LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA
Tác giả: Năm trăm vị Đại A La Hán
Hán dịch: Đời Đường, Tam Tạng Pháp sư Huyền Trang
Việt dịch: Cư sĩ Nguyên Huệ

 

QUYỂN 114

Chương 4: NGHIỆP UẨN

Phẩm 1: BÀN VỀ HÀNH ÁC, phần 3

* Ba nghiệp là nghiệp thân, ngữ, ý. Bốn nghiệp là: Nghiệp có dị thục đen đen. Nghiệp có dị thục trắng trắng. Nghiệp có dị thục đen trắng, đen trắng. Nghiệp không có dị thục không phải đen, không phải trắng, có thể diệt trừ hết các nghiệp. Là ba thứ gồm thâu bốn thứ hay là bốn thứ gồm thâu ba thứ?

Hỏi: Vì sao tạo ra phần Luận này?

Đáp: Vì muốn phân biệt nghĩa của Khế kinh. Tức như Khế kinh nói: Có ba nghiệp và bốn nghiệp. Khế kinh tuy nói như thế, nhưng chưa biện giải rộng, cũng chưa nêu rõ là ba thứ gồm thâu bốn thứ hay là bốn thứ gồm thâu ba thứ, cho đến nói rộng.

Lại có thuyết cho: Trước tuy có phân biệt về ba nghiệp, nhưng chưa phân biệt về bốn nghiệp, nay muốn phân biệt chúng, nên tạo ra phần Luận này.

Ở đây, nói: Nghiệp có dị thục đen đen: Tức là nghiệp bất thiện có khả năng chiêu cảm các dị thục nơi các nẻo hiểm ác.

Hỏi: Dị thục không nên gọi là đen. Vì sao? Vì như trong Luận Phẩm Loại Túc nói: Pháp đen là gì? Là pháp bất thiện và pháp hữu phú vô ký. Pháp trắng là gì? Là pháp thiện và pháp vô phú vô ký. Vậy các quả dị thục vô phú vô ký, vì sao lại gọi là đen?

Đáp: Ở đây chỉ nên nói: Thế nào là nghiệp đen? Nghĩa là nghiệp bất thiện có khả năng chiêu cảm nẻo hiểm ác, không nên nói thêm câu có dị thục đen. Nên nói như thế nhưng đã không như vậy là có ý nghĩa gì? Nghĩa là nói như thế tức đã thành lập đen là nhân, không phải là quả. Như nói “Nghịch tử kia, ở đây đã mở miệng mắng nhiếc cha thì không phải là con”. Trong đây cũng như vậy.

Lại có thuyết cho: Ở đây là căn cứ vào đen không vừa ý nên nói như thế. Đen có hai thứ: Một là đen nhiễm ô. Hai là đen không vừa ý. Trong ấy: Nghiệp là do hai thứ đen nên nói là đen. Còn dị thục chỉ do đen không vừa ý, nên cũng gọi là đen.

Hỏi: Nghiệp đen cũng chiêu cảm dị thục trong nẻo người, trời, vì sao chỉ nói chiêu cảm dị thục ở nẻo ác?

Đáp: Cũng nên nói như thế nhưng không nói tức biết là nghĩa nêu bày chưa trọn vẹn.

Lại có thuyết nêu: Sự việc kia không quyết định. Nghĩa là trong nẻo người, trời, nếu xứ có dị thục của nghiệp đen thì xứ ấy tất có dị thục của nghiệp trắng. Không có xứ chỉ có dị thục của nghiệp đen mà không có dị thục của nghiệp trắng. Trong các nẻo ác, nếu xứ có dị thục của nghiệp trắng thì xứ ấy tất có dị thục của nghiệp đen. Có xứ chỉ có dị thục của nghiệp đen, không có dị thục của nghiệp trắng. Do trong nẻo ác quyết định có xứ của dị thục đen, thế nên nói riêng.

Luận Tập Dị Môn lại nói như thế này: Thế nào là nghiệp có dị thục đen đen? Đó là nghiệp bất thiện chiêu cảm nơi Na-lạc-ca (Địa ngục).

Hỏi: Các nghiệp bất thiện cũng chiêu cảm dị thục nơi các nẻo bàng sinh, quỷ, vì sao chỉ nói chiêu cảm nơi Na-lạc-ca không nói các nẻo kia?

Đáp: Tức nên nói nhưng không nói, nên biết là nghĩa này nêu bày chưa đầy đủ.

Lại có thuyết nói: Sự việc kia không quyết định. Nghĩa là nơi nẻo bàng sinh và quỷ cũng thọ nhận dị thục của nghiệp bất thiện, cũng thọ nhận dị thục của nghiệp thiện. Còn nẻo Na-lạc-ca thì quyết định chỉ thọ nhận dị thục của nghiệp bất thiện, thế nên nói riêng.

Lại có thuyết cho: Trong kinh này, Đức Thế Tôn chú trọng vào sự việc các hữu tình đã sợ hãi về các nghiệp ác. Vì thuận theo kinh kia thế nên chỉ nêu các nghiệp bất thiện đã chiêu cảm nẻo Na-lạc-ca, gọi là nghiệp có dị thục đen đen.

Nay muốn hiển bày về nghĩa này, nên nêu dẫn kinh kia. Có hai ngoại đạo, một người tên Bố Thích Noa Kiêu Trĩ Ca thọ trì giới của bò, người kia tên Át Chế La Di Nhĩ Ca hành trì theo giới của chó. Một hôm, hai người ấy cùng ngồi bên nhau bàn luận nói như vầy: Thế gian hiện có các giới cấm khó hành thì hai người chúng ta đều tu học đã hoàn thành. Nhưng ai có thể ký biệt đúng như thật là chúng ta sẽ chiêu cảm dị thục gì. Nghe nói giòng họ Thích-ca đã sinh một vị Thái tử hình dung tuấn tú, dùng ba mươi hai tướng của hàng đại trượng phu và tám mươi vẻ đẹp đi kèm để trang nghiêm thân, nhìn mãi không chán. Thân luôn hiện sắc vàng ròng chiếu sáng quanh mình xa đến cả tầm. Ngôn âm trong trẻo, hòa nhã, dễ mến hơn cả tiếng hót của chim Yết-la-tần-ca, lại có trí tuệ thấy biết vô ngại, biện tài không hề vướng mắc. Thái tử chán cảnh cung điện, hành pháp không nhà, siêng tu khổ hạnh, sau đó lại bỏ pháp tu ấy để tu pháp trung đạo, chứng đắc đạo quả Bồ-đề Chánh đẳng vô thượng, đầy đủ Nhất thiết trí, nhận biết đúng thực tánh tướng của các pháp, đoạn dứt hết thảy lưới nghi, nêu bày mọi quyết định, thấu suốt tận cội nguồn các vấn đề luận bàn. Hai chúng ta nay nên đến đó thưa hỏi, nếu ký biệt được giới cấm của chúng ta tuân giữ sẽ chiêu cảm dị thục gì tức dựa theo đấy để tu học, há không vui thích sao? Vậy là hai người cùng đi tới chỗ Đức Phật, cung kính ôn tồn thăm hỏi, sau đó lui lại ngồi qua một phía. Bấy giờ, Bố Thích Noa, thay bạn mình, bạch Phật: Thưa Sa-môn Cồ Đàm! Anh Di Nhĩ Ca đây thọ trì giới của chó, tu học đã hoàn thành, không rõ sau này sẽ sinh vào đâu, ở nơi nẻo nào? Đức Thế Tôn nói: Này Bố Thích Noa! Hãy dừng lại, không nên hỏi về sự việc ấy, vì hai ông đều không thể tin nhận chỉ khiến tâm mang lấy xấu hổ hối hận. Như thế đến ba lần, ông ấy vẫn ân cần thưa hỏi. Đức Phật thương tình nên bảo: Hãy lắng nghe! Ta sẽ vì các ông ký biệt như thật: Người thọ trì giới của chó, nếu không sai phạm thì sẽ sinh vào loài chó. Nếu có sai phạm thì bị đọa vào địa ngục. Khi ấy, Bố Thích Noa nghe Phật nói xong thì buồn khổ khóc òa, không tự kìm chế được. Đức Phật liền nói: Ta trước há không nhiều lần bảo ông là hãy dừng lại đừng nên hỏi về sự việc ấy, vì hai ông đều không thể tin nhận chỉ khiến tâm mang lấy xấu hổ, hối hận, nay quả nhiên như thế. Bố Thích Noa nén khóc, thưa: Không phải vì Đức Thế Tôn ghi nhận việc anh Di Nhĩ Ca sẽ sinh trong nẻo chó mà con buồn khóc, nhưng vì con lâu nay đã hành trì theo giới của bò tu học đã trọn đủ, sợ cũng giống như thế nên mới sầu khổ. Cúi mong bậc Đại Từ nói cho con biết việc thọ trì giới của bò sẽ được sinh về đâu, ở nơi nẻo nào? Đức Thế Tôn bảo: Nếu tuân giữ giới của bò không sai phạm thì sẽ sinh trong loài bò, nếu sai phạm thì sẽ bị đọa vào địa ngục. Các sự việc như thế như nơi kinh đã nói rộng.

Hỏi: Thế nào là thọ trì giới của chó, của bò, gọi là không sai phạm?

Đáp: Nếu hành trì theo giới của chó, của bò thì hoàn toàn như pháp của chó, như pháp của bò gọi là không sai phạm. Nếu không như thế gọi là có sai phạm.

Thế nên Đức Thế Tôn do chú trọng về việc các hữu tình sợ hãi các nghiệp ác nên nói là các nghiệp bất thiện có khả năng chiêu cảm nẻo Na-lạc-ca.

Vì thuận theo kinh kia, nên Luận Tập Dị Môn đã nói như thế: Các nghiệp bất thiện chiêu cảm nẻo Na-lạc-ca gọi là nghiệp có dị thục đen đen.

Lại có thuyết nêu: Các nghiệp bất thiện do kiến đạo đoạn trừ gọi là nghiệp có dị thục đen đen, vì trong tự chủng loại không có trắng xen lẫn.

Nên nói như vầy: Tất cả nghiệp bất thiện đều gọi là nghiệp có dị thục đen đen, do trong cõi dục các thứ bất thiện thì mạnh, thịnh, không bị các pháp thiện lấn ép xen lẫn. Vì pháp bất thiện có thể chế phục đoạn dứt phần thiện của tự địa. Các nghiệp thiện thì yếu kém nên bị nghiệp bất thiện xâm lấn xen lẫn. Do ở cõi dục pháp thiện không thể đoạn trừ pháp bất thiện.

Thế nào là nghiệp dị thục trắng trắng? Nghĩa là nghiệp thiện thuộc cõi sắc.

Hỏi: Nghiệp thiện thuộc cõi vô sắc cũng chiêu cảm dị thục trắng. Vì sao chỉ nói nghiệp thiện thuộc cõi sắc gọi là nghiệp có dị thục trắng trắng, mà không nói nghiệp thiện thuộc cõi vô sắc?

Đáp: Tức nên nói nhưng không nói, nên biết là nghĩa này nêu bày chưa trọn vẹn.

Lại có thuyết nói: Nếu nói nghiệp thiện thuộc cõi sắc gọi là nghiệp có dị thục trắng trắng, nên biết là đã nói về nghiệp thiện thuộc cõi vô sắc cũng là nghiệp kia. Vì đồng là pháp của địa định, địa tu nên nói cõi này tức biết là cũng nói cõi kia.

Lại có thuyết cho: Nếu các nghiệp thiện có thể chiêu cảm hai thứ quả dị thục, tức là trung hữu và sinh hữu thì nghiệp thiện này gọi là nghiệp có dị thục trắng trắng. Nghiệp ở cõi vô sắc chỉ chiêu cảm sinh hữu, không chiêu cảm trung hữu, thế nên không nói.

Như trung hữu và sinh hữu, thì các thứ khởi thọ – sinh thọ, khởi dị thục – sinh dị thục, khởi quả – sinh quả, quả tế – quả thô nên biết cũng như thế.

Lại có thuyết nêu: Nếu nghiệp có thể chiêu cảm hai thứ dị thục, là sắc và phi sắc thì các nghiệp thiện ấy gọi là nghiệp có dị thục trắng trắng. Nghiệp ở cõi vô sắc chỉ chiêu cảm phi sắc, không chiêu cảm sắc, thế nên không nói.

Lại có thuyết nói: Nếu có đủ hai nghiệp là sắc và phi sắc, có thể chiêu cảm dị thục thì nghiệp thiện ở đây gọi là nghiệp có dị thục trắng trắng. Cõi vô sắc chỉ có nghiệp phi sắc, không có nghiệp sắc, thế nên không nói.

Như hai thứ nghiệp sắc và phi sắc, thì hai thứ nghiệp tương ưng và không tương ưng, có chỗ dựa và không có chỗ dựa, có hành tướng và không có hành tướng, có đối tượng duyên và không có đối tượng duyên, có tác ý và không tác ý nên biết cũng như thế.

Lại có thuyết cho: Nếu có đủ ba nghiệp là thân ngữ ý có thể chiêu cảm dị thục thì nghiệp thiện tịnh này gọi là nghiệp có dị thục trắng trắng. Trong cõi vô sắc chỉ có ý nghiệp có thể chiêu cảm dị thục, thế nên không nói.

Lại có thuyết nói: Nếu có đủ do năm uẩn có thể chiêu cảm dị thục, thì nghiệp thiện tịnh này gọi là nghiệp có dị thục trắng trắng. Trong cõi vô sắc chỉ có bốn uẩn có thể chiêu cảm dị thục, thế nên không nói.

Lại có thuyết nêu: Nếu có đủ mười nghiệp đạo thiện có thể chiêu cảm dị thục, thì nghiệp thiện tịnh này gọi là nghiệp có dị thục trắng trắng. Ở cõi vô sắc chỉ có ba nghiệp đạo thiện có thể chiêu cảm di thục, thế nên không nói.

Lại có thuyết nói: Nếu trong cõi này có hai thứ tươi sạch, hai thứ sáng trắng, một là nhân, hai là quả, thì các nghiệp thiện ở cõi này gọi là nghiệp có dị thục trắng trắng. Ở cõi vô sắc chỉ có một thứ tươi sạch, sáng trắng, đó là nhân, thế nên không nói.

Do những thứ nhân duyên như thế, nên chỉ nghiệp thiện ở cõi sắc gọi là nghiệp có dị thục trắng trắng không phải là nghiệp thiện ở cõi vô sắc.

Thế nào là nghiệp có dị thục đen trắng đen trắng? Nghĩa là nghiệp thiện thuộc cõi dục có thể chiêu cảm dị thục ở nẻo người, trời.

Hỏi: Không có một nghiệp cũng đen cũng trắng, vì sao gọi là nghiệp có dị thục đen trắng đen trắng?

Đáp: Vì muốn hiển bày chỉ rõ trong một chỗ nương dựa, trong một sự nối tiếp đã thọ nhận hai thứ nghiệp chiêu cảm hai thứ dị thục là đen và trắng. Thế nên gọi là nghiệp có dị thục đen trắng đen trắng.

Hỏi: Trong các nẻo ác cũng có thọ nhận dị thục của hai nghiệp đen trắng, vì sao chỉ nói có thể chiêu cảm nghiệp của dị thục ở nẻo người, trời, gọi là nghiệp có dị thục đen trắng đen trắng, không nói có thể chiêu cảm nghiệp của dị thục ở nẻo ác?

Đáp: Đáng lẽ nói nhưng không nói nên biết là nghĩa này nêu bày chưa trọn vẹn.

Lại có thuyết nói: Nếu nói nghiệp thiện có thể chiêu cảm nẻo người, trời gọi là nghiệp có dị thục đen trắng đen trắng, nên biết là đã nói về nghiệp thiện có thể chiêu cảm nẻo ác, cũng là nghiệp kia, do tướng xen tạp là không sai biệt, nên nếu nói về thứ này thì nên biết là đã nói về thứ kia.

Lại có thuyết cho: Vì sự việc kia không quyết định, thế nên không nói. Nghĩa là trong nẻo người, trời ở cõi dục, không có một xứ nào mà không thọ nhận xen lẫn dị thục của các nghiệp đen, trắng. Còn trong các nẻo ác, tuy có xứ thọ nhận xen lẫn dị thục của các nghiệp đen, trắng, nhưng lại có xứ hoàn toàn thuần thọ nhận dị thục của các nghiệp đen. Đó là một phần nẻo bàng sinh, quỷ và tất cả địa ngục. Do trong các nẻo ác không quyết định như thế, nên không nói.

Lại có thuyết nêu: Các nghiệp thiện, bất thiện ở cõi dục do tu đạo đoạn trừ gọi là nghiệp có dị thục đen trắng đen trắng, vì trong một chủng loại có hai thứ nghiệp xen lẫn.

Lại có thuyết nói: Nếu nghiệp thiện và bất thiện có thể chiêu cảm dị thục của các nẻo người, trời, bàng sinh, quỷ, ở cõi dục gọi là nghiệp có dị thục đen trắng đen trắng, vì ở trong một nẻo mà đã thọ nhận xen lẫn dị thục của hai nghiệp.

Nên nói như vầy: Tất cả nghiệp thiện ở cõi dục gọi là nghiệp có dị thục đen trắng đen trắng, vì nghiệp thiện đó, Thể tuy là trắng nhưng bị thứ đen của bất thiện xâm lấn xen tạp. Do bất thiện có thể đoạn dứt phần thiện ở tự địa. Bất thiện thì không như vậy. Tức không bị phần thiện của tự địa xâm lấm xen tạp. Phần thiện của tự địa không thể đoạn dứt phần bất thiện của tự địa. Vì thế, nghiệp thiện ở cõi dục gọi là nghiệp thứ ba.

Thế nào là nghiệp không có dị thục không phải đen, không phải trắng, có thể diệt trừ hết các nghiệp? Nghĩa là học tư có khả năng đoạn dứt vĩnh viễn các nghiệp.

Hỏi: Các nghiệp vô lậu là trắng của thắng nghĩa, vì sao lại gọi là không phải đen không phải trắng?

Đáp: Trong Luận Tập Dị Môn và Luận Thi Thiết đều nói về nghiệp này không giống nhau. Bất thiện, nhiễm ô, đen, cùng chiêu cảm dị thục không vừa ý, đen, nên nói là không phải đen. Lại cũng không đồng với thiện hữu lậu, trắng, cùng chiêu cảm dị thục vừa ý, trắng, nên nói là không phải trắng.

Lại có thuyết cho: Ở đây dựa vào quả trắng nên gọi là không phải trắng. Trắng có hai thứ là nhân trắng, quả trắng. Nghiệp thiện hữu lậu có đủ hai thứ nhân và quả trắng nên gọi là trắng. Các nghiệp vô lậu chỉ có nhân trắng, không có quả trắng, nên không gọi là trắng.

Lại có thuyết nêu: Dựa vào dị thục trắng nên gọi là không phải trắng. Trắng có hai thứ: Một là tự thể trắng. Hai là dị thục trắng. Nghiệp thiện hữu lậu có đủ hai thứ trắng nên gọi là trắng. Nghiệp vô lậu chỉ có tự thể trắng, không có dị thục trắng, nên không gọi là trắng.

Lại có thuyết nói: Nghiệp vô lậu này có thể đoạn dứt các dị thục được thế gian yêu thích, không phải thế gian đã yêu thích không có tướng trắng, thế nên không gọi là trắng. Do nghĩa đó nên gọi là không phải đen trắng. Nghiệp vô lậu này không phải như ba thứ trước đã chiêu cảm quả dị thục, thế nên nói là nghiệp không có dị thục. Nghiệp vô lậu này khiến ba nghiệp trước hoàn toàn diệt hết, cùng hết, khắp hết, vĩnh viễn đoạn, vĩnh viễn dứt, trừ bỏ, loại bỏ hết, lìa dục, được tịch diệt. Do đó gọi là có thể diệt trừ hết các nghiệp.

Như thế tức nói về mười bảy thứ Học tư. Nghĩa là trong kiến đạo có bốn pháp trí nhẫn tương ưng với học tư. Lìa nhiễm ở cõi dục có tám đạo vô gián tương ưng với học tư. Mười hai tư này có khả năng đoạn dứt hết các nghiệp có dị thục đen đen.

Lìa nhiễm ở cõi dục khi đạo vô gián thứ chín tương ưng với học tư, tức có khả năng đoạn dứt hết các nghiệp có dị thục đen đen và nghiệp có dị thục đen trắng đen trắng.

Lìa nhiễm ở tĩnh lự thứ nhất, khi đạo vô gián thứ chín tương ưng với học tư, cho đến lìa hết nhiễm ở tĩnh lự thứ tư, khi đạo vô gián thứ chín tương ưng với học tư, có khả năng đoạn dứt hết các nghiệp có dị thục trắng trắng. Mười bảy thứ tư vô lậu như thế gọi là học tư có khả năng đoạn dứt hết các nghiệp.

Lại có thuyết nêu: Tất cả các tư vô lậu của đạo vô gián đều gọi là học tư có khả năng đoạn dứt hết các nghiệp, do tất cả đạo vô gián đều có thể đoạn trừ các nghiệp.

Lại có thuyết nói: Hết thảy học tư đều gọi là học tư có thể đoạn trừ các nghiệp, do các học tư đều có khả năng đối trị các nghiệp hữu lậu.

Nên nói như vầy: Nghĩa là như thuyết đầu nói chỉ mười bảy tư vô lậu này chính thức có thể đối trị ba nghiệp trước.

Hỏi: Các tuệ vô lậu tương ưng cùng có đều có thể chính thức đoạn dứt ba thứ nghiệp trước, vì sao chỉ nói học tư vô lậu?

Đáp: Vì tư có khả năng phát khởi các pháp khiến đoạn dứt thế nên nói riêng.

Lại có thuyết cho: Tuy chúng đều có khả năng đoạn dứt, nhưng ở đây là biện về nghiệp, nên chỉ nói tư.

Hỏi: Nếu như thế tức cũng nên nói về nghiệp tùy chuyển của thân ngữ, vì sao chỉ nói có tư?

Đáp: Do học tư này cùng với tuệ vô lậu tương ưng mà chuyển vì cùng một đối tượng duyên, cùng một hành tướng, cùng một chỗ nương dựa… cùng hỗ trợ có sức mạnh, có khả năng đoạn dứt các nghiệp. Không phải các nghiệp thân ngữ có được sự việc ấy, thế nên không nói.

Đã nói về tự tánh của ba nghiệp và bốn nghiệp, nay sẽ nêu bày rõ về tướng xen lẫn và không xen lẫn của chúng.

Hỏi: Ba nghiệp và bốn nghiệp thì ba gồm thâu bốn hay bốn gồm thâu ba?

Đáp: Ba nghiệp gồm thâu bốn, không phải bốn gồm thâu ba.

Không gồm thâu là những gì? Đó là trừ học tư có khả năng đoạn dứt các nghiệp, và các nghiệp vô lậu khác, trừ các nghiệp thiện thuộc cõi vô sắc và tất cả nghiệp vô ký.

Trong đây: Nói trừ học tư có khả năng đoạn dứt các nghiệp và các nghiệp vô lậu khác: Tức các thuyết nói mười bảy thứ tư vô lậu là nghiệp thứ tư. Họ nói trừ mười bảy tư, còn lại là các đạo gia hạnh, vô gián, giải thoát, thắng tấn, vô lậu khác tương ưng với tư và nghiệp học tùy chuyển cùng tất cả nghiệp vô học, đó gọi là nghiệp vô lậu khác.

Các thuyết nói tất cả đạo vô gián tương ưng với học tư là nghiệp thứ tư. Họ nói trừ tất cả đạo vô gián, còn lại là các đạo gia hạnh, giải thoát, thắng tấn vô lậu khác tương ưng với học tư, và nghiệp học tùy chuyển, cùng tất cả nghiệp vô học, đó gọi là nghiệp vô lậu khác.

Các thuyết nói tất cả học tư là nghiệp thứ tư. Họ nói nghiệp học tùy chuyển, tất cả nghiệp vô học, đó gọi là nghiệp vô lậu khác.

Nên nói như vầy: Nghĩa là như thuyết đầu.

Trừ các nghiệp thiện thuộc cõi vô sắc: Tức là tất cả nghiệp thiện thuộc cõi vô sắc.

Trừ các nghiệp vô ký: Nghĩa là các nghiệp vô ký thuộc ba cõi. Do đạo lý này nên ba nghiệp gồm thâu đủ các nghiệp học, vô học, phi học phi vô học. Bốn nghiệp chỉ gồm thâu các nghiệp học, phi học phi vô học.

Ba nghiệp gồm thâu đủ các nghiệp thuộc cõi dục, cõi sắc và cõi vô sắc. Bốn nghiệp chỉ gồm thâu các nghiệp thuộc cõi dục và cõi sắc.

Ba nghiệp gồm thâu đủ các nghiệp thiện, bất thiện và vô ký. Bốn nghiệp chỉ gồm thâu các nghiệp thiện và bất thiện.

Ba nghiệp gồm thâu đủ các nghiệp do kiến đạo đoạn, do tu đạo đoạn và không đoạn. Bốn nghiệp chỉ gồm thâu một phần của ba thứ.

Ba nghiệp gồm thâu đủ các nghiệp hữu lậu và vô lậu, nghiệp nhiễm ô và không nhiễm ô, nghiệp có dị thục và không dị thục, nghiệp tương ưng và không tương ưng, nghiệp có tùy chuyển và không tùy chuyển, nghiệp hữu biểu và vô biểu. Bốn nghiệp chỉ gồm thâu phần ít của những hai thứ nghiệp kia.

Các môn như thế đều nên nói rộng. Thế nên nói ba gồm thâu bốn không phải bốn gồm thâu ba.

Không gồm thâu là những gì? Nghĩa là trừ các học tư có khả năng đoạn dứt các nghiệp, và nghiệp vô lậu khác, các nghiệp thiện thuộc cõi vô sắc cùng tất cả nghiệp vô ký.

***

* Ba nghiệp tức là các nghiệp thân ngữ ý. Lại có ba nghiệp, tức là nghiệp thuận hiện pháp thọ, nghiệp thuận thứ sinh thọ, nghiệp thuận hậu thứ thọ.

Hỏi: Vì sao tạo ra phần Luận này?

Đáp: Vì muốn phân biệt nghĩa của Khế kinh. Như Khế kinh nói: Có ba nghiệp như nghiệp thuận hiện pháp thọ v.v… nhưng không biện giải rộng. Nói rộng như trước.

Lại có thuyết nói: Trước tuy có phân biệt về ba nghiệp như thân v.v… nhưng chưa phân biệt về ba nghiệp như nghiệp thuận hiện pháp thọ v.v… Nay muốn phân biệt chúng nên tạo ra phần Luận này.

Thế nào là nghiệp thuận hiện pháp thọ? Nghĩa là nếu nghiệp ở đời này tạo tác, tăng trưởng, tức ở nơi đời này thọ nhận quả dị thục. Đó gọi là nghiệp thuận hiện pháp thọ.

Hỏi: Nếu nghiệp ở nơi thời này tạo tác, tăng trưởng, tức ở nơi thời này thọ nhận quả dị thục chăng?

Đáp: Không phải như thế. Vì sao? Vì các nghiệp thiện ác cần phải đợi sự nối tiếp hoặc vượt qua sự nối tiếp mới nhận dị thục. Nghĩa là nếu nghiệp này tạo tác tăng trưởng hoặc tức ở trong một sự nối tiếp ấy, hoặc tức ở trong một thời phần này, hoặc tức ở trong một chúng đồng phần này thọ nhận quả dị thục. Như thế gọi là nghiệp thuận hiện pháp thọ. Tất không có nghĩa: Nghiệp nơi sát-na này tạo tức ở sát-na này và sát-na tiếp theo thành thục do khác loại, do gần gũi dẫn phát.

Trong đây hiện có sự việc thế gian hiện thấy về nghiệp thuận hiện pháp thọ. Từng nghe: Có người tiều phu vào núi hái củi, gặp phải lúc tuyết rơi nhiều nên lạc mất đường về. Lúc này trời đã tối, tuyết phủ càng dày càng lạnh buốt, cái chết như đang cận kề. Ở trước mặt là cả một khoảng rừng mịt mù dày đặc, bỗng xuất hiện một con gấu từ trong rừng sâu đi ra, mình mẩy bóng mượt sắc xanh đen, mắt sáng như hai ngọn đuốc. Người này rất đỗi kinh hoàng, chắc chết mười phần. Thật ra, đây là một vị Bồ-tát hiện thọ thân gấu. Thấy người này quá lo sợ nên an ủi và nói: “Chớ sợ sệt! Cha mẹ đối với con có khi còn khác lòng, chứ ta nay đối với ông không hề có ác ý”. Liền đi tới trước đỡ lấy người kia đem vào trong hang, tạo ấm áp để cứu sống người kia, sau đó lại đem các trái cây, khoai củ theo đấy khuyên nên ăn. Lại sợ người kia bị lạnh nên gấu bèn ôm ấp cùng nằm ngủ. Chăm sóc như thế suốt sáu hôm, đến ngày thứ bảy thì trời quang mây tạnh, lối đi hiện rõ, người kia muốn trở về nhà, gấu biết ý liền đem trái ngon quả ngọt để tiễn đưa, ân cần đi theo đến bìa rừng mới cáo biệt. Anh tiều phu quỳ xuống tạ từ thưa: “Không biết làm gì để đáp đền được hết ân sâu”. Gấu nói: “Ta nay không cần kẻ khác báo ân. Chỉ mong ông hôm nay thấy ta giúp đỡ ông thế nào thì ông đối với thân mạng của ta cũng nguyện như vậy”. Người này kính cẩn vâng dạ rồi gánh củi xuống núi. Giữa đường, gặp hai người thợ săn, hỏi: “Ông thấy trên núi có chim thú gì chăng?”. Tiều phu đáp: “Thú vật gì khác thì chẳng thấy, chỉ thấy có một con gấu to”. Hai thợ săn nài nỉ: “Có thể chỉ chỗ được chăng?”. Tiều phu nói: “Nếu chịu chia cho ta hai phần ba thịt thì ta chỉ cho”. Hai gã thợ săn ưng thuận rồi cùng đi. Rốt cuộc gấu bị giết chết và chia thịt ra làm ba phần. Khi người tiều phu đưa hai tay định nhận thịt gấu thì do sức của nghiệp ác ứng nghiệm nên cả đôi tay đều rụng xuống, như sợi tơ ngọc bị đứt, như ngó sen bị cắt từ gốc. Hai người thợ săn hoang mang kinh sợ, dò hỏi cớ sự, người tiều phu xấu hổ thuật rõ ngọn ngành. Cả hai thợ săn trách người tiều phu: Gấu ấy có ân lớn đã cứu mạng sống cho ông, sao ông nhẫn tâm xử ác đến thế. Lạ thay, sao thân thể ông không nát bấy ra mới đáng tội! Khi ấy hai thợ săn cùng đem thịt gấu đến cúng dường cho Tăng-già-lam. Khi đó, có vị Thượng tọa đã chứng được trí diệu nguyện, liền nhập định quán xét đây là thịt gì, mới biết đó là thịt của vị Đại Bồ-tát hóa thân để tạo lợi lạc cho tất cả chúng sinh. Vị Thượng tọa bèn xuất định, thuật lại cho đại chúng nghe, đại chúng đều kính sợ, thán phục, rồi dùng củi thơm hỏa thiêu cả số thịt ấy, sau đó lấy tro xương còn lại, xây dựng tháp thờ lễ bái cúng dường. Nghiệp ác như thế cần phải đợi sự nối tiếp hoặc vượt qua sự nối tiếp mới thọ nhận quả.

Lại nữa, ngày xưa có người chuyên giết mổ bò để bán thịt, đang lùa bò đi qua quãng đường vắng. Khi ấy, có đám đông người đang bị đói khát bức bách, bèn họp nhau bàn: Đàn bò này không phải của ai trong đám mình, vậy hãy cắt lưỡi chúng xào nấu ăn cho đỡ đói. Bàn xong, liền lấy muối thoa vào mũi miệng bò, bò tham vị mặn thè lưỡi ra liếm, cả đám bèn dùng dao bén cắt hết lưỡi rồi lén dùng lửa thui nướng chia nhau ăn. Ăn xong cùng dùng nước súc miệng xỉa răng, khi vừa chạm đến lưỡi thì do sức của nghiệp ác ứng nghiệm, nên lưỡi của những người ấy đều rơi ra, như quả chín muồi bị rụng đồng loạt. Nghiệp ác như vậy cần phải đợi sự nối tiếp hoặc vượt qua sự nối tiếp mới thọ nhận quả.

Lại nữa, ngày xưa có một anh chàng rất thô ác, bảo mẹ cầm bình để mình vắt sữa bò. Khi vắt quá nhiều, bà mẹ ngăn lại bảo: Đã dư dùng rồi, hãy để lại chút sữa cho con nghé bú. Anh chàng nghe nói thế đùng đùng nổi giận, tạt sữa vào mặt mẹ, sữa chảy giọt ướt cả mình bà. Sức của nghiệp ác ứng nghiệm, nên chỗ nào trên mình bà mẹ dính sữa thì chỗ ấy trên mình người con nổi đầy vết hủi trắng bệch. Nghiệp ác như thế cần phải đợi sự nối tiếp hoặc vượt qua sự nối tiếp mới thọ nhận quả.

Đây là lược dẫn về ba thứ nghiệp ác thuận hiện pháp thọ.

Lại, ngày xưa ở nước Kiều-tát-la có vua tên Thắng Quân, sinh một công chúa đủ mười tám vẻ xấu xí. Kẻ nghèo hèn thì không gả mà người giàu sang thì không ai xin cưới. Lúc đó, có người con của ông trưởng giả, tài sản bị khánh kiệt, vua biết chuyện liền sai sứ mời đến bảo: “Ta có đứa con gái nhỏ nhan sắc không đẹp, nếu khanh không xấu hổ mà cưới nó thì ta sẽ cấp cho nhiều châu báu tiền của”. Anh chàng này nhận lời, nhà vua rất vui mừng liền ban tặng nhiều tiền của, châu báu, ruộng vườn, nhà cửa, tôi tớ… theo ý muốn. Anh chàng lập cô này làm vợ mọn, làm lễ cưới rồi đưa cô gởi ở nhà người em trai. Anh chồng rất xấu hổ vì có người vợ quá xấu, nên mỗi khi ra khỏi nhà thì khóa cửa phòng. Đám bạn biết chuyện nhưng không thấy mặt, có mấy bạn thân nhất đến trách bảo: “Anh sao chẳng trình diện chị nhà với các bạn này?”. Anh chàng con trưởng giả bảo: “Vội vàng chi, rồi sẽ có ngày trình diện”. Cả đám đều lấy làm lạ bèn cùng tìm hiểu nguyên do sự trì hoãn ấy, liền bày kế ước hẹn trong bảy ngày tới, tại khu vườn đó, mọi người đều phải dẫn vợ đến đấy cùng ăn tiệc vui chơi, nếu ai trái lệnh sẽ bị phạt năm trăm đồng tiền vàng. Đến ngày thứ bảy hầu hết đều đúng hẹn, chỉ có anh chàng con ông trưởng giả là không đem vợ đến, cậy mình có tiền nên chấp nhận chịu phạt bao nhiêu cũng được. Về người vợ kia, chị ta ngồi vò võ một mình trong phòng, hết than thân lại trách phận, không rõ đời trước mình có tội gì, mà kiếp này phải mang thân xấu xí như vầy, mọi người đều vui vẻ, chỉ riêng mình khổ sầu, thà chết sớm còn hơn! Nàng bèn nhất tâm niệm Phật và định tự sát. Đức Phật biết đã đến lúc liền hiện ra trước người sắp muốn chết. Cô gái nhìn thấy Đức Như Lai thì vừa mừng vừa buồn tủi, phát khởi tâm tịnh quán tưởng tướng đẹp của Đức Phật. Do sức của nghiệp thiện ứng nghiệm, nên chỉ thoáng chốc thân xấu xí của cô gái đã biến thành như thiên nữ, nàng hết sức vui mừng. Đức Phật nhân đấy thuyết pháp, khiến cô gái lắng nghe đã lìa hết trần cấu, chứng quả Dự lưu. Khi Đức Thế Tôn đã đi rồi, cô gái vẫn ngồi yên một mình, vẻ đẹp không gì sánh chỉ thầm sung sướng. Khi đám bạn hữu thấy anh chàng không dắt vợ đến, liền phục rượu cho say rồi lấy chìa khóa cửa cùng đến nhà người ấy, chợt thấy vợ anh ta đẹp tuyệt như vợ của Đế thích, do đấy cả đám rất ngưỡng mộ tán thán, nhân đấy cùng bảo nhau: “Đây là lý do thực của việc không trình diện vợ với mọi người”. Liền chạy nhanh về khu vườn kia tạ lỗi cùng anh chồng và hết lời chúc mừng khen ngợi. Anh chồng càng xấu hổ cho là đám bạn trêu chọc mình. Khi trở về nhà thấy vậy liền rất đỗi nghi ngờ cho là quái lạ, vội hỏi: “Thánh nữ dùng tà thuật biến hóa hay là quỷ dữ hiện hình gạt ta? Còn vợ ta đâu rồi?”. Người vợ bèn thuật đủ đầu đuôi câu chuyện. Anh chồng tốt số được sự hiếm có này liền quy y Tam bảo. Nghiệp thiện như thế cần phải đợi sự nối tiếp hoặc vượt qua sự nối tiếp mới thọ nhận quả.

Chuyện kể: Ngày xưa ở nước Kiện-đà-la, dưới triều vua Canị-sắc-ca, có một vị thái giám coi sóc việc trong cung vua. Một hôm tạm ra khỏi thành thấy một bầy bò đông hơn năm trăm con đang đi vào thành. Quan thái giám hỏi người đang lùa bò đi: Đây là loại bò gì? Kẻ ấy thưa: Đám bò này dẫn đến chỗ thiến để đổi giống. Quan thái giám thầm nghĩ:. Kiếp trước ta tạo nghiệp ác nên giờ phải chịu thân không phải là nam. Nay nên dùng tiền của để cứu nạn cho đàn bò này. Bèn lấy tiền bồi thường khiến đàn bò thoát nạn. Do sức của nghiệp thiện ứng nghiệm, khiến quan thái giám này đã trở lại thân nam tử, nên hết sức vui mừng, liền trở về thành nội, đứng chờ ngoài cửa nhờ sứ tâu cùng vua xin được vào hầu. Vua liền gọi vào, lấy làm lạ liền hỏi nguyên đo. Quan thái giám bèn liền tâu hết mọi việc. Vua rất kinh ngạc, lại vui mừng, liền ban thưởng cho nhiều tiền của châu báu và thăng chức quan sai đảm trách coi việc bên ngoài. Nghiệp thiện như thế cần phải đợi sự nối tiếp hoặc vượt sự nối tiếp mới thọ nhận quả.

Lại có chuyện kể: Ngày xưa, ở nước Đát-xoa-thi-la có một cô gái đến lễ nơi linh miếu của vua Vô Ưu xây dựng để thờ chỗ vua Nguyệt Quang đã bố thí cả ngàn đầu. Cô này thấy ở trước tòa Phật có một bãi phân chó, nàng nghĩ sao lại có thứ phân ấy làm ô uế nơi chốn trang nghiêm thanh tịnh này, bèn dùng tay hốt phân đem bỏ rồi lấy chất thơm rưới xoa. Do sức của nghiệp thiện ứng nghiệm, nên toàn thân cô gái ấy toát ra mùi thơm như chiên đàn hương, miệng thơm ngát hương sen xanh. Nghiệp thiện như thế cần phải đợi sự nối tiếp hoặc vượt qua sự nối tiếp mới thọ nhận quả.

Đây là lược dẫn ba thứ nghiệp thiện thuận hiện pháp thọ.

Thế nào là nghiệp thuận thứ sinh thọ? Nghĩa là nếu nghiệp ở nơi đời này tạo tác tăng trưởng thì nơi đời thứ hai thọ nhận quả dị thục. Đó gọi là nghiệp thuận thứ sinh thọ.

Thế nào là nghiệp thuận hậu thứ thọ? Nghĩa là nếu nghiệp ở nơi đời này tạo tác, tăng trưởng thì tùy theo trường hợp mà thọ nhận quả dị thục ở nơi đời thứ ba, đời thứ tư, hoặc lại nhiều hơn nữa. Đó gọi là nghiệp thuận hậu thứ thọ.

Hỏi: Các nghiệp thuận hiện pháp thọ nhất định ở nơi hiện pháp thọ nhận chăng? Thuận sinh thuận hậu nêu câu hỏi cũng như thế.

Đáp: Phái Thí Dụ nói: Sự việc này không quyết định, vì tất cả các nghiệp đều có thể chuyển, cho đến nghiệp vô gián cũng có thể khiến chuyển đổi.

Hỏi: Như thế thì vì sao gọi là nghiệp thuận hiện pháp thọ v.v…?

Đáp: Phái kia nói: Các nghiệp thuận hiện pháp thọ không nhất định ở trong hiện pháp nhận quả dị thục. Nếu thọ nhận thì nhất định ở nơi hiện pháp, không phải là đời nào khác, nên gọi là nghiệp thuận hiện pháp thọ. Thuận sinh thuận hậu về chỗ nêu bày cũng như thế.

Phái kia cho tất cả nghiệp đều có thể chuyển, cho đến nghiệp vô gián cũng có thể chuyển. Nếu nghiệp vô gián không thể chuyển, tức nên không có trường hợp có thể vượt hữu thứ nhất. Nhưng đã có người có thể vượt hữu thứ nhất, do đấy nghiệp vô gián cũng nên có thể chuyển.

Các Luận sư A-tỳ-đạt-ma nói: Các nghiệp thuận hiện pháp thọ thì quyết định ở trong hiện pháp thọ nhận quả dị thục, nên gọi là nghiệp thuận hiện pháp thọ. Thuận sinh, thuận hậu, chỗ nêu bày cũng như thế. Vậy nên nếu có người hỏi vì sao gọi là nghiệp thuận hiện pháp thọ cho đến nghiệp thuận hậu thứ thọ, tức nên theo đây mà trả lời.

Lại có Sư khác cho: Nói bốn thứ nghiệp, là nghiệp thuận hiện pháp thọ, nghiệp thuận thứ sinh thọ, nghiệp thuận hậu thứ thọ và nghiệp thuận bất định thọ. Các nghiệp thuận hiện pháp thọ cho đến nghiệp thuận hậu thứ thọ, tức các nghiệp này thì không thể chuyển. Còn nghiệp thuận bất định thọ thì có thể chuyển. Chỉ có loại nghiệp thứ tư này là có thể chuyển. Nên nếu thọ trì giới cấm, siêng tu phạm hạnh, lại luôn khởi tư duy: Nguyện ta do sự việc này sẽ chuyển được nghiệp ấy.

Lại có Sư khác nêu: Có năm thứ nghiệp, là: 1. Nghiệp thuận hiện pháp thọ. 2. Nghiệp thuận thứ sinh thọ. 3. Nghiệp thuận hậu thứ thọ. Ba nghiệp này đều chỉ có một loại. Còn trong nghiệp thuận bất định thọ lại có hai loại: a. Dị thục quyết định. b. Dị thục không quyết định. Các thứ nghiệp thuận hiện pháp thọ, nghiệp thuận thứ sinh thọ, nghiệp thuận hậu thứ thọ, và nghiệp dị thục quyết định trong nghiệp thuận bất định thọ đều không thể chuyển. Chỉ có nghiệp dị thục không quyết định trong nghiệp thuận bất định thọ là có thể chuyển. Tức chỉ vì chuyển được nghiệp thứ năm này, nên thọ trì giới cấm, siêng tu phạm hạnh và luôn tư nguyện do sự việc này tức sẽ chuyển nghiệp ấy.

Lại có Sư khác nói: Có tám thứ nghiệp. Nghĩa là nghiệp thuận hiện pháp thọ có hai loại: 1. Dị thục quyết định. 2. Dị thục không quyết định. Trong các nghiệp thuận thứ sinh thọ, nghiệp thuận hậu thứ thọ, nghiệp thuận bất định thọ, mỗi thứ cũng đều có hai loại: 1. Dị thục quyết định. 2. Dị thục không quyết định. Như thế là tám nghiệp.

Ở đây các nghiệp dị thục quyết định đều không thể chuyển. Các nghiệp dị thục không quyết định thì đều có thể chuyển, vì có thể chuyển nghiệp ấy tức nên thọ trì giới cấm, siêng tu phạm hạnh. Do vậy ở đây nên nêu ra bốn trường hợp.

1. Hoặc có nghiệp thời phần quyết định nhưng dị thục không quyết định.

2. Hoặc có nghiệp dị thục quyết định nhưng thời phần không quyết định.

3. Hoặc có nghiệp thời phần quyết định dị thục cũng quyết định.

4. Hoặc có nghiệp thời phần không quyết định dị thục cũng không quyết định.

Thế nào là nghiệp có thời phần quyết định nhưng dị thục không quyết định? Đó là phần nghiệp dị thục không quyết định trong các nghiệp thuận hiện pháp thọ, nghiệp thuận thứ sinh thọ, nghiệp thuận hậu thứ thọ.

Thế nào là nghiệp có dị thục quyết định nhưng thời phần không quyết định? Đó là phần nghiệp dị thục quyết định trong nghiệp thuận bất định thọ.

Thế nào là nghiệp có thời phần quyết định dị thục cũng quyết định? Đó là phần nghiệp dị thục quyết định trong các nghiệp thuận hiện pháp thọ, nghiệp thuận thứ sinh thọ, nghiệp thuận hậu thứ thọ.

Thế nào là nghiệp có thời phần không quyết định dị thục cũng không quyết định? Đó là phần nghiệp dị thục không quyết định trong nghiệp thuận bất định thọ.

Như thế gọi là bốn trường hợp của tám nghiệp.

Hỏi: Từng có một lúc trong khoảng một sát-na có thể khởi ba thứ nghiệp chăng? Tức là nghiệp thuận hiện pháp thọ, nghiệp thuận thứ sinh thọ, nghiệp thuận hậu thứ thọ.

Đáp: Có. Đó là trước sai khiến hai kẻ làm việc đoạn hại sinh mạng, không cho mà lấy, sau đó thì tự mình tạo hành tà dục. Vì đây là tự mình đã đạt cứu cánh không phải do người khác. Nếu có các pháp của chủng loại như thế sinh ra, thì ba nghiệp đồng thời đều được cứu cánh (Gây tạo đầy đủ). Ở đây, nghiệp thứ nhất tức ở trong hiện pháp thọ nhận quả dị thục. Nghiệp thứ hai thì ở nơi vô gián sinh thọ nhận quả dị thục. Nghiệp thứ ba thì tùy theo đời thứ ba trở về sau, nơi các đời ấy thọ nhận quả dị thục. Ngoài ra các nghiệp đạo do mình gây tạo hoặc sai bảo người khác làm có sai biệt nhau cũng như thế.

Hỏi: Các nghiệp thuận hiện pháp thọ v.v… có bao nhiêu thứ có thể dẫn đến quả của chúng đồng phần và bao nhiêu thứ có thể tạo đủ quả của chúng đồng phần?

Đáp: Hoặc có thuyết nói: Có hai nghiệp có thể dẫn đến quả của chúng đồng phần, cũng có thể tạo đủ quả của chúng đồng phần. Đó là nghiệp thuận thứ sinh thọ và nghiệp thuận hậu thứ thọ. Hai nghiệp có thể tạo đủ quả của chúng đồng phần, nhưng không thể dẫn đến quả của chúng đồng phần. Đó là nghiệp thuận hiện pháp thọ và nghiệp thuận bất định thọ.

Lại có thuyết cho: Có ba nghiệp có thể dẫn đến quả của chúng đồng phần, cũng có thể tạo đủ quả của chúng đồng phần. Nghĩa là trừ nghiệp thuận hiện pháp thọ. Một nghiệp có thể tạo đủ quả của chúng đồng phần, nhưng không thể dẫn đến quả của chúng đồng phần, đó là nghiệp thuận hiện pháp thọ.

Lại có người muốn khiến nghiệp thuận hiện pháp thọ cũng có thể dẫn đến quả của chúng đồng phần. Nếu nói như thế thì bốn thứ nghiệp này tất cả đều có thể dẫn đến quả của chúng đồng phần, cùng tạo đủ quả của chúng đồng phần.

Hỏi: Nếu như thế thì trong các nghiệp này thứ nào là hơn hết?

Đáp: Hoặc có thuyết nói: Nghiệp thuận hiện pháp thọ là hơn hết. Vì sao? Vì nó được quả gần nhất.

Lại có thuyết cho: Nghiệp thuận hậu thứ thọ là hơn hết. Vì sao? Vì nghiệp của tất cả Bồ-tát là tối thắng nhưng đều là thuận hậu thứ thọ.

Hỏi: Nghiệp thuận hiện pháp thọ vì có thể đạt được quả gần nhất nên ở trong các nghiệp có thể nói là hơn. Còn nghiệp thuận hậu thứ thọ thì cách quả rất xa vì sao cho là hơn hết?

Đáp: Nghiệp thuận hiện pháp thọ tuy là được quả gần nhất, nhưng quả ấy yếu kém nên không gọi là tối thắng. Còn nghiệp thuận hậu thứ thọ tuy cách quả xa, nhưng quả là thù thắng, khó hết, nên gọi là hơn hết. Như hạt giống bên ngoài có thứ kết trái sớm nhưng quả xấu kém, có thứ kết trái chậm nhưng quả là hơn hết. Cũng như có loại mạ non mùa thu, chỉ sau ba tháng rưỡi là đã kết hạt, thứ này được quả sớm nhưng lại rất xấu kém. Còn như giống lúa nước, lúa mì v.v… phải trải qua sáu tháng hạt mới chín, tuy quả cách xa nhưng là hơn hẳn giống trước.

Lại như loại cây Khư lê phải đến năm, sáu năm hoặc mười hai năm mới kết trái, loại quả này thì tốt hơn nữa. Như cây Đa-la, phải trải qua hàng trăm năm mới kết trái, thì quả này là tối thắng.

Như hạt giống bên ngoài, có thứ kết quả rất gần nhưng quả ấy xấu kém. Loại hạt nào kết quả hơi xa thì vượt hơn. Loại hạt nào cách quả lâu xa nhất thì quả ấy hơn hết. Hạt giống tùy theo thời gian cho quả kia mà quả hơn kém có khác nhau. Các nội nghiệp cũng như thế. Nghiệp thuận hiện pháp thọ cách quả rất gần mà quả yếu kém. Nghiệp thuận thứ sinh thọ cách quả hơi xa mà quả hơn hẳn loại trước. Còn nghiệp thuận hậu thứ thọ cách quả rất xa nhưng quả là tối thắng. Các nghiệp tùy theo thời gian cho quả kia mà quả hơn kém có khác nhau. Thế nên nghiệp thuận hậu thứ thọ là hơn hết, không phải thứ khác.

Hỏi: Ở nơi cõi nào có thể tạo được bao nhiêu nghiệp?

Đáp: Có thuyết nói: Ở cõi dục có thể tạo được bốn thứ nghiệp thiện, bất thiện. Ở cõi sắc, cõi vô sắc có thể tạo được ba thứ nghiệp thiện, tức trừ nghiệp thuận hiện pháp thọ. Vì sao? Vì ở trong cõi dục có thể dựa nơi bên cha mẹ, sư trưởng, các vị có đức, các bậc Thanh văn, Độc giác, Bồ-tát và Phật… phát khởi các nghiệp thiện, ác tăng thượng, nghiệp này nhanh chóng thọ nhận quả dị thục. Còn ở cõi sắc và vô sắc thì không có thắng duyên ấy, nên nơi các cõi kia không thể khởi nghiệp thuận hiện pháp thọ.

Hỏi: Nếu thế thì như nơi Luận Phẩm Loại Túc đã nói làm sao thông? Như Luận ấy nói: Nghiệp thuận hiện pháp thọ, nghiệp thuận thứ sinh thọ và nghiệp thuận hậu thứ thọ đều là chỗ tùy tăng của tất cả tùy miên.

Đáp: Nơi phần Luận ấy nên nói như vầy: Nghiệp thuận hiện pháp thọ là chỗ tùy tăng của tất cả tùy miên ở cõi dục. Nghiệp thuận thứ sinh thọ, nghiệp thuận hậu thứ thọ là chỗ tùy tăng của tất cả tùy miên ở cõi dục, của tùy miên biến hành ở cõi sắc, vô sắc, và của các tùy miên do tu đạo đoạn trừ. Nên nói như thế, nhưng không nói là có ý sâu xa gì. Nên biết lời văn nơi Luận kia là đã tóm lược chúng mà nói.

Hỏi: Nếu như thế thì nơi Luận Tập Dị Môn nói làm sao thông? Như Luận ấy nói: Nghiệp thuận hiện pháp thọ, nghiệp thuận thứ sinh thọ và nghiệp thuận hậu thứ thọ là chỗ tùy tăng của tất cả tùy miên ở cõi dục, của tùy miên biến hành ở cõi sắc và vô sắc, và các tùy miên do tu đạo đoạn trừ.

Đáp: Văn của Luận ấy nên nói như vầy: Nghiệp thuận hiện pháp thọ là chỗ tùy tăng tất cả tùy miên ở cõi dục. Nghiệp thuận thứ sinh thọ và nghiệp thuận hậu thứ thọ là chỗ tùy tăng của tất cả tùy miên ở cõi dục, là chỗ tùy tăng của tùy miên biến hành ở cõi sắc và vô sắc, và các tùy miên do tu đạo đoạn trừ. Đáng lẽ nói như thế nhưng không nói là có ý sâu xa gì. Nên biết nơi Luận ấy là nói về thế mạnh đã dẫn dắt, nên nêu bày như vậy.

Nên nói như vầy: Ở cõi sắc và vô sắc cũng có thể dẫn khởi nghiệp thuận hiện pháp thọ.

Hỏi: Trước đã nói ở cõi dục có thắng duyên là nương dựa nơi Phật, Bồ-tát v.v… để có thể khởi các nghiệp thuận hiện pháp thọ. Hai cõi trên thì không có thắng duyên ấy vậy làm sao khởi được?

Đáp: Ở nơi xứ kia chỉ do sức của nhân nhận giữ tức cũng có thể dẫn khởi các nghiệp thuận hiện pháp thọ. Ở cõi dục cũng có trường hợp chỉ do sức của nhân dẫn khởi nghiệp này. Nghĩa là hoặc có người mở cửa bố thí lớn cúng dường các bậc Hiền Thánh nhưng không thể dẫn khởi nghiệp thuận hiện pháp thọ. Hoặc lại có người dùng một nắm cơm thí cho một loài bàng sinh, nhưng có thể dẫn khởi nghiệp thuận hiện pháp thọ. Các sự việc như thế nên biết là không hẳn đều nương dựa vào thắng duyên để khởi nghiệp này. Nhưng sự việc kia chủ yếu là do sức của nhân nhận giữ mới có thể dẫn khởi. Thế nên các Đại Luận sư A-tỳ-đạt-ma ở nước Ca-thấp-dila từ xa xưa đều nói: Nếu người tâm tịnh ân cần đem một nắm cỏ thí cho bò ăn, nên biết người ấy có thể dẫn khởi nghiệp thuận hiện pháp thọ.

Hỏi: Ở nơi nẻo nào có thể tạo bao nhiêu nghiệp?

Đáp: Ở nẻo Na-lạc-ca có thể tạo bốn thứ nghiệp bất thiện và ba thứ nghiệp thiện, tức trừ nghiệp thuận hiện pháp thọ. Ở các nẻo bàng sinh, ngạ quỷ và người nơi ba châu, cùng các xứ trời thuộc cõi dục có thể tạo bốn thứ nghiệp thiện và bất thiện. Ở châu Bắc-câu-lô có thể tạo bốn thứ nghiệp thiện và ba thứ nghiệp bất thiện, tức trừ nghiệp thuận thứ sinh thọ. Các xứ trời thuộc cõi sắc và vô sắc có thể tạo nhiều hoặc ít nghiệp như trước đã nói.

Hỏi: Ở nơi loài nào có thể tạo bao nhiêu nghiệp?

Đáp: Ở trong bốn loài (Thai, noãn, thấp, hóa) đều có thể tạo bốn thứ nghiệp thiện và bất thiện.

Hỏi: Người nào ở nơi địa nào có thể tạo bao nhiêu nghiệp?

Đáp: Nếu các phàm phu sinh ở cõi dục, chưa lìa nhiễm nơi cõi dục, có thể tạo được bốn thứ nghiệp thiện và bất thiện ở cõi dục. Nếu đã lìa nhiễm nơi cõi dục, chưa lìa nhiễm ở tĩnh lự thứ nhất, nếu là người thuộc pháp thoái thì người này có thể tạo được bốn thứ nghiệp ở cõi dục, có thể tạo được ba thứ nghiệp ở tĩnh lự thứ nhất, tức trừ nghiệp thuận hiện pháp thọ.

Có thuyết nói: Người kia có thể tạo được hai thứ nghiệp ở tĩnh lự thứ nhất, là nghiệp thuận hậu thứ thọ và nghiệp thuận bất định thọ. Nếu là người thuộc pháp không thoái thì có thể tạo được ba thứ nghiệp thiện ở cõi dục, tức trừ nghiệp thuận thứ sinh thọ và có thể tạo được ba thứ nghiệp ở tĩnh lự thứ nhất, là trừ nghiệp thuận hiện pháp thọ. Nếu đã lìa nhiễm ở tĩnh lự thứ nhất, chưa lìa nhiễm ở tĩnh lự thứ hai, nếu là người thuộc pháp thoái, thì có thể tạo được bốn thứ nghiệp ở cõi dục, có thể tạo được ba thứ nghiệp ở tĩnh lự thứ nhất, thứ hai, tức trừ nghiệp thuận hiện pháp thọ.

Có thuyết cho: Người ấy có thể tạo được hai thứ nghiệp ở tĩnh lự thứ hai, đó là nghiệp thuận hậu thứ thọ và nghiệp thuận bất định thọ. Nếu là người thuộc pháp không thoái thì có thể tạo được ba thứ nghiệp thiện ở cõi dục, tức trừ nghiệp thuận thứ sinh thọ, và có thể tạo được hai thứ nghiệp ở tĩnh lự thứ nhất, đó là nghiệp thuận hậu thứ thọ và nghiệp thuận bất định thọ, lại có thể tạo được ba thứ nghiệp ở tĩnh lự thứ hai, tức trừ nghiệp thuận hiện pháp thọ. Nói rộng cho đến, nếu đã lìa nhiễm ở Vô sở hữu xứ, nếu là người thuộc pháp thoái thì có thể tạo được bốn thứ nghiệp ở cõi dục, và có thể tạo được ba thứ nghiệp nơi bốn thứ tĩnh lự và bốn xứ vô sắc, tức trừ nghiệp thuận hiện pháp thọ.

Có thuyết nêu: Người này có thể tạo được hai thứ nghiệp ở Phi tưởng phi phi tưởng xứ, là nghiệp thuận hậu thứ thọ và nghiệp thuận bất định thọ. Nếu là người thuộc pháp không thoái thì có thể tạo được ba thứ nghiệp thiện ở cõi dục, tức trừ nghiệp thuận thứ sinh thọ, và có thể tạo được hai thứ nghiệp nơi bốn thứ tĩnh lự và ba xứ vô sắc, tức là nghiệp thuận hậu thứ thọ và nghiệp thuận bất định thọ, lại có thể tạo được ba thứ nghiệp của Phi tưởng phi phi tưởng xứ, tức trừ nghiệp thuận hiện pháp thọ.

Như thế là đã nói về hàng phàm phu sinh nơi cõi dục. Nếu các phàm phu sinh nơi tĩnh lự thứ nhất, chưa lìa các nhiễm ở tĩnh lự thứ nhất, thì người kia có thể tạo được bốn thứ nghiệp ở tĩnh lự thứ nhất. Nếu đã lìa nhiễm ở tĩnh lự thứ nhất, nhưng chưa lìa nhiễm nơi tĩnh lự thứ hai, thì người kia có thể tạo được ba thứ nghiệp ở tĩnh lự thứ nhất, tức trừ nghiệp thuận hiện pháp thọ, lại có thể tạo được ba thứ nghiệp ở tĩnh lự thứ hai, tức trừ nghiệp thuận hiện pháp thọ. Nói rộng cho đến, nếu đã lìa nhiễm ở Vô sở hữu xứ, người này có thể tạo được ba thứ nghiệp ở tĩnh lự thứ nhất, tức trừ nghiệp thuận thứ sinh thọ, lại có thể tạo được hai thứ nghiệp của ba tĩnh lự và ba xứ vô sắc, đó là nghiệp thuận hậu thứ thọ và nghiệp thuận bất định thọ, có thể tạo được ba thứ nghiệp nơi Phi tưởng phi phi tưởng xứ, tức trừ nghiệp thuận hiện pháp thọ.

Như nói về sinh nơi tĩnh lự thứ nhất, như thế cho đến sinh nơi Phi tưởng phi phi tưởng xứ cũng nên nói rộng.

Như vậy là đã nói về phàm phu của các địa.

Nếu các Thánh giả sinh ở cõi dục, chưa lìa nhiễm nơi cõi dục, thì có thể tạo được bốn thứ nghiệp thiện và bất thiện ở cõi dục. Nếu đã lìa nhiễm nơi cõi dục, chưa lìa nhiễm ở tĩnh lự thứ nhất, thì có thể tạo được hai thứ nghiệp ở cõi dục, đó là nghiệp thuận hiện pháp thọ và nghiệp thuận bất định thọ. Lại có thể tạo được ba thứ nghiệp ở tĩnh lự thứ nhất, tức trừ nghiệp thuận hiện pháp thọ. Nếu đã lìa nhiễm nơi tĩnh lự thứ nhất, chưa lìa nhiễm nơi tĩnh lự thứ hai, nếu là người thuộc pháp thoái thì có thể tạo được hai thứ nghiệp ở cõi dục, là nghiệp thuận hiện pháp thọ và nghiệp thuận bất định thọ. Lại có thể tạo được ba thứ nghiệp ở hai tĩnh lự đầu, tức trừ nghiệp thuận hiện pháp thọ.

Có thuyết nói: Vị này có thể tạo ra hai thứ nghiệp của tĩnh lự thứ hai, là nghiệp thuận hậu thứ thọ và nghiệp thuận bất định thọ. Nếu là vị thuộc pháp không thoái thì có thể tạo được hai thứ nghiệp thiện ở cõi dục, đó là nghiệp thuận hiện pháp thọ và nghiệp thuận bất định thọ. Lại có thể tạo được một thứ nghiệp ở tĩnh lự thứ nhất, là nghiệp thuận bất định thọ, cũng có thể tạo được ba thứ nghiệp ở tĩnh lự thứ hai, tức trừ nghiệp thuận hiện pháp thọ. Cho đến nếu đã lìa nhiễm nơi Vô sở hữu xứ, chưa lìa nhiễm ở Phi tưởng phi phi tưởng xứ, nếu là người thuộc pháp thoái thì có thể tạo được hai thứ nghiệp ở cõi dục, đó là nghiệp thuận hiện pháp thọ và nghiệp thuận bất định thọ. Lại có thể tạo được ba thứ nghiệp của bốn tĩnh lự, tức trừ nghiệp thuận hiện pháp thọ, cũng có thể tạo được ba thứ nghiệp ở bốn xứ vô sắc, trừ nghiệp thuận hiện pháp thọ.

Đây tức là nói chung. Nếu nói riêng thì ở nơi bốn xứ vô sắc, nếu tạo nghiệp thuận thứ sinh thọ thì không tạo nghiệp thuận hậu thứ thọ. Nếu tạo nghiệp thuận hậu thứ thọ thì không tạo nghiệp thuận thứ sinh thọ.

Có thuyết cho: Vị kia có thể tạo hai thứ nghiệp nơi Phi tưởng phi phi tưởng xứ, đó là nghiệp thuận hậu thứ thọ và nghiệp thuận bất định thọ. Nếu là người thuộc pháp không thoái thì có thể tạo được hai thứ nghiệp thiện ở cõi dục, đó là nghiệp thuận hiện pháp thọ và nghiệp thuận bất định thọ. Lại cũng có thể tạo được một thứ nghiệp của bốn tĩnh lự và ba xứ vô sắc, là nghiệp thuận bất định thọ, cũng có thể tạo hai nghiệp của Phi tưởng phi phi tưởng xứ, đó là nghiệp thuận thứ sinh thọ và nghiệp thuận bất định thọ. Nếu đã lìa nhiễm nơi Phi tưởng phi phi tưởng xứ, thì người này có thể tạo được hai thứ nghiệp ở cõi dục, là nghiệp thuận hiện pháp thọ và nghiệp thuận bất định thọ. Cũng có thể tạo được một thứ nghiệp nơi bốn tĩnh lự và bốn xứ vô sắc, là nghiệp thuận bất định thọ.

Như thế là đã nói về Thánh giả sinh nơi cõi dục.

Nếu các Thánh giả sinh nơi tĩnh lự thứ nhất, chưa lìa nhiễm ở tĩnh lự thứ nhất, thì vị này tạo được ba thứ nghiệp nơi tĩnh lự thứ nhất, tức trừ nghiệp thuận hậu thứ thọ. Nếu đã lìa nhiễm ở tĩnh lự thứ nhất, chưa lìa nhiễm nơi tĩnh lự thứ hai, thì vị này có thể tạo được hai thứ nghiệp ở tĩnh lự thứ nhất, đó là nghiệp thuận hiện pháp thọ và nghiệp thuận bất định thọ. Cũng có thể tạo được ba thứ nghiệp ở tĩnh lự thứ hai, tức trừ nghiệp thuận hiện pháp thọ. Nếu đã lìa nhiễm ở tĩnh lự thứ hai, chưa lìa nhiễm nơi tĩnh lự thứ ba, thì người này có thể tạo được hai thứ nghiệp ở tĩnh lự thứ nhất, đó là nghiệp thuận hiện pháp thọ và nghiệp thuận bất định thọ. Lại cũng có thể tạo được một thứ nghiệp ở tĩnh lự thứ hai, là nghiệp thuận bất định thọ. Có thể tạo được ba thứ nghiệp ở tĩnh lự thứ ba, tức trừ nghiệp thuận hiện pháp thọ. Nói rộng cho đến, nếu đã lìa nhiễm ở Vô sở hữu xứ, chưa lìa nhiễm nơi Phi tưởng phi phi tưởng, thì người này có thể tạo được hai thứ nghiệp ở tĩnh lự thứ nhất, tức là nghiệp thuận hiện pháp thọ và nghiệp thuận bất định thọ, cũng có thể tạo được một thứ nghiệp của ba tĩnh lự và ba xứ vô sắc, là nghiệp thuận bất định thọ. Lại cũng có thể tạo hai thứ nghiệp nơi Phi tưởng phi phi tưởng xứ, đó là nghiệp thuận thứ sinh thọ và nghiệp thuận bất định thọ. Nếu đã lìa nhiễm nơi Phi tưởng phi phi tưởng xứ, thì người này có thể tạo được hai thứ nghiệp ở tĩnh lự thứ nhất, là nghiệp thuận hiện pháp thọ và nghiệp thuận bất định thọ. Lại cũng có thể tạo được một thứ nghiệp của ba tĩnh lự và bốn xứ vô sắc là nghiệp thuận bất định thọ.

Như nói về Thánh giả sinh nơi tĩnh lự thứ nhất, thì Thánh giả sinh nơi tĩnh lự thứ hai, thứ ba, thứ tư, nói rộng cũng như thế.

Trừ vị chưa lìa nhiễm của tự địa, tức vị này có thể tạo được bốn thứ nghiệp của tự địa so với trước có sai biệt.

Nếu các bậc Thánh sinh nơi Không vô biên xứ, chưa lìa nhiễm của Không vô biên xứ, thì các vị này có thể tạo được hai thứ nghiệp của Không vô biên xứ, là nghiệp thuận hiện pháp thọ và nghiệp thuận bất định thọ. Nếu đã lìa nhiễm của Không vô biên xứ, chưa lìa nhiễm nơi Thức vô biên xứ, vị này có thể tạo được hai thứ nghiệp ở Không vô biên xứ, tức là nghiệp thuận hiện pháp thọ và nghiệp thuận bất định thọ. Lại cũng có thể tạo được hai thứ nghiệp nơi Thức vô biên xứ, đó là nghiệp thuận thứ sinh thọ và nghiệp thuận bất định thọ. Nếu đã lìa nhiễm của Thức vô biên xứ, chưa lìa nhiễm nơi Vô sở hữu xứ, người này tạo được hai thứ nghiệp ở Không vô biên xứ, đó là nghiệp thuận hiện pháp thọ và nghiệp thuận bất định thọ. Người này cũng có thể tạo một thứ nghiệp ở Thức vô biên xứ, là nghiệp thuận bất định thọ. Lại cũng có thể tạo hai thứ nghiệp của Vô sở hữu xứ, đó là nghiệp thuận thứ sinh thọ và nghiệp thuận bất định thọ. Nếu đã lìa nhiễm ở Vô sở hữu xứ, chưa lìa nhiễm nơi Phi tưởng phi phi tưởng xứ, thì vị này có thể tạo được hai thứ nghiệp ở Không vô biên xứ, đó là nghiệp thuận hiện pháp thọ và nghiệp thuận bất định thọ. Lại cũng có thể tạo được một thứ nghiệp ở Thức vô biên xứ và Vô sở hữu xứ, là nghiệp thuận bất định thọ. Và cũng có thể tạo được hai thứ nghiệp của Phi tưởng phi phi tưởng xứ, đó là nghiệp thuận thứ sinh thọ và nghiệp thuận bất định thọ. Nếu đã lìa nhiễm nơi Phi tưởng phi phi tưởng xứ, thì người này có thể tạo được hai thứ nghiệp nơi Không vô biên xứ, tức là nghiệp thuận hiện pháp thọ và nghiệp thuận bất định thọ. Cũng có thể tạo được một thứ nghiệp ở ba xứ vô sắc, là nghiệp thuận bất định thọ.

Như nói về các Thánh giả sinh nơi Không vô biên xứ, như vậy cho đến sinh nơi Phi tưởng phi phi tưởng xứ nói rộng cũng như thế.

Trụ nơi phần vị trung hữu ở cõi dục có thể tạo ra hai mươi hai thứ nghiệp. Tức là vị trung hữu có hai nghiệp dị thục định và dị thục bất định. Như thế, mười vị nữa là Yết-lạt-lam, Át-bộ-đàm, Bế thi, Kiện nam, Bát-la-xa-khư, bé sơ sinh, trẻ con, đồng tử, trung niên, già yếu… mỗi vị đều có hai nghiệp dị thục định và dị thục bất định. Đó gọi là hai mươi hai nghiệp.

Trụ vào vị Yết-lạt-lam, có thể tạo được hai mươi thứ nghiệp, tức là trừ hai nghiệp của trung hữu. Như thế cho đến trụ ở vị già yếu có thể tạo được hai thứ nghiệp, tức là hai nghiệp định và bất định ở vị già yếu.

Hỏi: Nếu ở vị trung hữu đã tạo các nghiệp cho đến vị bản hữu thọ nhận dị thục, thì các nghiệp này nên nói là nghiệp thuận hiện pháp thọ hay là nghiệp thuận thứ sinh thọ?

Đáp: Đó là nghiệp thuận hiện pháp thọ, không phải là nghiệp thuận thứ sinh thọ. Vì sao? Vì trung hữu và bản hữu có chung chúng đồng phần, không khác nhau.

Đã nói về tự tánh của ba nghiệp trước và sau. Nay sẽ hiển bày về tướng xen tạp và không xen tạp của chúng.

Hỏi: Vậy ba nghiệp trước gồm thâu ba nghiệp sau hay ba nghiệp sau gồm thâu ba nghiệp trước?

Đáp: Trước gồm thâu sau không phải sau gồm thâu trước. Không gồm thâu là những gì? Đó là không gồm thâu nghiệp bất định, nghiệp vô ký và nghiệp vô lậu.

Trong đây, ba thứ trước gồm thâu chung cả nghiệp định và nghiệp bất định. Ba thứ sau chỉ gồm thâu nghiệp định. Ba thứ trước gồm thâu chung nghiệp thiện, bất thiện và vô ký. Ba thứ sau chỉ gồm thâu nghiệp thiện, bất thiện. Ba thứ trước gồm thâu chung nghiệp hữu lậu, vô lậu. Ba thứ sau chỉ gồm thâu nghiệp hữu lậu.

Như thế nói rộng có vô lượng môn trước sau có sai khác. Nay nêu bày giản lược, nên nói trước gồm thâu sau, không phải sau gồm thâu trước. Không gồm thâu là những gì? Đó là nghiệp bất định, nghiệp vô ký, nghiệp vô lậu.

HẾT – QUYỂN 114