LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA
Tác giả: Năm trăm vị Đại A La Hán
Hán dịch: Đời Đường, Tam Tạng Pháp sư Huyền Trang
Việt dịch: Cư sĩ Nguyên Huệ

 

QUYỂN 12

Chương 1: TẠP UẨN

Phẩm 2: BÀN VỀ TRÍ, phần 4

Hỏi: Bổ-đặc-già-la đã không thể thủ đắc, lại không có lý tâm trước đi đến bảo với tâm sau, vậy duyên vào gì để có thể ghi nhớ lại sự việc trước kia đã làm?

Đáp: Hữu tình đối với pháp do năng lực của tập quán nên có được trí đồng phần như thế và tùy theo sự việc đã tiếp xúc mà có khả năng nhận biết như thế.

Hỏi: Trước đây nói không có Bổ-đặc-già-la, nay vì sao lại nói hữu tình đối với pháp?

Đáp: Trước kia là dựa vào tưởng danh của Thánh để thị hiện, còn nay là nương theo tưởng danh của thế gian để tỏ bày. Trước dựa vào ngôn thuyết của Thánh nhằm thị hiện, nay nương theo lời nói của thế gian mà chỉ rõ. Trước dựa vào thắng nghĩa, nay nương theo thế tục.

Có thuyết nói: Vì thuận theo văn. Nếu nói pháp đối với pháp, về nghĩa tuy thuận, nhưng đối với văn thì không thuận. Nếu nói hữu tình đối với pháp, nghĩa và văn đều thuận, vì căn cứ vào thế tục nên có hữu tình.

Có thuyết cho: Vì sinh giải. Nếu nói pháp đối với pháp, đệ tử không hiểu rõ thì ai có thể ghi nhớ điều gì? Còn nói hữu tình đối với pháp, đệ tử sẽ hiểu ra, là hữu tình ghi nhớ pháp.

Hữu tình đối với pháp do năng lực của tập quán, nên được trí đồng phần như thế. Nghĩa là trí của hữu tình đối với pháp của đối tượng nhận biết, với tập quán quyết định, tùy ý muốn tự tại, trước sau đều giống nhau, nên gọi là đồng phần.

Tùy theo sự việc đã tiếp xúc mà có khả năng nhận biết như thế. Nghĩa là tùy theo những gì vốn đã thấy, tùy thuộc những gì xưa kia đã thọ nhận, nên có khả năng ghi nhớ như thế.

Có thuyết nêu: Câu văn đó nên nói như vầy: Theo sự việc hiện có mà có khả năng nhận biết như vậy. Nghĩa là tùy thuộc vào gốc với Thể hiện có, tướng hiện có, ngã hiện có, vật hiện có, tánh hiện có, phần vị hiện có, nên có khả năng ghi nhớ như thế.

Có thuyết nói: Câu văn ấy nên nói như vầy: Tùy thuộc vào sự việc đã an trụ mà có khả năng nhận biết như thế. Nghĩa là tùy thuộc vào hiển sắc vốn đã an trụ, theo hình sắc vốn đã an trụ v.v… nên có khả năng ghi nhớ như thế.

Muốn cho nghĩa này được rõ, nên Tôn giả tạo Luận đã dẫn chứng bằng thí dụ hiện tại ở thế gian: Như có hai người khắc chữ in ấn, cả hai đều có khả năng hiểu rõ chữ in đã khắc của mình và người. Tuy hai người không đi đến hỏi nhau: Ông chế tạo chữ này ra sao? Cũng không trả lời với nhau: Tôi đã chế tạo chữ này như thế. Nhưng do hai người đó đã có sức của tập quán, nên được trí đồng phần như thế, có khả năng hiểu rõ kiểu chữ in mà mình và người khác đang tạo ra. Hữu tình cũng thế, do năng lực của tập quán, cho đến nói rộng. Ở đây, khả năng viết chữ, biên chép đều gọi là người tạo ra chữ in. Như hai người kia, tuy không thông báo tin tức với nhau, cũng không trả lời nhau, nhưng do năng lực của tập quán, nên được trí đồng phần như thế, có khả năng hiểu rõ chữ in mà mình và người khác đã chế tạo. Cho đến thư tín của hải ngoại gởi đến, cũng có khả năng đọc biết. Hữu tình cũng thế, tuy không có Bổ-đặc-già-la chân thật, cũng không có lý tâm trước đi đến tâm sau, mà do sức của tập quán mới được trí đồng phần như thế, tùy thuộc vào sự việc đã tiếp xúc, nên có khả năng hiểu biết như thế. Lại khiến cho nghĩa ghi nhớ này càng được rõ hơn.

Dẫn chứng thí dụ thứ hai: Như có hai người biết tâm người khác, nghĩa là biết tâm lẫn nhau. Tuy hai người kia không đi đến để dọ hỏi nhau: Ông có biết tâm tôi như thế nào không? Cũng không trả lời với nhau: Tôi biết tâm ông như thế. Nhưng hai người ấy, do năng lực của tập quán, nên được trí đồng phần, biết tâm lẫn nhau như thế. Hữu tình cũng vậy, do sức của tập quán, cho đến nói rộng. Ở đây, nói nhận biết tâm người khác là được tha tâm thông. Nghĩa là hai người kia, tuy không hỏi han nhau, cũng không trả lời với nhau, nhưng do sức của tập quán, nên được trí đồng phần, biết được tâm lẫn nhau như thế, cho đến họ có cách xa nhau hằng trăm do-tuần, cũng biết được tâm của nhau. Hữu tình cũng như vậy, tuy không có Bổ-đặc-già-la chân thật, cho đến nói rộng v.v…

Hỏi: Nếu tâm khác tiếp xúc với tâm khác, có thể ghi nhớ, vì sao không được trời trao cho (?) tuy đã từng cúng tế, có khả năng ghi nhớ sự trao cho đó. Sự cúng tế, truyền trao đã từng trải qua sự việc trời trao cho nên có khả năng ghi nhớ chăng?

Đáp: Vì sự nối tiếp nhau kia là khác, nhưng tâm trước tâm sau nối tiếp nhau lại không khác, do vậy không nên đặt ra vấn nạn.

Có thuyết nói: Vì tâm kia trông mong vào nhau, nên không có nghĩa làm nhân cho nhau. Tâm trước có khả năng làm nhân cho tâm sau, do vậy không nên vấn nạn.

Có thuyết cho: Vì tâm của hai thân kia không cùng lệ thuộc, tâm của thân trước sau đã quan hệ nối tiếp nhau, nên trước đã từng trải, sau có khả năng ghi nhớ.

Hỏi: Nếu tâm hệ thuộc với nhau, tức là có khả năng ghi nhớ, thì vì sao không thấy con bò khác mà nhớ là con bò trước?

Đáp: Nếu đối với sự việc đã từng thọ nhận, nay lại trông thấy giống nhau, tức có thể ghi nhớ. Ngược lại nếu sự việc đã từng thọ nhận, nay thấy không giống nhau là không thể ghi nhớ. Đã trải qua sự việc buổi sáng sớm, đến chiều có khả năng ghi nhớ lại. Công việc đã trải qua vào chiều ngày hôm nay, đến sáng sớm hôm sau vẫn có khả năng ghi nhớ, vì những đối tượng trước sau thân đã bắt gặp đều giống nhau.

Lại nữa, tất cả tâm tâm sở pháp đối với đối tượng duyên, quyết định an trụ ở đối tượng duyên ấy. Câu hỏi nêu ra ở đây là thuộc thắng nghĩa hay căn bản? Vì sao mà đáp? Như trong chương Kiến Uẩn nói: Nếu pháp cùng với pháp kia làm đối tượng duyên thì hoặc có lúc không cùng với pháp kia làm đối tượng duyên chăng?

Đáp: Không lúc nào không phải là đối tượng duyên, do tâm tâm sở đối với đối tượng duyên nhất định an trụ ở đối tượng duyên, không thể dời đổi. Do vậy có khả năng ghi nhớ lại sự việc vốn đã làm. Nghĩa là, đối với một đối tượng duyên có vô lượng nhóm tâm tâm sở. Thay đổi một đối tượng duyên này, như dùng nghĩa lý sâu xa này, dùng tánh loại này, dùng pháp thức này, cùng với một nhóm tâm tâm sở làm đối tượng duyên, thì cùng với vô lượng nhóm tâm tâm sở khác tạo sự việc của đối tượng duyên cũng như vậy. Như một nhóm tâm tâm sở, dùng nghĩa lý sâu xa này, dùng tánh loại này, dùng pháp thức này để nhận lãnh đối tượng duyên ấy, thì vô lượng nhóm tâm tâm sở khác nhận lãnh đối tượng duyên ấy cũng như thế. Ví như một người có đến trăm đứa con. Người này như đối với một đứa con làm phận của người cha, thì đối với những đứa con còn lại cũng như thế. Như một đứa con đối với cha làm phận sự của người con, thì những đứa con khác đối với cha cũng như thế.

Trong đây, nhãn thức và pháp tương ưng đối với sắc nơi đối tượng duyên là nhất định, cho đến ý thức và pháp tương ưng, đối với tất cả pháp nơi đối tượng duyên là nhất định. Sắc này cùng với nhãn thức và pháp tương ưng đó làm đối tượng duyên. Nghĩa là không lúc nào không phải là đối tượng duyên, cho đến pháp này cùng với ý thức và pháp tương ưng làm đối tượng duyên. Tức không lúc nào không phải là đối tượng duyên, vì tất cả tâm tâm sở pháp, mỗi thứ đều có thể nhận lãnh đối tượng duyên của chính mình. Do đó, không có nhóm tâm khác đã từng trải, nhóm tâm khác có khả năng ghi nhớ.

Hỏi: Thế nào là tâm tâm sở pháp, đối với đối tượng duyên là định hay đối với xứ là định, hay đối với màu sắc xanh v.v… là định, hay đối với sát-na là định?

Đáp: Trong đây có thuyết nói: Chỉ đối với xứ là định. Vì sao? Vì chớ cho có vô lượng tâm tâm sở pháp an trụ trong pháp không sinh.

Hỏi: Thế nào là đối với xứ là định?

Đáp: Nhãn thức và pháp tương ưng, đối với sắc xứ là định, cho đến thân thức và pháp tương ưng, đối với xúc xứ là định. Ý thức và pháp tương ưng đối với pháp xứ v.v… là định. Như một nhãn thức, nếu gặp màu xanh hòa hợp hiện trước mặt, thì duyên với màu xanh khởi hiện. Nếu gặp màu vàng v.v… hòa hợp hiện trước mặt, thì duyên với màu vàng v.v… khởi hiện. Như thế các thức khác đối với đối tượng duyên của mình cũng chỉ xứ là định.

Người kia không nên nói như vậy. Vì sao? Vì nếu thế thì một sự nhận biết sẽ có nhiều tánh biết rõ, một pháp mà có nhiều Thể là không hợp với đạo lý. Và điều Luận Thức Thân nói làm sao thông suốt? Như nói: Nhãn thức quá khứ chỉ duyên với sắc quá khứ, không phải vị lai, hiện tại. Có sự ham muốn khác thì lẫn tránh vì biết là sự lỗi lầm.

Nói tâm tâm sở pháp đối với xứ của đối tượng duyên là định, cũng như đối với màu xanh v.v… là định, không phải đối với sát-na là định. Vì sao? Vì đừng cho là có vô lượng tâm tâm sở pháp an trụ trong pháp không sinh.

Hỏi: Thế nào là cũng đối với màu xanh v.v… là định?

Đáp: Tâm tâm sở pháp duyên nơi màu xanh v.v… Thể của chúng đều khác nhau. Nếu gặp sắc xanh hòa hợp hiện trước mặt thì phát sinh tâm tâm sở pháp duyên với màu xanh. Nếu gặp màu vàng hòa hợp v.v… hiện trước mặt thì phát sinh tâm tâm sở pháp duyên với màu vàng v.v…

Người kia cũng không nên nói như vậy. Vì sao? Vì màu xanh có nhiều thứ, nào là rễ xanh, cộng xanh, cành xanh, lá xanh, hoa xanh, trái xanh. Màu vàng v.v… cũng như thế. Nên duyên với gốc mà nhận biết v.v… tức là duyên với cộng mà nhận biết. Nếu vậy một sự nhận biết có nhiều tính chất hiểu rõ. Một pháp mà có nhiều Thể là không hợp với đạo lý, cũng mâu thuẫn với Luận Thức Thân đã nói, như trước đã nêu.

Nên nói như thế này: Tâm tâm sở pháp đối với ba sự là định.

Hỏi: Nếu như thế tức nên có vô lượng tâm tâm sở pháp an trụ trong pháp không sinh chăng?

Đáp: Đây có lỗi gì? Đời vị lai rộng lớn không có chỗ bao dung chăng? Nhưng tâm tâm sở pháp kia xưa nay vốn đã có xứ an trụ rồi, do vậy không nên vấn nạn.

Hỏi: Tâm tâm sở pháp như đối với đối tượng duyên là định, còn đối với đối tượng nương dựa cũng định chăng? Nếu nêu như thế là có lỗi gì? Nếu đối với đối tượng nương dựa cũng định, vì sao ở đây chỉ nói đối với đối tượng duyên là định, không nói đối với đối tượng nương dựa là định? Theo chỗ Luận Phẩm Loại Túc nói làm sao thông suốt? Như nói: Thế nào là có pháp cùng có? Là tất cả pháp hữu lậu và pháp hữu lậu pháp vô lậu cùng sinh. Nếu đối với đối tượng nương dựa không định thì đối với đối tượng duyên làm sao định? Nên chỉ đối với đối tượng nương dựa là không định chăng?

Đáp: Đối với đối tượng nương dựa cũng định. Nhưng tâm tâm sở pháp ở đời vị lai cách xa với nơi đối tượng nương dựa, còn hiện tại thì đều định, quá khứ lại xa.

Có thuyết nói: Ở đời vị lai cách xa nơi đối tượng nương dựa. Hiện tại, quá khứ cũng đều cùng có với đối tượng nương dựa.

Có thuyết cho: Ba đời đều cùng định với đối tượng nương dựa.

Hỏi: Nếu thế vì sao trong đây không nói đến?

Đáp: Trong đây chỉ muốn nói đến sự ghi nhớ lại những việc vốn đã làm là đối tượng được ghi nhớ là đối tượng duyên chứ không phải là đối tượng nương dựa.

Hỏi: Thuyết của Luận Phẩm Loại Túc nêu làm sao thông suốt?

Đáp: Đoạn văn kia nên nói thế này: Thế nào là có pháp cùng có? Là tất cả pháp hữu vi. Nhưng không nói như thế, vì văn kia là chỉ rõ về Thánh đạo có công dụng, không nói không công dụng, nên không mâu thuẫn nhau.

Có thuyết nêu: Đoạn văn kia chỉ rõ về Thánh đạo, dựa vào sức của người khác mà được, nương vào sức của người khác mà khởi, nên chỉ nói cùng với pháp hữu lậu cùng sinh.

Hỏi: Nếu tâm tâm sở pháp đối với đối tượng duyên là định, đối với đối tượng nương dựa cũng là định, thì chúng ở nơi phần vị nào nhận lấy đối tượng duyên? Là ở lúc sinh hay là ở lúc diệt? Nếu như nêu như thế là có lỗi gì? Nếu là lúc sinh, khi sinh ở đời vị lai, làm sao pháp vị lai có thể có được chỗ tạo tác? Nếu là lúc diệt, khi diệt các pháp đều suy thoái, tan hoại, làm sao ở phần vị này có thể nhận lấy đối tượng duyên?

Đáp: Nên nói là lúc diệt.

Hỏi: Thế nào là pháp suy thoái, tan hoại, có khả năng nhận lấy đối tượng duyên?

Đáp: Vì tánh của các pháp hữu vi là yếu kém, không tự dựa vào mình, phải nương dựa vào cái khác để chuyển biến, không có tác dụng, không tự tại, tùy thuộc ở phần vị nào đó. Nếu gặp nơi nương dựa và đối tượng duyên hòa hợp, tức đối với phần vị kia có khả năng nhận lấy đối tượng duyên, chỉ đối với khi diệt mới có sự hòa hợp này.

Có thuyết nói: Lúc sinh là đời vị lai, vì các pháp vị lai không có tác dụng, nên không có khả năng nhận lấy đối tượng duyên. Lúc diệt là đời hiện tại, vì các pháp hiện tại có tác dụng, do vậy có khả năng nhận lấy đối tượng duyên. Nếu lúc diệt không nhận lấy đối tượng duyên, thì tâm tâm sở pháp hoàn toàn không thể nhận lấy đối với đối tượng duyên. Chớ nên có lỗi ấy, vì vậy đối với khi diệt, có khả năng nhận lấy đối tượng duyên.

Lại do ý thọ nhận làm cho năng lực của nhân có sức mạnh, nên liền nhớ không quên. Nên biết trong ấy, trước sinh tụ tâm, lấy tiếng ý để nói. Về sau sinh tụ tâm, dùng tiếng niệm để nói. Nhưng ý thọ có hai thứ: 1. Ý thọ nhận hành tướng. 2. Ý thọ nhận đối tượng duyên.

Lại như đối với nhẫn tăng thượng: Có hai tâm thọ nhận hành tướng của nó mà không nhận đối tượng duyên kia, nghĩa là khổ loại trí nhẫn và khổ loại trí tương ưng. Có hai tâm thọ nhận đối tượng duyên của nó, không thọ nhận hành tướng kia, nghĩa là tập pháp trí nhẫn và tập pháp trí tương ưng. Có ba tâm thọ nhận hành tướng của nó, cũng thọ nhận đối đối tượng duyên kia, nghĩa là pháp thế đệ nhất khổ pháp trí nhẫn và khổ pháp trí tương ưng. Các tâm còn lại không thọ nhận hành tướng của nó, cũng không thọ nhận đối tượng duyên kia, nghĩa là các nhẫn trí còn lại tương ưng. Như đối với nhẫn tăng thượng, đối với tâm khác, tùy chỗ ứng hợp nói rộng cũng như thế.

Nhận hành tướng đã từng trải, thì nhận đối tượng duyên là có khả năng ghi nhớ. Nhận đối tượng duyên đã từng trải, thì nhận hành tướng là có khả năng ghi nhớ.

Lại có hai thứ ý: 1. Nhiễm ô. 2. Không nhiễm ô. Mỗi mỗi sự việc đã từng trải đều có hai thứ khả năng ghi nhớ này.

Lại có ba thứ ý: 1. Thiện. 2. Bất thiện. 3. Vô ký. Mỗi mỗi sự việc đã từng trải đều có ba thứ khả năng ghi nhớ này.

Lại có bốn thứ ý: 1. Thiện. 2. Bất thiện. 3. Hữu phú vô ký. 4. Vô phú vô ký. Mỗi mỗi sự việc đã từng trải đều có bốn thứ khả năng ghi nhớ này.

Lại có bốn thứ ý: 1. Nhân của nó. 2. Đẳng vô gián của nó. 3. Đối tượng duyên của nó. 4. Tăng thượng của nó. Mỗi mỗi sự việc đã từng trải đều có bốn thứ khả năng ghi nhớ này.

Lại có năm thứ ý: Nghĩa là từ do kiến khổ đoạn cho đến do tu đạo đoạn. Ở đây, do kiến khổ đoạn sự việc đã từng trải với năm thứ khả năng ghi nhớ. Do kiến tập, do tu đạo đoạn sự việc đã từng trải cũng như thế. Do kiến diệt đoạn sự việc đã từng trải có bốn thứ khả năng ghi nhớ, trừ kiến đạo đoạn. Do kiến đạo đoạn sự việc đã từng trải có bốn thứ khả năng ghi nhớ, trừ kiến diệt đoạn.

Lại có năm thứ ý: 1. Thiện. 2. Bất thiện. 3. Hữu phú vô ký. 4. Vô phú vô ký đã dẫn như lý. 5. Vô phú vô ký đã dẫn không như lý. Trong đây, có thuyết nói: Thiện đã từng trải có hai thứ khả năng ghi nhớ, là thiện, vô phú vô ký đã dẫn như lý. Như vô phú vô ký đã dẫn như lý, sự việc đã từng trải cũng như thế. Bất thiện đã từng trải có ba thứ khả năng ghi nhớ, là bất thiện, hữu phú vô ký, vô phú vô ký đã dẫn không như lý. Như hữu phú vô ký, vô phú vô ký đã dẫn không như lý, sự việc đã từng trải cũng như thế. Nên nói như vầy: Mỗi mỗi sự việc đã từng trải đều có năm thứ khả năng ghi nhớ.

Lại có sáu thứ ý: Là nhãn thức cho đến ý thức. Năm thức đã từng trải tiếp xúc, ý thức có khả năng ghi nhớ. Ý thức đã từng trải tiếp xúc, sáu thức có khả năng ghi nhớ.

Lại có mười hai thứ ý: Cõi dục có bốn: Là thiện, bất thiện, hữu phú vô ký, vô phú vô ký. Cõi sắc có ba: Là bốn ý trước trừ bất thiện. Cõi vô sắc cũng như thế. Vô lậu có hai: Là học, vô học.

Thiện ở cõi dục đã từng trải có mười hai thứ khả năng ghi nhớ. Bất thiện ở cõi dục, thiện ở cõi sắc đã từng trải cũng như thế. Hữu phú vô ký ở cõi dục đã từng trải có tám thứ khả năng ghi nhớ, nghĩa là trừ hữu phú vô ký của cõi sắc, cùng ba thứ nơi cõi vô sắc. Vô phú vô ký của cõi dục đã từng trải cũng như thế.

Hữu phú vô ký của cõi sắc đã từng trải có mười thứ khả năng ghi nhớ, là trừ hai vô ký của cõi dục. Thiện cõi vô sắc đã từng trải của cũng như thế. Vô phú vô ký của cõi sắc đã từng trải có mười thứ khả năng ghi nhớ, là trừ hai vô ký của cõi vô sắc.

Hữu phú vô ký của cõi vô sắc đã từng trải có chín thứ khả năng ghi nhớ, là trừ hai vô ký của cõi dục và vô phú vô ký của cõi sắc. Vô phú vô ký của cõi vô sắc đã từng trải cũng như thế.

Học đã từng trải có mười một thứ khả năng ghi nhớ, là trừ hữu phú vô ký của cõi dục.

Vô học đã từng trải: Nếu là pháp thoái chuyển thì như nói về học. Nếu là pháp không thoái chuyển thì có bảy thứ khả năng ghi nhớ, là trừ học và bốn nhiễm ô. Do ý thọ nhận trước làm sức của nhân mạnh mẽ, nên đối với đối tượng duyên của pháp không thoái chuyển dẫn sinh sự nhớ nghĩ sau không quên. Nghĩa là tâm không cuồng loạn, không bị khổ não bức bách.

Tôn giả Thế Hữu nói: Do ba nhân duyên nên nhớ lại được công việc vốn đã làm: 1. Vì khéo giữ lấy tướng trước. 2. Vì đồng phần nối tiếp nhau hiện hành. 3. Vì không mất niệm. Do nhân duyên trên đây, nên tuy không có Bổ-đặc-già-la, cũng không có lý tâm trước đi đến tâm sau, vẫn có khả năng ghi nhớ sự việc vốn đã làm.

Hỏi: Do duyên gì hữu tình quên đi rồi lại nhớ?

Đáp: Lúc đồng phần của hữu tình nối tiếp nhau chuyển biến, đối với pháp có khả năng khởi hiện trí kiến hệ thuộc lẫn nhau. Trong đây, quên là nghĩa mất niệm, không phải là nghĩa không niệm. Vì sao? Vì không có một chút pháp nào gọi là không niệm.

Đồng phần có ba thứ: Đồng phần gia hạnh, đồng phần của đối tượng duyên và đồng phần tùy thuận.

Đồng phần gia hạnh: Là như có người, trước tụng tạng kinh, giữa chừng quên mất, về sau nhờ vào gia hạnh đã làm như trước, nên được nhớ trở lại. Trước đọc tụng tạng Tỳ-nại-da, A-tỳ-đạt-ma cũng như vậy.

Như thế, trước khởi quán bất tịnh, nửa chừng quên mất, về sau nhân có gia hạnh đã làm như trước nên được nhớ trở lại. Trước khởi quán sổ tức nơi cảnh giới, phương tiện cũng như thế.

Đã từng nghe có người con Bà-la-môn, trước kia đã đọc tụng thuộc hết bốn bộ Phệ Đà, giữa chừng quên mất, sau đó ôn tụng lại, nhưng bằng cách thức này, cũng không thể thông thạo, nên đến nhà thầy kể lại đủ lý do. Thầy liền hỏi: Trước khi đọc tụng, ông đã dùng gia hạnh nào?

Đáp: Khi ấy, tay thắt gút dây, miệng đọc tụng.

Thầy bảo: Ông nên gia hạnh như cũ.

Bà-la-môn kia theo lời thầy dạy đều nhớ lại tất cả.

Đồng phần của đối tượng duyên: Là như có người, trước kia đã trông thấy vườn rừng, suối ao, núi hang, xứ kinh hành v.v… giữa chừng quên mất. Về sau, lúc gặp việc, trông thấy vườn rừng v.v… giống như vậy, đều nhớ lại tất cả.

Đồng phần tùy thuận: Là như người giảng nói pháp được tùy thuận với các thức ăn uống, y phục, giường nằm, phòng nhà v.v… thì có khả năng nhớ nghĩ lại sự việc mình từng trải trước đây. Đã từng nghe có một Bí-sô, trước đó đã đọc tụng được bốn bộ A Hàm, nửa chừng quên mất, phải ôn tụng lại toàn bộ, nhưng với cách làm đó, không thể thông thạo, nên đã đến chỗ Tôn giả A-nan-đà để hỏi về lý do quên. Tôn giả đáp: Hôm nay, ông có thể làm các việc: Dùng dầu xoa vào mình, dọn dẹp phòng sưởi ấm, tắm gội, để mong cầu các thứ tùy thuận của người giảng nói pháp, như y phục, thức ăn uống, giường nằm, phòng nhà v.v… Bí-sô đó y theo lời Tôn giả dạy, và đã thông thạo trở lại.

Như thế, lúc đồng phần nối tiếp chuyển biến, đối với pháp có thể khởi hiện trí kiến phụ thuộc khác nhau.

Hỏi: Khởi sự phụ thuộc nhau vào cái gì?

Đáp: Ba thứ đồng phần có khác nhau. Tụng đã nói: Đối với pháp, có khả năng khởi hiện trí kiến liên tục, tức có nghĩa trí kiến khởi lên thì chảy rót nối tiếp mãi.

Lại có tụng nói: Đối với pháp có khả năng khởi lên trí kiến theo thứ lớp, tức có nghĩa trí kiến khởi lên được nêu bày theo thứ tự cùng khắp, đối với mỗi pháp kia.

Lại có tụng cho: Đối với pháp có khả năng khởi hiện trí kiến vô ngại, tức có nghĩa trí kiến khởi lên không đình trệ, không vướng mắc, không đoạn tuyệt.

Lại có tụng nêu: Đối với pháp có khả năng khởi trí kiến không chướng ngại, tức có nghĩa trí kiến khởi lên lìa chướng ngại, hàng phục, đối trị, chiến thắng giặc oán. Lại do ý thọ nhận làm cho sức của nhân mạnh mẽ, thế nên được nhớ nghĩ không quên.

Nên biết, ở đây trước sinh nhóm tâm, dùng tiếng ý để nói. Sau sinh nhóm tâm, dùng tiếng niệm để nói. Nói ý thọ nhận, như trước đã giải thích. Do ý nhận trước, làm sức của nhân mạnh mẽ, nên đối với đối tượng duyên kia dẫn sinh sự nhớ nghĩ về sau, dù giữa chừng quên, nhưng về sau lại nhớ. Nói không quên, như trước đã giải thích.

Hỏi: Do duyên gì mà hữu tình nhớ, rồi lại quên?

Đáp: Hữu tình khác phần, lúc chuyển biến nối tiếp nhau, đối với pháp không khởi trí kiến cùng phụ thuộc. Ở đây nói quên là nghĩa mất niệm, nói rộng như trước.

Khác phần có ba thứ: Khác phần gia hạnh, khác phần của đối tượng duyên, và khác phần tùy thuận.

Khác phần gia hạnh: Là như có người, trước đọc tụng tạng Tốđát-lãm (Kinh), nửa chừng quên mất, bỏ, lại tụng Tỳ-nại-da, hoặc tạng A-tỳ-đạt-ma, về sau đều không nhớ. Hay là trước tụng tạng Tỳnại-da, A-tỳ-đạt-ma cũng như thế.

Như thế, trước khởi quán bất tịnh, nửa chừng quên mất. Bỏ quán, lại bắt đầu khởi quán sổ tức. Hoặc theo cảnh giới phương tiện, nhưng về sau đều không nhớ. Trước bắt đầu hành quán sổ tức, cảnh giới, phương tiện cũng như thế.

Khác phần của đối tượng duyên: Là như có người, trước đây đã trông thấy vườn rừng, suối ao, núi hang, các nơi mình đã đi qua v.v… như thế, giữa chừng quên mất. Về sau không còn trông thấy lại những hình dạng giống nhau kia, thế nên không còn khả năng nhớ lại sự việc trước đây mình đã từng trải.

Khác phần tùy thuận: Là như có người, vì không được tùy thuận nơi sự việc ăn uống, y phục v.v… nên đối với việc đã từng trải qua trước kia, không thể nhớ lại.

Như thế, khác phần khi chuyển biến nối tiếp nhau, đối với pháp không khởi trí kiến cùng phụ thuộc.

Hỏi: Không khởi phụ thuộc vào cái gì?

Nơi ba thứ đồng phần, trong ấy cũng có bốn thứ đọc tụng

khác, mâu thuẫn với trước, do vậy nên nói rộng.

Lại do ý thọ nhận làm sức nhân yếu kém, nên nhớ nghĩ liền quên mất.

Nên biết trong đây, trước khởi sinh nhóm tâm, dùng tiếng ý để nói, sau khởi sinh nhóm tâm, dùng tiếng niệm để nói. Việc ý thọ nhận như đã giải thích ở trước. Do sự thọ nhận trước kia của ý làm nhân, mà sức quá kém, nên đối với đối tượng duyên về sau không khởi sinh nhớ nghĩ, giữa chừng tuy có nhớ nghĩ, sau cũng quên mất. Quên mất có nghĩa là tâm bị cuồng loạn, bị khổ thọ bức bách.

Tôn giả Thế Hữu nói: Do ba nhân duyên nên nhớ nghĩ quên mất: Do không khéo giữ lấy những hình tướng trước. Do khác phần nối tiếp nhau hiện hành. Do mất niệm.

Lại có thuyết cho: Do tám nhân duyên khiến niệm quên mất:

  1. Lúc sinh, bị khổ của sinh bức bách, nên niệm liền quên mất.
  2. Lúc chết, bị khổ của chết bức bách.
  3. Nhiều lời khác hiện hành.
  4. Căn độn, nương vào trí khác.
  5. Sinh vào nẻo không ưa thích, khổ thọ bức bách.
  6. Năm căn đối với cảnh dong ruổi phân tán, không dừng nghỉ, rất buông lung.
  7. Có rất nhiều phiền não làm trở ngại hiện hành.
  8. Không thường tu định, tâm tán loạn, làm niệm quên mất.

Hỏi: Những trí nào đã trải qua, nhớ nghĩ (niệm) mà quên mất? Chúng do văn tạo thành, do tư tạo thành, do tu tạo thành hay do sinh đắc v.v…?

Đáp: Có thuyết nói: Do văn, tư, sinh đắc v.v… tạo thành, đã từng trải qua, nhớ nghĩ mà quên mất, không phải do tu tạo thành.

Định lực là đối tượng gìn giữ không cho quên mất.

Có thuyết cho: Do tu tạo thành, do đã từng trải qua nên cũng có quên mất. Do thân suy yếu. Nghĩa là có người được định, thân suy yếu, nên tâm cũng suy yếu, sự tu tạo thành đó đã trải qua như vậy, nên cũng có quên mất.

Hỏi: Ở xứ nào có sự quên mất nhớ nghĩ?

Đáp: Ở cõi dục, không phải ở cõi sắc, cõi vô sắc. Ở trong năm nẻo đều có sự quên mất nhớ nghĩ.

Có thuyết nêu: Địa ngục không có sự quên mất nhớ nghĩ, do ở đó luôn luôn quên.

Hỏi: Những Bổ-đặc-già-la nào có quên mất nhớ nghĩ?

Đáp: Phàm phu, Thánh giả đều có sự quên mất nhớ nghĩ. Trong Thánh giả, Dự lưu, Nhất lai, Bất hoàn, A-la-hán, Độc giác v.v… đều có quên mất nhớ nghĩ. Chỉ trừ Đức Thế Tôn, do Phật đã thành tựu pháp không quên mất.

Hỏi: Làm sao nhận biết như vậy.

Đáp: Do kinh làm lượng. Như nói: Xá-lợi-tử! Giả sử các chúng Bí-sô dùng tòa giường khiên Ta đi, trải qua một trăm năm, muốn khiến cho trí tuệ, biện tài vô thượng của Như Lai có một ít thoái chuyển, mất mát, thì không có sự việc ấy. Do vậy biết được Phật có đủ pháp không quên mất.

Như trong Khế kinh Tượng Tích Dụ nói: Xá-lợi-tử nêu rõ: Nếu ý xứ bên trong không hư hoại, pháp xứ bên ngoài hiện ở trước và có khả năng phát sinh tác ý đang khởi, bấy giờ ý thức sinh.

Hỏi: Thế nào là ý hoại?

Có ba thứ hoại: 1. Hoại tạm thời. 2. Hoại hết cả chúng

đồng phần. 3. Hoại hoàn toàn.

Hoại tạm thời: Nghĩa là tâm thiện không gián đoạn, tâm bất thiện, vô ký hiện tiền, bấy giờ gọi là tâm thiện hoại tạm thời. Cho đến tâm vô ký không gián đoạn, tâm thiện, bất thiện hiện tiền, lúc ấy gọi là tâm vô ký hoại tạm thời.

Như vậy, tâm cõi dục không gián đoạn, tâm cõi sắc, tâm không hệ thuộc hiện tiền, bấy giờ gọi là tâm cõi dục hoại tạm thời. Cho đến tâm không hệ thuộc, không gián đoạn tâm thuộc ba cõi hiện tiền, lúc ấy gọi là tâm không hệ thuộc hoại tạm thời. Nếu nhập đẳng chí vô tưởng, diệt tận, lúc ấy gọi là tất cả tâm đều hoại tạm thời.

Hoại hết cả chúng đồng phần: Nghĩa là kẻ đoạn trừ căn thiện, tâm thiện có hoại hết cả chúng đồng phần. Phàm phu lìa nhiễm nơi cõi dục, tâm bất thiện có hoại hết cả chúng đồng phần như thế v.v…

Hoại hoàn toàn: Nghĩa là khổ trí đã sinh, tập trí chưa sinh, tâm nơi ba cõi do kiến khổ đoạn là hoại hoàn toàn. Cho đến diệt trí đã sinh, đạo trí chưa sinh, tâm nơi ba cõi do kiến khổ, tập, diệt đoạn là hoại hoàn toàn.

Dự lưu: Là tâm nơi ba cõi do kiến đạo đoạn là hoại hoàn toàn. Pháp không thoái chuyển nơi Nhất lai: Sáu phẩm tâm nơi ba cõi do kiến đạo đoạn và ở cõi dục do tu đạo đoạn là hoại hoàn toàn. Pháp không thoái chuyển nơi Bất hoàn: Tâm nhiễm ô nơi ba cõi do kiến đạo đoạn và ở cõi dục do tu đạo đoạn là hoại hoàn toàn. Pháp không thoái chuyển nơi A-la-hán: Tâm nhiễm ô nơi ba cõi do kiến đạo, tu đạo đoạn là hoại hoàn toàn. Pháp không thoái chuyển nơi phàm phu lìa nhiễm của cõi dục: Tâm nhiễm ô nơi cõi dục tức hoại hoàn toàn. Cho đến kẻ lìa nhiễm của Vô sở hữu xứ, tâm nhiễm ô ở tám địa tức hoại hoàn toàn.

Tôn giả Thế Hữu nói: Nếu ý gặp duyên hòa hợp thì không gọi là hoại, không gặp thì gọi là hoại. Lại nói thế này: Nếu ý không bị nhân tương vi tạo chướng ngại thì không gọi là hoại, ngược lại thì gọi là hoại.

***

* Do đâu nơi sự cúng tế thì ngạ quỷ đến, không phải là nẻo khác? Cho đến nói rộng.

Hỏi: Vì sao tạo ra phần Luận này?

Đáp: Vì nhằm giải thích kinh. Như Khế kinh nói: Bà-la-môn Sinh Văn đến chỗ Đức Phật, bạch Phật: “Thưa Sa-môn Kiều Đáp Ma! Tôi có người bà con mới vừa qua đời, tôi định thí cho họ thức ăn. Vậy họ có nhận được thức ăn của tôi không?”. Đức Thế Tôn bảo: “Sự việc này không nhất định. Vì sao? Vì các loài hữu tình có năm nẻo riêng khác. Nếu người bà con của ông sinh trong địa ngục, thì họ sẽ ăn thức ăn của địa ngục để tự sống còn, họ không thể nhận lãnh thức ăn của ông. Nếu họ sinh vào nẻo bàng sinh, nẻo trời, người cũng lại như thế. Nếu người bà con của ông sinh trong nẻo quỷ, thì có thể nhận lãnh thức ăn uống do ông đã thí”. Bà-la-môn nói: “Nếu người bà con của tôi không sinh trong nẻo quỷ thì ai sẽ nhận lãnh thức ăn uống tôi đã thí cho?”. Đức Phật nói với ông ta: “Trong nẻo ngạ quỷ, không có người bà con của ông là không có sự việc ấy, cho đến nói rộng”.

Tuy nói vậy, nhưng kinh kia không nói do đâu khi cúng tế thì ngạ quỷ đến, không phải là nẻo khác? Kinh kia là nơi chốn nương dựa căn bản của Luận này, những gì kinh kia không nói thì nay nên nói. Do vậy nên tạo ra phần Luận này.

Hỏi: Vì sao Bà-la-môn kia không hỏi Đức Phật, duyên gì khi cúng tế thì ngạ quỷ đến, không phải là nẻo khác?

Có hai duyên. Nghĩa là Bà-la-môn kia hoặc là căn tánh

lanh lợi, hoặc là căn tánh độn chậm, nếu thuộc căn tánh lanh lợi thì tự có khả năng hiểu rõ vấn đề, không cần hỏi Đức Phật. Nếu là căn tánh độn chậm thì không thể sinh nghi nên không hỏi Đức Phật.

Hỏi: Vì sao Đức Thế Tôn không vì họ nói nhân duyên khi thí cho thì ngạ quỷ đến?

Đáp: Cũng do hai duyên. Nghĩa là Bà-la-môn kia hoặc là người thuộc căn tánh lanh lợi, hoặc căn tánh độn chậm. Nếu là căn tánh lanh lợi, thì tự có khả năng hiểu rõ, không cần Đức Phật nói. Nếu là căn tánh độn chậm, vì không phải là pháp khí nên Đức Phật không giảng nói.

Hỏi: Duyên gì khi cúng tế thì ngạ quỷ đến, không phải là nẻo khác?

Đáp: Nẻo kia theo pháp như thế, được xứ như thế, phụng sự sự sống là phần của ngã, do vậy khi cúng tế thì đến, không phải nẻo khác.

Ở đây ý hỏi là nẻo này do là thấp kém nên đến, hay là do cao quý nên đến? Nếu nêu như vậy thì có lỗi gì? Nếu do thấp kém nên đến, thì khi cúng tế, các nẻo địa ngục, bàng sinh cũng nên đến. Nếu do cao quý nên đến, thì khi cúng tế, hàng trời người cũng nên đến.

Ý câu trả lời ở đây là không do thấp kém nên đến, cũng không do cao quý nên đến. Nhưng do hai duyên: 1. Do nẻo kia (ngạ quỷ) pháp là như thế. 2. Do dị thục của nghiệp.

Trong đây, trước chỉ rõ nẻo kia pháp là như vậy. Nghĩa là nẻo quỷ kia theo pháp như vậy nên được xứ như vậy. Phụng sự sự sống là phần của ngã, do đấy khi cúng tế thì đến, không phải nẻo khác đến.

Vì muốn cho nghĩa này được rõ, nên dẫn chứng bằng dụ hiện có ở thế gian: Như các chim ngỗng, nhạn, khổng tước, anh vũ, xá lợi, mạng mạng v.v… tuy tự tại như ý, vỗ cánh bay lượn trên không, nhưng về thần lực, oai đức, không lớn hơn người. Nhưng nẻo kia do pháp như vậy nên được xứ như thế. Phụng sự sự sống là phần của ngã, nên có khả năng bay lượn trong không. Nẻo quỷ cũng thế, do lực của pháp như vậy, nên nơi nào có cúng tế thì đến, nẻo khác thì không như thế. Nghĩa là như ngỗng, nhạn, khổng tước v.v… trong nẻo bàng sinh, do sức nơi pháp như vậy của cõi là như thế, nên có khả năng bay lượn, dừng lại lâu trong không. Người có khả năng đi đây đó, lìa thần túc, chú thuật, cỏ thuốc, muốn dừng trong hư không cách mặt đất chừng bốn ngón tay, chỉ khoảng giây phút hãy còn không thể được, nhưng thần lực, oai đức của loài kia không hơn con người. Ngạ quỷ cũng thế, do sức nơi pháp như vậy của nẻo ấy, nên khi cúng tế thì đến, không phải là nẻo khác.

Vì muốn cho nghĩa trước được rõ hơn nữa, nên đưa ra thí dụ thứ hai: Lại như một loài Na-lạc-ca (Địa ngục) có khả năng nhớ lại đời sống kiếp trước, cũng biết được tâm người khác. Một loài bàng sinh, một loài ngạ quỷ, cũng đều có khả năng nhớ lại đời sống kiếp trước, cũng biết tâm người khác, cùng nổi nên khói, lửa, kéo mây, gây nên cơn mưa, làm thời tiết lạnh, nóng v.v… Tuy chúng có khả năng làm nên những việc ấy, nhưng thần lực, oai đức không lớn so với con người. Nhưng nẻo kia do pháp như vậy nên được xứ như thế. Phụng sự sự sống là phần của ngã, nên có khả năng làm việc ấy. Nẻo quỷ cũng thế, do sức của pháp như vậy, nên khi cúng tế thì đến, nẻo khác không như thế.

Trong đây một loại Na-lạc-ca có khả năng nhớ lại đời sống kiếp trước: Như Khế kinh nói: Chúng sinh ở địa ngục có suy nghĩ như thế này: Các Đại đức Sa-môn, Bà-la-môn v.v… quan sát cõi dục trong vị lai, có thể gây nên lỗi lầm tai họa, là điều đáng sợ hãi nhất, họ luôn vì chúng ta giảng nói pháp đoạn trừ dục, chúng ta tuy có nghe mà không thể đoạn trừ. Hôm nay, chính vì nhân tham dục nên phải nhận

chịu khổ não lớn này. Lại suy nghĩ tiếp: Khi xưa, chúng ta đã gây nên hành ác, tà đối với Sa-môn, Bà-la-môn tịnh hạnh v.v… Do hành đó là nhân khiến nay phải nhận lấy khổ não này.

Hỏi: Chúng sinh kia vào thời gian nào có thể tạo được sự nhớ nghĩ ấy?

Đáp: Vào lúc mới sinh, không phải là thời gian giữa và sau. Vì sao? Vì vào thời gian mới sinh chưa thọ nhận thống khổ nên có thể tạo ra sự nhớ nghĩ ấy. Nếu thọ nhận thống khổ thì chỗ thọ nhận của đời hiện tại hãy còn không thể nhớ, huống hồ là sự thọ nhận từ trước.

Hỏi: Chúng sinh kia đã trụ nơi tâm nào mà có khả năng suy nghĩ như thế? Là thiện chăng? Là nhiễm ô chăng? Là vô phú vô ký chăng?

Đáp: Cả ba thứ đều có khả năng.

Hỏi: Là vô phú vô ký nào?

Đáp: Là đường oai nghi, không phải là xứ công xảo, vì họ không có sự việc tinh xảo. Cũng không phải dị thục sinh, vì tâm dị thục của họ là năm thức.

Hỏi: Chúng sinh kia lúc nhớ nghĩ như thế là ở địa ý hay ở năm thức thân?

Đáp: Ở địa ý, không phải nơi năm thức thân, vì trong năm thức không có sự phân biệt này.

Hỏi: Chúng sinh kia nhớ nghĩ như thế, là đã nhớ lại sự việc trong bao nhiêu đời?

Đáp: Chúng sinh kia chỉ nhớ một đời, nghĩa là từ khi mất đến đời này.

Có thuyết cho: Họ có khả năng nhớ được nhiều đời, cho đến năm trăm đời.

Cũng nhận biết tâm người khác: Nghĩa là trong địa ngục có xứ sinh đạt được trí có khả năng nhận biết được tâm người khác, nhưng không có sự việc để có thể làm sáng tỏ.

Hỏi: Chúng sinh ở địa ngục kia, vào lúc nào thì có khả năng nhận biết được tâm người khác?

Đáp: Chỉ vào lúc vừa mới sinh. Vì sao? Vì khi đang chịu thống khổ thì tâm họ rất phiền muộn, tán loạn.

Hỏi: Chúng sinh đó đã trụ nơi tâm nào mà nhận biết được tâm người khác?

Đáp: Trụ nơi tâm của ba tánh… đều có khả năng nhận biết.

Hỏi: Thuộc vô phú vô ký nào?

Đáp: Thuộc về đường oai nghi, không phải thuộc xứ công xảo, dị thục sinh, như trước đã nói.

Hỏi: Là ở địa ý hay ở năm thức thân?

Đáp: Ở nơi địa ý, không phải ở năm thức thân, vì năm thức thân chỉ duyên với sắc pháp.

Một loại bàng sinh có khả năng nhớ lại đời sống ở kiếp trước: Như Khế kinh nói: Bà-la-môn bảo con chó Hướng khư: Nếu mày là Đao Đề, là cha của ta thì có thể lên ngồi trên tòa này! Con chó liền ngồi trên đó. Ông ta lại nói với chó: Nếu là Đao Đề, là cha của ta, thì mày có thể ăn phần cơm này. Con chó liền ăn. Bà-la-môn lại bảo: Nếu là Đao Đề, là cha của ta thì trước khi chết, ông ấy đã chôn giấu tài sản, của báu ở đâu, nay có thể chỉ cho ta biết? Chó nọ liền dẫn Bà-la-môn đến nơi chôn giấu của cải.

Hỏi: Chúng sinh kia có khả năng nhớ lại sự việc ở kiếp trước, trong khoảng thời gian nào?

Đáp: Trong khoảng thời gian đầu, giữa và sau, đều có khả năng ghi nhớ.

Hỏi: Chúng sinh kia đã trụ vào tâm nào để nhớ lại?

Đáp: Đã trụ vào tâm của ba tánh.

Hỏi: Là vô phú vô ký nào?

Đáp: Là đường oai nghi, xứ công xảo, dị thục sinh đều có khả năng ghi nhớ.

Hỏi: Sự ghi nhớ này ở thức nào?

Đáp: Ở địa ý, không phải ở nơi năm thức thân.

Hỏi: Có khả năng nhớ lại bao nhiêu đời?

Đáp: Có thuyết nói: Chỉ có khả năng nhớ lại một đời, nghĩa là từ sau khi mất, cho đến lúc sinh vào đời này.

Có thuyết cho: Có khả năng ghi nhớ lại nhiều đời, cho đến năm trăm đời.

Làm thế nào để biết sự việc đó?

Theo truyền thuyết: Có một phụ nữ để con nhỏ của mình ở một chỗ nọ, vì có duyên phải đi nơi khác. Lát sau, một con chó sói đến mang đứa trẻ đi mất. Mọi người chung quanh đuổi theo bắt được và nói với chó sói: Vì duyên gì nay mày lại mang con của bà kia đi?

Chó sói đáp: Người đàn bà này, suốt năm trăm đời qua thường giết chết con tôi, nên tôi cũng trải qua năm trăm đời thường giết chết con của bà ta. Nếu bà ta có thể xóa bỏ tâm thù hận oán ghét xưa thì tôi cũng từ bỏ tâm ấy.

Người đàn bà ấy nói: Ta đã từ bỏ tâm đó!

Chó sói quán xét biết thiếu phụ này miệng tuy nói từ bỏ, nhưng tâm không bỏ, liền đoạn mạng sống đứa bé rồi bỏ đi.

Cũng nhận biết được tâm của người khác: Nghĩa là nơi nẻo bàng sinh cũng biết được tâm của người khác, tức như chó sói nọ biết được tâm của thiếu phụ kia.

Hỏi: Lúc nào thì có khả năng nhận biết?

Đáp: Trong ba thời gian đều nhận biết.

Hỏi: Trụ vào tâm nào mà nhận biết?

Đáp: Trụ vào tâm của ba tánh.

Hỏi: Là vô phú vô ký nào?

Đáp: Là xứ công xảo, đường oai nghi, dị thục sinh đều có thể nhận biết.

Hỏi: Sự ghi nhớ này do ở thức nào có được?

Đáp: Ở địa ý, không phải ở nơi năm thức.

Một loài ngạ quỷ có khả năng ghi nhớ lại sự việc của đời sống trước. Như kệ nói:

Xưa ta gom tiền của

Dùng pháp hoặc phi pháp

Người nay nhận giàu vui

Riêng ta chịu nghèo khổ.

Hỏi: Lúc nào có khả năng nhớ nghĩ?

Đáp: Cả ba thời gian đều có thể nhớ nghĩ.

Hỏi: Trụ vào tâm nào để nhớ?

Đáp: Trụ vào tâm của ba tánh.

Hỏi: Là vô phú vô ký nào?

Đáp: Cả ba thứ, như trước đã nói.

Hỏi: Sự nhớ lại này là ở thức nào?

Đáp: Ở địa ý, không phải ở nơi năm thức thân.

Hỏi: Có thể nhớ lại được bao nhiêu đời?

Đáp: Cho đến năm trăm đời.

Hỏi: Làm sao nhận biết được sự việc đó?

Đáp: Tương truyền: Có một người nữ bị quỷ bắt, thân thể gầy ốm, khốn khổ, sắp chết. Sư chú thuật nói với quỷ: Vì sao nay ngươi lại gây khổ não cho người nữ kia?

Quỷ đáp: Trong năm trăm đời nay, người nữ này thường giết hại mạng sống của tôi. Và tôi cũng thường theo đuổi, giết hại mạng sống của bà ta. Nếu bà ta có thể từ bỏ tâm oán thù xưa, thì tôi cũng sẽ bỏ.

Người nữ nói: Tôi đã từ bỏ rồi.

Quỷ quán xét biết người nữ này tuy miệng nói bỏ, nhưng tâm không bỏ, thế nên quỷ giết chết bà ta rồi bỏ đi.

Cũng nhận biết được tâm của người khác: Tức như quỷ kia biết được tâm của người nữ nọ.

Hỏi: Có khả năng nhận biết được tâm của người khác vào lúc nào?

Đáp: Cả ba thời gian đều có khả năng.

Hỏi: Đã trụ vào tâm nào mà nhận biết được?

Đáp: Trụ vào tâm của ba tánh.

Hỏi: Thuộc vô phú vô ký nào?

Đáp: Cả ba thứ, như trước đã nói.

Hỏi: Sự nhớ nghĩ đó do ở thức nào?

Đáp: Ở địa ý, không phải ở nơi năm thức thân.

Lại có thể nổi lên khói lửa, kéo mây, gây ra mưa, tạo ra thời tiết lạnh, nóng v.v…: Sự việc này chỉ có nẻo bàng sinh mới có khả năng làm được, không phải là nẻo khác. Chỉ loài rồng trong nẻo bàng sinh là có khả năng, không phải là loài khác.

Hỏi: Nếu thế, như kinh đã nói làm sao thông suốt?

Như nói: Có trời mới có khả năng nổi mây. Có trời mới có khả năng trút mưa xuống. Có trời mới làm ra thời tiết lạnh nóng. Có trời mới nổi cơn giông gió, sấm sét?

Đáp: Nên biết kinh kia nói rồng là trời. Như kinh khác nói: Phật bảo Tôn giả A-nan: Ông xem trời mưa hay là không mưa? Trời kia cũng ở nơi loài rồng, vì dùng tiếng trời để nói.

Hỏi: Sự việc nổi lên khói, lửa v.v… là do nhiều rồng hay một rồng?

Đáp: Một rồng cũng có khả năng tạo được.

Hỏi: Nếu như vậy thì sao kinh nói thế này: Có trời mới có khả năng nổi mây, gây mưa, cho đến nói rộng?

Đáp: Vì tùy thuộc vào sở thích riêng, nên nói như thế. Nghĩa là hoặc có rồng chỉ ưa nổi mây lên, hoặc có rồng chỉ thích gây ra cơn mưa. Ngoài ra cũng như thế.

Những sự việc tỏa khói lửa, kéo mây, mưa xuống v.v… trong đây, là do gia hạnh của rồng dẫn phát, hay chỉ là quả sĩ dụng gần của rồng. Nếu từ cung rồng tuôn chảy nước ra, thì không phải là do gia hạnh của rồng đã dẫn phát. Đây là quả tăng thượng chung của hết thảy hữu tình. Như địa ngục v.v… do sức nơi pháp như vậy của nẻo, tuy có sự việc như đã nói trên, nhưng về thần lực, oai đức không lớn bằng con người.

Nẻo quỷ cũng như thế. Do lực nơi pháp như vậy của nẻo quỷ, nên nơi nào có cúng tế thì đến, không phải nẻo khác.

Lại có thuyết nói: Cả năm nẻo đều có sự việc thù thắng của pháp như vậy. Nghĩa là sắc dị thục v.v… ở địa ngục đã đoạn lìa, liền nối trở lại, nẻo khác thì không như vậy. Trong nẻo bàng sinh, có khả năng bay lượn trong không, nổi mây, gây mưa v.v… Trong nẻo ngạ quỷ, có cúng tế thì đến. Loài người thì có khả năng thọ giới thiện, giới ác, tu phẩm thiện thù thắng, dũng mãnh, ghi nhớ mạnh mẽ, trí lực sâu xa. Các trời Dục trong nẻo trời, tùy ý trời cần đến điều gì, vừa nghĩ tới là có ngay. Trời Sắc, Vô sắc có đời sống và định thù thắng.

Lại có thuyết cho: Các phương khác cũng có sự việc thù thắng của pháp như vậy. Nghĩa là như nước Chi na, tuy là tôi tớ v.v… đều mặc y phục toàn bằng lụa, trong khi kẻ giàu sang ở phương khác không có đủ khả năng ăn mặc như vậy. Nước Ấn Độ v.v… cho đến kẻ nghèo, đều mặc áo dạ bằng lông thú bện lại thành từng mảnh, người giàu ở phương khác không thể ăn mặc như thế.

Trong nước Ca-thấp-di-la, mùa thu trên cổ bò người ta đeo tràng hoa uất kim. Người tốt đẹp ở địa phương khác không thể có được. Người nghèo ở phương Bắc đều uống rượu Bồ đào, trong khi kẻ giàu sang ở phương khác thì không thể!

Như các phương đều có sự việc thù thắng của pháp như thế, ngạ quỷ cũng vậy, nơi nào có cúng tế thì tự nhiên tìm đến.

Có thuyết nêu: Pháp như vậy của các nẻo đều có sự khác biệt. Nghĩa là trong bốn nẻo, mỗi mỗi đều có xứ sinh đạt được trí. Chỉ nơi nẻo người là không có, ba nẻo ác đều có, như trước đã nói rộng. Nẻo trời có khả năng nhớ lại đời sống kiếp trước, như kệ nói:

Ta thí rừng Thệ đa

Mong Đại Pháp vương trụ

Hiền Thánh Tăng thọ dụng

Nên tâm ta hoan hỷ.

Trời kia cũng nhận biết được tâm người khác, nhưng không biểu hiện sự việc để có thể nói, là đã nhớ biết v.v… vào lúc nào? Như ngạ quỷ, bàng sinh, tùy chỗ thích hợp, nên nói rộng.

Hỏi: Xứ sinh đắc trí này, sự nhớ biết được bao nhiêu nẻo?

Đáp: Có thuyết nói: Đều chỉ nhớ biết về nẻo của mình.

Có thuyết cho: Địa ngục chỉ nhớ biết địa ngục. Bàng sinh nhớ biết được hai nẻo. Ngạ quỷ nhớ biết được ba nẻo. Trời nhớ biết được năm nẻo.

Hỏi: Nếu bàng sinh không nhớ biết nẻo trời, thì như nơi Luận Thi Thiết nói làm sao có thể thông suốt? Như nói: Long vương Thiện Trụ v.v… nhận biết được tâm niệm của trời Đế Thích, cho đến nói rộng.

Đáp: Trường hợp này là do so sánh mà biết, không phải biết từ hiện lượng, do vậy không có lỗi mâu thuẫn.

Nên nói như vầy: Sự việc nhớ biết này không nhất định. Chẳng hạn như chó sói và quỷ nhớ biết được con người.

Hỏi: Vì sao nơi nẻo người không có trí nhớ này?

Đáp: Vì không phải là ruộng, pháp khí, cho đến nói rộng.

Lại nữa, nẻo người có trí xem tướng, trí xem ngôn tướng, trí bản tánh niệm sinh, trí diệu nguyện v.v… Các trí đó đều bị che lấp do vô minh, phiền não. Như xứ sinh đắc trí, các nẻo khác đều có, chỉ loài người là không có.

Vì vậy sự cúng tế chỉ có nẻo quỷ mới đến, các nẻo khác thì không như thế.

Như vậy là đã làm sáng tỏ lực nơi pháp như vậy của nẻo, nên hễ có cúng tế là có ngạ quỷ đến, không phải là nẻo khác.

Nay sẽ chỉ rõ là do dị thục của nghiệp.

Lại nữa, có người trong đêm dài sinh tử khởi sự ham muốn như thế này: Vì yêu thích như thế, ta sẽ cưới vợ, cưới vợ cho con, rồi đến cháu, khiến cứ tiếp tục sinh con đẻ cháu, kế thừa mãi không dứt. Sau khi mạng chung, nếu ta sinh vào nẻo quỷ, chúng sẽ nhớ nghĩ nên sẽ cúng tế cho ta, do đêm dài sinh tử kia mà ta có dục lạc ấy.

Do vậy, nơi nào có cúng tế thì ngạ quỷ sẽ đến, không phải là nẻo khác.

Nghĩa là ngạ quỷ kia, do khởi sinh dục lạc như thế, dẫn phát các nghiệp, sinh trong nẻo quỷ. Thế nên cúng tế thì đến, không phải là nẻo khác.

Như người trong các thôn xóm, thành ấp, hoặc vì con cháu không đoạn tuyệt, hoặc tài sản trở nên dồi dào thêm, hoặc vì danh tiếng giàu sang được lưu truyền từ lâu, đã áp dụng các việc làm đúng hoặc không đúng luật pháp nhằm thu gom các của cải quý báu, các loài vật bò, dê v.v… đối với thân thuộc của mình hãy còn không muốn cho, huống chi là bố thí cho người khác. Kẻ kia, do keo kiệt, tham lam trói buộc tâm, nên khi xả bỏ đồng phần người, sinh trong nẻo quỷ, tự nhận lấy những chỗ bất tịnh như nước trong cống rãnh, nhà cầu làm nhà ở của mình…

Ngạ quỷ kia, có bà con thân thuộc, mãi lưu luyến, nên sinh khổ. Họ nghĩ: Kẻ kia gom góp tài sản, mà tự thân không thọ dụng, cũng không thí cho mọi người. Nay, không biết sinh vào chốn nào? Họ vội triệu tập bà con lại, cung thỉnh các Sa-môn, Bà-la-môn đến, lập hội chẩn thí lớn, mong nhờ vào công đức thí này, thân nhân họ sẽ xóa hết đau khổ, được an vui.

Bấy giờ, từ chỗ ở của mình, ngạ quỷ trông thấy sự việc vừa xảy ra như vậy, liền sinh tưởng nhớ đến bà con mình, đối với của cải, vật dụng thân nhân đã thí cho, sinh khởi tưởng mình đã có, tức thì cảm thấy hoan hỷ, với chốn ruộng phước, sinh tâm tin tưởng, cung kính, đối với việc làm của thân nhân, khởi tâm tùy hỷ, liền lìa bỏ đau khổ trầm trọng.

Do nhân duyên này nên cúng tế thì ngạ quỷ đến.

Hỏi: Nếu như vậy vì sao không nói là người khác tạo nghiệp, người khác nhận lãnh quả?

Đáp: Không phải vậy. Vì ngạ quỷ kia, ngay bấy giờ, do sinh tâm cung kính, tin tưởng, tùy hỷ, nhận thấy được công đức của sự bố thí và lỗi lầm của tánh keo kiệt, tham lam. Nhờ đấy đã giúp nuôi lớn thêm tưởng tương ưng với đức xả, nên trở thành tùy thuận với nghiệp hiện đang thọ nhận và được quả pháp hiện tại.

Tôn giả Thế Hữu nói: Quả đã thọ nhận hôm nay là do nghiệp của đời trước đã dẫn dắt. Nghiệp trước có chướng, thì nghiệp hiện nay trừ khử, nên không phạm sai lầm là người khác tạo nghiệp, người khác thọ nhận quả. Nghĩa là ngạ quỷ kia, đời trước đã tạo nghiệp chiêu cảm sự ăn uống, do tính chất tham lam keo kiệt đã che lấp tâm, nên đối với thức ăn uống, sinh khởi tưởng điên đảo, nhận thấy không thọ dụng được. Tuy nhiên, ngạ quỷ kia cũng có hai thứ: 1. Ưa tịnh. 2. Thích bất tịnh.

Ngạ quỷ ưa tịnh: Vì tham lam keo kiệt nên nhìn thấy sông không phải sông, thấy nước là máu, hết thảy thức ăn uống đều trông thấy là bất tịnh.

Ngạ quỷ ưa bất tịnh: Nghĩa là sông thì trông thấy khô cạn, nước thì trông thấy không có nước, đồ đựng đầy thức ăn uống, đều trông thấy là trống không.

Thân thuộc của ngạ quỷ kia, nếu có lập hội thí cho, thì ngạ quỷ kia sẽ tin tưởng, cung kính, phát tâm tùy hỷ, thấy được công đức thí cho và lỗi lầm do keo kiệt tham lam được gạt bỏ, có tưởng tương ưng với đức xả, và tưởng này được tăng trưởng, nên trừ bỏ được tưởng kiến điên đảo.

Ngạ quỷ ưa tịnh thì trông thấy sông là sông, thấy nước trong lặng, đối với các thức ăn uống đều trông thấy ngon, sạch.

Ngạ quỷ ưa bất tịnh thì thấy sông tràn trề, thấy nước là nước, thấy dụng cụ đựng thức ăn uống hết thảy đều đầy ắp. Vì thế, bà con của ngạ quỷ kia có cúng tế thì tìm đến.

Có người nói như thế này: Ngạ quỷ kia, đời trước cũng có chiêu cảm nghiệp ăn uống, chỉ do tánh tham lam keo kiệt che lấp tâm, hiện tại phải nhận lấy thân tâm khiếp nhược, yếu kém. Những nơi chốn có thức ăn uống tất có các quỷ thần có uy lực lớn bảo vệ, các ngạ quỷ kia yếu kém thế nên không thể đi đến được địa điểm chẩn thí. Giả sử có đến được, cũng không dám ăn. Tuy nhiên, nếu bà con của ngạ quỷ kia, vì họ nên lập ra hội thí nói rộng cho đến… tương ưng với đức xả được lớn mạnh thêm, khiến thân tâm ngạ quỷ kia trở nên tráng kiện hơn, do đấy có khả năng đi đến chỗ có thức ăn uống và được ăn thức uống đó.

Do nhân duyên này, nên hễ có cúng tế thì tìm đến. Như vậy là không có lỗi: người khác tạo nghiệp, người khác thọ nhận quả.

Đại đức nói: Ngạ quỷ kia, tuy trước đây đã tạo nghiệp chiêu cảm thức ăn uống, nhưng vì yếu kém nên chưa thể cho quả. Nếu người thân của quỷ vì họ lập ra hội thí, nói rộng cho đến có suy nghĩ tương ưng với đức xả, được nuôi lớn thêm, nên khiến nghiệp đã tạo trước kia đủ khả năng cho quả. Vì lẽ đó, hễ thân thuộc ngạ quỷ kia có cúng tế, là tìm đến. Do vậy không có lỗi: Người khác tạo nghiệp, người khác nhận quả.

Hỏi: Suy nghĩ tương ưng với đức xả đã được tăng trưởng rồi, là chỉ chiêu cảm của cải riêng tư hay là cũng chiêu cảm được thân tâm thù thắng.

Đáp: Cả hai thứ đều được.

Thân tâm thù thắng: Nghĩa là bỏ sắc, hương, vị, xúc yếu kém, để được sắc, hương, vị, xúc tốt đẹp. Từ bỏ không oai đức, nhận được có oai đức.

Chiêu cảm được vật dụng của cải: Nghĩa là được ăn uống, y phục, vườn rừng, nhà cửa, phòng xá v.v…

Hỏi: Nếu sinh vào nẻo khác, thân thuộc vì họ tu tạo nghiệp phước thì họ cũng được hưởng chăng?

Đáp: Nếu họ cũng có khả năng phát sinh tâm tin tưởng, cung kính và tùy hỷ, sao cho tư tưởng tương ưng với đức xả thí, được nuôi lớn thêm, tất nhiên cũng được phước kia.

Hỏi: Nếu vậy, vì sao trong Luận này không nói đến?

Đáp: Nên nói nhưng không nói, phải biết nghĩa này nêu bày chưa trọn vẹn.

Có thuyết nói: Trong đây là theo phần nhiều mà nói. Nghĩa là trong nẻo ngạ quỷ phần nhiều có sự việc này, nẻo khác không như thế.

Có thuyết cho: Nẻo quỷ phần nhiều có nghiệp như thế. Nghĩa là vì kẻ gây tạo nghiệp ấy phần nhiều sinh vào nẻo quỷ.

Có thuyết nêu: Loài quỷ thường xuyên mong cầu ở con người.

Có thuyết nói: Nẻo quỷ bị bức bách vì đói khát, do vậy, bất cứ nơi nào, chúng cũng thường nuôi hy vọng ở con người, thế nên nói riêng. Trong phần này nên biện luận về nghĩa năm nẻo, như nơi chương Định Uẩn sẽ phân biệt rộng.

HẾT – QUYỂN 12