; hiện tại một là mạng căn. Số còn lại là bất định, như đã nói ở trước.

Nếu thành tựu cụ tri căn thì nhất định không thành tựu quá khứ, vị lai tám là mạng căn v.v…; ba đời ba là ưu căn và hai căn vô lậu còn lại. Nhất định thành tựu quá khứ, vị lai bảy là ý, xả căn và năm căn như tín v.v…; vị lai ba là lạc, hỷ, cụ tri căn; hiện tại một là mạng căn. Số còn lại là bất định, như đã nói ở trước.

Hỏi: Nếu không thành tựu nhãn căn thì Hành giả kia đối với hai mươi hai căn, bao nhiêu thứ không thành tựu, bao nhiêu thứ thành tựu? Cho đến cụ tri căn cũng nêu hỏi như vậy.

Đáp: Nếu không thành tựu nhãn căn thì nhất định không thành tựu một là nhãn căn. Nhất định thành tựu ba là mạng, ý, xả căn. Số còn lại là bất định, như đã nói ở trước.

Như nhãn căn, thì các căn nhĩ, tỷ, thiệt, nam, nữ, ba căn vô lậu cũng như vậy.

Nếu không thành tựu thân căn thì nhất định không thành tựu mười là bảy sắc căn, khổ, ưu, vị tri đương tri căn. Nhất định thành tựu tám là mạng, ý, xả căn, năm căn như tín v.v… Số còn lại là bất định, như đã nói ở trước.

Nếu nam, nữ căn đều không thành tựu thì nhất định không thành tựu hai là nam, nữ căn. Nhất định thành tựu ba là mạng, ý, xả căn. Số còn lại là bất định, như đã nói ở trước.

Mạng, ý, xả căn đều thành tựu.

Nếu không thành tựu lạc căn thì nhất định không thành tựu chín là nam, nữ, bốn thọ trừ xả và ba căn vô lậu. Nhất định thành tựu tám là mạng, ý, xả căn, năm căn như tín v.v… Số còn lại là bất định, như đã nói ở trước.

Nếu không thành tựu khổ căn thì nhất định không thành tựu năm là nam, nữ, khổ, ưu, vị tri đương tri căn. Nhất định thành tựu tám là mạng, ý xả căn, năm căn như tín v.v… Số còn lại là bất định, như đã nói ở trước.

Nếu không thành tựu hỷ căn thì nhất định không thành tựu tám là nam, nữ, khổ, ưu, hỷ, ba căn vô lậu. Nhất định thành tựu tám là mạng, ý, xả căn, năm căn như tín v.v… Số còn lại là bất định, như đã nói ở trước.

Nếu không thành tựu ưu căn thì nhất định không thành tựu một là ưu căn. Nhất định thành tựu tám là mạng, ý, xả căn, năm căn như tín v.v… Số còn lại là bất định, như đã nói ở trước.

Nếu không thành tựu tín căn thì nhất định không thành tựu tám là năm căn như tín v.v… và ba căn vô lậu. Nhất định thành tựu tám là thân, mạng, ý căn và năm thọ v.v… Số còn lại là bất định, như đã nói ở trước.

Như tín căn, thì các căn tinh tấn, niệm, định, tuệ cũng như vậy.

Hỏi: Nếu không thành tựu nhãn căn thì Hành giả kia đối với hai mươi hai căn của ba đời, bao nhiêu thứ không thành tựu, bao nhiêu thứ thành tựu? Cho đến cụ tri căn cũng nêu hỏi như vậy.

Đáp: Nếu không thành tựu nhãn căn thì nhất định không thành tựu ba đời một là nhãn căn; quá khứ, vị lai bảy là bảy căn như mạng v.v… Nhất định thành tựu quá khứ, vị lai hai là ý, xả căn; hiện tại một là mạng căn. Số còn lại là bất định, như đã nói ở trước.

Như nhãn căn, thì các căn nhĩ, tỷ, thiệt, nam, nữ căn cũng như vậy.

Nếu không thành tựu thân căn thì nhất định không thành tựu ba đời mười là bảy sắc căn, khổ, ưu, vị tri đương tri căn; quá khứ, vị lai một là mạng căn. Nhất định thành tựu quá khứ, vị lai năm là năm căn như tín v.v…; ba đời hai là ý, xả căn; hiện tại một là mạng căn. Số còn lại là bất định, như đã nói ở trước.

Nếu nam, nữ căn đều không thành tựu thì nhất định không thành tựu ba đời hai là nam, nữ căn; quá khứ, vị lai sáu là năm sắc căn và mạng căn. Nhất định thành tựu quá khứ, vị lai hai là ý, xả căn; hiện tại một là mạng căn. Số còn lại là bất định, như đã nói ở trước.

Mạng, ý, xả căn đều thành tựu.

Nếu không thành tựu lạc căn thì nhất định không thành tựu ba đời chín là nữ, nam, bốn thọ trừ xả căn và ba căn vô lậu; quá khứ, vị lai sáu là năm sắc căn và mạng căn. Nhất định thành tựu quá khứ, vị lai bảy là ý, xả căn, năm căn như tín v.v…; hiện tại một là mạng căn. Số còn lại là bất định, như đã nói ở trước.

Nếu không thành tựu khổ căn thì nhất định không thành tựu ba đời năm là nam, nữ, khổ, ưu, vị tri đương tri căn; quá khứ, vị lai sáu là năm sắc căn và mạng căn. Nhất định thành tựu quá khứ, vị lai bảy là ý, xả căn, năm căn như tín v.v…; hiện tại một là mạng căn. Số còn lại là bất định, như đã nói ở trước.

Nếu không thành tựu hỷ căn thì nhất định không thành tựu ba đời tám là nam, nữ, khổ, ưu, hỷ căn và ba căn vô lậu; quá khứ, vị lai sáu là năm sắc căn và mạng căn. Nhất định thành tựu quá khứ, vị lai bảy là ý, xả căn, năm căn như tín v.v…; hiện tại một là mạng căn. Số còn lại là bất định, như đã nói ở trước.

Nếu không thành tựu ưu căn thì nhất định không thành tựu ba đời một là ưu căn; quá khứ, vị lai tám là mạng căn v.v… Nhất định thành tựu quá khứ, vị lai bảy là ý, xả căn, năm căn như tín v.v…; hiện tại một là mạng căn. Số còn lại là bất định, như đã nói ở trước.

Nếu không thành tựu tín căn thì nhất định không thành tựu ba đời tám là năm căn như tín v.v… và ba căn vô lậu; quá khứ, vị lai tám là mạng căn v.v… Nhất định thành tựu quá khứ, vị lai bốn là bốn thọ; ba đời hai là ý căn và một thọ; hiện tại hai là thân, mạng căn. Số còn lại là bất định, như đã nói ở trước.

Như tín căn, thì các căn tinh tấn, niệm, định, tuệ cũng như vậy.

Nếu không thành tựu vị tri đương tri căn thì nhất định không thành tựu ba đời một là vị tri đương tri căn; quá khứ, vị lai tám là mạng căn v.v… Nhất định thành tựu quá khứ, vị lai hai là ý, xả căn; hiện tại một là mạng căn. Số còn lại là bất định, như đã nói ở trước.

Như vị tri đương tri căn, thì dĩ tri căn, cụ tri căn cũng như vậy.

Hỏi: Các căn thiện thì chúng làm nhân cho căn thiện chăng? Nếu như căn làm nhân cho căn thiện thì chúng là căn thiện chăng?

Đáp: Các căn thiện thì chúng làm nhân cho căn thiện: Nghĩa là tám căn toàn phần và phần ít của sáu căn. Ở đây do căn thiện làm ba nhân tức tương ưng, câu hữu, đồng loại.

Có căn làm nhân cho căn thiện nhưng không phải là thiện: Nghĩa là căn thiện đã dẫn căn dị thục sinh, tức căn thiện đã dẫn dị thục nơi tám căn như mạng căn v.v… và ý, lạc, hỷ, xả căn. Đây là do căn thiện làm một nhân là nhân dị thục. Trong đó, không tham không sân không si gọi là nhân căn thiện.

Hỏi: Các căn bất thiện thì chúng làm nhân cho căn bất thiện chăng? Nếu như căn làm nhân cho căn bất thiện thì chúng là căn bất thiện chăng?

Đáp: Các căn bất thiện thì chúng làm nhân cho căn bất thiện: Nghĩa là phần ít của sáu căn. Ở đây do căn bất thiện làm bốn nhân tức tương ưng, câu hữu, đồng loại, biến hành.

Có căn làm nhân cho căn bất thiện nhưng không phải là bất thiện: Nghĩa là căn bất thiện đã dẫn căn dị thục sinh, tức căn bất thiện đã dẫn tám căn như mạng căn v.v… và ý, khổ căn. Đây là do căn bất thiện làm một nhân là nhân dị thục. Và căn tương ưng với hữu thân kiến biên chấp kiến ở cõi dục. Đây là do căn bất thiện làm hai nhân là đồng loại, biến hành. Trong ấy, tham sân si gọi là nhân căn bất thiện.

Hỏi: Các căn vô ký thì chúng làm nhân cho căn vô ký chăng? Nếu như căn làm nhân cho căn vô ký thì chúng là căn vô ký chăng?

Đáp: Nên nêu ra bốn trường hợp. Các Luận sư Tỳ-bà-sa nước Ca-thấp-di-la nói: Căn vô ký có ba: 1. Ái vô ký. 2. Tuệ vô ký. 3. Vô minh vô ký.

Ái vô ký: Nghĩa là ái của năm bộ ở cõi sắc và cõi vô sắc.

Tuệ vô ký: Nghĩa là tuệ hữu phú vô ký và tuệ vô phú vô ký. Tuệ hữu phú vô ký: Là hữu thân kiến, biên chấp kiến ở cõi dục và tuệ nhiễm ô của năm bộ ở cõi sắc và cõi vô sắc. Tuệ vô phú vô ký: Là tuệ cùng sinh với đường oai nghi, xứ công xảo, dị thục sinh, tâm biến hóa.

Vô minh vô ký: Nghĩa là vô minh tương ưng với hữu thân kiến, biên chấp kiến ở cõi dục và vô minh của năm bộ ở cõi sắc và cõi vô sắc.

Trong đây, tham vô ký tương ưng với tâm, do ba căn vô ký nên gọi là tâm có căn. Những tâm hữu phú vô ký khác do hai căn vô ký nên gọi là tâm có căn, là tuệ vô ký, vô minh vô ký. Hết thảy tâm vô phú vô ký do một căn vô ký nên gọi là tâm có căn là tuệ vô ký. Dựa vào đó giải thích nghĩa của bốn trường hợp:

1. Có căn là vô ký nhưng không phải làm nhân cho căn vô ký: Nghĩa là căn không duyên tức là tám căn như mạng v.v… Căn này vô ký nhưng không dùng căn vô ký làm nhân.

2. Có căn làm nhân cho căn vô ký nhưng không phải là vô ký: Nghĩa là căn bất thiện, tức phần ít của sáu căn. Căn này bất thiện nhưng dùng căn vô ký làm hai nhân là đồng loại, biến hành.

3. Có căn là vô ký cũng làm nhân cho căn vô ký: Nghĩa là căn vô ký có duyên, tức là phần ít của năm căn. Căn này vô ký cũng dùng căn vô ký làm bốn nhân là tương ưng, câu hữu, đồng loại, biến hành.

4. Có căn không phải là vô ký cũng không phải làm nhân cho căn vô ký: Nghĩa là căn thiện, tức tám căn toàn phần và phần ít của sáu căn. Căn này không phải vô ký cũng không dùng căn vô ký làm nhân.

Hỏi: Từng có căn không phải làm nhân cho căn thiện, không phải làm nhân cho căn bất thiện, không phải làm nhân cho căn vô ký, căn ấy không phải là không nhân chăng?

Đáp: Có. Đó là căn không duyên, tức là tám căn như mạng v.v… dùng sắc tâm bất tương ưng hành làm nhân. Đây không phải lấy ba tánh nơi căn làm nhân, nhưng lấy sắc tâm bất tương ưng hành làm ba nhân là câu hữu, đồng loại, dị thục.

Các Luận sư phương Tây nói: Căn vô ký có bốn là: 1. Ái vô ký. 2. Kiến vô ký. 3. Mạn vô ký. 4. Vô minh vô ký.

Ái vô ký: Nghĩa là ái nơi năm bộ của cõi sắc và cõi vô sắc.

Kiến vô ký: Nghĩa là hữu thân kiến, biên chấp kiến ở cõi dục cùng năm kiến của cõi sắc và cõi vô sắc.

Mạn vô ký: Nghĩa là mạn nơi năm bộ của cõi sắc và cõi vô sắc.

Vô minh vô ký: Nghĩa là vô minh tương ưng với hữu thân kiến, biên chấp kiến ở cõi dục và vô minh nơi năm bộ của cõi sắc và cõi vô sắc.

Trong đây, tham vô ký tương ưng với tâm, do hai căn vô ký nên gọi là tâm có căn là ái vô ký, vô minh vô ký. Kiến, mạn vô ký tương ưng với tâm cũng đều do hai căn vô ký, nên gọi là tâm có căn, tức là chúng và vô minh. Tâm hữu phú vô ký khác do một căn vô ký, nên gọi là tâm có căn là vô minh vô ký. Dựa vào đó để giải thích nghĩa của bốn trường hợp. Văn ở đây nên nói như vầy:

1. Có căn là vô ký nhưng không phải làm nhân cho căn vô ký: Nghĩa là căn vô ký vô phú. Căn này vô ký nhưng không dùng căn vô ký làm nhân.

2. Có căn làm nhân cho căn vô ký nhưng không phải là vô ký: Nghĩa là căn bất thiện. Căn này không phải vô ký nhưng dùng căn vô ký làm hai nhân là đồng loại, biến hành.

3. Có căn là vô ký cũng làm nhân cho căn vô ký: Nghĩa là căn hữu phú vô ký. Căn này vô ký cũng dùng căn vô ký làm bốn nhân là tương ưng, câu hữu, đồng loại, biến hành.

4. Có căn không phải là vô ký cũng không phải làm nhân cho căn vô ký: Nghĩa là căn thiện. Căn này không phải vô ký cũng không dùng căn vô ký làm nhân.

Hỏi: Từng có căn không phải làm nhân cho căn thiện, không phải làm nhân cho căn bất thiện, không phải làm nhân cho căn vô ký, căn ấy không phải là không nhân chăng?

Đáp: Có. Đó là căn vô phú vô ký lấy sắc, tâm bất tương ưng hành làm nhân. Căn này không lấy ba tánh nơi căn làm nhân, nhưng lấy sắc tâm bất tương ưng hành, lấy tâm tâm sở vô phú vô ký làm bốn nhân là tương ưng, câu hữu, đồng loại, dị thục.

Đây là nói chung, nhưng căn tương ưng có đủ bốn nhân, căn không tương ưng chỉ có ba nhân trừ nhân tương ưng.

Hỏi: Vì sao các Sư Tây phương lập mạn là căn vô ký?

Đáp: Họ cho nghĩa sức cứng chắc là nghĩa của căn, mà mạn là sức cứng chắc, nên lập nó làm căn. Tức như Sư Du-già sở dĩ thoái mất trăm ngàn phẩm thiện đều do sức của mạn.

Hỏi: Vì sao các Sư trong nước này không lập mạn làm căn?

Đáp: Các Sư ở đây nói nghĩa hạ thấp là nghĩa của căn. Vì mạn khiến cho tâm nêu cao đối với thấp, thấp phải thuận theo nên không lập làm căn.

Hỏi: Vì sao các Sư trong nước này lập tuệ vô phú vô ký làm căn vô ký?

Đáp: Do các Sư ở đây nói nghĩa dựa nơi nhân là nghĩa của căn. Tuệ vô phú vô ký dựa vào nhân là hơn hết nên lập làm căn.

Hỏi: Vì sao các Sư Tây phương không lập tuệ ấy làm căn?

Đáp: Vì họ nói nghĩa có sức bền mạnh là nghĩa của căn. Tuệ vô phú vô ký uy lực yếu kém, nên không lập làm căn.

Hỏi: Vì sao các Sư ở nước này và phương kia đều không lập nghi là căn vô ký?

Đáp: Do họ đều nói nghĩa định trụ là nghĩa của căn. Nghi không định trụ nơi hai môn chuyển, nên không lập làm căn.

Nên nói như vầy: Như căn thiện, căn bất thiện đều có ba thứ, căn vô ký cũng nên như vậy. Lai như mạn bất thiện không lập làm căn bất thiện, mạn vô ký cũng nên như vậy. Căn vô ký chỉ có ba là đúng.

***

Chương 6: CĂN UẨN

Phẩm 7: NHÂN DUYÊN

* Các căn nhân nơi quá khứ thì chúng duyên với quá khứ chăng? Những chương như vậy cùng giải thích nghĩa của chương, đã lãnh hội rồi nên phân biệt rộng.

Hỏi: Vì sao tạo ra phần Luận này?

Đáp: Là để ngăn chận ý tưởng cho không có hai đời quá khứ, vị lai và cho không có nhân duyên, cho đến nói rộng, nên tạo ra phần Luận này.

Ở đây, dựa vào hai duyên để tạo luận là nhân duyên và sở duyên duyên.

Hỏi: Vì sao không dựa vào hai duyên khác để tạo luận?

Đáp: Đẳng vô gián duyên chỉ là một sát-na, còn tăng thượng duyên thì chung nơi tất cả pháp. Nếu dựa vào chúng để tạo luận, thì văn nghĩa không uyển chuyển, sâu rộng, thế nên ở đây chỉ dựa vào hai duyên kia để tạo luận. Trong đây nên tạo sự tóm lược về Tỳ-bà-sa. Nghĩa là trong hai mươi hai căn, mười bốn căn có đối tượng duyên, tám căn không có đối tượng duyên. Trong các thứ có đối tượng duyên, thì phẩm tương ưng của năm thức thân: Quá khứ duyên với quá khứ, hiện tại duyên với hiện tại, vị lai nếu sinh pháp thì duyên với vị lai, nếu không sinh pháp thì duyên với ba đời. Phẩm tương ưng của ý thức thân: Là tùy vào đời nào, hoặc sinh, không sinh đều duyên với ba đời và pháp vô vi.

Lại, căn do kiến khổ, kiến tập đoạn thì duyên chung nơi năm bộ. Căn do kiến diệt, kiến đạo đoạn chỉ duyên với tự bộ và không đoạn, tu đoạn. Căn không đoạn duyên chung nơi năm bộ và không đoạn.

Lại, căn thuộc cõi dục, cõi sắc và không hệ thuộc duyên chung thuộc ba cõi và không hệ thuộc. Căn thuộc cõi vô sắc chỉ duyên với thuộc cõi sắc, cõi vô sắc và không hệ thuộc.

Nhân duyên có sai biệt cũng nên căn cứ theo đây để nhận biết. Đó gọi là ở đây đã lược nói về nghĩa. Theo văn giải thích rộng, như lý nên biết. Trong đó, tất cả phần chuyển dịch trước thì nhân lược mà duyên rộng. Tất cả phần chuyển dịch sau thì duyên lược mà nhân rộng. Ở đây, các nhẫn lấy trí để gọi nên nói là quyến thuộc của trí.

HẾT – QUYỂN 156